Ghi nhận về “VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM-Những chặng đường” của Lê Đình Bảng

BẠN CÓ THỂ ĐỌC TẤT CẢ BÀI VIẾT CỦA BÙI CÔNG THUẤN TẠI:

http://buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM-Những chặng đường. Lê Đình Bảng. Nxb Tự điển bách khoa. Tháng 8/2010.

Bùi Công Thuấn

***

Có rất ít công trình viết về lịch sử văn học Công giáo Việt Nam. Cho đến nay mới chỉ có cuốn Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam của Võ Long Tê (Nxb Tư Duy. 1965) và một số bài viết của các nhà nghiên cứu: Gs Thanh Lãng, Gs Nguyễn Văn Trung, các ông Phạm Đình Khiêm, Nguyễn Vy Khanh và gần đây Ts-Lm Nguyễn Đức Thông…

Nhà nghiên cứu văn học Lê Đình Bảng đã in bộ sách: “Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam” (2009) do ông sưu tầm (gồm 6 cuốn, 4.088 trang) và cuốn “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường” (2010). Đây là sự đóng góp hết sức quý báu vào việc nghiên cứu văn học Công giáo, bước đầu giúp người đọc nhận ra diện mạo văn học Công giáo trong dòng chảy của văn học dân tộc, và khơi gợi nhiều vấn đề học thuật cần được tiếp tục nghiên cứu.

Trong bài viết này, chúng tôi ghi nhận đôi điều về cuốn “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường” như một cầu nối với những nhà nghiên cứu trẻ sau này.

NỘI DUNG “VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM- Những chặng đường

Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường” có 596 trang in với nhiều ảnh chân dung các nhà văn nhà thơ, ảnh chụp trang bìa tự điển, bìa tác phẩm văn học, ảnh chụp báo chí, tư liệu…

            Nội dung có 6 chương. Mỗi chương có nhan đề riêng.

Chương 1: “TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU”. Tác giả đặt vấn đề về: 1. Đức tin và văn hóa. Tôn giáo và văn học. 2.Có văn học Công giáo Việt Nam không?

Về vấn đế “có văn học Công giáo Việt Nam không”? Tác giả băn khoăn: “Thật khó nghĩ, khó tìm ra lời giải đáp thỏa đáng” (tr.48). Dẫn tên tuổi các nhà viết văn học sử, giáo sử Việt Nam như Dương Quảng Hàm, Nghiêm Toản, Hồ Hữu Tường, Hoàng Trọng Miên, Phạm Văn Diêu, Hà Như Chi, Lê Văn Siêu, Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng, Nguyên Hồng, Phan Phát Huồn, Nguyễn Khắc Xuyên, Phạm Đình Khiêm, Đỗ Quang Chính,…Tác giả kết luận: “Tóm lại qua các công trình nghiên cứu tổng quát hoặc chuyên khảo của các tác giả trên, một số vấn đề căn cốt của văn học Công giáo, của văn học Công giáo Việt Nam chưa được đặt ra. Chẳng hạn…diện mạo và đời sống văn học Công giáo Việt Nam như thế nào trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam…” (tr.49)

Lê Đình Bảng đặt vấn đề:

            “Chẳng rõ là định kiến, là ngộ nhận hoặc thận trọng? Giới nghiên cứu nói chung vẫn còn cảm tưởng, hình như văn học Công giáo Việt Nam là một thế giới đóng kín, thuộc về một cõi riêng tư nào đó, biệt lập, âm thầm, khó thâm nhập” (tr.50)

            “Chúng tôi không dám bao biện, vơ vào. Nhưng rõ ràng Công giáo, ít nhiều, đã khơi gợi trong lòng văn nghệ sĩ Việt Nam một gặp gỡ mới mẻ, một đồng cảm khác lạ, tinh khiết, thiêng liêng nào đó…” (tr.52)

Chương 2: “CHẶNG VỠ ĐẤT GIEO TRỒNG” (Thế kỷ XVI-XVII)

Sau khi liệt kê sự kiện lịch sử, ghi nhận tình hình truyền giáo, tác giả khái quát tình hình văn học giai đoạn này gồm:

            Về hình thức: Hán, Nôm, Quốc ngữ.

            Về nội dung: Kinh nguyện, giáo lý, truyện tích, giáo sử, quốc sử, ngữ pháp, tự điển văn thư, tường trình và thi ca.

            Về tác giả: Giáo sĩ, Thầy giảng, giáo dân. (tr.66)

            Sau đó giới thiệu những khuôn mặt tiêu biểu và các thể loại chính:

Girolamo Majorica, A.de Rhodes. Thầy giảng Phan Chi cô (tr.86), Thầy giảng Gioan Thanh Minh (tr.107), Rafael Đắc Lộ (tr.110), Quốc sử, Giáo sử (tr.113), Kinh nguyện và Ca vãn (tr.115), Thầy cả Lữ Y Đoan và Sấm Truyền ca (tr.120).

Tác giả kết luận về chặng “Vỡ đất gieo trồng” (tr.126) như sau:

  1. Văn học Công giáo Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ XVII đã trải qua 2 giai đoạn: giai đoạn truyền khẩu giai đoạn thành văn. Sự tiến triển của văn học Công giáo gắn liền với sự tiến triển của công cuộc truyền giáo (tr.127).
  2. Khuynh hướng văn học và tác giả giai đoạn này khá phong phú, đa dạng.
  3. “Việc sáng tác thuần túy văn học chưa hẳn thành một phong trào hoặc chưa thể hiện rõ nét những khuynh hướng”, “nhưng đã đặt cơ sở vững chắc cho nền văn học Công giáo ở những chặng đường tiếp theo”(tr.128).

CHƯƠNG 3: “CHẶNG ĐƯỜNG ĐÂM CHỒI NẢY LỘC” (thế kỷ XVIII-XIX)

Tác giả liệt kê những sự kiện của bối cảnh lịch sử & văn học Việt Nam cùng với tình hình truyền giáo (tr.131), từ đó giới thiệu văn học Công giáo giai đoạn này có 2 đặc điểm:

          1. Kế thừa văn học Công giáo thế kỷ XVII cả về hình thức đến nội dung.

          2. Vai trò quyết định của chữ Quốc ngữ với những thể nghiệm thành công của báo chí và tiểu thuyết. (tr.133)

Và lần lượt giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm giai đoạn này:

            Inê tử đạo vãn (tr.134), Philippe Do Rosario Bỉnh (tr.138), Lm. Đặng Đức Tuấn (tr.148), Philipphê Phan Văn Minh (tr.164), Lm. Phêrô Trần Lục (tr.173), Nguyễn Trường Tộ (tr.182), Huỳnh Tịnh Của (tr.188), Trương Vĩnh Ký (tr.194), Danh sĩ Phêrô Phạm Trạch Thiện (tr.211), P.J.B Nguyễn Trọng Quản (tr.220)

Ghi nhận thêm các tác phẩm: Truyện các thánh (tr.224), Kinh nguyện-Tu đức-Linh đạo, Giáo lý minh triết, Tự điển ngôn ngữ, Vãn và tuồng (tr.226)

Tác giả kết luận chung về giai đoạn này:

            Đội ngũ người cầm bút đông đảo. Thi ca là sở trường. Một số tác giả có ý thức dân tộc (Đặng Đức Tuấn, Nguyễn Trường Tộ). Một số thể loại văn học lần đầu xuất hiện: báo chí và tiểu thuyết (tr.227)

CHƯƠNG 4: “CHẶNG ĐƯỜNG ĐƠM HOA KẾT TRÁI” (THẾ KỶ XX)

Liệt kê những sự kiện lịch sử (tr.235), tình hình truyền giáo và văn học Công giáo (tr.238), sau đó tác giả trình bày “Diện mạo và văn học Công giáo” gồm 6 loại: (tr.248)

     1.Thánh kinh;

     2. Bí tích-Phụng vụ-Giáo lý-kinh nguyện;

     3. Triết học-Thần học;

     4. Giáo sử-Kỷ yếu;

     5.Văn kiện-thư chung;

     6.Tự điển-ngôn ngữ, văn thơ và báo chí…

Phần miêu tả “diện mạo văn học Công giáo”, tác giả chỉ nêu tên tác giả, tác phẩm,

 thuộc 6 thể loại trên, không giới thiệu, không phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật:

THÁNH KINH-PHÚC ÂM DIỄN CA

Tên tác phẩm (Danh mục tác phẩm dài 7 trang)

Thư viện Hội đồng Giám mục Việt Nam (tr.255),  và giới thiệu 11 thư viện (tr.258).

PHỤNG VỤ-GIÁO LÝ-KINH NGUYỆN-TU ĐỨC (tr.261)

Tác phẩm Giáo lý diễn ca, Huấn ca của: GM Hồ Ngọc Cẩn, JM Thích, Lê Thiện Bá, Trần Văn Trang, ĐHY Phạm Đình Tụng, Vũ Đức Trinh, Mai Lâm, Đoàn Văn Hàm, Trần Văn Thi, Bách Huyền, Đức Ông Xuân Ly Băng, Lm.Trăng Thập Tự, Vũ Ngọc Bích, Cao Vĩnh Phan, Đinh cao Thuấn (tr.264)

THẦN HỌC-TRIẾT HỌC (tr.267)

Nêu tên tác phẩm (Danh mục dài 13 trang). Không phân tích đánh giá tư tưởng, giá trị văn học.

VĂN KIỆN-THƯ CHUNG-THƯ LUÂN LƯU-THÔNG CÁO (tr.281)

“Đây chỉ là những bản văn mang nội dung tư liệu đánh dấu niên đại cùng các sự kiện của hội thánh địa phương”. (danh mục tác phẩm dài 6 trang).

GIÁO SỬ-NIÊN GIÁM-KỶ YẾU-LỊCH CÔNG GIÁO (tr.288)

Danh mục dài 10 trang. Thi ca cảm tác về giáo sử Việt Nam có các tác giả (chỉ nêu tên tác giả): Lm.Trần Lục, Quận công Nguyễn Hữu Bài, GM Nguyễn Bá Tòng, GM Hồ Ngọc Cẩn, JM Thích, Hoàng Văn Đoàn, Phúc Dân, Vũ Ngọc Bích, Cao Vĩnh Phan, Đức Ông Xuân Ly Băng, Lm.Trăng Thập Tự, Lm. Nguyễn Xuân Văn, Đinh Cao Thuấn (tr.299)

TỰ ĐIỂN, TỪ ĐIỂN, NGÔN NGỮ, BIÊN KHẢO VHNT, BÁO CHÍ (tr.300)

            (Chỉ nêu tên tác phẩm, không phân tích giá trị văn học).

TRUYỆN, CA VÃN, THƠ, TUỒNG KỊCH, THÁNH NHẠC (tr.314)

1.Truyện (tr.314)

Tác giả đặt vấn đề: “Công giáo Việt Nam đã có những thể loại này chưa? Câu hỏi thật khó trả lời (tr.315) chỉ thấy lác đác vài ba trường hợp, không hợp lưu thành một dòng chảy, một khuynh hướng, một trào lưu văn học mang tính Công giáo”. Chẳng hạn, Nguyễn Trọng Quản, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoàng Mưu…và nữ sĩ Thụy An. Thế là hết!” (tr.315).

Tác giả khẳng định: Chúng ta có và đã có từ lâu một nguồn vốn không nhỏ, từ mảng “Các Thánh truyện” của Majorica, A. Rhodes, Philiphe Bỉnh (tr.316)

2. Ca Vãn: (chỉ nêu tên tác phẩm. Không phân tich gía trị văn học) (tr.321)

3.Thơ (tr.327)

Phần này tác giả viết một bài tùy bút dài. Và cho rằng “Kinh và thơ lẫn vào nhau”.

Giới thiệu các khuôn mặt tiêu biểu (sơ lược tiểu sử và tên tác phẩm, không có đánh giá văn học):

Lm Phêrô Trần Lục (tr.348).

Phêrô Giuse Nguyễn Hữu Bài (tr.350)

            Giám mục Đaminh-Maria Hồ Ngọc Cẩn.

            Lm. Giuse Nguyễn Văn Thích (tr.351)

            Lm. Giuse Maria Lê Quang Oánh (tr.352)

            Phêrô Phanxi cô Hàn Mạc Tử (tr.353)

            Các tác giả sau 1975:

   Phêrô Phạm Đình Tân (tr.355), GM Giuse Bùi Tuần (tr.355), Lm Giuse Vũ Ngọc

 Bích (tr.356), Lm Gérad Gagnon Nhân (tr.356), Giuse Mai Lâm (tr.357), Maria Ngọc Minh (tr.357), Lm Giuse Vũ Đức Trinh (tr.358), Giuse Nguyễn Duy Nhiên (tr.359), Phêrô Long Giang Tử (tr.360), Lm F.X Nguyễn Xuân Văn (tr.360), Đức ông GB Xuân Ly Băng, Gioan Võ Long Tê (tr.362), Lm Phêrô Vũ Đình Trác (tr.363), Pierre Đỗ Đình (tr.364), Giuse Bàng Bá Lân (tr.366), Paul Thérèse Hồ Dếnh (tr.367).

Thơ trong di cảo người đã khuất (tr.368).

Thơ của người đã quen hoặc mới quen (tr.370):

(Chỉ nêu tên tác giả & tên tác phẩm. Không phân tích gía trị văn học)

             Trăng Thập Tự, Đơn Phương, GM Nguyễn Văn Sang, Hoành Sơn, Lm Trương Đình Hòe,  Lm. Nguyễn Tầm Thường, Tống Huệ Thi, nữ tu Mai Thành, Nhất Tuấn, Trần Vạn Giã,    Phạm Thi Thái Quý, Lê Đình Bảng, Trần Quang Chu.

Thơ trên báo chí trước 1975 (tr.371): Chỉ nêu tên tác giả:

            Xuân Ly Băng, Trăng Thập Tự, Mạc La Đình, Đình Quang, Nguyễn Tầm Thường, Sao Vườn Dầu, Đỳnh Bảng, Phan Sĩ Hoàng, Nguyễn Quốc Thái, Hoài Diệu, Từ Khang yến, Thanh Huệ, Từ Linh, Hoàng Ngọc Liên, Sâm Thương, Lê Minh Bình Dương, Lý Thụy Ý, Trang Thu Thủy…(tr.372)

Thơ trong các tuyển tập (tr.372)

4. Tuồng, Kịch (tr.372)

     Giới thiệu tên 20 tuồng Công giáo (danh mục dài 6 trang) từ 1910 đến 1940. Không phân tích giá trị văn học.

5. Kết luận (tr.393):

            Tác giả liệt kê tên các GS dạy triết Đông, Triết Tây, các học giả, các nhóm văn bút, nhóm báo chí, nhưng không có tên nhà thơ nhà văn nào (tr.399).

                “Nhưng tiếc thay, nửa đường đứt gánh!…Thật buồn khi đọc văn học sử và báo chí Việt Nam, đỏ con mắt mà chẳng tìm thêm ra được bóng dáng một tác giả, một tác phẩm Công giáo…Có chăng nơi những hiệu sách, nơi những thư viện nhà đạo, toàn là kinh nguyện, thần học, tu đức, quá xa lìa, cách ngăn đối với đời sống văn học nghệ thuật”(tr.400)

CHƯƠNG 5: “GẶP GỠ NHỮNG DÒNG SÔNG

Khái lược Văn học Công giáo. Thơ chiếm 72,6%. (Tr.401)

Có bài sưu tầm:

1.Về một số sách cũ do người Công giáo viết ra từ thế kỳ 17 đến Tk 19. (tr.405).

   Bài của Nguyễn Văn Trung.

            2. Mảng Nôm đạo thế kỷ 17. (tr.408)

            3. Mảng Quốc ngữ. (tr.409)

Tầm quan trọng của các bản văn Nôm thế kỷ 17 do giáo sĩ Majorica viết (tr.412).

   Bài của Nguyễn Văn Thọ.

Đọc Phép giảng tám ngày nghĩ về những người có lòng với văn hóa (tr.419). LĐB.

Tự vị Taberd và di sản văn hóa Việt Nam (tr.425). Bài dài 14 trang

  của Trần Văn Toàn.

Truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản những đóng góp vào kỹ thuật văn hư cấu (Fiction) trong văn học Việt Nam (tr.443). Bài dài 8 trang của GS Hoàng Dũng.

Cha Léopol Michel Cadière (tr.453). Bài dài 20 trang của của Lm G. Lefas. LĐB dịch

Có chăng một nền văn hóa Công giáo Việt Nam (tr.474). Bài dài 10 trang của

  Lm Thiện Cẩm

CHƯƠNG 6. “MỘT CHÚT TÂM TÌNH CỎ HOA” (tr.491)

Chia sẻ 3 bài cảm nhận:

Chút tâm tình cỏ hoa (tr.494)-Lê Đình Bảng.

Ki Tô giáo trong giao lưu văn hóa Tây phương với Việt Nam (tr.504) – Nguyễn Văn Trung

Cái hằng ngày (tr.517), không ghi tác giả. Chỉ ghi: Trích chương “Một nền văn hóa đại chúng trong “Đạo Chúa vào Việt Nam” (bản thảo).

Phụ lục 1:

      Gửi giới văn nghệ sĩ (tr.535). Hồng Y L. Suénens tuyên đọc.

                 Gửi giới trí thức (tr.537). Hồng Y P. Léger tuyên đọc

                 Có vô việc phát triển văn hóa (tr.539). Thánh Công đồng Vaticano II.

MỘT VÀI GHI NHẬN

            Giá trị hàng đầu của “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường” là ghi được khuôn mặt các tác giả, tác phẩm, các hiện tượng, các thành tựu văn học Công giáo của các thế kỷ XVI-XVII; XVII-XIX; XX; qua đó khắc họa những đường nét chính của diện mạo văn học Công giáo trong lịch sử, giúp người đọc hôm nay có cái nhìn toàn cảnh sáng tác văn học của cha ông, không còn bị khuất lấp như trước kia. Qua việc miêu tả đời sống văn học, tác giả khẳng định có một nền văn học Công giáo đông đảo về tác giả, phong phú về thể loại và nghệ thuật, đóng góp vào dòng chảy chung của văn học dân tộc, điều mà các nhà nghiên cứu thế tục còn e dè, giữ thái độ cẩn trọng.

            Tác phẩm cũng bước đầu hình thành một phương pháp nghiên cứu lịch sử văn học Công giáo có tính học thuật, mặc dù tác giả tự nhận “chỉ là cách làm chủ quan của người biên tập, bởi tác giả tác phẩm Công giáo dường như không thuộc phạm trù “trường phái” hoặc “khuynh hướng” văn học rõ rệt mà ta thường thấy dưới ngòi bút các nhà viết văn học sử” (tr. 247). Ở mỗi chương, Lê Đình Bảng trình bày đặc điểm của bối cảnh lịch sử, tình hình công cuộc truyện giáo, từ đó ghi nhận, đánh giá sự phát triển của văn học Công giáo. Sau đó, ông đi sâu giới thiệu những tác giả tiêu biểu, những tác phẩm có giá trị nổi bật. Kết thúc mỗi thời kỳ văn học đều có phần đánh giá và chỉ ra các đặc điểm chung.

            Một giá trị khác của tác phẩm là tư liệu. Tác phẩm là một kho tư liệu hết sức quý giá. Cuốn sách như một “lược đồ”, rồi từ đó, đi đến tận ngọn nguồn tư liệu. Điều này giúp ích rất lớn cho những nhà nghiên cứu đi sau. Họ không phải mất công mò mẫm tìm đường và tìm tư liệu. Căn cứ vào “lược đồ” Lê Đình Bảng đã vẽ ra, họ sẽ đi nghiên cứu chuyên sâu, khám phá thêm các giá trị của văn học Công giáo mà ông Lê Đình Bảng (trong giới hạn của hoàn cảnh) chưa có thời gian nghiên cứu kỹ hơn. Thí dụ, có rất nhiều tên tuổi của văn học Công giáo thế kỷ XX chưa được nghiên cứu. Đặc biệt là phần từ sau 1975 đến nay.

            Những ghi nhận sau đây cần được nghiên cứu thêm:

            Lệ Đình Bảng chưa có được một tiêu chuẩn khoa học để phân kỳ lịch sử văn học Công giáo. Cuốn sách chỉ là “Cái nhìn lịch sử về văn học Công giáo”, chưa phải là một cuốn Lịch sử văn học Công giáo”. Văn học Công giáo trong cuốn sách được phân kỳ theo thế kỷ và được đặt tên hoa mỹ, không phản ánh trung thực lịch sử văn học.

Thí dụ: Lm Trần Lục vừa được giới thiệu ở chặng đường thế kỷ XVIII-XIX (tr.173), vừa ở chặng đường thế kỷ XX (tr. 348).

Thí dụ: Chặng đường “Đơm hoa kết trái” (thế kỷ XX), sau khi giới thiệu rất nhiều tên tuổi tác giả, Lê Đình Bảng kết luận (tr.393): trong rất nhiều tên tuổi các GS dạy triết Đông, Triết Tây, các học giả, các nhóm văn bút, nhóm báo chí, không có tên nhà thơ nhà văn nào (tr.399). “Có chăng nơi những hiệu sách, nơi những thư viện nhà đạo, toàn là kinh nguyện, thần học, tu đức, quá xa lìa, cách ngăn đối với đời sống văn học nghệ thuật”(tr.400), vậy sao có thể nói văn học Công giáo thế kỷ XX là “đơm hoa kết trái”?

            Chưa có phần đánh giá chung lịch sử văn học Công giáo, chưa tổng kết xem văn học Công giáo đã đóng góp những gì làm phong phú văn học dân tộc? Chưa khẳng định được đâu là những khuôn mặt nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Công giáo có vị trí sánh ngang với các nhà văn của văn học dân tộc. Cho đến nay, các nhà thơ nhà văn Công giáo cũng chỉ được biết đến trong phạm vi “nhà đạo”. Không có tên tuổi nào sánh ngang Nguyễn Trọng Quản, Hàn Mạc Tử, được lịch sử văn học dân tộc vinh danh.

            Một vấn đề khác cũng cần được nghiên cứu sâu hơn là “thế nào là nhà văn Công giáo”, “thế nào là một tác phẩm văn học Công giáo”? Nhà nghiên cứu Lê Đình Bảng xếp nữ sĩ Thụy An (tr.315) với tiểu thuyết Một linh hồn (1943) và nhà thơ Lý Thụy Ý (tr. 372) vào danh mục nhà văn nhà thơ Công giáo, điều này cần phải được đánh giá lại.

Thụy An là một người Công giáo, nhưng cuối đời, bà cải đạo sang Phật giáo, quy y với pháp danh Nguyên Quy. Tiểu thuyết “Một linh hồn” chỉ là một truyện tình lãng mạn trong dòng văn chương thị trường giai đọan 1930-1945, lấy bối cảnh Công giáo (giống như Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng lấy bối cảnh chùa chiền). Nội dung truyện hoàn toàn sai lạc với luân lý Công giáo, vì thế không thể coi Thụy An là nhà văn Công giáo, không thể đặt Một linh hồn bên cạnh những tác phẩm văn học Công giáo. Cũng giống như không thể coi cuốn sách Tây Dương Gia Tô bí lục (chữ Hán, in 1812) là tác phẩm văn học Công giáo. Đó là cuốn sách bịa đặt, nhảm nhí, xuyên tạc, một loại “ngụy thư”,  nhằm mục đính “đánh phá” Ki Tô giáo. Cuốn sách này được Lê Đình Bảng nhắc đến trong tác phẩm (tr.241). Nhà thơ Lý Thụy Ý làm thơ tình yêu hướng đến người lính Cộng hòa. Có một số bài có chất liệu Ki Tô giáo, nhưng đó không phải là văn chương Công giáo. Chất liệu Ki tô giáo chỉ là mốt thời thượng.

            Vì không có tiêu chuẩn cụ thể để xếp loại tác phẩm văn học Công giáo nên Lê Đình Bảng gom tất cả tư liệu văn hóa Công giáo vào trong “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường”. Ở chương viết về văn học Công giáo thế kỷ XX, ông trình bày diện mạo văn học Công giáo gồm 6 loại: (tr.248)

     1.Thánh kinh;

     2. Bí tích-Phụng vụ-Giáo lý-kinh nguyện;

     3. Triết học-Thần học;

     4. Giáo sữ-Kỷ yếu;

     5.Văn kiện-thư chung;

     6.Tự điển-ngôn ngữ, văn thơ và báo chí…

Trong 6 loại trên, chỉ có “văn thơ” là thể loại văn học, còn lại là sách tôn giáo, sách

triết học, sách ngôn ngữ và những văn bản nhật dụng (gọi chung là văn hóa phẩm). Thành ra nếu chỉ chọn sách văn học, thì “vốn liếng văn học Công giáo” sẽ không nhiều, và có thể chưa đủ để hình thành một “lịch sử văn học”. Cho nên ông mới than thở: “Thật buồn khi đọc văn học sử và báo chí Việt Nam, đỏ con mắt mà chẳng tìm thêm ra được bóng dáng một tác giả, một tác phẩm Công giáo…”(tr.400)

            Trong cách viết, các phần trình bày không cân đối. Thí dụ, phần Thơ (tr.327) được viết như một tùy bút rất dài (21 trang). Ông viết say sưa bay bổng và tâm đắc (bởi ông là nhà thơ). Phong cách ngôn ngữ khoa học cần có đối với một công trình nghiên cứu phải nhường chỗ cho kiểu ngôn ngữ nghệ thuật, chủ quan, cảm tính, và vì thế, cuốn sách tràn đầy cảm xúc nghệ sĩ của tác giả.

            Xin đọc: “Bởi thế, trước sau Hàn Mạc Tử, thi nhân Công giáo ở Việt Nam tuy đông đảo nhưng vẫn chỉ là những ngôi sao lẻ loi, sống và viết lặng lẽ âm thầm. Viết vì đức tin lòng đạo, viết để ngợi ca, viết như lời cầu nguyện trong khung cảnh dòng tu, nhà thờ, xứ đạo làng quê hơn là muốn góp mặt góp tiếng với trận bút trường văn. Đã có nhiều, khá nhiều tác giả mai danh ẩn tích, nhiều tác giả chịu thiệt thòi cam phận khuyết danh, vô danh, tam sao thất bản hoặc mất tăm mất tích luôn. Đến nỗi đã có dư luận bảo đó là “ngoại thư”, là “dã truyện”, là “bí lục” hoặc “ngụy tín”. Thành thử ra, suốt mấy trăm năm qua, người Công giáo Việt Nam bị mang tiếng là “ngoại giáo”, trong tay chẳng có gì làm của riêng, vốn riêng đóng góp vào gia tài văn học Việt Nam? Tội nghiệp…” (tr. 341).

            Đoạn văn trên được viết bằng kiểu câu dài, cảm xúc mạnh mẽ. Phép trùng điệp làm nồng cháy trang văn. Và để “nâng” sự cộng hưởng cảm xúc nơi người đọc, ông bộc lộ trực tiếp cảm xúc của mình. Ông viết: “Tội nghiệp…” như một tiếng ngậm ngùi trĩu lòng. Về nội dung, Lê Đình Bảng nêu nhiều vấn đề trong “suốt mấy trăm năm qua” nhưng không có một dẫn chứng cụ thể nào! Đâu là “ngoại thư”? Đâu là “dã truyện”? Đâu là “bí lục”? Tác phẩm nào là “ngụy tín”? Phải chăng Lê Đình Bảng muốn nhắc đến cuốn Tây Dương Gia Tô bí lục (1812)? Đây là cuốn sách nhảm nhí, bịa đặt, xuyên tạc để “đánh phá” Ki Tô giáo, sao được kể là “văn học Công giáo”? “Ngụy tín” là một từ để chỉ lòng tin mù quáng sai lạc, không có sách nào gọi là sách “ngụy tín”, chỉ có “ngụy thư”.

            Cũng về nội dung diễn đạt, Lê Đình Bảng không xác lập thế nào là tác phẩm văn học khi ông gom tất cả các sách của “nhà đạo” và chung thuật ngữ “văn học”. Sách “Viết vì đức tin lòng đạo,… viết như lời cầu nguyện trong khung cảnh dòng tu, nhà thờ, xứ đạo…” thì đó là sách tôn giáo, không phải sách văn học. Câu văn sau đây có vấn đề về phép kết nối, tạo ra sự hàm hồ về nghĩa: “Đã có nhiều, khá nhiều tác giả mai danh ẩn tích, nhiều tác giả chịu thiệt thòi cam phận khuyết danh, vô danh, tam sao thất bản hoặc mất tăm mất tích luôn. Đến nỗi đã có dư luận bảo đó là “ngoại thư”, là “dã truyện”, là “bí lục” hoặc “ngụy tín””.Hai lần Lê Đình Bảng nói đến “tác giả”, tức là người, sao người lại có thể bị “tam sao thất bản”, lại bị gọi là “ngoại thư”(tức là sách)? Câu văn ấy phải thêm vào cụm từ: “đã có nhiều tác phẩm bị” đặt trước chữ “tam sao thất bản” mới ra nghĩa.

Trong đọan văn trên, có một nhận định không đúng về Lý luận văn học. Lê Đình Bảng viết: “Đã có nhiều, khá nhiều tác giả mai danh ẩn tích, nhiều tác giả chịu thiệt thòi cam phận khuyết danh, vô danh, tam sao thất bản hoặc mất tăm mất tích luôn”. Khi không có tác phẩm (mất tăm mất tích), khi không có tác giả (mai danh ẩn tích) thì sao gọi là tác giả, tác phẩm văn học được. Một bản thảo chỉ trở thành tác phẩm khi được in ấn, công bố và có người đọc. Cũng vậy, người viết chỉ trở thành tác giả khi tác phẩm mình viết ra, được công bố và có người đọc. Một người viết vô danh, một cuốn sách mất tăm mất tích thì đâu phải là văn học! Thành ra khi Lê Đình Bảng thở than cho tác giả vô danh, tác phẩm mất tăm mất tích thì đó không phải là những cảm xúc thật. Người đọc buộc phải hoài nghi về giá trị thông tin khoa học của những gì ông viết.

Có lẽ lối viết “tùy bút” của Lê Đình Bảng không phù hợp với thể loại nghiên cứu.

Riêng chương 4: Chặng đường đơm hoa kết trái (thế kỷ XX), Lê Đình Bảng không phân tích giá trị  văn học của bất cứ tác giả, tác phẩm nào. Một số tác giả có được giới thiệu tiểu sử và tên tác phẩm. Còn lại, rất nhiều tác giả, tác phẩm chỉ được nêu tên mà không được phân tích giá trị văn học. Có lẽ vì thế Lê Đình Bảng không có khám phá gì về những đặc điểm của văn học Công giáo trong giai đoạn này. Chẳng hạn, tính chất “hiện đại hóa” văn học với thể loại truyện của Nguyễn Trọng Quản, thơ Hàn Mạc Tử và Tuồng Thương khó của Nguyễn Bá Tòng…. Cả chương chỉ có giá trị tư liệu, thống kê tư liệu. Tính chất nghiên cứu “Lịch sử văn học” chưa được triển khai.

Điều này có thể giải thích được. Sang thế kỷ XX, số lượng tác giả, tác phẩm của người cầm bút Công giáo đã tăng lên rất nhiều. Để đọc hết tác phẩm của các tác giả ấy, Lê Đình Bảng cần nhiều thời gian. Vì thế ông chỉ vẽ những nét chính của “bảng lược đồ” văn học Công giáo để người đi sau tiếp tục nghiên cứu. Cũng vì thế ông mới có sự ngộ nhận về tiểu thuyết Một Linh hồn (Thụy An) và thơ lính (Lý Thụy Ý) như tôi đã nêu ở trên. Xin đơn cử. Chỉ riêng trên tuần báo Nam Kỳ Địa Phận (1908) đã quy tụ nhiều tác giả nổi tiếng một thời như: Matthêu Hồ Tấn Đức, Jacques Lê Văn Đức, Nguyễn Hữu Bài, Hồ Ngọc Cẩn, Huỳnh Tịnh Hướng, Nguyễn Văn Thích, Lê Thiện Bá (Phêrô Nghĩa), Trần Văn Trang, Nguyễn Bá Tòng, Paul Vàng, Antoine Phi, Gabriel Hữu, Phaolô Qui, Phaolô Đạt, Nguyễn Cang Thường, Bá Đa Lộc Linh Đài, P. Đỗ Thới Của, Hồng Lam, An Phang, E.Thành Thông, Paul Tạo, Nguyễn Ngọc Quang, Francois  Hữu Tâm, P. Nguyễn Hữu Lượng, F.X. Lê Vĩnh Khương.

