‘LÁ TRÚC CHE NGANG MẶT CHỮ ĐIỀN”

Bùi Công Thuấn

Hàn Mặc Tử

Bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ (ĐTVD) của Hàn Mặc Tử (HMT) được giảng dạy trong chương trình phổ thông. GS Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng  “cái độc đáo và đẹp của câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” là “nghệ thuật cách điệu hóa. Không nên tìm ở đây hình ảnh tả thực, tuy rằng cách điệu hóa cũng xuất phát từ sự thực : trong những ngôi nhà vườn xinh xắn, sau những hàng tre trúc, thấp thoáng có bóng ai đó kín đáo, dịu dàng, phúc hậu, dễ thương “[1] Thế nhưng lý giải ấy không đủ sức làm thỏa mãn người đọc về cái hay của câu thơ này. Nhiều người đã tìm những hướng tiếp cận khác nhau để  khám phá cho được tín hiệu nghệ thuật và thông điệp HMT gửi trong đó. Nhưng xem ra cho đến nay, điều ấy vẫn còn ngoài tầm tay.

Gần đây Nguyễn Cẩm Xuyên (NCX) cho rằng “có lẽ cái đáng băn khoăn nhất ở đây là 3 chữ “mặt chữ điền”. Sao lại mặt chữ điền“chữ điền” là để tả mặt cô thiếu nữ thôn Vĩ chăng?[2] Tác giả cũng dẫn ra nhiều cách hiểu của những người đi trước, chẳng hạn “Đọc câu thơ : “lá trúc che ngang mặt chữ điền” ta hình dung ra cảnh cô thiếu nữ thôn Vĩ đang e ấp, thẹn thùng nhìn khách phương xa qua kẽ lá. Cách hình dung này là hợp lí… Nhiều nhà nghiên cứu thơ đã nghĩ như vậy”[đd].

Tác giả NCX cũng dẫn thêm một cách hiểu khác :” câu thứ tư tả thêm một nét kiến trúc đẹp: lá trúc che ngang …tấm chữ điền (chấn môn) trước cửa nhà. Quả thật theo phong thủy, kiến trúc xưa thường xây bức chấn môn chắn trước cửa ra vào, cách khoảng 5-7 mét. Tấm chắn này có khi được trang trí hoa lá, hổ phù, có khi đắp nổi nguyên hình một con hổ. Đơn giản hơn, có khi chỉ đắp nổi một hình chữ thập ở giữa khiến nó giống hệt chữ điền () và một số người bình dân vùng nông thôn Thừa Thiên, Quảng Ngãi, Bình Định, vào cho đến các tỉnh nam Trung phần xưa vẫn gọi tấm chắn trước cửa ấy là “mặt chữ điền”. Hai bên chấn môn lại thường có trồng thêm hai bụi trúc, phía sau có hòn non bộ…”[đd]

Sau khi dẫn thêm các trường hợp lầm lẫn của nhà in, chẳng hạn việc in sai hai chữ trong câu “Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe” trong bài Đoàn Thuyền Đánh Cá- Huy Cận, tác giả NCX đưa ra kiến giải về “mặt chữ điền” như sau:” Từ giai thoại trên ta có thể nghĩ ngợi rằng:  thôi cứ cho “mặt chữ điền” là khuôn mặt của thiếu nữ thôn Vĩ đi… thì e là hay hơn ! Câu thơ trở nên sống động, có thần mà lại rất lãng mạn, nên thơ… dù có thể là lúc đặt bút viết thơ Tử đã không nghĩ như thế;… Tử đã không theo khuôn sáo tầm thường mực thước trói người lãng tử. Cô gái của Tử miêu tả trong Đây thôn Vĩ Dạ phải lạ đời  với khuôn mặt chữ điền… và khuôn mặt lạ ấy đã đem đến cho người đọc bao nhiêu là cảm nhận thú vị; vì thế cho mãi đến hôm nay người ta vẫn còn băn khoăn, xôn xao mãi và bàn tán nhiều như vậy…”

