VĂN CHƯƠNG ĐỒNG NAI

 

 

Sách 5

NGƯỜI CHỢ KỆ & CÁ TÍNH SÁNG TẠO

(Đọc Người Chợ Kệ, tập truyện ngắn của Dương Đức Khánh. Nxb HNV 2018)

 

Bùi Công Thuấn

 

Truyện ngắn của Dương Đức Khách cuốn hút người đọc ở cá tính sáng tạo độc đáo, điều này không phải nhà văn nào cũng có được ngay từ tác phẩm đầu tiên. Tập truyện Người Chợ Kệ chứa đựng đầy đủ những nét riêng của ngòi bút Dương Đức Khánh. Vì thế, đọc truyện ngắn Dương Đức Khánh vừa có cái thú của những câu chuyện hay, vừa có cái khoái cảm khám phá con đường sáng tạo của nhà văn.

NGƯỜI CHỢ KỆ

Sông Bồ là một con sông nhỏ phía bắc thành phố Huế, một phụ lưu của sông Hương. Chợ Kệ là tên người ta đặt cho một cái chợ ở làng Thanh, một ngôi làng ven sông Bồ. Bối cảnh truyện là những năm chiến tranh: từ những năm 1969-1970 (truyện Võ Thần) đến năm 1973, rồi di tản và Giải phóng 1975 (Hoa mai bảy cánh) và những năm sau đó… Đó là những câu chuyện ở một vùng quê có tới “70% gia đình xếp loại ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” (tr.25), “Rất nhiều nhà có người tham gia cả hai bên”(tr.24). “ban ngày lính tráng đầy đường nhưng đêm nào Việt Cộng cũng về làng như đi chợ” (tr.55). Cái thời mà “người làng chết bom chết đạn không kể hết” (Một ngày tao loạn-tr.87).

Người Chợ Kệ là những con người có “bản chất xuề xòa, nhân hậu của những lớp người quê bao đời nghèo khó” (tr.8). Các nhân vật đều là những người quen, người thân, người trong gia đình của tác giả. Đó là những người bạn thời trẻ con như: Cu Đen, Cu Lãng. Những người trong gia tộc: “Nội tôi có ba người con trai. Bác Trực đi tập kết từ hồi năm tư. Cha tôi theo du kích được mấy tháng thì hy sinh ngay tại làng. Chú Cương con út nên mệ nội coi như cục vàng”(tr.53). Cậu Tôn Thất Triêm là em kế mạ tôi, và dì Khuê. Dân làng có Mụ Thợ Rèn, Chú Tùy Say, Chú Đún “chủ soái” môn võ phái Thần Quyền”, thương binh Trần Khỉ, Ông Bùi Còm thợ may, bác Bốn Cụt thợ gò thiếc, Chú Lặn thợ cắt tóc, anh Ích thợ chụp ảnh; Chú Sanh xóm Hói, theo Việt Cộng bị sát hại phơi xác ở ngã ba đường (tr. 94) Anh Bảy Đòn Gánh là Phó trưởng ấp Rạch Tre kiêm công an những năm 1979-1980…

Dương Đức Khánh không ca ngợi kỳ tích của chủ nghĩa anh hùng cách mạng như truyện thời kháng chiến, mà chọn những con người có cá tính, có hành động khác người, có những số phận góc cạnh. Không miêu tả những trận đánh long trời lở đất hay những mất mát hy sinh núi xương sông máu mà chọn những chuyệt “tào lao xit bộp” (tr. 19), những chuyện “trạng” (tr.23) trong nhân dân, những chuyện khi “Tản cư tản cối giặc giã sống rày chết mai, vậy mà nhớ nhiều chuyện vui đáo để” (tr.71), cả chuyện “cười nôn ruột” khi lính Mỹ đi càn, cầm lựu đạn dứ dứ trên miệng hầm (tr.90).