Do tính chất tư liệu chi phối nên Lê Đình Bảng đã đưa nhiều tư liệu tham khảo (21 bài) vào cuốn sách “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường”. Ngoài các bài ở chương 5: “Gặp gỡ những dòng sông” đứng biệt lập, những bài tham khảo khác được in trong phần nghiên cứu thay cho bài nghiên cứu của tác giả. Chẳng hạn bài viết về Girolamo Majorica của Thanh Lãng (tr.66), bài viết về A. de Rhodes của Phạm Thế Ngũ và Đỗ Quang Chính (tr.75), bài viết về Philippe Do Rosario Bỉnh của Thanh Lãng (tr.138), bài viết về Philipphê Phan Văn Minh của Phạm Đình Khiêm và Võ Long Tê (tr.164), về Cụ Sáu Trần Lục của Hoàng Xuân Việt (tr.176), Nguyễn Trường Tộ của Trương Bá Cần (tr.182), bài viết về Tuồng thương khó của Doãn Phương (tr. 382)…

Việc đưa thêm bài tham khảo vào sách có làm phong phú nội dung nghiên cứu, dù vậy nhà nghiên cứu Lê Đình Bảng nên có những “phản biện” về nội dung những gì tham khảo. Thí dụ bài “Thương khó, vở kịch nói và vở Opera đầu tiên ở Việt Nam” của Doãn Phương phỏng vấn nhà nghiên cứu sân khấu Lê Thanh Hiền. Xin lưu ý rằng có sự lẫn lộn giữa “Tuồng thương khó” của Nguyễn Bá Tòng với kịch nói “Thương khó”Opera Thương khó (tr. 382) mà ông Nguyễn Thanh Hiền nói đến. “Tuồng Thương khó” của Nguyễn Bá Tòng mới là tác phẩm ghi dấu ấn về thể loại sân khấu ở đầu thế kỷ XX.

THAY LỜI KẾT

            Có nhiều vấn đề văn học cần được tiếp tục nghiên cứu trong cuốn sách “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường”.

            Đó là vấn đề xác lập thế nào là tác phẩm văn học Công giáo? Nhà văn Công giáo có những phầm chất gì? Cũng cần phân biệt văn chương phong trào (văn chương bình dân) với với văn chương nghệ thuật (văn chương bác học/ văn chương chuyên nghiệp). Sự khác biệt giữa tác giả phong trào (người cầm bút Công giáo dùng văn chương làm phương tiện truyền giáo, viết theo quán tính) với nhà thơ, nhà văn là người sáng tạo “Cái Đẹp”. Việc phân kỳ lịch sử văn học Công giáo dựa trên những tiêu chí nào? Cần phải chỉ ra những trào lưu nào chảy suốt lịch sử văn học (thí dụ dòng Diễn ca kinh thánh, dòng Huấn ca, Hạnh các thán). Văn học Công giáo có những đóng góp gì làm phong phú văn học dân tộc (thí dụ, văn học Công giáo góp phẩn đưa văn học Việt Nam thoát ly khỏi ảnh hưởng văn học Trung Quốc, hội nhập với văn học phương Tây và hiện đại hóa nền văn học dân tộc). Bối cảnh lịch sử xã hội và công cuộc truyền giáo ảnh hưởng thế nào với sự phát triển của văn học Công giáo? Giáo hội có vai trò gì trong việc loan báo Tin Mừng bằng văn hóa, văn học? Những nhà văn nào, những tác phẩm nào là tiêu biểu cho văn học Công giáo, sánh ngang hoặc đi trước văn học dân tộc? Nguyên nhân nào khiến cho văn học Công giáo không được công chúng và giới nghiên cứu văn học thế tục chú ý?…

Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường” có thể gợi mở cho những vấn đề đó. Bởi tác phẩm này là nguồn, là “bảng lược đồ” là những đường nét đầu tiên của diện mạo văn học Công giáo Việt Nam mà những nhà nghiên cứu đi sau nhất thiết phải tham khảo, phải nghiên cứu, phải đối thọai, để Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam được khẳng định và trở thành dòng chảy chung trong lịch sử văn học Việt Nam. Chỉ bấy nhiêu thôi thì tâm huyết, công sức và tài năng của nhà nghiên cứu Lê Đình Bảng cũng đã được ghi nhận. Ông đã đặt một mốc son trong hành trình chung của việc nghiên cứu văn học Công giáo Việt Nam.

            Việc ghi nhận của chúng tôi không tránh được cái nhìn chủ quan, mong là sự gợi mở những vần đề, để các nhà nghiên cứu trẻ tiếp tục. Văn học Công giáo Việt Nam đang gọi mời những nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, những tấm lòng và tài năng của giáo hội tham gia.

Tháng 10/ 2021

________________________________ 

[1] Nhà nghiên cứu văn học Lê Đình Bảng Sinh ngày 17.9.1942 tại làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh. Quê: Thọ Cách, Thái Thụy, Thái Bình. Học Tiểu chủng viện Mỹ Đức (Thái Bình), Phan Rang và Phanxicô Savie (Bùi Chu) Sài Gòn, ĐCV Lê Bảo Tịnh – Gia Định (1958-1960). Tốt nghiệp Cử nhân Giáo khoa Việt Hán – ĐH Văn khoa Sài Gòn (1966), ĐH Sư Phạm Sài gòn -Việt Hán (1971). Ông đã in các tập thơ: Bước chân giao chỉ (Sài gòn 1967), Hành hương (2006), Quỳ trước đền vàng (2010), Lời tự tình của bến trần gian (2012), Ơn đời một cõi mênh mang (2014), Kinh buồn (2014), và các tập thơ được phổ nhạc: Đội ơn lòng Chúa bao dung (2012), Lời khấn nhỏ chiều Chúa nhật (2012), Về cõi trời mênh mang (2012).

***

BẠN CÓ THỂ ĐỌC TẤT CẢ BÀI VIẾT CỦA BÙI CÔNG THUẤN TẠI:

http://buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

TÂY DƯƠNG GIA TÔ BÍ LỤC-Những nghi vấn

BẠN CÓ THỂ ĐỌC TẤT CẢ BÀI VIẾT CỦA BÙI CÔNG THUẤN TẠI:

http://buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

Bùi Công Thuấn

***

            Tôi đọc cuốn Tây Dương Gia Tô bí lục [1] do Ngô Đức Thọ dịch và giới thiệu từ bản chữ Hán. Bản tiếng Việt của tác phẩm này do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội ấn hành năm 1981, với dòng ghi “Lưu hành nội bộ“. Ngoài bìa ghi: Tây Dương Gia Tô bí lục- “Ghi chép những chuyện kín của đạo Gia Tô Tây Dương”. Ngô Đức Thọ có bài giới thiệu tác giả, tác phẩm, văn bản, và phân tích. Ông đánh giá Tây Dương Gia Tô bí lục là “Tiếng vang của một cuộc đấu tranh tư tưởng”, tác phẩm có “Giá trị văn học và sử liệu”, đó cũng là “Tấm lòng của những người Thiên Chúa giáo yêu nước”. Ông kết luận: Vì vậy, mặc dù có những hạn chế nhất định, Tây Dương Gia Tô bí lục đáng được ghi nhận là một tác phẩm văn học yêu nước có phong cách nghệ thuật độc đáo, đồng thời là tài liệu tham khảo có giá trị đối với công tác nghiên cứu lịch sử, nhất là lịch sử tư tưởng Việt Nam.”

NHỮNG NGHI VẤN

            Dịch giả Ngô Đức Thọ cũng đưa ra những nghi vấn về cuốn sách. Ông gọi cuốn sách “là một tác phẩm truyện ký dã sử bằng chữ Hán về đề tài tôn giáo với quan điểm tư tưởng yêu nước chống đế quốc xâm lược”. Nhưng sau đó ông lại viết: “những điều ghi chép có tính chất tự truyện rải rác trong tác phẩm”.

“Dã sử” tức là những chuyện lưu truyền trong dân gian không rõ xuất xứ (thí dụ Truyện Họ Hồng Bàng của người Việt), trái lại “những điều ghi chép có tính chất tự truyện” là truyện thật của tác giả. Nếu là truyện thật thì tác phẩm mới có giá trị tư liệu (thí dụ Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác in 1885). Vậy Tây Dương Gia Tô bí lục là “dã sữ” hay là truyện ký? Xưa nay chưa có thể loại “truyện ký dã sử” trong văn học. Không xác lập được kiểu loại, bút pháp, cách viết của tác phẩm thì không thể xác định được đúng nội dung ý nghĩa tư tưởng và giá trị của tác phẩm. Căn cứ vào những gì được giới thiệu thì ông Ngô Đức Thọ coi Tây Dương Gia Tô bí lục là một truyện ký nên mới khẳng định tác phẩm này tài liệu tham khảo có giá trị . Tôi e rằng đó là một nhận định không khả tín (võ đoán, hàm hồ).

Ông đặt vấn đề về tác giả: “từng có một vài người khác tham gia vào việc chú thích bình luận tác phẩm. Hơn thế, phải chăng trong định bản hiện nay phần nào còn có vai trò nhuận sắc, bổ sung của một trong những người khuyết danh, chẳng hạn ở đoạn nói về sự kiện chiến tranh thuốc phiện ở Trung Quốc? Điều đó hiện còn chưa rõ”.

Nhận định này có nghĩa, Tây Dương Gia Tô bí lục không chỉ có 4 tác giả mà còn có thêm những người khuyết danh. Như vậy, chắc chắn nội dung, tư tưởng tác phẩm không còn là thuần nhất, không còn là đúng suy nghĩ của người viết ban đầu. Ông Ngô Đức Thọ nói thêm: Trong quá trình nghiên cứu và phiên dịch tác phẩm này, chúng tôi có chú ý tìm hiểu tiểu sử của bốn tác giả. Nhưng có lẽ vì thời gian đã xa,…, cho nên tên tuổi và hành trang của các vị không khỏi bị những kẻ thiếu thiện chí làm cho lu mờ, thanh danh mai một. Ngay cả tác phẩm của các vị cũng chỉ mới sưu tầm được cách đây không lâu”.

Nói cách khác, cả 4 tác giả trên đều không có nhân thân cụ thể, không tồn tại trong lịch sử. Đây là một nghi vấn lớn, bởi trong Tây Dương Gia Tô bí lục, ông Ngô Đức Thọ tìm thấy “những điều ghi chép có tính chất tự truyện” của tác giả, và văn bản Tây Dương Gia Tô bí lục ghi rõ ngày, tháng năm sự việc xảy ra, thì 4 tác giả đều là “Giám mục”, không thể không để lại dấu tích, nhân thân của mình trong lịch sử truyền giáo và vết tích trong văn hóa thời đại (chẳng hạn họ có những tác phẩm khác nữa, hoặc có những người khác, sách khác viết về họ).

Đọc Tây Dương Gia Tô bí lục, người đọc nhận ra có 3 văn bản tác phẩm: Thứ nhất là Gia Tô bí pháp (của Phạm Văn Ất và Nguyễn Đình Bính). Thứ hai là Tây Dương Gia Tô bí lục (của Văn Hoằng và Đức Đạt). Thứ ba là một “bản sao” duy nhất do Văn Hoàng giấu kín, đến nay mới được phát hiện. Vấn đề là, văn bản hiện nay có phải là văn bản của Văn Hoàng cất giấu hay không thì chưa được làm rõ. Nếu vậy, văn bản Tây Dương Gia Tô bí lục hiện nay sao có thể được coi là cứ liệu có giá trị khoa học để nghiên cứu?

Cũng cần lưu ý rằng, khi hai ông Văn Hoằng và Đức Đạt đến thăm Nguyễn Đình Bính, hai người được Nguyễn Đình Bính “lấy thủ cảo cuốn Gia Tô bí pháp đưa cho Văn Hoằng và Đức Đạt xem”; “Văn Hoằng cũng lấy tập sách do mình soạn đưa cho Đình Bính xem. Đình Bính cả mừng góp thêm ý kiến sửa chữa thêm bớt, khiến cho người ta chỉ đọc qua một lần là biết ngay thủ đoạn lừa bịp của bọn chúng. Đó chính là tập sách này đây”.

Như vậy “tập sách này đây” (Tức Tây Dương Gia Tô bí lục) là của Văn Hoằng. Tập sách này đã được Nguyễn Đình Bính xem, “góp thêm ý kiến sửa chữa thêm bớt”, và chính Văn Hoằng trước khi in, đã đóng cửa không ra khỏi nhà, tham khảo rộng thêm các sách truyện ký của người Tây Dương, dọn lại sách này một lần nữa, rồi thuê người viết chữ, khắc bản gỗ đem in để lưu hành cho công chúng đọc”. Vậy người cuối cùng quyết định nội dung và việc in ấn phát hành cuốn sách là Nguyễn Văn Hoằng. Những tường thuật cụ thể như thế giúp người đọc nhận ra cuốn Gia Tô bí pháp củaPhạm Văn Ất và Nguyễn Đình Bính không phải là Tây Dương Gia Tô bí lục.

Cuốn Gia Tô bí pháp của Phạm Văn Ất và Nguyễn Đình Bính có lẽ chỉ là sách ghi chép lại các “Phép bí tích của đạo Gia Tô” của giáo hội Công giáo, có tính chất thuần túy tôn giáo, không thể là những “bí mật” về âm mưu xâm lược được.

Môt nghi vấn khác là những sách “nguồn” mà các tác giả tham khảo để viết. Tây Dương Gia Tô bí lục ghi nguồn như sau:

“Các sách truyện ký của người Tây Dương thì có nhiều, chỉ chọn nêu lên 7 bộ quan trọng sau đây:

  1. Bí lục, tức là sách Gia Tô bí pháp chỉ các Tổng giám mục mới được đọc.
  2. Thực lục, tức là sách do môn đồ của Jêsu ghi lại những điều tai nghe mắt thấy.
  3. Ngoại lục, ghi những lời vua tôi Tây Dương khoe khoang khoác lác để mê hoặc dân chúng.
  4. Giảng lục, soạn những lời dối trá, lừa bịp.
  5. Ngâm lục, lược trích từ sách Thực lục, chia làm 15 đoạn ngâm, nay giáo dân vẫn dùng để tụng niệm.
  6. Quốc ký, ghi chép về vua tôi các đời của nước Tây Dương.
  7. Nhất thống, ghi về những nước bị Tây Dương thôn tính.

Nay xin thâu góp ở các sách nói trên lược soạn thành một sách, gọi chung là Bí lục để tiện xem đọc”.

Những “nguồn” trên không ghi rõ là những cuốn sách nào. Chẳng hạn, “Thực lục, tức là sách do môn đồ của Jêsu ghi lại những điều tai nghe mắt thấy”, vậy đó có phải là sách Phúc âm của Matthêu, Luca, Maccô hay Gioan; hay sách Tông đồ Công vụ”, thư gửi các giáo đoàn của Phêrô, Phaolô…?

Ngoại lục, ghi những lời vua tôi Tây Dương khoe khoang khoác lác để mê hoặc dân chúng”, những lời này tác giả ghi trực tiếp hay ghi lại từ những sách nào, không nói rõ. Thực ra đây là cách đánh tráo. Đó là lời của Tác giả, nhưng được gán vào miệng nhân vật.

Sao có thể “thâu góp ở các sách nói trên lược soạn thành một sách, gọi chung là Bí lục “? Tức là, Tây Dương Gia Tô bí lục là bản “thâu góp” tất cả các sách tham khảo đã nêu? Vây đâu là phần tác giả “sáng tác”?

Khi những “sách nguồn” không được xác định và không được trích dẫn chuẩn xác thì mọi tường thuật đều là bịa đặt.

Một điều buộc người đọc phải nghi vấn về giá trị thực của cuốn sách là sự mờ nhòe của lịch sử.  Tây Dương Gia Tô bí lục ghi rõ về nhân thân, việc làm của các đời giáo hoàng liên tiếp nhau là Giáo hoàng Tây Dương Maisen, Lôrenxô, Đixirô, Pio, nhưng khi tra cứu danh mục các Giáo hoàng La mã, không thấy có 4 đời giáo hoàng liên tiếp như thế. Cũng vậy, “Giám mục đốc chính” Thăng Long năm 1812 (người bỏ tiền ra mua hết sách in của Văn Hoằng) tên là gì cũng không được tác giả ghi rõ ra. Xa hơn, tác giả Tây Dương Gia Tô bí lục cho rằng các Giám mục, Linh mục người Việt thời ấy là những người“cam tâm làm đầy tớ trung thành cho bọn người Tây Dương, ngấm ngầm bán rẻ đất đai con dân nước ta cho chúng”, nhưng trong cả cuốn sách, tác giả lại không nêu tên cụ thể một Giám mục nào (giống như việc không nêu tên Giám mục đốc chính Thăng Long 1812), điều này có ý nghĩa gì? Sự mập mờ này phải chăng các tác giả không có chứng cớ xác thực, mà chỉ võ đoán nên không dám “tố cáo” thẳng người thật việc thật?

Như vậy cả về tác giả, văn bản, thể loại tác phẩm và nguồn dẫn đều có những nghi vấn lớn. Nếu những nghi vấn này không được làm rõ thì việc đọc hiểu tác phẩm, đánh giá về tác phẩm không thể đạt được những giá trị chân thực. Vì thế, kết luận của ông Ngô Đức Thọ cần được xem xét lại. Ông viết: “Tây Dương Gia Tô bí lục đáng được ghi nhận là một tác phẩm văn học yêu nước có phong cách nghệ thuật độc đáo, đồng thời là tài liệu tham khảo có giá trị đối với công tác nghiên cứu lịch sử, nhất là lịch sử tư tưởng Việt Nam”

NỘI DUNG CỦA TÂY DƯƠNG GIA TÔ BÍ LỤC

Tây Dương Gia Tô bí lục ghi tên các tác giả và người dịch như sau:

Nam Lục lão tẩu: Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hoà Đường.

Hải Châu hậu tẩu: Nguyễn Bá Am, Trần Trình Hiên.

Ngô Đức Thọ dịch và giới thiệu.

Sách có bài tựa, mục thứ, lược dẫn, nguyên dẫn và phần chính, chia làm 9 quyển.

Nhan đề mỗi quyển như sau:

Quyển I: “Nước Jiuđê, Jêsu ra đời.

                Được môn đồ Jêsu thêm kiêu ngạo”

Quyển II: “Lên khỏi nước, Jêsu đặt bày lắm phép.

                  Bị hỏi vặn, Jêsu nguy khốn nhiều phen.”

Quyển III: “Về Jiuđê, Jêsu bị án tử hình.

                    Bừng sáng núi, xác Jêsu sống lại.”

Quyển IV: “Lên núi cao, thể phách Jêsu truyền bí pháp.

                    Hoá chim câu, thể phách Jêsu bịp loè người.”

Quyển V: “Nhờ viện quân Lâmbô, Jêsu hoá phép sinh yêu.

                  Trúng mưu kế nữ thần, quân Jêsu đành thua trận.”

Quyển VI: “Sang Tây Dương, phép thuật Jêsu đắc dụng

                    Trình “Bí lục”, môn đồ Jêsu được phong.”

Quyển VII: “Các vua đạo mượn Jêsu đối chứng.

                    Bọn quan đạo bịa chuyện láo lừa dân.”

Quyển VIII: “Quận Tây Dương thôn tính các lân quốc.

                     Các nước gần cùng nhau trừ Dương tặc.”

Quyển IX: “Thời Hậu Lê, giặc Tây ẩn náu ở nước ta.

       Đời nhà Thanh, Dương tặc công nhiên đến Trung Quốc.”

 Quyển IX kể về hoàn cảnh sáng tác và việc in ấn tác phẩm như sau:

Năm Cảnh Thịnh thứ 1 (1793) triều Tây Sơn, vào tháng 10, hai Giám mục dòng Tên ở địa phận Nam Chân là Phạm Văn Ất và Nguyễn Đình Bính sang Tây Dương khiếu nại về việc mất dòng”.

Hai ông được Giáo Hoàng đón tiếp trọng hậu nhưng không giải quyết việc khiếu nại.

Giáo Hoàng cho hai ông xem một tấm bản đồ nước ta vẽ rất rõ ràng… và lấy ra quyển sách ghi chép các phép kín bảo hai người ngồi ngay trước ghế của ngài mà đọc. Vậy là hai ông được ngồi trong điện Giáo hoàng cùng đọc chung sách Bí lụcsách Sử ký của nước Tây Dương. Hai ông nghĩ rằng: “Xem ra thì từ lâu người Tây Dương chỉ mượn danh chúa Jêsu để đi cướp nước người”. Sau khi trở về nước, hai ông dùng trí nhớ cùng nhau ghi lại cuốn Gia Tô bí pháp (Ghi chép các phép kín của đạo Gia Tô) và bí mật cất giấu…Cả hai cùng bỏ đạo (năm Cảnh Thịnh thứ 4 -1796).

Hai Giám mục Nguyễn Văn Hoằng và Đức Đạt cũng có những bức xúc. Họ tới thăm Phạm Văn Ất và Nguyễn Đình Bính (lúc này đã già), được Nguyễn Đình Bính lấy thủ cảo cuốn Gia Tô bí pháp đưa cho Văn Hoằng và Đức Đạt xem. Văn Hoằng cũng lấy tập sách do mình soạn đưa cho Đình Bính xem. Đình Bính cả mừng góp thêm ý kiến sửa chữa thêm bớt. Đó chính là tập sách này (Tây Dương Gia Tô bí lục). Năm Gia Long thứ 8 (1809), Hoằng và Đạt bỏđạo.

Sau đó Đức Đạt bị giặc Tây ám hại. “Văn Hoằng cả kinh, bèn đóng cửa không ra khỏi nhà, tham khảo rộng thêm các sách truyện ký của người Tây Dương, dọn lại sách này một lần nữa, rồi thuê người viết chữ, khắc bản gỗ đem in để lưu hành cho công chúng đọc. Sách in xong, các nhà hàng bày bán ở các phố chợ trong thành Thăng Long (Năm Gia Long thứ 11 -1812).  Giám mục đốc chính cả kinh, liền xuất 30 nén bạc để mua hết số sách đã in ra và mua luôn cả bản khắc gỗ đem về tòa Tổng giám mục tiêu hủy. Văn Hoằng căm giận, giấu kín trong nhà một bản sao để dành cho hậu thế”. Đến nay sách ấy mới được phát hiện ra.

Qua những tường thuật trên, các tác giả không cho biết cuốn Gia Tô bí pháp nói những gì, nhưng sau khi xem cuốn sách này, họ nghĩ rằng: “Xem ra thì từ lâu người Tây Dương chỉ mượn danh chúa Jêsu để đi cướp nước người”, vì thế họ viết sách để thức tỉnh người đương thời và các đời sau về những gì họ phát hiện được:

 Trong sách của chúng tôi cũng có những điều khác biệt này khác, mong quý vị lượng thứ những chỗ sai trái, lựa chọn lấy những chỗ nghe được để đặt thành phép của ta, nắm lấy thực chất sự việc để trừ diệt giặc Tây, khiến cho non sông nước Nam thì vua nước Nam ở, xã tắc vững âu vàng, muôn đời được nhờ cậy. Đó là ý nguyện thành thực canh cánh bên lòng của bốn người quê mùa chúng tôi vậy. Nay làm tựa.”

GIÁ TRỊ THỰC CỦA TÂY DƯƠNG GIA TÔ BÍ LỤC LÀ GÌ?

1.Tây Dương Gia Tô bí lục xuyên tạc, báng bổ KiTô giáo với mục đích chính trị.

            Các tác giả cho biết: “Từ Q. I đến Q. IV chủ yếu dựa vào sách Thực lục và Bí lục”, “tức là sách do môn đồ của Jêsu ghi lại những điều tai nghe mắt thấy”. Lời giới thiệu này chỉ ra “nguồn” các tác giả sử dụng để viết  Tây Dương Gia Tô bí lục là cácsách Tân Ước của Matthêu, Luca. Mac cô và Gioan, sách Tông đồ Công vụ, các thư từ của các tông đồ gửi các giáo đoàn…

            Xin đọc một đoạn Tây Dương Gia Tô bí lục viết về Đức Giê su và đối chiếu với các sách “Thực lục và Bí lục” tức là Kinh thánh mà họ đã tham chiếu để viết.

“Jêsu đi đến đâu cũng leo lên giường cao ngồi chễm chệ, dẫu đối với ông già bà cả cũng chỉ xấc xược gọi bằng ngươi, bằng mày, không có tí gì khiêm tốn, vì vậy mọi người đều ghét. Chỉ có những kẻ ngu khờ nghèo khổ hàm ơn mới kính nể tin lời, chịu chứa chấp che chở, nhờ vậy Jêsu mới được dung thân.

 Môn đồ của Jêsu là bọn Phêrô, Jiuđa thường kín đáo khuyên can Jêsu hãy nên nhũn nhặn hơn để lấy lòng dân, nhưng bị Jêsu mắng rằng: “Bọn các ngươi làm sao hiểu được ý ta! Nếu thân ta chịu khuất thì đạo ta làm sao có thể vươn ra được? Không làm cho tôn nghiêm thì đạo không tôn lên được, người ta chẳng ai theo”. Jiuđa nói: “Chỉ sợ xảy chuyện không hay, điếm luỵ đến tôn danh”. Jêsu nói: “Việc gì mà phải luỵ? Ngày sau ta sẽ có diệu kế khiến cho mọi người phải chịu luỵ với ta!”. Jiuđa nói: “Thầy có phép diệu thì tốt được cho một mình thầy, còn hàng vạn môn đồ thì làm sao mà tốt được? Vả lại, nói như thầy thì chẳng hoá ra cả nước này đều ngu dốt cả sao?”.

 Jêsu gạt đi mà nói rằng: “Như thế là ngươi cũng không tin đạo ta rồi”. Từ đó Jiuđa âm thầm nảy sinh ý định phản bội Jêsu

            Những ai đã đọc Tân Ước đều thầy rõ chẳng có cuốn Tân Ước nào miêu tả những điều như thế, không một Tân ước nào ghi những lời nói của Đức Giêsu và các môn đồ như thế. Như vậy, các tác giả chỉ dựa vào cái khung truyện trong Tân Ước rồi bịa đặt ra những chuyện về Đức Giê su, thực hiện mục đích chính trị là xuyên tạc báng bổ Đức Giêsu, lật đổ chân lý đức tin mà Đức Giêsu rao truyền. 

            Xin đọc một đoạn miêu tả cuộc chịu nạn của Đức Giêsu:

            “Dân chúng xa gần lâu nay nghiến răng căm ghét Jêsu tận xương, bấy giờ cùng nhau kéo đến nhà giám ti đồng thanh thưa rằng: “Các quan binh đã được thỏa chí, vậy cũng xin cho dân chúng tôi được hả lòng!” Viên giám ti căn dặn rằng: “Làm cho hắn biết nhục thì được, chứ không được đánh nữa”. Đám đông đồng thanh dạ ran hứa hẹn rồi lui ra; kéo đến chỗ Jêsu đang ngồi. Bọn họ lần lượt thuật các phép đạo của Jêsu bêu riếu, xách đến trước mặt Jêsu một vò nước tiểu mà bảo rằng: “Nước phép của mi đây! Nước phép của mi đây! Hãy uống cho hết nước phép của mi đi!”. Nói đoạn bọn họ đổ nước tiểu vào mồm vào mặt Jêsu. Toàn thân Jêsu ướt dầm, buốt xót đau đớn. Có người bưng cứt đến, nói rằng: “Nay phải cho mi được ăn bánh phép!” Nói đoạn nhét phân vào mồm Jêsu. Lại có người xúc cứt đổ hết trên đầu Jêsu mà nói: “Để ta làm phép Côngfirmaxông cho mi”. Dân chúng đứng xem reo cười khoái trá. Hết người này đến người khác đọc các câu niệm phép của Jêsu, có điều là vừa đọc vừa chêm vào những câu khôi hài. Có người nói: “Phép Matrimôninô đây lạ lắm! Lạ lắm! Xưa nay chưa có ai biết cách dạy nam nữ động phòng như mi!” [64] Có người cười nói: “Dạy chuyện trong chốn buồng the, biết đâu hắn ta lại chẳng làm trước chuyện ấy?” Thế là đám đông xúm lại vả vào mặt Jêsu, nghiến răng mà đánh đập.

            Lại nữa, thường ngày Jêsu vẫn khuyên răn người ta không nên dâm dục, bảo bộ phận sinh dục của người ta là cái cục tội. Đến bây giờ có người hỏi Jêsu: “Sao mi không cắt hẳn cái “cục tội” của mi đi?” Lại mắng rằng: “Không có cái “cục tội” ấy thì làm gì mà có mi? Biết đâu cái ấy lại chẳng phải là “cục phúc” của mi?” Lại một người khác nói: “Nay ta hỏi mi: nếu bảo cái ấy là “cục tội” thì trời sinh nó làm chi?” Có người phú hào ở thị trấn giả cách an ủi Jêsu mà nói rằng: “Thật tội nghiệp, tội của người thì mi giải cho, đến tội của mi thì chẳng có ai chịu giải. Nay nếu mi bảo được hai đứa gái trinh bên dân đạo chịu về với ta thì ta sẽ giải tội cho mi”. [Quyển III]

            Bạn đọc chẳng cần phải bình luận, vì đoạn văn đã lột mặt nạ sự xuyên tạc vô văn hóa của các tác giả, đồng thời chỉ rõ sự bỉ ổi đốn mạt về nhân cách của hạng người cầm bút này.

Vậy gọi sự đốn mạt, bỉ ổi vô văn hóa này là giá trị gì của tác phẩm?

Khi giới thiệu cuốn sách này, ông Ngô Đức Thọ đã cố tình bỏ qua nội dung, cách viết và mục đích của cuốn sách này (tất cả đều được viết như đoạn tôi vừa trích ở trên). Là chuyện bịa đặt, sao Tây Dương Gia Tô bí lục có thể là “tài liệu tham khảo có giá trị đối với công tác nghiên cứu lịch sử, nhất là lịch sử tư tưởng Việt Nam”?

2. Người viết Tây Dương Gia Tô bí lục tỏ ra không biết gì về KiTô giáo

            Bản dịch ghi rõ tác giả là 4 “Giám mục” Việt Nam. Hai ông Phạm Văn Ất và Nguyễn Đình Bính sang Tây Dương gặp Giáo hoàng và được đón tiếp nồng hậu, lại còn được chia sẻ những “bí mật” của đạo, để khi về Việt Nam, các ông nhớ lại và ghi thành cuốn sách Gia Tô bí pháp. Cả 4 “Giám mục” này đều bỏ đạo. Hai ông Phạm Văn Ất và Nguyễn Đình Bính về quê sống đời dân dã tuổi già.

            Ai cũng biết việc đào tạo một Linh mục là rất nghiêm nhặt trong nhiều năm. Linh mục được học rất kỹ về Kinh thánh, về Thần học, về giáo luật, về tu đức; được thử thách rất khổ công về đức tin trong nhiều hoàn cảnh và được huấn luyện rất kỹ về hoạt động truyền giáo. Linh mục là hiện thân của Đức Giêsu ngay trong cuộc sống này. Linh mục là người từ bỏ mình mà vác thánh giá theo Chúa (Mt 16, 24). Linh mục xác tín điều này: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18, 36). Và ý thức rõ thân phận mình: “Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói.” (Lc 10,3). Và vì thế, có thể hiểu vì sao thời kỳ bách đạo từ Quang Trung đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đã có rất nhiều Linh mục, Giám mục bị giết hại vì kiên trung giữ Đức Tin. Giám mục là người có sự hiểu biết sâu rộng hơn, đức độ hơn, khôn ngoan hơn, can trường hơn.