Tôi bị cuốn hút vào cách đặt vấn đề của NCX, nhưng thực sự hụt hẫng và thất vọng về  kết luận của ông đối với câu thơ của Hàn Mặc Tử. Bởi lý giải võ đoán ấy không có sức thuyết phục, nó vẫn nặng về cảm tính và bất lực. Tác giả Nguyễn Khôi thì quyết đoán hơn:” Về Cô gái trong “Lá trúc che ngang mặt chữ Điền” đó là cô gái do sức tưởng tượng của Thi nhân mà hiện ra thôi “…Nay ta xem lai di ảnh Nhà Giáo- cư sĩ Hoàng Thị Kim Cúc (1913- 1989) thì đúng là Cúc có khuôn mặt chữ ĐIỀN phúc hậu…chứ không phải như ai đó (Thang Ngọc Pho và V,V…) quả quyết đó là chữ ĐIỀN- Hán tự đắp nổi ở “mặt trước phía trên cổng các nhà Quí tộc Huế ” hay ở các tấm bình phong trước nhà…”[3]. Còn cách giải thích “mặt chữ điền” là tấm bình phong là của Dương Hiền Nga :” Ở Vĩ Dạ lúc đó trồng nhiều trúc bên lối đi, cổng nhà thường có tấm “Chấn Phong” để chắn gió, trên đó thường đắp nổi hoặc viết một chữ điền (bằng chữ Hán) vừa cho đẹp vừa hàm ơn là đất vua ban khi tuổi già xế bóng. Gặp một vài người già ở Huế hỏi điều này, họ xác nhận như vậy nhưng quan trọng nhất là đặt trong mạch thơ đầy lưu luyến hồi tưởng về thôn Vĩ, về cuộc sống bên ngoài, tôi thấy hợp lý.”[4]

Có thể nhận thấy điều này, các tác giả tìm hiểu bài Đây Thôn Vĩ Dạ đã sử dụng phương pháp tiểu sử, cố gắng tìm và áp đặt một khuôn mặt chữ điền có thật của cô gái ở thôn Vĩ cho “mặt chữ điền” trong hình tượng thơ của HMT, thậm chí còn cho đó là khuôn mặt của Hoàng Thị Kim Cúc (như đã dẫn ở trên). Nhưng vấn đề là những lý giải như thế để đạt tới điều gì? Có giải mã được bí mật thẩm mỹ của thơ HMT không? Câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” hay, đẹp, sáng tạo độc đáo cũa HMT là ở chỗ nào, và, ghi lại hình ảnh ấy, HMT muốn chuyển tải thông điệp gì? Chẳng lẽ HMT mời anh “về chơi thôn Vĩ “ là để nhìn “nắng hàng cau”, rồi nhìn “vườn ai” và sau cùng là nhìn mặt Kim Cúc sao ?

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Rõ ràng hình tượng  thơ trở nên đa tầng , đa nghĩa, giàu màu sắc thẩm mỹ; vượt lên rất xa so với hiện thực được HMT dùng làm chất liệu miêu tả. Không thể đọc thơ bằng cách áp câu thơ lên hiện thực để xem có phải sự thực tác giả đã viết như thế hay không, như thể áp “mặt chữ điền” lên khuôn mặt Hoàng Kim Cúc trên di ảnh. Nếu văn chương là thế thì chẳng cần đến sự sáng tạo của nhà thơ, cũng không cần đến sự độc đáo của cá tính sáng tạo nữa. Bài thơ là một tác phẩm hoàn chỉnh, hình tượng thơ tự nó có ý nghĩa riêng ngoài ý chủ quan của tác giả. Hiện thực được dùng làm chất liệu chỉ là nguyên liệu thô được chưng cất, nó là cái vỏ mà nhà thơ thổi hồn vào. Cái đẹp của tứ thơ, của hồn thơ mới làm nên giá trị thơ