Nhân vật Trần Khỉ, thương binh chiến trường K, có nhiều“trò khỉ”. “Từ hồi nhỏ anh ta đã loi choi như ‘khỉ mắc phong’, lí lắc, phá phách cả nhà kêu trời. Càng lớn lên càng ‘khỉ’, nghich ngợm, lém lỉnh đủ trò. Tới lớn tồng ngồng tật khỉ vẫn không bỏ. Năm 18 tuổi Trần Khỉ đăng ký đi nghĩa vụ, trước khi lên đường, anh Khỉ bày ‘trò khỉ’ cho đám con nít…”(tr.37). Nhưng Trần Khỉ cũng đầy tình nghĩa với đồng đội. Anh xin tía anh đất làm lán trại, và đưa đồng đội thương binh về sản xuất tranh kiếm sống, tình thân như ruột thịt. Nhân vật Cu Lãng (Một ngày tao loạn), năm tám tuổi chết hụt bởi một loạt tiếng nổ “trời giáng”, từ đó mắc chứng “lãng tai”.”Suốt tuổi thơ …đầy dẫy những trận hú hồn hú vía, những điều kỳ lạ…”. Chú Cương (Người thợ mã), đẹp trai tốt tướng, mặt mũi tướng mạo phải là quan hàng tá hàng tướng (tr. 53) Vậy mà chú rớt Tú Tài, mệ gửi chú vô lực lượng nghĩa quân, rồi sang lực lượng xây dựng để khỏi bị bắt quân dịch. Cuộc đời chú lăn đi giữa giòng chảy cuồn cuộn của thời cuộc với những tình huống vừa quyệt liệt vừa không nhịn được cười. Ngày Giải phóng sắp đến, người ta bỏ chạy, chú cũng di tản. Bọn lính rã ngũ tưởng chú là trung úy, chúng thoi cho mấy cái rồi bỏ đi. Giải phóng về, nhìn tướng chú hàng tướng tá, người ta cho chú đi cải tạo theo diện sĩ quan. Bác Trực đi tập kết về, hỏi thằng Cương đâu. Khi đi qua chỗ tiệm ảnh, nơi ấy còn chưng ảnh chân dung của chú được phóng ra để quảng cáo, người lính cận vệ nói: đồng chí ấy phải làm cấp “trung ương”. Nghe vậy bác Trực có vẻ giận dữ… Thế nghĩa là, cả hai phía đều coi chú là thành phần sĩ quan, tướng tá, tức là đối tượng quan trọng đứng về phía kẻ thù. Với cái nhìn ấy, người ta đã hành khổ chú, trong khi chú chỉ là người dân “xuề xòa, nhân hậu”.Thật là một số phận hài hước giữa thời cuộc của chiến tranh khốc liệt.

Nơi làng quê của Dương Đức Khánh, “nhân vật hài” có cả trẻ con, phụ nữ và lính Mỹ. Dương Đức Khánh tạo được một thế giới những chuyện cười giàu màu sắc thẩm mỹ. Mụ Thợ Rèn (Người Chợ Kệ) là một tính cách mạnh mẽ độc đáo. Mụ đỡ đẻ cho người đàn bà làng Hạ sinh con giữa chợ, bất chấp người đời ác mồm ác miệng. Làm nghề thợ rèn, mụ ngồi trên sạp tre cao nghệu, lừng lững như một nữ tướng, hai cánh tay phì phụt hai ống bễ đen xì như hai nòng đại bác. Khi miếng sắt chín đỏ, mụ nhảy xuống thủ búa tạ, giáng huỳnh huỵch mấy chục búa rung rinh, đàn ông sức vóc cũng phải ngán. Mụ có máu mê coi đua ghe. “Bận nọ ở bến Lở làng Hạ Lang, mụ say sưa hò hát, khum lên khum xuống một hồi, cái quần lĩnh lưng vận sũng nước, tuột luốt! Mụ mặc kệ! Nước sông Bồ thì trong leo lẻo. Đàn ông đứng trên bờ vừa la vừa cười hô hố! Mụ cứ tát, cứ hô cho tới khi ghe làng qua khỏi, mụ quăng theo luôn cái nón móp méo tơi tả rồi mới thủng thẳng, kéo quần lên!...”(tr.10)

Chuyện của Cu Đen, thiếu niên dũng cảm, cũng nhiều tình huống buồn cười. Thời còn là những đứa trẻ nghịch ngợm, có lần tác giả và Cu Đen xuống hầm rác Mỹ lượm đồ ăn. Hai đứa đang say sưa với những kẹo bánh, thuốc lá, xúc xích… thì đất ở đâu ập xuống. Chết rồi! Người ta lấp hầm rác. Trên miệng hầm là hai thằng lính Mỹ. Chúng la lên: Vi-xi, Vi-xi!…Cu Đen phóc lên cái vụt như con sóc dong hai tay: “No, no, nô Vi-xi, nô Vi-xi…lượm bánh lượm kẹo! Ô-kê ô kê!”” (tr.104). Khi hiểu ra không phải Vi-xi, những kẻ ở dưới hầm rác kia chỉ là hai đứa trẻ, tên lính Mỹ làm dấu hiệu bảo đừng lượm rác. May mà hai tên lính không mang súng. Nếu chúng có súng thì cả hai thằng nhóc đi chầu ông bà rồi! Đó là một tình huống chết người. Tình huống ấy bất ngờ lại chuyển thành một tình huống hài. Một lần khác tác giả và Cu Đen đêm khuya leo rào qua vườn mụ Cửu (tr. 109), định ăn cắp cam quýt. Có tiếng róc róc như tiếng lên quy lát súng lục. Mệ Cửu có con là Chú Đương, trung úy cảnh sát dã chiến đóng ngoài Phò Trạch. Hình như chú Đương đang ở trong nhà. Hai đứa nghĩ, phen này sẽ chấm dứt mọi ước mơ vì chú Đương là một tay thiện xạ. Chúng nằm im. Khi gà gáy giục trời sáng, có tiếng xe Gobel của Chú Đương rời nhà đi. Hai đứa thoát nạn. Bốn chục năm sau (tr.112) gặp lại Chú Đương, nghe kể chuyện, chú mới té ngửa là đêm ấy không phải Việt Cộng rình nhà chú mà là hai thằng “lục lăng trái ấu” trộm vặt. Cũng lại là một tình huống “chết người” trở thành tình huống hài.