            Vì thế việc bỏ đạo của hai Giám mục Phạm Văn Ất và Nguyễn Đình Bính, và sau đó là Văn Hoằng và Tấn Đạt là rất khó xảy ra. Bởi vì, nếu hai người chỉ coi tấm bản đồ Việt Nam của Giáo hoàng, và được xem sách Gia Tô bí pháp thì chưa đủ động lực bỏ đạo. Bỏ đạo là từ bỏ Đức Tin đã được giáo dục rất sâu xa ngay từ nhỏ. Bỏ đạo là đạp lên lời thề khi đón nhận chức Linh mục; và khi trở về đời sống thế tục, họ sẽ phải sống trong mặc cảm kẻ phản bội như Giuda và bị giáo dân rất xem thường..

            Là Giám mục, khi nói hay viết lại Lời Chúa trong Kinh thánh, luật buộc các ngài phải trích dẫn nguyên văn, chính xác và ghi rõ nguồn (trích ở sách Kinh thánh nào, đoạn mấy, câu mấy). Không thể có việc kể lại chuyện Kinh Thánh mà tự mình gán cho nhân vật Kinh thánh những lời do mình bịa ra. Cần phải hiểu các Giám mục là những người trí thức, hiểu rõ những chuẩn mực viết sách. Có lẽ tác giả là một người ngoại đạo, không hiểu phép đạo, không hiểu những nguyên tắc trí thức khi viết sách, càng không hiểu Kinh thánh là “Lời Chúa”, “Lời hằng sống”, là “Chân lý”, nên mới bịa đặt ra như vậy.

 Điều làm lộ rõ sự không hiểu biết của các tác già là cuốn “Gia Tô bí pháp”. Căn cứ vào tên cuốn sách thì đó là sách ghi “các phép bí tích của đạo Gia Tô”. Chữ “bí” là “Bí tích”, “Pháp” là phương pháp thực hiện hay cách làm. “bí pháp” không phải là sách “bí mật” giáo hội che giấu âm mưu xâm lược. KiTô giáo có 7 Bí tích là: Bí tích Rửa Tội. Bí tích Thánh Thể. Bí tích Thêm Sức. Bí tích Hoà Giải. Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Bí tích Truyền Chức Thánh. Bí tích Hôn Phối.

Sự thiếu hiểu biết này cùng với những bịa đặt (đã nêu) chỉ ra Tây Dương Gia Tô bí lục là sách giả, sách nhảm nhí bậy bạ, không phải là sách theo những chuẩn mực của thánh hiền (Văn chương cổ được viết theo ý thức “văn dĩ tải đạo”)

            Tôi ngờ rằng tác giả là một người ghét “tả đạo”, biết lõm bõm một vài điều về KiTô giáo, quan sát được một vài lần các Linh mục cử hành thánh lễ, lại sẵn “tà tâm” chính trị nên bịa ra câu chuyện, với các nhân vật, tình tiết, lời nói sai lạc như vậy. Nếu là một nhà Nho uyên bác, có đạo đức, “thành ý, chính tâm”(sách Đại Học), thì không bao giờ vi phạm những chuẩn mực của người cầm bút như tác giả Tây Dương Gia Tô bí lục.

            Gọi là biết lõm bõm vài điều sai lạc về KiTô giáo vì tác giả không phân biệt được bản chất hướng thiện của tôn giáo, không phân biệt được chính-tà, chỉ lặp lại một luận điệu tuyên truyền rằng, các giáo sĩ nước ngoài là gián điệp, người theo Ki Tô giáo là những kẻ theo “tả đạo”, theo Tây bán nước.

Rất rõ ràng là các giáo sĩ đã đến Việt Nam từ năm 1533 nhưng mãi đến 1858 Pháp mới nổ súng tấn công Đà Nẵng, tức là hơn 300 năm sau. Chẳng lẽ có người làm gián điệp đến hơn 300 năm? Cũng rất rõ ràng là, hai nước Cambuchia và Lào đều là nước Phật giáo, họ cũng bị Pháp xâm lược, vậy phải giải thích thế nào? Các nước đế quốc đi xâm lược là xu thế của thời bấy giờ. Ấn Độ trở thành thuộc địa Anh (1850). Indonesia phải sống 3 thế kỷ dưới ách thống trị của thực dân Hà Lan. Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha là những đế quốc có thuộc địa trải rộng. Việt Nam phải ký hiệp ước 1884 nhận chịu sự bảo hộ của Pháp vì vua tôi nhà Nguyễn yếu kém cả chính trị, ngoại giao, quân sự, để mất nước. Lẽ nào vì các giáo sĩ truyền giáo mà Việt Nam bị Pháp xâm lược! Ngay cả Giám mục Bá Đa Lộc là người có công với vua Gia Long cũng không gây được ảnh hưởng gì với nhà Nguyễn. Cho nên cái gọi là “lòng yêu nước của tác giả cuốn sách này” chỉ là một mặt nạ văn học. Và có lẽ cuốn sách này do người đời sau viết, đặc biệt là việc hô khẩu hiệu chính trị. Khẩu hiệu ấy ghi rõ trong lời kết của ông Ngô Đức Thọ: “qua đó chúng ta tìm hiểu được cách suy nghĩ của đông đảo người nước ta trước đây trước vấn đề Thiên Chúa giáo.

3. Về “nghệ thuật văn chương” của Tây Dương Gia Tô bí lục

            Có một chiến lược tấn công để “lật đổ” KiTô giáo trong cuốn sách. Cuốn sách không chỉ tuyên truyền luận đề các giáo sĩ Ki Tô giáo cam tâm theo giặc bán nước mà còn muốn “lật đổ” cả KiTô giáo ở Việt Nam, bằng cách nêu gương cả 4 “Giám mục” yêu nước mà bỏ đạo (Tất nhiên thời nào, ở đâu cũng có kẻ phản bội. Giuda là một minh chứng).

            Trước tiên các giả đứng trên lập trường Nho giáo gọi Ki Tô giáo là “Tả đạo”, gọi các giáo sĩ Tây Dương là giặc (Cách gọi này đã có từ thời Gia Long trong chỉ dụ 1804). Khi xem cuốn sách Gia Tô bí pháp của Nguyễn Đình Bính, hai ông Văn Hoằng và Đức Đạt kêu thốt lên: “Chính là giặc! Chính là giặc rồi! Đúng như người ta nói: không mưu đồ lợi lớn thì việc gì phải đánh đường sang đây! Bọn ta chìm vào đảng giặc đã lâu quá rồi!”.

            Chiến lược ấy bắt đầu bằng việc “lật đổ” Đức Giêsu và đạo thánh của Người (các Bí tích, cách nghi lễ thờ phụng, các giáo luật…) . Sau đó tấn công vào giáo hội của Giêsu là các Giáo hoàng, vào việc truyền giáo trên thế giới rồi đến các giáo sĩ ở Việt Nam.

Đức Giêsu được nhấn mạnh chỉ là một kẻ lừa bịp. Tác giả đem tất cả bút lực và tà tâm để tục hóa hình ảnh Giêsu dùng những lời bình thô tục mạt hạng để “hạ bệ” nhân vật Giêsu:

Đức Giêsu là Thiên Chúa giáng sinh bị gọi là: “con quỷ mới sinh làm người”. Lên 8 tuổi thì ”Jêsu bắt đầu lòe bịp lừa người. Về sau thì y làm nhiều sự việc kỳ dị không tài nào ghi chép xuể”. 18 tuổi Giê su đã thu phục 12 tông đồ. “Jêsu từ nhỏ đã là kẻ xấc xược, ngang ngạnh, nay có được chừng ấy môn đồ, lại càng càn rỡ chẳng coi ai ra gì, tự xưng là thầy cả”…

“Jêsu lại làm ra hai bổn kinh gọi là kinh Bởi trời và kinh Lạy cha, và làm ra chuỗi hạt gọi là chuỗi con niệm để cho những kẻ ngu dốt sử dụng khi làm lễ đọc kinh”; “Jêsu lại làm ra kinh Mười điều răn, bắt những kẻ ngu đần làm theo những lời răn ấy, lấy đó làm cái đích để tự xét tội lỗi của mình, ai phạm điều gì thì phải tự xưng ra, gọi là “cầu phép chúa Trời”…

“Jêsu muốn thay đổi hết phong tục trong nước khiến cho chỉ một mình được độc tôn, bèn nghĩ ra lắm phép bịp để lừa người. Khi có ai vặn hỏi, Jêsu đều khéo miệng trả lời biến báo để xoa lấp sự dối trá”…

 “Trước hết Jêsu thử làm phép nước thánh: múc một bình nước trong, đổ muối vào, đem cất kín chừng 10 ngày rồi lấy ra bày lên bàn thờ chúa Trời. Khi làm lễ, Jêsu áp miệng vào bình lẩm nhẩm đọc lời cầu khấn, xin chúa Trời ban phép cho để bình nước này diệt trừ ma quỷ. Xong đó, Jêsu bảo mọi người rằng: “Phàm những ai bị tà ma ám ảnh hoặc gặp tai nạn hoả hoạn, lấy nước bình thánh này rảy vào thì đều qua khỏi cả”. Có người hỏi: “Nước gì mà hay như thế?”. Jêsu đáp: “Đó là nhờ phép thần thông biến hoá, ví như trời mưa thì không đâu không khắp”. Phép nước thánh bắt đầu như vậy”…

“Người ta lại hỏi rằng nói Ađam nuốt quả cấm là căn cứ vào sách nào? Jêsu đáp: “Cứ xem ngay ở cổ họng đàn ông có cục xương trồi ra, mà ở đàn bà thì không có”. “Jêsu khéo viện dẫn những chứng cớ như thế, cho nên những kẻ ngu khờ lại càng thêm tin”…

“Lại qua năm sau nữa, thấy người ta đã tin phép rửa tội, Jêsu lại đặt ra phép giải tội, lừa phỉnh dân chúng” …

  “Qua năm sau, thấy người ta đã tin phép xưng tội, giải tội, nhưng vẫn lo còn có kẻ nghi ngờ. Phải nghĩ cách trấn áp tâm trí họ. Jêsu bèn đặt ra phép “rượu thánh, bánh thánh”. Rượu thì lấy quả nho ép ra nước, đựng vào chén thuỷ tinh gọi là chén “calixa” có chân đế cao 1 thước. Bánh thánh thì làm bằng bột mì, hình dáng như chiếc bánh bẻ [10] . Thứ bột thật trắng và mịn, bỏ vào lò sấy khô, khi ăn vào miệng là tan ngay. Lấy kéo cắt vài miếng tròn như miệng chén, còn mấy chục miếng khác thì nhỏ vừa bằng đồng tiền, bỏ cả vào một chiếc chén bạc. Khi làm lễ, Jêsu tay nâng chén rượu ngẩng mặt lên trời khấn nhẩm, rồi cầm lấy chén bánh hai tay ốp sát thành chén, cúi đầu áp miệng mà khấn nhẩm. Khấn xong, trước hết Jêsu giơ chén “rượu thánh” lên trước bàn thờ chúa Trời. Môn đồ lắc chuông tay làm hiệu cho mọi người quỳ lạy. Jêsu giơ lên hạ xuống mấy lần rồi ngửa cổ uống hết chén rượu. Sau đó Jêsu dùng ngón cái và ngón trỏ nhón chiếc bánh tròn to nhất giơ lên, môn đồ lại nhắc chuông ra hiệu cho mọi người quỳ lạy như trước. Bốn, năm thiếu nữ được chọn đứng dưới bàn thờ ngân giọng hát rằng: “Con kính lạy mình thánh chúa Trời”. Ngâm hát như thế ba lần [11] . Jêsu ngẩng đầu bẻ bánh mà nuốt, xong lại đứng ngay ngắn. Một lát sau Jêsu cầm chiếc bánh giơ lên, nghi lễ cũng như trước. Rồi đó Jêsu bảo những người xưng tội bước lên quỳ một hàng ngang, hai môn đồ giăng một tấm vải trắng ra phía trước, mọi người giơ tay đỡ, còn hai đầu thì do hai môn đồ đứng cầm. Bấy giờ Jêsu đi bỏ bánh vào miệng cho từng người, bảo phải nuốt trửng không được nhai. Ai nhai bánh là phạm tội phải đày xuống địa ngục. Giải quyết bảo mọi người rằng: “Bánh thánh đã vào lòng dạ các ngươi, từ nay lòng dạ các ngươi được sáng láng” [12] . Tiếp đó lại ra hiệu cho các thiếu nữ đọc rằng: “Lạy ơn Đức chúa Trời cao cả từ nay đã soi tỏ ngôi nhà linh hồn con”. Lễ xong, Jêsu lại bước lên bệ đứng chính vị. Những kẻ ngu khờ thấy thế lại càng tin là mình đã được miễn tội. Phép “rượu thánh, bánh thánh” bắt đầu có từ đó”…

 …Được một năm, thấy người ta đã tin phép xức dầu thánh cho người ốm, Jêsu lại đặt thêm phép chuộc tội”…

           “Jêsu gọi những người phạm tội phải liếm đất tới, không phân biệt đàn ông đàn bà, đuổi hết những người xung quanh rồi hỏi từng người: “Việc liếm đất thế nào rồi?” Ai nấy đều trả lời: “Đã liếm rồi”, Jêsu mừng thầm, cười mà bảo riêng với các môn đồ rằng: “Bảo liếm đất mà bọn họ cũng làm thì chẳng còn việc gì mà họ không theo”…[2]

            Tất cả các chương kể về Giêsu đều viết như thế. Mục đích nhấn mạnh rằng Giêsu chỉ là kẻ lừa gạt. Đạo Giêsu là đạo lừa gạt “những kẻ ngu dốt”. Hội thánh (các Giáo hoàng, các vua Tây dương) dùng mọi thủ đoạn, từ dùng tiền mua chuộc đến đem quân đánh chiếm) để truyền giáo, để xâm lược: “Hiểm ác thay tên vua quỷ Tây Dương! Lại thêm yêu tà Jêsu! Bọn chúng muốn phen này nuốt trửng nước ta!

            Chỉ tiếc là “chiến lược” (mưu lược viết lách) ấy không lừa được ai, bởi vì những người có Đức Tin, những người hiểu biết, những người “thành ý chính tâm” đều đọc được cái “tâm bất chính” ẩn dưới những câu chuyện bịa đặt ấy.

            Đã là “chiến lược” bịa đặt thì việc dựng lên những năm tháng lịch sử, trưng ra vài sự kiện lịch sử (Chiến tranh nha phiến ở Trung quốc), miêu tả sinh động, dung hợp nhiều kiểu bút pháp (kể chuyện dân gian, kể chuyện lịch sử…) chỉ là sự “thâu góp” các sách tham khảo nhằm đánh tráo sự thật và đánh lừa người đọc. Chuyện bịa trở thành truyện thực. Sự đánh tráo này hiệu quả đến nỗi dịch giả Ngô Đức Thọ lầm tưởng Tây Dương Gia Tô bí lụctài liệu tham khảo có giá trị đối với công tác nghiên cứu lịch sử, nhất là lịch sử tư tưởng Việt Nam”.

Các tác giả tỏ ra không hiểu biết gì đặc trưng thể loại, về bút pháp, về cấu trúc của một tác phẩm văn học, nên mới “thâu góp” tất cả vào “bí lục”. Thí dụ, nếu là thể loại truyện thì cấu trúc tác phẩm phải thống nhất thời gian, không gian; các nhân vật vận động theo quy luật hiện thực mà ta quen gọi là số phận. Góc trần thuật, cách kể là của một người (tác giả). Thử hỏi trong “Tây Dương Gia tô bí lục” ai là nhân vật chính. Đức Giê su hay các ông Phạm Văn Ất, Nguyễn Đình Bính, Văn Hoằng hay Đức Đạt? Không gian, thời gian trong truyện là thời Đức Giêsu hay thời nhà Thanh hay thời Gia Long? Về bút pháp, truyện được kiến tạo vằng cách dựng lại sự việc như đang xảy ra trong hiện tại. Sao lại có những chương viết riêng như chép sử…Nói như thế để xác lập rằng, tác giả chẳng “có phong cách nghệ thuật độc đáo”gì, không có ý thức sáng tạo. Họ chỉ “thâu tóm” các sách tham khảo một cách vô thức.

Có lẽ ông Ngô Đức Thọ cũng không biết gì về Ki Tô giáo nên mới tin những gì Tây Dương Gia Tô bí lục viết là thật, là “tư liệu có giá trị”. Nếu ông “thành ý, chính tâm”, xin hãy đọc lại 4 Kinh thánh Tân Ước của Matthêu, Luca, Mac cô và Gioan, cùng với sách Tông đồ công vụ rồi so sách với những gì được kể trong Tây dương Gia Tô bí lục, thì ông sẽ “ngộ” ra nhiều điều. Chuyện yêu nước chống Pháp không phải là độc quyền của các tác giả cuốn sách mà ông ca ngợi. Lm Đặng Đức Tuấn (1806-1874), Nguyễn Trường Tộ (1830-1871), Quận công Nguyễn Hữu Bài (1863-1935) không là những người Công giáo yêu nước đó sao!

KẾT

            Theo tôi, Tây Dương Gia Tô bí lục chỉ là một cuốn sách nhảm nhí, hết sức suy đồi (loại ngụy thư). Bậc thức giả chỉ đọc vài trang là vứt vào giỏ rác. Vì toàn bộ nội dung viết về Ki Tô giáo đều là bịa đặt, cố ý làm sai lạc. Người viết có cái tâm bất chính. Ngôn ngữ và nội dung bịa đặt của cuốn sách soi rõ khuôn mặt người viết, đó là một nhân cách mạt hạng. Cuốn sách được viết để thực hiện một “chiến lược chính trị” chống Ki Tô giáo. Bản văn chúng ta hiện có không biết có phải là bản văn duy nhất mà Văn Hoằng giấu được (năm 1812) hay không. Việc Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành, với dòng ghi “Lưu hành nội bộ” là một khẳng định nghi vấn về sự chân thực của văn bản.

Khi một cuốn sách còn có quá nhiều nghi vấn về tác giả, nội dung, văn bản thì không thể phổ biến rộng rãi. “Lưu hành nội bộ” hàm nghĩa như vậy. Những lời giới thiệu của Ngô Đức Thọ trở thành những lời lừa dối. Nó làm lộ ra cái “tà tâm” của các tác giả Tây Dương Gia Tô bí lục và cái “thâm ý” của người giới thiệu thêm một lần nữa.

Tháng 10 năm 2021

______________

[1] Tây Dương Gia tô bí lục bản điện tử do Talawas thực hiện:

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10340&rb=08

[2] Tôi trích hơi dài để bạn đọc không có điều kiện tiếp cận toàn vẹn tác phẩm Tây Dương Gia Tô bí lục có thể hiểu được một cách trung thực về những gi các tác giả Tây Dương Gia Tô bí lục đã viết (Bùi Công Thuấn).

INÊ TỬ ĐẠO VÃN-Những vấn đề nhìn từ văn bản

BẠN CÓ THỂ ĐỌC TẤT CẢ BÀI VIẾT CỦA BÙI CÔNG THUẤN TẠI:

http://buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

INÊ TỬ ĐẠO VÃN,

Những vấn đề nhìn từ văn bản

Bùi Công Thuấn

***

NHỮNG VẤN ĐỀ

1.vi.wikipedia cho biết:

Năm 1838, trong Tự Điển Việt-La (Dictionarium Anamitico Latinum) của Jean Louis Taberd, phần phụ lục trang 110 đến 135 có in một bài thơ (vãn) tên Inê Tử đạo vãn về một vị tử đạo có tên thánh là Inê. Bài vãn gồm 562 câu, in song song với bản dịch tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Latinh. Vị tử đạo trong bài thơ này cũng là một người phụ nữ, cũng bị bắt vào tù, bị đánh đập tra tấn, chồng con cũng vào thăm khuyên bỏ đạo nhưng vẫn kiên quyết theo Chúa tới cùng. Vì lẽ đó cho nên có ít nhất hai tác giả đã cho rằng vị tử đạo này chính là Thánh Anê Lê Thị Thành. Tuy nhiên điều này không hợp lý vì Tự Điển Việt-La được in năm 1838, trong khi Thánh Anê Thành tử đạo năm 1841.

Về tác giả, Lê Văn Hảo nhận xét Inê Tử đạo vãn khuyết danh, nhưng Lê Đình Thông lại cho rằng chính Thánh Philipphê Phan Văn Minh (1815 – 1853) là tác giả đồng thời cũng là dịch giả ba bản tiếng Latinh, Anh và Pháp. 

           (https://vi.wikipedia.org/wiki/An%C3%AA_L%C3%AA_Th%E1%BB%8B_Th%C3%A0nh )

2. Lm Đỗ Quang Chính (Nhà Sử học)

Sau năm 1700, cha Loren Huỳnh Lâu (1656-1712), viết cuốn Inê tử đạo vãn, dài 560 câu, nói về em ruột của cha là bà Inê Huỳnh Thị Thành chết rũ tù vì đạo tại Nha Ru (phía Bắc Nha Trang ngày nay) 25-12-1700.

              (http://loanbaotinmung.net/noidung/992)

3. Nhà nghiên cứu Lê Đình Bảng,

Căn cứ vào những nguồn tư liệu đáng tin cậy, trong cuốn “Văn học Công giáo Việt Nam, những chặng đường” trang 134, Lê Đình Bảng cho biết: Inê tử đạo vãn  là một thiên trường ca bi tráng với 564 câu thơ Nôm lục bát và song thất lục bát phức hợp nội dung kể chuyện bà Inê Thanh chết rũ tù vì đạo năm 1700 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) ở Đàng Trong. Tác giả không ai khác hơn là thầy cả Lôren Huỳnh Lâu (1656-1712). Quê quán ở họ đạo Lâm Tuyền, phủ Diên Ninh (nay thuộc tình Khánh Hòa)

“Inê Huỳnh Thị Thanh (1670-1700) là con thứ 8 trong một gia đình đạo hạnh gồm 12 anh chị em. Thân phụ là ông Carôlô Huỳnh Lam, thân mẫu là bà Isave. Chính Carôlô đã bỏ công bỏ của lập một nhà phước chị em Mến Thánh Giá tại Lâm Tuyền lúc Inê mới 5 tuổi. Lên 16 tuổi, Inê mồ côi mẹ. 19 tuổi kết hôn với ông Mac-cô Hiền, sinh được hai con trai là Nabê 10 tuổi và Phaolo 7 tuổi. Bị bắt, bị giam và chết vì đạo trong ngục Nha Rư (Phía bắc Nha Trang ngày nay) vào ngày 25-12-1700.

Với những kết luận của các nhà nghiên cứu trên, vấn đề tưởng như đã rõ, song không phải là không có những điều còn cần xem xét lại.

Chẳng hạn, Inê tử đạo vãn được sáng tác vào thời gian nào? Ai là tác giả? Là Loren Huỳnh Lâu, anh của Inê Thanh hay tác giả là thánh Philipphê Phan Văn Minh (1815-1853), người giúp Giám mục Taberd biên soạn tự điển Việt-La (in năm 1838)? Ngay cả văn bản chữ Quốc ngữ và ba bản dịch Anh, Pháp, Latinh của Inê tử đạo vãn in trong cuốn tự điển này là do ai thực hiện (là Giám mục Taberd hay Thánh Philipphê Phan Văn Minh) cũng chưa rõ.

TIẾP CẬN VẤN ĐỀ TỪ CHÍNH VĂN BẢN TÁC PHẨM

1. Nhân vật bà Inê (Agnes) trong bài Vãn.

Bài Vãn (gọi tắt cho Inê tử đạo vãn), kể lại sự việc xảy ra như sau: (câu 105-112)

“Canh thìn vừa thuở thiên khai

Nguyễn chúa trị đời hiệu lịnh cả ra:

Truyền cho thiên hạ gần xa,

Ai thờ đạo Phật thì ta dong tình,

Bằng ai giữ đạo thiên sinh,

Chẳng chừa thì bắt tội tình chớ tha.

Chẳng ngờ có đứa gian tà,

Lòng hềm độc dữ cáo bà Inê.”

Bản dịch tiếng Anh của bài Vãn trong tự điển Việt-La do Taberd biên soạn ghi rõ: “In

the commencement of the year Canh thìn. Nguyễn Minh, king of the realm issues an edict”. Vậy Nguyễn Minh là đời vua, chúa nào? Và ban chỉ dụ “Ai thờ đạo Phật thì ta dong tình,/ Bằng ai giữ đạo thiên sinh, /Chẳng chừa thì bắt tội tình chớ tha”.

Canh Thìn là những năm 1700, 1760, 1820. Chúa Nguyễn Minh là ai?

Sách sử cho biết Minh Chúa, Minh Vương là danh hiệu củaChúa Nguyễn Phúc Chu (16751725). Bài Vãn ghi: Bà Inê bị bắt vì chỉ dụ cấm đạo của Chúa Nguyễn năm Canh Thìn, tức là năm 1700. Đúng là trong khoảng 1700-1704 Minh Vương có nhiều hành động cấm đạo. “Nhà vương ra lệnh bắt tất cả các thừa sai và một số giáo hữu cốt cán, tuy nhiên đã không tuyên án tử hình nào, mà chỉ giam giữ và bắt nhịn đói nhịn khát để làm cho sờn lòng và cuối cùng phải ra lệnh phóng thích hoặc bắt đi lao dịch cắt cỏ cho voi ăn. Năm 1704, tất cả các thừa sai được trả tự do và vẫn được ở trong vương quốc”.(dẫn theo Nguyễn Ngọc Quỳnh:

          http://chuaxaloi.vn/thong-tin/doi-song-ton-giao-o-dang-trong/2938.html).

Như vậy, về thời điểm của câu chuyện có thể được xác định là năm Canh Thìn (1700) đời Chúa Nguyễn Phúc Chu (16751725), bà Inê, bị cáo gian và bị bắt.

 Nhưng bà  Inê là ai? Là bà Huỳnh Thị Thanh hay bà thánh Anê Lê Thị Thành tử đạo 1841?

Trong bài Vãn (Câu 377-381), bà Inê làm thơ (viết thư) gửi cho con nói rõ về gia đình:

“Mẫu thân Huình Thị mẹ là Inê:

Sinh hai con châu báu sánh kề.

Mẹ những ước đá vàng trượng mạo.

Mát cô danh ấy hiệu thật Nghiêm Hiền.

Cậu là Loren cha linh hồn thật”.

            Bà Inê trong bài Vãn là Huỳnh Thị Inê, chồng là ông Mac cô (Mark) Hiền, anh trai là Loren (Laurent). Bài Vãn nói rõ gia đình bà Inê như sau:

Ông Côrôlô Lam, ở Lâm Tuyền, Phủ Diên Ninh (Khánh Hòa), có vợ là Sa-ve (Elizabeth), sinh 12 con: bảy trai, 5 gái hiếu hòa. Loren (Laurent) là trưởng nam, dâng mình cho Chúa,  đang chức thầy, coi sóc giáo dân. Inê (Hùinh Thị) là con thứ 8, trọn bề thảo ngay, khiêm nhường nhân từ. Năm Inê 16 tuổi, mẹ chết. Năm Inê 19 tuổi, cha định việc hôn nhân. Inê kết hôn với Mác cô Hiền (Mark) sinh hai con trai là Nabê (Barnabas) và Phaolô. Năm Inê 28 tuổi, cha chết (ông Côrôlô). Năm Canh Thìn thời Chúa Nguyễn, ba người: Inê,  Mắt ta (Mattha) và  Duminh (Dominique)  có cáo trạng theo “đạo thiên sinh”. Họ bị bắt. Bị giam cầm, bỏ đói. I nê chết trong ngục.

Như vậy bà Inê trong bài Vãn là Huình Thị Inê không phải là bà thánh Inê Lê Thị Thành tử đạo 1841.

2. Loren Huỳnh Lâu có phải là tác giả bài Vãn không?

            Nhà nghiên cứu Lê Đình Bảng viết: “Từ năm 1700 giáo dân kinh đô Huế và Quảng Trị sống trong cảnh chết chóc, bắt bớ tù đày, Loren phải giả dạng làm người đi bán thuốc dạo để giúp đỡ, an ủi giáo dân. Trong tình cảnh này, ông đã chứng kiến tận mắt cái chết kiên cường của em ruột mình là Inê Huỳnh Thị Thanh và viết trường ca Inê tử đạo vãn(chú thích 72, tr. 134, sđd).

            Bài Vãn cho biết gì về Loren?

            Loren là trưởng nam, dâng mình cho Chúa và đang coi sóc giáo dân:

Loren thứ nhứt thật là trưởng nam,

Phú dâng cho Chúa mặc làm.

Học hành thông suốt, chức đang nên thầy,

Vào ra xem sóc nước vầy.”(câu 14-17).

Sau 10 năm, khi ông Côrôlô chết (Inê 28 tuổi), được Inê viết thư báo tin, Loren mới trở về nhà cùng các em lo việc an táng cha, phân chia tài sản cho các em, dặn dò các em giữ đạo cho bền,

Mười năm cha ở phương nao?

Lòng em trông nhớ rày sao mới về?

Loren an ủi mọi bề:

Các em chớ dại lỗi nghì chẳng nên.

Mới phân gia nghiệp điền viên.

Phần anh phú để cầu nguyền cho cha…

                                 (câu 60-80)

Sau đó Loren lại ra đi.

 “Loren từ giã phăng phăng lại dời.

Bình Khương vừa đến nghỉ ngơi”.

                 (câu 100)

Bình Khương là tỉnh Khánh Hòa, gồm hai phủ: Thái Khương và Diên Ninh.

Khi nghe tin Inê bị án tử, Loren đến viếng và an ủi. Loren định ở lại cùng chịu chết với em nhưng Bề trên và Inê hết sứ can ngăn, ông lại trở về với giáo dân.

Khi được báo tin Inê chết, Loren cùng giáo dân đến xin đem xác về đất thánh an táng.

Hay tin bổn đạo tới nơi.

Loren đi trước các người đi sau,

Xin quân mở cửa cho mau,

Quân quan xem thấy mọi nơi chói lòa,

Tức thì đam xác người ra.  [đam= đem]

…Đam về đất thánh một khi

          (Câu 520-528)

            Suy nghĩ về gương sáng của Inê, Loren viết một cuốn sách để dạy dỗ giáo dân và lưu truyền con cháu. Trong bản dịch tiếng Anh, đó là cuốn hồi ký (memoir):

“Linh hồn tới chốn lưu li,

Thanh nhàn tự tại oai nghi rỡ ràng.

Công danh ghi tạc bia vàng,

Trong đời có một nên gương trong trời.

Chép làm một bổn để đời,

Truyền cho thiên hạ người người học theo.”

                   (Câu 540-545)

            Bản dịch tiếng Anh là:

“I have written her life to preserve it to posterity

That all may strive to imitate her

This memoir is written  in clear language;

Read it with attention; pray with fervour”

            Như vậy, Loren đã viết về cuộc đời của Inê. Tuy nhiên hồi ký (memoir) ấy có phải là “Inê tử đạo vãn” hay không thì chưa rõ.

3. Nhân vật Loren nhìn từ góc kiến tạo tác phẩm

            Inê tử đạo vãn được viết như một truyện dài bằng thơ theo kiểu cổ điển. Truyện có lớp lang theo từng nhân vật. Mỗi lớp, tác giả tập trung kể hành động và lời nói của nhân vật, rất ít tả bối cảnh xã hội. Góc trần thuật là của tác giả, một người đứng ngoài câu truyện, nhìn về các nhân vật, các  sự việc mà thuật lại khách quan. Nhiều đoạn tác giả để nhân vật trực tiếp trần thuật.

Câu trúc truyện như sau

            1. Giới thiệu chung (4 câu)

            2. Gia thế Inê: quê quán, cha mẹ, gia đình 12 anh em. I nê thứ 8. Kể lại sự việc, I nê từ nhỏ đến khi mẹ chết, lấy chồng, rồi cha chết (lúc Inê 28 tuổi).

            3. Inê bị bắt, bị tống giam: Năm Canh Thìn, Chúa Nguyễn ra lệnh cấm đạo, I nê bị cáo gian, bị quan nghè bắt tra hỏi. I nê không chịu bỏ đạo nên bị tống giam.

            4. Inê ở trong ngục. Loren thăm em và khích lệ em. Loren cũng đòi ở lại chịu chết cùng em. Mac cô đến thăm vợ, khuyên Inê trở về nhà. Quan lại tra hỏi Inê. Inê nhất mực theo Chúa dù phải chết. Từ đó Inê bị bỏ đói khát. Trong ngục, Inê viết thư gửi về nhà, nói đạo lý và dặn dò mọi người bền lòng giữ đạo. Mac cô lại dẫn con thăm Inê và khuyên Inê trở về.