Xin đặt câu thơ trong tổng thể bài thơ. Đây Thôn Vĩ Dạ là ấn tượng của HMT về cảnh sắc và con người xứ Huế. Mỗi khổ thơ là một bức tranh ấn tượng, vì thế không có một không gian, thời gian, góc nhìn thống nhất cho cả bài thơ. Đó là ấn tượng về cảnh sắc ở ba nơi khác nhau, trong những thời điểm khác nhau. Cảnh sắc được lọc qua tâm tưởng của tác giả, không phải là tả thực, khách quan như trong các bài tả cảnh. Khổ I là cảnh sắc vườn tược tinh khôi buổi sáng, khổ 2 là cảnh sắc sông nước đêm trăng thơ mộng và buồn. Khổ 3 là những ngày mưa trắng trời ở Huế với những thiếu nữ mặc áo trắng nhòa trong mưa. Ba cảnh này không liên can gì nhau, nhưng hiện lên trong tâm tưởng HMT và chứa đựng cái tình của tác già. Tấm lòng của tác giả với xứ Huế là sợi dây liên kết ba khổ thơ tạo nên sự thống nhất cho cấu trúc bài thơ.

Quan sát kỹ những bức tranh ấn tượng về xứ Huế của HMT (xin không lầm lẫn với nghệ thuật Ấn Tượng), người đọc nhận thấy đặc điểm này : cảnh sắc được miêu tả rất sắc nét, hiện lên rõ mồn một trước mắt ta, nhưng con người xứ Huế chỉ thấp thoáng trong tranh, không rõ nét, không rõ chân dung.

Lối theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thi hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay.

Sự chuyển hóa bút pháp của HMT trong 3 khổ thơ là yếu tố đặc biệt cần xem xét khi giải mã tín hiệu nghệ thuật của từng khổ thơ. Khổ 1, bức tranh được vẽ bằng bút pháp Hiện Thực. Khổ 2, cảnh sông nước đêm trăng là bức tranh Siêu Thực. Khổ 3, hình ảnh ở thực tại chuyển sang bút pháp huyền ảo có màu sắc tâm linh, ở đây HMT hình dung ra mình đứng ngoài cõi nhân gian xa lắc (mờ nhân ảnh) nhìn về cõi người và “mơ khách đường xa”, cảnh thực ở Quy Nhơn nhòa trong cảnh thực ở Huế, được nhìn mằng tấm lòng của một người ngỡ mình đã “mờ nhân ảnh” trong cõ đời này.

 

Như thế không nhất thiết phải truy tìm nghĩa cụ thể của  “mặt chữ điền” là gì, là mặt của ai, mà chỉ cần hiểu đó là khuôn mặt người dân Huế, thấp thoáng trong ngõ trúc, lá trúc che ngang. Độc đáo của HMT là chỉ cần dùng “lá trúc” cũng đủ gợi ra cành trúc và ngõ trúc, bởi người đọc liên tưởng ngay tới “cành trúc la đà “ trong ca dao và “ngõ trúc quanh co” trong thơ Nguyễn Khuyến. Tứ thơ vừa mới, vừa truyền thống. “Lá trúc che ngang bặt chữ điền” là hình ảnh thấp thóang của người dân Huế trong ngõ trúc. Trên đường đi, cành trúc nghiêng nghiêng, lá trúc lòa xòa trên mặt người, không thể “che ngang”, điều ấy làm lộ ra góc nhìn của HMT và một tín hiệu nghệ thuật cần giải mã. Tứ thơ “lá trúc che ngang mặt chữ điền” ẩn chứa một thông điệp.

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

 

HMT, hóa thân trong Kim Cúc, mời gọi về thăm thôn Vĩ. Nhưng thôn Vĩ có gì đặc biệt để thăm? Thôn Vĩ có nắng mới lên trên hàng cau, có vườn xanh ngọc mơn mởn, có con người xứ Huế thấp thoáng đôn hậu. HMT còn tỏ lộ khát vọng tình duyên tươi mới qua hàng cau trong nắng sớm, một sức sống dào dạt trên những lá non xanh ngọc qua vườn ai, và sự thân thiện gần gũi khi nhìn con người xứ Huế đôn hậu. Xứ Huế có những giá trị tinh thần quý giá ấy níu chân HMT.