Đêm trên cứ Ti-bon núi Mệ bị pháo quân giải phóng tấn công. Cả trái núi đỏ lựng như hòn than khổng lồ. Mờ sáng…một tốp lính Mỹ te tua sơ mướp bị đẩy xuống từ một chiếc trực thăng, chúng kéo nhau vô náu ở một nhà thờ hoang (tr.13). Có một thằng Mỹ say, tên là To-ny-Phớt, mặt mũi lơ láo, thường lang thang dọc đường làng, nghêu ngao những bài hát tiếng Việt. Bọn trẻ quen mặt và Chú Tùy Say cũng quen với hắn, vì cả hai đều là bợm rượu. Phớt được chú Tùy giới thiệu là dân Chợ Kệ vì biết uống rượu Hương Cần, biết hò giã gạo, và được Mụ Lé thưởng bánh tét. Và cứ chiều nào chú Tùy gặp thằng Phớt là bọn trẻ lại được xem một chương trình hò vè tạp lục khỏi mua vé. Có lần chú dạy nó hát:” Hò hô…Đáo tới nơi đây/ đất nước lạ lùng / nghe con chim kêu tui cũng sợ/ gặp con cá vẫy vùng run ví cũng… ờ run”. Nghe thằng Phới hò cả chợ cười cái rần. Chú còn rủ thằng Phớt chơi đua ghe. Phớt cặp đôi với chú Tùy. Đến vòng thứ nhì thì hắn đuối. Rồi ghe lật, thằng Phớt bị chìm, nó bị bỏ lại. Lát sau nó bơi vào bờ. Tác giả kết truyện: “Thằng Phớt bỏ cuộc, tất nhiên! Nhưng chú Tùy lại thành công thêm một mẻ gây cười cho cả làng” (tr.19)

Miêu tả những tình huống “gây cười” như thế là một nét đặc sắc ngòi bút của Dương Đức Khánh. Tuy chỉ để gây cười, và câu chuyện của thằng Phớt được kể như đùa, nhưng lại chứa đựng những ý nghĩa sâu xa, thú vị.

Bên dưới những chuyện “tào lao xịt bộp” của người Chợ Kệ, người đọc nhận ra những phẩm chất rất đẹp của một dân tộc. Nơi đây có người hy sinh cho cách mạng, có người tập kết từ 1954 (Cha và bác Trực, người thân của tác giả), người dân bao lần phải chịu những trận càn của cả giặc Pháp, giặc Mỹ khốn đốn trăm chiều. Trần Khỉ làm nhiều “trò khỉ” nhưng lối sống nghĩa tình của Trần Khỉ (Họa sĩ làng) lại là tấm gương rất đáng ngưỡng mộ.  Người Chợ Kệ dù đứng bên này hay theo bên kia (Hình nhân thế mạng) đều coi nhau như ruột thịt và hết sức giữ gìn để không ai bị tổn thương. Đó là tình làng nghĩa xóm bao đời của cha ông. Trong những lúc tao loạn, người Chợ Kệ vẫn rạch ròi đúng sai và hành xử chuẩn mực. Ấy là, sau giải phóng, cậu Triêm về trình diện chính quyền Cách mạng (Hoa mai bảy cánh). Chú Bơi xã đội trưởng nói: “Anh là sĩ quan, từng là phó chi khu! Răng tới chừ mới ra trình diện”. Cậu đưa tờ báo đăng tội trạng “chống Mỹ” của cậu và giấy xác nhận tham gia đội chiếu bóng phục vụ cách mạng, Chú Bơi gật gù  rồi vỗ vai cậu: “Thôi, anh cứ yên tâm về nhà cho bác mừng. Sáng mai ra trình diện, chúng tôi sẽ giải quyết sau” (tr.126). Người Chợ kệ còn có sinh hoạt cộng đồng sôi nổi trong các cuộc đua ghe, trong các lễ hội. Và dù vui chơi, người Chợ Kệ luôn có ý thức chính trị rất cao. Chú Tùy Say tuy nát rượu nhưng biết dạy thằng Mỹ Phớt bài học thua cuộc trong một bài hát và cả trong cuộc đua ghe.  Chuyện Chú Cương, trong ngày trẩy hội Điện Hòn Bát, cho nổ tung “một cái tháp màu đỏ xen trắng như tháp đài truyền hình. Bốn chân đế màu đỏ tươi. Và bốn phía được gắn các chữ số màu vàng: 981” (tr. 69). Đó là một biểu thị tình yêu nước rất mạnh mẽ. Và nếu cần nói thêm, thì dù cuộc sống đầỳ khó khăn, bất trắc, con gái Chợ Kệ luôn là những cô gái xinh đẹp.

