VĂN HÓA CÔNG GIÁO TRONG LÒNG VĂN HÓA DÂN TỘC

VĂN HOÁ CÔNG GIÁO TRONG LÒNG VĂN HOÁ DÂN TỘC                                                                                            Bùi Công Thuấn

Nhà thờ Phát Diệm

(Nhà thờ Phát Diệm-ảnh trên internet)

 ***

Đã có quá nhiều định nghĩa về “văn hoá”, song mỗi định nghĩa chỉ là một góc nhìn về văn hoá, không thể bao quát chính xác ý nghĩa của thuật ngữ. Theo tôi, Văn hoá là toàn bộ đời sống tinh thần, biểu hiện bằng tất cả những gì con người làm đẹp cuộc sống (hoá là trở thành-Văn là đẹp), tức là sự thể ra bên ngoài, bằng hành động, bằng vật thể, vằng lối sống cái đẹp của đời sống tinh thần. Cái đẹp của văn hoá (khác với mỹ thuật) là cái đẹp nhân văn, là sự tôn trọng con người, là tôn vinh những giá trị Người. Vì thế chiến tranh, xung đột không bao giờ là văn hoá, vì nó tàn sát con người. Những sự đối xử thô bạo với con người đều là vô văn hoá.

Văn hoá giúp phân biệt con người và thú hoang. Phải nhiều ngàn năm con người mới đạt tới trình độ văn hoá hiện nay, trong khi loài vật vẫn sống theo bản năng. Bất cứ hành động nào đem con người trở lại tình trạng bản năng đều là suy đồi. Con người đã nâng hành vi bản năng lên thành ứng xử văn hoá. Chẳng hạn, tính dục là một bản năng, loài vật sinh hoạt tính dục theo mùa, và chúng có thể giao cấu ở bất cứ chỗ nào, lúc nào mà bản năng đòi hỏi.Trái lại, con người có văn hoá, không hành xử như loài vật mà nâng tính dục lên thành giá trị, thành đạo đức, thậm chí thành những điều linh thiêng. Tín ngưỡng phồn thực tôn thờ bộ phận sinh dục nam và nữ và hành vi tính dục nam nữ. Trên trống đồng có những hình ảnh nam nữ đang giao cấu. Trong lễ hội Trò Trám ở Tứ Xã huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, (còn gọi là lễ hội “Linh tinh tình phộc”) đêm 11 tháng Giêng âm lịch, người ta vẫn cử hành nghi thức giao hoan. Tùy theo kết quả cuộc giao hoan ấy mà người ta tin rằng làng được mùa hay kém mùa. Ở Nhật cũng có lễ hội thờ “sinh thực khí”.

Dân tộc này khác dân tộc khác ở văn hoá. Văn hoá Việt Nam là văn hoá tình nghĩa cộng đồng, khác biệt với văn hoá Mỹ là văn hoá của cái Tôi cá nhân thực dụng. Bao nhiêu gia đình Việt Nam khi còn ở trong nước thì thuỷ chung, sang Mỹ lại ly dị.

Muốn hội nhập vào cộng đồng, nhất thiết phải hội phập từ văn hoá.

  1. VẤN ĐỀ VĂN HOÁ

Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á (ECCLESIA IN ASIA của ĐGH J.Paul II) dạy rằng:

Văn hoá là không gian sống … con người được uốn nắn bởi nền văn hoá trong đó họ đang sống. Đức Phaolô VI nói, sự chia tách giữa Tin Mừng và văn hoá là thảm trạng của thời đại chúng ta, với một tác động sâu xa trên cả việc rao giảng Tin Mừng lẫn văn hoá …

…Con đường của những nhà rao giảng Tin Mừng là làm cho đức tin Kitô giáo trở nên một thành phần của di sản văn hoá của một dân tộc. Tại Á Châu, Kitô giáo vẫn thường còn bị coi là ngoại lai… Theo ý kiến của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, cái khó là do sự kiện Đức Giêsu thường bị coi xa lạ với Á Châu. Đức Giêsu như là một nhân vật Âu Châu.”

Tông Huấn về việc đào tạo Linh mục trong hoàn cảnh hiện nay (PASTORES DABO VOBIS CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II) cũngdạy rằng:

Trong toàn bộ nền đào tạo trí thức và nhân bản, cần phải đưa việc hội nhập văn hoá lên hàng nhu cầu và yếu tính”

Qua lời dạy của Giáo Hội, chúng ta hiểu rõ việc hội nhập văn hoá là con đường quyết định, mà người Công Giáo Việt Nam phải dấn thân để làm cho đức tin Kitô giáo trở nên một thành phần của di sản văn hoá của một dân tộc, để Tin Mừng Mừng thâm nhập một cách sống động vào trong các nền văn hoá

  1. ĐÓNG GÓP CỦA CÔNG GIÁO CHO VĂN HOÁ DÂN TỘC

 Văn hoá có nhiều thành tố, tác động qua lại lẫn nhau. Đó là ngôn ngữ, tư tưởng, tín ngưỡng-tôn giáo, nghệ thuật, phong tục tập quán, lễ hội, lối sống…Xem xét sự đóng góp là xem xét cụ thể từng thành tố văn hoá, đồng thời xem xét những yếu tố chi phối sự phát triển văn hoá. Đó là chủng tộc, chính trị, địa lý…

Cho đến nay giới nghiên cứu bước đầu đã ghi nhận đóng góp của Công giáo vào văn hoá dân tộc.(xem bài của TS Phạm Huy Thông* ), tuy vậy những đóng góp ấy còn khiêm tốn.