“Mặt chữ điền” của người xứ Huế là khuôn mặt rắn rỏi, đôn hậu. Khuôn mặt ấy chỉ thấp thoáng sau lá trúc, là sự bộc lộ sự kín đáo, thâm trầm và dung dị tính cách con người ở xứ kinh đô. Tôi còn thấy người dân Huế rất trọng lễ nghĩa. Phải chăng chữ “che ngang mặt” dẫn người đọc đến tầng nghĩa này? Người xưa, trước khi làm gì, đều thi lễ. Cách thi lễ thường là đưa tay lên ngang mặt. Chẳng hạn trước khi uống rượu, khách mời nâng chén rượu (cử bôi) ngang mặt thi lễ rồi mới uống. Người kỹ nữ trong Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị trước khi đánh đàn đã “Tay ôm đàn che nửa mặt hoa”( Do bão tỳ bà bán già diện ) sau đó mới vặn đàn, dạo qua vài tiếng đầy tâm trạng cho khách nghe. Vâng , HMT mời gọi, anh nên về thăm thôn Vĩ, vì ở đây có những con người đáng yêu, đáng quý như vậy. HMT tỏ ra hiểu sâu sắc cảnh sắc, con người xứ Huế, nhà thơ dành cho nơi đây (không chỉ dành cho Kim Cúc) tất cả tình yêu thương sâu nặng của mình. Điều ấy lộ ra khi HMT đã vào trại Quy Hòa, sống xa cõi người. Quả là một hồn thơ lạ lùng, bởi trong tình cảnh đau thương ấy, tâm hồn nhà thơ vẫn đầy ắp sức sống, dào dạt tình yêu thương, trân trọng nâng niu cái đẹp của cảnh sắc, của tình người. Tâm hồn ấy tinh khôi như nắng mới lên, thanh khiết một màu xanh như ngọc, và rắn rỏi đôn hậu biết bao, hòa trong cảnh sắc và con người xứ Huế.

Tôi nghĩ cái hay, cái đẹp, cái tình, cái tài hoa của câu thơ Hàn Mặc Tử là ở đó. Thương lắm một người thơ đã để lại cho chúng ta những giá trị tinh thần đặc sắc như vậy.

Tháng 9.2012

(Bài đăng trên Vanchuongviet.org ngày 20.09.2012:

http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19335)

________________________________________

[1].Văn Học lớp 11 tập 1, sách giáo viên, Nxb Giáo dục-tr.123

[2] http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19328

[3] http://duyphitho.blogspot.com/2011/11/nguyen-khoi-ve-cau-tho-la-truc-che.html

[4] http://www.baomoi.com/Cau-tho-La-truc-che-ngang-mat-chu-dien/152/3522643.epi

 

Advertisement

PHÊ BÌNH VĂN HỌC VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HỌC

Bùi Công Thuấn

Đã có khá nhiều ý kiến về tình trạng phê bình văn học hiện nay. Nhiều người đã chỉ ra những “căn bệnh” của phê bình. Các Lớp Tập Huấn về công tác lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật của Hội Đồng LLPB VHNT trung ương cũng nói nhiều đến tình trạng lệch chuẩn, loạn chuẩn trong phê bình và sự yếu kém của đội ngũ làm công tác lý luận phê bình. Đa số thống nhất ý kiến này, phê bình không theo kịp sáng tác

Thực chất của vấn đề là gì?