MỘT CÁCH MIÊU TẢ CHIẾN TRANH

            “Mấy đêm sau, chừng nửa đêm bỗng nghe từng loạt AK nổ giòn phía cầu. Tiếp theo là tiếng AR15, lựu đạn, M79 ùng oàng. Cả làng thót tim. Nhứt là xóm nhà tranh xung quanh cầu. Lần này chắc đụng độ thiệt, không phải ‘xung phong cục sắt’ nữa rồi! Bác Sung, chú Nốn, bác Hốt…mấy cây nói trạng mọi khi lại khều nhau uống trà thì thào, đêm tối như mực chẳng dám thắp đèn. “Chắc chắn máu đổ thiệt rồi, không ‘ba lơn’ được nữa! Cả tiểu đội nghĩa quân nằm phục kích dưới cầu! Mô Phật!…Lúc chạng vạng tôi thấy tụi hắn thắp hương đỏ rực, van vái ‘tượng thằng lính’. Nếu xáp lá cà là bỏ mạng không ít. Rồi không chừng anh em bắn nhau cũng nên. Có khi thằng Chạy lại bắn thằng Đua, thằng Sau có thể ‘cắc bụp thằng Chót…Súng đạn có lựa ai, mà cả làng này không ruột thịt cũng bà con…Trong cái lành lạnh về sáng như có mùi tử khí, có cái rờn rợn của máu me chết chóc. Hai lan can cầu màu đen hiện rõ dần. “Cái chi rứa?!!”. Một thân người vắt ngang thanh chéo lan can, tay chân buông thõng! Quẩn áo lính nghĩa quân, mang giày vải lính đế cao su. Lại một thân người nằm sõng soài cách cái ‘thằng lính’ da sắt mình đồng chừng mấy bước. Hai mạng người tiêu vong! Mô Phật! Còn ai nữa. Một tiểu đội lận mà, răng êm ru rứa!…”(tr.34-35).

            Đó là một trận đánh “thót tim” dân làng giữa một bên là lính nghĩa quân và một bên là Việt Cộng. Đến sáng ra, kiểm điểm lại vẫn còn đủ 12 lính nghĩa quân, họ phóng ra khỏi lô cốt giậm chân vỗ tay cười dậy cả khúc sông. Hóa ra là một trận “giả”. Hai ‘người lính’ tử thương chỉ là hai thằng người bù nhìn làm bằng rơm. Súng đạn nổ ùng oàng chỉ là bắn xuống sông làm cá chết nổi trắng bên mấy bụi lau lách. Một cái kết đầy hài hước: Mặt trời lên, tiếng loa tuyên truyền của “bên ta” cũng vang lên: “Bằng chiến thuật ‘hình nhân thế mạng’, lực lượng nghĩa quân đã đánh lừa được đối phương vào ổ phục kích. Giao tranh xảy ra ác liệt. Với hỏa lực mạnh, bên ta đã uy hiếp, bẻ gãy và làm tê liệt cuộc tấn công của địch. Đối phương thảm bại hoàn toàn và rút khỏi trận địa”. Tác giả kết truyện: Đó cũng là trận súng nổ cuối cùng ở làng tôi, cái trận ‘lính rơm’ mà người làng vẫn nhắc tới, vẫn cười chảy nước mắt mỗi lần kể chuyện hồi chiến tranh”(tr.36)

Đọc đoạn miêu tả “đụng độ” giữa lính nghĩa quân và Việt Cộng ở trên, người đọc có thể nhận ra nhiều đặc điểm của ngòi bút Dương Đức Khánh trong việc miêu tả chiến tranh. Ở một vùng quê có tới “70% gia đình xếp loại ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” (tr.25), và “Đàn ông trai tráng lớp thoát ly, lớp bị bắt quân dịch. Quá tuổi quân dịch nhưng còn 60 trở xuống cũng phải cầm súng vô lực lượng dân quân tự vệ. Rất nhiều nhà có người tham gia cả hai bên là chuyện thường. Như trường hợp nhà bác Nậy, anh Chạy theo du kích, anh Đua mang súng nghĩa quân, còn bác Nạy phải vô dân vệ”(tr.24” “ban ngày lính tráng đầy đường nhưng đêm nào Việt Cộng cũng về làng như đi chợ” (tr.55).Trong một hoàn cảnh như thế, không thể để anh em bắn nhau, bởi cả làng này “không ruột thịt cũng bà con”. Tác giả chọn cách miêu tả “trận giả với ‘lính rơm’ là giải pháp bảo toàn được dân làng, tránh gây ra những đau thương. Dù vậy cái cười vẫn hàm ý châm biếm là dành cho chế độ Sài Gòn.

