ĐƯỜNG LÊN NÚI CÚI-Chương 3

ĐƯỜNG LÊN NÚI CÚI

Truyện dài tư liệu

Bùi Công Thuấn

***

Chương 3

NGƯỜI DẪN ĐƯỜNG

 

6 Ông Tiến

Ông Phạm Quang Tiến, Trưởng BHG giáo xứ Dốc Mơ (người mặc áo sọc, đang đứng ở ngã ba Thánh Tâm, bên hồ Trị An, nơi có giáo xứ Thánh Tâm bị chìm dưới lòng hồ)

***

Đoàn xe rời nhà xứ giáo xứ Dốc Mơ.

Nói là đoàn xe chứ thực ra chỉ có 2 xe 4 chỗ. Chiếc xe Ford chở Đức cha giáo phận, cha sở Hoàng Minh Đường và ông chánh Tiến. Cha quản hạt Phạm Duy Liễm, ông trưởng Ban Hành giáo giáo phận (ông Chiến) và Cha Phó giáo xứ Dốc Mơ đi trên chiếc xe 4 chỗ khác. Hai xe rời nhà xứ, ra quốc lộ 20 rồi vòng vào một đường nhỏ chạy giữa hai bên là nhà giáo dân. Hầu hết là nhà cấp bốn, san sát nhau.

Người dẫn đường hôm nay là ông Chánh Tiến (Phạm Quang Tiến). Vóc người tầm thước, có dáng thương gia. Trông ông rất khỏe mạnh, da hơi cháy nắng. Giọng nói của ông âm vang, tự tin. Thái độ nhiệt thành và thân thiện. Ông sống ở đất này từ nhỏ nên ông am tường từng căn nhà, dù là đường ngang ngõ dọc. Ông vừa dẫn đường vừa giới thiệu với Đức Cha:

_Con đường này gọi là đường Đức Huy vì dẫn qua giáo xứ Đức Huy. Trước 1975, giáo họ Đức Huy là một trong năm giáo họ của Giáo xứ Dốc Mơ, cha Giuse Trần Đình Vận, chánh xứ Dốc Mơ quản nhiệm. Một năm sau, Cha Giuse tách Giáo họ Đức Huy và giao cho các Cha dòng Salesien Don Bonsco coi sóc. Giáo dân từ nhiều nơi, phần lớn thuộc vùng Dốc Mơ và Bạch Lâm về đây lập nghiệp ngày càng đông (khoảng 1.500 người). Ngày 06.08.1982, Đức Cha Đaminh Nguyễn Văn Lãng nâng Giáo họ Đức Huy lên thành Giáo xứ Đức Huy và cử Cha Giuse Đinh Xuân Hiên (SDB) phụ trách. Năm 1998, Đức Cha Phaolô Maria Nguyễn Minh Nhật chính thức trao Giáo xứ Đức Huy cho dòng Salesien quản nhiệm vĩnh viễn. Giáo xứ Đức Huy có gần 5 ngàn giáo dân và nhiều cộng đoàn dòng tu như: Con Đức Mẹ Mân Côi (Chí Hòa), Cộng đoàn Mân Côi phù hộ Đức Huy, Cộng đoàn Mân Côi Vô Nhiễm Đức Huy, Đa Minh Tam Hiệp, Don Bosco…

-Sao giáo xứ này có tên gọi là Đức Huy, nghe rất lạ? Bác tài xế chợt hỏi.

-Đức Huy là tên nghĩa phụ cha cố Trần Đình Vận.

-À ! Ra là vậy.

Rời con đường Đức Huy xe đi vào con đường nhỏ hơn, đường này dẫn sang xã Cây Gáo. Hai bên đường là vườn cây trái xanh tốt. Rồi xe quẹo vào đường Thánh Tâm dẫn đến bờ hồ Trị An.

Ông Chánh Tiến kể tiếp:

-Gọi là đường Thánh Tâm vì con đường này dẫn đến giáo xứ Thánh Tâm. Trước kia khi hồ Trị An chưa ngập nước, nơi đây là ruộng lúa nuôi cả vùng Gia Kiệm. Có một giáo họ tên là Thánh Tâm. Giáo họ quy tụ vài chục gia đình Việt Kiều Cambuchia hồi hương. Khi người ta đắp đập ngăn nước, nước dâng, nhận chìm giáo xứ Thánh Tâm dưới lòng hồ. Nhà thờ Thánh tâm cũng bị nhận chìm. Dân tản đi nơi khác.

Quả là một thông tin đáng kinh ngạc, bởi trong kỷ yếu của Giáo phận không hề nhắc tới giáo họ Thánh tâm như ông Chánh Tiến vừa kể. Việt Kiều Cambuchia hồi hương đa số sống ở hồ Dầu Tiếng Tây Ninh. Ít khi nghe nói có giáo họ Việt Kiều sống trên hồ Trị An.

Bác tài xết tiếp tục hỏi:

-Ngày nay những Việt kiều này còn không, ông Chánh?

-Vẫn còn. Thời gian hồ ngập nước có ông Bảy Mẹo, bây giờ con cháu vẫn còn sống ở đây, những người khác thì tản đi các nơi. Trước Giải phóng nhà thờ Thánh Tâm đã bị máy bay ném bom sụp rồi, còn hai bức tường dựng đứng thôi. Con nghe Cha sở nói khi cha cố Vận về đây đã có Thánh Tâm rồi. Có khoảng mười mấy giáo dân Việt kiều Cambuchia ở đó và một số dân của mình ở rải rác ở đó. Thánh Tâm bị ném bom xong rồi, những hộ ở đó mới chuyển về Dốc Mơ, nguyên một cái dãy khoảng 20 gia đình bây giờ gọi là khu Việt Kiều.

Ông trùm Tiến nhớ lại:

– Cánh đồng Thánh Tâm phục vụ cho giáo dân ở đây, có ruộng ba mùa. Diện tích khoảng chừng trên 600 héc ta. Khu đất nuôi sống giáo dân Dốc Mơ lúc di cư qua. Năm 1960 con lên chỗ cao su. Hồi đó máy bay ném bom loại cánh ngang, nó ném bom vào nhà thờ Thánh Tâm. Trúng nhà thờ nên dân họ về Dốc mơ.

-Thế ông Chánh ở đây lâu chưa?

-Tôi ở đây từ nhỏ,

-Chắc là từ thời mới di cư 1954? Ông là thổ công đất này rồi!

Ông Chánh cười trừ. Xe chạy đến đâu ông Chánh giới thiệu đến đó. Đến chân một ngọn đời, ông Chánh cho xe ngừng lại. Mọi người xuống xe. Ông Chánh chỉ về phía ngọn đồi:

-Đây là Núi Nứa (không phải Núi Nứa lấy làm mỏ đá ở Xuân Lập, Thị xã Long Khánh). Núi Nứa này gần hồ Trị An. Đó là một ngọn đồi khá cao, cây cối um tùm, có một con đường đất đỏ đi vào. Xe không vào được. Xung quanh có chừng vài chục mẫu vườn cây. Thế đất khá trơ trọi.

Đức cha và mọi người xuống xe, đứng quan sát Núi Nứa. Quả là không thể vào được vì cỏ cây um tùm, chỉ có con đường đất nhỏ. Gói là núi, thực ra chỉ là một ngọn đồi nhỏ. Nơi đây có thể đặt tượng đài Đức Mẹ được.

Đức cha và mọi người bàn bạc, thống nhấy ý kiến. Nơi đây cảnh quan đẹp, có đồi, có núi, có suối Reo, có hồ Trị An. Nhưng khu đất này hẹp, đường đi vào chỉ vừa đủ một làn xe, không đáp ứng cho một trung tâm cần có quảng trường rộng.

Mọi người lại lên xe chạy thẳng ra ngã ba Thánh Tâm bờ hồ Trị An.

Trên hồ, cặp bến có những con thuyền đánh cá của ngư dân, loại thuyền nhỏ chạy máy. Bờ hồ có nhiều đám lục bình xanh tốt. Ngoài xa có những thuyền cá lớn hơn. Phía nhà thờ Thánh tâm, giờ chỉ còn là mặt nước mênh mông, có những con thuyền lớn hơn hình như người ta đang đánh cá.

-Nhà thờ Thánh Tâm chỗ nào, thưa ông Chánh?

-Phía mỏm đất nhô ra hồ, nhưng tất cả chìm dưới lòng hồ. Nơi này trước kia là ruộng lúa, giờ không còn dấu tích gì.

Rồi ông Chánh chỉ cho Đức cha và mọi người ngọn đồi cao và dài phía bên kia bờ hồ:

-Thưa Đức cha, ngọn núi đó gọi là Núi Cúi. Con cũng trình với Đức cha, trước đâyNúi Cúi này là một khu rừng hoang sơ. Về sau, lúc mà Nhà nước chia tập đoàn, khoảng năm đói (1979), người ta tự khai thác vùng ven hồ. Tập đoàn mới cắt ra chia mỗi người, ví dụ, vài ba sào. Vài ba ngàn mét chia ra rồi, người ta trụ lại đó. Mà đường đi rất là khó khăn. Nó toàn là dốc đứng không à. Chỉ có gánh chuối xuống thôi. Rất vất vả. Đất hoang, Nhà Nước cấp cho xong, người ta mới trồng cây đìu, trồng mít, trồng bơ, cho nên là nó cũng khô cằn lắm. Cái sườn nó hơi nghiêng nghiêng thế này, sau Giải phóng họ mới vào bắn khỉ. Trong Núi Cúi có một cái hang khỉ, ở mặt dựng đứng nhìn ra bờ hồ. Người vô không được. Chưa có người nào vô trong đó hết. Người ta chỉ bắn khỉ thôi. Trong đó khoảng mười mấy năm về trước, có khoảng trên 100 con khỉ. Hiện giờ chỉ có khoảng 2 chục con đổ về thôi.

Đứng ở Ngã ba Thánh Tâm nhìn về Núi Cúi, cảnh sắc thật đẹp. Núi có độ cao 90 mét, vươn lên trên bầu trời xanh trong. Dáng núi mềm mại nổi lên giữa vùng đồng bằng trải rộng từ Trảng Bom, Dầu Dây đến sông La Ngà, Định Quán. Cây trên núi tươi tốt. Phía dưới là mặt hồ, nước xanh phẳng lặng yên tĩnh. Đường cong của bờ hồ kết hợp với dáng núi tạo nên một góc ảnh rất ấn tượng. Quả là một phong cảnh sơn thủy hữu tình. Không gian yên tĩnh tuyệt vời, sẽ vô cùng thích hợp cho đời sống tâm linh. Đức cha giáo phận thấy lòng vui khôn tả, nơi đây nếu chọn được, sẽ làm trung tâm tôn vinh Đức Mẹ thì xứng hợp vô cùng, vì đất trời, sông nước, cây cỏ nơi đây thật thanh khiết và đa dạng về thiên nhiên.

Đức cha hình dung lại khu đất hơn 20 mẫu dưới chân núi Chứa Chan trước đây định xây dựng trung tâm Đức Mẹ nhưng bị ngăn trở. Khu đất ấy có thế núi phía sau cao hùng vĩ, cảnh quan thiên nhiên dễ nâng tâm hồn con người lên cao. Nhưng thế núi cao có thể làm cho tượng Đức Mẹ trở nên nhỏ bé. Nơi ấy không có sông hồ, chỉ có  cây cỏ và đá núi, có sơn mà không có thủy, có cái hùng vĩ vững mạnh nhưng thiếu sự sống dào dạt.

Đức cha lại nhớ Trung tâm Đức Mẹ Bãi Dâu. Tượng Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa tựa vào vách núi nhìn ra biển, cảnh quan thật hữu tình. Nơi Núi Cúi này, nếu đặt tượng Đức Mẹ trên đỉnh kia, thì cảnh quan còn tuyệt vời hơn nhiều, bởi tượng Đức Mẹ sẽ che chở ban ơn cho một vùng dân cư đồng bằng bát ngát dưới kia. Thế núi vừa độ cao để  giáo dân hành hương có thể lên với Mẹ và kín múc ơn thiêng từ Mẹ như nước hồ Trị An mênh mông vô tận. Đức cha hướng về Núi Cúi, trong ánh quang của buổi sáng đẹp trời, bất giác lời bài hát “Kìa Bà nào đang tiến lên như rạng đông” rực sáng trong tâm hồn Đức Cha. Ngài thầm cầu nguyện với Đức Mẹ cho ước vọng xây Trung tâm tôn kính Mẹ sớm được hình thành.

 

***

Cha Đường

(Cha cố Hoàng Minh Đường-tay xách giỏ màu đỏ- đang hướng dẫn Đức cha Đa Minh)

Lần khác, Đức cha lại thăm Dốc Mơ, và ông Chánh Tiến lại dẫn Đức cha đi tìm đất. Từ Ngã ba Thánh Tâm nhìn lên Núi Cúi là từ hướng đông Nam. Đoàn xe trở ra để tìm một hướng khác. Xe đi theo đường Thánh Tâm, trở lại đường Đức Huy rồi ra quốc lộ 20 từ Dốc Mơ đi Định Quán. Bây giời, Núi Cúi đã được định vị như một địa điểm cần được quan sát kỹ trước khi giáo phận có những quyết định quan trọng. Xe qua khỏi Dốc Mơ đến con đường giáp ranh Gia Kiệm-Định Quán thì rẽ vào một đường nhỏ trải nhựa. Hai bên là vườn cây. Lác đác có nhà của dân cư. Đường chạy sát bờ hồ Trị An nên tầm quan sát rộng hơn. Ông Chánh Tiến cho biết xe đang chạy qua giáo xứ Hiệp Nhất. Ông dẫn giải:

-Năm 1987, khi thủy điện Trị An bắt đầu hoạt động, nước hồ dâng ngập lụt ruộng vườn của giáo dân ấp Bến Nôm II, xã Phú Cường, huyện Định Quán. Một số người bỏ đi nơi khác kiếm sống. Những người ở lại chuyển sang nghề ngư phủ. Cha Phaolô Lê Văn Diệu, chánh xứ Thống Nhất quản nhiệm nơi đây. Cha dựng một nhà nguyện tạm bằng tranh. Năm 1995, Đức Cha Phaolô-Maria Nguyễn Minh Nhật thành lập Giáo họ biệt lập Hiệp Nhất. Cha Phaolô tiếp tục quản nhiệm giáo họ. Sau đó ngài cùng cộng đoàn xây nhà nguyện kiên cố, đài Đức Mẹ và đài Thánh Matthêu Lê Văn Gẫm bổn mạng của giáo họ. Năm 2009, Cha Théophile Đỗ Hữu Liêm về quản nhiệm Hiệp Nhất. Ba năm sau, Giáo họ biệt lập Hiệp Nhất được nâng lên thành Giáo xứ và Cha Théophile trở thành Cha xứ tiên khởi. Giáo xứ đã có đời sống an hòa và hiệp nhất như hiện nay. Hiện có khoảng hơn 2 nghìn giáo dân.

Ông nói tiếp:

-Mình đi hết con đường này là ra tới Mõm bò. Đây là con đường cùng. Mõm Bò là một doi đất nhô ra hồ Trị An. Từ ngã ba Thánh Tâm đến Mõm Bò là một vòng cung, Núi Cúi nằm ỡ quãng giữa. Từ Mõm Bò có thể nhìn sang Thánh Tâm và nhìn lên Núi Cúi. Lát nữa dừng xe mình sẽ thấy rõ.

Xe chạy trên đường không có bóng người, thỉnh thoảng có vài con bò tụ ở ven đường gặm cỏ. Có lẽ vì thế mà người ta gọi nơi đây là Mõm Bò chăng, vì ở đây không có cánh đồng nào để cày bò.

Xe chạy hết đường nhựa, tới đường đất. Phía trước có vài căn nhà lá ở ven hồ. Đó là tận cùng Mõm Bò. Xe quay lại tìm một chỗ dừng để Đức cha, cha Quản Hạt và cha sở Dốc Mơ quan sát Núi Cúi. Thực ra có dịp này các vị mới đến tận nơi đầu rừng cuối bãi này. Ở đây thưa thớt giáo dân, mấy khi các đấng có dịp đến thăm. Nhưng bây giờ, nếu Núi Cúi được giáo phận chọn thì sẽ nhiều dịp đi nữa.

Ông chánh Tiến giới thiệu:

  • Núi đất nhô cao kia là Núi Cúi. Ở Mõm Bò, ta chỉ thấy mặt dựng đứng của

Núi Cúi, không thấy toàn thể Núi Cúi. Mặt dựng đứng ấy quay ra hồ, trong có hang khỉ. Chưa ai vào hang khỉ, người ta chỉ đến bắn khỉ. Nơi ấy còn hoang sơ.

Đức Cha nhìn về Núi Cúi, Ngài nhận thấy Núi Cúi vẫn nổi bật lên khá cao trên mặt bằng của những cánh vườn xanh ngát. Nhìn từ vị trí này, Núi Cúi gần sát hồ hơn, điều ấy sẽ là một ưu điểm cho phong cảnh sơn thủy của một trung tâm. Đúng là Núi Cúi nằm giửa vòng cung từ ngã ba Thánh Tâm sang Mõm Bò. Ngã ba Thánh Tâm và Mõm Bò như ôm gọn lòng hồ, như thể tạo một lòng hồ riêng cho Núi Cúi, mà không tan loãng vào mặt hồ Trị An mênh mông ngoài kia.

Trong thâm tâm, Đức cha cùng với cha Quản hạt Gia Kiệm và Cha sở Dốc Mơ đã bắt đầu hình dung ra một địa điểm có thể xây dựng trung tâm, nhưng cần tìm một điểm nào nữa để quan sát chính diện Núi Cúi và vùng đất xung quanh xem có thuận lợi không. Bởi vì, Núi để xây đài Đức Mẹ thì có thể chọn được rồi, nhưng còn cần đất để xây những cơ sở khác như nhà nguyện Thánh Thể, các khu sinh hoạt, quảng trường-nơi giáo dân tập trung những dịp lễ lớn. Nhớ lại ngày khai mạc Năm Thánh giáo hội Việt Nam 2010 tại Sở Kiện có hàng trăm ngàn giáo dân tham dự. Rất nhiều người trong số họ đã phải ngồi trên vạt cỏ bờ đê. Núi Cúi cần có chỗ cho những đại lễ như vậy, và vì thế cần phải tìm xem phia bên kia Núi Cúi có vùng đất bằng phẳng làm quảng trường hay không?

 

***

Cha Liễm

Cha quản Hạt Gia Kiệm Phạm Duy Liễm cùng Đức cha Đa Minh xem bản đồ Núi Cúi

 

Những ngày sau đó công cuộc tìm kiếm vẫn tiếp tục. Xe đi vào con đường lô cao su bên cạnh khu công nghiệp Phú Cường. Hết con đường đất là vườn rẫy của dân. Vẫn là Cha sở giáo xứ Dốc Mơ, cha Quản Hạt Gia kiệm, có sự tháp tùng của ông Trưởng Ban Hành giáo giáo phận và ông Chánh giáo xứ Dốc Mơ dẫn Đức cha, Đức cha đi thăm dò từng bước.