1.Tình trạng “loạn” trong đời sống văn học nghệ thuật

 

Tình trạng này đã kéo dài ít nhất là từ sau “đổi mới” đến nay, khi Chủ Nghĩa Hiện Thực XHCN không còn là phương pháp sáng tác và phê bình chính thống, có trính cách bắt buộc đối với nhà văn, nhà phê bình. Khi đã không còn một lý thuyết phê bình và sáng tác thống nhất thì tình trạng “loạn” của sáng tác và phê bình là đương nhiên. Và từ đó, mạnh ai nấy nói, mạnh ai nấy viết, lấy quan điểm chủ quan của mình làm chuẩn, lấy ý kiến chủ quan của mình làm chân lý. Và khi các diễn đàn Internet nở rộ thì mảnh đất lý luận phê bình trở thành nơi cỏ mọc vườn hoang . Đủ mọi ý kiến được phô diễn, kể cả những ý kiến phi học thuật. Những năm gần đây ồn ào thường diễn ra ở một vài tác phẩm, tác giả được trao giải văn chương, ở các hội đồng chấm giải (chẳng hạn, giải của Đồng Bằng Sông Cửu Long, của Hội Nhà Văn…). Mãi đến nay, Hội Đồng LLPB Trung Ương mới đề xuất đề án lý luận phê bình Việt Nam, đề án cấp nhà nước, để làm chuẩn mực chung. Nghĩa là ở thời điểm này, người làm lý luận phê bình hoàn toàn tự do trong việc chọn lựa một lý thuyết phê bình nào đó để tiếp cận tác phẩm và đời sống văn học.

Nó tình trạng “loạn” trong đời sống phê bình và sáng văn học, trước hết phải kể đến sự “nổi loạn” của tác giả. Có tác giả muốnthử sức ngòi bút của mình ở những lĩnh vực mà nhà văn chưa chưa hề đặt chân đến. Chẳng hạn, có lúc, các nhà văn trẻ ào ạt viết về sex, thì nhà văn “già” cũng không cưỡng lại được sự háo danh, chạy  theo viết sex và phát ngôn rất ư hùng hồn về tác phẩm của mình. Tôi nghĩ, chính nhà văn  làm “loạn” văn đàn bởi những sáng tác không hề có chuẩn mực nghệ thuật nào, mà chủ yếu chỉ đề cầu danh. Trước đây, có người trẻ đã  phát ngôn gây sock, chẳng hạn họ làm thơ không thơ.. Có người chẳng là nhà văn bao giờ, bỗng viết truyện sex, chụp hình sex tặng kèm, chỉ để nổi tiếng. Sách dịch tràn lan sex, Xin Lỗi Em Chỉ Là Con Đĩ trở thành best seller. Thế là người đọc chẳng còn biết đâu là văn chương đích thực, đâu là những giá trị văn chương. Người ta mặc sức khen chê. Trong khi tác phẩm đạt giải văn chương Nobel được dịch rất ít người đọc.

Người làm “loạn” thứ hai là nhà xuất bản (Tôi xin lỗi nếu làm phiền lòng nhà xuất bản nào đó). NXB có thể in đủ mọi loại sách, miễn là không phạm luật và bán được, Tất nhiên NXB có lý khi xuất bản một cuốn nào đó, và cũng không ít cuốn được in ra đã bị thu hồi (chẳng hạn Dự Báo phi Thời Tiết). Nếu NXB chỉ in những cuốn thực sự có giá trị văn chương thì đâu có tình trạng “loạn”. Nhưng nếu làm như thế thì NXB sẽ chết. Trong nền kinh tế thị trường, bất cứ ai có tiền cũng có thể in sách, và hàng năm không biết bao nhiêu tập thơ của cá nhân đã được in. Không một nhà phê bình nào đử sức đọc và viết về những tập thơ ấy, đành phó mặc cho người viết giới thiệu tập thơ và NXB. Tập sách nào cũng được giới thiệu thật tuyệt vời.

