THƠ LÊ ĐÌNH BẢNG-Quỳ Trước Đền Vàng

Những khuôn mặt thơ Công giáo đương đại

“QÙY TRƯỚC ĐỀN VÀNG”, THƠ CỦA “NGƯỜI ĐI NHẶT CHỮ” TÀI HOA.

(Đọc tập thơ Quỳ trước đền vàng của Lê Đình Bảng. Nxb Tôn Giáo 2010)

Bùi Công Thuấn

Nhà thơ Lê Đình Bảng

***

Nhà thơ Lê Đình Bảng tự nhận mình là “người đi nhặt chữ”:

Con chỉ là người đi nhặt chữ

Lang thang nơi phố chợ đông người

Để nghe mạch chảy, nghe trời đất

Ngàn vạn âm vang của cuộc đời…

                                          (Kinh khuya)

Những dòng thơ trên đủ giới thiệu cho bạn đọc một hồn thơ khoáng đạt, cao rộng. Hồn thơ ấy “nghe mạch chảy” của thời gian, “nghe trời đất” cất lời và, nghe ”ngàn vạn âm vang của cuộc đời”. Đó là một hồn thơ đã vượt ra khỏi giới hạn của không gian và thời gian để trái tim rung cảm dào dạt trước vẻ đẹp rất lạ lùng và kỳ diệu của cuộc đời này.

Lê Đình Bảng đã in các tập thơ: Bước chân giao chỉ (Sài gòn 1967), Hành hương (2006), Quỳ trước đền vàng (2010), Lời tự tình của bến trần gian (2012), Ơn đời một cõi mênh mang (2014), Kinh buồn (2014), và các tập thơ được phổ nhạc: Đội ơn lòng Chúa bao dung (2012), Lời khấn nhỏ chiều Chúa nhật (2012), Về cõi trời mênh mang (2012). Ngoài ra Lê Đình Bảng còn là nhà nghiên cứu lịch sử văn học Công giáo Việt Nam. Ông đã in “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường” (2010), và bộ sách  gồm 6 cuốn “Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam” (2009) do ông sưu tầm, nghiên cứu…

Quỳ trước đền vàng là tập thơ riêng về Đức Maria.

Tập thơ Quỳ trước đền vàng

KHÁP PHÁ MỚI MẺ VỀ HÌNH TƯỢNG ĐỨC MARIA

            Ở Việt Nam, việc sùng kính Đức Maria đã trở thành lòng đạo nhiệt thành của giáo dân. Trong một năm có đến 2 tháng hoa, tháng Năm và tháng Mười dành để giáo dân quây quần xung quanh Mẹ, đọc kinh Mân Côi, kiệu hoa, dâng hoa. Các tước hiệu dành cho Đức Maria cũng rất phong phú: Đức Mẹ Hằng cứu giúp, Đức Mẹ ban ơn lành, Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Maria Nữ vương hòa bình… Linh địa Công giáo cũng là linh địa của Đức Mẹ: Đức Mẹ La vang, Đức Mẹ Trà Kiệu, Đức Mẹ Măng Đen, Đức Mẹ Tàpao… Kinh nhạc để cầu nguyện cùng Đức Maria cũng rất phong phú và có nhiều bài tuyệt hay.

Vì thế, thật không dễ để có thể khám phá ra những điều mới mẻ về hình tượng Đức Maria. Trước đây, Hàn Mặc Tử đã viết bài Ave Maria tuyệt hay, bài thơ lại được Nhạc sư Hải Linh phổ nhạc, tạo nên một lâu đài nghệ thuật tráng lệ:

…Sáng nhiều quá cho thanh âm vời vợi
Thơm dường bao cho miệng lưỡi không khen
Hỡi Sứ Thần Thiên Chúa Ga-bri-en
Khi người xuống truyền tin cho Thánh Nữ
Người có nghe xôn xao muôn tinh tú
Người có nghe náo động cả muôn trời
Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời
Để ca tụng – bằng hương hoa sáng láng
Bằng tràng hạt, bằng Sao Mai chiếu rạng
Một đêm xuân rất đỗi anh linh…”

            Những câu thơ dát bằng châu ngọc ngôn ngữ ấy sẽ là đỉnh thi sơn mà những nhà thơ Công giáo đi sau khi viết về Đức Maria không dễ vượt qua. Lê Đình Bảng đã khắc họa được một hình tượng Đức Mẹ rất đẹp nhưng hoàn tòan khác với hình tượng Đức Maria của Hàn Mặc Tử.