Từ quốc lộc 20 đi vào gần một cây số, mọi người dừng lại, đứng gần một giếng nước (giếng nước tưới vườn rẫy) nhìn lên Núi Cúi. Ở vị trí này mọi người có thể nhìn thấy Núi Cúi gần hơn. Đó là một ngọn đồi đất đá thế nằm hình thang, phía sau là hồ Trị An. Trên Núi có những cây vươn cao, có vườn chuối, có những đám đất đỏ giữa những mảng cây xanh, có thể là đất đang khai phá. Mọi người thấy rõ một đỉnh đồi cao và hai đỉnh đồi thấp hơn gần nhau. Không thấy có đường đi lên nhưng triền đồi thoai thoải có thể đi lên được. Mặt đồi dựng đứng phía bờ hồ (có hang khỉ) thì không thể đi lên được. Trong ánh nắng buổi sáng, trời cao xanh, nước hồ cũng xanh mênh mông và màu xanh bạt ngàn của vườn cây, Núi Cúi nổi hẳn lên, vừa hoang sơ tinh khôi, vừa mời gọi những nỗ lực vượt bực nếu giáo phận muốn xây dựng nơi này thành một trung tâm hành hương tôn kính Đức Mẹ.

Tất cả đã manh nha niềm hy vọng cậy trông và những dự định lớn lao…

Ông Trưởng Ban Hành giáo-giáo phận Nguyễn Văn Chiến kể:

-Đứng ở đó nhìn lên rất lâu. Rồi mỗi người trang bị một đôi ủng để đi “thám hiểm” Núi Cúi. Đức cha và cha cố Đường không đi được vì đường lên núi trượt dốc. Mọi người men theo đường mòn của dân trồng rẫy trên Núi Cúi mà đi lên. Hai giờ sau cả đoàn mới trở về báo lại những gì mình quan sát được cho Đức cha biết. Trên đỉnh núi có một mặt bằng khá rộng, có thể làm nhà nguyện hay làm hội trường. Nhưng mà tất cả còn hoang sơ, phải lắm công lắm mới vỡ vạc được…

***

Sau những ngày xuân vui ấy, Đức cha cùng với quý cha và nhiều thành phần dân Chúa còn tìm đến Núi Cúi, cố lên lên đỉnh núi để quan sát, để phóng tầm nhìn về tương lai.

Và sau nhiều cầu nguyện, bàn bạc, Đức cha hỏi ý kiến Cha sở Dốc Mơ:

– Cha sở người thấy địa điểm này có thể xây dựng Trung tâm được không?

-Thưa Đức Cha, ở Đồng Nai, con nghĩ, chắc không còn nơi nào phù hợp hơn, vì ở đây có sơn thủy hữu tình, không gian tinh khôi rất thuận lợi cho việc cầu nguyện. Từ quốc lô 20 vào cũng chỉ khoảng một cây số, sẽ rất thuận lợi cho các đoàn hành hương tìm đến. Con nghĩ lúc này các điều kiện còn trong khả năng. Con nghhe nhiều công ty du lịch họ cũng tìm mua đất quanh hồ để làm du lịch sinh thái. Mình không nhanh tay có khi không còn cơ hội!

Đức cha ngạc nhiên:

-Vậy à?

Rồi quay sang Cha Quản Hạt Gia Kiệm ngài hỏi:

-Thế ý kiến của Cha quản Hạt thế nào?

-Con cũng nghĩ như Cha sở Dốc Mơ. Mình đã mất cơ hội xây trung tâm ở núi Chứa Chan, giờ có Núi Cúi, lại có hồ Trị An và cả một vùng vườn cây bát ngát dưới kia, rất gần quốc lộ, khó có địa điểm nào đẹp hơn nơi này.

Đức cha hỏi ông Chánh giáo xứ Dốc Mơ:

-Ông chánh ở đây, ông có hiểu tình hình đất cát thế nào không? Nếu giáo phận muốn mua lại đất khu vực này, ông Chánh thấy có khả năng không?

-Thưa Đức cha, vùng này là đất của hầu hết giáo dân. Nếu biết giáo phận muốn xây dựng Trung tâm Đức Mẹ nơi này, con nghĩ họ sẽ sẵng sàng chia sẻ với giáo phận.

Đức cha hết sức vui mừng. Bước đầu đã có những tín hiệu rất tốt, và khả năng hình thành một Trung tâm tôn kính Đức Mẹ nơi đây là trong tầm hiện thực.

Trong khóa họp mùa xuân của năm 2014, Hội đồng Linh mục giáo phận chung ước nguyện xin Đức cha Đa Minh trực tiếp lo việc phát triển và xây dựng Trung tâm tôn kính Đức Mẹ của giáo phận theo sở nguyện cùa Đức cha và cử hai cha làm phụ tá giúp ngài là cha Phê rô Phạm Duy Liễm (chánh xứ Ninh Phát, Quản hạt Gia Kiệm) và cha Hoàng Minh Đường, (Chánh xứ Dốc Mơ).

Bao nhiêu dự định, bao nhiêu công việc mở ra phía trước với chưa chan hy vọng và …

 

***

 

Advertisements

ĐƯỜNG LÊN NÚI CÚI-Chương 2

                                                     BÙI CÔNG THUẤN

                                                  ĐƯỜNG LÊN NÚI CÚI

                                                     Truyện dài tư liệu

***

HDGMVN-NuiCui-2

Hội đồng Giám mục Việt Nam thăm Núi Cúi- Đức cha Đa Minh Nguyễn Chu Trinh, GM GP Xuân Lộc đang giới thiệu Núi Cúi với các Đức Giám mục.

CHƯƠNG 2

GẶP GỠ MÙA XUÂN

 

 

 

Rời khỏi thị xã, xe đi vào con đường nhỏ băng qua những cánh rừng cao su bạt ngàn xanh. Nắng dát vàng mọi nẻo. Không gian yên tĩnh và thanh khiết khiến tâm hồn con người thoát khỏi những ràng buộc mà lắng đọng những điều sâu xa.

Rồi xe đi vào vùng của những vườn cây trái tốt tươi. Nơi đây bốn mùa đều ngọt ngào hương vị của đất, của trời: Cà phê, chôm chôm, bưởi, măng cụt, mít, xoài, chuối, điều… Thiên nhiên kỳ diệu đã ban tặng cho con người bao điều quý giá để con người được sống hạnh phúc. Bất giác vang lên đâu đây Lời Chúa trong sách Sáng Thế: Đức Chúa là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn, và cây cho biết điều thiện điều ác. 15 Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Ê-đen, để cày cấy và canh giữ đất đai.”(St 2, 4b-9.15)

Mười lăm phút sau, xe trở ra quốc lộ 20. Đức cha miên man suy nghĩ. Hai bên đường, phố xá đông vui, nhôn nhịp người đi chúc xuân, người đi chơi xa. Những chậu hoa xuân đủ màu sắc tươi thắm vẫn còn đầy ắp trong nhà, trước cửa. Hàng quán, phố thị nằm dọc hai bên đường. Phố bám theo quốc lộ, phía sau là những khu dân cư sống bằng nương rẫy.

Dọc theo quốc lộ 20 vùng Gia Kiệm là nhà thờ các giáo xứ: Hưng Bình, Ninh Phát, Thanh Sơn, Võ Dõng, Phát Hải, Kim Thượng, Phúc Nhạc, Phát Lộc, Đức Mẹ Vô Nhiễm, Gia Yên, Tân Yên, Mẫu Tâm, Bạch lâm, Đức Huy, Dốc Mơ. Nhà thờ giáo xứ nào cũng cờ hoa rực rỡ đón xuân. Vì Chúa là Chúa của mùa xuân. Thánh lễ đêm giao thừa, nhà thờ nào cũng đông đủ mọi gia đình đến để được Chúa chúc phúc (Mt 5,1-10), tạ ơn Chúa và cầu bình an năm mới. Thánh lễ Tân niên sáng mùng một là thánh lễ của sự thành tín kính thờ Thiên Chúa và niềm hy vọng Chúa sẽ ban một năm tốt lành. Vì lời Thánh vịnh viết: “hãy ký thác đường đời cho Chúa”(Tv 37, 5) và Lời Chúa dạy: Tiên vàn các con hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn các điều đó Người sẽ ban thêm cho các con. Vậy các con chớ áy náy lo lắng về ngày mai, vì ngày mai sẽ lo cho ngày mai. Ngày nào có sự khốn khổ của ngày ấy”(Mt 6, 25-34)

Người Công giáo hôm nay, bốn mùa là bốn mùa hồng ân của Chúa, bốn mùa lễ hội. Các xứ đạo Công giáo dù là ở nơi nông thôn còn khó khăn hay ở thành phố, đều chăng hoa kết đèn rực rỡ khắp nơi. Từ lễ Giáng Sinh đến tết dương lịch, rồi tết âm lịch không khí lễ hội vui tươi trở thành những điểm nhấn của năm. Văn hóa Công giáo bao trùm cả không gian sinh hoạt của cộng đồng. Xóm ngõ nào cũng có băng-rôn “Mừng Chúa Giáng sinh”. “Mừng Xuân thánh ân”. Người ta đi mua sắm, du lịch vui chơi. Người Công giáo thì sống với tâm tình phó thác, tin yêu và hy vọng vào sự quan phòng của Chúa.

Các sinh họat tâm linh tôn giáo đã gần như thành nề nếp truyền thống. Tháng 5 và tháng 10 là hai tháng đặc biệt mừng kính Đức Mẹ. Khắp nơi trong giáo phận, thôn xóm nào cũng vang lên lời kinh tiếng hát trong những buổi tối đọc kinh chung rước Đức Mẹ viếng thăm nhà. Tháng 11 là tháng cầu nguyện cho các linh hồn ông bà tổ tiên với lòng hiếu thảo tri ân. Tháng 12 hướng về Ơn cứu Độ của mùa Giáng Sinh. Lễ Vọng Giáng Sinh ở các giáo xứ đề tổ chức canh thức diễn nguyện lịch sử Ơn Cứu Độ, khiến cho người giáo dân hôm nay gần gũi với lịch sử Cựu Ứớc và Tân Ước. Lễ hội Giáng Sinh kéo dài gần hết tháng Một dương lịch.

Tiếp theo đó là Tết âm lịch. Nhà nhà chuẩn bị tết ngay từ đầu tháng chạp âm lịch.  Ngày mùng 2 tết dành để kính nhớ tổ tiên, ngày mùng 3 cầu nguyện cho công ăn việc làm. Trong những ngày xuân, các Cha sở, Cha phó, Ban Hành giáo và các đoàn thể đi thăm viếng các gia đình. Người Công giáo chia sẻ quà xuân cho người nghèo và làm nhiều việc từ thiện. Đó là nét đẹp của văn hóa Công giáo góp phần vào làm giàu có nền văn hóa nhân ái của dân tộc này.

Cho đến hôm nay, sau gần 500 năm, với một lịch sử nhiều lần bị bách hại, đạo Công giáo ở Việt Nam vẫn tồn tại và góp phần quan trọng vào văn hóa Việt. Một minh chứng cụ thể là chữ Quốc ngữ do các nhà truyền giáo làm ra đã tạo ra một bộ mặt văn hóa mới, làm thay đổi hẳn nền văn hóa dựa vào chữ Hán, chữ Nôm. Các kiến trúc nhà thờ, đền đài Công giáo, các lễ hội Công Giáo, lối sống bác ái Công giáo làm mới hẳn những truyền thống văn hóa tam giáo (Phật-Nho-Lão) đã có hàng ngàn năm của người Việt.

Người Công giáo hôm nay cùng với cộng đồng dân tộc đang trực tiếp bảo vệ và phát triển đất nước, bảo vệ những giá trị truyền thống trước làn sóng xâm lăng văn hóa khi mở cửa hội nhập toàn cầu hóa. Đường hướng “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”của Hội đồng Giám mục Việt Nam đã dẫn dắt giáo dân hòa nhập nhiều hơn vào cộng đồng văn hóa dân tộc. Và trong  sự hiệp thông với Giáo hội toàn cầu, giáo hội Công giáo Việt Nam thực sự là những chứng nhân cho đức tin trong thế kỷ XX và XXI. Vì thế Giáo hội Việt Nam được giáo hội toàn cầu và Nhà Nước Việt Nam tôn trọng. Tầm vóc toàn cầu ấy lại thể hiện ở từng giáo xứ và ở cách sống đạo của mỗi cá nhân tín hữu khi họ tham gia vào các hoạt động mục vụ chung của giáo hội.

Chiếc xe chở đức Giám Mục giáo phận giảm tốc độ rồi quẹo vào sân nhà thờ Dốc Mơ. Đức Giám mục vẫn vừa ngắm nhìn cảnh vật vừa nghĩ suy về ơn Chúa ban cho giáo phận. Nhà thờ Dốc Mơ đẹp uy nghi, có dáng dấp của nhà thờ Chính Tòa Xuân Lộc.  Khu vực nhà thờ vẫn còn nguyên vẹn trang trí ngày xuân, đẹp và khang trang. Năm 1972 cha cố Trần Đình Vận cùng cộng đoàn đã xây nhà thờ này (80m x 30m x 30m). Tháp chuông cao 65m vươn cao lên bầu trời. Thấm thoát đã hơn 40 năm với bao biến động lịch sử. Nhưng đoàn chiên Chúa mỗi ngày một đông hơn, hạt giống đức tin vẫn triển nở tốt tươi hơn.

Xe chạy vào khu nhà xứ. Cha sở Hoàng Minh Đường cùng với cha Quản Hạt Gia Kiệm Phạm Duy Liễm và quý chức Ban Hành giáo đã đứng chờ đón Đức cha. Rải rác trong sân, những người khách đến thăm nhà xứ cũng vội vàng chạy đến để được chào Đức cha giáo phận. Họ ngạc nhiên vì hôm nay là mùng 4 tết, Đức cha lại đến thăm và chúc mừng năm mới Cha sở. Họ không biết rằng giáo xứ Dốc Mơ đang bước vào năm kỷ niệm mừng Ngọc Khánh giáo xứ (1954-2014) và Đức Giám mục giáo phận đến thăm giáo xứ Dốc Mơ không phải là chuyện tình cờ.

Cách nay 60 năm, Ngày 02.11.1954, khoảng 3.000 giáo dân gốc Giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm theo Cha Giuse Trần Đình Vận đến Đồi Mơ, cây số 81 quốc lộ 20 lập nghiệp và lập nên Giáo xứ Dốc Mơ. Cha cố Vận đã coi sóc giáo xứ này 32 năm. Cha Hoàng Minh Đường kế nhiệm. Năm nay ngài đã 77 tuổi (ngài sinh năm 1937), quá tuổi hưu nhưng ngày vẫn phục vụ Chúa trong hân hoan. Ngài tổ chức nhiều hoạt động bác ái cho giáo dân. Chẳng hạn, ngài lập khu dạy nghề may công nghiệp cho những người có hoàn cảnh khó khăn. Qua 20 năm, đã đào tạo được hơn 2000 lao động cho các khu công nghiệp. Trong xứ cũng có nhà hưu dưỡng cho các cụ bà neo đơn. Nhà hưu dưỡng này được lập từ 1966 do các nữ tu dòng Con Đức Mẹ Mân Côi Chí Hòa phụ trách.

Đức Giám mục giáo phận đến thăm cha sở Dốc Mơ dịp này tuy theo truyền thống dân tộc, nhưng trong tâm ý, ngài còn dành những tình cảm đặc biệt của người chủ chăn với  người Mục tử huynh đệ, những người đã sống đời dâng hiến của một mục tử như lòng Chúa mong đợi; những người đã ở giữa đoàn chiên và dẫn dắt đoàn chiên đến bên suối ngọt và đồng cỏ xanh. Năm nay đã là năm thứ 10 của sứ vụ Giám mục của Đức cha giáo phận. Người đã xây dựng Tòa Giám mục và Đại chủng viện (2008), nơi đào tạo mục tử cho đoàn chiên Chúa; đã vun đắp cho Giáo hội các Giám mục Giuse Nguyễn Năng (2009), Giám mục Tôma Aquino Vũ Đình Hiệu (2009), tấn phong Giám mục Giuse Đinh Đức Đạo (2013); và còn bao dự định lớn lao trước mặt…

Phòng khách của giáo xứ Dốc Mơ là một phòng nhỏ. Giữa phòng có kê một bàn gỗ lớn và nhiều ghế đẩu. Trên tường đối diện cửa ra vào có ảnh các Đức Giáo Hoàng, ảnh các Đức Giám mục giáo phận, ảnh của cha cố Trần Đình Vận. Phía dưới là một tủ sách và tủ dựng vật dụng nhỏ trên có ảnh tượng và bình hoa.

Phòng khách đơn sơ, nhưng trang trọng. Có lẽ phản ánh phần nào phong cách sinh hoạt của Cha sở. Ngài cũng mộc mạc, giản dị, gần gũi và chân thành giữa mọi người. Buổi gặp gỡ hôm nay cũng đơn sơ và thân tình như vậy. Có Đức cha giáo phận, cha quản hạt Hạt Gia Kiệm cha sở Dốc mơ, có các ông chánh xứ Dốc mơ, có cả ông Trưởng Ban Hành giáo giáo phận tháp tùng Đức cha.

Sau khi mọi người an vị, cha sở Dốc Mơ có lời chào mừng Đức cha giáo phận cùng các vị khách. Câu chuyện xoay quanh không khí ngày tết, sinh họat mục vụ và đời sống giáo dân.

Đức cha rất vui khi biết giáo xứ Dốc Mơ vẫn giữ được những truyền thống tốt đẹp. Rồi đột ngột ngài hỏi:

-Năm nay kỷ niệm 60 năm Kim khánh giáo xứ Dốc Mơ, cha sở có định tổ chức lễ lớn không?

Cha sở Hoàng Minh Đường cười xuề xòa thưa:

-Kính thưa Đức cha, con cám ơn Đức cha đã quan tâm đến giáo xứ chúng con. Con sẽ về Tòa Giám mục để xin ý kiến Đức cha về tổ chức lễ. Con định trong dịp lễ Ngọc khánh xin Đức cha ban Phép Thêm Sức cho 171 em. Còn phần tổ chức cụ thể Ban Hành giáo và các đoàn thể trong giáo xứ đang bàn bạc để tiến hành.

Đức cha muốn đi sâu vào đời sống tâm linh của giáo xứ, ngài hỏi:

-Thế kỷ niệm 60 năm, cha sở thấy giáo xứ được những ơn đặc biệt nào không?