            5. Inê tử đạo. Inê bị bỏ đói. Sau hơn bốn tuần, quân canh không thấy gì. Loren đến viếng và giải tội cho Inê rồi ra đi. Sau đó Inê về với Chúa. Lúc ấy đang bão lụt, bỗng tạnh nắng. Ánh sáng chói lòa và đầy hương thơm (câu 523, 530)

Làm thinh thôi mới chấp tay,

Để qua trên ngực Chúa rày rước đi.

Giữa ngày bảo lụt đang thì,

Bỗng liền tạnh nắng tư vi như tờ.

            (Câu 514-517)

            6. Loren cùng giáo dân đến ngục xin đem Inê về an táng ở đất thánh. Loren suy nghĩ: Inê đã về nước Chúa, công danh ghi tạc bia vàng. Loren viết lại cuộc đời Inê để mọi người học theo và “Để truyền sách ấy nối dòng đời sau,” (câu 557)

            Trong bài Vãn, Loren chỉ là một nhân vật, được miêu tả lại như các nhân vật Inê, Mac cô, quan nghè.

            Loren không đứng ở ngôi thứ nhất (xưng Tôi) để thuật lại sự việc như trong một tác phẩm Hồi ký (thể memoir). Inê tử đạo vãn là truyện thơ (có một ít chất Ký). Bởi ngoài chi tiết về gia thế của Inê, thì phần còn lại: thời gian, không gian, sự việc không được đặt trong bối cạnh xã hội cụ thể.

Thí dụ: Tác giả không thuật lại trong 10 năm cách xa gia đình, Loren làm gì, ở đâu và sống thế nào? Loren là thầy tu sao không bị bắt, mà ra vào nhà ngục nhiều lần dễ dàng? Hoặc quan nghè tên gì, nhà ngục ở đâu, trong nhà ngục ấy còn giam những ai nữa, họ sống thế nào cũng không được ghi nhận. Nếu Loren là tác giả, ông sẽ ghi lại những điều ấy rất cụ thể. Đồng thời ông sẽ để lại dấu ấn nhân thân trong mọi chi tiết của tác phẩm. Chẳng hạn, trong Thượng kinh ký sự (viết xong năm 1783),  Hải Thượng Lãn Ông (Lê Hữu Trác) đã để lại dấu ấn nhân thân rất rõ trong chuyến ông lên kinh chữa bệnh cho chúa Trịnh Sâm và thế tử Trịnh Cán. Trong Inê tử đạo vãn, người đọc không tìm thấy dấu tích nhân thân nào của Loren.

Vì thế, có thể nhận ra, trong Inê tử đạo vãn, Loren chỉ là một nhân vật, như các nhân vật khác.  Nhân vật Loren chỉ gặp và chia sẻ công việc gia đình, chia sẻ tâm tình với I nê trong ngục. Nhân vật Loren không biết những chuyện khác liên quan đến Inê: chuyện quan nghè tra hỏi Inê, chuyện Mac cô dẫn con đến thăm Inê hay chuyện Inê viết thư gửi về nhà…

Chính tác giả Inê tử đạo vãn là người xây dựng những tình huống truyện xoay quanh Inê, như trong cách viết tiểu thuyết (sử dụng hư cấu).

Như vậy, căn cứ vào yêu cầu kiến tạo tác phẩm, xây dựng nhân vật, nghệ thuật kể chuyện khá hiện đại, có thể xác định  Loren không phải là tác giả của Inê tử đạo vãn.

Ý kiến của Lê Đình Thông cần được nghiên cứu thêm: Lê Đình Thông lại cho rằng chính Thánh Philipphê Phan Văn Minh (1815 – 1853) là tác giả đồng thời cũng là dịch giả ba bản tiếng Latinh, Anh và Pháp. 

GIÁ TRỊ CỦA INÊ TỬ ĐẠO VÃN

            1.Về tôn giáo

            Inê tử đạo vãn là một dạng truyện “Hạnh các thánh”. Loại truyện này có từ thời Girolamo Majorica (1591-1656). Hạnh các thánh kể lại các hạnh đạo đức thánh thiện của các thánh để làm gương cho giáo dân học tập. Inê nêu gương đức tin trung kiên theo Chúa dù có phải giam cầm và chết rục trong tù. Thái độ của Inê trước quan nghè thật vững vàng. Inê làm sáng danh đạo Chúa, cậy trông vào Chúa, hết lòng và khao khát nước trời hơn tất cả mọi sự. Inê chiến thắng mọi yếu đuối của con người và ra đi bình an với những biểu hiện khác thường của một linh hồn được Chúa đón về: Mọi nơi chói lòa, hương thơm ngào ngạt.

            Đây là đoạn Inê đối thoại với quan nghè:

Ông nghè mới hỏi vân vi:

Nàng cùng nam tử toan nghi một lời,

Bay mà bỏ đạo Chúa trời,

Trở về đạo Phật, giày nơi ảnh nầy,

Thì tao thứ tội cho bay;

Chẳng thì tao giết bỏ thây oan mình.

Nước nầy Chúa thánh thần minh.

Nào ai giữ đạo thiên sinh bao giờ,

Chúa trời bay thật đạo vơ,

Bỏ đi tao đặng thứ tha dong tình,

Chẳng thì tao giết bỏ mình,

Phước đâu chẳng thấy, tội tình nhuốc nha.

Inê đặt gối trình qua:

Chúng tôi giữ đạo Chúa cha nhơn từ,

Thật đàng công chính chẳng tư.

Tôi đâu dám bỏ công phu ngãi người?

Mặc ông tha giết hai lời;

Tôi thà chịu chết, cõi trời nên công.

Giết tha thì mặc lượng ông,

Kim thạch là lòng chẳng chậy mỗ phân.

            (Câu 141-160)

            2. Về văn chương Công giáo

            Bài Vãn dài 562 câu lục bát Nôm, có xen kẽ những “cáo trạng” viết bằng chữ Hán, thể tự do (Văn bản tôi tham khảo là bản Quốc ngữ in trong tự điển Việt-La của Taberd năm 1838).

Mặc dù bài Vãn có một số chữ Nôm cổ ngày nay không còn sử dụng, nhưng nhìn chung, ngôn ngữ của bài Vãn dễ hiểu, gần với văn nói bình dân, không dùng điển tích Trung Quốc như văn chương bác học. Xen kẽ cũng có những câu giàu tính văn chương.

            Cấu trúc truyện mạch lạc, lớp lang sắp xếp theo hành trạng của các nhân vật. Nổi bật là việc miêu tả cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh cho lý tưởng giữa Inê với quan nghè, với Loren, Mac cô và với chính mình (mà Inê gọi là sự các dỗ của ma quỷ). Đức tin mạnh mẽ giúp Inê chiến thắng. Chính những cuộc đấu tranh này tạo nên sự hấp dẫn cho câu truyện.

            Nhân vật Inê hiện lên như một người phụ nữ vừa truyền thống, vừa rất mới.

Truyền thống ở đạo nghĩa hòa hiếu với cha mẹ, chồng con, anh em, làng xóm, nhưng rất mới ở đức tin theo Chúa, trung kiên đến cùng, đối mặt và vượt qua mọi hoàn cảnh;  mới ở sức cảm hóa tất cả (Mac cô, Loren, Duminh và mọi người đều nghe theo lời Inê căn dặn, giữ đạo cho bền). Inê còn nghĩ đến giáo hội khi khuyên Loren trở về với giáo dân. Giáo hội đang trong cơn bịu bách hại, cần có chủ chăn hướng dẫn đoàn chiên. Và mới ở sự hiểu biết (lẽ đạo), ở sự đối đáp lý lẽ với quan nghè mà quan nghè phải chịu phục. Tầm vóc Inê đã vượt xa kiểu người phụ nữ cũ chỉ biết công, dung, ngôn, hạnh, nội trợ trong nhà.

Về nghệ thuật, Inê là một nhân vật phụ nữ Việt, được miêu tả trong bối cảnh xã hội Việt đương thời (1700). Cách xây dựng nhân vật này đi trước Thúy Kiều trong Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du (1765-1820), và Kiều Nguyệt Nga trong Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiều (1822-1888). Cả Thúy Kiều và Kiều Nguyệt Nga đều là nhân vật Trung Quốc, được miêu tả ước lệ, xa lạ với người dân Việt.

Thể truyện thơ Nôm trong bài Vãn này cũng đi trước Truyện Kiều và Lục Vân Tiên. Cách dựng truyện, cách khắc họa nhân vật, cách dùng tiếng Việt đã có những phẩm chất của văn chương hiện đại.

VẤN ĐỀ CÒN LẠI

            Chúng ta cần tìm kiếm tư liệu để xác định cho được tác giả chính thức của Inê tử đạo vãn; đồng thời tìm kiếm tác giả đã chuyển bài Vãn sang chữ Quốc Ngữ cùng với bản dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp, La tinh in trong tự điển Việt-La năm 1838 của Taberd.

Mặc dù đã có những chứng liệu, rằng Thánh Philipphê Phan Văn Minh giúp Giám mục Taberd biên soạn tự điển, song đến nay chưa xác định được Taberd hay Phan Văn Minh, ai là người chuyển ngữ Inê tử đạo vãn bằng chữ Nôm sang Quốc Ngữ, và ai dịch bài Vãn này sang tiếng Anh, Pháp và La tinh?

Các nhà nghiên cứu cần xem xét nhiều mặt của bài Vãn này để khẳng định những đóng góp quý báu của văn học Công giáo vào văn học dân tộc ngay từ buổi đầu.

Tháng 8/ 2021

INÊ TỬ ĐẠO VÃN

(trang 111 phần phụ lục từ điển Việt La của Taberd in năm 1838)

INÊ TỬ ĐẠO VÃN

Năm 1838, trong Tự Điển Việt-La (Dictionarium Latino-Anamiticum) của Giám mục Jean Louis Taberd, phần phụ lục trang 110 đến 135 có in một bài thơ (vãn) tên Inê Tử đạo vãn về một vị tử đạo có tên thánh là Inê. Bài vãn gồm 562 câu, in song song với bản dịch tiếng Latinh, Anh và Pháp.

              (https://vi.wikipedia.org/wiki/An%C3%AA_L%C3%AA_Th%E1%BB%8B_Th%C3%A0nh)

***

VĂN BẢN

INÊ TỬ ĐẠO VÃN

          (Bản chữ Quốc ngữ trong tự điển Việt-La của Taberd in năm 1838)

1.Tượng điềm lành từ Canh thân Hán,

Chúa ra đời giáng đãn chưng dân.

Cõi nam Chúa thành hiền thần,

Đức nhơn giáo hóa oai ân mựa làm.

5.Có người đức hạnh danh Lam,

Dòng truyền giữ đạo nước nam nên tài.

Carôlô hiệu là người.

Diên Ninh ấy phủ, nhà nơi Lâm Tuyền.

Vợ hiệu Save là tên

10.Giai lão kết nguyền, đạo đức kính tin.

Sinh đặng mười hai con hiền, 

Bảy trai, năm gái đã nên phước nhà!

Trọn bề trung hiếu thảo hòa.

Lo ren thứ nhứt thật là trưởng nam,

15.Phú dâng cho Chúa mặc làm.

Học hành thông suốt, chức đang nên thầy;

Vào ra xem sóc nước vầy,

Lòng cha mừng phỉ lo tây chẳng hề.

Gái thì đặng một Inê,

20.Là con thứ tám trọn bề thảo ngay.

Vốn hiền từ bé nhẫn nay.

Nết na khiệm nhượng tính hay nhơn từ.

Tuổi vừa mười sáu thu dư,

Sa ve Chúa rước mẫu từ lìa con.

25. Inê nước mắt bằng non:

Mẹ thác chẳng còn, em dại mồ côi,

Ba em để lại chị nuôi.

Cha già phượng dưỡng em tôi giữ gìn.

Inê tuổi mười chín niên,

30.Cha mới toan nguyền định chốn sàng dòng.

Bèn lo áy náy tấc lòng,

Than rằng: phận gái, uổng công chăng là.

Sự nầy thì mặc lòng cha.

Đội ơn Chúa định lẽ nào dám toan.

35.Kể từ định chốn nhơn doan,

Mat cô là hiệu phụng loan kết nghì 

Sắt cầm hội hiệp phu thê.

Mới sinh nam tử đặng thì hai trai.

Ước nên tuấn tú hiền tài.

40.Nabê là hiệu, thứ hai Phao-lồ.

Inê hai mươi tám thu,

Cha tới cõi cù viếng cảnh xa quê.

Những trông báo bổ ơn nghì,
Hay đâu cha đã kíp về thượng thiên.

45.Inê lòng những lo phiền,

Kính cha thương mẹ, cầu nguyền chẳng khuây.

Anh thì chịu chức làm thầy,

Tôi thì xuất nghiệp, em rầy cậy ai?

Mới toan thơ gửi cho thầy.

50.“Loren cha hỡi về đây toan cùng.”

Loren từ hiểu tin thông,

Hai hàng châu lụy ròng ròng nhỏ sa,

Tôi đã lỗi đạo cùng cha!

Đặt bàn làm lễ missa nguyện cầu;

55.Lễ thôi từ giã đền chầu,

Trở về bổn quán, dạ âu lo lường.

Lòng thương cha mẹ võ vàng,

Phải về lo liệu toan đương em cùng.

Inê xem thấy lòng mừng;

60.Cha đã về cùng toan liệu làm sao?

Mười năm cha ở phương nao?

Lòng em trông nhớ rày sao mới về?

Loren an ủi mọi bề:

Các em chớ dại lỗi nghì chẳng nên.

65.Mới phân gia nghiệp điền viên.

Phần anh phú để cầu nguyền cho cha,

Các phần anh đã chia ra,

Em thì gìn giữ cửa nhà làm ăn,

Thìn lòng giữ đạo cho cần.

70.Inê em hỡi giữ phần phước em.

Sáu người huinh đệ mới toan,

Đồng Nai tới rước tài quan đam về.

Dần dà cõi nọ xứ kia,

Rước đặng đam về nơi phủ Diên Ninh.

75.Táng cha thôi mới khởi trình.

Mọi nỗi tâm tình dặn bảo Inê:

Trong dòng nam nữ hai phe,

Lòng anh thương một Inê hơn nhiều,

Em thì giữ vẹn mười điều,

80.Chớ hề sai chậy, chước nghèo phải sa.

Inê than hỏi chường cha:

Phép trong lẽ đạo người ta ở đời,

Đến khi mình có đổi dời,

Phép nào xác khỏi hồn bay thẳng về?

85.Loren an ủi mọi bề:

Dầu đồng trinh thánh cũng đi chẳng tuyền,

Dầu mà khổ hạnh tu truyền,

Hãy còn đôi chối chưa yên một bề,

Hơn chăng hơn thánh đồng nhi,

90.Hồn ngay thẳng ruổi tiên kì tợ sao.

Cùng hồn tử đạo tù lao,

Hoặc là chết thác cũng cao một bề.

Inê thưa thốt ngồi kề,

Trình cha than hỏi, chẳng khi nào rời, [BCT: Cha là Loren]

95.Thấy cha dặn bảo mọi lời,

Công lòng bát ngát ước nơi cõi lành,

Xin cho gặp hội cầu danh,

Ta sẽ liệu mình họa đặng cùng chăng?

Inê bịn rịn dùng dằng,

100.Loren từ giã phăng phăng lại dời.

Bình Khương vừa đến nghỉ ngơi.

Giữ gìn xem sóc mọi nơi linh hồn,

Chẳng ngờ tượng bởi càn khôn,

Thiên đàng mở hội võ môn khoe tài.

105.Canh thìn vừa thuở thiên khai,

Nguyễn chúa trị đời hiệu lịnh cả ra:

Truyền cho thiên hạ gần xa,

Ai thờ đạo Phật thì ta dong tình,

Bằng ai giữ đạo thiên sinh,

110.Chẳng chừa thì bắt tội tình chớ tha.

Chẳng ngờ có đứa gian tà,

Lòng hềm độc dữ cáo bà Inê.

Lịnh nghiêm phếp kín nhiều bề,

Chị em sao có lòng mê chẳng chừa?

115.Lên Dinh trấn thủ chường thưa,

Trạng bày sau trước, trình thưa cáo rằng:

“Có trạng rằng:

Trạng tố thân tường

Khi quân mạn pháp sự kim tam tử,

120.Danh hiệu Inê Mắt ta tinh kỳ Duminh đẳng chúng. [Mắt ta: Mattha; Duminh: Dominique]

Phi kỳ Phật môn lăng túng chánh lịnh,

Ngu đẳng nan y tam giả,

Vị kỳ đồng tâm hiệp lực,

Bất luận quốc pháp, bất kính điều chương,

125.Tùng đồng thiên Chúa đạo.

Phất cố như lai Phật tổ,

Thả thử đạo lễ bất tuân kim cổ pháp,

Bất luận thỉ chung.

Như thử hà y đẳng phân loạn hoành tùng giả?

130.Phả bất nặc văn thư chỉ tự,

Tâm vô hải hà kỳ minh đại sự.

Khẩn khất mặc quan đồng luận.

Tiểu sinh ngưỡng vọng cao minh.

Trạng điều”.

135.Trạng bày sau trước căn do.

Lịnh quan cắt khiến đình pho giục đòi,

Bắt Inê lại với hai người,

Chị em hai đứa vào nơi công đàng.

Mắt ta lòng chịu không đang

140.Liều mình trốn trước lên đàng ra đi.

Ông nghè mới hỏi vân vi:

Nàng cùng nam tử toan nghi một lời,

Bay mà bỏ đạo Chúa trời,

Trở về đạo Phật, giày nơi ảnh nầy,

145.Thì tao thứ tội cho bay;

Chẳng thì tao giết bỏ thây oan mình.

Nước nầy Chúa thánh thần minh.

Nào ai giữ đạo thiên sinh bao giờ,

Chúa trời bay thật đạo vơ,

150.Bỏ đi tao đặng thứ tha dong tình,

Chẳng thì tao giết bỏ mình,

Phước đâu chẳng thấy, tội tình nhuốc nha

Inê đặt gối trình qua:

Chúng tôi giữ đạo Chúa cha nhơn từ,

155.Thật đàng công chính chẳng tư.

Tôi đâu dám bỏ công phu ngãi người?

Mặc ông tha giết hai lời;

Tôi thà chịu chết, cõi trời nên công.

Giết tha thì mặc lượng ông,

160.Kim thạch là lòng chẳng chậy mỗ phân.

Ông nghè chẳng muốn giết dân,

Vật chi phụ nữ nhọc nhằn quân ta?

Hãy giam tạm nó một nhà,

Ngày sau sẽ nộp lượng hòa một khi.

165.Cầm Du minh với Inê.

Ngày sau chưa nộp ủ ê lo buồn,

Cầu xin cùng Chúa giúp con,

Giúp tôi cho đặng kẻo còn để lâu.

Lại dặn Du minh chớ âu:

170.Chị em cốt nhục đồng bào mẹ cha,

Đồng sinh đồng tử hai ta,

Trả công ơn Chúa một nhà hiệp nhau.

Nầy đoạn Loren về sau

Nghe tin em đã chịu âu tử hình,

175.Viếng em an ủi tâm tình,

Mới toan liều mình chịu với cùng em.

Đồng sinh đồng tử cho êm!

Tôi xin trọn ngãi Chúa thêm sức cùng.

Anh em dốc chí một lòng.

180.Sinh tử đạo đồng em hỡi Inê!

Từ rày ta một đặng về,

Anh sao em vậy chớ hề tới lui.

Inê lòng lại ngùi ngùi,

Khuyên cha, cha hãy nghe tôi kẻo lầm,

Nước nầy đạo Chúa ngăn cầm

Ngày sau giáo hữu mê tâm nguôi lòng,

Cha mà toan chịu tử đồng,

Ắt là bổn đạo lạt lòng ngãi nhơn,

Chẳng bằng ở lại thì hơn,

190.Giữ gìn xem sóc mọi nơi linh hồn;

Trước là dạy dỗ cháu con,

Anh em thơ dại thì còn có cha:

Cho nên ý Chúa nhiệm xa,

Dong thầy chẳng bắt, sao cha chẳng bàn?

195.Vậy nên Chúa mở lòng quan,

Tha cha chẳng bắt mà toan đặng nào.

Tôi mà dựa nguyệt ngồi sao,

Thì tôi cũng nguyện cha vào cõi vui.

Thầy bèn lã chã châu rơi:

200.Inê em hỡi, anh ngồi sao an?

Một mai mặc lịnh nhà quan,

Em chớ phản nàn, anh lại buồn thêm,

Em về anh ở sao an?

Khoa này chẳng liệu, mà toan khoa nào.

205.Nầy lời cha cả khuyên sao.

“Các thầy ngoại quốc tiêu hao nói rằng:

Từ rầy con cái mằng tăng,

Cha khôn gìn giữ ủi an mọi lời,

Đòi phương man mác mồ côi.

210.Cha là ngoại quốc khôn noi thế tình.

Loren dốc chí liều mình?

Lịnh quan chẳng bắt tư tình ý tham.

Thầy là người nước An nam,

Để khi nghèo hiểm giúp làm cho dân.

215.Nhơn sao thầy lại dành phần?

Lấy ai gìn giữ con dân nước nầy?

Ai hầu xem sóc đỡ thầy

Làm thơ một bức gửi rày thông tin”.

Nầy lời thầy cả gởi khuyên,

220.Mọi lời sau trước căn nguyên đọc rằng:

“Chúa cả công bình cầm quờn thưởng phạt,

Pha pha chính tước, thầy cả Vít vồ, [pha pha: papa- Vít vồ: Giám mục. Tiếng Bồ là Bispo]

Ơn Chúa giúp cho Loren đặng tỏ

Chúa chuộc tội dạy dỗ muôn dân.

225.Ba năm ân cần mới toan chịu chết.

Thầy rầy dốc quyết muốn chịu tử nghì,

Bỏ bổn đạo đi, ai hầu an ủi?

Các thầy khác thói ẩn yếng đòi phương.

Nấy cho thầy gìn giữ dân lương,

230.Nỡ nào thầy lại toan về cùng Chúa?

Ai hầu dạy dỗ bổn đạo linh hồn?

Phú cho thầy Nam việt các con.

Bằng chẳng chịu đài vàng mặc phán,

Lời lành diệu toán đến vận thần cơ.

235.Khuyên thầy ở lại sớm khuya,

Cùng bổn đạo khỏi thì nguy hiểm,

Giúp hạn mưa dào trợ hiểm,

Khỏi chưng thì hoạn nạn bốn dân.

Ơn Chúa đượm nhuần sáng soi phù hộ.

240.Nay thơ”.

Loren bèn đọc thơ rồi,

Đượm ngừng nước mắt nhuốm sôi hai hàng.

Khoa nầy chẳng gập bảng vàng,

Ngày nào cho đặng hiển vang nước trời?

245.Inê thưa thốt chường lời:

Xin cha nghe lịnh Đức thầy bề trên.

Nầy lời bổn đạo lại khuyên.

“Cha chớ xa miền bỏ chúng mồ côi,

Xin cha ở lại cùng tôi,

250.Cầu xin Chúa để cha tôi lại cùng”.

Inê can gián hết lòng.

Thương em cha thác uổng công chăng là,

Ấy lời thế luận gần xa;

Em quỳ trăm lạy xin cha nhậm lời.

255.Loren lòng động ngùi ngùi,

Thảm thương mọi nỗi em ôi anh về.

Anh giã Duminh Inê,

Rày em ở lại anh về cho an,

Đêm ngày cầu nguyện dưới bàn,

260.Xin hai em đặng làm quan cõi trời.

Nầy đoạn mát cô càng thương

Tìm lên viếng vợ tư lương thảm sầu,

Inê em hỡi cầm đâu?

Rày anh đến viếng bạn hầu kẻo thương.

265.Vợ chồng đạo ngãi tào khương,

Con thơ nỡ bỏ lo lường làm sao?

Lìa nhau anh dám cãi nào.

Làm chi lên nỗi tù lao rạc hình.

Inê lẵng lặng làm thinh.

270.Chồng càng than khóc vợ mình kể khuyên:

Sắt cầm từ thuở ấu niên,

Nỡ nào ly biệt cho an tấc lòng.

Dẫu chẳng nên đạo vợ chồng,

Con thơ ai kể quan phòng dưỡng nuôi,

275.Má hồng mặt bạc mày môi,

Mình vàng vóc ngọc bỏ tôi chẳng nhìn?

Em hỡi nghe lời anh khuyên,

Sắt cầm giai lão nên duyên hiệp hòa.

Inê rằng: chước quỷ ma,

280.Nó toan làm hại hồn ta phen nầy.

Mát cô anh đã tới đây,

Công linh nghĩa Chúa tôi rày trả ơn.

Anh thì ở lại chớ sờn,

Thìn lòng giữ đạo chẳng hơn cũng tày,

285.Ngày sau ta lại hiệp vầy.

Thương thì cầu nguyện hồn ngay thẳng về,

Ấy là ngãi đạo phu thê,

Chớ ra lòng mọn lỗi nghì chẳng nên.

Nghe lời em cứng khôn khuyên,

290.Giã em còn ở anh về cùng con.

Ròng ròng nước mắt bằng non.

Thương em anh phải ruột don héo sầu,

Từ rày chếch bạn phải âu,

Lìa tâm lìa đức lìa nhau khôn tìm,

295.Gần ngày đam nộp chị em,

Inê mới gửi thơ đem cho chồng,

Cùng thăm huinh đệ đạo đồng,

Họ hàng trên dưới tổ tông hai đàng.

“Thơ rằng.

300.Chúa cả cao quang phù trì tiểu tử;

Thiếp nay nhi nữ cám đức phu quân.

Ngãi sắt cầm những ước thiên xuân,

Doan kim cải trọn bề tứ đức.

Đạo chính giúp tôi bền sức,

305.Ơn trên Chúa cả mở lòng.

Xảy gặp hội mây rồng,

Phải lìa doan cá nước.

Thiếp dầu lỗi tam tùng tứ đức,

Dốc trọn nguyền vạn thọ cõi xa.

310.Xin lang quân chớ chấp ngãi hòa,

Thương ấu tử mồ côi mất mẹ.

Chàng thì chớ nại, giữ đạo cho bền,

Đến cõi trường miên hai ta lại hiệp

Sau dầu cải nghiệp làm bạn nơi nào,

315.Phải chọn bề nhân đức đạo cao,

Gởi ấu tử cho con nương cậy.

Chàng thì giữ lấy lời thiếp chớ quên:

Mặt dầu đã cách nhơn duyên,

Hồn nọ phút giây chẳng khỏi.

320.Xin lang quân thế tình chớ đoái,

Áng nguyệt hoa, tửu sắc thìn mình.

Sau con dầu khôn lớn thành hình,

Xin dạy dỗ ủi an chớ bỏ.

Kính thăm nhạc phụ từ mẫu song thân,

325.Nữ tử vọng ân trăm đàng miễn chấp.

Xin thương tiểu điệt thơ dại mồ côi,

Chớ nỡ nặng lời, con thơ tất tưởi.

Sau thăm trên dưới huinh đệ họ hàng,

Gửi cô tôn ấu tử gia đàng,

330.Giã hết cựu bang từ rày ly biệt.

Nay thơ”

Thơ thôi lại nói cùng em:

Đồng sinh đồng tử cho êm chớ nài,

Chị em cốt nhục hình hài,

335.Chị sao em vậy làm trai cho bền.

Lịnh quan đam nộp lại nguyền:

Xin em chịu đặng Chúa thêm sức cùng,

Chị em dốc chí một lòng,

Ông nghè mới hỏi lẽ công một lời,

340.Bay mà bỏ đạo Chúa trời,

Trở về đạo Phật đạp nơi ảnh nầy,

Thì tao thứ tội dong bay,

Chẳng thì tao giết bỏ thây oan mình.

Inê thưa thốt phân minh:

345.Đạo nầy thờ Chúa thiên sinh tạo đời,

Có công sinh đất dựng trời,

Tạo thành nhơn vật, mọi nơi thế nầy.

Chúng ta phải giữ đạo ngay.

Phật người thiên trước cõi tây chẳng thờ. [Phật người Thiên Trúc cõi tây]

350.Ảnh nầy hình Chúa tôi xưa,

Khi nào thờ phượng bây giờ đạp đi;

Tôi xin chịu chết chẳng nề,

Trả công ơn Chúa công kia ngãi nầy,

Ơn ông lượng rộng xét suy,

355.Đỗi nào tôi chịu, làm chi nữa là.

Quan trên trấn thủ truyền ra.

Ông nghè mới dạy chớ tha loài nầy.

Bắt vào cầm ngục chớ chậy

Cấm cho ăn uống, truyền vây giự gìn,

360.Đứa nào nhịn đói chẳng đang.

Đam ra phạm ảnh xử xong cho về.

Đứa nào lòng cứng chẳng nghe,

Thì cầm cho chết bỏ thây ra ngoài.

Bắt đam vào ngục hòa hai.

365.Chị em ren rén vào nơi ngục hình.

Rạc nầy chỉn thật u minh.

Mới toan ngồi xuống phân minh nói rằng:

Lòng mừng chơn bước thung thăng.

Mặt vui hớn hở nói năng vui cười.

370.Làm thơ một bức ba lời,

Dặn con sau trước ở đời cho an.

“Vậy có thơ rằng:

Chúa cả xây vần càn khôn phúc ái,

Sở sinh là ngãi, dưỡng dục bào thai.

375.Trước kính tin một Chúa chớ nài,

Sau thảo kính hai bên cha mẹ.

Mẫu thân Huình Thị mẹ là Inê:

Sinh hai con châu báu sánh kề.

Mẹ những ước đá vàng trượng mạo.

380.Mát cô danh ấy hiệu thật Nghiêm Hiền.

Cậu là Loren cha linh hồn thật. [Cha linh hồn=Linh mục]

Một nhà hiệp mặt kế hiệu thiên thu,

Trên chín tầng mở hội thiên cù,

Mẹ liều thác trả công ơn Chúa.

385.Con thì thơ bé mẹ thác chẳng còn.

Bức thơ này để lại cho con,

Sau khôn lớn mọi lời cho biết.

Con thì giữ nết đức hạnh khiêm nhường.

Bé thờ cha vâng giữ gia nương,

390.Lớn theo cậu ủi an dạy dỗ.

Cù lao báo bổ ơn ấy chớ nài,

Miễn là con giữ đạo thành tài.

Cho mẹ đặng ngày sau thấy mặt.

Dầu cha cải nghiệp kế mẫu quy đàng.

395.Hai con thìn khiêm nhượng kính đang.

Chớ khá ở bạc tình kiêu ngạo.

Lời lành dặn bảo thương mẹ thì nghe:

Áng vui chơi tửu sắc rượi chè,

Lời độc dữ gian tà lánh rẹn.

400.Mẹ rày đà đến cõi thọ diệu quang,

Mọi lời sau trước rõ ràng.

Mẹ giã con còn ở thế.

Nay thơ”.

Thơ đam về đến gia đàng,

405.Mát cô xem thấy xót xa đoạn trường

Thơ chồng mọi nỗi đà tường,

Thơ con lại gởi làm thương trăm đàng

Inê Em chịu sao đang!

Ruột loan vấn vít dạ gan đeo sầu.

410.Khóc than thôi lại lo âu,

Con ôi mẹ cứng làm rầu càng thêm.

Mặt hoa mày liễu mất êm,

Bỏ con kêu khóc sao nên chẳng về?

Than rằng: bậu hỡi Inê,

415.Nào khi loan phụng sánh kề hỏi han?

Bây giờ quạnh quẽ phòng loan.

Hai hàng nước mắt lụy chan chẳng đừng.

Em thì danh tiết lẫy lừng,

Anh thì hứng chịu vì chưng doan hài.

420.Con ôi! con hỡi! kêu ai?

Mẹ bay đi chợ một mai sẽ về.

Một giây con lại quên đi.

Kêu rằng ớ mẹ, mẹ đi phương nào!

Động lòng cha lại thương sao.

425.Ẵm con tìm tới tù lao lại rằng:

Con đi với mẹ con chăng?

Gặp rày kẻo nhớ xa chừng biết đâu,

Nầy con em đã thương sao?

Ra cho con thấy nỡ nào từ con.