Người làm “loạn” thứ ba là bạn đọc. Trăm người đọc có trăm ý kiến. Điều ấy phát huy tính dân chủ của văn học, người đọc là người đồng sáng tạo với tác giả, người đọc quyết định ý nghĩa và số phận tác phẩm. Tuy nhiên, bạn đọc có trình độ lý luận phê bình văn chương lại không nhiều. Xin cứ ghé một trang mạng văn chương có comment nào đó, người đọc sẽ thấy tình trạng”loạn” đến phát hoảng, bởi những người thực sự cầu thị trên các diễn đàn ấy có thể bị “ném đá”  tơi bời, đành “bỏ của chạy lấy người”. Ở đây người viết comment chẳng theo chuẩn mực học thuật nào cả, thoải mái phát biểu khen chê cảm tính, và không ít những kẻ giấu mặt thiếu thiện tâm đối với một tác giả, tác phẩm nào đó dùng diễn đàn cho mục đích riêng. Nếu chỉ căn cứ vào những comment ấy thì quả thực tình trạng “loạn” phê bình đã vượt tầm kiểm soát.

Người làm “loạn” ồn ào hơn lại chính là một vài nhà phê bình, kiểu phê bình “đao to búa lớn”, “cả vú lập miệng em”, “nói lấy được”, cốt sao đè bẹp “đối thủ”, bất chấp chân lý nghệ thuật, bất chấp luật chơi, bất chấp yêu cầu về văn hóa phê bình (trong đó có cả nhửng nhà phê bình trẻ)…. Xin cứ đọc lại những bài các nhà phê bình viết về Hội Thề của Nguyễn Quang Thân thì sẽ rõ. Đã có nhà phê bình chân chính phải xin từ bỏ cuộc đối thoại văn chương vì không thể kham nổi kiểu đối thoại phê bình “múa gậy vườn hoang”, không có tiêu chí học thuật, đạo đức nào làm chuẩn mực.(*)

2. Có thực là lý luận phê bình văn học hiện nay hoàn toàn “lệch, lạc “ không?

 

Nếu chỉ căn cứ vào những bài quảng cáo sách, những comment trên mạng, những bài viết không có  giá trị học thuật tràn lan trên báo, trên mạng thì người đọc bình thường sẽ nghĩ tình trạng “loạn” trong lý luận phê bình văn học đã “hết thuốc chữa”, bởi như nhà thơ Inrasara đã bắt mạch, có đến 10 căn bệnh của lý luận phê bình, thì thuốc nào chữa được!

Tôi không nghĩ như vậy. Dòng sông văn học vẫn chảy, hết lớp sóng này đến lớp sóng khác. Bọt bèo có khi phủ cả mặt sông, nhưng sớm muộn cũng bị cuốn trôi. Điều này đã rõ. Xin nhìn lại những ồn ào của đời sống văn học và phê bình trước và sau năm 2005, đến giờ, tác phẩm nào còn trụ được, nhà văn nào chứng tỏ được tài năng thực sự, những cách tân nào có giá trị mở ra những dòng chảy mới? Vì thế không nên bận tâm về những hiện tượng ồn ào giả tạo, không nên mất bình tĩnh về những ý kiến trái chiều về một tác phẩm nào đó. Đã có sự ồn ào làm nên giá trị, đó là trường hợp cánh Đồng Bất tận của Nguyễn Ngọc Tư. Trong văn chương nghệ thuật, chỉ những giá trị nghệ thuật đích thực mới sống được với thời gian, với thời đại. Những nhà văn chân chính có bản lĩnh luôn tự tin vào con đường sáng tạo của mình, và họ âm thầm đóng góp cho sự phát triển văn học. Các nhà văn trẻ học được gì ở nhà văn Tô Hoài, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Xuân Khánh, Bùi Ngọc Tấn, Ma Văn Kháng… ?