Người lính Sài Gòn không hề chiến đấu cũng chẳng chiến thắng (đơn giản vì họ là con em nhân dân vào nghĩa quân để trốn quân dịch), nhưng cái loa tuyên truyền vẫn vang lên hùng hồn. Chú Cương (Thợ đồ giấy) bật mí: “…thỉnh thoảng cũng phải mần vài trận giả, nổ súng kịch liệt, liệng lựu đạn, hô xung phong rầm trời y như thiệt rồi gọi bên chi khu nã về mấy trái pháo 105 giữa đồng lúa sắp gặt, báo hại bà con kêu trời không thấu. Gần sáng trung đội phó truyền tin ôm máy PRC25 ò e rè rè: A lô! Se sẻ gọi Chim Ưng, Se sẻ gọi Chim Ưng nghe rõ không…Se sẻ xin báo cáo tình hình chiến sự đêm qua…Vào 23 giờ 45 phút, khoảng hai tiểu đội Cộng quân xuất phát từ hướng núi Thanh Khê đã lọt vào ổ phục kích!…A lô, Chim Ưng nghe rõ không?!…Với tư thế chủ động, anh em đã bình tĩnh giệt ngay tên mang B40 và lập tức nổ súng bao vậy đội hình địch!…Hơn một giờ giao tranh ác liệt địch thất bại hoàn toàn! Số bị thương, chết được đồng bọn mang đi!…Bên ta hoàn toàn vô sự! Báo cáo bên ta hoàn toàn vô sự!…Se sẽ cắt máy!…”(tr. 55)

Ngay cả với lính Mỹ, tác giả cũng miêu tả với thái độ “thân thiện” vì chúng là những kẻ bại trận, chúng không còn khả năng gây tội ác với nhân dân. Đó là thằng lính say Tony Phớt đã thua trận lại phải nhận thua trong cuộc đua ghe cho nên nó biết sợ dân này; hay hai thằng lính Mỹ lấp hầm rác, chúng không bắn Cu Đen mà còn ra hiệu đừng lượm rác. Hai thằng lính Mỹ khui hầm, lùa dân về tập trung tại sân vười mụ Chót bên xóm Ngang (tr. 91) được miêu tả có vẻ ác. Tiếng kêu của dân thê thiết quá. Thằng Mỹ đen lao tới lôi O Mực ra khỏi đám đông dân làng định làm nhục, vậy mà ở cái phút cái chết “ngàn cân treo sợ tóc” ấy, tác giả đã cứu O Mực. Bọn Mỹ có lệnh rút đi.

Trong cả tập truyện, Dương Đức Khánh không miêu tả trực tiếp chiến tranh. Không có chút bóng dáng nào Huế những tháng ngày Mậu Thân 1968, không có dấu tích gì của trận đánh ác liệt ở cổ thành Quảng trị 1972, và càng không có một dòng nào miêu tả những ngày giải phóng, lúc quân Cách mạng tiến như thế chẻ tre, dù có nhắc tới dòng người di tản. Trần Khỉ là thương binh trở về từ chiến trường K chỉ nhắc rất xa xôi về Pol pot, và đồng đội rất nhiều người là thương binh. Tất nhiên đây là thái độ chọn lựa của nhà văn. Khi đã chọn bối cảnh truyện là một làng quê “rất nhiều nhà có người tham gia cả hai bên”thì không thể miêu tả sự căm thù, sắt máu, chết chóc bi thương, trái lại Dương Đức Khánh tô đậm sự “hòa hợp hòa giải”. Truyện Võ thần (Thần quyền) kể rằng, chiến tranh đến, “mấy anh đi hết rồi, phần bị bắt lính, phần nhiều theo du kích. Anh Chèo theo bên du kích…”, Chú Đún vô ngành cảnh sát công lộ. Có lần giỗ họ bên nội chú mặc nguyên đồ cảnh sát về dự. Uống rượu vào, chú nói trạng: ”Tau thách Việt cộng mô dám bắn tau” (tr. 79) Khi chú vừa đi thì mấy anh du kích vô ăn giỗ: Hóa ra nãy giờ họ ở vòng ngoài bảo vệ chú. Anh Khôi, anh Đà, anh Chít, anh Chèo đều là đồ đệ của chú, họ bảo vệ thầy, lỡ gặp bọn lính dù, hắc báo đi trận về gây khó cho thầy. Tết năm đó ngưng bắn 7 ngày, du kích và địa phương quân cùng chen vai vui chơi. Mùng ba tết môn sinh du kích và lính địa phương quân cùng đến chúc tết chú Đún. Mùng Bảy cúng đầu năm, có đua ghe, chú Đún được bầu làm trọng tài. Chú dùng còi cảnh sát thổi roét roét. Hơn trăm tay chèo du kích và địa phương quân ganh đua. Họ ôm nhau giữa sân đình trào nước mắt (tr.82). Với lính Mỹ, Anh Chạy dùng trâu giúp lính Mỹ tránh lụt (Cu Đen).