Văn hoá Việt Nam nhìn chung chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật, Nho, Lão, sau này là phương Tây, văn hoá thực dụng Mỹ

Nho giáo trở thành học thuyết xây dựng các triều đại phong kiến Việt Nam. Người ta tin vào Thiên Mệnh, sống thuận theo Thiên Mệnh (Khổng Tử nói: Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử dã “ [1]). Trong dân gian người ta tin vào số phận, người ta khi đã 50 tuổi thì có thể biết được mệnh trời (ngũ thập tri Thiên mệnh).

Nho giáo tạo ra một lớp trí thức gọi là Nhà Nho với lý tưởng “kinh bang tế thế”(“cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm – tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ). Gặp thời thì ra giúp nước, không gặp thời về ở ẩn, giữ nhân cách nhà Nho. Ứng xử thì lấy Nhân, Lễ, Nghiã, Trí, Tín làm gốc, giản dị gần gũi nhân dân. Lịch sử đã ghi công của Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, …

Lối sống của nhà Nho có những nét đẹp riêng: Nguyễn Đình Chiểu dù mù loà vẫn về quê mở trường dạy học, sáng tác văn chương rao truyền đạo lý, được nhân dân yêu mến. Nho giáo trở thành “chính đạo” của nhà Nguyễn.

Lão giáo để lại ảnh hưởng trong lối sống “vô vi”[2], sống an nhiên, sống theo tự tánh, sống nhàn, coi thường lợi danh, tự tại trong mọi hoàn cảnh, đạt tới bậc chí nhân: “Chí nhơn vô kỷ, thần nhơn vô công, thánh nhơn vô danh “[3], sống chan hoà cùng tạo vật [4]. Tư tưởng nhàn là một trong những tư tưởng chi phối thơ văn trung đại từ Nguyễn Bỉnh Khiêm đến Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát…(“trầm tư bách kế bất như nhàn”[5]. Ngày nay thú chơi cây cảnh, du lịch sinh thái, trở về với thiên nhiên chính là tư tưởng đạo Lão.

Phật giáo thâm nhập sâu hơn vào văn hoá dân tộc. Thời Lý -Trần nhiều Thiền sư tham gia chính sự. Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) được coi là Phật hoàng, là người sáng lập phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Thơ Thiền trở thành một bộ phận quan trọng của thơ văn Việt Nam với những tên tuổi lừng lẫy như Pháp Thuận Thiền Sư, Vạn Hạnh Thiền Sư, Không Lộ Thiền Sư, Mãn Giác Thiền Sư…và nhiều Thiền sư khác được ghi trong Thiền Uyển Tập Anh [6]. Sau này, tư tưởng Phật giáo còn thâm nhập vào Cung Oán Ngâm Khúc, Đoạn Trường Tân Thanh (truyện Kiều) và ngày nay trở thành căn cốt sáng tạo trong nhạc Trịnh Công Sơn, thơ Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư. Phạm Thiên  Thư còn thi hoá Kinh Kim Cang phật giáo thành Kinh Ngọc. Trong dân gian, tư tưởng “đời là bể khổ”(Khổ Đế trong Tứ Diệu Đế của Phật) và tư tưởng Phật tại tâm, tinh thần từ bi hỷ xả là những tư tưởng chi phối đời sống tinh thần của phần lớn dân tộc, nhất là khi có những hoạn nạn chung, người ta làm việc thiện vì từ tâm

Phật, Nho, Lão tuy có những khác biệt nhưng vào văn hoá Việt Nam trở thành tam giáo đồng nguyên, làm nên diện mạo chính của tinh thần Việt Nam.

Đạo Công Giáo truyền vào Việt Nam và phát triển nhanh là nhờ văn hoá Việt Nam đã có sẵn những yếu tố gần gũi với tín lý Công giáo. Người Việt Nam tin vào Trời như một đấng tuyệt đối công minh (trời cao có mắt, thiên bất dung gian). Trời, Thiên Mệnh và Thiên Chuá là niềm tin có chỗ tương đồng trong tâm thức người Việt.

Chữ quốc ngữ là một đóng góp rất lớn của Công giáo với văn hoá dân tộc. Tuy nhiên, các giáo sĩ sáng lập ra chữ quốc ngữ và Lm Alexandre de Rhodes là người nước ngoài [7]. Việc sáng tạo chữ quốc ngữ là để giảng đạo, không phải mục đích xây dựng văn hoá Việt Nam. Vì thế, trong một thời gian dài, chữ quốc ngữ không phát triển. Chỉ đến đầu thế kỷ XX, cả thực dân Pháp và các chiến sĩ cách mạng (Đông Kinh Nghiã Thục) mới dùng chữ Quốc ngữ để tuyên truyền, lúc ấy chữ Quốc Ngữ mới thâm nhập vào đời sống dân tộc. Từ 1910 chữ Quốc ngữ mới được dùng chính thức trong hành chính Việt Nam.

