NÉT ĐẸP VĂN HÓA CÔNG GIÁO TRONG THƠ LÊ ĐÌNH BẢNG

NÉT ĐẸP VĂN HÓA CÔNG GIÁO

TRONG THƠ LÊ ĐÌNH BẢNG

(Đọc tập thơ Ơn đời một cõi mênh mang. 2014)

Bùi Công Thuấn

***

           

Văn hóa là một đề tài rộng. Ở Việt Nam về địa lý, có 7 vùng văn hóa với những đặc điểm khác nhau: văn hóa đồng bằng sông Hồng, văn hóa Tây Bắc, văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam bộ…; có những tiểu vùng văn hóa như văn hóa Huế, văn hóa Kh’mer Nam Bộ. Ngoài ra còn có sự giao lưu văn hóa như văn hóa Phật giáo, văn hóa Công giáo, văn hóa Pháp, văn hóa Chăm…

Những vấn đề rộng của Văn hóa xin không bàn đến trong bài viết này. Chỉ xin giới hạn trong một số thành tố văn hóa để xem xét đặc điểm thơ Lê Đình Bảng trong tập Ơn dời một cõi mênh mang.

VẺ ĐẸP NGÔN NGỮ

            Ngôn ngữ là thành tố quan trọng bậc nhất của văn hóa. Bởi có ngôn ngữ mới có tư tưởng, thi ca, nghệ thuật, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống (là những thành tố khác của văn hóa). Ngôn ngữ không chỉ là ký hiệu (Ký hiệu học), cũng không chỉ là Cái Biểu đạtCái được biểu đạt (Ferdinand de Saussure)…Ngôn ngữ chứa đựng trong nó tư tưởng, lịch sử, nghệ thuật và thế giới tinh thần (của một dân tộc, một thời đại) và nhiều thành tố văn hóa khác. Nếu chỉ dùng Ký hiệu học hay lý thuyết ngôn ngữ cùa Saussure thì không thể nào đọc được kinh vô ngôn của Phật giáo (giống như thầy trò Tam Tạng thỉnh được bộ kinh không có chữ).

            Khi Đức Giêsu nói:”Lòng tin của con đã cứu chữa con” (Mt 8, 18-26), thì câu nói ấy không chỉ có nghĩa thông tin, không chỉ là ký hiệu chữ, mà Lời của Chúa chứa đựng một tín niệm căn cốt của Kitô giáo, đó là Đức tin.

            Nguyễn Du viết: “Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”(Đoạn trường tân thanh). “Chữ tâm” không chỉ là ký hiệu chữ, mà chứa đựng toàn bộ Lý giải thoát và con đường tu tập Phật giáo, bởi “Tâm tức Phật/ Phật tức tâm/ Tức tâm tức Phật/ Thời thời như vậy”(Kệ)

Ngôn ngữ có nhiều chức năng: vừa là công cụ giao tiếp, công cụ tư duy. Ngôn ngữ còn có chức năng hành động và là phương tiện sáng tạo nghệ thuật.

Trong sáng tác thơ ca, ngôn ngữ là yếu tố quyết định giá trị thơ và năng lực thi nhân. Phong cách của một tác giả trước hết được xác lập bởi việc sử dụng lời.

            Lời thơ Lê Đình Bảng có những đặc điểm gì?

            Thơ Lê Đình Bảng có nhiều lớp ngôn ngữ. Trước hết là khẩu ngữ dân gian vùng đồng bằng Bắc bộ (Thái Bình), đan xen với vốn từ của văn chương cổ điển (điển tích trong thơ văn cổ Trung quốc). Đặc biệt là lớp từ vựng mới là những điển ngữ Kinh thánh được Việt hóa. Từ đó Lê đình Bảng sáng tạo một kho từ vựng cho riêng mình.

            Đây là ngôn ngữ cổ điển

            “Thế sự thăng trầm quân mạc vấn

Yên ba thâm xứ hữu ngư châu” (tr.30). 

      (Trong bài thơ Uống rượu tiêu sầu II của Cao Bá Quát)

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”(tr.57).

          (Đoạn trường tân thanh-Nguyễn Du)

            Xót cho những Kinh Kha chí lớn

Ở bên kia ngọn sóng tràng giang (tr.59)

                   (Điển: Năm 227 trước Công Nguyên,  Kinh Kha sang Tần hành thích Tần Thủy Hoàng nhưng bị thất bại. Xin đọc bài thơ Dịch Thủy ca của Kinh Kha và Dịch Thủy tống biệt của Lạc Tân Vương)

            Đây là ngôn ngữ dân gian kết hợp với điển ngữ Kinh Thánh:

Mẹ đã dạy con học ăn học nói

Làm dấu, dâng mình sớm tối, chiều trưa

Một chữ cắn đôi, Mẹ có đi học bao giờ

Sao, kinh sách lẽ đời, trong lời ru văng vẳng

Nào hạnh tích, sấm truyền, nào ca dao vè vãn

Lần chuỗi đưa con, nhịp võng sau hè

Con lớn dần và chợt hiểu khi nghe

Cám ơn Mẹ, mỗi sớm tinh mơ gọi con đi lễ

Quãng lội, đường mưa, lạnh cắt thịt da

Mau đến nhà thờ, kịp lúc cha ra

Hôm nay lễ kính Đức Bà dâng Con, làm phép nến

Cảm ơn Mẹ đã dạy con cầu nguyện

Phó thác đời con làm của lễ thiêng liêng

Con chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi

Rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá

                                 (Cám ơn mẹ)

Chỉ một đoạn thơ ngắn của Lê Đình Bảng cũng hội tụ nhiều lớp ngôn ngữ.

Lớp từ ngữ: “học ăn học nói”, “Một chữ cắn đôi”, “lạnh cắt thịt da” là thành ngữ dân gian. Hình ảnh mẹ dạy con lẽ đời, ru con bằng ca dao theo “nhịp võng sau hè” là những hình ảnh dân dã đậm Việt tính của mọi bà mẹ Việt Nam. Chất dân dã trong thơ Lê Đình Bảng còn bao trùm vũ trụ thơ Lê Đình Bảng ở những bài ông viết theo “thể hứng” của ca dao.