 Nhà thơ Họ Hàn ca tụng Đức Mẹ “bằng hương hoa sáng láng/ Bằng tràng hạt, bằng Sao Mai chiếu rạng”, và đặt Đức Mẹ trên trời cao với chuyển động của vũ trụ: “xôn xao muôn tinh tú/ …náo động cả muôn trời”. Xung quanh Đức Mẹ “Sáng nhiều quá” “Thơm dường bao”.

Lê Đình Bảng đem Đức Mẹ về gần gũi với mình, gần gũi với đời sống khó nghèo gian nan. Đức Mẹ hòa trong khung cảnh thiên nhiên Việt Nam, cô đọng trong những tình tự dân tộc, và sâu lắng trong tâm thức về người mẹ Việt. Đặc biệt, Lê Đình Bảng dùng hình ảnh “Mẹ hóa đá” đã có trong văn hóa dân gian Việt để khẳng định lòng tin: Mẹ vững như núi đá chở che con Mẹ mấy trăm năm ở những linh địa. Nhờ thế, bạn đọc ngoài Công giáo có thể tiếp cận được thơ về Đức Mẹ một cách tự nhiên, như thơ về người mẹ trần gian của mình.

            Mẹ sống với đàn con những ngày nước trắng đồng không, những ngày mưa giông, bão lụt khắp cả Bắc, Trung, Nam:

Mẹ là giại nứa phên tre

Những khi nắng quái, bốn bề mưa giông

Lòng tin con, ngã ba sông

Trông ra nước trắng đồng không mấy bờ

                                     (Heo may lời con)

Mẹ với đời nghèo khó âm thầm nhẫn nhục.

Mẹ tít tắp đầu non

Hai trăm năm nhẫn nhục

…Đất vẫn nghèo sỏi đá

Vẫn lá rau, con cá

Con bốn mùa nắng nôi

Đêm đêm thắp sao trời

Mẹ, mưa nguồn tắm gội

Cây đời con tốt tươi”

            (Mẹ vẫn ở đầu non)

Một hình tượng giàu phẩm tính dân tộc:

Mẹ vẫn đứng cùng phong rêu quá khứ

Hai trăm năm, phơi rát mặt gió Lào

Cháy lòng con bao nỗi nhớ xôn xao

Mỗi khi đếm từng mùa thu đi, thay lá

               (Trường ca Mẹ La vang)

Một tứ thơ rất đẹp về cái nóng khắc nghiệt của gió Lào làm đá rịn mồ hôi.

Bỗng dưng con thấy bồi hồi

Sông khuya đá rịn mồ hôi gió Lào…

Mẹ là bến lặng bờ trong

Để con nương náu mà giong thuyền về

                   (Kinh nguyện La Vang)

Mẹ là Mẹ cả núi sông.

Dừng đây, đôi ngả đi, về

Chênh vênh đá dựng, tư bề núi non

Tít mù làng bản, sơn thôn

Rưng rưng khói biếc hoàng hôn nhớ nhà…

Mẹ sông, Mẹ núi, Mẹ ngàn

Mẹ ôm lấy cả vô vàn chúng sinh

                                           (Mẹ. Suối an bình)

Lê Đình Bảng gặp gỡ hồn thơ Hàn Mặc Tử, nhưng vẫn rất khác:

Vì đêm ấy mới là đêm trừ tịch

Xác-hồn-thiêng-vô-nhiễm trổ thành hoa

Giữa ba tòa sen ngát ánh dương pha

Giữa băng tuyết rỡ ràng ơn phước lạ

Hai nghìn năm, Mẹ sầu bi hóa đá

Lạnh vô cùng, tím ngắt những hoàng hôn…

                              (Cửa đẹp)