-Thưa Đức cha, Ơn Chúa ban cho giáo xứ thì rất nhiều, nhưng con đặc biệt tạ ơn Chúa về ơn đức tin. Số giáo dân ngày càng đông, bây giờ là hơn 12 ngàn, có lẽ là giáo xứ có số giáo dân đông nhất trong giáo hạt Gia Kiệm. Giáo xứ Dốc mơ trở thành giáo xứ mẹ của các giáo xứ Đức Long, Đức Huy và giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Nơi đây cũng ươm mầm ơn gọi đời dâng hiến của 58 Linh mục và 80 tu sĩ chủng sinh… và ơn Chúa cho con kế nhiệm cha cố Vận làm cha sở nơi này đã 28 năm, được giáo dân yêu mến và gắn bó trong mọi hoạt động mục vụ. Con định xin Đức cha con con được hưu…

Đức cha chia sẻ:

-Tuổi của cha sở là tuổi có thể hưu, nhưng là môn đệ của Chúa, làm việc của Chúa thì không thể ngưng nghỉ được giờ nào. Những “tiếng kêu” của thời đại vẫn khẩn thiết đòi hỏi chúng ta dấn thân. Cha Chevrier đã nói: “Linh mục là người bị ăn”, là tấm bánh bẻ ra cho mọi người…

Cha sở Dốc Mơ thăm dò ý Đức cha:

-Dạ thưa Đức cha, Người định giao cho con việc gì thêm nữa có phải không?

-Nếu có giao thêm việc cho cha là Chúa giao, còn Giám mục giáo phận chỉ là thừa hành ý Chúa. Tôi cảm nhận sâu xa rằng Chúa còn cần Cha cho ý muốn của Chúa, nhưng tôi chưa hình dung được cụ thể, mà chỉ biết chắc rằng cha sẽ vui vẻ dẫn dắt giáo dân cộng tác với Chúa trong việc mưu ích cho giáo hội và cho các linh hồn.

-Dạ thưa, Đức cha làm con lo lắng. Ở tuổi của con thì còn có thể làm được việc gì cho giáo hội nữa thưa Đức cha?

Đức cha cười hiền hòa:

-Thế cha không thấy đức Thánh cha Gioan XXIII à? Ngài được Chúa cất nhắc lên ngôi Giáo Hoàng lúc đã 78 tuổi. Ai cũng nghĩ rằng ngài sẽ chỉ là Giáo Hoàng một thời gian ngắn để bầu chọn một giáo hoàng mới, thế nhưng chính ngài đã triệu tập Công đồng Vaticano II, canh tân giáo hội, đưa giáo hội nhập cuộc với thời đại hôm nay. Việc Chúa muốn, Chúa sẽ làm. Tuổi của cha chắc là chưa bằng tuổi của Đức Thánh cha Gioan XXI, cho nên cha cứ yên tâm …

-Đức cha dạy vậy thì con chỉ biết xin vâng.  Đức cha cần con phụ với Người việc gì thì con xin sẵn lòng.

-Đấy cũng là lời thưa “xin vâng” của Đức Mẹ ngày xưa ấy. Nhắc đến Đức Mẹ, tôi trăn trở không nguôi.

-Thưa Đức cha, là chuyện gì ạ?

-Cha sở biết đó, giáo phận hiện giờ không có trung tâm hành hương tôn kính Đức Mẹ, để kéo ơn Chúa qua tay Đức Mẹ xuống cho giáo phận và cho mọi người. Hơn 20 mẫu đất ở Russeykeo định làm trung tâm hành hương Đức Mẹ đã không thực hiện được. Nhà Nước trả lời, đó là đất quốc phòng, không thể xây dựng cơ sở tôn giáo. Chúng ta trình bày rằng, đất của giáo phận còn cách chân núi Chứa Chan 2 cây số và xung quanh núi đã có nhiều cơ sở tôn giáo như chùa chiền, cũng đâu có ảnh hưởng gì, nhưng họ vẫn từ chối. Có lẽ vùng đất ấy chưa đẹp lòng Chúa nên Chúa đòi buộc chúng ta phải đi tìm nơi khác.

-Thưa Đức cha, bây giờ người định liệu thế nào?

– Cha biết đó, trước kia giáo phận xây dựng được Trung tâm hành hương Đức Mẹ Bãi Dâu, đoàn con Mẹ có nơi tụ về tôn kính Mẹ và xin ơn bình an. Từ ngày giáo phận được tách ra để thành lập giáo phận Bà Rịa- Vũng Tàu (2005), giáo phận Xuân Lộc không có trung tâm hành hương Đức Mẹ nào nữa. Các đoàn thể con dân Xuân Lộc hàng tháng thuê xe từng đoàn, từng đoàn đi viếng Đức Mẹ Tà Pao. Có những đoàn còn đi viếng Đức Mẹ Măng Đen ở Kontum và hàng năm đi viếng Đức Mẹ La Vang ở ngoài Quảng Trị. Lòng sùng kính Đức Mẹ là một ơn đặc biệt Chúa ban cho Giáo hội, để qua Mẹ ơn Chúa đổ xuống cho chúng ta. Không có ơn Chúa thì chúng ta không thể làm được việc gì. Chúa đã dạy rằng: vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được(Ga 15, 5). Cho nên việc xây dựng một trung tâm tôn kính Đức Mẹ cho Giáo phận là một việc hết sức khẩn thiết. Gần 10 năm rồi, giáo phận trăn trở nhưng chưa thực hiện được.

-Thưa Đức cha, vậy trở ngại chính bây giờ là gì?

– Là chúng ta chưa tìm được đất để xây dựng trung tâm. Cha biết đó, đất xây dựng Trung Tâm phải đủ rộng để con cái tụ về, lại phải gần với trục lộ giao thông để thuận tiện đi lại, và nhất là đất phải có cảnh quan đẹp, trinh nguyên, không có vết tích của cái xấu, cái ác. Trong hòan cảnh khó khăn như hiện nay thì tìm đâu ra trong giáo phận một nơi như vậy.

-Thế thưa Đức cha, khi Nhà Nước từ chối mình thì họ có đề xuất cho mình nơi nào khác không?

-À, họ có đề xuất cho mình một nơi, nhưng ở rất sâu trong rừng, và là đất của nhà dòng ở Hà Nội. Nơi ấy không thể xây dựng trung tâm được vì xa trục lộ giao thông, với lại, là đất của nhà dòng.

Mọi người lặng đi một lát suy nghĩ.

Rồi bất chợt ông Chánh Tiến (ông Phạm Quang Tiến, giáo xứ Dốc Mơ) lên tiếng:

-Để chúng con dẫn Đức cha đi coi nơi này xem có được không. Đây là vùng đất mình hy vọng có thể tìm được nơi xây dựng trung tâm.

Một niềm hy vọng như bừng lên, nhưng chưa hình dung cụ thể là thế nào. Đức cha tin chắc một điều Chúa đã hứa: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho  (Mt, 7,7)

***

ĐƯỜNG LÊN NÚI CÚI-Chương 1

                                                                 Bùi Công Thuấn

                                                             ĐƯỜNG LÊN NÚI CÚI

                                                              Truyện dài tư liệu

                                                                           ***

Núi cúi nhìn từ ngả ba Thánh Tâm

Núi Cúi bên Hồ Trị An (khi chưa xây dựng thành Trung tâm Hành hương )

Chương 1

ÂM VANG “TIẾNG KÊU”

 

Nghe tin Đức cha Đa Minh Nguyễn Chu Trinh, nguyên Giám mục giáo phận Xuân Lộc (2004-2016) nằm viện, tôi vội đi thăm. Ngài nằm trong một phòng nhỏ, được quý thầy, quý dì Tòa Giám mục chăm sóc. Mấy bữa nay, giáo dân ai biết Đức cha nằm viện, đều rất lo cho Ngài. Bởi, Ngài dù đã nghỉ hưu, nhưng vẫn đảm nhận trọng trách tiếp tục xây dựng Trung tâm hành hương Đức Mẹ Núi Cúi cho giáo phận Xuân Lộc. Và công việc mới chỉ bắt đầu.

Tôi rất vui khi thấy Đức cha đã hồi phục, mặc dù hai chân ngài còn bị liệt. Một chân mới chỉ co duỗi được chút xíu. Đức cha cho biết từ bụng trở lên đã khỏe, chỉ còn phần chân, bác sĩ nói phải chịu khó tập. Rồi Đức cha vui vẻ nói với tôi:

-Đức cha đang mong thì thầy tới!

Tôi nghĩ đó là cách nói thân tình của Đức cha, nhưng lại hơi lo, vì sợ mình đến trễ, Đức cha buồn lòng chăng?

-Con xin lỗi Đức cha vì con lên thăm Đức cha trễ. Ngày nào con cũng hỏi thăm bịnh tình của Đức cha, nhưng bận công việc hôm nay mới lên thăm Đức cha được. Thưa, Đức cha, Người cần chia sẻ điều gì với con không?

Hỏi Đức cha như vậy vì tôi biết những khi ngài có điều gì đó về văn chương cần chia sẻ, ngài thường gọi tôi đến, cha con trò truyện.

Từ khi tôi phụ giúp biên tập và in ấn 13 tập truyện của Đức cha, ngài thường chia sẻ với tôi những dự dịnh sáng tác, hoặc là một ý tưởng hay cảm xúc mới nào đó, có khi Ngài phác ra một cốt truyện, xác lập một chủ đề, tư tưởng và những thông điệp, rồi hỏi tôi: “Thầy thấy có được không”. Bao giờ tôi cũng thưa: “Thưa Đức cha, con thấy đây là một tập truyện hay, vì nó đề cập được những vấn đề quan trọng của đời sống người Công giáo, và góp phần chia sẻ trách nhiệm với xã hội

Đức cha hỏi là để chia sẻ, và tôi thưa với Đức cha là thưa với tư cách người đọc trong mối tương quan tác giả, tác phẩm. Điều quan trọng là viết tác phẩm như thế nào. Đó là quyền sáng tạo của nhà văn. Tôi không trình bày ý kiến riêng, biết đâu, có thể làm sai lệch ý định sáng tác của Đức cha.

Khi viết xong một tác phẩm, Đức cha thường đưa cho tôi và nhiều người đọc bản thảo để giúp ngài hoàn chỉnh. Đã có những cuốn sách, Đức cha phải viết lại đoạn này đoạn khác, hoặc xây dựng lại nhân vật. Điều này có thể hiểu được. Sáng tác luôn là chủ quan, nhưng nhà văn sáng tác là hướng về người đọc. “Tầm đón đợi” của người đọc và “cộng đồng diễn dịch” tác phẩm có thể  nằm ngoài ý định của tác giả, nên có thể gây ra tranh cãi. Cuốn Đất Mới tập 1 mới in và phát hành thì Đức cha nhận được một thư phản hồi. Lời lẽ khá nặng nề. Ngài chia sẻ với tôi lá thư đó. Tôi hiểu người đọc tiếp nhận tác phẩm với những cái khung định kiến đã cũ so với lý luận tiếp nhận hiện đại; với lại, Đất Mới gồm 3 tập, mới chỉ đọc tập 1 thì chưa thể hiểu được mục đích diễn ngôn của tác giả.

Cho nên khi nghe  Đức cha nói “Tôi đang mong gặp thầy”, thì tôi nghĩ ngay đến việc sáng tác văn chương của Đức cha. Có điều làm tôi ngạc nhiên và thán phục là, Đức cha đang nằm điều trị, hai chân còn đang bị liệt. Ngài đã lớn tuổi, lại đang nhận trọng trách với giáo phận, vậy mà Ngài vẫn nghĩ đến sáng tác. Chắc là những nghĩ suy nung nấu và cảm hứng sáng tạo phải mãnh liệt lắm mới thôi thúc Đức cha đến vậy.

Đức cha cho biết Ngài định viết tiếp cuốn Tiếng Kêu 2.

Bây giờ tôi mới vỡ nhẽ ra điều Ngài nói là mong gặp tôi. Đó không phải là một lời xã giao, mà là một công việc, một thao thức, một khát vọng riêng, nằm trong khát vọng lớn là công việc xây dựng Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Vô Nhiễm Núi Cúi. Ngài muốn, khi người giáo dân đến Trung tâm để kính viếng Đức Mẹ và tôn vinh Chúa, thì người giáo dân ấy cũng cần hiểu những vấn đề và ý nghĩa sâu xa của việc xây dựng trung tâm. Muốn vậy, cần có nhiều sách báo, phim ảnh, bài hát về Núi Cúi. Và vì thế, một tác phẩm văn chương về Núi Cúi không thể thiếu.

Bởi tác phẩm văn chương là sáng tạo nghệ thuật, nó mang đến cái đẹp cho người đọc, trong đó có cái đẹp nội dung, tư tưởng. Nó giúp người đọc sống cùng với giáo hội trong việc xây dựng Trung tâm, một công trình lớn lao của cả giáo phận. Nó cũng kết nối mọi tâm hồn, mọi thế hệ, ở những không gian văn hóa khác nhau, chung một tấm lòng cảm tạ hồng ân của Chúa và tín thác nơi Đức Mẹ, và noi gương các thánh tử đạo.

Tôi thưa với Đức cha:

– Đức cha còn đang điều trị, Người nên nghỉ ngơi, bao giờ Đức cha bình phục, người hãy viết cũng được.

Trong sự hào hứng, Đức cha phác thảo ra cuốn Tiếng Kêu 2. Ngài nói:

-Trong cuốn Tiếng Kêu 1, cha Gioakim và cha Phương Bảo đã về với Chúa. Hai ngài để lại tâm nguyên xây Trung tâm Đức Mẹ. Bây giờ phải tìm nhân vật khác. Khó là tìm một nhân vật nữ và tạo dựng một cốt truyện mới so với Tiếng Kêu 1. Cuốn Tiếng Kêu 1 viết về tượng Đức Mẹ vớt được ở sông Mê Kông, từ đó mình lần lại hành trình truyền giáo từ thời các Thừa sai, và đặc biệt mình lắng nghe “Tiếng kêu” của Chúa Giêsu Hài đồng, trước những vấn đề của thời đại đối với nhân phẩm con người. Tượng Đức Mẹ Mêkông trong tập 1 đã trả về Cambuchia. Giờ tiếp nối chủ đề và cảm hứng của tập 1 để viết về Núi Cúi.

Tôi tiếp lời Đức cha:

-Nếu Đức cha thấy có cảm xúc, thì trong hoàn cảnh Đức cha đang nằm điều trị, ngài cứ đọc và dùng điện thoại di động thu âm lại, chuyển file cho con, con sẽ biên tập lại.

Cha ở Tòa giám mục giúp việc Đức cha thưa:

-Thưa Đức cha! Bây giờ có phần mềm chuyển lời nói thành văn bản word ngay trên điện thoại. Đức cha cứ đọc, con thu lại và chuyển thành file word gửi cho thầy.

Đức cha vui mừng và ngạc nhiên thú vị về các phương tiện hiện đại. Trước đây, Đức cha phải ngồi gò lưng viết tay bản thảo, rồi lại nhờ người đánh máy lại, mất rất nhiều thời gian và sức lực. Giờ chỉ cần đọc to lên là đã có văn bản, chỉnh sửa lại lỗi chính tả và in ra được ngay. Con người hôm nay giỏi thật.

***

Tôi có nhiều dịp được trò chuyện với đức cha. Hầu hết trong những dịp ấy Đức cha thường nói về sáng tác.

Sự quan tâm của ngài rất rộng. Ngài nói rằng nhóm Tự Lực Văn Đoàn chỉ có 7 người, nhưng họ để lại dấu ấn trong lịch sử phát triển của văn học dân tộc. Chúng ta chưa quan tâm đến văn chương như một phương cách rao truyền Tin Mừng. Chúng ta mới chỉ có Hàn Mặc Tử đạt được một thành tựu thi ca đặc biệt trong các nhà thơ Mới. Thi tứ và nguồn cảm xúc của Hàn mặc Tử có dấu ấn của Kinh Thánh. Thực ra Kinh Thánh đã làm nên cả một nên văn minh, văn hóa, văn học nghệ thuật châu Âu từ bao nhiêu thế kỷ nay, và Giáo hội hướng về châu Á cũng dạy rằng chúng ta phải làm cho Kinh Thánh trở thành một bộ phận của văn hóa dân tộc. Cha ông chúng ta đã làm và chúng ta cần phải tiếp tục mạnh mẽ hơn nữa.

Tôi hỏi:

-Thưa Đức cha, điều gì thôi thúc Đức cha sáng tác văn chương?

-À! Tôi đọc những cuốn như Bão Biển và nhiều cuốn khác, tôi thấy họ xuyên tạc Công giáo quá, họ xây dựng những hình tượng xấu về các tu sĩ, về thái độ sống đạo của người Công giáo. Mình muốn nói rằng, đạo Công giáo không phải thế. Giáo dân, tu sĩ Công giáo là đoàn dân Chúa, sống Lời Chúa giữa trần gian và đem Tin Mừng đến cho mọi người. Mình hiểu rằng họ viết như vậy là để phục vụ nhiệm vụ chính trị. Nhưng muốn xóa đi những ảnh hưởng xấu của Bão Biển chẳng hạn, chúng ta phải xây dựng những hình tượng chân thực về tu sĩ và giáo dân Công giáo. Điều ấy chỉ có thể thực hiện được bằng tác phẩm văn chương. Đức cha viết tác phẩm không phải vì mục đích trở thành nhà văn, mà mục đích là để chia sẻ những trải nghiệm đức tin, chia sẻ những suy niệm về bài học sống đạo trong cộng đồng. Bộ truyện dài Đất Mới là hành trình sống đạo của linh mục và giáo dân  ở giai đoạn khó khăn nhất của đời sống thời kỳ đầu Giải Phóng: hành trình giáo hội Việt Nam “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”, cần phải canh tân lòng trí theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Người Mục tử phải gắn bó sống chết vì đoàn chiên…

Nghe Đức cha nói, tôi ngạc nhiên và thú vị. Dù Đức cha không nghiên cứu nhiều về lý luận văn chương, song thực tiễn trải nghiệm giúp ngài nhận ra những giá trị đích thực của văn chương, từ đó dấn thân vào một lãnh vực hết sức khó khăn là viết văn. Ngài viết văn mới mục đích rất minh triết, văn chương là để rao truyền Tin Mừng, là hướng về những người bé nhỏ nhất, nghèo khó nhất và khốn cùng nhất, là đem đến niềm tin yêu, ánh sáng cho đời sống. Trong tình hình văn chương Công giáo còn non yếu hiện nay, những tác phẩm của ngài sẽ là một dấu ấn đẹp cho mai sau.

Có lần ngài nói với tôi:

-Mình đã viết về Đất Mới, vùng đất của lòng người giữa một giai đoạn lịch sử sống đạo của người Công giáo hôm nay. Tôi dự định viết Trời Mới để nói về việc xây dựng những công trình như Trung tâm Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa Bãi Dâu, Núi Tao Phùng ngày xưa và Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Vô Nhiễm Núi Cúi hôm nay. Bởi những công trình ấy vừa là nơi chúng ta tôn vinh Chúa và kính Đức mẹ, nhưng cũng là những công trình văn hóa làm giàu đẹp Văn hóa Việt. Hơn nữa việc xây dựng những công trình ấy giáo phận gặp rất nhiều khó khăn. Từ đó mình nhận ra một cách hiển nhiên sự quan phòng của Chúa và muôn ơn lành Chúa đổ xuống cho giáo phận. Nếu không viết lại thì những thế hệ đi sau đâu hiểu được những nỗ lực của giáo phận đối với đời sống xã hội của cộng đồng.