Lý luận và phê bình vẫn đang vận động và phát triển. Nhà thơ Lê Quang Trang trong tham luận ở Lớp tập Huấn đã điểm những thành tựu: GS Trần Đình Sử đã sớm đưa Thi Pháp Học xem xét thơ Tố Hữu. GS Hoàng Trinh, GS Trương Đăng Dung quan tâm đến VH so sánh. Phan Ngọc vận dụng chủ nghĩa Cấu Trúc để tìm hiểu truyện Kiều. Đỗ Lai Thúy dùng Phân Tâm Học để xem xét thơ Hồ Xuân Hương, Hoàng Cầm, và gần đây các cây bút trẻ quan tâm đến phê bình Hậu Hiện Đại khi họ đề cập đến việc giải trung tâm, đế sự lật đổ những “đại tực sự”….Trong những nhà phê bình trẻ, tôi thấy nhiều người có năng lực và phẩm chất phê bình rất tốt, chẳng hạn, Nhã Thuyên, Trần Thiện Khanh, Miên Di, Nguyễn Hữu Hồng Minh (nhà thơ)…tất nhiên họ còn cần nhiều thời gian để tôi luyện ngòi bút của mình.

Nhìn vào hoạt động của Hội Nhà Văn và Hội Đồng LLPB trung ương nhưng năm vừa qua, trong việc tổ chức các hội thảo văn học, những Lớp Tập Huấn chúng ta có quyền hy vọng hoạt động LLPB sẽ dần dần tái lập các giá trị học thuật, đủ sức góp phần thúc đẩy sáng tác.

3.Con đường nào cho lý luận phê bình văn chương?

Trước hết bản thân nhà văn phải ý thức con đường sáng tạo của mình, nỗ lực khai phá những con đường chưa ai đi trên nền tảng nhân bản và có bề dày văn hóa dân tộc. Có tác phẩm hay mới có thể phê bình hay. Sáng tác để phục vụ thị trường giải trí, nổi loạn để cầu danh, sáng tác chỉ để giải tỏa nỗi niềm thế thái nhân tình, không thực sự tìm tòi những giá trị tư tưởng, nghệ thuật thì khó tồn tại được trong dòng chảy thời gian. Người ta nói nhiều đến Lê Đạt, Trần dần, Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng, Hoàng Cầm… bởi những tác giả này thực sự góp phần vào sự cách tân thơ Việt Nam. Cũng vậy, người ta ghi nhận giá trị tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Tô Hoài, Lê Lựu, Bảo Ninh, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Xuân Khánh… bởi tác phẩm của những nhà văn này thực sự ghi lại được bộ mặt tinh thần của thời đại.

Muốn có phê bình chuyên nghiệp thì nhà phê bình cũng phải được đào tạo chuyên nghiệp. Những người “tay ngang” viết phê bình chỉ làm “loạn” đời sống văn học mà thôi, bởi họ chỉ khen chê cảm tính. Trong phê bình, mọi khen chê đều không có giá trị, có chăng nó vuột ve  tác giả được chút gì đó . Hiện nay những người có khả năng viết phê bình trong cả nước khá đông đảo (bằng chứng là họ hiện diện trong 2 lớp tập huấn của Hội Đồng LLPB VHNT vừa qua), và những nhà phê bình trẻ đã xuất hiện, họ có vốn tri thức học thật khá tốt. Đội ngũ này có thể gánh vác được trách nhiệm, nếu họ được tổ chức và tạo điều kiện tốt để tiếp cận đời sống văn học.