430.Thốt thôi buốc xuống thềm môn.

Con rằng cha hỡi thì nào mẹ tôi?

Inê lòng động thương ôi!

Thấy con kêu khóc nhuốm sôi hai hàng.

Muốn làm thinh vậy cho an,

435.Lại e thất ý phu lang chăng là,

Cầu xin cùng Chúa nói ra,

Giúp tôi bề vững khỏi qua nạn nầy.

Mát cô anh đã tới đây,

Thiếp giã ơn rày đã có lòng thương.

440.Bồng con trở lại gia đường

Làm chi bịn rịn áp lòng dạ tôi?

Con nghe tiếng mẹ thốt thôi,

Kêu rằng: ớ mẹ, mẹ ôi chẳng về.

Mẹ càng chuyển động ngã kề,

445.Cầu xin cùng Chúa khỏi bề gian nan,

Nín hơi chẳng dám thở than.

Khác nào như kẻ làm quan xa miền.

Chẳng ngờ tượng bỡi đông thiên,

Trời làm bão lụt trường an dẫy đầy, [Trường An]

450.Nước tràn khắp hết đông tây.

Ngục cầm ở đó ướt nay phải dời.

Lập làm chốn khác cao khơi.

Inê rén rén lại dời chân ra,

Hai con thấy mẹ kêu la:

455.Kêu rằng: Ớ mẹ về nhà cùng con.

Mát cô ruột thắt héo don.

Xin em nhịn đã phen này kẻo âu

Inê lòng chẳng chuyển đâu:

Nói rằng sự ấy mặc dầu thiên cơ.

460.Chờ cho ngục đoạn đến giờ,

Trao tiền kíp dỗ con thơ mua hàng.

Hai con vừa bước ra đàng,

Inê kíp lại toan đang vào tù.

Ngục nầy là chốn âm u,

465.Quân canh gìn giữ hai đàng vào ra.

Hai con trở lại khóc la,

Kêu rằng: ớ mẹ về nhà cùng con.

Inê nín lặng làm thinh,

Cầu xin cùng Chúa xui con ra về.

470.Mát cô thảm thiết nhiều bề,

Bồng con chở dậy ra đi nói rằng:

Từ rày anh chịu mằng tăng,

Phải về cho kẻo chẳng bằng lòng em.

Tay bồng tay dắc lui thềm

475.Hai hàng nước mắt lụy tuôn lại ngồi.

Con rằng: thì nào mẹ tôi?

Bồng tôi trở lại, mẹ ôi chẳng về.

Mát cô than thở nhiều bề,

Dối rằng con hỡi, mẹ đi mua hàng.

480.Trở về vừa đến gia đàng,

Tới nhà nghỉ mát, thở than đêm ngày.

Nầy đoạn trong ngục đã chầy,

Mình gầy mặt võ, xương bầy, da nhăn.

Dặn dò sau trước ủi an,

485.Duminh em hỡi làm quan phen nầy,

Trả công ơn Chúa phải vầy,

Em chớ phiền rày chị lại buồn thêm.

Đói lòng khát nước càng êm.

Mình khô càng nhẹ Chúa thêm sức cùng.

490.Thấy đà mỏi mệt nhọc công.

Tôi xin cho kíp chớ dong lâu ngày.

Hay tôi tội lỗi còn dày,

Cho nên Chúa để lâu ngày cùng chăng?

Kể đà một tháng răng răng,

495.Bốn tuần có lẻ mình chẳng thấy gì?

Quân canh thấy sự dị kỳ,

Lòng thương chẳng nỡ vân vi lời gì.

Loren vừa bước chơn đi,

Thấy hai em đã gầy mòn thảm thương,

500.Thưa quân thăm thử thác còn,

Một giây tôi sẽ dời chơn ra về.

Cho thầy vào viếng Inê,

Mừng nhau bơ bải vỗ về hỏi han.

Hết lòng an ủi ủi an,

505.Lại ngồi giải tội khuyên can dặn dò.

Cầu xin cùng Chúa giúp cho,

Kẻo mà đói khát nhỏ to thay là,

Giã hai em ở anh ra.

Quân canh gìn giữ chẳng tha chẳng lìa.

510.Tứ tuần lục nhựt đến kỳ,

Duminh còn khỏe Inê gầy mòn,

Gượng mà kêu Chúa hơi don,

Mượn em kêu giúp kẻo non hơi rày,

Làm thinh thôi mới chấp tay,

515.Để qua trên ngực Chúa rày rước đi.

Giữa ngày bảo lụt đang thì,

Bỗng liền tạnh nắng tư vi như tờ.

Tin cho dòng họ thân sơ,

Ai ai đều đến táng đưa xác người,

520. Hay tin bổn đạo tới nơi.

Loren đi trước các người đi sau,

Xin quân mở cửa cho mau,

Quân quan xem thấy mọi nơi chói lòa,

Tức thì đam xác người ra. [đam=đem]

525.Duminh yếu đạo Chúa cha chẳng nhìn,

Trốn ra khi ấy ban đêm.

Ra khỏi cửa thềm lộn lạo đều đi,

Đam về đất thánh một khi.

Thầy bèn cầu nguyện vân vi nói rằng:

530.Hơi thơm hơn nữa hương lang,

Ra mùi phức phức dường bằng hoa dâu. [Phức- thơm phức]

Anh em lòng chẳng dám sầu,

Song le ngãi trọng dạ âu khôn cầm.

Thầy bèn an ủi âm thầm.

535.Lịnh quan phép nhặt nhẫn tâm cho bền.

Thốt thôi thầy lại cầu nguyền:

Xin cho em khỏi tiền khiên ở đời,

Hạnh nầy công đã nên người.

Nguyệt in dường nguyệt tốt tươi khôn bì,

540.Linh hồn tới chốn lưu li,

Thanh nhàn tự tại oai nghi rỡ ràng.

Công danh ghi tạc bia vàng,

Trong đời có một nên gương trong trời.

Chép làm một bổn để đời,

545.Truyền cho thiên hạ người người học theo.

Thấy thì hầu đã cheo leo,

Đội ơn Chúa cả giúp nghèo cho an.

Chẳng qua thiên vận tuần hoàn,

Bỉ thôi lại thới, vui hơn khắp nhà.

550.Cầu xin cùng Chúa giúp ta,

Giữ gìn mười giái kẻo sa địa hình..[giái-giới]

Hạnh nầy thì đã phân minh,

Xem cho tường tận dâng kinh nguyện cầu.

Phép trong lẽ đạo nhiệm mầu,

555.Ai mà học đặng mới hầu thơm danh.

Bia vàng tạc chữ chí linh,

Để truyền sách ấy nối dòng đời sau,

Inê là hiệu làm đầu.

Hiền kia thánh nọ xem làu bổn căn,

560.Giáo nhơn học lấy làm lòng,

Giữ trong mười giái thì thông lẽ mầu.

Cùng văn.

***

(Nguồn: Bản chụp Từ điển Việt-La của Lê Phụng. Bùi Công Thuấn đánh máy lại và đánh số câu)

Tháng 8/ 2021

BÀI THƠ BẮT NẠT

ĐỌC BÀI THƠ BẮT NẠT

Bùi Công Thuấn

***

Khi một tác phẩm đã được công bố, nó thuộc về công chúng, và “Tác giả đã chết” (Roland Barthes). Vì thế tôi không nói gì về bài thơ và tác giả với tư cách một tác phẩm đứng riêng lẽ giữa trời.

Điều tôi quan tâm là việc Nhà xuất bản Giáo Dục chọn thơ đưa vào Sách Giáo khoa ngữ văn lớp 6 (tập 1), thuộc bộ sách giáo khoa (SGK) “Kết nối tri thức với cuộc sống”.

Tiêu chí đánh giá bài thơ để đưa vào Sách giáo khoa là tính giáo dục, tính tư tưởng và nghệ thuật thơ.

1. Nội dung bài thơ rất đơn giản, khuyên học lớp 6 “đừng bắt nạt/ đừng bắt nạt/ đừng bắt nạt”(tác giả lặp lại 7 lần), và nếu bị bắt nạt thì hãy bắt chước tác giả, cam chịu.

Trong những lời khuyên, thì lời khuyên “Đừng bắt nạt nước khác” là lời khuyên nhảm và lạc đề. Đang từ vấn đề đạo đức tác giả nhảy sang vấn đề chính trị. Học sinh lớp 6 sao có thể đi bắt nạt một quốc gia! Hay tác giả ngầm bảo Nhà Nước Việt Nam đừng bắt nạt nước khác? Điều này cũng không đúng vì Việt Nam có bắt nạt ai bao giờ! Tôi ngờ rằng tác giả muốn dạy chủ tịch Tập Cận Bình “đừng bắt nạt” các nước nhỏ? Nếu nội dung câu thơ hàm những ý nghĩa ấy thì hoàn toàn lạc đề và trở nên vớ vẩn. Bài thơ bị gẫy ngang xương sống, sụp đổ hoàn toàn

Với lời khuyên học trò nên học nhảy Hip Hop, khuyên ăn mù tạt, tôi không hiểu thầy cô sẽ dạy học sinh thế nào, vì nó nằm ngoài giáo dục.

Khuyên cam chịu khi bị bắt nạt, trong giai đoạn hiện nay, sẽ gợi ra những ý nghĩa hết sức “nhạy cảm”. Hiện đang có tình trạng nước lớn “bắt nạt”(chữ của công luận thế giới) nước nhỏ ở Biển Đông. Bài thơ nhồi vào đầu óc non nớt của học sinh lớp 6 tư tưởng “cam chịu” khi bị bắt nạt thì còn đâu là tinH thần bất khuất của một dân tộc anh hùng? Điều này hoàn toàn trái ngược với truyền thống giáo dục Việt Nam. Như vậy, xét về nội dung, bài thơ không đáp ứng yêu cầu giáo dục

2. Về tư tưởng. Tôi đồng ý nên giáo dục học sinh về thói xấu bắt nạt bạn, nhưng cũng phải giáo dục các em tư tưởng tích cực khi bị bắt nạt, các em phải hành xử thế nào. Nhân vật “Tớ” trong bài như một kiểu đại ca giang hồ: “Bạn nào bắt nạt bạn…/ Thì đến gặp tớ ngay”. Tệ hại nhất là tư tưởng “cam chịu khi bị bắt nạt”(“Bị bắt nạt quen rồi”). Trong tình hình thực tế các nước nhỏ ở Biển Đông (trong đó có Việt Nam) đang bị nước lớn bắt nạt, mà tác giả khuyên cam chịu, để rồi mất nước, phải chăng đó là tuyên truyền “nối giáo cho giặc”? Kẻ thù của dân tộc rất thâm hiểm và nhiều thủ đoạn (xin cứ đọc truyện An Dương Vương và lời Khuyên của Trần Quốc Tuấn trong bài Hịch Tướng Sĩ). Đó là cách đọc theo “Cộng đồng diễn dịch” và “tầm đón đợi” của Thuyết Người đọc. Nếu tác giả muốn tuyên truyền cho học sinh tư tưởng này, tôi nghĩ, việc đưa bài thơ này vào SGK không còn là một vấn đề nhỏ.

3.Về nghệ thuật. Bài thơ có vài nét nghệ thuật riêng. Thí dụ, giọng điệu thơ là giọng trẻ, có tính hài, có cập nhật đời sống hiện đại (Hip hop, mù tạt), và nếu lướt qua những chỗ vớ vẩn ngô nghê thì có thể chấp nhận được.

Tuy nhiên, “bài thơ” thiếu chất thơ. Đó là bài dạy đạo đức đơn thuần. Ngôn ngữ thơ là những lời giáo huấn trực tiếp: “Đừng bắt nạt/ Đừng bắt nạt…”. Ý tứ được diễn đạt theo kiểu câu văn nghị luận: nêu vấn đề rồi lý giải nguyên nhân (“Đừng bắt nạt ai cả/ bắt nạt dễ lây…; Vẫn không thích bắt nạt/ bắt nạt rất hôi”). Thơ chỉ có nghĩa tường minh, không có nghĩa nghệ thuật. Một bài thơ mà lặp lại 17 lần chữ “bắt nạt”, chứng tỏ vốn từ làm thơ nghèo nàn thế nào. Dùng từ “thì là”(văn nói) làm hỏng ngôn ngữ thơ: “Những bạn nào nhút nhát/ Thì là giống thỏ non”. Có những câu, ý tứ rất ngô nghê. Chẳng hạn: “Bất cứ ai trên đời/ Đều không cần bắt nạt”; hoặc câu trên là “Sao không ăn mù tạt”, câu dưới là “sao không trêu mù tạt”, cả hai câu cùng một kiểu cấu trúc, ý nghĩa vớ vẩn. Câu “bắt nạt là xấu lắm” có thể chấp nhận, nhưng câu “Vì bắt nạt rất hôi” thì thơ bốc mùi thật!..

Như vậy cả về dùng từ, dùng các kiểu câu, diễn ý, và cấu trúc bài thơ  đều rất ít nghệ thuật, nếu không nói là nhiều yếu tố gây phản cảm. Vậy khi phân tích nghệ thuật của bài thơ, chẳng lẽ thầy cô lại dạy những điều tôi vừa phân tích?

Dạy thơ biến thành dạy đạo đức thô thiển, với những lời lẽ vớ vẩn và tư tưởng có nhiều hàm ý chính trị,  điều này sẽ làm cho học sinh chán ngán môn Ngữ Văn. Ai sẽ chịu trách nhiệm này?

Tôi đề nghị Nhà xuất bản Giáo Dục không đưa bài thơ này vào Sách giáo khoa Ngữ văn Phổ thông.

***

BÀI VIẾT CỦA BÙI CÔNG THUẤN

Trên trang: buicongthuan.blogtiengviet.net

***

NHỮNG BÀI VIẾT CHÍNH

CA KHÚC, TRUYỆN NGẮN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Gồm 35 ca khúc, 7 truyện ngắn và 138 bài viết

Bạn bấm vào đường link để đọc

http://buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

NHỮNG MÙA VÀNG VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM (Sách)

BẠN CÓ THỂ ĐỌC TẤT CẢ BÀI VIẾT CỦA BÙI CÔNG THUẤN TẠI:

http://buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

Những mùa vàng văn học Công giáo Việt Nam. Bùi Công Thuấn. Lý luận phê bình. Nxb Hội Nhà Văn 2020

NỘI DUNG

Bùi Công Thuấn

NHỮNG MÙA VÀNG

VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM

Lý luận phê bình văn học

***

MỤC LỤC

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. Tư tưởng Mỹ học Ki tô giáo. tr.7

2. Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam và Những vấn đề. tr,18

3. Phân kỳ lịch sử văn học Công giáo Việt Nam. tr.44

4. Văn hóa Công giáo trong lòng văn hóa dân tộc. tr.53

NHỮNG KHUÔN MẶT TIÊU BIỂU

1. Song Nguyễn-Nhà văn Công giáo giàu sức sáng tạo. tr.72

2. Song Nguyễn và văn chương Công giáo. tr,83

3. Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. tr.99

4. Thơ Trăng Thập Tự. tr,106

5. Thơ Xuân Ly Băng. tr.124

6. Lê Đình Bảng-Quỳ trước đền vàng (Thơ). tr.147

7. Lê Đình Bảng- Hành hương (Thơ). tr.166

MÙA VÀNG VĂN CHƯƠNG

1. Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam (Tổng quan). tr.187

2. Có một vườn thơ đạo (Tổng quan). tr.114

3. Mười năm Giải VHNT Đất Mới. tr.231

4. Ôi tội hồng phúc-Nguyễn Phương Thảo. tr.244

5. Con Hoang-Hà Thị Diễm Thúy. tr.247

6. Bé Hai– Phạm Vinh Sơn. tr.254

7. Hương Thạch Thảo-Phạm Thị Lành. tr.263

8. Ngã lên cỏ thơm-Nguyễn Văn Học. tr.266

9. Những ngày còn lại-Trần Thị Sương. tr.270

10. Chàng xe ôm-Nguyễn Thị Chung. tr.274

11. Giải Viết văn đường trường 2016. tr.276

12. Giải Viết văn đường trường 2017. tr.301

13. Trò chuyện với nhà thơ Lê Đình Bảng. tr.324

***

(Bìa sau)

GHI CHÚ

Một số bài đã có trên website: vanthoconggiao.net và website: vanhoadatmoi.net, các bạn có thể tìm đọc.

Những bạn có nhu cầu nghiên cứu văn học Công giáo cần tài liệu, xin liên hệ với tác giả theo email:

buicongthuangm@gmail.com , tác giả sẽ gửi sách biêu.

Trân trọng

NÉT ĐẸP VĂN HÓA CÔNG GIÁO TRONG THƠ LÊ ĐÌNH BẢNG

NÉT ĐẸP VĂN HÓA CÔNG GIÁO

TRONG THƠ LÊ ĐÌNH BẢNG

(Đọc tập thơ Ơn đời một cõi mênh mang. 2014)

Bùi Công Thuấn

***

           

Văn hóa là một đề tài rộng. Ở Việt Nam về địa lý, có 7 vùng văn hóa với những đặc điểm khác nhau: văn hóa đồng bằng sông Hồng, văn hóa Tây Bắc, văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam bộ…; có những tiểu vùng văn hóa như văn hóa Huế, văn hóa Kh’mer Nam Bộ. Ngoài ra còn có sự giao lưu văn hóa như văn hóa Phật giáo, văn hóa Công giáo, văn hóa Pháp, văn hóa Chăm…

Những vấn đề rộng của Văn hóa xin không bàn đến trong bài viết này. Chỉ xin giới hạn trong một số thành tố văn hóa để xem xét đặc điểm thơ Lê Đình Bảng trong tập Ơn dời một cõi mênh mang.

VẺ ĐẸP NGÔN NGỮ

            Ngôn ngữ là thành tố quan trọng bậc nhất của văn hóa. Bởi có ngôn ngữ mới có tư tưởng, thi ca, nghệ thuật, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống (là những thành tố khác của văn hóa). Ngôn ngữ không chỉ là ký hiệu (Ký hiệu học), cũng không chỉ là Cái Biểu đạtCái được biểu đạt (Ferdinand de Saussure)…Ngôn ngữ chứa đựng trong nó tư tưởng, lịch sử, nghệ thuật và thế giới tinh thần (của một dân tộc, một thời đại) và nhiều thành tố văn hóa khác. Nếu chỉ dùng Ký hiệu học hay lý thuyết ngôn ngữ cùa Saussure thì không thể nào đọc được kinh vô ngôn của Phật giáo (giống như thầy trò Tam Tạng thỉnh được bộ kinh không có chữ).

            Khi Đức Giêsu nói:”Lòng tin của con đã cứu chữa con” (Mt 8, 18-26), thì câu nói ấy không chỉ có nghĩa thông tin, không chỉ là ký hiệu chữ, mà Lời của Chúa chứa đựng một tín niệm căn cốt của Kitô giáo, đó là Đức tin.

            Nguyễn Du viết: “Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”(Đoạn trường tân thanh). “Chữ tâm” không chỉ là ký hiệu chữ, mà chứa đựng toàn bộ Lý giải thoát và con đường tu tập Phật giáo, bởi “Tâm tức Phật/ Phật tức tâm/ Tức tâm tức Phật/ Thời thời như vậy”(Kệ)

Ngôn ngữ có nhiều chức năng: vừa là công cụ giao tiếp, công cụ tư duy. Ngôn ngữ còn có chức năng hành động và là phương tiện sáng tạo nghệ thuật.

Trong sáng tác thơ ca, ngôn ngữ là yếu tố quyết định giá trị thơ và năng lực thi nhân. Phong cách của một tác giả trước hết được xác lập bởi việc sử dụng lời.

            Lời thơ Lê Đình Bảng có những đặc điểm gì?

            Thơ Lê Đình Bảng có nhiều lớp ngôn ngữ. Trước hết là khẩu ngữ dân gian vùng đồng bằng Bắc bộ (Thái Bình), đan xen với vốn từ của văn chương cổ điển (điển tích trong thơ văn cổ Trung quốc). Đặc biệt là lớp từ vựng mới là những điển ngữ Kinh thánh được Việt hóa. Từ đó Lê đình Bảng sáng tạo một kho từ vựng cho riêng mình.

            Đây là ngôn ngữ cổ điển

            “Thế sự thăng trầm quân mạc vấn

Yên ba thâm xứ hữu ngư châu” (tr.30). 

      (Trong bài thơ Uống rượu tiêu sầu II của Cao Bá Quát)

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”(tr.57).

          (Đoạn trường tân thanh-Nguyễn Du)

            Xót cho những Kinh Kha chí lớn

Ở bên kia ngọn sóng tràng giang (tr.59)

                   (Điển: Năm 227 trước Công Nguyên,  Kinh Kha sang Tần hành thích Tần Thủy Hoàng nhưng bị thất bại. Xin đọc bài thơ Dịch Thủy ca của Kinh Kha và Dịch Thủy tống biệt của Lạc Tân Vương)

            Đây là ngôn ngữ dân gian kết hợp với điển ngữ Kinh Thánh:

Mẹ đã dạy con học ăn học nói

Làm dấu, dâng mình sớm tối, chiều trưa

Một chữ cắn đôi, Mẹ có đi học bao giờ

Sao, kinh sách lẽ đời, trong lời ru văng vẳng

Nào hạnh tích, sấm truyền, nào ca dao vè vãn

Lần chuỗi đưa con, nhịp võng sau hè

Con lớn dần và chợt hiểu khi nghe

Cám ơn Mẹ, mỗi sớm tinh mơ gọi con đi lễ

Quãng lội, đường mưa, lạnh cắt thịt da

Mau đến nhà thờ, kịp lúc cha ra

Hôm nay lễ kính Đức Bà dâng Con, làm phép nến

Cảm ơn Mẹ đã dạy con cầu nguyện

Phó thác đời con làm của lễ thiêng liêng

Con chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi

Rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá

                                 (Cám ơn mẹ)

Chỉ một đoạn thơ ngắn của Lê Đình Bảng cũng hội tụ nhiều lớp ngôn ngữ.

Lớp từ ngữ: “học ăn học nói”, “Một chữ cắn đôi”, “lạnh cắt thịt da” là thành ngữ dân gian. Hình ảnh mẹ dạy con lẽ đời, ru con bằng ca dao theo “nhịp võng sau hè” là những hình ảnh dân dã đậm Việt tính của mọi bà mẹ Việt Nam. Chất dân dã trong thơ Lê Đình Bảng còn bao trùm vũ trụ thơ Lê Đình Bảng ở những bài ông viết theo “thể hứng” của ca dao.

Lớp từ ngữ:“Làm dấu, dâng mình sớm tối; kinh sách, hạnh tích, sấm truyền, vãn, lần chuỗi,” lúc cha ra”,“lễ kính Đức Bà dâng Con, làm phép nến”, “Phó thác đời con làm của lễ thiêng liêng”; Con chỉ là hạt bụiRơi xuống đất “là ngôn ngữ “nhà đạo” (ngôn ngữ hàng ngày của người Công giáo).

Những từ ngữ đó gợi ra một nền giáo dục Công giáo, một nét sinh hoạt gia đình ở nhà người có đạo. Làm việc gì, người theo Chúa cũng “lần chuỗi” cầu nguyện với tâm tình “phó thác”. Ru con, thay vì kể chuyện cổ tích cho con nghe, người mẹ quê đã kể hạnh tích, sấm truyền, tức là chuyện về đời sống đạo hạnh của các vị thánh (gọi là Hạnh các thánh), và các truyện tích trong Kinh thánh (Sấm truyền). Mỗi sáng sớm, dù đường từ nhà đến nhà thờ phải qua “Quãng lội, đường mưa, lạnh cắt thịt da”, mẹ cũng gọi con dậy đi dự thánh lễ cho kịp “lúc cha ra” (không được đi trễ). Con lớn lên trong bầu khí ngôn ngữ, đạo hạnh, nề nếp sinh hoạt thánh thiện ấy.

            “Ngôn ngữ nhà đạo” chiếm một lượng lớn trong vốn từ của Lê Đình Bảng. Người đọc lần đầu tiếp cận thơ Lê Đình Bảng sẽ ngỡ ngàng về vốn từ giàu có, mới mẻ ấy. Về phương diện này, Lê Đình Bảng đã góp phần làm mới, làm giàu ngôn ngữ thi ca Việt đương đại. Điều đặc biệt là, ngôn ngữ nhà đạo, vẫn tự nhiên, nhuần nhuyễn và gần gũi với người đọc, không gây trở ngại gì cho việc tiếp nhận. Tôi cho đó là tài năng ngôn ngữ mà Lê Đình Bảng kế thừa được từ kinh nghiệm sử dụng và sáng tạo từ của dân tộc.

            Xin đọc lại tứ thơ

Con chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi

Rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá

        Về ngữ nghĩa, câu thơ này không có gí khó hiểu, người đọc bình thường có thể tiếp nhận một cách tự nhiên.

Đặc sắc sáng tạo là ở chỗ, Lê Đình Bảng kết hợp hai điển ngữ Kinh Thánh:

Thứ nhất, Sáng Thế Ký viết “Ðức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật”.”Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất.” (St 2,7 và St 3, 19).

Thứ hai: dụ ngôn Người gieo giống (Lc 8, 5-8). Đức Giê su nói với đám đông dụ ngôn này: “Người gieo giống đi ra gieo hạt giống của mình. Trong khi người ấy gieo, thì có hạt rơi xuống vệ đường, người ta giẫm lên và chim trời ăn mất. Hạt khác rơi trên đá, và khi mọc lên, lại héo đi vì thiếu ẩm ướt. Có hạt rơi vào giữa bụi gai, gai cùng mọc lên, làm nó chết nghẹt. Có hạt lại rơi nhằm đất tốt, và khi mọc lên, nó sinh hoa kết quả gấp trăm“.

Con chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi

Rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá

Câu thơ ánh lên một tư tưởng mới. Hạt bụi không trở về cát bụi mà trở thành cây xanh tốt. Trịnh Công Sơn viết: “Hạt bụi nào hóa kiếp nên tôi/ Để một mai tôi trở về cát bụi” hàm chứa cái bi đát của đời người. Trái lại, Lê Đình Bảng hướng về phía sự sống, sinh sôi tốt tươi: “Hạt bụi…rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá”.

Cái nhìn của người theo Chúa luôn là vậy, luôn nhìn về phía sự sống. Đức Giêsu nói: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6).

Trong thí dụ trên, Lê Đình Bảng có cách dùng diển ngữ Kinh thánh rất hay. Hai điển ngữ với ý nghĩa tương phản lại dệt được một tứ thơ tư tưởng đặc sắc, mới mẻ; đồng thời nhà thơ nói với người đọc trải nghiệm tâm linh của mình, rằng, từ những lời đạo hạnh mẹ dạy, con đã trưởng thành lên xanh tốt trong đời.

Tôi đã gặp được những từ ngữ này của nhà đạo trong thơ Lê Đình Bảng (xin chỉ nêu thí dụ): Của lễ trên bàn thánh, của lễ thiêng liêng, quê trời muôn phúc thật, dư đầy ơn thiêng, lời kinh sốt mến (tr. 28), tràn trề ân sủng (tr.97). Lời hằng sống. Giọt máu cuối cùng trên thánh giá; về Emmaus, lễ mở tay, tiến lên bàn thánh; Hoa Mân côi nở bốn bề dậy hương (tr.90), Phiên chầu lượt (tr.83); Như men, muối (tr.62); mặc áo tân nương/ tiệc cưới / về đồng cỏ / Con nguyện tin, yêu, phó thác / thông công, Hôm qua, hôm nay, mãi mãi / ở trong nhà Chúa (tr.63), hạt mầm gieo vãi (tr.107). Đỗ cụ, làm cha.(tr.66)… Hầu hết những từ này hàm nghĩa của Kinh Thánh.

Tôi đặc biệt chú ý đến lớp từ  Lê Đình Bảng sáng tạo riêng. Nó là dấu ấn phong cách của thơ ông. Lê Đình Bảng dùng nhiều hình ảnh của đồng bằng Bắc bộ. Thơ của ông ở bái nào cũng là hình ảnh thiên nhiên cao rộng khoáng đạt (trời cao xanh, núi non mây ngàn, sông nước tràng giang, trùng dương mênh mang…)

Biển trời, mây nước mênh mông

Một đi, chín nhớ, mười mong nỗi nhà

(Con là khách ở quê ra)

Đây Xóm Chiếu của bờ xôi ruộng mật

150 năm canh thức dầu đèn (tr.44)

Mau chân với, về thông công đại lễ

Cứ lung linh xiêm áo mới dầu đèn

                         (Trẩy hội lên đền)

Lạy trời, đổ xuống sương mưa

Chân mây mặt đất lưng bờ tràng giang

                 (Lạy trời đổ sương mưa)

Có lẽ nhà thơ tâm đắc hai chữ “sương mưa” và bờ xôi ruộng mật”. Ông dùng hai từ này nhiều lần ở nhiều bài thơ khác nhau.

Hai từ này được Lê Đình Bảng sáng tạo từ kho từ vựng Kinh thánh.

Sách Asaia (Is 45, 8) viết: “Trời cao hỡi, nào hãy gieo sương, mây hạy đổ mưa, mưa đức công chính; đất mở ra đi cho nẩu mầm ơn cứu độ, đồng thời chính trực sẽ vươn lên…”

Sách Xuất hành (3, 1-8) kể lại cuộc gặp gỡ của Môise với Chúa ở núi Horeb. Chúa hứa với ông: “Ta xuống giải thoát chúng (dân Do Thái khỏi tay người Ai Cập), và đưa đến miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật”.

Lê Đình Bảng là dân Thái Bình nông nghiệp, đồng chiêm, đồng trũng; đắp đập, be bờ; lúa mùa tốt tươi. Ông đem hình ảnh này tháp nhập vào “miền đất tràn trề sữa và mật” của Kinh thánh, thành một từ vừa quen, vừa mới: “bờ xôi ruộng mật”.

Bờ xôi ruộng mật” là hình ảnh một miền quê ruộng đồng màu mỡ trù phú. Lúa nếp vàng ươm, thơm tho bao nhiêu là sôi. Cánh đồng mía tốt tươi, ngọt ngào bao nhiêu là mật: “Xem mía trổ cờ, rươi chín đỏ/ Thuyền qua sông Hóa, trắng mây bay” (tr. 69); vừa là miền “đất hứa” trong Kinh Thánh.

Những sáng tạo ngôn ngữ mới lạ như vậy tạo nên phong cách nghệ thuật của thơ Lê Đình Bảng.

Lê Đình Bảng còn đưa vào thơ rất nhiều địa danh, tạo nên tính hiện thực và tính hiện đại trong thơ (điều này ca dao đã có). Đoạn thơ sau đây dày đặc những địa danh ghi dấu chân Lê Đình Bảng, cũng đồng thời bày tỏ nồng nàn một tấm lòng với quê hương của nhà thơ.

Tôi về quê mẹ-Thái Bình đây

Cờ bay hay tóc em bay, nhỉ

Thơm ngát đường thôn lúa gặt đầy

Lấn biển, quai đê, Tiền Hải đấy

Kiến Xương, Thái Thụy, Vũ Thư này

Hưng Hà nhãn tiến vua sai trái

Chén rượu Đồng Châu ai tỉnh say

Xem mía trổ cờ, rươi chín đỏ

Thuyền qua sông Hóa, trắng mây bay

Ai về An Vỹ sang Lương Đống

Làng Thọ, làng Vân tay nắm tay

                        (Thái Bình ca)

Sự pha trộn ngôn ngữ đồng bằng Bắc bộ với điển ngữ Kinh thánh đem đến một vẻ đẹp mới cho ngôn ngữ thi ca. Những nội dung, tư tưởng Kinh Thánh trở nên gần gũi quen thuộc, và ngược lại ngôn ngữ dân dã chứa đựng hàm nghĩa mới từ Kinh Thánh. Đấy chính là vẻ đẹp của ngôn ngữ thi ca Công giáo (một mặt rất quan trọng của văn hóa Công giáo) trong tiến trình hội nhập với văn hóa dân tộc.