Lớp từ ngữ:“Làm dấu, dâng mình sớm tối; kinh sách, hạnh tích, sấm truyền, vãn, lần chuỗi,” lúc cha ra”,“lễ kính Đức Bà dâng Con, làm phép nến”, “Phó thác đời con làm của lễ thiêng liêng”; Con chỉ là hạt bụiRơi xuống đất “là ngôn ngữ “nhà đạo” (ngôn ngữ hàng ngày của người Công giáo).

Những từ ngữ đó gợi ra một nền giáo dục Công giáo, một nét sinh hoạt gia đình ở nhà người có đạo. Làm việc gì, người theo Chúa cũng “lần chuỗi” cầu nguyện với tâm tình “phó thác”. Ru con, thay vì kể chuyện cổ tích cho con nghe, người mẹ quê đã kể hạnh tích, sấm truyền, tức là chuyện về đời sống đạo hạnh của các vị thánh (gọi là Hạnh các thánh), và các truyện tích trong Kinh thánh (Sấm truyền). Mỗi sáng sớm, dù đường từ nhà đến nhà thờ phải qua “Quãng lội, đường mưa, lạnh cắt thịt da”, mẹ cũng gọi con dậy đi dự thánh lễ cho kịp “lúc cha ra” (không được đi trễ). Con lớn lên trong bầu khí ngôn ngữ, đạo hạnh, nề nếp sinh hoạt thánh thiện ấy.

            “Ngôn ngữ nhà đạo” chiếm một lượng lớn trong vốn từ của Lê Đình Bảng. Người đọc lần đầu tiếp cận thơ Lê Đình Bảng sẽ ngỡ ngàng về vốn từ giàu có, mới mẻ ấy. Về phương diện này, Lê Đình Bảng đã góp phần làm mới, làm giàu ngôn ngữ thi ca Việt đương đại. Điều đặc biệt là, ngôn ngữ nhà đạo, vẫn tự nhiên, nhuần nhuyễn và gần gũi với người đọc, không gây trở ngại gì cho việc tiếp nhận. Tôi cho đó là tài năng ngôn ngữ mà Lê Đình Bảng kế thừa được từ kinh nghiệm sử dụng và sáng tạo từ của dân tộc.

            Xin đọc lại tứ thơ

Con chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi

Rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá

        Về ngữ nghĩa, câu thơ này không có gí khó hiểu, người đọc bình thường có thể tiếp nhận một cách tự nhiên.

Đặc sắc sáng tạo là ở chỗ, Lê Đình Bảng kết hợp hai điển ngữ Kinh Thánh:

Thứ nhất, Sáng Thế Ký viết “Ðức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật”.”Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất.” (St 2,7 và St 3, 19).

Thứ hai: dụ ngôn Người gieo giống (Lc 8, 5-8). Đức Giê su nói với đám đông dụ ngôn này: “Người gieo giống đi ra gieo hạt giống của mình. Trong khi người ấy gieo, thì có hạt rơi xuống vệ đường, người ta giẫm lên và chim trời ăn mất. Hạt khác rơi trên đá, và khi mọc lên, lại héo đi vì thiếu ẩm ướt. Có hạt rơi vào giữa bụi gai, gai cùng mọc lên, làm nó chết nghẹt. Có hạt lại rơi nhằm đất tốt, và khi mọc lên, nó sinh hoa kết quả gấp trăm“.

Con chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi

Rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá

Câu thơ ánh lên một tư tưởng mới. Hạt bụi không trở về cát bụi mà trở thành cây xanh tốt. Trịnh Công Sơn viết: “Hạt bụi nào hóa kiếp nên tôi/ Để một mai tôi trở về cát bụi” hàm chứa cái bi đát của đời người. Trái lại, Lê Đình Bảng hướng về phía sự sống, sinh sôi tốt tươi: “Hạt bụi…rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá”.

Cái nhìn của người theo Chúa luôn là vậy, luôn nhìn về phía sự sống. Đức Giêsu nói: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6).

Trong thí dụ trên, Lê Đình Bảng có cách dùng diển ngữ Kinh thánh rất hay. Hai điển ngữ với ý nghĩa tương phản lại dệt được một tứ thơ tư tưởng đặc sắc, mới mẻ; đồng thời nhà thơ nói với người đọc trải nghiệm tâm linh của mình, rằng, từ những lời đạo hạnh mẹ dạy, con đã trưởng thành lên xanh tốt trong đời.

Tôi đã gặp được những từ ngữ này của nhà đạo trong thơ Lê Đình Bảng (xin chỉ nêu thí dụ): Của lễ trên bàn thánh, của lễ thiêng liêng, quê trời muôn phúc thật, dư đầy ơn thiêng, lời kinh sốt mến (tr. 28), tràn trề ân sủng (tr.97). Lời hằng sống. Giọt máu cuối cùng trên thánh giá; về Emmaus, lễ mở tay, tiến lên bàn thánh; Hoa Mân côi nở bốn bề dậy hương (tr.90), Phiên chầu lượt (tr.83); Như men, muối (tr.62); mặc áo tân nương/ tiệc cưới / về đồng cỏ / Con nguyện tin, yêu, phó thác / thông công, Hôm qua, hôm nay, mãi mãi / ở trong nhà Chúa (tr.63), hạt mầm gieo vãi (tr.107). Đỗ cụ, làm cha.(tr.66)… Hầu hết những từ này hàm nghĩa của Kinh Thánh.

Tôi đặc biệt chú ý đến lớp từ  Lê Đình Bảng sáng tạo riêng. Nó là dấu ấn phong cách của thơ ông. Lê Đình Bảng dùng nhiều hình ảnh của đồng bằng Bắc bộ. Thơ của ông ở bái nào cũng là hình ảnh thiên nhiên cao rộng khoáng đạt (trời cao xanh, núi non mây ngàn, sông nước tràng giang, trùng dương mênh mang…)

Biển trời, mây nước mênh mông

Một đi, chín nhớ, mười mong nỗi nhà

(Con là khách ở quê ra)

Đây Xóm Chiếu của bờ xôi ruộng mật

150 năm canh thức dầu đèn (tr.44)

Mau chân với, về thông công đại lễ

Cứ lung linh xiêm áo mới dầu đèn

                         (Trẩy hội lên đền)

Lạy trời, đổ xuống sương mưa

Chân mây mặt đất lưng bờ tràng giang

                 (Lạy trời đổ sương mưa)

Có lẽ nhà thơ tâm đắc hai chữ “sương mưa” và bờ xôi ruộng mật”. Ông dùng hai từ này nhiều lần ở nhiều bài thơ khác nhau.