            Lê Đình Bảng khác Hàn Mặc Tử vì khắc tạc Đức Maria trên nền của hiện thực Việt Nam:

Sau cuộc chiến tưởng chừng không được gặp

Lúa ngô reo hay triệu triệu tấm lòng

Mấy đồng trong, nước trắng cũng về sông

Mẹ đứng đó, hai trăm năm, lệ đá”

            (La Vang. Tháng Tám mùa thu)

            Lê Đình Bảng tâm tình với Mẹ:

Con mải mê cuộc sống

Để bây giờ tay không

Vẫn lạc chợ, trôi sông

Vẫn cơm đường, cháo chợ

Mẹ thành non thành đá

Phong rêu với bụi bờ…

                        (Lên ngàn)

Và đây là lời nguyện cầu:

Lạy Mẹ Tà Pao giáng phúc, ban ơn

Xin mở rộng cửa thiêng đường, Mẹ nhé

Và thương lấy những đoạn trường, dâu bể

Để chúng con làm muối mặn cho đời

Thả lưới xa bờ, chỗ nước xa khơi

Bên phải mạn thuyền, cá tôm đầy chặt

            (Trường ca Mẹ Tà Pao)

            Lê Đình Bảng ít nói đến Mẹ trên trời. Đức Maria trong thơ Lê Đình Bảng cũng không đậm chất thần học trong Kinh thánh như Mẹ đồng công Cứu chuộc, Mẹ Thiên Chúa. Người Mẹ ấy cũng không phải là Mẹ của những ơn phép lạ mà người bình dân thường cầu xin (lâu lâu lại có tin đồn Đức Mẹ hiện ra chỗ này, chỗ kia). Đức Maria của Lê Đình Bảng gần gũi thân thương lắm, và rất Việt Nam.

            Tôi rất thích tứ thơ này về Đức Mẹ, vì Mẹ cùng “nắng nôi dãi dầu”, cùng ”áo rách thương nhau” với con dân Việt.

Đội ơn Đức Mẹ Môi Khôi

Cho con yêu cả nắng nôi dãi dầu

Cũng đành áo rách thương nhau

Cái duyên cam quít vừa sâu vừa đằm

                                           (Con về thăm xứ bưởi)

            Và đây là hình ảnh người mẹ trần gian đã nuôi nấng nhà thơ niềm tin yêu cậy trông với Đức Mẹ trên trời. Hình ảnh người mẹ này thật mới lạ trong thi ca Việt đương đại.

Mẹ ngồi trước hiên, tay lần tràng hạt

Đếm cả đời người được mấy mùa vui…

Nhà ta đó, tiếng súng xa đồn bót

Đêm đêm về, nghe thầm thĩ cầu kinh…

Mẹ cong lưỡi chữ R phát Riệm

Mỗi lần dạy con dâng hạt, dâng hoa

Lần chuỗi Mân Côi kính nhớ Đức Bà

Mấy chục năm qua con vẫn nhớ lời mẹ

                      (Tháng Giêng, Về Phát Diệm)

Của cải mẹ cha cho có vậy

Để dành khi con lớn, con khôn

Những câu kinh sách, phiên chầu, lễ

Đã thấm vào da thịt, máu, xương

Đã nên nhân đức, nên lòng đạo

Nuôi sống cả đời con, xác, hồn…

                  (Chuyện những mùa hoa)

NHỮNG BÀI THƠ TÌNH CÔNG GIÁO

            Hình như sau bài thơ tình Tha La xóm đạo củaVũ Anh Khanh (1950), tôi chưa được gặp bài thơ tình Công giáo nào (?). Vì thế khi được đọc Quỳ trước đền vàng, tôi thật ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thơ tình Công giáo của Lê Đình Bảng:

            QUÊ NHÀ

Tháng Năm rồi tới tháng Mười

Làm sao quên được một thời ấu thơ

Cùng em đi lễ nhà thờ

Hoa bằng lăng nở tím bờ ao sen

Em quỳ, tôi cũng quỳ bên

Hương trầm lên, khói trầm lên trước tòa

Mẹ là vườn ngát hương hoa

Chúng con, giọt nước mưa sa ngoài đồng

            Bạn đọc ngoài Công giáo không hiểu tại sao nhà thơ lại nói đến tháng Năm và tháng Mười trong kỷ niệm tình yêu. Đó là hai tháng “nhà đạo” dành tôn kính Đức Mẹ. Trong hai tháng này, nhà thờ Công giáo có nghi thức dâng hoa, rước kiệu Đức Mẹ, không khí vui như ngày lễ hội.