Thời kỳ đầu văn chương Quốc Ngữ có truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản in năm 1887. Trương Vĩnh Ký là một học giả Công giáo để lại hàng trăm tác phẩm, mở đầu thời kỳ chữ Quốc Ngữ. Thời 1930-1945 có Hàn Mặc Tử sáng tác dưới ánh sáng tư tưởng và nghệ thuật Công giáo, rất tiếc ông bỏ dở con đường này.

Trước 1975 ở miền Nam, đã có một thời người trí thức công giáo dấn thân trong lĩnh vực văn hoá tư tưởng, tạo được ảnh hưởng nhất định đối với hoàn cảnh xã hội, đó là các Lm Thanh Lãng, Lm Kim Định, GS Nguyễn Văn Trung…

Gần đây Đức Giám mục Bùi Tuần đã in được bộ sách “Thao thức” 5 tập, hơn 2.500 trang. Báo Sài Gòn Giải Phóng đánh giá: “Đây không chỉ là cuốn sách, mà còn là tư duy sâu sắc của nhà hiền triết cùng với những trăn trở suy tư của con người hôm nay” [8].. Đức Giám mục Vũ Duy Thống với bút danh Thông Vi Vu sáng tác nhiều bài hát cho giới trẻ. Ngài tham gia sinh hoạt văn nghệ cộng đồng rất hăng say và được giới trẻ yêu mến

Chỉ riêng lãnh vực Thánh ca thì Thánh ca Công Giáo đã tự khẳng định một nền nhạc riêng trong âm nhạc dân tộc. Năm 2008 Lm nhạc sư Kim Long đã tổ chức nhiều đêm hội diễn kỷ niệm 50 năm sáng tác thánh ca ở cả trong Nam và ngoài Bắc, gây được tiếng vang lớn (Tuy vậy, thánh ca cũng chỉ chỉ được sử dụng trong nhà thờ)

Công Giáo đã xây dựng được nhiều nhà thờ, như là sự đóng góp nghệ thuật kiến trúc vào văn hoá dân tộc. Nhà thờ Phát Diệm là một công trình văn hoá đồ sộ kết hợp được kiến trúc phương Đông và phương Tây, nhà thờ Đức Bà Sài gòn là một công trình kiến trúc và nghệ thuật để lại dấu ấn riêng cho thành phố. Công giáo cũng có những lễ hội góp phần làm phong phú văn hóa Việt (Giáng Sinh, Phục Sinh, tháng các linh hồn để tưởng nhớ và cầu nguyện cho tổ tiên…)

Công Giáo cũng đã tạo ra những cộng đồng dân cư, ở đó có nếp sống văn hoá riêng, mà cốt lõi là cùng một đức Tin, tinh thần bác ái, cùng sinh hoạt lễ hội, cùng bảo vệ các giá trị tuyền thống, giá trị nhân bản và “sống phúc âm giữa lòng dân tộc”…

Dầu vậy, hàng trăm năm qua, đạo Công giáo ở Việt Nam vẫn chỉ dậm chân tại chỗ. Xin đọc Bản góp ý của Caritas Việt Nam với Đại hội Dân Chúa 2010.

Trong vòng 50 năm qua, số giáo dân tăng từ 2 triệu vào năm 1960 đến 6 triệu vào năm 2010. Nhưng số tăng này chỉ tương ứng với số sinh tự nhiên và tỷ lệ dân Công giáo so với dân số cả nước vẫn ở mức 7%. Nếu tính theo số liệu Tổng Điều tra Dân số 2009 thì chỉ có 6, 61%. Con số này đã có từ năm 1885: nghĩa là 125 năm qua GHCG VIỆT NAM chưa truyền giáo có hiệu quả.”[9]

Vì sao có tình trạng đó?

Theo tôi, đạo Công giáo vẫn duy trì tính chất phương Tây trong văn hoá, tách biệt với văn hoá dân tộc. Các nhà truyền giáo người Pháp, người Bồ Đào Nha… đã đem văn hoá phương Tây đến truyền đạo ở Việt Nam, mặc dù các ngài đã nỗ lực hội nhập với văn hóa Việt, song vô tình, hay cố ý, đã gây ra những ngộ nhận đối với người Việt. Alexandre de Rhodes trong Phép Giảng Tám Ngày gọi đạo Phật là đạo Bụt. Ông cho rằng Thích Ca chỉ dạy những điều gian trá. A.Rhodes đưa ra giải pháp: ”Như thể có chém cây nào đúc cho ngã, các ngành cây ấy tự nhiên cùng ngã với. Vậy thì ta làm cho Thích Ca, là … hay dối người ta, ngã xuống, thì mọi truyện dối trong đạo bụt bởi Thích Ca mà ra, có ngã với thì đã tỏ.” A.Rhodes, cũng công kích kịch liệt việc thờ cúng tổ tiên, điều này đụng chạm đến tâm linh Việt.