Hai từ này được Lê Đình Bảng sáng tạo từ kho từ vựng Kinh thánh.

Sách Asaia (Is 45, 8) viết: “Trời cao hỡi, nào hãy gieo sương, mây hạy đổ mưa, mưa đức công chính; đất mở ra đi cho nẩu mầm ơn cứu độ, đồng thời chính trực sẽ vươn lên…”

Sách Xuất hành (3, 1-8) kể lại cuộc gặp gỡ của Môise với Chúa ở núi Horeb. Chúa hứa với ông: “Ta xuống giải thoát chúng (dân Do Thái khỏi tay người Ai Cập), và đưa đến miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật”.

Lê Đình Bảng là dân Thái Bình nông nghiệp, đồng chiêm, đồng trũng; đắp đập, be bờ; lúa mùa tốt tươi. Ông đem hình ảnh này tháp nhập vào “miền đất tràn trề sữa và mật” của Kinh thánh, thành một từ vừa quen, vừa mới: “bờ xôi ruộng mật”.

Bờ xôi ruộng mật” là hình ảnh một miền quê ruộng đồng màu mỡ trù phú. Lúa nếp vàng ươm, thơm tho bao nhiêu là sôi. Cánh đồng mía tốt tươi, ngọt ngào bao nhiêu là mật: “Xem mía trổ cờ, rươi chín đỏ/ Thuyền qua sông Hóa, trắng mây bay” (tr. 69); vừa là miền “đất hứa” trong Kinh Thánh.

Những sáng tạo ngôn ngữ mới lạ như vậy tạo nên phong cách nghệ thuật của thơ Lê Đình Bảng.

Lê Đình Bảng còn đưa vào thơ rất nhiều địa danh, tạo nên tính hiện thực và tính hiện đại trong thơ (điều này ca dao đã có). Đoạn thơ sau đây dày đặc những địa danh ghi dấu chân Lê Đình Bảng, cũng đồng thời bày tỏ nồng nàn một tấm lòng với quê hương của nhà thơ.

Tôi về quê mẹ-Thái Bình đây

Cờ bay hay tóc em bay, nhỉ

Thơm ngát đường thôn lúa gặt đầy

Lấn biển, quai đê, Tiền Hải đấy

Kiến Xương, Thái Thụy, Vũ Thư này

Hưng Hà nhãn tiến vua sai trái

Chén rượu Đồng Châu ai tỉnh say

Xem mía trổ cờ, rươi chín đỏ

Thuyền qua sông Hóa, trắng mây bay

Ai về An Vỹ sang Lương Đống

Làng Thọ, làng Vân tay nắm tay

                        (Thái Bình ca)

Sự pha trộn ngôn ngữ đồng bằng Bắc bộ với điển ngữ Kinh thánh đem đến một vẻ đẹp mới cho ngôn ngữ thi ca. Những nội dung, tư tưởng Kinh Thánh trở nên gần gũi quen thuộc, và ngược lại ngôn ngữ dân dã chứa đựng hàm nghĩa mới từ Kinh Thánh. Đấy chính là vẻ đẹp của ngôn ngữ thi ca Công giáo (một mặt rất quan trọng của văn hóa Công giáo) trong tiến trình hội nhập với văn hóa dân tộc.

Về hành động ngôn ngữ, với vốn từ phong phú từ Kinh thánh, Lê Đình Bảng đã dẫn người đọc rời bỏ bầu khi văn hóa cổ điển Trung quốc (những Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Vương Duy, Lạc Tân Vương…) mà tiến vào thế giới tinh thần phương Tây (Cựu Ước và Tân Ước), vào bầu trời thần học Kitô giáo, khác hẳn với vũ trụ Thiên Mệnh của Nho giáo, Đạo “vô vi” của Lão giáo và Bát chánh đạo của Phật giáo.

Cũng bằng hành động ngôn ngữ, nhà thơ đã “sống đạo”, đã “loan báo Tin Mừng” theo cách của người nghệ sĩ. Vốn điển ngữ Kinh thánh của Lê Đình Bảng giúp người đọc hiểu được lý tưởng thẩm mỹ, ý thức sáng tạo của nhà thơ. Điều này giúp định vị thơ Lê Đình Bảng, một tiếng thơ khác biệt với thơ thế tục.

NÉT ĐẸP NGƯỜI CÔNG GIÁO

            Nói văn hóa là nói đến con người.Loài vật chỉ có bản năng, không có văn hóa. Sự trỗi dậy của bản năng nơi con người chính là sự tha hóa, suy đồi. Người ta đánh giá một con người bằng những ứng xử văn hóa của người ấy.

Cho nên, nói về vẻ đẹp văn hóa Công Giáo, trước hết hãy quan sát những chân dung, những hình tượng người Công giáo trong thơ Lê Đình Bảng.

Trong thơ lê Đình Bảng, hình tượng người mẹ Công giáo khá đậm nét.

Trên bến vắng đò khuya lau lách

Tiếng đàn ai dặm khách trăng soi

Đêm nay bếp lửa ai ngồi

Hắt hiu đường vắng bóng người về thôn

Súng nổ vang phía đồn Kha-Lý

Từ Vân Am, Xá Thị, Quỳnh Côi

Đêm đêm mưa đạn tơi bời

Dưới hiên thềm đá mẹ ngồi cầu kinh

Rồi lửa ngút giặc tràn quê nội

Mẹ con mình khăn gói đi mô

“Hoạt Thành, Tiên Lãng ra tro

Thụy Anh, Vĩnh Bảo ăn no kẹo đồng”

Mẹ ơi, sao mẹ không than thở

Dù đói no, sầu khổ, buồn vui

Chúng con vẫn nhớ nụ cuời…

            (Khóc mẹ)

                        Nhớ ngày rày năm xưa

                        Mẹ ngồi lần tràng hạt

                        Đợi con dưới phương đình

                        Rưa hè vẳng lời kinh

                        Nghe ca vè Cụ Sáu

                                    (Về quê nhà Phát Diệm)

            Nhân vật người mẹ Công giáo có những phẩm chất của người mẹ Việt Nam (cần cù, chịu thương chịu khó, giàu đức hy sinh, thương chồng thương con,..), nhưng Lê Đình Bảng tô đậm hình ảnh mẹ ngồi lần tràng hạt, mẹ ngồi cầu kinh, dù trong hoàn cảnh gian khổ hay trong bom rơi đạn nổ. Hình như tất cả những gian nan hiểm nguy đối với mẹ, không gây ra sự lo sợ, thảng thốt, bi đát nào, mặc dù có những nỗi buồn được chôn kín trong lòng, và những nỗi truân chuyên không tỏ lộ. Do đâu người mẹ Công giáo có sự bình tâm ấy? Là do mẹ cầu nguyện phó thác mọi sự trong tay Chúa với một lòng tin kiên vững, dẫu có sóng gió ba đào thì Chúa luôn che chở giữ gìn. Đức Giê su nói: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” (Ga 14, 27). Như vậy vẻ đẹp văn hóa Công giáo ở người mẹ chính là vẻ đẹp đức tin trong mọi cảnh đời, sống tinh thần phó thác.