Ở góc nhìn trần thuật, hầu hết những câu chuyện trong thời chiến tranh được kể lại là lúc tác giả còn là một đứa trẻ “đầu chưa sạch cứt trâu” trong đám trẻ nghịch ngợm của cái Chợ Kệ ngày ấy.(tr. 19). Truyện Võ thần kể chuyện chú Đún hồi 1969-1970 (lúc ấy tác giả mới 9-10 tuổi). Truyện Thợ đồ giấy kể chuyện chú Cương, là lúc tác giả mới học lớp Tư (tr.58), đến truyện Bông Mai bảy cánh, tác giả mới học lớp Bảy, 15 tuổi (tr.119). Ở tuổi trẻ con như vậy, tác giả chưa thể có ý thức chính trị, càng không thể có tầm nhìn nào về bối cảnh lịch sử, xã hội thời đang sống. Hơn nữa, sinh ra và lớn lên trong một làng “chúa nói trạng(tr. 23), tác giả cũng ướp trong ngòi bút của mình “nghệ thuật nói trạng”. Cuối truyện Người Chợ Kệ, tác giả đã nói trạng với chú Tùy Say sau hơn 30 năm gặp lại. “Thấy chú tin như đinh đóng cột, sẵn trớn tôi phịa luôn. Tôi kể chuyện thằng Phớt đi tìm chú. Chú lại “tào lao xịt bộp” nói rằng sẽ qua Mỹ để tìm thằng Phớt…(tr.20)

YẾU TỐ HÀI TRONG BÚT PHÁP

Tập truyện ngắn Người Chợ Kệ có nhiều yếu tố của một tập truyện ký. Câu truyện là những hổi ức của tác giả với nhân vật nhân trong một dịp viếng thăm nào đó. Sau hơn 30 năm mỗi người mỗi ngả, tác giả gặp lại với chú Tùy Say ở Đồng Nai (Người Chợ Kệ). Gần nửa làng tác giả vô lập nghiệp ở vùng núi Tây Nguyên. Về thăm làng, người đầu tiên tác giả gặp là chú Đún và “nhớ một thời mấy phen làng nước loạn ly” những năm 69-70 (Võ Thần). Thợ đồ giấy là truyện về chú Cương khi tác giả về thăm chú. Đầu chú lúc này đã hói nhiều. Trong khi trò chuyện, tác giả nhắc lại vụ Hoàng Sa 40 năm trước. Cu Đen ngày xưa là bạn cùng đi tìm đồ ăn trong hố rác Mỹ, giờ hắn đã là Thượng tá. Tác giả gọi điện hỏi thăm và nhắc lại chuyện xưa. Cu Đen cũng gọi cho tác giả để ôn chuyện cũ…

Dù tên các địa danh đã được tác giả đổi khác để tạo ra chất truyện (thí dụ: thành phố N-tr.122), song người đọc vẫn dễ nhận ra những sự việc, những nhân vật là ở vùng quê của tác giả: ven sông Bồ, xứ Huế. Cửa Thuận An đổi là cửa Thuận (tr.118), điện Hòn Chén đổi là điện Hòn Bát, cầu Tràng Tiền đổi thành cầu Tràng Bạc (tr.68), giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc, đã được tác giả nói tránh đi là “Một cái tháp màu đỏ xen trắng như tháp đài truyền hình. Bốn chân đế màu đỏ tươi. Và bốn phía được gắn các chữ số nổi màu vàng: 981. Mấy con số mà tại thời điểm này, trên giải đất chữ S này, từ ông tướng đến anh bán kẹo kéo đều có chung thái độ như nhau” (tr.69).

Chất ký trói chặt ngòi bút tác giả vào hiện thực cho nên những câu chuyện được kể là những chuyện “thật” trong dân gian. Truyện nào tác giả ghi được nguyên vẹn tiếng nói, sắc vóc, thần thái, khi chất con người dân gian (thí dụ: Người Chợ Kệ), thì truyện ấy có nhiều yếu tố để thành công. Cách kể chuyện đậm chất dân gian này Nguyễn Thi đã thành công trong Người Mẹ cầm súng (1965) và trong những ghi chép in trong Năm tháng chưa xa (1972).

Dương Đức Khánh có khả năng viết những trang bi tráng, những trang trữ tình, kể những câu chuyện tâm linh (yểm bùa, thần chú trong truyện Võ thần, vía chú Sanh dẫn đường tìm xác trong Những ngày tao loạn), nhưng điểm nổi bật trong bút pháp của Dương Đức Khánh là chất hài dân gian.

Để tạo ra chất hài, Dương Đức Khánh chọn kể những câu chuyện có sự mâu thuẫn giữa hiện tượng và nội dung. Tiếng cười bật ra khi người đọc khám phá tính hai mặt của vấn đề. Thí dụ, Trong truyện Thợ đồ giấy, Hình nhân thế mạng, lính nghĩa quân đánh trận giả mà báo cáo thật. Chú Cương chỉ là anh lính nghĩa quân trốn quân dịch nhưng đi đâu cũng được người ta đối xử như con nhà quan hàng tướng tá. Hoặc chú Đún (Võ thần) là cảnh sát công lộ đi ăn giỗ lại được Anh Khôi, anh Đà, anh Chít, anh Chèo…là du kích bảo vệ.