Nhà Nguyễn bách hại người theo đạo và coi Công giáo là “tả đạo”.

Năm 1832, Minh Mạng ra dụ: “Cái thuyết thiên đường, tóm lại chỉ là chuyện hoang đường, không có bằng chứng. Hơn nữa nếu không kính thần minh, không thờ tiên tổ thì rất trái với chính đạo. Những việc trái luân lý, hại phong hóa, điều ấy kể ra còn nhiều, thực đã phạm đến pháp luật. Đạo ấy quy là tà đạo hơn đạo nào hết.

Năm 1833 vua Minh Mệnh lại chỉ dụ: “Ta, hoàng đế Minh Mệnh, truyền lệnh như sau: Từ nhiều năm nay, những người Tây phương đến đây truyền bá đạo Giatô làm mê hoặc thường dân bằng lời rao giảng có thiên đàng hạnh phúc và hỏa ngục khổ sở. Chúng không trọng kính đức Phật cũng không thờ cúng Tổ Tiên. Đó là một trọng tội phạm đến chính đạo… Vậy ta truyền cho tất cả những người theo đạo này, từ quan cho chí đến dân đen phải thực tâm từ bỏ nếu họ nhìn biết quyền uy của ta. Trẫm muốn rằng tất cả các quan hãy tỉ mỉ xem xét có còn người Kitô nào sống trong địa hạt của mình và bắt họ tuân phục mệnh lệnh, bắt họ đạp lên ảnh tượng ngay trước mặt mình. Nếu họ làm theo thì sẽ được ân xá. Đối với các nhà thờ và nhà đạo trưởng các quan phải tịch thu làm kho chung. Từ nay về sau nếu có người nào bị nhận diện hay tố cáo là thực hành những thói tục đáng ghét này sẽ bị trừng trị với hình phạt nghiêm nhặt nhất, ngõ hầu có thể tiêu diệt thứ đạo này tận gốc rễ.”

Ngày nay, trong nhiều sách vở người ta vẫn coi những nhà truyền giáo trong Hội Thừa Sai Paris (Pallu, Lefèbvere, Puginnier, Retord, Pigneau de Béhaine…), đi trước do thám, mở đường cho Pháp xâm lược  Việt Nam. Sử gia Pháp Georges Coulet đã viết trong tác phẩm của ông Cultes et Religions de l’Indochine Annamite (Saigon, p. 99) như sau: “Thiên Chúa giáo đã mở cửa cho quân đội Pháp và đã là nguyên nhân trực tiếp của cuộc xâm lược đất nước này”…

Với những định kiến lịch sử và với vai trò thiểu số trong cộng đồng dân tộc, Công giáo Việt Nam khó có thể phúc âm hoá môi trường nếu không hội nhập văn hoá.

III. THỰC TRẠNG VĂN HOÁ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Từ đổi mới (1986) đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong nỗ lực xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nhiều di sản văn hóa được Unesco công nhận. Sinh hoạt tôn giáo-tín ngưỡng đã trở lại bình thường trong phạm vi luật pháp. Giáo dục đáp ứng cho hơn hai chục triệu người có nhu cầu nâng cao dân trí. Việc xây dựng ấp – khu phố văn hóa, gia đình văn hóa tạo ra bộ mặt đời sống mới. Nhân dân mọi miền, kể cả vùng sâu vùng xa được hưởng thụ văn hóa nhiều hơn, phong phú hơn. Giao lưu văn hóa với thế giới, Việt Nam thoát khỏi ảnh hưởng hàng ngàn năm văn hóa Trung Hoa, hàng trăm năm văn hóa thực dân Pháp. Khoảng cách văn hóa giữa nông thôn và thành thị, giữa người Việt trong nước và người Việt hải ngoại thu ngắn lại. Tinh thần dân chủ thay thế cho ý thức phong kiến trong sinh hoạt xã hội. Toàn cầu hóa đem đến ý thức bình đẳng giữa các nền văn hóa, giữa các quốc gia và dân tộc, đồng thời giúp phát huy bản sắc dân tộc, khắc phục cái nhìn hẹp hòi thiển cận, hoặc thái độ mặc cảm tự ty hoặc tự tôn. Sự phát triển những ngành truyền thông đa phương tiện và kết nối Internet tạo ra những cộng đồng xã hội mới, làm cho người gần nhau hơn. Khoảng cách địa lý không còn là vấn đề trở ngại. Văn hóa làng xã ngày xưa cùng với những tập tục làng xã bị phá vỡ do tình trạng di dân và chuyển đổi công nghiệp hóa. Văn hóa Việt Nam từ một nền văn hóa nông nghiệp (cục bộ, bảo thủ, gia trưởng, chậm chạp, phép vua thua lệ làng) đang chuyển sang văn hóa công nghiệp (tác phong công nghiệp, tinh thần sáng tạo, tinh thần dân chủ, năng động, thích ứng, đổi mới…)

Hội nhập toàn cầu hóa, và phát triển kinh tế thị trường, Việt Nam đồng thời phải chấp nhận những hệ quả cả tốt lẫn xấu ảnh hưởng đến văn hóa truyền thống. Các công ty nước ngoài đến đầu tư ở Việt Nam lợi dụng lao động rẻ và tài nguyên dồi dào của Việt Nam dẫn đến tình trạng bóc lột, bất công. Lấy lợi nhuận làm mục tiêu, người ta bất chấp mọi thủ đoạn phi pháp. Một cuộc xâm lăng văn hóa tràn vào với bao nhiêu rác rưởi làm ô nhiễm môi trường văn hóa.