Tôi thưa với Đức cha:

-Do đâu Đức cha có khát vọng xây dựng Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Vô Nhiễm Núi Cúi?

Đức cha như chìm vào một vùng suy tưởng mênh mông, trải dài cả đời người, với những cảm xúc thật mãnh liệt:

– Thầy biết rồi đó. Khi chúng ta chia tách giáo phận Bà Rịa, giáo phận Xuân Lộc không còn Trung tâm hành hương nào để tôn kính Đức Mẹ. Đức cha được sinh ra trong đền thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội ở quê hương. Nơi đây có 16 thánh tử đạo trong số 118 các Thánh Tử Đạo Việt Nam và còn lại 116 anh hùng tử đạo khác. Rồi xảy ra bao biến cố lịch sử và biến cố riêng của cuộc đời Đức Cha. Quả là hồng ân Chúa đã ban cho Đức cha thật lớn lao. Thầy biết đó, noi gương thánh Đa Minh và các vị Thừa sai, chúng ta cần cậy trông vào Đức Mẹ. Có lần thất bại, thánh Đa Minh đã than thở với Đức Mẹ. Ngài được Mẹ dạy, hãy rao giảng và cổ động mọi người lần chuỗi Mân Côi. Vâng lời Đức Mẹ, ngài đem hết khả năng truyền bá chuỗi Mân Côi, giải thích các mầu nhiệm thánh, kêu gọi mọi người thực hành việc đạo đức này. Kết quả thật lạ lùng! Cho nên Đức Cha thao thức và ao ước có một nơi để tôn kính Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội và kính các Thánh tử đạo Cha ông. Một nơi để mọi người tụ về, cảm tạ ơn Chúa và tôn vinh Mẹ; kéo ơn của Chúa xuống cho giáo phận và cho mọi người.

Đức cha kể tiếp chuyện quê hương:

– Làng Phú Nhai rộng chừng 3 cây số vuông, thuộc xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, giáo phận Bùi Chu. Làng chia thành 7 xóm. Trung tâm của làng là đền thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm cổ kính tráng lệ. Xung quanh nhà thờ, ngoài vùng dân cư là đồng lúa bao la. Hết đồng lúa bao quanh là con sông chạy xung quanh làng như những vòng tròn khép kín mà ngôi nhà thờ là trung tâm. Làng Phú Nhai còn có 1 cái cổng làng to đẹp.

Năm 1866, ngay sau khi vua Tự Đức ký sắc lệnh tha đạo, chấm dứt gần 3 thế kỷ Kitô giáo bị bách hại, cha chính xứ Emmanuel Rianô Hòa cho xây dựng nhà thờ bằng gỗ, lợp bổi. Năm 1881, Giám mục Hòa cùng với linh mục Barquerô Ninh xây nhà thờ lần thứ hai theo kiến trúc Á Đông và hai tháp chuông. Năm 1916, Giám mục Phêrô Munagôri Trung và linh mục Morênô xây nhà thờ lần thứ ba theo kiến trúc Gothic Khánh thành năm 1922 nhưng bị cơn bão lớn tàn phá nặng nề vào ngày 24 tháng 6 năm 1929.

Người làng kể rằng, thời đạo còn bị bách hại, năm 1858 Đức Cha Valentinô Berrio-Ochoa Vinh, Giám Mục Bùi Chu (tử đạo năm 1861) cùng với cha chính địa phận Emmanuel Rianô Hoà đã cùng nhau tha thiết khấn cùng Đức Mẹ Vô Nhiễm rằng: Nếu Đức Mẹ ban sự bình an cho địa phận, thì địa phận sẽ nhận Đức Mẹ làm quan Thầy và sẽ xây một Đền Thờ xứng đáng để dâng kính Người. Lời khấn đã được Đức Mẹ chấp nhận, tuy chưa có bằng an ngay, nhưng tinh thần giáo dân và giáo sĩ mạnh dạn hơn. Những người quá yếu đuối đã bỏ đạo thì tiếp tục ăn năn trở lại, dần lắng dịu.

Sau khi khấn dâng, các Ngài cũng không biết ý Đức Mẹ muốn xây đền thánh ở đâu. Có một người đàn ông tên Luông thấy tuyết đọng ở phía Bắc nhà thờ, ông trình với các đấng bản quyền. Các ngài xuống kiểm tra và quyết định xây ngôi Thánh Đường ở đây. Năm 1866, Cha chính Hoà giữ lời khấn hứa, đã xây Đền Thánh bằng gỗ lợp bổi. Ngôi Thánh đường Phú Nhai ngày nay xây lại năm 1933 và hoàn thành trong 3 năm. Năm 2003 đền thánh được tôn tạo và ngày 12/8/2008 tòa thánh ký sắc lệnh phong Phú Nhai lên tiểu Vương cung thánh đường. Đây là tiểu Vương cung đầu tiên ở miền Bắc.

Đức cha nói về giáo phận:

-Lần hiện ra ở Fatima với 3 trẻ, Đức Mẹ luôn nhắc nhở hãy làm một đền thờ để ghi nhớ Đức Mẹ. Với chúng ta, giáo phận Xuân Lộc, trong dịp kỷ niệm 50 năm thành lập giáo phận, nhìn lại quãng đời 50 năm thành lập giáo phận, biết bao nhiêu ơn lành Chúa đã đổ xuống cho giáo phận chúng ta. Không có ơn Chúa thì không thể làm gì được. Từ một giáo phận mới được tách ra khỏi giáo phận mẹ Sài Gòn ngày 14.10.1965, với số giáo dân ban đầu là 164. 144 người thuộc ba tỉnh Long Khánh, Biên Hòa, Phước Tuy và thị xã Vũng Tàu. Vậy mà sau gần 50 năm, dù đã có thêm một giáo phận mới là Bà Rịa, chúng ta vẫn có số giáo dân đông đảo là 921.482 người. 8 Giám mục. 552 Linh mục triều và dòng. 744 chủng sinh. 75 dòng tu với 1858 tu sĩ nữ và 274 tu sĩ nam. Nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta tất cả cảm nhận một cách sâu xa tình Chúa đã ấp ủ giáo phận. Bàn tay quan phòng kỳ diệu và mạnh mẽ của Chúa Thánh Thần đang hướng dẫn và dìu dắt giáo phận trong mọi biến cố thăng trầm của lịch sử.

Đức cha im lặng một chút rồi tiếp:

-Vì thế, trước hết là chúng ta cầu nguyện, rồi chúng ta dâng những hy sinh, như các em nhỏ ở Fatima…em nhỏ nhất 7 tuổi, em đã đón nhận bệnh tật như sự hy sinh để mà cầu nguyện. Chị Lucia sống đến 97 tuổi, nhưng mà suốt cuộc đời của chị là đau khổ, bởi vì chỉ có con đường đau khổ thập giá mới đem Ơn Cứu độ đến cho nhân loại. Hôm nay, chúng ta muốn Đức Mẹ giúp chúng ta, mọi người chúng ta cố gắng thực hiện mệnh lệnh của Đức Mẹ: đọc kinh Mân Côi, Tôn sùng trái tim Mẹ và cải thiện đời sống, rồi chúng ta cùng góp công góp sức vào để xây dựng Trung tâm này để là nơi chúng ta cảm tạ Chúa, tôn vinh Mẹ và kính các thánh tử đạo.

Bây giờ tôi hiểu rõ hơn nguồn gốc ơn gọi của Đức cha. Ơn gọi ấy có từ truyền thống đức tin và máu các thánh tử đạo trong lịch sử. Tôi cũng hiểu được do đâu Đức cha có lòng sùng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm một cách đặc biệt và khát vọng xây Trung tâm dâng kính Đức Mẹ. Đức cha muốn truyền thống đức tin của cha ông trong lịch sử tiếp tục triển nở trên đất Đồng Nai để nhờ Đức Mẹ Vô Nhiểm kéo ơn lành của Chúa xuống cho giáo phận Xuân Lộc.

-Thưa Đức cha, còn tượng Đức Mẹ sông Mê Kông có liên quan gì đế dự định xây dựng Trung tâm hành hương Đức Mẹ Vô Nhiễm Núi Cúi của Đức cha không?

Đức cha giải thích:

– Bức tượng Đức Mẹ được trục vớt ở dòng sông Mêkông năm 2012 có những ý nghĩa đặc biệt. Đức Mẹ đã đến với dân tộc Cămpuchia, một dân tộc với 95% lương dân, một dân tộc đã phải qua biết bao đau thương và gian khổ, nhất là nạn diệt chủng gần một nửa dân tộc. Đức Mẹ đã soi sáng cho một người lương dân biết được “Mẹ đang ở dưới lòng sông”, người ta đã vớt tượng Đức Mẹ lên và Đức Mẹ đã ban ơn cho 1 trong số những người trục vớt được khỏi căn bệnh hiểm nghèo. Chính vì thế, Giáo phận chúng ta thỉnh Đức Mẹ về đây với hình ảnh của Ngài, để Đức Mẹ ở với chúng ta. Giáo phận chúng ta cũng đã trải qua biết bao thăng trầm thử thách và Đức Mẹ đã cho Giáo phận chúng ta có được ngày hôm nay. Chúng ta cầu xin Đức Mẹ bầu cử cùng Chúa cho Giáo phận chúng ta luôn được bình an, và xin cho mọi người luôn biết tôn trọng phẩm giá con người để Chúa được vinh danh.

-Thưa Đức cha, Đức cha dự dịnh xây dựng quy mô của Trung tâm như thế nào?

Đức cha nói trong một viễn cảnh thật hân hoan:

-Thầy thấy đó. Những buổi lễ lớn của giáo phận tổ chức ở sân Tòa Giám mục như lễ tấn phong các đức Giám mục năm 2009, hội nghị Liên Hội đồng Giám mục châu Á (FABC) năm 2012 chỉ có thể chứa được 13 hoặc 15 ngàn người. Trung tâm phải có chỗ cho hàng trăm ngàn hoặc một triệu người trong những lễ lớn của giáo phận và của Giáo hội Việt Nam. Chẳng hạn đến một ngày nào đó chúng ta được đón Đức Giáo hoàng, giáo dân cả nước tụ về. Nơi ấy có đài Đức Mẹ, Nhà nguyện Thánh Thể, các nhà đa năng cho các sinh hoạt tôn giáo, có nhà cơ nhỡ, nhà chăm sóc người già neo đơn, nhà y tế, nghĩa trang đồng nhi nữa…

Quả là một công trình lớn, có thể coi là một công trình thế kỷ.

***

Những lần nói chuyện với Đức cha Đa Minh, tôi hiểu thêm được nhiều công việc của giáo phận…Nhưng hơn thế, hiểu sâu sắc hơn những tác phẩm của Đức cha. Ngài đã in các cuốn với bút danh Song Nguyễn:

  1. Một Đời Dâng Hiến, truyện dài, Nxb Tôn Giáo. 2009
  2. Đất Mới, truyện dài 3 tập. Nxb Tôn Giáo. 2009
  3. Đồng Hành, truyện dài, Nxb Tôn Giáo. 2010
  4. Định Hướng, truyện dài. Nxb Tôn Giáo. 2011
  5. Chuyến Xe Về Trời, tập truyện ngắn 1 Nxb Tôn Giáo. 2011
  6. Còn Một Niềm Tin, tập truyện ngắn2. Nxb Tôn Giáo. 2011
  7. Suối Nguồn, tập truyện ngắn 3. Nxb Tôn Giáo. 2011
  8. Người Cha Hiền, tập truyện ngắn 4. Nxb Tôn Giáo. 2012
  9. Những Người Mẹ, tập truyện ngắn 5. Nxb Tôn Giáo. 2012
  10. Chỉnh Hướng, truyện dài, Nxb Tôn Giáo, 2013
  11. Đồng Cỏ Xanh, truyện dài, Nxb Tôn Giáo, 2013
  12. Tiếng Kêu, truyện dài. Nxb Phương Đông 2014
  13. Vì sao sáng, truyện dài. Nxb Tôn giáo 2015

Tôi đã viết một chuyên luận về các tác phẩm của Song Nguyễn, cuốn “Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn”. Nxb HNV. 2014. Chuyên luận phát hiện được nhiều điều về thế giới nghệ thuật của Đức cha. Có thể nói các tác phẩm của Song Nguyễn là một bộ sử thi về đời sống của người Công giáo Việt Nam (giáo dân, Linh mục, tu sĩ) suốt từ những năm 1945 đến thời “đổi mới” (1986). Đây là giai đoạn lịch sử có những biến động hết sức lớn lao. Tác giả khẳng định và ca ngợi các Mục tử dẫn dắt đoàn chiên đi qua những thảm trạng của chiến tranh và xây dựng một đời sống mới. Sự kiên vững đức tin, tình thương yêu và thái độ vì tha nhân là những bài học mà mọi người đọc đều có thể tiếp nhận từ ngòi bút của Song Nguyễn.

Tôi lại hỏi Đức cha:

-Công trình xây dựng Trung tâm hành hương Đức Mẹ Vô Nhiễm Núi Cúi lớn lao như thế, Đức cha sẽ thực hiện thế nào trong tình hình còn rất nhiều khó khăn mọi mặt?

Đức cha cười hân hoan:

-Việc Chúa muốn, Chúa Làm. Chúng ta cứ phó thác nơi Chúa và cậy trông nơi Đức Mẹ…

-Thưa Đức cha, Ngài định viết tiếp Tiếng Kêu 1 về Núi Cúi như thế nào, bởi con thấy bối cảnh câu chuyện, những sự việc, con người giờ đã khác, và tầm vóc lớn lao hơn rất nhiều so với nội dung Tiếng Kêu 1.

Đức cha rất vui như đã tìm được cách viết:

– Chỉ có một cách là, giống như là ông giáo sư gì bên Vatican đó, ông ấy hỏi Đức Thánh Cha, tức là phỏng vấn Đức Thánh Cha, và Đức Thánh Cha trả lời. Thầy cũng hỏi và Đức cha trả lời. Thầy cũng dựa theo cái cốt truyện mà hôm nọ Đức cha đưa cho thầy. Thầy viết, tôi viết, xong rồi mình sửa.  Cách viết này nó giúp mình vượt qua được những chỗ khó, chẳng hạn, khi viết về việc quan hệ với chính quyền để xin giao đất và xin phép xây dựng, hoặc những mối quan hệ của tôn giáo với đời sống xã hội, thì nó dễ hơn.

Tôi lại hỏi Đức cha:

-Việc xây dựng Trung tâm có rất nhiều công việc, liên quan đến nhiều người, nhiều tổ chức xã hội; giáo phận lại tổ chức nhiều họat động, trong đó có cả những chuyến đi Mục vụ của Đức cha ra nước ngoài; cũng đồng thời làm phát sinh nhiều vấn đề tư tưởng trong công luận…theo Đức cha, mình chọn thể loại nào, cách thể hiện thế nào để phản ánh được một hiện thực rộng lớn và phức tạp như vậy?

Đức cha trả lời ngay:

-Tất cả những cái đó, thì thầy cứ đặt vấn đề, Đức cha trả lời. Thầy quan sát thấy vấn đề gì, hoặc trong quá trình suy nghĩ, thầy phát hiện ra vấn đề gì, thầy cứ đặt vấn đề, Đức cha sẽ trả lời. Như thế nó tránh được nhiều nhân vật, cái thứ hai nữa là nó giống như một cuộc phỏng vấn thật, gần gũi, sống động, khác với truyện hư cấu. Bởi vì việc xây dựng Trung tâm hành hương Đức Mẹ Vô Nhiễm Núi Cúi là sự thật, tất cả còn đang diễn ra? Không khí còn đang rất khẩn trương, sôi nổi trên công trường cũng như trong tâm hồn mọi giáo dân; và vì thế, mình muốn mọi người đọc hiểu vấn đề, cùng thao thức với giáo phận, cùng chia sẻ với giáo phận. Nhưng thầy cũng lưu ý rằng đây là tác phẩm văn chương. Vì chỉ có tác phẩm văn chương mới sống lâu dài trong lòng người đọc.

Tôi tiếp lời Đức cha:

– Thưa Đức cha, đâylà kiểu truyện dài tư liệu, hay tiểu thuyết tư liệu, tức là tất cả đều là thật, người thật, việc thật, nhưng được kiến tạo thành tác phẩm nghệ thuật. Những phần miêu tả, những phần sự kiện, sự việc, được ghi lại đúng như những gì đã diễn ra; cả nội dung, tư tưởng, cũng là thật. Nhưng cấu trúc thế nào, kiến tạo thế nào, chuyển hóa thực tại đời sống bề bộn thành thế giới nghệ thuật thế nào; kết hợp tư liệu và hư cấu thế nào, thì đó là sáng tạo. Và điều quan trọng là phải có một cốt truyện chặt chẽ và một hay nhiều nhân vật xuyên suốt tác phẩm tạo nên cốt truyện đó. Điều ấy thì con chưa nghĩ ra.

Đức cha vui vẻ:

-Đấy, đại khái là như vậy, cái đó thì thầy cứ viết thoải mái. Thầy cứ hỏi và Đức cha trả lời, mọi việc nó sẽ sáng ra. Bây giờ thì cần có một cấu trúc tổng thể rồi mình triển khai từng phần, hôm nào Đức cha sẽ bàn với thầy việc này.

 

***

KHÔI VŨ- MẸ HAY ÔSIN

Bài viết của BCT trên trang web của NXB Văn hóa-Văn nghệ Tp HCM

mẸ hay Ôsin

MẸ HAY ÔSIN?
Tác giả: Khôi Vũ ( Nguyễn Thái Hải)

Mẹ hay Ôsin là những câu chuyện đời thường giữa bao nhiêu vấn đề lớn lao của cuộc sống mà người ta dễ bỏ qua khi phải đối mặt với thực tại. Đó là chuyện tập thể dục buổi sáng (Giờ thiền, Thể dục nghiệp dư),chuyện xem hoa quỳnh nở ban đêm (Đêm xem hoa quỳnh nở), chuyện gia đình, con cháu tất bật suốt tuần (Mẹ hay Ôsin), chuyện người say trên xe đò (Người say),chuyện làm ăn, kinh doanh (Người mới nhập môn), chuyện một ông giám đốc đi nhận bằng khen (Nhận giải thưởng), chuyện một Phó Bí thư bị “bong võng mạc” phải nằm viện, chuyện chăm sóc các chậu kiểng (Điều quên dặn).Có cả những truyện như ghi chép sinh hoạt của một người, từ 7 giờ sáng đến 8 giờ tối: ngắm hoa, đến tòa soạn nhận tiền nhuận bút, mua cá vàng thả vào bể, 8 giờ tối lại vào Google, gõ: “Rùa” (Ngày không như mọi ngày), và chuyện của người chết sau 72 giờ (72 giờ sau)…

“Nhà văn là người kể chuyện”, điều này tưởng như không có gì để bàn. Nhưng không phải vậy. Cuộc sống vốn phức tạp và xô bồ, nhà văn tìm trong những hiện tượng đầy nhiễu nhương ấy để nhặt lấy những hạt châu ngọc kể cho mọi người và gửi trong đó những thông điệp.