            Vẻ đẹp người công giáo cũng đậm nét trong bài thơ Những người anh em tôi

Anh em tôi

những người lên non xuống bể

Ngước nhìn trời, gối sóng mà bơi

Giữa trầm luân, giữa tục lụy phần đời

Vẫn yêu lấy chiếc áo dòng ngày xưa mẹ sắm

Anh em tôi

những người ở tận vùng sâu, xa lắm

Xứ đạo nghèo, bốn mùa cây lúa chẳng ra bông

Lũ trẻ thơ bỏ học, mò cua bắt ốc ngoài đồng

Của lễ mọn là chục trứng gà, một hai nải chuối

Có những lứa đôi yêu nhau, chẳng đủ tiền cheo cưới

Hoa mẫu đơn vẫn đỏ thắm vườn nhà

Cố quên đi những tháng ngày lầm than, cơ nhỡ

Anh em tôi

những người nông dân chân đất

Cũng lên bờ xuống ruộng như ai

Cũng tro phân, chèo chống, cấy cày

Để lời Chúa mọc lên từ biển phèn mặn chát

Họ thủy chung như tấm lòng của đất

Họ bồng bềnh như con nước, tuần trăng

Chẳng bao giờ tham đó bỏ đăng

Vui lúa mới, buồn mùa màng thất bát

Nhà thơ ghi nhận nhiều cảnh đời gian nan, vất vả, khốn khó trăm điều, “bồng bềnh như con nước” của những người anh em (cần hiểu người anh em trong Kinh thánh), song tất cả đều không thở than. Họ vẫn vui sống và bằng lòng mang lấy phận người để “Hoa mẫu đơn vẫn đỏ thắm vườn nhà”, “Để lời Chúa mọc lên từ biển phèn mặn chát”. Tất cả những người Công giáo ấy, dù là tu sĩ hay giáo dân nghèo khổ, họ đều là con dân Việt, đậm phẩm tính Việt. Nhưng họ còn có thêm vẻ đẹp mới. Họ giữ gìn phẩm hạnh và sống Lời Chúa giữa mọi người, họ bình tâm gieo trồng Lời Chúa giữa biển đời mặn chát. Họ không coi kiếp người là kiếp khổ (“Đời là bể khổ”). Họ không cho rằng những khổ lụy phải chịu là do nghiệp quả. Không oán trời, không trách người như văn thơ cổ:

Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

(Văn tế thập loại chúng sinh-Nguyễn Du)

Cả Truyện Kiều (Đọan trường tân thanh) và Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn du đều là tiếng kêu thương bi đát, bế tắc về phận người. Trái lại, Lê Đình Bảng đã ghi được vẻ đẹp văn hóa Công giáo nơi những người sống đức tin ở giữa cộng đồng. Họ vác thập giá và đi trong sự bình an của Đấng Phục sinh. Nét đẹp ấy khác hẳn những triết lý thế tục về con người trước kia.

GIA ĐÌNH, LÀNG QUÊ CÔNG GIÁO

            ThơLê Đình Bảng không phải là thơ “phản ánh hiện thực”. Hơn nữa, bút pháp của ông là bút pháp của thơ Lãng mạn (1930-1940), dùng nhiều hình ảnh tượng trưng. Thơ phát triển theo mạch cảm xúc dào dạt của tâm trạng nhà thơ; vì thế nếu muốn tìm hiểu hiện thực gia đình, làng quê Việt Nam trong thơ ông, thì đó là điều bất khả.

Lê Đình Bảng không miệu tả những cảnh sưu thuế phi nhân như trong Tắt Đèn (Ngô Tất Tố), không có những phận người chết đói và cả chết no trong nỗi nhục (truyện Nam Cao), cũng không lên tiếng về những điều chà đạp lên nhân phẩm như trong Thời xa Vắng (Lê lựu)…

            Mặc dù cũng chịu đau thương bởi chiến tranh, bởi đói nghèo nhưng Gia đình, làng quê Việt Nam trong thơ Lê Đình Bảng thấm đẫm vẻ đẹp văn hóa Công giáo. Vẻ đẹp ấy tỏa sáng từ mẫu gương Thánh gia (Chúa Giêsu – Đức Mẹ và Thánh Giuse). Trong gia đình này cả ba vị đều là đấng thánh. Gia đình Công giáo Việt Nam và sống ơn gọi nên thánh. Làng quê Việt Nam nhộn nhịp tươi vui trong mùa Nô-en, rộn ràng lễ hội 40 ngày Chay thánh và Phục Sinh. Khác hẳn với làng quê trong thơ thế tục lặng lẽ bầu khí tâm linh Phật, tiếng chuông chùa tiễn ngày tàn vào hư vô…

                        Sớm chiều ba cứ đinh ninh

Mỗi khi lần hạt, đọc kinh, nguyện cầu

Ngủ đi con, ngủ thật lâu

Đã nghe sương xuống mái đầu bạc phơ

                                                       (Ru con)

Đây, trọn vẹn một niềm thuận thảo

Làm lễ dâng, lòng đạo, đức tin

Chắp tray, miệng hát muôn kinh

Chúa thương, phù hộ, giữ gìn Mẹ luôn

                                    (Mẹ là bóng cả cây cao)