Dương Đức Khánh cũng khai thác những “trò khỉ” của Trần Khỉ (Họa sĩ làng), những trò nghịch ngợm trẻ con (Cu Đen), những cái “ngây ngô” (Cu Đen mặc cái áo xanh đỏ bị máy bay Mỹ bắn rocket suýt mất mạng. Cu Đen không biết áo mình đang mặc có màu giống với cờ Mặt Trận Giải Phóng nửa đỏ nửa xanh). Dương Đức Khánh cũng sử dụng “cái tục” để gây cười như trong nhiều truyện dân gian (Mụ Thợ Rèn cổ vũ đua ghe bị tụt quần-Người chợ Kệ). Những chuyện “tào lao” và cách nói cường điệu dân gian cũng tạo nên tiếng cười. Khi tác giả về thăm chú Tùy Say, hỏi thăm cuộc sống, chú xua tay, giọng tưng tửng: “Ui dào, khỏi hỏi!…Tiền bạc tau chừ…lâu lâu phải kêu thím mi…chất ra sân, phơi! Để mối mọt ăn hết! (tr.20)

Cái Hài trong bút pháp của Dương Đức Khách là cái cười dân gian khôi hài, là cười vui. Có khi “cả làng cười một mẻ”(tr.19), “bò ra cười”, “cười nôn ruột”(tr. 89), có khi “cười chảy nước mắt” (tr. 36). Đó không phải là cái cưới châm biếm của Số Đỏ (Vũ Trọng Phụng). Người dân quê cười vui để vượt lên cái vất vả gian khổ, làm nhẹ đi cái bi thương, và trong sâu xa, cái cười dân gian còn chứa đựng bản lĩnh dân tộc khi phải đối mặt với những vấn đề sinh tử (chuyện đánh trận giả nhưng báo cáo thật của nghĩa quân để che mắt cấp trên). Trong văn chương hôm nay có rất ít nhà văn khai thác được kiểu bút pháp này, và vì thế, nếu Dương Đức Khách gửi truyện dự thi ở bất cứ cuộc thi nào, truyện của anh rất dễ đạt giải.

Nếu “bút pháp hài” đem đến cho truyện ngắn của của Dương Đức Khánh những nét độc đáo, thì cũng chính bút pháp ấy lại làm hạn chế những năng lực khác của ngòi bút Dương Đức Khánh. Trong Mỹ học, người ta nói đến phạm trù của “cái cao cả”, “cái bi”, “cái hài”, “cái đẹp”. Nếu nhà văn đi đến tận cùng trong việc chọn lựa miêu tả một phạm trù nào đó, anh ta sẽ đạt được những giá trị độc đáo. Nguyễn Tuân là nhà văn của “cái đẹp”. Nam Cao khai thác cái “bi kịch”, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan khám phá những “hài kịch”. Văn học kháng chiến miêu tả “cái cao cả”, “cái hào hùng” có chất sử thi. Nguyễn Thi kết hợp “cái hài” với “cái cao cả phi thường” trong Người mẹ cầm súng. Tất cả lảm nên một nền văn chương phong phú sắc màu nghệ thuật. Văn chương đương đại có nhiều khuynh hướng sáng tác: văn chương Hiện sinh (J.P.Sartre), chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo (García Márquez), Tiểu thuyết mới (Alain Robbe-Grillet), văn chương Hậu hiện đại (Barthelme)…Như vậy, nếu Dương Đức Khánh chỉ sử dụng một kiểu hài dân gian, ngòi bút của anh sẽ không tránh được những hạn chế.

Chuyện “Tào lao” là chuyện không có nội dung gì đứng đắn, chỉ nói ra cho có chuyện, cho vui [1] Những chuyện “tào lao xịt bộp” kiểu như, Chú Tùy nói rằng, về tiền bạc, lâu lâu chú phải bảo thím đem ra phơi không để mối mọt ăn. Nghĩa là tiền nhiều lắm, chất trong kho không xài đến, phải đem phơi. Một nông dân nghèo mà nói như thế, người ta sẽ bảo Chú Tùy “nổ văng miểng”, hay chú “quăng lựu đạn” tá lả. Vâng, ai cũng hiểu đó là cách nói để cho vui. Với một tác phẩm văn chương, thì Những chuyện “tào lao xịt bộp”, kể vui, để có những mẻ cười, sẽ làm hạn chế giá trị phản ánh hiện thực của tác phẩm. Nói “trạng” và hài hước hóa chuyện chiến tranh, sẽ làm mất tính tư tưởng của tác phẩm, bởi cái giá xương máu 30 năm chiến tranh của dân tộc này là rất lớn. Thí dụ, khi người dân quê nói nhầm chữ Ô ke thì bị lính Mỹ bắn ngay. Đó là cái chết oan, (Một ngày tao loạn, tr.87). Cu Đen sống sót nhờ biết nói “Nô, nô Vi-xi, nô Vi-xi, lượm bánh lượm kẹo ô kê ô ke!”(Cu Đen, tr.104), đem những chuyện này kể để cười, tôi thấy xót xa đến tận ruột gan! Những sự tích anh hùng, những đau thương thống khổ, những thân phận bi kịch, những đổ vỡ mất mát của dân tộc này nhiều không sao tính được. Và dân tộc này rút ra được bài học gì, cái tư tưởng nền tảng và sức mạnh của dân tộc này là gì cần phải được khám phá cho đời sau. Những vấn đề lớn lao đó “bút pháp hài” không đáp ứng được trong việc phản ánh hiện thực. Cho nên người đọc, sau khi gấp trang văn của Dương Đức Khánh lại, cũng là lúc nụ cười tắt trên môi thì thường tự hỏi, tác giả kể chuyện này để nói điều gì? Truyện chứa đựng tư tưởng gì?