Tình yêu trong bài thơ chỉ là kỷ niệm đơn sơ nhưng thánh thiện, tinh khiết: kỷ niệm nhà thơ cùng em đi lễ nhà thờ, con đường có hoa bằng lăng tím và có cả ao sen. Em quỳ, tôi cũng quỳ bên/ Hương trầm lên, khói trầm lên trước tòa.

Kỷ niệm chỉ có vậy nhưng bài thơ tình có sức ám ảnh về những điều mới lạ. Đó là tứ thơ “Cùng em đi lễ nhà thờ/ Hoa bằng lăng nở tím bờ ao sen”. Cái mới lạ của tứ thơ là sự kết hợp màu tím bằng lăng lãng mạn với hoa sen hồng thuần khiết. Nhưng mà, ao sen gần nhà chùa hơn “nhà đạo”, và hương trầm, khói trầm bay lên nghi ngút cũng là không gian Thiền. Cả hai chất liệu tưởng như xa lạ và trái ngược với cái đẹp Công giáo lại được miêu tả hết sức tự nhiên. Một điều lạ nữa là nhà thờ thường đông người nhất là trong tháng hoa. Ở thôn quê ngày xưa, trong nhà thờ nam nữ không được ngồi bên nhau như Tây. Trong bài thơ này, nhà thơ và em lại rất riêng tư. Cùng quỳ bên nhau, cùng hướng lên Đức Mẹ, tâm hồn họ bay lên cùng với hương trầmkhói trầm ngào ngạt.

Lê Đình Bảng đem vào thơ tình Công giáo chất liệu làng quê thấm đẫm tình tự dân tộc kết hợp với vẻ đẹp của cái riêng tư phương Tây tạo nên một bài thơ tình rất đẹp. Đó là cái đẹp của một tình yêu đơn sơ, thánh thiện, sự tinh khiết, gắn bó với làng quê, tình quê. Tình yêu này rất khác với tình yêu đậm chất nhục thể trong thơ tình Xuân Diệu.

Thơ tình Lê Đình Bảng neo được trong lòng người đọc nhiều cảm xúc là nhờ cái tình tự làng quê rất đậm ở những tứ thơ thật tài hoa:

            MÙA TRĂNG VU LAN NHỚ MẸ

Năm ấy em lên mười mấy tuổi

Tôi từ phố huyện về thăm quê

Trời mưa, mưa mấy ngày không ngớt

Con nước lên sấp sấp bậc hè

Nghe thoáng, ở bên bờ giếng, đợi

Đầu vườn cây khế mới ra hoa

Hình như cơn gió nồm nam gọi

Đôi sáo nâu về đậu trước nhà

Chúng cũng như mình thôi, vất vả

Nhịn ăn, đâu nhịn được tình yêu

Trời ơi, cái tháng ba năm đói

Mong bếp nhà ai lên khói chiều

Có phải vì em mau nước mắt

Khi không, ra đứng ngóng đầu thôn

Em buồn, tôi cũng buồn lây, nhỉ

Nom cứ như hai đứa mất hồn

Em biết tôi mồ côi bố mẹ

Những thèm yêu, thèm nhớ người dưng

Giờ, em ở phía nơi chân sóng

Tôi, đóm sao khuya lạc cuối rừng

Chả biết đến khi nào gặp lại

Mà thời gian đằng đẵng vô chừng…

Cứ mỗi mùa Vu Lan cúng quả

Nghe chùa bên mở huệ, tuần chay

Dọc đường ra nghĩa trang em bảo

“Mẹ ngủ trong gò đất cỏ may

Thành bụi, thành tro than lãng đãng

Vầng trăng tơ mọc giữa ban ngày”

            Hiện thực sống đạo ở làng quê làm phong phú thêm không gian nghệ thuật của thơ ca Việt Nam.