Vẫn cái gốc chân quê mình mãi mãi

Vẫn một sương hai nắng mẹ ra đồng

Vẫn thân cò lặn lội ở bờ sông

Cha cày ải trên cánh đồng chiêm trũng

Em hái đầy thuyền hoa sen hoa súng

Chở hết chiêm bao dâng trước bàn thờ

Ôi đức tin đã vàng óng chanh mơ

Và lòng đạo đã chín mùi thơm thảo

Mấy trăm năm là mấy mùa giông bão

Mỗi bước ta đi chân cứng đá mềm

Cứ mơ hoài được trong ấm ngoài êm

Vì nước mắt đã trào ra từ đấy

                        (Trên đỉnh Trường Sơn)

Xin cứ hái những nhành hương vừa ý

Bồ câu ơi, bay lên, rợp ngoài đồng

Em có về quê lúa của nhau không

Vẫn đỏ thắm hoa vông, vào vụ gặt

Từ những buổi hừng đông đi vỡ đất

Đồng trũng, đồng chiêm, mùa gạo tám thơm

Tháng Giêng này, bông trĩu hạt, vườn ươm

Rộn ràng làng quê, chiếu chèo mở hội

Những cô tấm vừa lớn khôn như thổi

Rủ nhau đi, xiêm áo mới, dầu đèn

Cứ như thuyền ra nước lớn, triều lên

Mắt sáng, môi tươi, đàn ca nhã nhạc

                        (Khi trăm họ một nhà)

Nửa thế kỷ, tôi lìa xa quê mẹ

Nay trở về, đôi mắt cứ rưng rưng

Qua những cánh đồng nhòa nhạt hơi sương

Qua những đường thôn rạ rơm sũng ướt

Về Trà Vy đúng vào phiên chầu lượt

Giăng mắc cờ hoa như chốn kinh kỳ

Hình như là ai giữ bước chân đi

Thiêng liêng quá, đất và người yêu dấu

Ở đâu đó những lũy tre, hàng dậu

Ôi dạt dào, những cảm xúc, tôi nghe…

Lời mẹ ru hay nhịp võng sau hè

Ai vẫn đợi ngoài bến sông xưa cũ

Chùm mẫu đơn nở trong vườn nhà xứ

Em kết thành đôi hoa đỏ hồng hồng

Để hôm nào, ra đầu ngõ ngóng trông

Ai cuối bãi, ai đầu ghềnh xa lắc

Đã lâu lắm, tôi xa quê bằn bặt

Nhớ ngày xưa còn cắt cỏ, chăn trâu

Đâu những bến bờ trong, đục, nông, sâu

Đâu những chân đê, bếp chiều lên khói

Tôi nghe rõ mỗi gập ghềnh trôi nổi

Mấy mươi năm dài hơn cả đời người

Nghe tiếng chuông chiều, ra ngắm mây trôi

Đứng trước hàng hiên, gửi hương cho gió

                        (Nhớ Trà Vy)

Những trích đọan thơ trên đủ vẽ ra bức tranh làng quê Công giáo đẹp, êm ả với nhiều nét đẹp văn hóa mới. Vẫn là một vùng quê nghèo, người dân lam lũ “một nắng hai sương”, vẫn những “thân cò lặn lội bờ sông”. “Mấy trăm năm là mấy mùa giông bão”, những cánh đồng nhòa sương, những đường thôn ướt sũng rơm rạ, tiếng mẹ ru võng sau hè, bếp chiều lên khói cùng với tiếng chuông chiều đưa hồn ta lên trời; nhưng nhà thơ lắng nghe được những dạt dào cảm xúc sau lũy tre, hàng dậu, trong những phiên chầu lượt, làng quê giăng mắc cờ hoa như chốn kinh kỳ…thật thiêng liêng, thật thắm thiết nghĩa tình.

Về Trà Vy đúng vào phiên chầu lượt

Giăng mắc cờ hoa như chốn kinh kỳ

Hình như là ai giữ bước chân đi

Thiêng liêng quá, đất và người yêu dấu

            Tứ thơ này thật mới lạ và quyến rũ

Em hái đầy thuyền hoa sen hoa súng

Chở hết chiêm bao dâng trước bàn thờ

Ôi đức tin đã vàng óng chanh mơ

Và lòng đạo đã chín mùi thơm thảo

            Nét đẹp văn hóa làng quê Công giáo trong thơ Lê Đình Bảng  là nét đẹp của “đức tin vàng óng chanh mơ”, là “lòng đạo thơm thảo” trong cả một “thuyền đầy hoa sen hoa súng dâng trước bàn thơ”. Một làng quê bình an, vừa sôi nổi sức sống lại vừa lắng đọng niềm tin yêu. Điều này khác hẳn với thơ hiện thực về làng quê. Có nỗi xót xa, hiu hắt.

                        Quê hương anh nước mặn đồng chua

                        Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá…

                        Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay…

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài miếng vá..

            (Đồng chí-Chính Hữu)

Tôi thấm thía cái tình làng nghĩa xóm của người nhà quê khi một người trong làng qua đời:

                        Trải qua một cuộc bể dâu

                        (Những điều trông thấy mà đau đớn lòng)

Trời mênh mông đất mênh mông

Nghìn thu cách mặt xa lòng từ đây

Hôm nay có một người nằm ngủ

Dưới tàn cây cổ thụ xanh tươi

Máu ngừng reo, tắt nụ cười

Mà xe thiên cổ đưa người về đâu

Chúng tôi xin được giã từ

Người đi đi mãi tít mù tăm hơi

Đau thương chẳng nói lên lời

Nguyện xin được hưởng quê trời, Amen

            (Nhớ ông giáo Hà Nam)

TRẨY HỘI LÊN ĐỀN”

Ở Việt Nam có nhiều lễ hội. Có những lễ hội lịch sử: Giỗ tổ Hùng Vương, Lễ Hội Gióng, Lễ hội đền Hai Bà Trung, Lễ hội Gò Đống Đa. Có lễ hội tâm linh: Trẩy hội Chùa Hương, Hội Lim, Lễ  hội Katê của người Chăm ở Ninh Thuận, Lễ hội Cầu Ngư (Huế), lễ hội Tháp Bà Ponagar ở Khánh Hòa, Lễ hội Căm Mường ở Lai Châu, Lễ hội Bà Đen, lễ hội vía Bà Chúa xứ…

Các lễ hội là dịp để con dân Việt trở về lịch sử, cội nguồn, gắn kết cộng đồng, hun đúc tính yêu quê hương đất nước. Lễ hội cũng thể hiện những khát vọng tâm linh. Người ta cầu cho quốc thái dân an…