Trong bối cảnh ấy, người Công Giáo phải chịu đựng những thách đố dữ dội hơn trong hành trình đức tin của mình.

Về tư tưởng, Chủ nghĩa thế tục, Thuyết Darwin, Di truyền học, Khảo cổ học, Nhân chủng học đang làm lung lay đức tin người Công Giáo. Người ta cổ vũ cho một thế giới tại thế không cần có Thượng Đế. Nhân chủng học cho rằng người hiện đại (Homo Sapiens) xuất phát từ đông Phi rồi tỏa đi khắp thế giới, không có vườn địa đàng, không có Adam, Eva. Sáng Thế Ký chỉ là huyền thoại như thần thoại của các dân tộc, như truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên của người Việt. “Tôn giáo học” cho rằng tôn giáo chỉ là một sinh hoạt tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh, bởi tôn giáo ra đời rất muộn so với lịch sử xuất hiện của con người. Tôn giáo cổ nhất cũng chỉ mới có lịch sử 10 ngàn năm, trong khi con người hiện đại đã tồn tại 200 ngàn năm. Hộp sọ Homo Georgicus được tìm thấy là của giống người tiền sử cách nay 1,8 triệu năm. Những tư tưởng như thế thâm nhập vào não trạng người trẻ có học, gây ra những khủng hoảng đức tin không tránh khỏi.

Về lối sống,…. chủ nghiã thực dụng, chủ nghiã cá nhân vị kỷ, chủ nghĩa hưởng thụ vật chất làm tha hoá con người, phá huỷ mọi nền tảng đạo lý. Người ta theo đạo là vì mục đích xã hội, không phải mục đích tâm linh (thí dụ, chuyện cải đạo để kết hôn, sau đó bỏ đạo). Câu chuyện về một cặp tình nhân trẻ lúc chia tay, anh đòi lại quà; và clip chế “anh không đòi lại quà” làm nóng cộng đồng mạng là một thí dụ. Mode “sống thử” trở thành lối sống của sinh viên, công nhân ở trọ. Một nam sinh viên ở Hải Phòng rao trên mạng rằng, bốn năm nay tớ không tốn tiền thuê ô sin, mà còn có chỗ giải quyết sinh lý không sợ SIDA. Mỗi năm tớ sống thử với một em, chẳng hạp với em nào cả, cuối năm đá đít. Cách sống như thế thật không có gì vô luân và tàn nhẫn hơn.

Sự xâm lăng của văn hoá suy đồi (phim ảnh, ca nhạc, Internet…), đặc biệt là sex núp dưới danh nghĩa văn hóa đang làm hỏng một bộ phận giới trẻ. Lối sống thoải mái, buông thả, sống cơ hội, làm sụp đổ những giá trị văn hoá truyền thống, làm tan vỡ gia đình, mà tình trạng ly dị trong hôn nhân trẻ Công giáo đã đến lúc phải báo động. Nạn nạo phá thai ở Việt Nam thật kinh hoàng. Báo Công an TP HCM ngày 9/11/06 đưa tin, hàng năm ở Việt Nam có 1,4 triệu ca nạo phá thai, trong đó có 5000 ca vị thành niên chưa lập gia đình. Ngày 31.03.2011. Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam đã công bố mỗi năm ở nước ta có khoảng từ 1,2 đến 1,6 triệu ca nạo phá thai trong đó hơn 20% ở lứa tuổi vị thành niên. Đến năm 2013, trong một cuộc hội thảo ở thành phố HCM, có sự tham gia của hơn 150 nhà khoa học, dược sỹ, bác sĩ sản phụ khoa đến từ của 8 nước châu Á-Thái Bình Dương, Hội Kế hoạch hóa gia đình lại công bố trung bình mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 300.000 ca nạo hút thai ở độ tuổi 15-19, trong đó 60-70% là học sinh, sinh viên. Điều ấy phản ánh sự xuống cấp trầm trọng về đạo đức, trong người trẻ, hậu quả của lối sống buông thả theo chủ nghĩa hưởng thụ khoái lạc vật chất.

Nền giáo dục đang bị khủng hoảng trầm trọng khiến cho nhà trường không còn là nơi cha mẹ học sinh yên tâm gửi con mình. Tiêu cực trong giáo dục không chỉ ở phạm vi nhà trường mà ở cấp Bộ giáo dục, cấp tỉnh (thí dụ tiêu cực thi cử 2018). Giáo dục Đại học trở thành môi trường kinh doanh béo bở. Chương trình giáo dục phổ thông thiếu hẳn phần giáo dục nhân bản, lại chạy theo thành tích ảo, khiến cho trẻ nhiễm thói giả dối, thực dụng ngay từ nhỏ. Môn Giáo dục Công dân từ lớp 6 đến 12 không có bài nào dạy về đạo Hiếu, học sinh mất gốc ngay từ trong gia đình. Tình trạng suy đồi đạo đức và nạn bạo hành trong nhà trường ngày càng vô nhân tính. Môi trường xã hội, môi trường thiên nhiên bị ô nhiễm trầm trọng. Chưa bao giờ người ta chửi bới nhau trên mạng, xúc phạm nhau đến thế, đến nỗi thầy cô giáo ở Hải Phòng lo thom thóp, giờ ra chơi lên facebook xem học trò có chửi mình không.