Nhà văn Khôi Vũ không chỉ có tài kể truyện hay mà còn tạo ra thế giới nghệ thuật của riêng mình, thế giới của “cái đẹp”. Anh nhìn con người, sự việc với cái nhìn minh triết và tấm lòng nhân hậu, vì thế những chuyện xô bồ, những chuyện đau lòng, những chuyện mà nếu nhìn khác đi, người đọc sẽ cảm nhận dư vị chát đắng, rất dễ rơi vào bi quan.

Truyện Mẹ hay Ôsin chẳng hạn. Nhìn bằng con mắt của “cái đẹp” thì những việc mẹ làm cho con cháu là những biểu hiện ấm áp của tình yêu thương. Trái lại, con mắt thực dụng sẽ nhìn thấy người mẹ ấy chính là Ôsin của con cháu. Truyện Nỗi buồn dưa hấu là nỗi khổ tâm của bà Tám bán dưa hấu những ngày cận Tết. Bị ông trưởng khu phố và chú dân phòng làm khó, bà phải “biếu” mỗi người một cặp dưa. Nhưng nỗi lo vẫn còn đấy. Không biết có bán được hết 100 cặp dưa trước giao thừa, sau đó dọn dẹp vỉa hè như đã hứa với ông trưởng khu phố hay không. Nhà văn đã kết thúc truyện bằng sự “may mắn”cho người “ở hiền gặp lành”. Trưa hăm chín, một chiếc xe chở công nhân đâu như đi dự liên hoan về, bị hư máy dừng đúng trước sạp dưa của dì Tám. Hơn hai chục cô công nhân mặc áo đồng phục màu xanh lá mạ, trong lúc chờ bác tài sửa xe, đã rủ nhau mua hết số dưa còn lại của dì Tám.

Cái nhìn minh triết trong truyện ngắn Khôi Vũ đã soi thấu những vấn đề mà lương tâm trong sáng không thể chấp nhận. Trong truyện Nhận giải thưởng,một ông giám đốc mù mờ về tin học, lại ép cô phó phòng ghi tên mình vào công trình khoa học của phòng

thÁi hẢi 2018

(Chân dung nhà văn Khôi Vũ 2018)

Kỹ thuật, để rồi sau đó được mời đi nhận giải thưởng. Khôi Vũ sáng tạo ra chi tiết ông làm rơi chiếc khánh và khung ảnh giấy khen, rất may không có tổn thất gì. Chỉ “dòng chữ họ tên được dát vàng của ông dưới dòng chữ “Giải A sáng tạo khoa học” bị bong ra khỏi vị trí của nó”. Vâng, chỉ một chi tiết rất nhỏ ấy đã toát lên ý nghĩa: Cái khánh và bằng khen không thuộc về ông, dù ông có đang cầm nó trên tay.

Trong truyện Giờ thiền, những con người cùng đi tập thể dục buổi sáng, xuôi hay ngược, chỉ nhìn nhau im lặng. Không cả cái gật đầu chào nhau. Họ như những người đang thiền. Có một chút khôi hài trong cách đặt tên truyện để giấu cái tâm trạng chán ngán cái cuộc sống mà con người trở nên hoàn toàn xa lạ với nhau. Những truyện ”Không đề” cũng là những truyện khôi hài che giấu bên dưới những nỗi thất vọng về giới cầm bút. Người ta tranh giải trong “Cái ao làng”, “viết dở thế mà sao họ cũng in nhỉ?”. “Năm nào mình cũng có thơ in trên báo văn nghệ của Hội địa phương mà vẫn không được kết nạp làm hội viên?”… Nhưng có lẽ ý nghĩa minh triết thể hiện rõ nhất trong việc tra hỏi ý nghĩa đời người.

Truyện 72 giờ sau khi chết của một người. Anh ta tự kiểm điểm rằng mình đã hoàn thành tốt đẹp một đời người. Mọi người cũng công nhận: Thế là sướng rồi! Anh học hành vào loại khá từ bậc tiểu học, trung học đến đại học.

Trở thành công chức mẫn cán, làm việc đúng ngành nghề được đào tạo. Cứ ba năm lên một bậc lương. Rồi cưới vợ, rồi có con, một trai một gái, đúng chỉ tiêu. Vợ là cô giáo dạy một trường khá nổi tiếng ở địa phương, là vợ đảm, mẹ hiền, dâu thảo. Cuối tuần, mọi người thấy vợ chồng con cái họ chở nhau trên hai chiếc xe máy đi ăn sáng ở đâu đó. Thỉnh thoảng cả nhà dẫn nhau đi siêu thị, đi nhà sách. Thế nhưng ngay sau 72 giờ chẳng còn ai nhắc đến anh nữa. Bởi vì cuộc đời anh chẳng có gì để nhắc, trừ chuyện anh bị chiếc xe tải nhỏ không chịu dừng đèn đỏ tông chết. Vâng, người đời chỉ nhắc đến những ai đã làm được những gì có ích cho cộng đồng.

Viết những truyện ngắn (khoảng trên dưới 1.000 chữ), nhà văn tự đặt mình vào trong nhiều cái khó. Phải là một truyện có cấu trúc hoàn chỉnh, phải gây được ấn tượng ngay từ đầu đối với người đọc, và phải chọn cách thể hiện thích hợp. Sẽ có rất ít chữ để miêu tả không gian, thời gian, và sự vận động tâm lý nhân vật. Và càng rất khó để miêu tả cho được số phận nhân vật chứa đựng tư tưởng – thẩm mỹ. Nhà văn Khôi Vũ đã kiến tạo những truyện ngắn như thế nào để đạt được những giá trị tư tưởng, nghệ thuật?

Mỗi truyện Ngắn của Khôi Vũ đều có một cái “tứ ” làm cốt lõi. Từ cái “tứ” này, Khôi Vũ tạo dựng không gian, thời gian, nhân vật và các tình huống. Cốt truyện là hoàn toàn sáng tạo. Nhà văn Khôi Vũ dùng chất liệu hiện thực đắp vào tứ truyện tạo hồn cốt câu truyện. Mỗi truyện đều bắt đầu bằng một tình huống dẫn vào đề, rồi triển khai những tình huống có vấn đề và kết thúc bằng một tình huống thể hiện cái nhìn nhân hậu. Chủ đề thường bật ra từ những tình huống bất ngờ ở cuối truyện. Thí dụ, truyện Nhận giải thưởng,chi tiết “dòng chữ họ tên được dát vàng của ông dưới dòng chữ “Giải A sáng tạo khoa học” bị bong ra khỏi vị trí của nó” làm hiển lộ chủ đề nằm ngoài văn bản.

Mẹ hay Ôsin là những câu chuyện thú vị. Nhưng thú vị nhất là nhà văn đã gợi mở những con đường tư tưởng vì “những con đường trong cuộc sống thì chẳng bao giờ có sẵn”(Huệ)…

BÙI CÔNG THUẤN

TRUYỆN TUỔI HOA CỦA NGUYỄN THÁI HẢI (KHÔI VŨ)

TRUYỆN TUỔI HOA CỦA NGUYỄN THÁI HẢI

 Bùi Công Thuấn

nth pic jpeg

 Truyện nhi đồng Tuổi Hoa phát hành ở Sài Gòn, số đầu tiên vào tháng 06-1962 và phát hành mỗi tháng 1 kỳ (nguyệt san). Sau 8 số thì đổi tên thành Tạp chí thiếu nhi Tuổi Hoa (nguyệt san). Từ số 36 trở đi phát hành ½ tháng một kỳ (Bán nguyệt san). Đến số 74 thì chính thức đổi tên thành Bán nguyệt san Tuổi Hoa. Những truyện dài đăng trên Bán nguyên san Tuổi Hoa được nhà xuất bản Tuổi Hoa in thành sách gọi là tủ sách Tuổi Hoa (1969). Tủ sách Tuổi Hoa gồm: Hoa Đỏ (trinh thám – phiêu lưu mạo hiểm), Hoa Xanh (tình cảm gia đình bè bạn), Hoa Tím (tình cảm nam nữ trong sáng tuổi mới lớn)[1].

Nhà văn Nguyễn Thái Hải xuất hiện trên Tuổi Hoa từ tháng 6/1968 với truyện ngắn nhi đồng “Nốt ruồi”. “Màu xanh học trò” (1969) là truyện thứ 12 và là truyện đầu tiên của Nguyễn Thái Hải được in liên tiếp 5 kỳ trên báo Tuổi Hoa. Nguyễn Thái Hải có 8 cuốn sách in trong tủ sách Tuổi Hoa và 50 truyện ngắn in 1 kỳ hoặc nhiều kỳ trên báo Tuổi Hoa.

Sau 1975, ông lấy bút danh Khôi Vũ khi viết cho người lớn. Đến nay (2018) ông đã in khoảng 60 tác phẩm thuộc đủ các thể loại. Riêng sách viết cho thiếu nhi, ông in 31 cuốn (tính đến năm 2019) [2].

Tháng 7.2017 NXB Phương Đông và Phương Nam Books đã tái bản 8 cuốn sách của tủ sách Tuổi Hoa trong đó có Chiếc lá thuộc bài của Nguyễn Thái Hải, điều ấy khẳng định giá trị sách của tác giả Nguyễn Thái Hải trẻ với bạn đọc hôm nay.

Tôi tự hỏi điều gì làm nên những giá trị những cuốn sách ấy sau gần 50 năm với bao biến đổi lớn lao của lịch sử và thời đại?

NHỮNG TRUYỆN HOA XANH

 Những truyện trong tủ sách Tuổi Hoa và truyện in trên báo Tuổi Hoa của Nguyễn Thái Hải hầu hết thuộc loại “Hoa xanh”, tức là những truyện viết về tình cảm gia đình, bè bạn, thầy cô. Những tình cảm ấy đến nay, dù cuộc sống đã thay đổi rất nhiều, nhất là trong giao lưu toàn cầu hóa, thì tình cảm cha con, mẹ con, bạn bè, thầy cô trong tâm thức Việt Nam vẫn nguyên vẹn. Và tác phẩm của Nguyễn Thái Hải đến nay vẫn còn giá trị chính là ở ngòi bút của nhà văn đã khắc tạc được những tình cảm có truyền thống dân tộc. Tuy hình thức sinh hoạt của ngày xưa ấy có khác hôm nay, nhưng những điều căn cốt nhất của tâm thức Việt vẫn nguyên vẹn trong tác phẩm của Nguyễn Thái Hải.

Màu xanh học trò là tình thầy trò thắm thiết của học trò lớp Lục 2 sau một năm học với những kỷ niệm không phai. Lớp Lục 2 được thầy Tuyên hướng dẫn học tập, chơi bóng đá, giải quyết nhưng bất hòa học trò các lớp. Khi đã xa học trò, thầy Tuyên viết cho các em: “các học trò của thầy ơi, các em có biết tuổi học trò của các em là đẹp và sung sướng nhất không?” 

Tiếng hát vành khuyên là sự ganh đua học tập và phát triển tài năng của các bạn lớp Tám. Đó là Vành Khuyên (Nguyễn Thị Hương Trầm) và Hạnh Trang. Hai cô bé do những hoàn cảnh riêng đã ganh đua trong cuộc thi “Tiếng hát Vành Khuyên” và danh hiệu “học sinh xuất sắc trong tháng”. Sau những hiểu lầm và căng thẳng quyết liệt, cuộc đua tranh có một kết quả tốt đẹp: thầy cô Ban giám khảo của trường đã trao giải nhất cho Trang và trao cúp danh hiệu Vành Khuyên mãi mãi cho Vành Khuyên. Tình bạn của hai cô học trò sau những thử thách quyết liệt đã trở nên thắm thiết hơn bao giờ.

Những dòng mực tím là những dòng yêu thương ấm áp tình thầy trò trong lá thư học trò gửi cho cô khi cô đã xa trường.  Đó là một ngôi trường ở một vùng hẻo lánh, nơi học sinh chỉ có thể học hết lớp Ba rồi nghỉ học, vì không có lớp trên.  Học trò kể lại những trò nghịch ngợm của bọn con trai với các bạn gái vì cô có vẻ bênh vực các bạn ấy. Chúng đoàn kết học tập và cũng “đoàn kết” bày trò hành hạ bọn con gái. Chúng bắt kiến bỏ hộc bàn buộc bọn con gái bỏ chỗ ngồi. Chúng đem chuột con vào lớp nhát bọn con gái, và đặc biệt là, “nghệ thuật” nói dối, chúng không chỉ nói dối bạn mà còn nói dối cả cô để lấy tiền. Khi cô đã đi xa, chúng hứa: “Nhất định chúng em phải chăm học để khỏi phụ lòng cô. Vì nhờ cô tình nguyện xuống vùng hẻo lánh này dạy chúng em năm lớp Nhì mà chúng em khỏi phải học trễ một năm”…Người thầy thời nào cũng dấn thân vì học sinh và được học sinh yêu mến là vì vậy.

Tuổi học trò còn quý giá ở tâm hồn ngây thơ trong sáng. Nguyễn Thái Hải miêu tả rất tinh tế và xúc động tuổi hồn nhiên ấy trong truyện Cô nhỏ Trúc quan âm. Cô nhỏ tiểu học ấy thích hoa. Cô đã xin hoa bên vườn nhà báo Dũng Tâm, báo Hồn Nhiên về trồng. Nhưng cô không biết rằng Trúc quan âm không thể trồng bằng nhánh mà phải trồng bằng củ, vì thế những cành trúc Quan Âm cô lén cắt đem về trồng luôn bị héo rũ. Nhà báo Dũng Tâm đã không trách cô bé ăn cắp hoa, mà còn coi cô như người bạn vong niên. Kết truyện, ngày 27 tết, trước khi về quê, nhà báo Dũng Tâm đã sang gia đình kế cận, tặng chủ nhân hai chậu bông duyên cúc đủ màu để chưng tết, và tặng cô học trò tiểu học giỏ trúc anh đã ươm mầm. Lúc này anh mới biết cô nhỏ tên là Trúc. Đây là tâm trạng của Dũng Tâm, và cũng là tiếng lòng yêu thương trẻ thơ của tác giả: “Tôi tưởng như mình nhỏ lại. Ơi! Ngày xưa ngây thơ sao đẹp quá. Cô nhỏ Trúc quan âm của tôi ơi, cô nhỏ có biết là tôi đang thèm được thơ ngây trồng trúc bằng cách cắm nhánh như cô nhỏ không?

Trong những nhân vật tuổi thơ, Nguyễn Thái Hải còn dành tình yêu thương đặc biệt cho những thân phận bất hạnh. Dung Chi (Truyện Hoa tầm gởi) là một nạn nhân chiến tranh. Cha mẹ em chết vì đạn lạc giao tranh. Từ trại tạm cư chiến tranh Chi được các sư cô nhận về trai cô nhi. Rồi em được một gia đình khá giả nhận làm con nuôi. Chi mơ ước một mái ấm gia đình, nhưng không ngờ nhiều người trong gia đình lại đố kỵ, Chi đã bỏ nhà đi và bị bọn xấu bắt cóc bán cho mụ Hai. Mụ cho Chi đi ở đợ để lấy tiền. Sau một năm ở đợ, Chi trốn thoát…

Lá tủi thân là tình cảnh của cô học sinh tên Lá. Nhà chỉ có hai cha con. Cha bị mù vì một tai nạn. Lá phải dẫn ba đi ăn xin. Ba đánh đàn, Lá hát. Một lần vô tình cô giáo Tiên gặp Lá ở bến xe. Lá vội vã dẫn cha về và nghỉ học những ngày sau đó. Cô giáo Tiên đã đến nhà thăm người cha mù và an ủi, chia sẻ động viên Lá đi học trở lại. Cô nói: Nghèo đâu phải xấu em. Biết giúp cha mẹ trong việc sinh nhai là quý lắm, sao em lại mắc cỡ”, “…Em biết giúp đỡ ba để kiếm sống là tốt lắm. Ai biết chuyện cũng phải khen em hết…”, “Ngày mai đi học nghe Lá,…”

Mùa sương mù là tình cảnh của Hòa, một đứa trẻ vô tình rơi vào tay người mẹ nuôi, mà người này cũng vì hoàn cảnh trở thành kẻ chăn dắt những đứa trẻ bị bắt cóc đem bán cho mụ. Mụ dạy chúng đánh giày, bán báo, bán bánh kẹo, móc túi… rồi xuất vốn cho chúng, thu về số tiền lời chúng kiếm được, thu tất cả. Quá trình người mẹ ruột đi tìm con hết sức gay cấn. Kết thúc truyện. Hòa tìm được mẹ ruột. Người mẹ nuôi hoàn lương và về ở chung với mẹ ruột của Hòa. Tình yêu thương đã hóa giải mọi hận thù. Mùa sương mù đã hết, nắng lên thật sớm và ấm.

Sài Gòn những năm 1970 đầy biến động. Tình hình xã hội cũng vô cùng xô bồ, phức tạp. Nhưng đọc những truyện của Nguyễn Thái Hải, người đọc thấy một thế giới trong veo, thanh khiết và hồn nhiên. Tôi nghĩ đó là một giá trị, cũng là bản lĩnh của một ngòi viết trẻ. Anh biết chọn cái đẹp của dân tộc để miêu tả, anh muốn đem tình yêu thương vào những hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh. Tình yêu thương của anh với trẻ chảy tràn trên trang văn, mà đến tận hôm nay, những trang văn vẫn tỏa hương sắc thơm ngát. Tất nhiên nền tảng của ngòi bút ấy là một lý tưởng đẹp, nhưng trong hoàn cảnh lịch sử của Sài Gòn lúc bấy giờ, anh không dễ gọi tên, bởi ở Sài Gòn lúc ấy, cuộc đấu tranh tư tưởng giữa nhiều khuynh hướng diễn ra rất quyết liệt. Nhà văn có ý thức về trách nhiệm ngòi bút của mình biết tìm con đường để đi. Con đường ấy, lý tưởng ấy, và khát vọng nữa, Nguyễn Thái Hải gửi trong hai truyện Nhóm lửaCon dốc cổng trường.