Tôi từ phố Hiến xa xôi

Cây rau, ngọn cỏ, suốt đời long đong

Hôm vô tới xứ Đàng Trong

Chờ em ở mãi Ba Giồng mới lên

Đò theo sông Hậu, sông Tiền

Những mông mênh nước, những mênh mang trời

Nửa khuya, cập bến Chùa Dơi

Thoảng nghe kinh kệ, nhịp vơi, nhịp đầy

Hạt mừng em giấu trong tay

Hạt thương, tôi dỗ dành cây hoa hường

Đường nào xuôi ngả Thơm Rơm

Qua Hàm Luông, ghé Cái Mơn mấy hồi

Đền vàng, quỳ trước song đôi

Khấn dâng, một mảnh gương soi trước tòa

Đây là Phép Ngắm Rosa

Và đây tràng chuỗi Đức Bà Môi Khôi

Bao giờ cho đến tháng Mười

Chim quyên xuống đất thuyền tôi lên bờ

Nắng vàng ngoài dậu ô rô

Hôm nay lễ trọng, nhà thờ đông ken

Dập dìu trai gái đua chen

Cho tôi theo kiệu về bên xứ nhà

Lạy trời, đừng nổi phong ba

Để tôi neo một bến phà-quê em…

            Bài thơ hay ở chất giọng ca dao, ở sự tài hoa của nhà thơ trong nghệ thuật kể chuyện, ở cái tình tự quê hương rất sâu trong những tứ thơ đột ngột mới lạ và ở nét đẹp lễ hội Công giáo làm mới hẳn không gian thơ (so với không gian nhà chùa trong thi ca dân tộc).

Tôi trích hơi dài và không bình gì thêm, vì cái hay của thơ Lê Đình Bảng như hương hoa thấm vào rất sâu ở mọi giác quan của người đọc, tạo nên cái âm vang nghệ thuật trong tâm hồn, đó là một thứ hạnh phúc rất lạ chỉ có nghệ thuật mới có thể đem đến. 

NHÀ THƠ, NGƯỜI NHẶT CHỮ  TÀI HOA

            Thơ Lê Đình Bảng hiện lên hình ảnh “người nhặt chữ” tài hoa. Đó là một thi nhân lãng tử, một gã thương hồ. Nhà thơ tự hỏi:

Hoa quỳ năm ngoái, năm xưa

Có còn yêu gã thương hồ hay không.

                  (Mẹ như trăng ở đầu nguồn)

Người thơ hòa trong dòng người hành hương đi mọi miền đất nước: Đỉnh Mẫu sơn (Lên đình Mẫu Sơn), đền thánh Đức Mẹ La Vang (Trường ca Mẹ La Vang),vào namviếng Đức Mẹ Bãi Dâu (Nguyện cầu Mẹ Bãi Dâu), về thăm Đức Mẹ ở Xứ Bưởi Năm Roi (Con về thăm xứ Bưởi), Về thăm Mẹ Hòn Chông, Tháng 5 về quê Mẹ Trà Kiệu, Về thăm Mẹ Trà Kiệu-Bến Tre. Nhà thơ”lên núi chay tịnh bốn mươi ngày” (Lên ngàn), lên Tây Nguyên viếng Đức Mẹ Măng Đen (Kinh cầu Mẹ Măng Đen), về Phan Thiết viếng Mẹ Tà Pao (Trường ca Mẹ Tà Pao)…

Trăm năm trước những ai về Dinh Cát

Về Cổ Vưu, Cây Da, ghé Hội Yên

Những nhà thờ – họ đạo, xóm làng bên

Cờ xí rợp mấy vùng quê lương, giáo

Người ở Kinh ra, cân đai, áo mão

Kẻ Đàng Ngoài vô, thanh lịch, đài trang

Qua Truông nhà Hồ, vượt phá Tam Giang

Chốn heo hút bỗng dập dìu phường phố

Đợi con nước, tuần trăng, xem quỳnh nở

Tháng Tám mùa thu, đến hẹn lại lên

Trăm nẻo về, cùng một bến đông ken

Muôn ngã rẽ chảy đầy nguồn sông Mẹ

                                   (Trường ca Mẹ La Vang)