Văn chương thị trường đầy dẫy sex bẩn : Bóng Đè, Sợi Xích, Dại tình, I’m Đàn Bà, Nháp, Dị Bản… Cũng không thiếu những tác phẩm xuyên tạc tôn giáo như Cơn Cám Dỗ Cuối Cùng của Chúa, Những Con Chim Ẩn Mình Chờ Chết, Mật mã Da Vinci, phim 2012…Nạn buôn bán phụ nữ sang Trung Quốc, Cambodia làm nô lệ tình dục là một thảm trạng nhức nhối. Sự lai căng văn hoá ngày càng trầm trọng. Nhiều diễn viên, ca sĩ, người mẫu chân dài bị phát hiện trong đường dây bán dâm. Nhà hàng vũ trường đang lôi kéo người trẻ vào lối sống thác loạn. Tội ác giết người man rợ xả ra hàng ngày…

Nhiều vấn đề văn hóa đang thách thức lương tâm Công giáo và đòi buộc người Công giáo phải hành động vì đức tin và vì xã hội.

IV.XÂY DỰNG VĂN HOÁ CÔNG GIÁO TRONG LÒNG VĂN HOÁ DÂN TỘC

 Đến nay đời sống tôn giáo đã được bình thường hóa. Nhận thức về tôn giáo đã có nhiều hướng cách tiếp cận.

Sinh hoạt tôn giáo được luật hóa bằng Luật Tôn giáo, Tín ngưỡng 2016 của quốc hội. Tôn giáo được coi là sinh hoạt văn hoá, và được dùng để xây dựng đời sống tinh thần cho xã hội. Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…”.

Để xây dựng văn hóa Công Giáo trong lòng văn hóa dân tộc thì việc hội nhập văn hóa là yêu cầu cốt tủy. Tông huấn Giáo Hội ở Châu Á ghi rõ:” Trong tiến trình gặp gỡ các nền văn hóa khác nhau của thế giới, Giáo Hội không những truyền đạt các chân lý và giá trị của mình, cũng như đổi mới các nền văn hóa ấy từ bên trong, mà còn thu dụng những yếu tố tích cực có sẵn từ các nền văn hóa ấy. Đây là con đường buộc các nhà truyền giáo phải đi qua khi giới thiệu đức tin Kitô Giáo và biến nó thành một phần trong di sản văn hóa của một dân tộc”( 21§2)

Trong các yếu tố văn hóa thì tư tưởng, đạo đức, lối sống có vai trò đặc biệt. Xây dựng văn hóa Công giáo phải làm triển nở tư tưởng Nhân văn Công Giáo kết hợp với tư tưởng nhân ái và lối sống tình nghĩa truyền thống. Tư tưởng này được trình bày sâu sắc trong Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội. Các Kitô hữu làm việc và xả thân phục vụ cho sự phát triển con người, phục vụ sự sống, đặc biệt là người nghèo, trẻ em, phụ nữ, những người bị chà đạp nhân phẩm, “phải chịu sự kỳ thị, bóc lột, nghèo đói và bị gạt ra bên lề xã hội”; xây dựng nền văn minh tình thương; phát huy những mặt tốt của đạo lý dân tộc. Thực ra những nhận thức trên có căn gốc từ Kinh Thánh và người Kitô hữu nào cũng biết, vấn đề là thái độ hành động để biến những nhận thức ấy thành hành động, đúng với tinh thần “muối trong đất, men trong bột

Trong các mặt khác của văn hóa, văn hóa Công giáo phải phát triển trong văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Cần phải hội nhập sâu sắc hơn nữa vào văn hóa dân tộc, khắc phục ảnh hưởng phương Tây trong các sinh hoạt tôn giáo. Bởi vì trước đây:” Tin Mừng được loan báo bởi các nhà truyền giáo Tây Phương nên hẳn có bị ảnh hưởng bởi những nền văn hóa tại nơi xuất xứ của họ”(nhận định của Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á). Những ảnh hưởng văn hóa ấy ngày nay vẫn còn ngăn cách người Công Giáo với dân tộc.