Các nhân vật trong Nhóm lửaCon dốc cổng trường không còn ở tuổi học trò tiểu học hay tuổi lớp Bảy, lớp Tám, mà là sinh viên đại học. Ngoài việc cố gắng học tập, làm việc, họ còn nỗ lực hoạt động xã hội. Họ tổ chức các buổi sinh hoạt cộng đồng với trẻ em xóm lao động, cùng mở lớp dạy tiểu học miễn phí cho học sinh nghèo, họ gửi gắm khát vọng: “dựng được một lớp học, nơi trau dồi khả năng, đồng thời, hướng tâm hồn học trò về một hướng đẹp: dân tộc! 

Tác giả trực tiếp thổ lộ: “Truyện này, tôi xin được làm một ánh lửa rất nhỏ, cùng góp vào ngọn lửa xây dựng mà những người trẻ đầy thiện chí trên khắp Việt Nam…” (Nhóm lửa)

Trong Con dốc cổng trường, tác giả đặt vấn đề: đối với sinh viên, lý tưởng hay tình yêu, tha nhân hay vị kỷ? Câu trả lời là, sinh viên phải có lý tưởng sống vì tha nhân. Tình yêu đến sau. Và chính tình yêu giúp cho hoạt động lý tưởng hăng say.

Dù những điều Nguyễn Thái Hải gửi trong tác phẩm chưa thực sự hướng về một lý tưởng xã hội cụ thể, nhưng những gì anh miêu tả đã phản ánh được chí hướng của một bộ phận thanh niên thành thị miền nam những năm 1970. Giữa những xô bồ của lối sống thực dụng, giữa những giao tranh không ngừng của các tư tưởng đối nghịch (chủ nghĩa Hiện sinh chẳng hạn), giữa cuộc chiến tranh ngày càng khốc liệt, giữa những tranh giành chính trị diễn ra liên tục, miền nam lâm vào bế tắc và hoang mang tột độ. Không khí bi quan bao trùm. Không phải người trẻ miền nam nào cũng tìm được lối thoát cho mình. Lúc ấy Nguyễn Thái Hải cũng đang là sinh viên, anh viết về sinh viên, những người trẻ biết hướng về dân tộc, biết nhìn ra một dân tộc đẹp và hùng mạnh, biết dấn thân phục vụ đồng bào, sống vì tha nhân. Như thế, ngay từ những tác phẩm đầu đời, ngòi bút Nguyễn Thái Hải đã định hình những phẩm chất tốt đẹp, và nhờ thế tác phẩm của anh có khả năng vượt qua thời gian, gặp gỡ những tâm hồn trẻ thơ và đọng trong tâm thức bạn đọc những tình tự dân tộc.

KHAI PHÁ MỘT CON ĐƯỜNG NGHỆ THUẬT

Truyện Tuổi Hoa là truyện viết cho tuổi học trò nhưng Nguyễn Thái Hải đã không ngừng thể nghiệm ngòi bút của mình ở nhiều mặt kiến tạo tác phẩm. Có một nỗ lực rất rõ là anh cố gắng tiếp cận cho được đối tượng nhân vật của mình, nói tiếng nói của nhân vật, suy nghĩ bằng suy nghĩ của nhân vật. Sự đa dạng của nhân vật cũng là sự đa dạng của cách viết. Làm sao viết thật hồn nhiên như cô bé tiểu học cắt trộm trúc quan âm (Cô nhỏ trúc quan âm), làm sao viết thật tinh nghịch nhưng lại đáng yêu như các cậu trai lớp Nhì (Những dòng mực tím), làm sao hòa mình vào được Xóm nhỏ với cảnh sống chật chội, tối tăm, thiếu thốn và mưa lũ gây ra bao tai họa, không thể không lên tiếng. Tôi ngạc nhiên khi người sinh viên Nguyễn Thái Hải trẻ tuổi lại có thể lăn vào cuộc sống của các cháu cô nhi (Hoa tầm gửi), những nạn nhân chiến tranh, những đứa bé bị bắt cóc và bán đi (Mùa sương mù), để chia sẻ và dẫn chúng đi về phía yêu thương và ánh sáng.

Nhiều truyện nhân vật chính là nhân tự kể câu chuyện đời mình, nhờ thế sự việc được nhìn từ bên trong, từ góc tiếp cận khả tín (Tiếng hát Vành Khuyên, Xóm nhỏ, Mùa sương mù,..). Con dốc cổng trường như một lời độc thoại, lời đối thoại trong tâm tưởng hay một lá thư tự tình kể truyện, mỗi chương viết cho một nhân vật thân yêu. Mỗi chương như biệt lập song lại tạo nên một cốt truyện chặt chẽ, hấp dẫn. Trái lại, trong truyện Nhóm lửa, mỗi chương là lời kể của một nhân vật. Ngôi kể, góc trần thuật thay đổi liên tục, tạo nên một lối kể truyện rất lạ. Mùa sương mù là truyện có nhiều tình huống như phim trinh thám. Lối viết này Nguyễn Thái Hải còn sử dụng mãi về sau, thí dụ Ai cướp chiếc laptop (2013).

Một trong những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của truyện Tuổi Hoa của Nguyễn Thái Hải là kết nối những mạch truyện phức tạp, sáng tạo những tình huống bất ngờ, đặc biệt là tình huống kết truyện, vừa hóa giải các mâu thuẫn, cởi các nút thắt truyện, vừa tỏa sáng chủ đề, tư tưởng; tạo nên niềm vui, niềm hạnh phúc cho người đọc. Mùa sương mù, Chiếc lá thuộc bài, Hoa tầm gửi, Con dốc cổng trường, Tiếng hát Vành Khuyên… là những truyện đầy sáng tạo như thế.

Dù vậy đôi khi Nguyễn Thái Hải không tránh được những giới hạn, Hoa tầm gởi có những tình huống chưa thật thuyết phục. Trong truyện Ngoài cửa sổ, tác giả trực tiếp hiện diện để nêu chủ đề: “Đó là tất cả những chuyện xảy ra cho Túy Đoan. Thật ra, sự xuất hiện của những người trong gia đình ông Tư trong khung cảnh gia đình Túy Đoan, sự ra đi của họ, chuyện Túy Đoan gặp lại chị Hiền, chuyện Túy Đoan bỏ dở buổi tiệc để đi tặng quà cho người thiếu nữ mà cô bé thương mến, tất cả chỉ là những chuyện rất tầm thường. Nhưng có một điều không tầm thường. Đó là sự nhận thức của ba má cô bé về tình thương mà ông bà đã dành cho cô bé trước kia. Đó là sự trỗi dậy của một tình thương từ đáy tâm hồn một bậc cha mẹ đã một thời gian để vật chất làm thành tấm lưới bít kín./ Ước mong sao những cô bé gặp hoàn cảnh như Túy Đoan sẽ không còn những lúc ngồi buồn nhìn qua cửa sổ…”.Trong Mùa sương mù, giọng trần thuật của nhân vật tôi (đứa trẻ 15 tuổi) lại quá già dặn, và người mẹ nuôi, một mụ chăn dắt những đứa trẻ bị bắt cóc lại được miêu tả lương thiện. Những truyện viết về hoạt động của sinh viên (Nhóm lửa, Con dốc cổng trường) không được đặt trong bối cảnh xã hội cụ thể của miền Nam lúc bấy giờ. Tất nhiên điều này không ảnh hưởng gì đến nội dung và chủ đề câu truyện.

Năm 2017 NXB Phương Đông và Phương Nam Books tái bản Chiếc lá thuộc bài. Sự việc vừa là một niềm vui, những cũng gây ra những tổn thương cho tác giả. Những độc giả lớp những năm 60, 70 thì muốn giữ nguyên ấn bản đã in 1970, và nhà xuất bản lại in bản đã sửa chữa 1993. Cả hai cùng xuất phát từ góc nhìn của người tiếp cận. R. Barthes nói rằng “tác giả đã chết” phần nào có nguyên do, bởi vì khi một tác phẩm đã được công bố, nó thuộc về người đọc. Tác giả không thể thay đổi tác phẩm. Nhưng xin lưu ý rằng, trong trường hợp của Chiếc lá thuộc bài là ý kiến khác nhau của hai thế hệ người đọc: người đọc trước 1975 ở miền Nam và người đọc hôm nay (2017 mà nhà xuất bản là đại diện), cho nên khi nhà xuất bản in bản 1993 là đáp ứng đối tượng người đọc hôm nay. Đại diện Phương Nam Books nói: “Cái hay của tác phẩm là nội dung, các nhân vật chỉ là hư cấu. Tác giả chỉ thay đổi nghề nghiệp của nhân vật cho phù hợp và nội dung tác phẩm không hề thay đổi. Tại sao chúng ta cứ phải làm cho vấn đề trở nên nặng nề. Thiết nghĩ nên hoan nghênh tác phẩm đã được cấp phép xuất bản và phát hành một cách hợp pháp.”[3].

Tôi lại nghĩ, từ khi Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du xuất hiện đến nay, đã có không biết bao nhiêu lần in, bao nhiêu lần sửa chữa, nhưng tất cả chỉ là phục dựng từ ngữ. còn cốt truyện, tình huống, nghệ thuật truyện thơ vẫn được giữ nguyên, và vì thế dù sử dụng bản Kiều nào, người đọc vẫn tiếp cận được tác phẩm gốc của Nguyễn Du. Ý kiến của nhà xuất bản khi in Chiếc lá thuộc bài năm 1993 là chấp nhận được. Nói như thế để thấy rằng tác giả rất khó tránh những giới hạn mà bối cảnh lịch sử quy định.

CON ĐƯỜNG CỦA MỘT NHÀ VĂN

2 bct-khoivu1

(Nhà văn Khội Vũ-Nguyễn Thái Hải đọc thơ trong đêm nhạc BCT 1998)

          Đến nay, Nguyễn Thái Hải-Khôi Vũ đã thuộc lớp nhà văn “xưa nay hiếm”, bởi số lượng tác phẩm của ông thật đồ sộ, bút lực của ông thật dồi dào, năng lực sáng tạo của ông không vơi cạn. Con đường nghệ thuật của ông có nhiều thành tựu ở nhiều thể loại và nhiều kiểu bút pháp. Trước khi bước vào tuổi 70 (năm 2020), nhà văn còn đang ấp ủ những bộ tiểu thuyết lớn về hiện thực miền nam từ 1954 đến nay.

Có lẽ trước 1975 Nguyễn Thái Hải không thể hình dung được đến năm 2020 mình sẽ viết được những gì. Nhưng tôi tin rằng sự chọn lựa con đường của nhà văn Nguyễn Thái Hải ngay từ đầu đã có những yếu tố của sự thành công về sau. Đó là kiểu truyện có nhiều tình huống bất ngờ, có cấu trúc biến hóa. Đó là tư tưởng nhân văn xuyên suốt trong hành trình sáng tạo. Nhà văn yêu mến và gắn bó với người lao động, hòa mình với thế giới của trẻ và luôn suy nghĩ dưới ánh sáng của cái đẹp và lẽ thiện.

Nguyễn Thái Hải-Khôi vũ viết cẩn trọng và có ý thức sâu sắc về trách nhiệm ngòi viết. Thái độ diễn ngôn rất khôn ngoan. Ông lên tiếng trực diện về những vấn đề của thời đại. Ông cũng nỗ lực đóng góp những giá trị tốt đẹp cho văn chương, góp phần xây dựng văn hóa cộng đồng. Nguyễn Thái Hải viết: “…Để mãi mãi, tình thương ươm mầm nuôi mạch sống…. Tôi cầu chúc cho những trang văn của ông trở thành vườn ươm yêu thương cho cuộc đời này.

Tháng 12. 2018

________________________

[1] https://sites.google.com/site/tusachtuoihoa/ban-nguyet-san

[2] Sách thiếu nhi của Nguyễn Thái Hải

  1. 1. Hoa tầm gởi (Truyện vừa-1970), 2. Chiếc lá thuộc bài(Truyện vừa-1971), 3. Ngoài cửa sổ(Truyện vừa -1971), 4. Mùa sương mù (Truyện vừa -1971), 5. Tiếng hát vành khuyên (Truyện vừa -1972), 6. Xóm nhỏ (Truyện vừa -1972), 7. Nhóm lửa (Truyện vừa -1973), 8. Con dốc cổng trường (Truyện vừa -1975), 9. Bên bóng Thái sơn (Truyện vừa –1989), 10. Thằng đầu bò (Tập truyện ngắn–1989), 11. Ba chàng thám tử (Truyện vừa–1992), 12. Cha con ông Mắt Mèo (Truyện vừa–1993), 13. Những trái sao xoay (Truyện vừa–1993, 14. Những ông tướng nhà trời (Truyện vừa–2002), 15. Chú bé phiêu lưu (Tập truyện ngắn–2002), 16. Thằng heo sữa (Truyện vừa–2003), 17. Cánh chuồn kim biếc (Truyện dài 3 tập–2004), 18. Cây trứng cá gãy ngọn (Truyện vừa – 2006), 19. Sao chim không hót (Tập truyện -2011), 20. Mơ làm thủ lĩnh (Truyện vừa – 2011), 21. Một ngày hè ở biển (Tập truyện -2012)…22. Ai cướp chiếc laptop? (Tập truyện), 23. Khu vườn hạnh phúc (Truyện đồng thoại), 24.Hai con diều bay thấp (Tập truyện), 25. Những sợi tóc sâu của mẹ (Tập truyện), 26. Lớp học làng rừng (Truyện đồng thoại), 27. Mèo con đã lớn lên như thế (Truyện đồng thoại), 28. Vụ án ba trái xoài (Tập truyện), 29. Bầy nai tung tăng trên đồng cỏ (Bộ truyện thiếu nhi 4 tập).  (Đang in 2019) 30. Thám tử học trò (Bộ truyện thiếu nhi 3 tập), 31. Khí phách Biên Hùng (Truyện lịch sử)

Hiện nhà văn Nguyễn Thái Hải đang chuẩn bị in một tập truyện ngắn chọn khoảng 18 – 20 trong 50 truyện đã in trên báo Tuổi Hoa, in thành tập MỘT THUỞ TUỔI HOA. Dự kiến in năm 2019 hoặc 2020 (Nhân tác giả tròn 70 tuổi).

[3] https://motthegioi.vn/van-hoa-giai-tri-c-80/van-hoc-nghe-thuat-c-129/nha-sach-len-tieng-khi-tu-sach-tuoi-hoa-vua-tai-ban-da-gay-tranh-cai-67150.html

 

 

VĂN CHƯƠNG 2018-LẶNG LẼ ƯƠM MẦM

 

 

 

VĂN CHƯƠNG 2018 – LẶNG LẼ ƯƠM MẦM

Bùi Công Thuấn

VC 2018 nhãn

Năm 2018 thế giới đầy biến động, đời sống chính trị xã hội Việt Nam cũng đầy những“sự kiện lịch sử”, nhưng văn chương Việt Nam vẫn “lặng lẽ”, “lặng lẽ” như nhiều năm qua (ít nhất là từ 2015 đến nay) và có lẽ sẽ còn “lặng lẽ” nhiều năm nữa…

(xin ghi nhận một vài thông tin, ở góc nhìn cá nhân, không tránh được phiến diện và thiếu sót)

LẶNG LẼ ƯƠM MẦM

Khi Hội Nhà văn Hà Nội trao giải năm 2018, chỉ nhà văn Nguyễn Xuân Khánh được tôn vinh ở hạng mục thành tựu trọn đời, không có giải thơ và văn xuôi. Có ý kiến cho rằng năm 2018 mất mùa giải thưởng văn học.

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933 tại Hà Nội. Ông nổi tiếng với nhiều tác phẩm như: Rừng sâu, Miền hoang tưởng, Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Hai đứa trẻ và con chó Mèo xóm núi, Mưa quê…Ông cũng từng nhận nhiều giải thưởng. Tiểu thuyêt Hồ Quý Ly   được 3 giải: Giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam 1998-2000, Giải thưởng Thăng Long của UBND Thành phố Hà Nội 2002, Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2001. Năm 2006 tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của ông cũng được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội. Năm 2018, tiểu thuyết Chuyện ngõ nghèo của Nguyễn Xuân Khánh cũng đạt giải Sách Hay, hạng mục Tác phẩm văn học.

Những thành tựu văn chương của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh có thể gợi ra nhiều suy nghĩ về con đường sáng tác của người cầm bút.

Trong Hội nghị tổng kết công tác văn học 2018 ngày 14.12.2018 tại Hà Nội, Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà Văn đã đánh giá: “Nhìn chung bức tranh văn học 2018 phát triển toàn diện”. Tác giả Tuyên Hóa trên vanvn.net tường thuật: “năm 2018 văn học Việt Nam tiếp tục có những nét khởi sắc đáng mừng; đời sống văn học cởi mở, dân chủ hơn, có nhiều tác phẩm được công bố, trong đó tính dự báo của văn học có nhiều dấu hiệu đáng mừng. Các lĩnh vực: Văn xuôi, thơ, văn học dịch, lý luận-phê bình văn học… đều có bước phát triển rõ rệt; đặc biệt là chất lượng và số lượng của các sáng tác trẻ ở văn xuôi và sự “nở rộ” của trường ca trong lĩnh vực thơ. Thực tiễn sáng tác cho thấy sự gắn bó giữa nhà văn với đất nước, dân tộc, nhân dân được thể hiện rõ hơn, trách nhiệm hơn.”[1]

Ngày 19-12 ở Hà Nội, trong Hội thảo khoa học toàn quốc do Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương tổ chức với chủ đề “Nhìn lại quá trình xã hội hóa các hoạt động văn học, nghệ thuật ở Việt Nam từ khi ban hành chủ trương đến nay”, nhà thơ Hữu Thỉnh phát biểu: “Xã hội hóa với văn nghệ sĩ là tài năng được thừa nhận, tác phẩm được thừa nhận, tạo được tiếng vang với công chúng và có sức sống lâu dài. Xã hội hóa làm ra cả nghìn CLB thơ, nhưng tôi đọc thì không có bài thơ nào hay, có sức sống lâu dài. NXB Hội nhà văn có 1125 đầu sách được phát hành trong 1 năm nhưng chất lượng thì như thế nào? Chúng ta có cả một vườn sản phẩm được gọi là văn hóa nhưng thực chất văn hóa được bao nhiêu? Tôi hoan nghênh xã hội hóa nhưng không thể vì vài đồng tiền mà quên đi giá trị tác phẩm. Tác phẩm phải đi vào lòng người, đấy mới là xã hội hóa cao nhất”[2]

Hai ý kiến có vẻ trái ngược nhau của nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cho người đọc thông tin gì về tình hình văn học 2018?

Người đọc có thể hiểu rằng, văn học vẫn phát triển ở bề rộng các hoạt động phong trào và sáng tác (tổ chức trại sáng tác, tổ chức hội thảo, tổ chức kỷ niệm 100 năm các nhà thơ nhà văn…), song không có những tác phẩm nổi trội, sâu sắc về nội dung, tư tưởng và mới mẻ về nghệ thuật thể hiện. Thí dụ, nhà thơ Hữu Thỉnh cho biết, riêng nhà xuất bản Hội nhà văn có 1125 đầu sách được phát hành trong 1 năm. Ở giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam 2018, có tới 30 cuốn sách lý luận phê bình in năm 2018 tham dự xét giải. Đó là một con số đáng kinh ngạc.