Lòng thành chẳng dám đơn sai

Chúng con Kinh Bắc, dặm dài đường xa

Những là mớ bảy mớ ba

Chân son phách nhịp, miệng hoa hát tình…

…Đương mùa vải chín trên cây

Thảo thơm dâng Mẹ những ngày hành hương

                        (Nỗi niềm Kinh Bắc)

Trong dòng người đông ken ấy, “gã thương hồ” đầy ắp tâm sự. Đó là nỗi niềm

 của “kẻ đã treo gươm rửa kiếm”, đời”Như một ngọn nhang tàn thắp khuya”, nhưng còn lắm gian nan.

“Xót kẻ đã treo gươm rửa kiếm

Thân ngựa già thoắt biến màu sương

Mơ phai tàn cuộc đoạn trường

Nước trôi sông vắng con đường tịch liêu”

                            (Khóc mẹ)

Như một ngọn nhang tàn thắp khuya

Heo may khẽ động đã tan lìa

Đời con những nắng trưa, mưa sớm

Đắm đắm trông lên một nẻo về

                             (Mẹ hằng xuân)

Đời con, thuyền ván ra khơi mãi

Giông gió tư bề, giông gió thôi…

Những lúc chênh chao mùa đổi gió

Mẹ ơi con mệt đứt hơi rồi

Chèo buông, không lái, trôi đầu sóng

Mẹ dẫn đưa con về đến nơi

                        (Đầu sóng xa khơi)

Biết vậy nhưng không thể khác được, vì đã trót tài hoa. Nhà thơ tâm sự với Mẹ:

Mẹ biết, lòng con như chỉ rối.

Sợi thưa mau, ngang dọc bời bời

Chả là, con trót đa mang quá

Gieo gió, đành cam gặt bão thôi

Đã mấy lần ăn năn sám hối

Ngựa quen đường cũ đã lâu rồi

Làm sao rửa sạch bao lầm lỗi

Chẳng lẽ làm hư phí của giời

                             (Phù dung)

            Dù trăn trở cuộc sống “nắng mưa” nhưng người thơ gần gũi và tin yêu Mẹ, có khi đùa vui bên Mẹ.

Mẹ ơi khi Mẹ lên trời

(Cho con cưỡi ngựa đi mời quan viên)

Đêm nay chờ nụ trăng lên

Thuyền ơi, đừng dạt về bên kia bờ

                  (Mẹ như trăng ở đầu nguồn )

            Bạn đọc những câu thơ đầy ắp tâm sự của Lê Đỉnh Bảng, và nhiều khi kinh ngạc về sự tài hoa của thi nhân. Tài hoa ấy thể hiện ở sự phát hiện “Cái đẹp” của đời sống Công giáo, cái đẹp của tình yêu lứa đôi thánh thiện tinh khiết, cái đẹp của những tứ thơ bất ngờ, cái đẹp của thơ ca cổ điển, cái đẹp ở vốn từ giàu có trong sự giao thoa giữa ngôn ngữ bình dân với ngôn ngữ bác học. Còn có Cái đẹp của sự kết tinh thơ cổ điển, thơ lãng mạn với ca dao và cái đẹp của một “hồn thơ đạo” cao rộng phóng khoáng, sánh ngang với hồn thơ Đường và cốt cách thơ Thiền.

            Đây là những câu thơ thấp thoáng Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du:

Xót người vò võ trông mong

Chân mây, đầu núi, quãng đồng, dặm xa…

Xót người dầu dãi trên non

Hơi sương, khói núi, hoàng hôn, nguyệt tà

                     (Nguyện cầu Mẹ Bãi Dâu)

Âm hưởng những câu Kiều vừa sang trọng vừa day dứt:

Cũng đành gửi lại mai sau

Phất phơ ngoài nội bông lau cuối mùa

Lấy gì đền đáp thân thưa

Mẹ ơi, bong bóng chiều mưa tội tình?

Hạt buồn vào cõi ba sinh

Hạt hư vô của phận mình long đong

Kể từ con biết trông mong

Trái tim như cứ bồng bềnh, ủ ê.