Trong tập Ơn đời một cõi mênh mang có nhiều bài “Trẩy hội”, gắn liền với những sự kiện lớn của Giáo hội Công giáo Việt Nam: Về Sở Kiện về Thăng Long hội ngộ (Khai mạc Năm Thánh 2010), Về phương Nam trẩy hội (Đại hội Dân Chúa 2010), Về La Vang trăm họ một nhà (Bế mạc Năm Thánh 2011), Khi trăm họ một nhà, Cho trần gian được sống dồi dào (Kỷ niệm 150 năm thành lập GP Huế)…

Mặc dù cũng là “trẩy hội” song lễ hội Công giáo hoàn toàn khác với lễ hội dân gian cả về nội dung và hình thức tổ chức. Lệ hội Công giáo có phần lễ là chính. Phần này theo đúng nghi thức của Roma trong việc cử hành các phụng vụ tế lễ tôn vinh Thiên Chúa. Phần “hội” thường chỉ là dịp để muôn dân khắp bốn phương trời hội ngộ, có dịp đến thánh địa kín múc ơn thiêng. Không có các nghi thức, các “trò” như trong lễ hội dân gian.

Nhà thơ Lê Đình Bảng không viết về phần phần “Lễ” mà tập trung miêu tả tâm trạng của người dự “hội” khi được gặp mặt người anh em khắp Trung, Nam, Bắc.

Trong các tập thơ của Lê Đình Bảng, những bài thơ về lễ hội có một mạch cảm xúc đặc biệt dào dạt phơi phời, cảm xúc của người đi dự lễ hội với một tâm hồn bay bổng như cánh hồng ngàn khơi. Những tay bắt mặt mừng, những gọi nhau ơi ới, những chuyện trò miên man, những níu kéo không dứt ra được. Muôn người cùng hòa một nhịp trái tim, cùng hát một khúc hoan ca của một đức tin trào dâng như sóng muôn trùng, của lòng mến rực sáng như lửa cháy.

            Có lẽ đây là những bài thơ đúng với tầm vóc của hồn thơ Lê Đình Bảng. Một Cái Ta quảng giao, Cái Ta nhập vào cộng đoàn lễ hội, Cái Ta bay bổng non ngàn, trùng khơi khắp ba miền. Mạch thơ cuồn cuộn dào dạt cùng với đoàn người trẩy hội. Ông hay dùng từ “trẩy hội lên đền”. Từ này bao hàm nghĩa của Kinh thánh.

Ơi những liển-em liền – chị Kinh Bắc

Đã xôn xao lời biển gọi trào dâng

Từ buổi truyền tin Mẹ nói “xin vâng”

Mau chân nhé, bởi hồn đương thổn thức

Hôm nay trời và đất đã gồm thâu…

Ngày hội trùng dương tay bắt mặt mừng

Ngồi cùng bàn, góp gạo thổi cơm chung

Để chia sẻ những buồn vui, đắp đổi

Ba miền đất ba dòng sông vời vợi

Một trái tim sôi tràn lửa Đa Minh

Giữ gìn nhau bền đỗ để làm tin

Như men, muối giữa trần gian giông gió

                        (Khi trăm họ một nhà)

Nay, trăm họ một nhà, vui hội ngộ

Tiệc đoàn viên, mừng lịch sử sang trang

Cao vút mây xanh, rực rỡ đền vàng

Nhà Chúa ngự  đẫm mùi hương trầm quế

Mau chân với, về thông công đại lễ

Cứ lung linh xiêm áo mới dầu đèn

Người bên người, như lớp lớp triều lên

Chung tiếng hát lời kinh mừng năm thánh

                                        (Trẩy hội lên đền)

Tay bắt mặt mừng vui trẩy hội

Người đi như nước mấy hôm liền

Hôm nay, mở cửa Thiên Đàng đấy

Để thấy từ Tiên Tri, Sấm Truyền

Lời Chúa đã đi vào cuộc sống

Nảy ngành xanh ngọn, trái nhiều thêm

                     (Vườn Xoài ơi vỗ tay reo)

Về Trà Kiệu, về quê hương, nhà Mẹ

Ghé Hội An, ra phường phố đông ken

Trong đêm giã hoa, Ngũ Xã đỏ đèn

Cờ xí rợp trời đức tin vàng đá

            (Tháng 5 về quê Mẹ Trà Kiệu)

Mau lên nhé, rủ nhau về đi lễ

Về La Vang, để cầm trí cầm lòng

Nơi bến bờ gặp gỡ những dòng sông

Con cái Mẹ từ muôn phương hội ngộ

Đêm nay, La Vang pháo hoa rực rỡ

Mắt lệ trào dâng, òa vỡ trong mưa

Ơn nhiệm màu đẫm vào nhạc vào thơ

Sao, ngây ngất bởi lời kinh sốt mến

Mau lên nhé quỳ bên nhau cầu nguyện

Vì đêm nay, đêm nhật nguyệt ra đời

Bốn phương trời, mười phương đất xa khơi

Đêm trừm tịch, đêm bồi hồi chờ sáng

Mau lên nhé, kẻo núi mòn sông cạn

                                                (Về La Vang trăm họ một nhà)

Nét đẹp của văn hóa Công giáo trong các lễ hội là tinh thần của người đi dự lễ. Lòng chung lòng, nghiêm trang cầu nguyện. Họ đắm mình trong câu kinh tiếng hát và mở lòng ra hướng về Thiên Đàng.

Người gọi người, “mau lên nhé”.”Bốn phương trời, mười phương đất xa khơi” cùng về đây, “Tay bắt mặt mừng vui trẩy hội/ Người đi như nước mấy hôm liền”; “Người bên người, như lớp lớp triều lên/ Chung tiếng hát lời kinh mừng năm thánh”; “Mau lên nhé quỳ bên nhau cầu nguyện”; “Hôm nay, mở cửa Thiên Đàng đấy”.