Về hành động ngôn ngữ, với vốn từ phong phú từ Kinh thánh, Lê Đình Bảng đã dẫn người đọc rời bỏ bầu khi văn hóa cổ điển Trung quốc (những Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Vương Duy, Lạc Tân Vương…) mà tiến vào thế giới tinh thần phương Tây (Cựu Ước và Tân Ước), vào bầu trời thần học Kitô giáo, khác hẳn với vũ trụ Thiên Mệnh của Nho giáo, Đạo “vô vi” của Lão giáo và Bát chánh đạo của Phật giáo.

Cũng bằng hành động ngôn ngữ, nhà thơ đã “sống đạo”, đã “loan báo Tin Mừng” theo cách của người nghệ sĩ. Vốn điển ngữ Kinh thánh của Lê Đình Bảng giúp người đọc hiểu được lý tưởng thẩm mỹ, ý thức sáng tạo của nhà thơ. Điều này giúp định vị thơ Lê Đình Bảng, một tiếng thơ khác biệt với thơ thế tục.

NÉT ĐẸP NGƯỜI CÔNG GIÁO

            Nói văn hóa là nói đến con người.Loài vật chỉ có bản năng, không có văn hóa. Sự trỗi dậy của bản năng nơi con người chính là sự tha hóa, suy đồi. Người ta đánh giá một con người bằng những ứng xử văn hóa của người ấy.

Cho nên, nói về vẻ đẹp văn hóa Công Giáo, trước hết hãy quan sát những chân dung, những hình tượng người Công giáo trong thơ Lê Đình Bảng.

Trong thơ lê Đình Bảng, hình tượng người mẹ Công giáo khá đậm nét.

Trên bến vắng đò khuya lau lách

Tiếng đàn ai dặm khách trăng soi

Đêm nay bếp lửa ai ngồi

Hắt hiu đường vắng bóng người về thôn

Súng nổ vang phía đồn Kha-Lý

Từ Vân Am, Xá Thị, Quỳnh Côi

Đêm đêm mưa đạn tơi bời

Dưới hiên thềm đá mẹ ngồi cầu kinh

Rồi lửa ngút giặc tràn quê nội

Mẹ con mình khăn gói đi mô

“Hoạt Thành, Tiên Lãng ra tro

Thụy Anh, Vĩnh Bảo ăn no kẹo đồng”

Mẹ ơi, sao mẹ không than thở

Dù đói no, sầu khổ, buồn vui

Chúng con vẫn nhớ nụ cuời…

            (Khóc mẹ)

                        Nhớ ngày rày năm xưa

                        Mẹ ngồi lần tràng hạt

                        Đợi con dưới phương đình

                        Rưa hè vẳng lời kinh

                        Nghe ca vè Cụ Sáu

                                    (Về quê nhà Phát Diệm)

            Nhân vật người mẹ Công giáo có những phẩm chất của người mẹ Việt Nam (cần cù, chịu thương chịu khó, giàu đức hy sinh, thương chồng thương con,..), nhưng Lê Đình Bảng tô đậm hình ảnh mẹ ngồi lần tràng hạt, mẹ ngồi cầu kinh, dù trong hoàn cảnh gian khổ hay trong bom rơi đạn nổ. Hình như tất cả những gian nan hiểm nguy đối với mẹ, không gây ra sự lo sợ, thảng thốt, bi đát nào, mặc dù có những nỗi buồn được chôn kín trong lòng, và những nỗi truân chuyên không tỏ lộ. Do đâu người mẹ Công giáo có sự bình tâm ấy? Là do mẹ cầu nguyện phó thác mọi sự trong tay Chúa với một lòng tin kiên vững, dẫu có sóng gió ba đào thì Chúa luôn che chở giữ gìn. Đức Giê su nói: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” (Ga 14, 27). Như vậy vẻ đẹp văn hóa Công giáo ở người mẹ chính là vẻ đẹp đức tin trong mọi cảnh đời, sống tinh thần phó thác.

            Vẻ đẹp người công giáo cũng đậm nét trong bài thơ Những người anh em tôi

Anh em tôi

những người lên non xuống bể

Ngước nhìn trời, gối sóng mà bơi

Giữa trầm luân, giữa tục lụy phần đời

Vẫn yêu lấy chiếc áo dòng ngày xưa mẹ sắm

Anh em tôi

những người ở tận vùng sâu, xa lắm

Xứ đạo nghèo, bốn mùa cây lúa chẳng ra bông

Lũ trẻ thơ bỏ học, mò cua bắt ốc ngoài đồng

Của lễ mọn là chục trứng gà, một hai nải chuối

Có những lứa đôi yêu nhau, chẳng đủ tiền cheo cưới

Hoa mẫu đơn vẫn đỏ thắm vườn nhà

Cố quên đi những tháng ngày lầm than, cơ nhỡ

Anh em tôi

những người nông dân chân đất

Cũng lên bờ xuống ruộng như ai

Cũng tro phân, chèo chống, cấy cày

Để lời Chúa mọc lên từ biển phèn mặn chát

Họ thủy chung như tấm lòng của đất

Họ bồng bềnh như con nước, tuần trăng

Chẳng bao giờ tham đó bỏ đăng

Vui lúa mới, buồn mùa màng thất bát

Nhà thơ ghi nhận nhiều cảnh đời gian nan, vất vả, khốn khó trăm điều, “bồng bềnh như con nước” của những người anh em (cần hiểu người anh em trong Kinh thánh), song tất cả đều không thở than. Họ vẫn vui sống và bằng lòng mang lấy phận người để “Hoa mẫu đơn vẫn đỏ thắm vườn nhà”, “Để lời Chúa mọc lên từ biển phèn mặn chát”. Tất cả những người Công giáo ấy, dù là tu sĩ hay giáo dân nghèo khổ, họ đều là con dân Việt, đậm phẩm tính Việt. Nhưng họ còn có thêm vẻ đẹp mới. Họ giữ gìn phẩm hạnh và sống Lời Chúa giữa mọi người, họ bình tâm gieo trồng Lời Chúa giữa biển đời mặn chát. Họ không coi kiếp người là kiếp khổ (“Đời là bể khổ”). Họ không cho rằng những khổ lụy phải chịu là do nghiệp quả. Không oán trời, không trách người như văn thơ cổ:

Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

(Văn tế thập loại chúng sinh-Nguyễn Du)

Cả Truyện Kiều (Đọan trường tân thanh) và Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn du đều là tiếng kêu thương bi đát, bế tắc về phận người. Trái lại, Lê Đình Bảng đã ghi được vẻ đẹp văn hóa Công giáo nơi những người sống đức tin ở giữa cộng đồng. Họ vác thập giá và đi trong sự bình an của Đấng Phục sinh. Nét đẹp ấy khác hẳn những triết lý thế tục về con người trước kia.

GIA ĐÌNH, LÀNG QUÊ CÔNG GIÁO

            ThơLê Đình Bảng không phải là thơ “phản ánh hiện thực”. Hơn nữa, bút pháp của ông là bút pháp của thơ Lãng mạn (1930-1940), dùng nhiều hình ảnh tượng trưng. Thơ phát triển theo mạch cảm xúc dào dạt của tâm trạng nhà thơ; vì thế nếu muốn tìm hiểu hiện thực gia đình, làng quê Việt Nam trong thơ ông, thì đó là điều bất khả.

Lê Đình Bảng không miệu tả những cảnh sưu thuế phi nhân như trong Tắt Đèn (Ngô Tất Tố), không có những phận người chết đói và cả chết no trong nỗi nhục (truyện Nam Cao), cũng không lên tiếng về những điều chà đạp lên nhân phẩm như trong Thời xa Vắng (Lê lựu)…

            Mặc dù cũng chịu đau thương bởi chiến tranh, bởi đói nghèo nhưng Gia đình, làng quê Việt Nam trong thơ Lê Đình Bảng thấm đẫm vẻ đẹp văn hóa Công giáo. Vẻ đẹp ấy tỏa sáng từ mẫu gương Thánh gia (Chúa Giêsu – Đức Mẹ và Thánh Giuse). Trong gia đình này cả ba vị đều là đấng thánh. Gia đình Công giáo Việt Nam và sống ơn gọi nên thánh. Làng quê Việt Nam nhộn nhịp tươi vui trong mùa Nô-en, rộn ràng lễ hội 40 ngày Chay thánh và Phục Sinh. Khác hẳn với làng quê trong thơ thế tục lặng lẽ bầu khí tâm linh Phật, tiếng chuông chùa tiễn ngày tàn vào hư vô…

                        Sớm chiều ba cứ đinh ninh

Mỗi khi lần hạt, đọc kinh, nguyện cầu

Ngủ đi con, ngủ thật lâu

Đã nghe sương xuống mái đầu bạc phơ

                                                       (Ru con)

Đây, trọn vẹn một niềm thuận thảo

Làm lễ dâng, lòng đạo, đức tin

Chắp tray, miệng hát muôn kinh

Chúa thương, phù hộ, giữ gìn Mẹ luôn

                                    (Mẹ là bóng cả cây cao)

Vẫn cái gốc chân quê mình mãi mãi

Vẫn một sương hai nắng mẹ ra đồng

Vẫn thân cò lặn lội ở bờ sông

Cha cày ải trên cánh đồng chiêm trũng

Em hái đầy thuyền hoa sen hoa súng

Chở hết chiêm bao dâng trước bàn thờ

Ôi đức tin đã vàng óng chanh mơ

Và lòng đạo đã chín mùi thơm thảo

Mấy trăm năm là mấy mùa giông bão

Mỗi bước ta đi chân cứng đá mềm

Cứ mơ hoài được trong ấm ngoài êm

Vì nước mắt đã trào ra từ đấy

                        (Trên đỉnh Trường Sơn)

Xin cứ hái những nhành hương vừa ý

Bồ câu ơi, bay lên, rợp ngoài đồng

Em có về quê lúa của nhau không

Vẫn đỏ thắm hoa vông, vào vụ gặt

Từ những buổi hừng đông đi vỡ đất

Đồng trũng, đồng chiêm, mùa gạo tám thơm

Tháng Giêng này, bông trĩu hạt, vườn ươm

Rộn ràng làng quê, chiếu chèo mở hội

Những cô tấm vừa lớn khôn như thổi

Rủ nhau đi, xiêm áo mới, dầu đèn

Cứ như thuyền ra nước lớn, triều lên

Mắt sáng, môi tươi, đàn ca nhã nhạc

                        (Khi trăm họ một nhà)

Nửa thế kỷ, tôi lìa xa quê mẹ

Nay trở về, đôi mắt cứ rưng rưng

Qua những cánh đồng nhòa nhạt hơi sương

Qua những đường thôn rạ rơm sũng ướt

Về Trà Vy đúng vào phiên chầu lượt

Giăng mắc cờ hoa như chốn kinh kỳ

Hình như là ai giữ bước chân đi

Thiêng liêng quá, đất và người yêu dấu

Ở đâu đó những lũy tre, hàng dậu

Ôi dạt dào, những cảm xúc, tôi nghe…

Lời mẹ ru hay nhịp võng sau hè

Ai vẫn đợi ngoài bến sông xưa cũ

Chùm mẫu đơn nở trong vườn nhà xứ

Em kết thành đôi hoa đỏ hồng hồng

Để hôm nào, ra đầu ngõ ngóng trông

Ai cuối bãi, ai đầu ghềnh xa lắc

Đã lâu lắm, tôi xa quê bằn bặt

Nhớ ngày xưa còn cắt cỏ, chăn trâu

Đâu những bến bờ trong, đục, nông, sâu

Đâu những chân đê, bếp chiều lên khói

Tôi nghe rõ mỗi gập ghềnh trôi nổi

Mấy mươi năm dài hơn cả đời người

Nghe tiếng chuông chiều, ra ngắm mây trôi

Đứng trước hàng hiên, gửi hương cho gió

                        (Nhớ Trà Vy)

Những trích đọan thơ trên đủ vẽ ra bức tranh làng quê Công giáo đẹp, êm ả với nhiều nét đẹp văn hóa mới. Vẫn là một vùng quê nghèo, người dân lam lũ “một nắng hai sương”, vẫn những “thân cò lặn lội bờ sông”. “Mấy trăm năm là mấy mùa giông bão”, những cánh đồng nhòa sương, những đường thôn ướt sũng rơm rạ, tiếng mẹ ru võng sau hè, bếp chiều lên khói cùng với tiếng chuông chiều đưa hồn ta lên trời; nhưng nhà thơ lắng nghe được những dạt dào cảm xúc sau lũy tre, hàng dậu, trong những phiên chầu lượt, làng quê giăng mắc cờ hoa như chốn kinh kỳ…thật thiêng liêng, thật thắm thiết nghĩa tình.

Về Trà Vy đúng vào phiên chầu lượt

Giăng mắc cờ hoa như chốn kinh kỳ

Hình như là ai giữ bước chân đi

Thiêng liêng quá, đất và người yêu dấu

            Tứ thơ này thật mới lạ và quyến rũ

Em hái đầy thuyền hoa sen hoa súng

Chở hết chiêm bao dâng trước bàn thờ

Ôi đức tin đã vàng óng chanh mơ

Và lòng đạo đã chín mùi thơm thảo

            Nét đẹp văn hóa làng quê Công giáo trong thơ Lê Đình Bảng  là nét đẹp của “đức tin vàng óng chanh mơ”, là “lòng đạo thơm thảo” trong cả một “thuyền đầy hoa sen hoa súng dâng trước bàn thơ”. Một làng quê bình an, vừa sôi nổi sức sống lại vừa lắng đọng niềm tin yêu. Điều này khác hẳn với thơ hiện thực về làng quê. Có nỗi xót xa, hiu hắt.

                        Quê hương anh nước mặn đồng chua

                        Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá…

                        Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay…

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài miếng vá..

            (Đồng chí-Chính Hữu)

Tôi thấm thía cái tình làng nghĩa xóm của người nhà quê khi một người trong làng qua đời:

                        Trải qua một cuộc bể dâu

                        (Những điều trông thấy mà đau đớn lòng)

Trời mênh mông đất mênh mông

Nghìn thu cách mặt xa lòng từ đây

Hôm nay có một người nằm ngủ

Dưới tàn cây cổ thụ xanh tươi

Máu ngừng reo, tắt nụ cười

Mà xe thiên cổ đưa người về đâu

Chúng tôi xin được giã từ

Người đi đi mãi tít mù tăm hơi

Đau thương chẳng nói lên lời

Nguyện xin được hưởng quê trời, Amen

            (Nhớ ông giáo Hà Nam)

TRẨY HỘI LÊN ĐỀN”

Ở Việt Nam có nhiều lễ hội. Có những lễ hội lịch sử: Giỗ tổ Hùng Vương, Lễ Hội Gióng, Lễ hội đền Hai Bà Trung, Lễ hội Gò Đống Đa. Có lễ hội tâm linh: Trẩy hội Chùa Hương, Hội Lim, Lễ  hội Katê của người Chăm ở Ninh Thuận, Lễ hội Cầu Ngư (Huế), lễ hội Tháp Bà Ponagar ở Khánh Hòa, Lễ hội Căm Mường ở Lai Châu, Lễ hội Bà Đen, lễ hội vía Bà Chúa xứ…

Các lễ hội là dịp để con dân Việt trở về lịch sử, cội nguồn, gắn kết cộng đồng, hun đúc tính yêu quê hương đất nước. Lễ hội cũng thể hiện những khát vọng tâm linh. Người ta cầu cho quốc thái dân an…

Trong tập Ơn đời một cõi mênh mang có nhiều bài “Trẩy hội”, gắn liền với những sự kiện lớn của Giáo hội Công giáo Việt Nam: Về Sở Kiện về Thăng Long hội ngộ (Khai mạc Năm Thánh 2010), Về phương Nam trẩy hội (Đại hội Dân Chúa 2010), Về La Vang trăm họ một nhà (Bế mạc Năm Thánh 2011), Khi trăm họ một nhà, Cho trần gian được sống dồi dào (Kỷ niệm 150 năm thành lập GP Huế)…

Mặc dù cũng là “trẩy hội” song lễ hội Công giáo hoàn toàn khác với lễ hội dân gian cả về nội dung và hình thức tổ chức. Lệ hội Công giáo có phần lễ là chính. Phần này theo đúng nghi thức của Roma trong việc cử hành các phụng vụ tế lễ tôn vinh Thiên Chúa. Phần “hội” thường chỉ là dịp để muôn dân khắp bốn phương trời hội ngộ, có dịp đến thánh địa kín múc ơn thiêng. Không có các nghi thức, các “trò” như trong lễ hội dân gian.

Nhà thơ Lê Đình Bảng không viết về phần phần “Lễ” mà tập trung miêu tả tâm trạng của người dự “hội” khi được gặp mặt người anh em khắp Trung, Nam, Bắc.

Trong các tập thơ của Lê Đình Bảng, những bài thơ về lễ hội có một mạch cảm xúc đặc biệt dào dạt phơi phời, cảm xúc của người đi dự lễ hội với một tâm hồn bay bổng như cánh hồng ngàn khơi. Những tay bắt mặt mừng, những gọi nhau ơi ới, những chuyện trò miên man, những níu kéo không dứt ra được. Muôn người cùng hòa một nhịp trái tim, cùng hát một khúc hoan ca của một đức tin trào dâng như sóng muôn trùng, của lòng mến rực sáng như lửa cháy.

            Có lẽ đây là những bài thơ đúng với tầm vóc của hồn thơ Lê Đình Bảng. Một Cái Ta quảng giao, Cái Ta nhập vào cộng đoàn lễ hội, Cái Ta bay bổng non ngàn, trùng khơi khắp ba miền. Mạch thơ cuồn cuộn dào dạt cùng với đoàn người trẩy hội. Ông hay dùng từ “trẩy hội lên đền”. Từ này bao hàm nghĩa của Kinh thánh.

Ơi những liển-em liền – chị Kinh Bắc

Đã xôn xao lời biển gọi trào dâng

Từ buổi truyền tin Mẹ nói “xin vâng”

Mau chân nhé, bởi hồn đương thổn thức

Hôm nay trời và đất đã gồm thâu…

Ngày hội trùng dương tay bắt mặt mừng

Ngồi cùng bàn, góp gạo thổi cơm chung

Để chia sẻ những buồn vui, đắp đổi

Ba miền đất ba dòng sông vời vợi

Một trái tim sôi tràn lửa Đa Minh

Giữ gìn nhau bền đỗ để làm tin

Như men, muối giữa trần gian giông gió

                        (Khi trăm họ một nhà)

Nay, trăm họ một nhà, vui hội ngộ

Tiệc đoàn viên, mừng lịch sử sang trang

Cao vút mây xanh, rực rỡ đền vàng

Nhà Chúa ngự  đẫm mùi hương trầm quế

Mau chân với, về thông công đại lễ

Cứ lung linh xiêm áo mới dầu đèn

Người bên người, như lớp lớp triều lên

Chung tiếng hát lời kinh mừng năm thánh

                                        (Trẩy hội lên đền)

Tay bắt mặt mừng vui trẩy hội

Người đi như nước mấy hôm liền

Hôm nay, mở cửa Thiên Đàng đấy

Để thấy từ Tiên Tri, Sấm Truyền

Lời Chúa đã đi vào cuộc sống

Nảy ngành xanh ngọn, trái nhiều thêm

                     (Vườn Xoài ơi vỗ tay reo)

Về Trà Kiệu, về quê hương, nhà Mẹ

Ghé Hội An, ra phường phố đông ken

Trong đêm giã hoa, Ngũ Xã đỏ đèn

Cờ xí rợp trời đức tin vàng đá

            (Tháng 5 về quê Mẹ Trà Kiệu)

Mau lên nhé, rủ nhau về đi lễ

Về La Vang, để cầm trí cầm lòng

Nơi bến bờ gặp gỡ những dòng sông

Con cái Mẹ từ muôn phương hội ngộ

Đêm nay, La Vang pháo hoa rực rỡ

Mắt lệ trào dâng, òa vỡ trong mưa

Ơn nhiệm màu đẫm vào nhạc vào thơ

Sao, ngây ngất bởi lời kinh sốt mến

Mau lên nhé quỳ bên nhau cầu nguyện

Vì đêm nay, đêm nhật nguyệt ra đời

Bốn phương trời, mười phương đất xa khơi

Đêm trừm tịch, đêm bồi hồi chờ sáng

Mau lên nhé, kẻo núi mòn sông cạn

                                                (Về La Vang trăm họ một nhà)

Nét đẹp của văn hóa Công giáo trong các lễ hội là tinh thần của người đi dự lễ. Lòng chung lòng, nghiêm trang cầu nguyện. Họ đắm mình trong câu kinh tiếng hát và mở lòng ra hướng về Thiên Đàng.

Người gọi người, “mau lên nhé”.”Bốn phương trời, mười phương đất xa khơi” cùng về đây, “Tay bắt mặt mừng vui trẩy hội/ Người đi như nước mấy hôm liền”; “Người bên người, như lớp lớp triều lên/ Chung tiếng hát lời kinh mừng năm thánh”; “Mau lên nhé quỳ bên nhau cầu nguyện”; “Hôm nay, mở cửa Thiên Đàng đấy”.

Ôi thật là linh thiêng, thật là xúc động: “Mắt lệ trào dâng, òa vỡ trong mưa/ Ơn nhiệm màu đẫm vào nhạc vào thơ/ Sao, ngây ngất bởi lời kinh sốt mến”. Triệu triệu con tim, triệu triệu tấm lòng cùng cất lời ca tụng Thiên Chúa và chia sẻ niềm hân hoan như ngày xưa Phêrô được Chúa đưa lên núi thánh (Mt 17, 1-9). Mỗi cử chỉ mỗi, mỗi hành vi đều hết sức giữ gìn trang nghiêm. Tình hiệp thông, sự gắn bó khắp muôn phương chưa bao giờ đẹp như thế.

Tất cả tinh thần thánh thiện ấy, thái độ tham gia lễ hội thành tín, trang nghiêm của mỗi giáo dân chính là nét đẹp văn hóa Công giáo trong đời sống cộng đồng mà các lễ hội dân gian không có được.

Tài năng của nhà thơ Lê Đình Bảng là vừa chụp ảnh được toàn cảnh “trăm họ một nhà, vui hội ngộ”, “Ngồi cùng bàn, góp gạo thổi cơm chung/ Để chia sẻ những buồn vui, đắp đổi”; vừa ghi được ánh hào quang tinh thần của “đêm nhật nguyệt ra đời”, và kìa! “Cao vút mây xanh, rực rỡ đền vàng/ Nhà Chúa ngự đẫm mùi hương trầm quế”.

Thơ ca Việt Nam có rất ít những bài thơ về lễ hội miêu tả cái tinh thần chung của “trăm họ một nhà, vui hội ngộ”. Có chăng chỉ là những tâm tình riêng, chuyện tình riêng đôi lứ khi đi dự lễ hội. Bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp có cái hay tả cảnh, tả tình từ góc nhìn cá nhân một cô gái 15 tuổi, nhưng có cái xô bồ, trần tục của bối cảnh.

Sau núi Oản, Gà, Xôi,
Bao nhiêu là khỉ ngồi.
Tới núi con Voi phục,
Có đủ cả đầu đuôi.

Chùa lấp sau rừng cây.
(Thuyền ta đi một ngày)
Lên cửa chùa em thấy
Hơn một trăm ăn mày.

                                    (Chùa Hương-Nguyễn Nhược Pháp)

Thơ Lê Đình Bảng ghi được nét đẹp văn hóa lễ hội Công giáo. Đó là đóng góp riêng của nhà thơ vào thơ ca Việt đương đại. Mảng thơ này của Lê Đình Bảng bộc lộ rõ nhất sự tài hoa, phóng khoáng của thi nhân. Thơ mở rộng biên độ không gian, thời gian. Cái Tôi được giải phóng để hội nhập với cộng đồng. Vì thế,  dù Thơ Lê Đình Bảng nằm trong thi pháp thơ thơ Lãng mạn (1930-1945) với rất nhiều hình ảnh tượng trưng, nhưng đã có những bước phát triển mới mẻ.

CÁCH NHÌN LỊCH SỬ

            Tập thơ Ơn đời một cõi mênh mang còn có những bài thơ thể hiện cái nhìn lịch sử dân tộc và lịch sử Giáo hội Việt Nam. Nhà thơ giúp người đọc nhận ra vẻ đẹp văn hóa của một dân tộc trong tiến trình lịch sử, nhận ra vẻ đẹp của Giáo hội giữa những thăng trầm thế tục. Sự hội nhập văn hóa này xóa đi những định kiến lịch sử về đạo Công giáo ở Việt Nam một thời bị ngộ nhận.

            Lê Đình Bảng viết về Xóm Chiếu (thành lập năm1856), nhân dịp kỷ niệm 150 năm thành lập giáo xứ:

Trăm năm trước có ai về Xóm Chiếu

Ngút ngàn bên kia, kinh rạch chập chùng

Ngập mặn rừng chàm, bần đước, khe truông

Cá sấu, cọp, beo, muỗi mòng ve vắt

Và bao nỗi đau lặng thầm giấu mặt

Từ buổi hửng đông gieo vãi đức tin

Của những lưu dân từ Nghệ, Tĩnh, Bình

Quảng Trị, Thừa Thiên, Hội An, Nam Ngãi

Từ phương Bắc người tay bồng tay bế

Lại những lưu dân trốn chạy cùng đường

Ở Sài Gòn nên đồng khói đồng hương

Ở Xóm Chiếu nên đất lành chim đậu

Đây Xóm Chiếu của bờ xôi ruộng mật

150 năm canh thức dầu đèn

150 năm làm muối làm men

Một thời vỡ hoang một thời bão tố

Chúa dẫn chúng con băng qua Biển Đỏ

            (Hát bài trường ca Xóm Chiếu )

Nhà thơ nhìn những “nỗi đau lặng thầm giấu mặt/ Từ buổi hửng đông gieo vãi đức tin”của giáo dân lưu tán từ Nghệ, Tĩnh, Bình/ Quảng Trị, Thừa Thiên, Hội An, Nam Ngãi và cả những dân di cư từ miền bắc vào Xóm Chiếu bằng cái nhìn Đức tin.

Đây Xóm Chiếu của bờ xôi ruộng mật

150 năm canh thức dầu đèn

150 năm làm muối làm men

Một thời vỡ hoang một thời bão tố

Chúa dẫn chúng con băng qua Biển Đỏ

Dưới ánh sáng đức tin, người Công giáo nhìn những đau khổ, gian nan “Từ buổi hửng đông gieo vãi đức tin” (trải qua nhiều thời kì cấm đạo từ chúa Nguyễn đến thời Quang Trung, các vua nhà Nguyễn, phong trào “Bình Tây sát tả” của Văn Thân, những khó khăn trong chiến tranh, khó khăn khi đất nước bị chia cắt…). “Một thời vỡ hoang một thời bão tố” ấy là “bờ xôi ruộng mật”, là thời gian để giáo dân”canh thức dầu đèn”, “làm muối làm men” để rồi “Chúa dẫn chúng con băng qua Biển Đỏ” (Ba tứ thơ này hàm nghĩa Kinh thánh)

Một cái nhìn như thế về lịch sử, về giáo hội thể hiện nét đẹp văn hóa Công giáo, nét đẹp của sự nhận thức những chân lý lịch sử dưới ánh sáng Tin Mừng.

Và đây là nhận thức về lịch sử dân tộc:

            Đây, hoa gấm thành đô Tổ quốc

            Đây, uy linh cương vực giống nòi

            Dặm dài bờ cõi xa khơi

            Đông Sơn còn vọng tiếng người nghìn xưa

            Ai cưỡi sóng mở cờ báo tiệp

            Đuổi kình ngư, dựng nghiệp trong ngoài

            Nỗi nhà, vận nước hai vai

            Quyết đem chí lớn xây đài vinh quang

            Bạch Đằng Giang sấm vang chớp giật

            Ngập xác thù trôi dạt mênh mông

            Biển-trời-mây-nước Tây Đông

Sơn hà xã tắc con Rồng cháu Tiên

Khi quốc biến côn quyền hơn sức

Thuở binh đao thao lược đua tài

Bình Ngô Đại cáo giương oai

Thù trong mất vía, giặc ngoài khiếp run

Cha dong ruổi mài son đánh giặc

Mẹ tảo tần mài mực ru con

Hàm Rồng đứng giữa mưa bom

Trơ trơ dạ sắt, gan đồng Lam Kinh

Trước Tổ quốc anh linh tiên tổ

Chúng con nay làm giỗ lập đàn

Nguyện cầu Quốc thái dân an

Non sông mở mặt Việt Nam lẫy lừng

Lấy nhân nghĩa bao dung xử thế

Người với người, mở huệ tình thương

Lòng thành nguyện với hoa hương

Trăm muôn vạn lạy mười phương đất trời

                        Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi vinh hiển

Lạy Nữ Vương Vô Nhiễm từ bi

Khi buồn vui lúc an nguy

Công cha nghĩa mẹ phù trì, ủi an

Chúng con nguyện chắp đôi tay

Chúa ban phần phúc dư đầy, Amen

                   (Bồi hồi bên sông Mã)

Bài thơ ghi: “Kính dâng tiền nhân tiên tổ xứ Thanh”, gợi cho người đọc một bề dày lịch sử của đất Lam Kinh, Thanh Hóa (Lam Kinh được nhà Lê xây dựng năm 1433). Trước Công nguyên, vùng đất Thanh Hóa nằm gọn trong quận Cửu Chân nước Âu Lạc (năm 111 trước CN). Nơi đây từng có cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu chống quân Đông Ngô (năm 248), nơi đây Hồ Quý Ly từng xây dựng Tây Đô (Thành nhà Hồ) và đóng đô (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Sau nhà Hồ, Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Thanh Hóa và hoạt động 6 năm ở đây (1418-1424). Xứ Thanh cũng là nguồn gốc của các triều đại lớn: Họ Lê, họ Trịnh và họ Nguyễn. Nhắc lại sơ lược một vài sự kiện lịch sử để thấy Xứ Thanh có vị trí quan trong trong lịch sử Việt, nơi anh linh tổ quốc hội tụ.

Lê Đình Bảng nhắc lại thời Văn hóa Đông Sơn (Làng Đông Sơn, Thanh Hóa là nơi có di chỉ khảo cổ nổi tiếng thế giới được phát hiện năm 1924) …Nhắc tới Lam Kinh, Bình Ngô Đại cáo là ghi nhớ công ơn khởi nghĩa Lam Sơn (Lê Lợi). Hàm Rồng là khu di tích lịch sử. Nhắc tới Hàm Rồng là nhắc đến những sự tích anh hùng của dân xứ Thanh.  Núi Rồng, sông Mã, động Long Quang là nơi ghi dấu nhiều danh nhân. Năm 1972, Mỹ dùng bom đánh phá cầu Hàm Rồng. Cầu do ngưới Pháp xây dựng năm 1904…

Cái nhìn của nhà thơ Công giáo Lê Đình Bảng về lịch sử dân tộc mình là cái nhìn thế nào?

Trước Tổ quốc anh linh tiên tổ

Chúng con nay làm giỗ lập đàn

Nguyện cầu Quốc thái dân an

Non sông mở mặt Việt Nam lẫy lừng

Lấy nhân nghĩa bao dung xử thế

Người với người, mở huệ tình thương

Đấy là cái nhìn về một đất nước “Địa linh nhân kiệt” (Đất linh thiêng sinh người hào kiệt) với lòng tự hào và biết ơn. Nguyễn Trãi đã khẳng định: “Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau/ Song hào kiệt đời nào cũng có” (Bình Ngô Đại Cáo). Lê Đình Bảng nhận ra một đặc điểm ưu việt của tổ tiên là: “Lấy nhân nghĩa bao dung xử thế/ Người với người, mở huệ tình thương” nên con cháu mới được hưởng phần phúc. Là một nhà thơ Công giáo, Lê Đình Bảng không chỉ biết ơn tổ tiên mà còn nguyện xin Thiên Chúa cho “quốc thái dân an, non sông mở mặt…”. Nhà thơ đã hòa nhập vào tinh thần chung của dân tộc này.

THAY LỜI BẠT

            Bài viết đã hơi dài, tôi không dám nhiều lời hơn. Chỉ xin chia sẻ điều này. Tập thơ Ơn đời một cõi mênh mang và những tập thơ khác cùa nhà thơ Lê Đình Bảng có một giá trị đặc biệt là thể hiện những nét đẹp văn hóa Công giáo trong sự hội nhập với lịch sử văn hóa dân tộc. Ông không chỉ giúp người đọc cảm nhận vẻ đẹp thơ ca mà còn giúp người đọc nhận ra vẻ đẹp người Công giáo, vẻ đẹp một gia đình Công giáo, làng quê Công giáo, lễ hội Công giáo và vẻ đẹp lịch sử dưới ánh sáng Tin Mừng.