Từ hôm nguồn bỏ sông về

Xa nhau, bỗng nhớ non khuya bóng chày

Bãi bờ nghìn dặm quanh đây

Bên kia lũy khuất, bên này rào ngăn

(Cho mai sau đời con )

Phảng phất khí vị Thiền, và âm vang thơ cổ điển:

Mai sớm đầu sương phơi sắc thắm

Đã chiều phai nhạt mấy tràng giang

Xin làm hạt bụi rơi vương vãi

Mỗi bước chân qua chẳng ngó ngàng

                                    (Phù dung)

            Hạt sương đầu ngọn cỏ sớm mai phơi sắc là hạt sương của Vạn Hạnh Thiền sư (“Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”– Thị đệ tử). Tứ thơ “Đã chiều phai nhạt mấy tràng giang” gợi ra hình ảnh nỗi buồn cổ điển của Huy Cận trong bài Tràng giang. Nhưng Lê Đình Bảng kết hợp hòa điệu tư tưởng Thiền, màu sắc cổ điển với tư tưởng con người chỉ là tro bụi của Thiên Chúa giáo tạo nên một tứ thơ mới lạ.

            Cái tình tứ tài hoa này thật thú vị:

Nghĩ mình, một chút mưa sương

Giọt vui chưa cạn, giọt thương đã nhòa

Những ngày chơm chớm hương hoa

Thoáng qua, chỉ một thoáng qua, phai tàn

Chiều chiều mây trắng bay ngang

Ấy ai, đò dọc, đò ngang xa vời

Bây giờ sông rẽ ngăn đôi

Nhớ nhung là của hai người nhớ nhung

                     (Nhớ nhung)

            Và sự tinh tế đến kinh ngạc:

Ở đây, cồn bãi lưa thưa

Thoảng nghe chuông lễ nhà thờ hôm mai

Ở đây, trứng cá, bông xoài

Một cơn gió thoảng rụng ngoài hiên mưa

              (Về thăm Mẹ Hòn Chông)

XIN ĐƯỢC CHIA SẺ VỚI NHÀ THƠ

            63 bài thơ trong Quỳ trước đền vàng đều là những bài thơ hay, có nhiều bài cái hay níu lấy người đọc không dứt ra được (Trường ca Mẹ La Vang, Kinh nguyện La Vang, La Vang. Tháng Tám mùa thu, Về La Vang. Nhà Mẹ trăm gian, Bao giờ cho đến tháng Mười, Đồng dao, Quê nhà, Mùa trăng Vu lan nhớ mẹ, Tiệc cưới Cana, Về thăm Mẹ Hòn Chông, Mẫu đơn nở cạnh nhà thờ…).

Rất vui và rất quý vì sau Hàn Mặc Tử, thơ ca Công giáo lại có được một ngòi bút tài hoa như nhà thơ Lê Đình Bảng. Quỳ trước đền vàng đặc sắc ở những hình ảnh rất đẹp của đời sống Công giáo. Tình yêu Công giáo rất tinh khôi. Tiếng thơ là tiếng tâm tình chân thực. Và hơn tất cả, Quỳ trước đền vàng khám phá, sáng tạo nhiều tứ thơ mới lạ so với thơ ca đương đại; khám phá hình tượng Đức Mẹ hòa trong thiên nhiên, cuộc sống và tâm thức Việt. Cái Tôi “nhà đạo” của thi nhân đã vượt qua Cái tôi cô đơn bế tắc của Thơ Mới. Lê Đình Bảng vẫn làm thơ truyền thống, nhưng đã nâng phẩm chất nghệ thuật của thơ truyền thống Việt lên một bước mới, đó là sự kết hợp mỹ học truyền thống với mỹ học Thiên Chúa giáo đậm chất Việt.

            Nhà thơ vẫn chưa ngừng bay lên:

Xin mở rộng cửa thiên đường Mẹ nhé

Con bay lên theo cánh gió của trời

Mẹ là biển, là sao mai chiếu rạng

Thuyền con neo, chờ bến lặng, ra khơi

                         (Thuyền đời)

Tháng  6/ 2020

____________________________________

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s