Ôi thật là linh thiêng, thật là xúc động: “Mắt lệ trào dâng, òa vỡ trong mưa/ Ơn nhiệm màu đẫm vào nhạc vào thơ/ Sao, ngây ngất bởi lời kinh sốt mến”. Triệu triệu con tim, triệu triệu tấm lòng cùng cất lời ca tụng Thiên Chúa và chia sẻ niềm hân hoan như ngày xưa Phêrô được Chúa đưa lên núi thánh (Mt 17, 1-9). Mỗi cử chỉ mỗi, mỗi hành vi đều hết sức giữ gìn trang nghiêm. Tình hiệp thông, sự gắn bó khắp muôn phương chưa bao giờ đẹp như thế.

Tất cả tinh thần thánh thiện ấy, thái độ tham gia lễ hội thành tín, trang nghiêm của mỗi giáo dân chính là nét đẹp văn hóa Công giáo trong đời sống cộng đồng mà các lễ hội dân gian không có được.

Tài năng của nhà thơ Lê Đình Bảng là vừa chụp ảnh được toàn cảnh “trăm họ một nhà, vui hội ngộ”, “Ngồi cùng bàn, góp gạo thổi cơm chung/ Để chia sẻ những buồn vui, đắp đổi”; vừa ghi được ánh hào quang tinh thần của “đêm nhật nguyệt ra đời”, và kìa! “Cao vút mây xanh, rực rỡ đền vàng/ Nhà Chúa ngự đẫm mùi hương trầm quế”.

Thơ ca Việt Nam có rất ít những bài thơ về lễ hội miêu tả cái tinh thần chung của “trăm họ một nhà, vui hội ngộ”. Có chăng chỉ là những tâm tình riêng, chuyện tình riêng đôi lứ khi đi dự lễ hội. Bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp có cái hay tả cảnh, tả tình từ góc nhìn cá nhân một cô gái 15 tuổi, nhưng có cái xô bồ, trần tục của bối cảnh.

Sau núi Oản, Gà, Xôi,
Bao nhiêu là khỉ ngồi.
Tới núi con Voi phục,
Có đủ cả đầu đuôi.

Chùa lấp sau rừng cây.
(Thuyền ta đi một ngày)
Lên cửa chùa em thấy
Hơn một trăm ăn mày.

                                    (Chùa Hương-Nguyễn Nhược Pháp)

Thơ Lê Đình Bảng ghi được nét đẹp văn hóa lễ hội Công giáo. Đó là đóng góp riêng của nhà thơ vào thơ ca Việt đương đại. Mảng thơ này của Lê Đình Bảng bộc lộ rõ nhất sự tài hoa, phóng khoáng của thi nhân. Thơ mở rộng biên độ không gian, thời gian. Cái Tôi được giải phóng để hội nhập với cộng đồng. Vì thế,  dù Thơ Lê Đình Bảng nằm trong thi pháp thơ thơ Lãng mạn (1930-1945) với rất nhiều hình ảnh tượng trưng, nhưng đã có những bước phát triển mới mẻ.

CÁCH NHÌN LỊCH SỬ

            Tập thơ Ơn đời một cõi mênh mang còn có những bài thơ thể hiện cái nhìn lịch sử dân tộc và lịch sử Giáo hội Việt Nam. Nhà thơ giúp người đọc nhận ra vẻ đẹp văn hóa của một dân tộc trong tiến trình lịch sử, nhận ra vẻ đẹp của Giáo hội giữa những thăng trầm thế tục. Sự hội nhập văn hóa này xóa đi những định kiến lịch sử về đạo Công giáo ở Việt Nam một thời bị ngộ nhận.

            Lê Đình Bảng viết về Xóm Chiếu (thành lập năm1856), nhân dịp kỷ niệm 150 năm thành lập giáo xứ:

Trăm năm trước có ai về Xóm Chiếu

Ngút ngàn bên kia, kinh rạch chập chùng

Ngập mặn rừng chàm, bần đước, khe truông

Cá sấu, cọp, beo, muỗi mòng ve vắt

Và bao nỗi đau lặng thầm giấu mặt

Từ buổi hửng đông gieo vãi đức tin

Của những lưu dân từ Nghệ, Tĩnh, Bình

Quảng Trị, Thừa Thiên, Hội An, Nam Ngãi

Từ phương Bắc người tay bồng tay bế

Lại những lưu dân trốn chạy cùng đường

Ở Sài Gòn nên đồng khói đồng hương

Ở Xóm Chiếu nên đất lành chim đậu

Đây Xóm Chiếu của bờ xôi ruộng mật

150 năm canh thức dầu đèn

150 năm làm muối làm men

Một thời vỡ hoang một thời bão tố

Chúa dẫn chúng con băng qua Biển Đỏ

            (Hát bài trường ca Xóm Chiếu )

Nhà thơ nhìn những “nỗi đau lặng thầm giấu mặt/ Từ buổi hửng đông gieo vãi đức tin”của giáo dân lưu tán từ Nghệ, Tĩnh, Bình/ Quảng Trị, Thừa Thiên, Hội An, Nam Ngãi và cả những dân di cư từ miền bắc vào Xóm Chiếu bằng cái nhìn Đức tin.

Đây Xóm Chiếu của bờ xôi ruộng mật

150 năm canh thức dầu đèn

150 năm làm muối làm men

Một thời vỡ hoang một thời bão tố

Chúa dẫn chúng con băng qua Biển Đỏ

Dưới ánh sáng đức tin, người Công giáo nhìn những đau khổ, gian nan “Từ buổi hửng đông gieo vãi đức tin” (trải qua nhiều thời kì cấm đạo từ chúa Nguyễn đến thời Quang Trung, các vua nhà Nguyễn, phong trào “Bình Tây sát tả” của Văn Thân, những khó khăn trong chiến tranh, khó khăn khi đất nước bị chia cắt…). “Một thời vỡ hoang một thời bão tố” ấy là “bờ xôi ruộng mật”, là thời gian để giáo dân”canh thức dầu đèn”, “làm muối làm men” để rồi “Chúa dẫn chúng con băng qua Biển Đỏ” (Ba tứ thơ này hàm nghĩa Kinh thánh)

Một cái nhìn như thế về lịch sử, về giáo hội thể hiện nét đẹp văn hóa Công giáo, nét đẹp của sự nhận thức những chân lý lịch sử dưới ánh sáng Tin Mừng.