Nhà thơ Lê Đình Bảng, từ khuôn mặt một thi nhân tài hoa lãng tử đã hiện lên những góc cạnh của một khuôn mặt văn hóa Công giao đương đại. Chất tài hoa kết hợp với sự uyên bác cùng với lòng nhiệt thành của một trái tim đầy ân sủng, Lê Đình Bảng đã góp cho văn học Công giáo những trang thơ văn độc đáo và giá trị.

Ông hiểu tất cả những điều ấy là do Trời, do đời cho ông.

Cảm ơn, Trời vẫn sương sa

Đã cho đất nở thành hoa, thành người…

Cảm ơn đòi đọan trăm điều

Nuôi ta đẫy sức nâng niu cuộc đời

Ngày mai tàn cuộc rong chơi

Ta xin làm đóa trăng soi bên Người

                     (Ơn đời một cõi mênh mang)

Tháng 6/2021

________________________

LÊ ĐÌNH BẢNG&HÀNH TRÌNH TƯ TƯỞNG

KINH BUỒN

VÀ HÀNH TRÌNH TƯ TƯỞNG CỦA LÊ ĐÌNH BẢNG

(Đọc tập thơ Kinh buồn của Lê Đình Bảng. Tác giả xuất bản 2012)

Bùi Công Thuấn

Nhà thơ Lê Đình Bảng đã in các tập thơ: Bước chân người Giao Chỉ (Sài gòn 1967), Hành hương (2006), Quỳ trước đền vàng (2010), Lời tự tình của bến trần gian (2012), Ơn đời một cõi mênh mang (2014), Kinh buồn (2014), và các tập thơ được phổ nhạc: Đội ơn lòng Chúa bao dung (2012), Lời khấn nhỏ chiều Chúa nhật (2012), Về cõi trời mênh mang (2012). Ngoài ra Lê Đình Bảng còn là nhà nghiên cứu có uy tín về lịch sử văn học Công giáo Việt Nam. Ông đã in “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường” (2010), và bộ sách  gồm 6 cuốn “Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam” (2009) do ông sưu tầm, nghiên cứu…

Kinh buồn là tập thơ thể hiện nhiều nỗi trăn trở của Lê Đình Bảng về lẽ trầm luân, còn – mất, tử – sinh của kiếp người, về đời hư huyễn phù vân, về sự ra đi của những người thân yêu. Kinh buồn không phải thơ tư tưởng nhưng là hành trình tư tưởng của Lê Đình Bảng một hành trình vật vã nước mắt để đến được bến bình an.

NHỮNG TRẢI NGHIỆM BỂ DÂU

Đọc những tập thơ khác của Lê Đình Bảng, người đọc chỉ thấy một nhà thơ tài hoa, phóng khoáng và say mê; bay bổng với những bài ca tuyệt vời về Cái Đẹp, về cuộc sống; về tình yêu, trong khộng gian và thời gian bát ngát tươi xanh. Đọc Kinh buồn, người đọc sẽ rất ngạc nhiên khi thấy nhà thơ đầm đìa nước mắt.

Con đã khóc, từ khi tấm bé

Những mùa Đông, mất mẹ mất cha

Ì ầm tiếng súng quê xa

Bên kia phòng tuyến, nhạt nhòa mưa bay

Con đã khóc những ngày trai trẻ

Mơ kiếm cung, dọc bể, ngang trời

Thế rồi, bèo dạt hoa trôi

Thuyền ra sông lớn, bời bời lòng đau

Con những tưởng rày trông mai nhớ

Sẽ phôi pha duyên nợ trần ai

Nào ngờ, sét đánh bên tai

Người đi, đi mãi bên ngoài thời gian

Khóc là khóc, lòng chưa giải hết

Đời ai không tử biệt sinh ly

Trông ra gò đống xanh rì

Trăm năm còn thấy, thấy gì nữa đâu

              (Như hoa thơm Chúa hái về )

Bài thơ gợi ra những nét rất đậm hành trình tư tưởng của nhà thơ Lê Đình Bảng trong  đời dâu bể. Nhà thơ đã chứng kiến, đã sống tận đáy cái hiện thực cùng cực, nghiệt ngã của lịch sử xã hội Việt Nam. Lê Đình Bảng sinh năm 1942, nghĩa là ông đã chịu đói lả những năm Ất Dậu 1945. Năm ấy hơn hai triệu con dân Việt chết đói. May mà ông thoát chết. Sau đó, dân tộc phải này phải hứng chịu mưa bom bão đạn trong 30 năm chiến tranh vệ quốc. Đau khổ, tang thương, ly tán không lời nào nói hết:

         “Đêm đêm mưa đạn tơi bời

Dưới hiên thềm đá mẹ ngồi cầu kinh”;

Rồi lửa ngút giặc tràn quê nội

Mẹ con mình khăn gói đi mô”

                      (Khóc mẹ).

Ì ầm tiếng súng quê xa

Bên kia phòng tuyến, nhạt nhòa mưa bay.

Mừng rằng đất nước đã hòa bình, thống nhất và phát triển, nhưng những vấn đề  về Con người vẫn còn đó. Số phận mỗi con người trong vòng tử sinh vẫn là con thuyền trầm luân trong bể khổ: “Thế rồi, bèo dạt hoa trôi/ Thuyền ra sông lớn, bời bời lòng đau”. Nước mắt chảy mãi không nói hết lời: “Khóc là khóc, lòng chưa giãi hết/ Đời ai không tử biệt sinh ly/ Trông ra gò đống xanh rì/ Trăm năm còn thấy, thấy gì nữa đâu”.

Hiện thực trần gian vẫn còn đấy.

Chúa có thấy chuyện bây giờ thuở trước

Vẫn những thằng Bờm, vẫn những phú ông

Vẫn những chợ phiên đổi chác bán buôn…

Hai nghìn năm vẫn dấm chua, mật đắng

Ôi, những vết thương chưa thể liền da.

                        (Lòng Chúa bao dung)

Trong thơ Lê Đình Bảng, có rất ít những câu thơ phản ánh hiện thực xã hội Việt Nam. Điều này khiến ông khác hẳn những nhà thơ lấy việc “phản ánh hiện thực” làm mục đích sáng tác. Có lẽ, là một nhà thơ lãng mạn, ông chỉ quan tâm đến Cái Đẹp, tìm và thể hiện Cái đẹp (chức năng chính của người nghệ sĩ); hơn nữa, thơ không thể sánh với văn xuôi trong việc ghi lại những cảnh đời, những biến động lịch sử, những tang thương dâu bể. Ở Miền Nam trước 1975, Ca khúc Da Vàng (Trịnh Công Sơn), Mùa hè đỏ lửa (Phan Nhật Nam),… đã miêu tả cụ thể những bi kich nghiệt ngã khốc liệt của chiến tranh mà người dân miền Nam phải chịu. Lê Đình Bảng chọn lựa con đường sáng tạo của riêng mình.

Lê Đình Bảng giữ thái độ vô ngôn trước hiện thực. Tâm thức ông thăng hoa thành những bài thơ “bờ sôi ruộng mật”, những vườn ngát hương hoa trái, những đỉnh non ngàn mây trắng bay, những bờ bãi mênh mông sóng nước.

Tôi nghĩ đến Nguyễn Du (1765-1820). Nguyễn Du hoàn toàn im lặng trước hiện thực xã hội Việt Nam thời Quang Trung-Gia Long. Tác phẩm của ông hầu hết lấy đề tài lịch sử, con người Trung Quốc (Bắc hành tạp lục). Qua đó ẩn chứa tư tưởng của ông về hiện thực. Có lẽ Nguyễn Du hiểu được lẽ hưng phế, hiểu được bản chất tang thương của thế sự, hiểu được bản chất thế tục của những tranh giành quyền lực, và ông chọn thái độ im lặng. Và ông bị phê phán ở thái độ này. Điều này không quan trọng, bởi Nguyễn du để lại nghìn sau những bài thơ chứa đựng những tư tưởng lớn.

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.

                                    (Tạp thi kỳ 1-Nguyễn Du)

Dịch nghĩa

Tráng đầu bạc đầu buồn nhìn lên trời,

Hùng tâm, sinh kế cả hai đều mờ mịt.

Lạy Chúa nhiều đêm con thức trắng

Để xem ngày tháng có dài thêm

Một mình con hắt hiu chờ sáng

Tháng Bảy trời mưa ngâu suốt dêm

     (Lời kinh khuya-Lê Đình Bảng)

Câu thơ “Tháng Bảy trời mưa ngâu suốt đêm” là ẩn dụ cho đêm đầy nước mắt. Đêm cũng là ẩn dụ cho cái nhìn về cuộc tang thương (thương hải tang điền). Nhà thơ chờ mãi, trong cô đôc, hiu hắt, nhưng đêm dường như dài thêm. Nhìn ra bên ngoài, vẫn là đêm chờ sáng. Soi vào hiện hữu, nhà thơ thấy gì?

Ta nhìn ta giữa chiêm bao

Thịt da, hoa lửa, má đào, tóc tơ

Ta nhìn ta hóa cây trơ

Hắt hiu trôi giữa đôi bờ tịch liêu

Một mình ta với mưa tuôn

Xem mây réo biếc, trận cồn kêu sương

Một mình ta giữa trăm muôn

Cái hương, cái tuyết, cái hồn phiêu linh

                      (Bên bờ tịch liêu)

            Điệp khúc “Ta nhìn ta”, “một mình ta”, là thái độ tự soi vào hiện thể, soi vào tận đáy lòng mình, soi vào bản thể của Ta, vào ba ngàn thế giới chung quanh ta; là thái độ tự thức, tự giác, tự gạt bỏ tất cả những gì ngoài Ta, không thuộc về Ta, để hiểu cho thấu bản thể của Ta trong cõi nhân sinh này.  Nhà thơ thấy mình chỉ là “cây trơ” “giữa đôi bờ tịch liêu”, chỉ thấy “một mình ta” (nỗi cô đơn hiện sinh) giữa những “kêu/ réo” của mưa tuôn, của mây biếc, của cồn đầy sương, của trăm muôn hình sắc phiêu linh. Những hình ảnh ẩn dụ này chính là cuộc đời “kêu/ réo” vây quanh. Cuộc đời xô bồ, ồn ào, đa mang, nhưng nhà thơ đã hóa “cây trơ” (không phải là cây khô, cây chết), một trạng thái “không tồn tại”. Hiện sinh mà không tồn tại, đó là trạng thái bi kịch.

            Bi kịch là ở chỗ còn vướng cái duyên cái nghiệp.

Năm mươi mùa lũ trôi qua

Mẹ cha giờ đã đi xa cuối trời

Cái thân làm tội cái đời

Cái duyên, cái nghiệp của người, của ta

                         (Trầm tư)

            Lê Đình Bảng dùng tư tưởng triết học Lão – Trang và tư tưởng Thiền để lý giải. Lão Tử nói “Hoạn hữu thân”[“Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vi ngô hữu thân; Cập ngô vô thân, ngô hữu hà hoạn?”– Lão tử – Câu 13 – Đạo Đức kinh]. Vì có Thân, nên ta phải họan nạn. Và Phật nói thêm. Hiện hữu (Thân) vốn là “Khổ” (Khổ đế trong Tứ Diệu đế – Kinh Chuyển pháp luân). Cái khổ truyền từ kiếp này đến kiếp lai sinh, bởi vì Thân là do nghiệp (Đã mang lấy nghiệp vào thân-Nguyễn Du). Nghiệp ấy do ta gây ra, nhưng nghiệp ta mang lấy cũng do kiếp trước và do người khác, mà Nghiệp là sợi dây trói (dù là thiện nghiệp hay ác nghiệp) trong quan hệ “duyên “ với ta (Lý Duyên khởi). Nhà thơ đã đi qua 50 năm mùa lũ cuộc đời trong sự trói buộc của Thân-Nghiệp ấy.

Chúa biết con nghèo, con đói rách

Trôi sông lạc chợ, sống cầm hơi

Chạy ăn từng bữa, qua từng bữa

Dang nắng dang mưa với đất trởi

Chúa bảo con, đường lên núi thánh

Ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh

Là băng qua núi cao rừng thẳm

Mỗi bước chân đi mỗi gập ghềnh…

Chúa bảo con mỏng dòn dễ vỡ

Ơ hờ cơn gió thoảng chiêm bao

Làm sao con dối lòng con được

Chỉ một chênh chao giây phút đầu

Ở bến trần gian đầy cám dỗ

Ngàn vàng mua lấy thú thương đau…

               (Suối nguồn yêu thương)

            Dưới ánh sáng tư tưởng thần học Kitô giáo, Lê Đình Bảng nhìn vấn đề rõ hơn. Tất cả những “mưa lũ”, những hoạn nạn do “Thân/ Nghiệp” của kiếp người đều đã được an bài. Đó là con đường phải đi qua. Con đường Thánh giá. Thân phận con người là một thụ tạo, mỏng dòn, bị trần gian cám dỗ. Chính tội lỗi đã trói buộc con người (không phải Nghiệp). Nói theo ngôn ngữ nhà Phật, con người bị “dính mắc” cái Nghiệp do chính mình tạo ra.

Chúa biết lòng con như chỉ rối

Sợi thưa mau, ngang dọc bời rời

Làm sao con gỡ mình ra được

Thôi, ngược dòng trôi, đuối sức hơi

Chúa biết đời con luôn vướng vít

Những là rầy nhớ với mai mong

Còn chi sau mỗi mùa thu hái

Những rớt rơi, từng hạt đắng lòng

Chúa bảo con xa đàng tội lỗi

Mà sao con nhắm mắt làm ngơ

            (Lời kinh khuya)

            Đọc những dòng  tâm sự của nhà thơ với Chúa, tôi nghĩ đến những thao thức của thánh Augustino (354-430) trong cuốn Tự thuật (Confessions). Augustino là  thánh Tiến sĩ của Giáo hội. Ông từng là một thanh niên sống sôi nổi, mê đắm trong những tham vọng trần gian như mọi Con Người ở trần gian này. Bởi con người là xác thịt, là bùn đất, là bản năng (Freud). Trần gian vốn là vậy. Là dính mắc, là cay đắng, là oan khuất ngậm ngùi, là nước mắt phôi pha, là “Không”. Một mình ta phải mang lấy.

Trần gian chẳng uống giùm cay đắng

Lệ đá xanh và cây héo khô

Nỗi chết có san bằng tất cả

Ba nghìn thế giới vẫn là không

                   (Mộ khúc)

Rồi đây người chẳng bên người

Hắt hiu cồn vắng, duềnh khơi giang hà

Cầm bằng giọt lệ phôi pha

Nửa người oan khuất, nửa ta ngậm ngùi.

                   (Nghìn sau)

TRA HỎI KHÔN NGUÔI

            Trải nghiệm một hiện sinh như vậy, nhà thơ đứng trước rất nhiều vấn đề tư tưởng.

Hỏi ngàn xanh lá đương xuân

Thoắt sinh sôi, đã lụi tàn, sầu đông

Hỏi đàn chim ngói qua sông

Trong hơi rét đậm, giữa đồng vàng khô

Cái gì như thể hư vô

Sao nghe rơi rớt những xô dạt buồn

            (Lời thì thầm của bụi tro)

            Đó là câu hỏi về hiện hữu, đương xuân đấy, thoắt cái đã lụi tàn, phải chăng hiện hữu là hư vô?  Nỗi buồn xô dạt hết phận người. Nhà thơ ngắm nhìn thiên nhiên và tra vấn (tra vấn là thái độ triết học). Thiên nhiên đâu có Thân, có Nghiệp như người, sao vẫn chịu quy luật của tàn phai hư vô?

            Thiên nhiên vốn vô ngôn, nhà thơ quay lại hỏi mình.

Ta về, gẫm lại thân ta

Thoắt trông tấc bóng ngày qua xuân thì

Ta về, hỏi gã Trương Chi

Tình muôn kiếp trước yêu vì những ai

Đêm đêm, ngọn lửa trăng chài

Đâu hồn phách ở cõi ngoài, hư vô

Ta về hỏi những xa xưa

Một vầng trăng lặn đáy hồ lặng thinh

Bụi tro là của riêng mình

Ừ, thôi tan tác giữa nghìn mênh mông

                     (Hư vô)

            Vẫn là câu hỏi về “Hữu thể và thời gian” (Sein und Zeit Martin Heidegger, 1889-1976): thoắt trong tấc bóng, thân ta đã qua tuổi xuân thì. Hỏi Trương Chi, đâu là duyên của muôn kiếp trước? (Truyện Trương Chi-Mị Nương). Hỏi, ánh trăng như ngọn lửa chài đêm đêm (một tứ thơ trong Phong kiểu dạ bạc của Trương Kế) đó là hồn của những ai? Nhà thơ đặt những câu hỏi về hiện thể, về “duyên-nghiệp”, hỏi về cõi âm; tức là từ thực tại đến siêu hình, từ hiện tượng đến tâm thức, tâm linh. Không có câu trả lời. Trăng dưới đáy hồ lặng thinh (Mỹ học Thiền). Đành vậy, rồi thân ta cũng là bụi tro tan tác vào nghìn mênh mông (hư vô).

Ngầm trong những câu hỏi về Hữu thể là những “xao xuyến” (anxiety) triết học về tính bất định, bất toàn, bất túc, hữu hạn của con người. Tồn tại là tồn tại quy tử (Being toward death – M. Heidegger).

Khi đã là tro bụi, nào ai còn nhận ra tro bụi của ai. Đó là nỗi bi đát hiện sinh (cay đắng). Thân đã là tro bụi, vậy mà con người vẫn mê lầm.

Tôi ru tôi, nỗi bọt bèo

Bởi hồn tơ tóc còn nhiều đắng cay

Bụi mình, bụi của ai đây

Sông Hằng xa tít chân mây, cuối trời

Bụi nào, bụi của thân tôi

Bụi ta huyễn hoặc, bụi đời lầm mê

             (Trăm năm tro bụi)

            Nhà thơ mượn cách lý giải của Phật. Đời là hư huyễn, là Không, vạn pháp là Không. Thân ta với ngũ uẩn cũng là Không. Nhưng con người cứ mê lầm là Có, để rồi quay quắt mãi trong giả niệm Có-Không, Còn-Mất, Sinh-Tử nhị nguyên không thoát ra được (Thiền thoại con chó có Phật tính không).

            Nhưng dường như lý giải của Phật không đủ thuyết phục, nhà thơ quay sang hỏi Chúa.

Con thường hỏi rất vu vơ

Chúa ơi, biết đến bao giờ đời con

Lặng thầm như đá trên non

Trơ thân trầm tích, vô ngôn giữa đời

Con thường hỏi giữa mênh mông

Chúa ơi, ngàn biếc chen hồng mà chi?

Mai kia, cỏ lá xanh rì

Trông ra mấy vạt tà huy mịt mùng

Con thường hỏi những trăng sao

Chúa ơi, quanh quất bến nào, đường quê

Ngước nhìn lên đỉnh Canvê

Nửa khuya thao thức còn nghe tiếng gà

Ở đây nhìn thấu xương da

Trăm năm còn mất, đâu là hợp tan?

Con thường hỏi những tro than

Chúa ơi, cả những phai tàn, về đâu?

                   (Tĩnh tâm)

            Vẫn là những câu hỏi về hiện thể (“đời con”), về “còn-mất” sinh tử, về sự tàn phai của “vạn pháp”, và tiến xa hơn, nhà thơ hỏi Chúa con đường nào về bến quê (Quo vadis?).

Tất nhiên là Chúa không trả lời. Câu trả lời ở trên đỉnh Canvê. Với người Công giáo, con đường Cứu Rỗi là con đường Thánh giá. Mỗi người tự vác thập giá mình theo Chúa, như Chúa đã vác thập giá và bị đóng đinh trên đồi Can vê để Cứu rỗi nhân loại.

Con đường Canvê là con đường Đức tin. Mà đức tin lại là điều mong manh nhất. Kinh Thánh đã chỉ ra điều này từ hai ngàn năm trước. Môn đệ Phêrô được Đức Giêsu trực tiếp dạy bảo. Nhiều lần ông khẳng định lòng tin của mình với Chúa. Vậy mà, ngay đêm Đức Giêsu  bị người Do Thái bắt, Phêrô đã chối Chúa ba lần trước lúc gà gáy, mặc dù Chúa đã cảnh báo ông ngay trong bữa tiệc ly trước đó.

Nha thơ tra hỏi về đức tin của chính mình.

Vâng, lạy Chúa, thiên đường chỉ có một

Mà nẻo về thì xa lắc xa lơ…

Con lạc giữa ngã ba đường thế kỷ

Lô xô quán không, hương khói nhạt nhòa

Đã mấy dặm dài lau lách, phù hoa

Đã mấy canh khuya lạc lầm, chia cách

Chúa ở xa con xa quá đỗi

Âm dương còn cách trở đôi bờ

Chiều nay ra ngóng con thuyền bé

Bằn bặt về đâu, sóng nhấp nhô…

            (Con biết tìm Chúa nơi đâu)

Giông bão ấy làm sao con đến được

Chỉ thấy hoa rơi và lá rụng đầy

Ôi đức tin con, ngọn cỏ lắt lây

Vâng, lạy Chúa, thiên đường chỉ có một

                       (Ngước trông lên Thánh giá)

            Thiên đường xa xôi quá. Chúa cũng ở xa quá. Nhà thơ lại sống giữa đời lầm lạc, như con thuyền bé trước biển đầy giông bão, làm sao đến đuộc đất hứa. Như âm dương cách trở, làm sao nhà thơ có thể đến với Chúa được, làm sao đến được Nước Thiên Đàng là nơi Chúa hứa thưởng ban.

Tra hỏi như thế là tra hỏi về căn cốt của Đức tin, là lộ ra một sự hoài nghi về chính hiện thể của mình, về chính “tồn tại”. Vực thẳm ngay dưới chân, nếu không có Ơn Cứu Rỗi, Con người không thể vượt qua vực thẳm. “Ôi đức tin con, ngọn cỏ lắt lây”.

Những khủng hoảng đức tin như thế bất cứ người theo Chúa nào cũng trải qua. Bởi ơn Đức tin là ơn Chúa. Không phải do nỗ lực ý chí của con người. Ánh sáng mạc khải ấy chỉ mở lối cho những tâm hồn bé mọn. Đức Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.”(Lc 10, 21) [Jesus said, “I praise You, Father, Lord of heaven and earth, that You have hidden these things from the wise and prudent and revealed them to babes. Even so, Father, for so it seemed good in Your sight].

May mà nhà thơ còn chút lòng tin của hạt cải li ti (Đức Giêsu nói với môn đệ: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: “rời khỏi đây, qua bên kia!” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được” (Mt 17, 20)

Chúa ở nơi đâu, gần xa cùng khắp

Đừng bỏ rơi con lạc lõng, mồ côi

Và ước chi trong thương tích của Người

Con tìm được một bến bờ nương náu

            (Lòng Chúa bao dung)

Con biết mình khô khan yếu đuối

Nhưng hằng tin được rỗi linh hồn

Từ trong giọt máu sau cùng ấy

Đã nhú chồi xanh mưng búp non

Lạy Chúa, chiều nay chân gối mỏi

Nhọc nhằn lên dốc núi chon von

Bài ca ai hát Exsultet

Có phải là lời Chúa gọi con

                      (Hát từ ngôi mộ trống)

Trên Thập giá, Đức Giêsu đã đổ hết máu mình để Cứu Rỗi nhân lọai. Nhà thơ tin rằng, trong giọt máu cuối cùng (một tứ thơ rất hay) chảy ra từ cạnh sườn của Chúa (do lưỡi đòng của nhân loại đâm thâu qua), mình cũng sẽ được cứu rỗi. Trong niềm tin ấy, khi nghe hát bài Exsultet (Bài công bố Tin Mừng Phục sinh), nhà thơ nghe tiếng Chúa gọi mình.

TRỞ VỀ

            Thực ra hiện hữu, hiện sinh vốn vô nghĩa (không có nghĩa). Người ta gán nghĩa cho nó để bám víu vào đó mà sống, mà hành động. Sự gán nghĩa này tùy theo nhận thức (Hiện tượng luận – E. Husserl-1859-1938) về cuộc đời và mục đích mà con người muốn đạt đến.

 Ý nghĩa đích thực của hiện sinh phải trong hai chiều kích. Chiều cao, chiều hướng lên, hướng về Thiên Chúa và chiều rộng, chiều ngang, chiều hướng về tha nhân. Ý nghĩa của hiện sinh không chỉ là chiều soi vào hiện thể của cá nhân để chỉ thấy buồn nôn, phi lý, xao xuyến, hư vô, chỉ thấy sống là đi về cái chết (Being toward death). Chết không phải là hư vô mà là sự sinh sôi. Lê Đình Bảng ý thức về bản thể trong mối tương qua đa chiều như vậy thật cụ thể.

Ta còn ở với dương gian

Để yêu, yêu lấy đời dan díu này

Để gieo hết hạt trong tay

Phơi phong hết nắng của ngày đương xuân

             (Ta còn để lại gì không)

Ơn đời nặng nghĩa bao dung

Gió ơi xin cứ nuôi rừng đầy hương

Trở về, làm hạt mưa sương

Thác sinh hẹn với vô thường, nghìn sau

              (Mượn lời thác sinh)

Ta đứng co ro, mình một bóng

Dưới hiên mưa ướt lối đi này

Mà xem đá rịn mồ hôi lạnh

Để nghiệm ra khoảnh khắc một đời

Vào cõi mênh mông thiên cổ lụy

Hạt mầm hư nát mới sinh sôi

                      (Nhớ)

Hóa ra, khi mở lòng ra với đời, khi nhận ra “ơn đời nặng nghĩa bao dung”, nhận thức được tương quan với người mới là bản chất của hiện sinh, và chỉ khi nhận ra “Hạt mầm hư nát mới sinh sôi”[“Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt.” (Ga 12,24)] thì những câu hỏi siêu hình mới được hóa giải.

            Nhà thơ thấy nhẹ nhàng, thảnh thơi.

Trở về thăm cội tùng xưa

Cùng rong rêu uống sương mưa đầm đỉa

Gối đầu bên rặng lau, nghe

Trong hơi gió thở, đêm khuya thì thầm…

Trở về ăn bát cơm chay

Quán thưa, rượu cạn, bàn đầy ly không

Trở về giục giã bên sông

Nước lên, thuyền cũng lên, trông gió mùa

                   (Một cõi đi về)

            Đó là tư tưởng “Vô vi” của Lão tử. Nói theo nhà Phật, khi đã an trụ Tâm, khi đã thoát khỏi cái Tâm sai biệt [“Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”-kinh Kim Cang], đạt đến Cái Tâm Bát Nhã (Bát nhã tâm kinh) thì con người mới thoát mê lộ. Bài thơ Tĩnh tâm là một bài tuyệt hay.

Con nhủ thầm mình vừa tỉnh cơn mê

Có lưu luyến, có bồi hổi, giục giã

Nên đâu dám ngửa tay xin phép lạ

Nhưng hằng tin có Chúa ở trong mình

Dặn lòng mình, khấn nguyện một lời kinh

Hãy cố nâng niu từng ngày sống một

Hoa có rụng, hãy rụng vào đất sạch

Trái còn xanh xin ở mãi trên nhành

Bên kia Biển Hồ, nước biếc non xanh

Cứ thả lưới ở mạn thuyền bên phải

Một lòng tin nhỏ li ti hạt cải

Để thuyền neo, tôm cá chở đầy khoang…

                          (Bên kia hồ yên ả)

Một ngày được ở trong nhà Chúa

Con sẽ đàn ca lên, hát vang

                (Suối nguồn yêu thương)

Khi đã tỉnh cơn mê, nhà thơ khẳng định một lòng tin. “Một lòng tin nhỏ li ti hạt cải/

Để thuyền neo, tôm cá chở đầy khoang” như các tông đồ của Đức Giêsu xưa. Họ thả lưới suốt đêm nhưng không được con cá nào. Nghe lời Chúa, Simon thả lưới bên phải thuyền thì lưới  đầy cá. (Lc 5, 5-7). Tin vào Chúa, nhà thơ hồi sinh tâm hồn, biết “nâng niu từng ngày sống”. Không bận tâm vấn đề Tử sinh. “Một ngày được ở trong nhà Chúa/ Con sẽ đàn ca lên, hát vang”.

            Nhà thơ cám ơn đời

Cảm ơn trời đất trăm năm

Bao nhiêu ơn xuống, mưa dầm thấm lâu

Kể từ con cá, lá rau

Cây kim, sợi chỉ thưa mau, cũng là…

               (Lênh đênh phận người)

THAY LỜI KẾT

            Trong tập Kinh buồn có một mảng thơ rất hay khác là những bài thơ viết về cha, mẹ, vợ, con, về những người thân yêu đã qua đời (đặc biệt hay là những bài viết về các Giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, GS Nguyễn Đăng Thục, Đức TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình, họa sĩ Giuse Bùi Liêm, Lm Nguyễn Phúc Dân…) . Những bài thơ này vừa kế thừa được dòng thơ về tình gia đình, tình bạn trong thơ truyền thống của dân tộc, vừa góp thêm một cách viết rất mới, rất tài hoa. Nhà thơ yêu thương, tiếc xót người thân yêu nhưng không bi lụy, không sa đà vào những tư tưởng siêu hình. Riêng tôi nghĩ, chính cái chết của những người thân yêu này gợi nhiều ý nghĩa về hiện sinh cho nhà thơ, và hơn thế, giúp nhà thơ ngộ ra nhiều chân lý của Kinh Thánh trong hành trình tư tưởng của mình.

            Là người tốt nghiệp Cử nhân Giáo khoa Việt Hán Đại học Văn khoa Sàigòn trước 1975, Lê đình Bảng am tường văn chương, tư tưởng phương Đông, nên nhận thức và kiến giải những vấn đề tư tưởng của ông thấm rất sâu triết học phương Đông (Phật-Nho-Lão). Và điều mới mẻ là trong thơ của ông, những tư tưởng Phật- Nho- Lão ấy, và cả triết học phương Tây, lại được ánh sáng Kinh thánh soi chiếu, nhờ thế con đường tư tưởng của Lê Đình Bảng khác hẳn nhà thơ xưa cũng như các nhà thơ đương đại (Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Tô Thùy Yên…).

Con đường tư tưởng ấy phù hợp với những lời chỉ dạy của Giáo hội trong Tông huấn Giáo hội tại Châu Á: “Á Châu cũng là chiếc nôi của các tôn giáo lớn trên thế giới -Do Thái Giáo, Kitô Giáo, Hồi Giáo và Ấn Giáo. Đó là nơi phát sinh nhiều truyền thống thiêng liêng khác như Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo…Giáo Hội giữ một niềm kính phục sâu xa nhất đối với các truyền thống này và tìm cách chân thành đối thoại với các môn sinh của truyền thống đó. Những giá trị tôn giáo họ truyền dạy, chờ được hoàn thành viên mãn trong Đức Giêsu Kitô”. (Tông huấn Ecclesia in Asia của Đức Giáo hoàng Gioan Phao lô II. Chương I, đoạn 6)  

            Tôi hình dung thế này. Các tập thơ khác của Lê Đình Bảng (Qùy trước đền vàng, Hành hương, Lời tự tình của bến trần gian…) là những bè phối khác nhau của một đại giao hưởng, và Kinh buồn là bè trầm (Bass), rất sâu, rất dày, đầy uy lực, có sức nâng đỡ để tất cả các bè phối ở trên cùng cất cánh. Thiếu bè trầm, giao hưởng sẽ rất mong manh và chênh vênh. Nhờ thế người đọc có thể nghe được tiềng gió thoảng đầy ắp không gian của violin, tiếng ngọt ngào lãng mạn của Guitar, tiếng trầm hùng như sóng ngầm đại dương của Cello, tiếng thánh thót như giọt sương rơi trên lá cỏ của Piano và tiếng hùng tráng, ào ạt, thúc giục của dàn kèn đồng, dàn trống trong buổi xuất hành. Nói như thế để thấy màu sắc thẩm mỹ và tư tưởng của thơ Lê Đình Bảng rất phong phú. Thơ Lê Đình Bảng hay, dễ đọc nhưng cũng có những đòi hỏi khắt khe.