Cái vướng mắc căn cơ nhất của LLPB hiện nay là chúng ta chưa có được một hệ thống lý luận phê bình văn học, nghệ thuật Việt Nam để làm chuẩn chung. Đúng như PGS-TS Nguyễn Hồng Vinh  nhấn mạnh : LLPB phải đứng trên nền tảng Mỹ Học Marxist, kế thừa kinh nghiệm của cha ông và tiếp thu tinh hoa VHNT nhân loại. Thế nhưng đến nay ở VN phương pháp phê bình Marxist không phải có thể áp dụng cho mọi tác phẩm thuộc những khuny hướng sáng tác khác nhau (J.P.Sartre đã phải phối hợp phương pháp Phân Tâm Học với phương pháp phê bình Marxist). Nói kế thưà kinh nghiệm LLPB của cha ông, điều ấy mọi nhà văn đều phải học tập, nhưng cha ông ta lại không có một hệ thống lý luận phê bình cụ thể, thống nhất, vì thế việc kế thừa cần được nghiên cứu công phu hơn nữa. Cũng vậy, việc tiếp thu tinh hoa văn học nghệ thuật nhân loại là điều phải làm trong hoàn cảnh toàn cầu hóa, thế nhưng, chẳng hạn, ở lĩnh vực lý thuyết văn chương và phê bình, hầu như hiện nay chúng ta hướng về phương Tây, mà bản thân phương Tây, các lý thuyết văn chương và phê bình cứ thay nhau, phủ định nhau (Cấu trúc, giải cấu trúc, Phân Tâm Học, Marxist… Hậu Hiện Đại), vậy nhà phê bình sẽ tiếp thu những gì? Câu trả lời là, bản thân nhà phê bình phải tự học tập trang bị cho mình những điều cần thiết cho công tác phê bình. Không có điểm chung. Có người dùng Thi Pháp Học, người khác vận dụng Phân Tâm Học, người lại say mê Hậu Hiện Đại…Có một sự thật là phương pháp phê bình cũ không thể đọc được những tác phẩm được viết ở hệ mỹ học và thi pháp mới. Người quen đọc theo Chủ Nghĩa Hiện Thực XHCN sẽ không đọc được thơ Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều,Văn Cầm Hải, Ly Hoàng Ly, Lê Vĩnh Tài…

Nói như vậy để thấy vai trò của Hội Nhà Văn, Viện Văn Học, Hội Đồng LL,PBVH,NT Trung ương có ý nghĩa quyết định cả về 3 lĩnh vực: Hoạt động nghiên cứ khoa học, đấu tranh với những quan điểm lý luận sai trái, lệch lạc trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, và bồi dưỡng đội ngũ những người hoạt động trên lĩnh vực lý luận, phê bình văn học nghệ thuật. Chúng ta không thể để mặc tình trạng tự phát của phê bình văn học nghệ thuật như hiện nay. Đặc biệt, Ban nhà văn trẻ của Hội Nhà Văn cần có nhiều hoạt động tích cực để giúp đỡ nhà văn, nhà phê bình trẻ dấn thân mạnh mẽ vào đời sống văn học đang diễn ra.

Và trong hoạt động lý luận phê bình nói chung, cần một cái nhìn chung. GS Phan Trọng Thưởng đề xuất việc thống nhất một số quan điểm LL,PB

  1. Về bản chất của phê bình : Phê bình vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật
  2. Về đối tượng của phê bình : là tác phẩm cụ thể trong quan hệ với người đọc và tác giả
  3. Về chức năng của phê bình : Phát hiện cái hay cái đẹp, cũng như cái dở, cái xấu, cái độc hại để khẳng định hoặc phê phán. Thông qua phê bình, gắn kết nhà văn, tác phẩm và công chúng, qua đó tác động tích cực tới quá trình sáng tạo, tới thị hiếu nghệ thuật cũng như tới toàn bộ quá trình vận động của lý luận và lịch sử văn học.

Tôi nghĩ những ý kiến này có thể định hướng được cho người viết phê bình văn học trong giai đọan hiện nay. Nhưng xin lưu ý, phê bình vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Người viết phê bình cũng phải đồng sáng tạo với nhà văn.

Tháng 7.2012

__________________________________________

Bài này đã đăng trên Văn Nghệ Trẻ số 32 ngày 4-5.08.2012 và trên phongdiep.net

(*) Gần đây Hội Thảo về thơ Hoàng Quang Thuận do Hỗi Nhà Văn tổ chức thực sự là một sự hỗn loạn về phê bình văn chương. Mấy chục tham luận ca ngợi một thứ thơ làng nhàng, bị công chúng phản ứng dữ dội. Điều đáng buồn là hai trang lethieunhon.com và trannhuong.com đăng nhiều bài phản đối thơ HQT lại bị đánh sập hoàn toàn, không phục hồi được.