Trong những cuốn sách Lý luận phê bình dự xét giải thưởng Hội Nhà Văn 2018, có nhiều cuốn được chú ý:  Bí mật tuổi trăng non (Thanh Tâm Nguyễn), Thăng hoa sáng tạo thẩm mỹ tiếp nhận văn chương (Nguyễn Ngọc Thiện), Văn học Nga hiện đại những vấn đề lý thuyết và lịch sử (Trần Thị Phương Phương), Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam (Luận án Tiến sĩ của Huỳnh Thu Hậu), Phê bình ký hiệu học (Lã Nguyên), Phê bình văn học và ý thức cái khác (Hoàng Thụy Anh)…Tôi cũng đặc biệt chú ý cuốn Phê bình văn học thế kỷ XX của Thụy Khuê (Nhã Nam in quý I. 2018). Cuốn này không tham gia xét giải của Hội Nhà Văn Việt Nam 2018. Chắc chắn rằng những cuốn sách tôi nêu ở trên có những đóng góp nhất định cho lý luận phê bình văn học Việt Nam, không phải chỉ trong năm 2018, mà còn có ích cho nhiều người nghiên cứu văn học sau này.

Dẫu vậy, đây đó cũng có những vấn đề người đọc thấy những cuốn sách ấy chưa thật hoàn thiện như mong đợi. Tôi xin dẫn hai thí dụ:

Bí mật tuổi trăng non của Thanh Tâm Nguyễn là một chuyên luận viết về văn học thiếu nhi. Phạm vi khảo sát của tác giả là các tác phẩm từ đầu thế kỷ XX đến 2018. Tác giả ghi rõ “Phê bình văn học dành cho lứa tuổi 13+”. Thanh Tâm Nguyễn có cách viết trẻ trung, ngôn ngữ khá mới lạ, vận dụng nhiều lý thuyết văn học như Thi pháp học, Tự sự học, phân tâm học, Tâm lý học, lý thuyết tiếp nhận về “tầm đón đợi”… để xem xét vấn đề. Quả là một chuyên luận rất đáng được mong đợi. Bởi chưa có chuyên luận nào nghiên cứu văn chương thiếu nhi bao quát một diện rộng như thế.

Nhưng đọc chuyên luận, tôi thấy nghi ngại và cảm thấy chưa thuyết phục. Sách viết “dành cho lứa tuổi 13+”, nhưng tuổi 13+ không thể đọc được cuốn sách dày đặc lý thuyết này. Vấn đề là, ngay từ viên đá đầu tiên xây dựng chuyên luận, “Thế nào là văn học thiếu nhi?”, tác giả đã không xác định được đúng đối tượng nên mới đưa Vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng và Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư vào khảo sát. Có lẽ tác giả nên hỏi xem hai nhà văn này có viết tác phẩm của họ cho thiếu nhi không?

Về phạm vi khảo sát, tác giả minh định rõ “Tôi giới hạn phạm vi khảo sát ở những tác phẩm thuộc thể loại văn xuôi ra đời từ đầu thế kỷ XX đến nay (2018)” (tr.11), vậy mà khi triển khai nghiên cứu, tác giả bỏ sót nhà văn Nguyễn Thái Hải. Nguyễn Thái Hải xuất hiện ở Sài Gòn 1969. Đến nay (2018), ông đã viết 31 tác phẩm văn học dành cho thiêu nhi. Ông đã từng đạt giải thưởng của Hội Nhà văn. Chuyên luận chỉ nhắc tên ông hai lần (lần thứ nhất ghi sai là Nguyễn Thác Hải-tr.29), và chỉ nhắc tên một cuốn sách của ông: Con dốc cổng trường. Nghĩa là chuyên luận chưa bao quát đủ đối tượng khảo sát.

Về nội dung, có sự sự bất nhất khi triển khai đề tài. Tác giả xác lập rõ nội dung chuyên luận viết về: ”xúc cảm giới tính chứ không phải là tình yêu đôi lứa” (tr. 12), nhưng trong suốt chuyên luận lại tập chú vào “chuyện tình trẻ con”, và đặt vấn đề “giáo dục giới tính cho trẻ”. Có lẽ còn cần nhiều thời gian nữa thì trình độ nghiên cứu của Thanh Tâm Nguyễn mới đạt độ chín?

Tôi đã đọc Phê Bình Ký hiệu học của Lã Nguyên (Nxb Phụ nữ 2018) [3] và kỳ vọng đôi điều. Trong Lời bạt, GS Trần Đình Sử nhận định rằng: Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định Ký hiệu học sẽ là khuynh hướng của phê bình văn học thế kỷ XXI…”(tr.404); “Bằng những bài nghiên cứu táo bạo, công phu, Lã Nguyên đã trình làng một hướng phê bình mới, phê bình Ký hiệu học. Chúng tôi vui mừng tin tưởng rằng khuynh hướng này sẽ nhanh chóng được bắt rễ, lan tỏa trong nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam…”(tr.405).

Nhưng tôi thất vọng, bởi đây không phải là một chuyên luận được viết với một nội dung và cấu trúc thống nhất nghiên cứu và áp dụng Ký Hiệu học vào phê bình văn học, mà chỉ là tập họp các bài tác giả viết rải rác và sắp xếp lộn xộn từ năm 1987 (Mấy cách tân nghệ thuật của truyện ngắn Nam cao) đến 2015 (Tôi đọc Miền Hoang của Sương Nguyệt Minh). Chính tác giả cũng đưa ra tự đánh giá: Dĩ nhiên, đi theo con đường ấy, mọi nhận xét, kết luận trong cuốn sách về loại hình diễn ngôn và ngôn ngữ nghệ thuật chỉ có thể được đưa ra dưới dạng những giả định khoa học với hi vọng tìm được sự đồng thuận của bạn đọc.(tr.10).

Theo tôi, phê bình Cấu trúc luận (structuralism) và Giải cấu trúc (Deconstruction)  mới có khả năng đọc tác phẩm đương đại. Ký hiệu ngôn ngữ chỉ là vỏ hình thức, nghĩa của những ký hiệu ấy đã được xác định trong tự điển. Cấu trúc mới tạo nên tác phẩm, và nghĩa của tác phẩm là nghĩa do cấu trúc tạo nên. Diễn giải là vô tận bởi ý nghĩa tác phẩm còn là do “cộng đồng diễn giải”(Stanley Fish) gán cho, cũng là “tầm kỳ vọng” (Hans Robert Jauss ) của người đọc.

GS Trần Đình Sử đã nhận xét rất đúng rằng “Phê bình Ký hiệu học của Lã Nguyên là sự mở rộng của Thi pháp học…Lã Nguyên chỉ đặt lại trên bình diện khác”(tr.403). Có nhận xét như vậy vì, thí dụ, GS Trần Đình Sử đã viết Thi pháp thơ Tố Hữu, và Lã Nguyên viết lại về thơ Tố Hữu, nhưng xoay sở ở một góc khác của chữ với tư cách là ký hiệu. Lã Nguyên cho rằng: “Tố Hữu là nhà thơ Việt Nam đầu tiên đã chọn truyền thuyết làm chiến lược diễn ngôn cho văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa”, nhưng Lã Nguyên lại không giới thuyết “truyền thuyết” là gì, mà chỉ mặc định: “Mục đích giao tiếp của truyền thuyết là truyền đạt những tri thức khả tín (bất kiểm chứng)”(tr.189) Ô hay  nhỉ, “khả tín” nhưng lại “bất kiểm chứng”! Chẳng lẽ Lã Nguyên dẫn người đọc vào con đường mù quáng hay sao?. Tôi nghĩ nhận xét ấy đúng là một “giả định” hàm hồ khó đồng thuận. Bởi đọc xong bài Lã Nguyên viết rất dài về thơ Tố Hữu, tôi không thấy có một khẳng định nào về giá trị thơ Tố Hữu, rằng bài thơ nào của Tố Hữu là bài thơ hay, để có thể đối thoại được với những ý kiến đặt ra về thơ Tố Hữu? thí dụ, ý kiến của Trần Dần 1955?[4]

Viết về Nguyễn Tuân, Lã Nguyên khẳng định rằng: ”Mọi sáng tác của ông đều được kiến tạo theo cấu trúc tùy bút, ngay cả khi nó là tác phẩm truyện” (tr.170), hình như điều này đã được nói đến từ lâu lắm rồi. Thế có nghĩa Lã Nguyễn chỉ nói lại những điều đã cũ, dù ông đã xoay vần đủ trò những con chữ của Nguyên Tuân. Lã Nguyên đã bỏ qua hoàn cảnh sống và cá tính con người Nguyễn Tuân, đã siêu hình hóa Nguyễn Tuân trước và sau cách mạng tháng Tám 1945. Điều ấy làm cho phê bình ký hiệu học trở nên “khả tín nhưng bất kiểm chứng” là vậy!

Một thí dụ khác, Lã Nguyên cho rằng “Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn của những câu chuyện về cái vô nghĩa của thế sự nhân sinh, thì Phạm Thị Hoài là cây bút của những bức tranh về một nhân loại vô hồn.(tr.331), và cho rằng hai nhà văn này thấm đẫm “tâm trạng hoài nghi tồn tại”, và đó là “cảm quan hậu hiện đại” (tr.337), từ đó cho rằng văn chương Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài có dấu hiệu Hậu hiện đại. Tôi nghĩ rằng Lã Nguyên nên đọc lại Jean-François Lyotard khi vận dụng cái gọi là “tâm thức hậu hiện đại”.

Xét đến cùng, Phê bình Thi pháp học, phê bình Ký hiệu học cũng chỉ là phương pháp công cụ, nghiêng về nghiên cứu vỏ chữ của tác phẩm. Vấn đề là nhà phê bình biết dùng công cụ nào (trong các phương pháp phê bình) thích hợp để có thể khám phá được chân lý của vấn đề. Dùng Thi pháp học, Ký hiệu học để chẻ sợi tóc ngôn ngữ làm tư, làm tám, thì mãi mãi cũng không thể tìm thấy giá trị của văn chương. Tuyệt đối hóa một công cụ không phải là giải pháp khoa học.

Tôi dẫn 2 cuốn sách đáng quan tâm để thấy rằng năm 2018 nhận định của nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam dù là một cách diễn ngôn có ý nghĩa chính trị, song không phải là không khả tín: “Nhìn chung bức tranh văn học 2018 phát triển toàn diện”; “Chúng ta có cả một vườn sản phẩm được gọi là văn hóa nhưng thực chất văn hóa được bao nhiêu?

VẪN CHƯA HẾT CHUYỆN LÙM XÙM 

Chuyện lùm xùm là ở Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh sau khi công bố kết quả Giải thuởng Văn học năm 2017.

Ngày 18-1-2018, Ban Chấp hành Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh đã họp đột xuất để xem xét xử lý vụ việc phát sinh.  Hội đồng chung khảo nhận sai sót khi xét giải hai tác phẩm: Thơ trắng và Nghi lễ của ánh sáng mà không thông qua Hội đồng Thơ (mặc dù sau đó có họp lại với Hội đồng Thơ). Về nghi án đạo thơ, bài thơ Khúc dịu dàng nắng gió cao nguyên (không có trong tập Những ký âm ngân) của Nguyễn Thị Thanh Long có nhiều câu thơ, đoạn thơ giống hệt bài Khúc thiếu phụ của Thy Minh. Ban Chấp hành kết luận: Đây là việc làm sai trái, nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Long cần rút kinh nghiệm nghiêm khắc. Ban Chấp hành chấp thuận đơn xin rút khỏi tặng thưởng của 2 tác giả: La Mai Thi Gia và Nguyễn Thị Thanh Long.

Hóa ra cả Nguyễn Thị Thanh Long và Thy Minh đều sử dụng bài thơ “Người đàn bà thơ” của nhà thơ Nguyễn Vĩnh, hội viên hội Liên hiệp VHNT tỉnh Phú Thọ. Ông đã tặng bản quyền “toàn quyền sử dụng” bài thơ cho cả hai người! Và hai “nhà thơ” Nguyễn Thị Thanh Long và Thy Minh đã chiếm làm thơ của mình [5]. Thật đáng buồn khi một hội văn chương lại dung nạp những cây bút kém cỏi cả về tài năng và nhân cách như vậy. Bởi nhà văn là người đại diện cho trí tuệ, tài năng và nhân cách.

Vào đầu tháng 4. 2018, nhà thơ Phan Hoàng, Phó chủ tịch thường trực Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh khóa 7 (2015 – 2020), Chủ tịch Hội đồng Thơ, đã viết trên trang Facebook cá nhân, bài “Ngộ độc thơ”. Bài viết bị cộng đống mạng phản ứng dữ dội. Họ cho rằng nhà thơ Phan Hoàng đã xúc phạm những người làm thơ trên Facebook. Ngày 23/4/2018, Ban Chấp hành Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh đã có cuộc họp khẩn và ra quyết định đồng ý để ông Phan Hoàng từ nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng Thơ, và rút khỏi Hội đồng Thơ. Ông Phan Hoàng cũng nhận ra sai sót đồng thời có lời xin lỗi cộng đồng mạng. Tôi nghĩ, coi thường công chúng thì nhất định sẽ bị trừng phạt! Bởi vì “sự nghiệp cách mạng là của quần chúng”.

Trong số 50 báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) ra ngày 16-12-2017, ban Biên tập đã cho đăng truyện ngắn Bắt đầu và kết thúc của tác giả Trần Quỳnh Nga. Sau khi báo phát hành, có nhiều ý kiến bình luận gay gắt về nội dung truyện ngắn này. Ngày 19-01-2018, Ban Sáng tác Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức một buổi thảo luận để lắng nghe ý kiến của các nhà văn, nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học về truyện ngắn này. Buổi thảo luận Có sự hiện diện của GS-TS Trần Đình Sử, PGS-TS Trịnh Bá Đĩnh, nhà văn Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Văn Thọ, Lê Minh Khuê, Văn Chinh, Trần Bảo Hưng, Khuất Quang Thụy, cùng các Ủy viên Ban Chấp hành: nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều PCT, nhà thơ Trần Đăng Khoa, PCT, trưởng Ban sáng tác…

Đây là ý kiến của nhà văn Hoàng Quốc Hải: Một người tiếp tay cho giặc, làm nguy thế nước như vậy, sao lại gọi là có công được.Trên thực tế vấn đề nhân vật lịch sử Trần Ích Tắc đã được lịch sử liệt hạng phản quốc một cách ổn định, không còn gì ẩn khuất mà phải giải mã. Cũng không có ai tôn vinh nhân vật này hoặc đưa y vào điện thần mà phải giải thiêng, giải ảo. Vậy tại sao truyện lại viết Trần Ích Tắc như một người có công với nước vậy?”[6]

Đây là “Lời cáo lỗi” của báo Văn nghệ: “Ban Biên tập báo Văn nghệ đã tiếp thu ý kiến của cuộc thảo luận một cách cầu thị, chân thành và nhận thấy rằng: Việc cho in truyện ngắn này là một khuyết điểm gây ra những bất lợi về nhiều mặt. Nguyên nhân chủ yếu của sự cố đáng tiếc này là do nhận thức và trình độ của biên tập viên còn bất cập, cách làm việc vội vã, cân nhắc thiếu thận trọng, thiếu nhạy bén, để lại những hậu quả ngoài mong muốn. Sự phê bình, nhắc nhở của dư luận là cần thiết không những cho công tác biên tập mà cả cho tác giả. Chúng tôi sẽ nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm tập thể, cá nhân và xem xét lại quy trình làm báo để tránh những sai sót đáng tiếc lặp lại trong tương lai… Thay mặt Ban Biên tập, Tổng Biên tập báo Văn nghệ xin chân thành xin lỗi bạn đọc vì đã cho in truyện ngắn này và xin hứa nâng cao hơn nữa trách nhiệm của mình, tập trung mọi cố gắng nâng cao chất lượng của tờ báo, phục vụ bạn đọc ngày càng tốt hơn.”[7] Tôi nghĩ việc xử lý như vậy là phải lẽ.

Tiểu thuyết lịch sử Chim ưng và chàng đan sọt của Bùi Việt Sỹ, tác phẩm đoạt giải C Sách hay giải thưởng Sách quốc gia bị mạng xã hội chê là có nhiều chi tiết tả cảnh sex của nhân vật Trần Khánh Dư khá thô tục. Nhà văn Bùi Việt Sỹ, 72 tuổi thì cho rằng: “Có một chiến dịch bôi nhọ tôi vì tôi được giải. Tôi được giải của Hội Nhà văn, giờ lại còn được giải thưởng sách quốc gia nữa nên nó mới đánh”. Nhà văn Nguyễn Phan Hách, trưởng tiểu ban sách văn học thuộc hội đồng giám khảo Giải thưởng sách hay quốc gia 2018 bày tỏ: “Tôi biết có những ý kiến nói rằng sách có trang tả sex thô tục của Trần Khánh Dư. Nhưng ông Trần Khánh Dư ngoài đời cũng rất phóng túng, không theo khuôn phép. Nếu văn học mà khuôn phép quá, xét nét quá thì sẽ tự ràng buộc mình, khiến tiểu thuyết không còn hấp dẫn, sinh động. Tuy nhiên đúng là dù ông Trần Khánh Dư có phóng túng đến đâu, nhưng viết về các anh hùng lịch sử mà có những chi tiết sex quá cũng không thích hợp. Dù vậy cũng không nên vì những chi tiết đó mà ảnh hưởng đến toàn cuốn sách”; Bây giờ sự việc đã xảy ra, tôi thấy rất khó nói, nếu bênh vực thì không được, còn nếu nói không có vấn đề gì thì vô trách nhiệm… Cuốn sách này không có chi tiết nào sai chính trị cả. Những chi tiết sex này phải chăng có thể bỏ quá được không?[8]

Đã có quá nhiều sách văn học miêu tả “sex bẩn”(miêu tả sex bản năng nhằm mục đích khiêu dâm) trên văn chương thị trường bị công chúng phản đối quyết liệt. Phải chăng nhà văn miêu tả sex bẩn là để cầu danh? Và nếu có chút danh, thì cũng là “danh bẩn”. Không thể nói như ông Nguyễn Phan Hách rằng: “Cuốn sách này không có chi tiết nào sai chính trị cả. Những chi tiết sex này phải chăng có thể bỏ quá được không?” Ông chẳng hiểu gì về mối quan hệ giữa văn chương và văn hóa cả!