            Đọc Kinh buồn, bạn đọc sẽ không thấy buồn, bởi nhà thơ đã dẫn chúng ta thoát khỏi những hư huyễn của bến trần gian mà bước vào cõi hoan ca an nhiên trong ánh sáng Exsultet của Tin Mừng.

Cảm ơn trời đất trăm năm

Bao nhiêu ơn xuống, mưa dầm thấm lâu

Kể từ con cá, lá rau

Cây kim, sợi chỉ thưa mau, cũng là…

                              (Lênh đênh phận người)

***

Tháng 6/2021

“NGHỆ THUẬT GIẤU MẶT” CỦA NGUYỄN HUY THIỆP

NGHỆ THUẬT GIẤU MẶT” CỦA NGUYỄN HUY THIỆP

Bùi Công Thuấn

 (Bài này đã đăng trên Văn Nghệ TpHCM, số 200, ngày 03.05.2012 và

 in trong Luận chiến văn chương-tập 3 của Chu Giang. Nxb Văn học 2015)

Nguyễn Huy Thiệp thường xuất hiện trực tiếp trong truyện để nói về việc mình đã viết câu chuyện này thế nào. Trong những trường hợp này, Nguyễn Huy Thiệp tự cho mình vai trò nhân chứng, là người tận mắt chứng kiến và kể lại câu chuyện. Đó là thủ thuật viết lách đánh lừa, để người đọc tin những câu chuyện Thiệp kể là có thật.

Mở đầu Vàng Lửa, Nguyễn Huy Thiệp kể lại việc mình nhận được thư của ông Quách Ngọc Minh, ngụ ở Tu Lý, huyện lỵ Đà Bắc bàn về truyện Kiếm Sắc. Ông Minh mời Thiệp lên chơi và hẹn cho Thiệp xem vài tư liệu. Nguyễn Huy Thiệp kể tiếp: ”Nhận được thư tôi đã lên thăm gia đình ông Quách Ngọc Minh. Những tư liệu cổ mà ông Quách Ngọc Minh gìn giữ thật độc đáo. Về Hà Nội tôi viết truyện ngắn này. Khi viết, tôi có tự ý thay đổi một vài chi tiết phụ và sắp xếp, chỉnh lý lại các tư liệu để hợp với việc kể chuyện”.

Mở đầu truyện Phẩm Tiết, Nguyễn Huy Thiệp cũng xuất hiện trực tiếp trong truyện và kể lại sự việc như sau: ”Việc tìm ra ngôi mộ cổ ở vùng lòng hồ trong khu vự thủy điện sông Đà khiến tôi lại lên Tu Lý, huyện lỵ Đà Bắc…Hôm dời mộ từ khu vực lòng hồ lên Tu Lý, tôi đã đến xem. Mộ ở vuông đất hẹp, bằng phẳng, cách bờ sông Đà hai trăm năm mươi mét, ở độ cao mười sáu mét kể từ mặt sông. Bao nhiêu năm nay chưa bao giờ lũ sông Đà ngập đến chỗ này”.

Mở đầu truyện Tội ác và Trừng Phạt, Nguyễn Huy Thiệp cà kê: ”Đã có nhiều bạn đọc đến với tôi, họ kể lể về cuộc đời, than phiền những điều bất hạnh trong số phận, mong muốn tôi viết “một cái gì đấy” về tội ác và trừng phạt. Mong muốn của họ chân thành và cảm động…

Cô gái 16 tuổi ngồi trước mặt tôi phạm tội giết bố và ba đứa em. Cô ta giết bố bằng rìu, khi ông ngủ say..

Kết thúc truyện Trương Chi, Nguyễn Huy Thiệp bày tỏ thái độ viết: ”Tôi –  người viết truyện ngắn này- căm ghét sâu sắc cái kết thúc truyền thống ấy…còn tôi, tôi có cách kết thúc khác. Đây là bí mật của riêng tôi…

Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện trực tiếp trong truyện là một đặc điểm (điều này không mới), nhưng trong nhiều truyện của Nguyễn Huy Thiệp, người đọc nhìn rõ, nghe rõ nhân vật đang hành động, nói năng trong không gian truyện, đang lớn dần lên trong sự phát triển cốt truyện. Ấy vậy mà ta có cảm giác, không hoài nghi, rằng Nguyễn Huy Thiệp đang phát ngôn trực tiếp quan điểm của mình qua nhân vật, không lầm lẫn đi đâu được, và đành chấp nhận sự đánh tráo nghệ thuật. Và nếu bạn đọc có “muốn bắt tận tay, day tận mặt” Nguyễn Huy Thiệp (tác giả), thì ngay lập tức Nguyễn Huy Thiệp biến mất. Nhân vật đứng án ngữ trước mặt ta, cảnh cáo ta: “Này đừng có ngu ngốc và dốt nát, nhân vật là nhân vật, nhân vật không phải là tác giả”. Tôi gọi đó là nghệ thuật giấu mặt của Nguyễn Huy Thiệp.

Có thể coi nghệ thuật giấu mặt của Nguyễn Huy Thiệp là một đặc điểm thi pháp, một đặc điểm phong cách, thể hiện cái “thâm” của tác giả, cái mà người ta gọi là ”tài” văn chương của Nguyễn Huy Thiệp. Bạn đọc cần phải nắm được cái chìa khóa này mới có thể  mở toang những ẩn mật đàng sau những con chữ.

NGHỆ THUẬT GIẤU MẶT LÀ GÌ?

Trong cuộc sống, bạn đọc có thể gặp nhiều trường hợp giấu mặt. Những người hoạt động bí mật trong lòng địch (thí dụ Phạm Xuân Ẩn) thì buộc phải giấu mặt, nghĩa là không được để lộ ra bất cứ chi tiết nào về nhân thân trước mắt kẻ địch, bởi sự lộ ra này sẽ là an nguy đến tính mạng. Ẩn mặt để tự bạo vệ. Ẩn mặt để thực hiện nhiệm vụ nào đó. Hầu hết những comment trên Internet đều là của những người mang mặt nạ.

Khi khán giả thấy nghệ sĩ hài Hoài Linh xuất hiện trên sân khấu trong tấu hài thi hoa hậu ba miền, thì trước mắt khán giả là hai con người. Một nghệ sĩ Hoài Linh có nhân thân cụ thể, không lầm lẫn với bất cứ nghệ sĩ nào khác, và một Hoài Linh đang diễn vai cô gái dự thi hoa hậu. Khán giả theo dõi và thưởng thức câu chuyện, nhưng đồng thời cũng theo dõi và thán phục Hoài Linh. Tất nhiên khi xem diễn, người ta xem nhân vật cô gái đang diễn trước mắt, còn nghệ sĩ Hoài Linh, cố giấu mình đi, cố ẩn mình đi trong hóa trang, trong hóa thân vào nhân vật, làm sao để người xem không thấy sự vụng về lộ liểu của màn diễn. Ẩn mặt là một yêu cầu nghệ thuật.

Cũng vậy, trong kỹ thuật viết truyện (truyện hư cấu-xin phân biệt với thể loại Ký, Tùy Bút…), tác giả không thể nhảy vào ngồi chồm hỗm giữa trang văn mà trực tiếp thuyết lý điều này, dạy bảo điều kia. Phải đọc những truyện như thế, người đọc không sao kềm chế được sự bực mình. Trong truyện (tự sự), câu chuyện phải diễn ra tự nhiên như nó đang diễn ra trong đời thực, người kể phải tuân theo những quy luật khách quan, tác giả không được bẻ cong hiện thực.  Tác giả chỉ có thể phát ngôn qua hệ thống hình tượng, đặc biệt là nhân vật, chủ đề, tư tưởng…Ẩn mặt trở thành nguyên tắc sáng tác truyện. Ngay cả Nguyễn Khải trong Một Người Hà Nội, dù tác giả ghi rõ tên mình (đồng chí Khải), ghi rõ mình ở Sài gòn ra thăm Hà Nội, thì đồng chí Khải ấy cũng chỉ là một nhân vật, không phải tác giả. Đó cũng là một cách giấu mặt. Việc tự nêu tên mình làm nhân vật chỉ là thủ thuật của bút pháp, là cách đánh lừa độc giả rằng, đây là truyện thật, truyện của tôi, tôi là người trong cuộc kể lại, tôi là nhân chứng sống, và những gì tôi nói là đáng tin.

Trường hợp của Nguyễn Huy Thiệp không phải thế. Tác giả núp sau nhân vật, điều khiển nhân vật, và dùng miệng nhân vật trực tiếp phát ngôn quan điểm của mình. Đây là nghệ thuật giấu mặt đàng sau rất nhiều mặt nạ (có thể coi mỗi kiểu nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp là một kiểu mặt nạ). Và để nhận rõ tác giả, chỉ có một cách là gỡ bỏ những mặt nạ ấy, tức là giải mã cho được cái cách Nguyễn Huy Thiệp biến thực thành giả, biến giả thành thật, cái cách đánh tráo như trong trò ảo thuật, cái cách tạo ra sự ỡm ờ hư hư thực thực, cái cách nói nghiêm túc mà thành ra là một thủ đoạn lừa ngoạn mục.

NGUYỄN HUY THIỆP ĐÃ GIẤU MẶT NHƯ THẾ NÀO?

Nguyễn Huy Thiệp mượn chuyện xưa để nói chuyện nay.

Nguyễn Huy Thiệp kể chuyện lịch sử. Nhân vật có lại lịch tổ tiên gốc gác hẳn hoi. Tư liệu Nguyễn Huy Thiệp dùng là có xuất xứ. Câu chuyện có những mấu chốt như trong chính sử. Người đọc bị hấp dẫn bởi những chuyện ly kì mà tưởng rằng lần đầu tiên lịch sử được tiết lộ. Nhưng hỡi ôi. Tất cả là bịa. Nguyễn Huy Thiệp chỉ dùng những yếu tố có chất sử để nhào nặn câu truyện và thông qua đó phát ngôn quan điểm của mình.

Chẳng hạn, truyện Kiếm Sắc kể về Đặng Phú Lân, con Đặng Phú Bình, người gần gũi Nguyễn Ánh. Nguyễn Huy Thiệp kết thúc rất “chân thành” thế này:” Viết truyện này, tôi muốn đề tặng gia Đình ông Quách Ngọc Minh để cảm ơn thịnh tình của gia đình ông đối với riêng tôi. Tôi cũng xin cám ơn một số nhà nghiên cứu lịch sử và bạn bè quen biết đã giúp tôi sưu tầm, chỉnh lý những tư liệu cần thiết cho công việc viết văn, vốn rất nhọc nhằn phức tạp, lại buồn tẻ nữa-của tôi”.

Người đọc hẳn là tin như đinh đóng cột rằng Nguyễn Huy Thiệp kể chuyện thật. Nhưng xin nhớ rằng, đặc trưng của truyện là hư cấu. Điều này Nguyễn Huy Thiệp đã nói rõ về nhân vật Đặng Phú Lân: ”Trong số người gần gũi với thế tổ Nguyễn Phúc Ánh những năm mưu phục lại cơ đồ nhà Nguyễn có một hào kiệt mà không sử sách nào nhắc đến. Người đó là Đặng Phú Lân”. Vâng, đã là nhân vật kề cận Nguyễn Ánh, được Ánh tin dùng suốt 9 năm 100 ngày, có bọn Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành, Võ Tánh đối chứng, nhất thiết sách sử không thể bỏ sót. Điều này lộ ra, đây là nhân vật do Nguyễn Huy Thiệp bịa đặt. Và dùng ông Quách Ngọc Minh cùng các nhà nghiên cứu lịch sử làm bình phong che chắn cho Nguyễn Huy Thiệp dựng trò ảo thuật.

Và vì là chuyện bịa, tất cả những phát ngôn của nhân vật đều là của Nguyễn Huy Thiệp. Và đây là phát ngôn của Thiệp qua miệng Nguyễn Ánh về tình hình sĩ phu Bắc Hà và thân phận của họ dưới tay kẻ cai trị. Ánh bảo Lân: ”Ta chỉ ghét bọn chữ nghĩa thôi, còn ngươi là con nhà võ thì sợ gì. Chữ nghĩa chúng nó thối lắm, ngụy biện, xảo trá tinh vi. Hành tung chúng ta chẳng lo. Toàn lũ ốm o, như dòi chồ, hèn mọn cả”…” Ta không tin bọn đó theo ta. Chúng nó quen tỉ tê với chữ nghĩa thì sẽ coi ta là vô đạo, không có tâm thế. Rửa đầu óc chúng mệt lắm”. Trong mắt Nguyễn Huy Thiệp, kẻ sĩ Bắc Hà chỉ là bọn dòi chồ hèn mọn cả, còn kẻ nắm quyền lực thống trị thì vô đạo. Nguyễn Huy Thiệp nói ngày xưa hay nói về thực tại hôm nay?

Cũng vậy, kết thúc truyện Vàng Lửa, Nguyễn Huy Thiệp mới nói cho độc giả biết người Bồ Đào Nha viết nhật ký kể chuyện Phơrăngxoa Pơriê  là nhân vật không có thật và câu chuyện được kể là bịa: ”Hồi ký của người Bồ Đào Nha vô danh không viết gì thêm. Tôi, người viết chuyện này đã cất công đi tìm các thư tịch cổ và hỏi han nhiều bậc bô lão. Không có tài liệu gì và cũng không ai biết gì về thung lũng Quạ hoặc chuyện của những người châu Âu thời vua Gia Long. Mọi cố gắng của tôi trong nhiều năm nay vô hiệu”.

Như vậy Vàng Lửa là chuyện lịch sử được bịa đặt. Đã là chuyện bịa thì mọi phát ngôn của nhân vật trong Vàng Lửa đều là của tác giả. Nguyễn Huy Thiệp viết về Nguyễn Du như thế này: ”Nguyễn Du thông cảm với những đau khổ của các số phận đơn lẻ mà không hiểu nổi nỗi đau khổ lớn của dân tộc. Đặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Đây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú, vừa nhục nhã, vừa căm thù nóNguyễn Du là đứa con của cô gái đồng trinh kia, dòng máu chứa đầy điển tích của tên đàn ông khốn nạn đã cưỡng hiếp mẹ mình”.

Nguyễn Huy Thiệp đã đưa ra những ý kiến đầy khiêu khích. Công luận đã phản đối sự lệch lạc võ đoán và tự ty như thế, bởi dân tộc này có một nền văn hóa riêng mà Nguyễn Huy Thiệp không nhận ra được. Người ta hiểu rằng Nguyễn Huy Thiệp chỉ mượn Nguyễn Du để nói về thực tại Nguyễn Huy Thiệp đang sống.

Tôi nói Nguyễn Huy Thiệp lệch lạc, võ đoán và tự ty khi đưa ra nhận định: Đặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Đây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp”. Bởi Nguyễn Huy Thiệp đắp mắt che tai không học được từ lịch sử điều này, Việt Nam nằm trên giao lộ ngã tư quốc tế, chịu ảnh hưởng nhiều nền văn hóa, trong đó có Trung Hoa, Ấn Độ, sau này là phương Tây, và bây giờ là toàn cầu hóa. Hiện nay người ta đang nói đến sự xâm lăng của văn hóa Hàn Quốc, lối sống thực dụng Mỹ. Nhưng bản lĩnh của dân tộc Việt là sự tiếp thu và Việt hóa tất cả các yếu tố ngoại lai, biến chúng thành những yếu tố có lợi cho mình và làm giàu văn hóa dân tộc. Phật giáo, Nho giáo, Đạo Giáo, Chủ nghĩa Lãng Mạn, chủ nghĩa Marx vào việt Nam và được đồng hóa thành văn hóa Việt Nam, đó là những thí dụ.

Làm sao có thể nói lời của nhân vật cũng là lời của Nguyễn Huy Thiệp?

Ở trên tôi đã nói, khi câu chuyện được kể là hoàn toàn bịa, thì mọi phát ngôn trong truyện của nhân vật là của tác giả. Xét ở mức độ văn bản, văn bản có hai lớp nghĩa, nghĩa tường minh là lời của nhân vật, còn hàm nghĩa là lời của tác giả. Khi một phát ngôn vi phạm vào nguyên tắc giao tiếp (thí dụ, phát ngôn thừa hoặc thiếu thông tin) thì phát ngôn ấy tạo ra hàm nghĩa. Xin thử đọc.

“Lúc này ở Châu Âu, nền Đế chế Napôlêông Bonnapac đã sụp đổ. Châu Âu chín chắn hơn. Họ đã bắt đầu hiểu vẻ đẹp và vinh quang một dân tộc không phải do cách mạng hoặc chiến tranh mang lại, cũng không phải do các nhà tư tưởng hoặc các hoàng đế mang lại, bởi vậy họ sống đỡ căng thẳng hơn, giản dị hơn, hợp tự nhiên hơn…”(Vàng Lửa)

Đây là lời trực tiếp của Nguyễn Huy Thiệp kết truyện. Lớp nghĩa tường minh là nghĩa trong câu chuyện thời Napôlêông. Nhưng hàm nghĩa Nguyễn Huy Thiệp nói về thực tại Việt Nam: vẻ đẹp và vinh quang một dân tộc này làdo cách mạng, do hai cuộc kháng chiến  mang lại, và do tư tưởng chủ nghĩa Marx Lê-nin. Và vì thế ở VN sống căng thẳng, phức tạp và trái lẽ thường. Trong văn bản của Nguyễn Huy Thiệp có 3 lần so sánhhơn”, tạo ra tình trạng thiếu thông tin, buộc người đọc phải liên tưởng đến đối tượng được so sánh “hơn ai, hơn cái gì” (hiểu ngầm). Đối tượng ấy nhất thiết phải có sự tương đồng với cách mạng, chiến tranh và các nhà tư tưởng, từ đó người đọc hiểu rằng Nguyễn Huy Thiệp nói về thực tại Việt Nam.

Điều này được nhận thức ngay khi người đọc liên tưởng đến thực tại. Các kênh truyền thông của Nhà Nước, trong trường học, trên báo chí truyền thanh truyền hình, luôn khẳng định vinh quang của dân tộc này là thành quả cách mạng, chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam để xây dựng chủ nghĩa xã hội và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là chiến thắng có tầm vóc thời đại và lịch sử. Nguyễn Huy Thiệp đã phủ định cách mạng, kháng chiến và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bằng hai từ “không phải” liên tiếp:”. Hàm nghĩa là không có cách mạng không có kháng chiến, không có các nhà tư tưởng, chủ nghĩa này tư tưởng nọ thì dân sẽ sống đỡ căng thẳng hơn, giản dị hơn, hợp tự nhiên hơn.

Những đoạn văn bày tỏ chính kiến đứng độc lập.

Có thể nhận ra phát ngôn của Nguyễn Huy Thiệp (thông qua miệng nhân vật) ở chỗ, những phát ngôn ấy có thể đứng một mình, tách biệt với nhân vật. Ở vị trí ấy, đoạn văn chính là phát ngôn trực tiếp của tác giả. Tác giả là người chịu trách nhiệm về ý kiến của mình

Hãy nghe Nguyễn Huy Thiệp đánh giá về Nguyễn Trãi và Lê Lợi:

“Trước đây, khi dâng “Bình Ngô sách” cho Bình Định Vương Lê Lợi, Nguyễn đề xuất tư tưởng nhân nghĩa, ông coi nó là máu thịt dân tộc là nguyên tắc ứng xử giữa con người. Nguyễn đã hướng về tuyệt đối. Song chính Nguyễn đã một chiều, thậm chí không tưởng. Lê Lợi tỉnh táo hơn, nhận ra Nguyễn đã mắc bẫy bởi chính tư tưởng của mình. Lê Lợi biết tư tưởng đó chỉ là ngọn cờ khởi sự chứ không phải phương pháp. Hơn nữa ngọn cờ ấy chỉ phù hợp với tình trạng khốn cùng về vật chất của đám đông trong từng khoảng thời gian nhất thời. Lê Lợi vĩ đại vì đã thực tế hơn Nguyễn về cuộc sốngNguyễn tôn sùng đám đông nhưng Lê Lợi tin chắc chỉ có những cá nhân siêu việt mới có khả năng gây men cho lịch sử. Lê Lợi hiều rõ khả năng tạo dựng và khả năng phá bỏ của Nguyễn nhưng Nguyễn lại không có khả năng giữ nguyên tình trạng. Giữ nguyên tình trạng đòi hỏi một dự ngu xuẩn phi thường, một sự ngu xuẩn thiên tài. Bao giờ cũng vậy, giữ nguyên tình trạng đòi hỏi những con bệnh lớn”(Nguyễn Thị Lộ).

Đoạn phát ngôn trên cũng vi phạm nguyên tắc về lượng thông tin, vì thế nó lại tạo ra hàm ý (bạn đọc thử khám phá hàm ý của Nguyễn Huy Thiệp?) Xin chia sẻ điều này. Nguyễn Huy Thiệp gọi Nguyễn Trãi là Nguyễn mà không gọi là Trãi hay Ức Trai tiên sinh, trong khi Nguyễn Huy Thiệp gọi các nhân vật khác bằng tên như gọi Nguyễn Ánh là Ánh, gọi Đặng Phú Lân là Lân. Đó là một dụng ý. Đặt Nguyễn bên cạnh các chỉ dẫn khác của Nguyễn Huy Thiệp là:Nguyễn đã mắc bẫy bởi chính tư tưởng của mình, ngọn cở khởi sự, Nguyễn tôn sùng đám đông (quần chúng), bạn đọc sẽ nhận ra Nguyễn Huy Thiệp muốn nói về ai. Thời Nguyễn Trãi không nói “đám đông” mà nói “dân đen”, nói “nhân dân bốn cõi một nhà”

Trong mạch kể truyện, đoạn văn trên là suy nghĩ của Nguyễn Trãi về chính mình. Nhưng trong cách viết, Nguyễn Huy Thiệp đã để Nguyễn Trãi, Lê Lợi ở ngôi thứ ba, gọi Nguyễn Trãi là ông, là Nguyễn, và nhìn Nguyễn Trãi bằng con mắt khách quan, nhìn Nguyễn từ bên ngoài. Vì thế đoạn văn trở thành đáng giá của Nguyễn Huy Thiệp về Nguyễn Trãi. Thông qua đó đánh giá về Nguyễn, và tư tưởng của Nguyễn ở hiện tại. Đánh giá này hoàn toàn là sự suy diễn chủ quan của Nguyễn Huy Thiệp. Có thể nói, viết truyện Nguyễn Thị Lộ, Nguyễn Huy Thiệp tỏ ra rất non tay về xây dựng cốt truyện, khắc họa nhân vật, miêu tả tâm lý và lý giải những vấn đề lịch sử của Nguyễn Trãi. May ra truyện còn lắng đọng được một chút xót thương của Nguyễn Thị Lộ với nỗi cô đơn của Nguyễn Trãi (xét cô đơn như phạm trù Hiện Sinh). ”Ông cô đơn với chính đồng loại mình”..”Ông cô đơn giữa đời như một hành tinh hoặc một ngọn gió. Điều ấy khiến nàng xót xa”. Nhưng những điều ấy Nguyễn Huy Thiệp  nói về nhân vật “Nguyễn” đương thời…

Làm thế nào để nhận ra mặt thật của tác giả sau những mặt nạ?

Qua những chia sẻ ở trên, tôi nghĩ đã đủ những gợi ý để bạn đọc tiếp tục khám phá về Nguyễn Huy Thiệp. Nhưng còn một điều có thể làm bạn băn khoăn, rằng khi tác giả hóa trang kỹ quá và thay đổi nhiều mặt nạ thì làm thế nào ta nhận ra mặt thật của tác giả. Quả là một vấn đề thú vị và cần được xem xét kỹ hơn.

Trở lại phần minh họa ở trên về nghệ sĩ hài Hoài Linh. Khi Hoài linh lên sân khấu, dù anh diễn vai gì, hóa trang kiểu gì, khán giả vẫn nhận ra Hoài Linh. Vậy căn cứ vào đâu để ta nhận ra Hoài Linh con người xã hội? Ấy là vóc dáng Hoài Linh nhỏ thó và ốm. Hoài Linh có cách anh diễn xuất riêng. Giọng điệu của Hoài Linh dù nhái giọng Bắc, hay Trung đều không lẫn được. Hoài Linh cũng có những mảng đề tài sở trường riêng. Nói bằng ngôn ngữ phê bình thì đó là phong cách. Cũng vậy, dù Nguyễn Huy Thiệp có giấu mặt sau nhiều mặt nạ, người ta vẫn nhận ra tác giả qua phong cách văn chương của ông.

Rất tiếc tôi chưa có dịp tìm hiểu kỹ về phong các Nguyễn Huy Thiệp, nhưng có thể nhận thấy vài nét đặc điểm sau đây của phong cách ngòi bút NHT

Văn chương củaNguyễn Huy Thiệplà văn chương “chửi”, chửi tục, hiểu theo cả nghĩa đen và nghĩa thuật ngữ phê bình văn học, tức là văn chương phê phán, phản kháng hiện thực. Kết thúc truyện Trương Chi, Nguyễn Huy Thiệp viết: ”Tôi –  người viết truyện ngắn này- căm ghét sâu sắc cái kết thúc truyền thống ấy…còn tôi, tôi có cách kết thúc khác. Đây là bí mật của riêng tôi. Tôi biết giây phút rốt đời, Trương Chi cũng sẽ văng tục”…”. Trong suốt truyện Trương Chi, Nguyễn Huy Thiệp để cho Trương Chi nhiều lần thốt ra tiếng chửi: ”cứt”.

Chàng duỗi chân, ngả người vào lòng thuyền. Chàng nói: – Cứt…Giờ đây gặp Mỵ Nương, chàng hiểu chắc chắn rằng cuộc sống của chàng thật là cứt, là cứt chó, không sao ngửi được. Không chỉ riêng chàng mà cả bầy. Tất cả đều thối hoắc: – cứt. …Trương Chi không hát nữa. Chàng lại nói: – Cứt…Chàng ăn cá nhưng được vài miếng chàng lại nhổ đi. Chàng nói: -Cứt. Mị Nương bảo chàng hát, Trương Chi biết đó chỉ là trò cứt. Khi Trương Chi Hát, bọn hoạn quan đứng quanh nhiều lần cười ré lên: -Hát như cứt…Trương Chi lại chèo thuyền ra giữa tim sông. Chàng lại nói: – Cứt.”

Trong cách chửi, giọng văn Nguyễn Huy Thiệp bình tĩnh dẫn dụ, sau đó bất ngờ bốp chát thẳng vào mặt đối tượng. Xin đọc. “…Nhìn vào danh sách hơn 1000 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam người ta đều thấy đa số đều chỉ là những người già nua không có khả năng, sáng tạo và hầu hết đều…”vô học”, tự phát mà thành danh… Trong số này có tới hơn 80% là nhà thơ… trên thực tế cái danh nhà thơ là một thứ nhìn chung chỉ là nhăng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó: nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa. (Nguyễn Huy Thiệp – Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn.)

Xưa nay trong văn chương Việt Nam, không phải là không có văn chương “chửi”. Trần tế Xương, Vũ Trọng Phụng là những bậc thầy về văn chương chửi. Trong Số Đỏ, Vũ Trọng Phụng chửi rất nhiều hạng người, từ giới thầy thuốc, đến thầy tu, đến bọn hoạt đầu chính trị và cả anh hùng, vĩ nhân. Vũ Trọng Phụng chửi trực tiếp Phạm Quỳnh, Hội Khai Trí Tiến Đức và các phong trào bình dân nhố nhăng đầu thế kỷ XX. Nhưng xin lưu ý rằng Vũ Trọng Phụng chửi qua hình tượng nghệ thuật và chửi bằng nghệ thuật trào phúng, còn Nguyễn Huy Thiệp chửi trực tiếp bằng nghệ thuật giấu mặt đằng sau nhiều mặt nạ, bằng cách làm méo mó nhân vật (Quang Trung, Nguyễn Trãi..).  Nguyễn Huy Thiệp chửi rất mạnh miệng những cái mà Nguyễn Huy Thiệp cho là nhố nhăng ngu dốt, vô luân, bạc ác ở đời, “Chỗ nào cũng tàn ác, dâm tục, đểu giả, tham lam”(Đời Thế Mà Vui).

Chỉ tiếc là Nguyễn Huy Thiệp không có hệ tư tưởng minh triết làm nền và Nguyễn Huy Thiệp cũng chưa đạt tới một nền tảng chân lý để từ đó có thể đưa ra những đánh giá một cách thuyết phục. Nguyễn Huy Thiệp chỉ gây shock bằng những phát ngôn chọc giận thiên hạ, đi ngược lại thiên hạ, kiểu như hạ bệ Quang Trung, kiểu nói rất hồ đồ về nền văn hóa Việt Nam:” Đặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Đây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú, vừa nhục nhã, vừa căm thù nó”.

Văn chương Nguyễn Huy Thiệp là văn chương giấu mặt.

Tôi coi đây là một đặc điểm thi pháp, cũng là một đặc điểm phong cách, bởi ở bất cứ truyện nào, ở nhân vật nào, người đọc đều có thể gặp cách viết ỡm ờ, cách viết hàm nghĩa (như tôi đã phân tích ở trên). Nếu không khám phá đặc điểm nghệ thuật này của ngòi bút Nguyễn Huy Thiệp thì không thể hiểu Thiệp.

Nguyễn Huy Thiệp có giọng văn lạnh đến vô cảm, trong thẳm sâu là một nỗi buồn thấm thía, nỗi buồn của sự bất lực trước thực tại. Và Nguyễn Huy Thiệp đã thực hiện đúng quan điểm văn chương của mình là: “Văn chương phải bất chấp hết, ngập trong bùn sục tung lên, thoát thành bướm và hoa, đấy là chí thánh” (Giọt Máu VII), và văn Nguyễn Huy Thiệp thuộc loại “văn làm loạn”(Giọt Máu II).

Điều này quá rõ trong các truyện như Tướng Về Hưu, Huyền Thoại Phố Phường, Không Có Vua, Con Gái Thủy Thần, Giọt Máu, Những Người Thợ Xẻ,… Rất tiếc là Nguyễn Huy Thiệp đã hất bùn lên tất cả, bất chấp đó là ai, kể cả Như lai và Giêsu Christ. Có rất ít sự thăng hoa thành bướmhoa. Tại sao vậy, Nguyễn Huy Thiệp lý giải :” Tôi chỉ căm giận, căm giận những phù vân trong toàn bộ hoàn cảnh sống của thời đại tôi. Những giáo điều đạo đức bao giờ cũng giản dị ngây ngô, buồn cười, sơ lược, thậm chí còn đểu giả nữa. Ác nhất là những giáo điều ấy đúng. Bởi nó cần. Nó là sợi xích tròng cổ để giữ hình ảnh tương đối về mỗi chúng ta. Nếu không sẽ là hủy diệt…”(Những Người Thợ Sẻ).

Nguyễn Huy Thiệp cố gắng vượt qua cô đơn, phi lý, buồn nôn Hiện Sinh để Sang Sông đáo bỉ ngạn Thiền, nhưng chiếc đò lại quay về bến, và Nguyễn Huy Thiệp trong mặt nạ nhà sư đã không  đến bờ bên kia của giác ngộ được.

Người ta cũng nhận ra Nguyễn Huy Thiệp đặc sắc trong những truyện mượn đề tài lịch sử để viết những truyện hư cấu như Kiếm Sắc, Vàng Lửa, Phẩm Tiết. Ông kết hợp cách viết của kiểu truyện diễn nghĩa cổ điển (Tam Quốc Diễn Nghĩa) với các kể dân gian, cách nói năng dân gian và cả cách thuật cô đọng của Kinh Thánh. Có thể nói Nguyễn Huy Thiệp để lại dấu ấn ở mảng truyện này. Cũng qua mảng truyện này, Nguyễn Huy Thiệp dùng ngày xưa để nói về thời đại mình.

Có một vấn đề tôi chưa tự trả lời được, cũng không giám hỏi Nguyễn Huy Thiệp, sợ lại bị chửi, và mong được bạn đọc chia sẻ, đó là, tại sao Nguyễn Huy Thiệp lại sử dụng nghệ thuật giấu mặt, và dấu mặt để thực hiện mục đích gì?

Tháng 4 năm 2012