Thí dụ, Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), nhưng người Công giáo không tham gia một lễ hội nào. Ngay cả giỗ tổ Hùng Vương, cũng không có nghi thức gì để kính nhớ tổ tiên, mà thực chất là giáo dục lòng yêu nước. Ai cũng biết yêu nước là một truyền thống vẻ vang của dân tộc, truyền thống đã có suốt mấy ngàn năm lịch sử.  Cũng vậy truyền thống nhân ái, nhân nghĩa là một truyền thống làm nên bản sắc dân tộc. Trong năm có nhiều ngày được dành để tôn vinh người lao động như Ngày Nhà Giáo  Việt Nam, Ngày Thầy Thuốc  Việt Nam, Ngày báo chí, Ngày Phụ nữ, Ngày Người Cao Tuổi, nhưng người Công Giáo nhiều nơi không có bất cứ sự hội nhập nào. Có nơi lại du nhập Ngày của Mẹ, Ngày của Cha từ văn hoá phương Tây làm ngày hội của mình. Rõ ràng người Công Giáo vẫn sống xa lạ với chính cội nguồn của mình.

Văn chương, nghệ thuật Công giáo không phát triển và không hội nhập được với sự phát triển văn chương nghệ thuật dân tộc. Điều này có nguyên do. Giáo hội chỉ tập trung phát triển nghệ thuật thánh dùng trong phụng tự. Và vì thế Giáo hội phải hứng chịu sự thiệt thòi khi văn nghệ thị trường thiên về giải trí và chứa đựng nhiều yếu tố độc hại tấn công làm sói mòn đức tin người trẻ. Một nguyên nhân khác là các tác giả Công giáo cũng tự giới hạn đề tài, cảm hứng sáng tác trong phạm vi phụng tự. Không khai thác tư tưởng Nhân văn Công Giáo trong từng cảnh ngộ cụ thể của đời sống. Ngày xưa trên đường rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu đã kể những câu chuyện rất hay về nội dung tư tưởng và nghệ thuật. Có thể nói khó có nhà văn nào có thể sáng tác tại chỗ, trong những hoàn cảnh cụ thể những câu chuyện như thế. Chuyện người Samari tốt lành (Lc 10, 30-37), chuyện người cha nhân hậu (Lc 15, 11-32), chuyện ông nhà giàu và Lazarô nghèo khó (Lc 16, 19-31)…là những khuôn mẫu mà các tác giả Công giáo có thể học tập.

Xây dựng nền văn hóa Công Giáo trong lòng văn hóa dân tộc là nhiệm vụ của mọi thành phần dân Chúa. Họ vừa là Kitô hữu, vừa là công dân Việt Nam, vừa phải thấm nhuần văn hóa dân tộc vừa phải làm cho đức tin Kitô giáo trở thành một phần trong di sản văn hóa ấy. Con đường còn rất dài ở phía trước.

 

_______________________________________________

 

  • Luận Ngữ, chương 20, câu 8
  • Lão Tử, Đạo Đức Kinh- kinh hạ, chương 26
  • Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Tiêu Dao Du
  • Trang Tử, Nam Hoa Kinh, tề Vật Luận : “Thiên điạ dữ ngã tịnh sanh, nhi vạn vật dữ ngã vi nhất”: Trời đất cùng ta đồng sanh,vạn vật cùng ta là một
  • Cao bá Quát :

Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy/

Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười/

Thôi công đâu chuốc lấy sự đời/

   Tiêu khiển một vài chung lếu láo

Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu

Trầm tư bách kế bất như nhàn…

(Uống Rượu Tiêu Sầu )

  • Pháp Thuận Thiền sư, 915-990, bài Quốc Tộ- Không Lộ Thiền sư, 1119 , bài Ngôn Hoài – Vạn Hạnh Thiền sư, 1018, Thị Đệ Tử – Mãn Giác Thiền Sư,1052-1096, Cáo tật Thị Chúng.

 

Lâm Tế Nghĩa Huyền (? – 867 ): tr.181 “Này, quý ông cầu chân lý! muốn ngộ vào chánh tông (Thiền), chớ để thiên hạ phỉnh mình. Trong cũng như ngoài, gặp chướng ngại nào cứ đạp ngã ngay; gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, gặp La Hán hoặc họ hàng thân thiết, giết hết, chớ ngần ngại: đó là con đường độc nhất để giải thoát. Đừng để bất cứ ngoại vật nào trói buộc mình, hãy vượt lên, hãy bước qua, hãy tự do.

 

(*)  Tiến sĩ Phạm Huy Thông Đại học Đông Đô- Những đóng góp của đạo Công Giáo với văn hoá Việt. http://nhacthanh.net/diendan/showthread.php?t=8584

 

  • GS Nguyễn Văn Trung: “Chữ quốc ngữ viết theo mẫu tự La Tinh do các thừa sai sáng chế ra từ thế kỷ 17 thực ra chỉ nhằm phục vụ các thừa sai trong thời gian họ học tiếng Việt và tìm hiểu văn hóa Việt Nam; vì chữ Nho chữ Nôm đã khó học đối với chính người Việt nam, dĩ nhiên càng khó hơn đối với người ngoại quốc. Khi họ nói viết được tiếng Việt họ buộc phải dùng chữ Nho nhất là chữ Nôm vì đó là chữ viết quốc gia ; Do đó những gì họ viết về đạo Chúa từ thế kỷ 17 đến khi Việt nam thu hồi được độc lập năm 1945 đều được viết ra bằng chữ Nôm; nếu có bằng quốc ngữ phần lớn chỉ là phiên âm chữ Nôm. Sau 1910 các trường tư công giáo, chủng viện vẫn tiếp tục sử dụng chữ Nho chữ Nôm.”( Đưa tư tưởng , văn học truyền thống VIỆT NAM vào diễn đàn  tư tưởng văn học thế giới )
  • Nhận xét về ĐGM Bùi Tuần :” Ngài là một nhà giáo uyên bác, nhà đạo đức có nền tảng nội tâm sâu sắc, nhà văn với tư tưởng thâm sâu với lối hành văn nhẹ nhàng lôi cuốn không thể lẫn lộn với ai khác, một nhà báo luôn đi sát với thời cuộc, một nhà tiên tri…”SGGP- http://tintuc.xalo. Việt Nam/00-422441557/duc_giam_muc_nha_van_bui_tuan.html
  • Lm Anton Nguyễn Ngoc Sơn- daihoidanchua.net