CÓ NHỮNG NIỀM VUI

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều được trao Giải thưởng văn học quốc tế Hàn Quốc (Changwon KC international literary Prize) năm 2018. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều là người giúp quảng bá và đưa văn học Hàn Quốc đến Việt Nam. Ông đã giới thiệu 5 tác giả Hàn Quốc tại Việt Nam và góp phần đưa 2 nền văn học có dịp giao lưu, học hỏi lẫn nhau trên nhiều phương diện. Giải thưởng văn học Hàn Quốc Changwon  chỉ được trao cho những nhà văn có độ tuổi 50 – 65 với những cống hiến, đóng góp sáng tạo văn học nghệ thuật không chỉ trong nước mà còn ngoài nước. Ngoài tác phẩm được dịch sang tiếng Hàn thì tác giả dự giải cũng phải có tác phẩm được dịch sang tiếng Anh. Tôi nghĩ giải thưởng này có ý nghĩa chính trị, ngoại giao nhiều hơn là sự tôn vinh giá trị nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều.

Phiên bản tiếng Đức tác phẩm “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư đã vượt qua nhiều tác phẩm của 8 tác giả nữ quốc tế để chiến thắng giải Literaturpreis 2018. Cánh đồng bất tận do giáo sư Gunter Giesenfeld, nhà giáo Marianne Ngo chuyển ngữ sang tiếng Đức. Cánh đồng bất tận (Endlose Felder) của Nguyễn Ngọc Tư đã vượt qua những tác phẩm của các ứng viên sáng giá khác như Han Kang (Hàn Quốc), Ayelet Gundar-Goshen (Israel), Nona Fernández (Chile), Shumona Sinha (Ấn Độ)…Đây là giải thưởng do Litprom, Hiệp hội quảng bá văn học châu Á, châu Phi và Mỹ Latin ở Frankfurt (Đức), bình chọn. Giải thưởng Literaturpreis dành cho các tác giả nữ đến từ châu Á, Phi, Mỹ Latin, Thế giới Ả Rập và vùng Caribe. Giải thưởng đã được hình thành từ 30 năm qua. [9] Năm 2018, Nguyễn Ngọc Tư cũng in tập truyện ngắn “Cố định một đám mây” gồm 10 truyện mới. Nói về giải thưởng, Nguyễn Ngọc Tư cho rằng: Giải thưởng nào cũng là của ngày hôm qua. Ngày mai tôi là một kẻ tay trắng, nếu không viết thứ gì mới”; Trả lời câu hỏi “điều đáng sợ nhất của một người cầm bút là gì? Nguyễn Ngọc Tư nói: Lười, ngủ quên với vinh quang (đôi lúc vinh quang ấy là ảo tưởng của con ếch ngồi trong giếng). Tôi cũng sợ những nhà văn tự hào về những thứ không thuộc về văn chương”. Tôi nghĩ, Nguyễn Ngọc Tư đã đi rất xa sau Cánh đồng bất tận rồi, Nguyễn Ngọc Tư xác nhận: “Tôi nghĩ mình đã đi ngay ấy chứ, từ Gió lẻ.”Quả là niềm vui khi một nhà văn luôn băng mình về phía trước trên con đường sáng tạo. Có vậy, văn chương Việt mới có hy vọng.

Lâu nay người ta lo ngại về lực lượng viết phê bình. Nhà thơ Vũ Quần Phương lại kể chuyện vui: Về phê bình lý luận thơ. Chuyện này cũng nhiều lý thú. Các thày ở trường bồi dưỡng viết văn thường có nhận xét nghe vui, nhưng không biết có là thật không: Năm đầu vào học nhiều em chọn bộ môn thơ. Năm thứ hai một số chuyển sang văn xuôi. Năm cuối xem chừng gần hết cả lớp đều muốn trở thành nhà phê bình. Không biết có phải vì tâm lý ấy mà các nhà phê bình thơ và các bài phê bình thơ cứ phát triển đều đặn. Giọng điệu phê bình chung là biểu dương, ca ngợi, có khi ca ngợi đến hêt lời. Thi hữu thi huynh đôi bên đều vui chỉ có bạn đọc là hoang mang, rồi nghi ngờ, rồi tự bảo vệ mình là không đọc nữa. Thế là cả phê bình thơ lẫn thơ đều mất khách”(Thơ, những vấn đề hôm nay)[10].

Nhà thơ Vũ Quần Phương nói vui về một câu chuyện buồn, còn nhà phê bình Hoàng Thụy Anh lại điểm danh được nhiều nhà phê bình trẻ các tỉnh phía bắc trung bộ. Và văn chương Việt có quyền hy vọng. Thanh Hóa có: Hoàng Tuấn Phổ, Nguyễn Xuân Dương, Lưu Đức Hạnh, Nguyễn Mạnh Hùng, Hỏa Diệu Thúy, Hoàng Tuấn Công, Thy Lan và Nguyễn Thanh Tâm… Ở Nghệ An có Đặng Lưu, Phan Huy Dũng, Đinh Trí Dũng, Phạm Tuấn Vũ,  Lê Hồ Quang, Nguyễn Duy Bình, Lê Thanh Nga. Hà Tĩnh có Nguyễn Thị Nguyệt và Nguyễn Thanh Truyền. Quảng Bình có Mai Thị Liên Giang, Dương Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Nga, Hoàng Đăng Khoa, Hoàng Thụy Anh, Lê Hương. Quảng Trị có Bùi Như Hải và Nguyễn Thái Hoàng. có thể kể đến Nguyễn Thị Tịnh Thy, Trần Huyền Sâm, Hoàng Thị Huế, Nguyễn Văn Thuấn, Thái Phan Vàng Anh, Nguyễn Văn Hùng, Phan Trọng Hoàng Linh, Phan Tuấn Anh, Lê Thị Diễm Hằng, Thanh Tâm A…[11] Quả là một lực lượng đông đảo.

Mới chỉ các tỉnh phía bắc Trung bộ đã có 35 nhà phê bình trẻ được điểm danh, và trong số họ, đã có nhiều người tự khẳng định tên tuổi. Tôi thấy những khuôn mặt sáng giá như Hoàng Thụy Anh, Trần Huyền Sâm (TS, Đại học Huế), Hoàng Đăng Khoa, Thanh Tâm Nguyễn (TS, Đại học Huế), Nguyễn Thanh Tâm (TS, Viện Văn học), cùng với những người viết phê bình trẻ trước đây như Trần Ngọc Hiếu (TS), Trần Thiện Khanh (TS), Mai Anh Tuấn, Phan Tuấn Anh, Đoàn Minh Tâm, Ngô Hương Giang,…(xin lỗi tôi đã không biết rõ chức danh xã hội của các tác giả) đã hình thành một lực lượng hùng hậu đầy triển vọng. Trước đó, Hội nghị “Những người trẻ viết về lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật” khu vực phía bắc, do Hội đồng Lý luận, phê bình VHNT T.Ư tổ chức ngày 5-8-2015 tại Hà Nội mới điểm danh có 50 đại biểu, và trong bài viết “Phê bình văn học trẻ thiếu và yếu: Tại sao?” ngày 30/12/2016 trên Quân đội nhân dân [12], TS Nguyễn Thanh Tâm đã báo động tình trạng yếu và thiếu của phê bình văn học trẻ, cả về lực lượng, phương pháp phê bình, tính chuyên nghiệp…

Vậy mà, đến năm 2018, những khuôn mặt trẻ đả tỏa sáng nhiều, hẳn nhiên đó là một niềm vui.

Thực ra đó là niềm vui không trọn vẹn, vì yếu tố trung tâm của văn học là tác phẩm văn chương. Năm 2018 không có tác phẩm nào gây được ấn tượng. Giải thưởng Văn học tuổi 20 (lần thứ 6) không có giải Nhất. 2 tác phẩm đoạt giả nhì là “Wittgenstein của Thiên đường đen”  của Maik Cây, “Người lạ” của  Mai Thảo Yên. Tôi chưa rõ giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam sẽ vinh danh những tác giả nào, nhưng tình hình chung trên văn đàn năm qua khá yên ắng. Tiểu thuyết “Tuổi 20 yêu dấu” của Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp được in trong nước không tạo được cơn sốt, dù rằng cuốn sách này đã được in ở Pháp trước đó 13 năm. Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn được yêu mến, nhưng cuốn Cố định một đám mây Nguyễn Ngọc Tư in 2018 cũng không gây ra một hiện tượng phát hành nào trong năm. Tôi suy gẫm điều này, ngoài Nguyễn Nhật Ánh vẫn giữ được phong độ (cuốn Cám ơn người lớn in  150.000 bản), hình như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư và nhiều nhà văn nổi tiếng một thời… đã thành những thần tượng cũ để chiêm ngắm. Công chúng cần những thần tượng mới để xốc văn học Việt Nam đi về phía trước.

Văn chương 2018 – lặng lẽ ươm mầm.

Tháng 12.2018

__________

[1] http://vanvn.net/tin-tuc/hoi-nghi-cong-tac-van-hoc-nam-2018/2043

[2]http://vanvn.net/thoi-su-van-hoc-nghe-thuat/hoi-thao-khoa-hoc-toan-quoc-%E2%80%9Cnhin-lai-qua-trinh-xa-hoi-hoa-cac-hoat-dong-vhnt-o-viet-nam-tu-khi-ban-hanh-chu-truong-den-nay%E2%80%9D/2051

[3] Bản in Phê bình ký hiệu họcĐọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ (Nxb Phụ nữ 2018) có 14 tiểu luận. Bản công bố trên vandoanviet.blogspot.com có 22 tiểu luận…

[4] http://vanhoanghean.com.vn/component/k2/thao-luan-1955-ve-tap-tho-viet-bac-phan-vii

[5] http://nld.com.vn/van-nghe/bi-hai-kich-nghi-an-dao-tho-20180118160702329.htm

[6] http://trannhuong.net/tin-tuc-53141/ve-truyen-%E2%80%9Cbat-dau-va-ket-thuc%E2%80%9D.vhtm

[7] http://xuandienhannom.blogspot.com/2018/01/bao-van-nghe-xin-loi-ve-viec-in-truyen.html

[8] https://tuoitre.vn/chim-ung-va-chang-dan-sot-co-nhieu-chi-tiet-sex-tho-tuc-20180423173113284.htm

[9] http://phunuvietnam.vn/giai-tri/nha-van-nguyen-ngoc-tu-nha-tho-nguyen-quang-thieu-doat-giai-van-hoc-quoc-te-post45650.html

[10] http://vanvn.net/tac-pham-chon-loc/thonhung-van-de-hom-nay-/1539

[11] http://vanvn.net/ong-kinh-phe-binh/phe-binh-van-hoc-tre-bac-mien-trung-tren-nen-phe-binh-ca-nuoc-hien-nay-/1737

[12] http://www.qdnd.vn/van-hoa-giao-duc/van-hoc-nghe-thuat/phe-binh-van-hoc-tre-thieu-va-yeu-tai-sao-496289

 

 

 

 

HỘI NGHỊ CÔNG TÁC VĂN HỌC 2018

 

 

 

HỘI NGHỊ CÔNG TÁC VĂN HỌC 2018

Ghi nhanh

Bùi Công Thuấn

56013abe29a8caf693b9

(Từ trái qua: Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà văn. Hai PCT là nhà văn Nguyễn Trí Huân và nhà thơ Nguyễn Quang Thiều)

Sáng 14-12-2018, tại Bảo tàng Văn học Việt Nam (Hà Nội), Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Hội nghị công tác văn học năm 2018.

Có đông đủ các nhà thơ nhà văn Ban Chấp hành và thành viên các Hội đồng chuyên môn của Hội Nhà văn tham dự (Hội đồng lý luận phê bình, Hội đồng thơ, hội đồng văn xuôi, hội đồng văn học dịch và các Ban chuyên đề, cùng đại biểu các Chi hội, Liên Chi hội trực thuộc Hội Nhà văn Việt Nam).

Hội nghị bàn hai nội dung: Kiểm điểm công tác văn học 2018 và kế hoạch công tác văn học 2019-2020. Nhà thơ Hữu Thỉnh chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam trình bày vấn đề.

1. Năm 2018 có đặc điểm rất lớn, rất vui. Nghị quyết ĐH XII được đưa vào cuộc sống có nhiều thành tựu. 12/12 chỉ tiêu hoàn thành. Việc xây dựng Đảng được đầy mạnh và quyết liệt, đạt hiệu quả hơn bao giờ. Công cuộc chống tiêu cực đạt kết quả tốt. Tổ chức thành công APEC 2017 đã nâng tầm quốc tế của Việt nam…Tất cả những mặt tiến bộ ấy đã tạo cảm hứng sáng tạo cho văn học.

Nhiệm vụ chính trị của Hội Nhà văn là đoàn kết để sáng tạo. Năm 2018 Ban Chấp hành HNV tập trung vào hai vấn đề: tập trung chiều sâu và nâng cao tính chuyên nghiệp. Tập trung đầu tư để có tác phẩm xứng đáng.

Văn học đã dự báo khá sớm vấn đề đạo đức xã hội. Cái xấu, cái ác đã cản trở sự nghiệp đổi mới. Văn học đã đi trước 10 năm, tiên phong góp phần dự báo. Đó là sự cống hiến quan trọng. Nhà văn gắn bó sâu sắc với đất nước, đặc biệt là góp phần xây dựng đạo đức xã hội.

Đã hình thành 5 thế hệ cầm bút. Mỗi thế hệ có đặc điểm riêng và cộng hưởng lẫn nhau.

Năm 2018 có nhiều tác phẩm viết về lịch sử, đặc biệt có những tác giả rất trẻ lại viết được những tác phẩm dày dặn.

Văn học cũng trở lại đề tài kháng chiến. Chẳng hạn, tác giả Trúc Phương, dù mắc bịnh ung thư nhưng vẫn viết được trường ca về mẹ gần 2000 trang và tiểu thuyết Nắng không phải chỉ có mặt trời gần 2000 trang về miền Nam sau tổng công kích Mậu Thân. Nghị lực sáng tạo thật đáng kính trọng.

Truyện ngắn cũng khởi sắc nhiều giọng điệu trẻ.

Thơ ngắn và trường ca xuất hiện nhiều. Có thể coi đây là mùa gặt thứ hai của trường ca với nhiều hướng tìm tòi sáng tạo.

Về lý luận phê bình, có tới hơn 30 tác phẩm tham dự giải thưởng HNV, nhiều nghiên cứu chuyên sâu, đó là biểu hiện phát triển.

Hội Nhà văn đã tổ chức nhiều hội thảo, chẳng hạn Hội thảo “Tác phẩm hay, giải pháp và đích đến” tổ chức ở Thái Nguyên. HNV có ba cuộc họp với Bộ Giáo dục-Đào tạo về  dạy văn trong nhà trường. Đây là sự vào cuộc đầy trách nhiệm. Chương trình mới hầu như vắng bóng các tác phẩm của giai đoạn kháng chiến. Nếu không có những cuộc hội thảo về soạn chương trình và sách giáo khoa thì tình hình không sáng sủa như bây giờ. Ngày 22.12 tới sẽ có hội nghị nữa. Vấn đề đặt ra như thế nào? Không phải chỉ có dạy văn, thi cử, mà còn cấu trúc nhiều vấn đề. Việc dạy văn là trung tâm xây dựng con người. Tương lai là ở đó. Đất nước phát triển là ở đó.

Hội Nhà văn cũng đã tổ chức kỷ niệm 100 năm Nguyễn Bính, 100 năm Nguyên Hồng, Lưu Quang Vũ..

Văn học dịch vẫn giữ được nhịp độ giao lưu với văn học thế giới.

Nhìn chung, bức tranh văn học phát triển khá toàn diện.

2.Về công tác xây dựng Hội Nhà văn. Nhìn chung tư tưởng của nhà văn ổn định. Tất cả tập trung vào nhiệm vụ nâng cao chất lượng sáng tác. Sự gắn bó của nhà văn với đất nước đầy trách nhiệm.

Về xây dựng Hội, tiếp tục xác định Hội Nhà văn Việt Nam là một tổ chức chính trị-xã hội- nghề nghiệp. Tiếp tục tổ chức các chi hội. Gỉai quyết nhà ở cho nhà văn khó khăn.

Ban Chấp hành họp thường kỳ 6 tháng. Thường trực BCH sinh hoạt thường xuyên, công khai, tập thể bàn bạc quyết định.

Hội đã tổ chức thành công Ngày Thơ Việt Nam. Tổ chức thành công giải thưởng văn học sông Mê Kông. Công tác đối ngoại tốt đẹp.

3.Các hoạt động của cơ quan cấp hai của Hội cũng đạt những thành tựu. Tạp chí Thơ, tạp chí Nhà văn và tác phẩm, tạp chí Hồn Việt đã đề cập đến những vấn đề chuyên sâu. Trung tâm đào tạo Nguyễn Du phát triển tốt. Năm nay có lớp quy tụ 150 học viên trong cả nước về học. Các ban chuyên ngành của Hội cũng họat động tích cực…

c1965aa648b0abeef2a1

(Đoàn các nhà văn phía nam: Vũ Hồng (Bến Tre), Thạch Thảo (Phú yên), Đặng Nguyệt Anh, Nguyễn Minh Ngọc (Sài Gòn), Lê Thanh My (An Giang), Nguyễn Vũ Tiềm (Sài Gòn), BCT và Nguyễn Hữu Nhơn (Đồng Tháp)

4.Những mặt còn yếu kém. Thị trường văn học ngày càng thu hẹp. Nhiều nhà văn in sách chỉ để tặng. Chất lượng các cơ quan báo chí, nhà xuất bản của Hội còn hạn chế về cán bộ biên tập, đội ngũ lao động. Việc xã hội hóa nhà văn, việc dịch và giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài chưa làm được nhiều…

5.Những công việc của năm 2019-2020 chuẩn bị cho Đại hội X Hội Nhà văn Việt Nam.

Tư tưởng chủ đạo là nâng cao chất lượng sáng tác ở các khâu: sáng tác, quảng bá và xét tặng giải thưởng. Hoàn thành cuộc thi tiểu thuyết. Đến nay đã có 150 cuốn tiểu thuyết tham gia. Tổ chức các hội nghị quảng bá tác phẩm, để gặp gỡ “cái mình cần và cái họ thích”. Tổ chức bộ máy tinh gọn. Và chuẩn bị cho Đại hội X.

6.Về xét kết nạp hội viên. Bảo lưu các trường hợp năm ngoái đã được các hội đồng chuyên môn đề xuất. Xét kết nạp khoảng 20 đến 25 hội viên mới theo hướng nâng cao chất lượng (hiện có khoảng 700 hồ sơ xin vào Hội Nhà văn).

Buổi sáng có phái đòan nhà văn Rumani đến thăm hội nghị.

7.Buổi chiều, các Hội đồng chuyên môn làm việc. Ban Chấp hành Hội Nhà Văn cử các ủy viên cùng với ủy viên Ban Thanh tra của Hội tham gia họp với các hội đồng. Tinh thần làm việc dân chủ và nghiêm túc.

22af4ee55cf3bfade6e2

Đoàn nhà văn Rumani ghé thăm. (Nhà văn Phạm Viết Đào phiên dịch)

___________