Và người đọc nhận ra rằng, truyện để lại những khoảng trống tư tưởng.

Không phải vậy, tôi lại nghĩ, bên dưới những “chuyện tào lao”, và dù chỉ là một tập truyện ngắn, ngòi bút Dương Đức Khánh cũng đã chạm được đến những vấn đề lớn của thời đại với một cách tiếp cận mới.

NHỮNG GÌ CÒN LẠI…

             Tôi thích “cái hài” dân gian trong truyện của Dương Đức Khánh vì nó khỏe mạnh, phóng khoáng và chứa đựng những gía trị minh triết (nụ cười của thằng Bờm chẳng hạn). Và thật quý trọng những trang văn giàu chất hài, bởi viết văn chương hài không phải nhà văn nào cũng viết được. Vì thế Vũ Trọng Phụng, Aziz Nesin (nhà văn Thỏ Nhĩ Kỳ) trở thành thiên tài văn chương trong thời đại chúng ta.

Trong dòng chảy văn chương viết về chiến tranh đương đại, có rất ít tác phẩm viết về sự hòa hợp hòa giải hay và thuyết phục như những trang văn của Dương Đức Khánh. Những truyện Hình nhân thế mạng (tr. 34), Võ thần (tr. 80), để lại những ấn tượng và những suy nghĩ sâu sắc về tinh thần hòa hợp hòa giải. Khi người lính bên này và bên kia ôm nhau giữa sân đình cười trào nước mắt (tr.82), trang văn của Dương Đức Khánh trở nên sáng trong, hân hoan đến lạ lùng. Nhà văn đã nói thay tâm nguyện của cả dân tộc này. Nhà văn cũng làm sáng lên cái bản lĩnh, cái sức mạnh ngàn năm của dân tộc, ấy là vượt qua chiến tranh, gìn giữ những truyền thống nghĩa tình; những cách ứng xử khôn ngoan trong những tình huống tử sinh để bảo toàn những giá trị làm người.

Tôi đọc Một ngày tao loạn mà lòng rưng rưng khôn xiết. Sự bi thương không bút mực nào tả được trong những tiếng kêu ai oán của một dân tộc. Lính Mỹ lôi những người dân quê từ hầm lên và lùa đến xóm sân vườn mụ Chót ở xóm Ngang (tr.92), rồi chúng tách các o trẻ ra. Bà con sợ các o bị chúng làm nhục, bèn la lên: “Mấy ôông…B…bb…ắ…n! B…ắn chết hết đi!!! Đừng…mần …rứa”. Khi O Mực bị thằng lính Mỹ đen lôi ra, giọng mụ Nghé riết róng: “Cứ ôm con cho chặt! Mực ơi!  Chết thì chết!…Đừng chịu nhục, con ơi…”. Khi nghe tiếng súng nổ, Mấy mụ lại kêu trời van vái: “Súng đạn mô…bắn vô đây dùm với! Cho chết hết một lần đi! Trời ơi!!…”. Trên cõi đời này, có xứ sở nào người dân lại cầu cho súng đạn bắn dùm cho chết hết một lần như người dân xứ này không?! Thà chết chứ không chịu nhục! Dù là một cá nhân bị nhục thì đó cũng là cái nhục của cả cộng đồng. Cả cộng đồng nguyện lấy cái chết để bảo vệ nhân phẩm của một con người. Khó ờ đâu trên thế gian này có được phẩm chất và bản lĩnh như thế. Viết được những trang văn như vậy nhà văn phải sống sâu sắc lắm với dân mình, với đất nước mình. Có cả tài năng và tâm huyết nữa.

Con đường văn chương của nhà văn Dương Đức Khánh đả sáng rõ một cá tính sáng tạo có những phẩm chất độc đáo. Tôi cầu chúc anh gặt hái được nhiều thành công trên con đường anh đã chọn.

Tháng 10/ 2018

 

______________

[1] Tự điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ, Nxb Khoa học xã hội-Trung tâm từ điển Việt Nam, 1995, tr.859

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s