Và đây là nhận thức về lịch sử dân tộc:

            Đây, hoa gấm thành đô Tổ quốc

            Đây, uy linh cương vực giống nòi

            Dặm dài bờ cõi xa khơi

            Đông Sơn còn vọng tiếng người nghìn xưa

            Ai cưỡi sóng mở cờ báo tiệp

            Đuổi kình ngư, dựng nghiệp trong ngoài

            Nỗi nhà, vận nước hai vai

            Quyết đem chí lớn xây đài vinh quang

            Bạch Đằng Giang sấm vang chớp giật

            Ngập xác thù trôi dạt mênh mông

            Biển-trời-mây-nước Tây Đông

Sơn hà xã tắc con Rồng cháu Tiên

Khi quốc biến côn quyền hơn sức

Thuở binh đao thao lược đua tài

Bình Ngô Đại cáo giương oai

Thù trong mất vía, giặc ngoài khiếp run

Cha dong ruổi mài son đánh giặc

Mẹ tảo tần mài mực ru con

Hàm Rồng đứng giữa mưa bom

Trơ trơ dạ sắt, gan đồng Lam Kinh

Trước Tổ quốc anh linh tiên tổ

Chúng con nay làm giỗ lập đàn

Nguyện cầu Quốc thái dân an

Non sông mở mặt Việt Nam lẫy lừng

Lấy nhân nghĩa bao dung xử thế

Người với người, mở huệ tình thương

Lòng thành nguyện với hoa hương

Trăm muôn vạn lạy mười phương đất trời

                        Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi vinh hiển

Lạy Nữ Vương Vô Nhiễm từ bi

Khi buồn vui lúc an nguy

Công cha nghĩa mẹ phù trì, ủi an

Chúng con nguyện chắp đôi tay

Chúa ban phần phúc dư đầy, Amen

                   (Bồi hồi bên sông Mã)

Bài thơ ghi: “Kính dâng tiền nhân tiên tổ xứ Thanh”, gợi cho người đọc một bề dày lịch sử của đất Lam Kinh, Thanh Hóa (Lam Kinh được nhà Lê xây dựng năm 1433). Trước Công nguyên, vùng đất Thanh Hóa nằm gọn trong quận Cửu Chân nước Âu Lạc (năm 111 trước CN). Nơi đây từng có cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu chống quân Đông Ngô (năm 248), nơi đây Hồ Quý Ly từng xây dựng Tây Đô (Thành nhà Hồ) và đóng đô (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Sau nhà Hồ, Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Thanh Hóa và hoạt động 6 năm ở đây (1418-1424). Xứ Thanh cũng là nguồn gốc của các triều đại lớn: Họ Lê, họ Trịnh và họ Nguyễn. Nhắc lại sơ lược một vài sự kiện lịch sử để thấy Xứ Thanh có vị trí quan trong trong lịch sử Việt, nơi anh linh tổ quốc hội tụ.

Lê Đình Bảng nhắc lại thời Văn hóa Đông Sơn (Làng Đông Sơn, Thanh Hóa là nơi có di chỉ khảo cổ nổi tiếng thế giới được phát hiện năm 1924) …Nhắc tới Lam Kinh, Bình Ngô Đại cáo là ghi nhớ công ơn khởi nghĩa Lam Sơn (Lê Lợi). Hàm Rồng là khu di tích lịch sử. Nhắc tới Hàm Rồng là nhắc đến những sự tích anh hùng của dân xứ Thanh.  Núi Rồng, sông Mã, động Long Quang là nơi ghi dấu nhiều danh nhân. Năm 1972, Mỹ dùng bom đánh phá cầu Hàm Rồng. Cầu do ngưới Pháp xây dựng năm 1904…

Cái nhìn của nhà thơ Công giáo Lê Đình Bảng về lịch sử dân tộc mình là cái nhìn thế nào?

Trước Tổ quốc anh linh tiên tổ

Chúng con nay làm giỗ lập đàn

Nguyện cầu Quốc thái dân an

Non sông mở mặt Việt Nam lẫy lừng

Lấy nhân nghĩa bao dung xử thế

Người với người, mở huệ tình thương

Đấy là cái nhìn về một đất nước “Địa linh nhân kiệt” (Đất linh thiêng sinh người hào kiệt) với lòng tự hào và biết ơn. Nguyễn Trãi đã khẳng định: “Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau/ Song hào kiệt đời nào cũng có” (Bình Ngô Đại Cáo). Lê Đình Bảng nhận ra một đặc điểm ưu việt của tổ tiên là: “Lấy nhân nghĩa bao dung xử thế/ Người với người, mở huệ tình thương” nên con cháu mới được hưởng phần phúc. Là một nhà thơ Công giáo, Lê Đình Bảng không chỉ biết ơn tổ tiên mà còn nguyện xin Thiên Chúa cho “quốc thái dân an, non sông mở mặt…”. Nhà thơ đã hòa nhập vào tinh thần chung của dân tộc này.

THAY LỜI BẠT

            Bài viết đã hơi dài, tôi không dám nhiều lời hơn. Chỉ xin chia sẻ điều này. Tập thơ Ơn đời một cõi mênh mang và những tập thơ khác cùa nhà thơ Lê Đình Bảng có một giá trị đặc biệt là thể hiện những nét đẹp văn hóa Công giáo trong sự hội nhập với lịch sử văn hóa dân tộc. Ông không chỉ giúp người đọc cảm nhận vẻ đẹp thơ ca mà còn giúp người đọc nhận ra vẻ đẹp người Công giáo, vẻ đẹp một gia đình Công giáo, làng quê Công giáo, lễ hội Công giáo và vẻ đẹp lịch sử dưới ánh sáng Tin Mừng.

Nhà thơ Lê Đình Bảng, từ khuôn mặt một thi nhân tài hoa lãng tử đã hiện lên những góc cạnh của một khuôn mặt văn hóa Công giao đương đại. Chất tài hoa kết hợp với sự uyên bác cùng với lòng nhiệt thành của một trái tim đầy ân sủng, Lê Đình Bảng đã góp cho văn học Công giáo những trang thơ văn độc đáo và giá trị.

Ông hiểu tất cả những điều ấy là do Trời, do đời cho ông.

Cảm ơn, Trời vẫn sương sa

Đã cho đất nở thành hoa, thành người…

Cảm ơn đòi đọan trăm điều

Nuôi ta đẫy sức nâng niu cuộc đời

Ngày mai tàn cuộc rong chơi

Ta xin làm đóa trăng soi bên Người

                     (Ơn đời một cõi mênh mang)

Tháng 6/2021

________________________

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s