 

_______________________________________________

Advertisements

vanchuongphuongnam giới thiệu tác giả

Website vanchuongphuongnam.vn giới thiệu tác giả

Nhà văn Bùi Công Thuấn

Nhà văn Bùi Công Thuấn

44

(Vanchuongphuongnam.vn) – Nhà văn Bùi Công Thuấn sinh ngày 24. 2. 1949, Quê quán: Thái Bình. Tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Lý luận văn học năm 1988 tại trường ĐH Sư Phạm Tp HCM. Giảng dạy Ngữ Văn PTTH (đã về hưu). Hiện anh đang sống và viết  tại Thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, Hội Nhà văn Việt Nam năm 2015.

         

                                                      Nhà văn Bùi Công Thuấn 

Tác phẩm đã xuất bản: 

  1. HẠNH. Tập truyện ngắn. Nxb HNV 2005.
  2. Chút tình tri âm. LLPB. Nxb HNV 2009.
  3. Những tìm tòi nghệ thuật của Anh Đức. LLPB. Nxb Đồng Nai 2009.
  4. Những dòng sông vẫn chảy. LLPB. Nxb HNV 2011.
  5. Hoa đỏ bên sông. LLPB. Nxb HNV 2014.
  6. Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. LLPB. Nxb HNV 2014
  7. Văn chương Việt Nam-Những gì còn với mai sau. LLPB. Nxb HNV 2016
  8. Nhà văn Đồng Nai. LLPB. Nxb Đồng Nai 2018.

GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC: 

– Giải C của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 2011 với tác phẩm Những dòng sông vẫn chảy.

– Giải thưởng 5 năm Trịnh Hoài Đức lần thứ III (2010) với các tác phẩm: Chút tình tri âm, lần thứ IV (2015) với tác phẩm: Những dòng sông vẫn chảy & Hoa đỏ bên sông

Quan niệm văn học:

Phê bình văn chương cũng là khám phá sáng tạo. Nhà phê bình và nhà văn là tri âm tri kỷ.

ẢNH TƯ LIỆU

BCT với đoàn nhà văn TP HCM

 

bìa 8 tp BCT

TRONG CƠN LỐC XOÁY” VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ…

TRONG CƠN LỐC XOÁY” VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ…

(Đọc tiểu thuyết Trong cơn lốc xoáy của Trầm Hương. Nxb Phụ nữ 2016)

Bùi Công Thuấn

trong cơn lốc xoáy

 

Tiểu thuyết “Trong cơn lốc xoáy” của Trầm Hương được giải A của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trong cuộc thi sáng tác về đề tài cách mạng và kháng chiến (giai đoạn 1930-1975) vào tháng 8 năm 2015. Tập tiểu thuyết này dài 1.024 trang. Nhà xuất bản Phụ nữ in thành hai cuốn. Đọc một tác phẩm dài hàng ngàn trang là một việc khó, nhưng điều thú vị là Trong cơn lốc xoáy đặt ra nhiều vấn đề lý luận phê bình, và tôi muốn chia sẻ với các nhà phê bình ý nghĩ của mình, vì lâu nay phê bình văn chương có vẻ lặng lẽ quá (!).

CẢM GIÁC CHẠM BÓNG

Các nhà bình luận bóng đá hay dùng chữ “cảm giác bóng” để nhận xét về cách đá bóng của một cầu thủ. Tôi xin mượn chữ này để ghi lại “cảm giác” của mình khi tiếp cận Trong cơn lốc xoáy. Nói đến “cảm giác” là nói cái riêng của mỗi người đọc. Và sự khác biệt là điều bình thường. Nói bằng cách của phê bình văn học, để thưởng thức tác phẩm, tôi đọc bằng trực giác cảm tính.

Thực lòng, tôi vô cùng ngán ngại (ái ngại và ngán ngẩm) khi nhìn tập tiểu thuyết dày hơn 1000 trang. Tôi không biết mình có đủ sức, đủ kiên nhẫn để đọc không. Đọc sách tốn nhiều thời gian và sức lực. Liệu cuốn sách có đáng với công tôi bỏ ra để đọc không? (Điều này là nguyên nhân của bệnh lười đọc của nhiều người). Để vượt qua sự cản trở của một bức tường thành, tôi tự nhủ mình rằng, tác giả bỏ ra 10 năm để viết, chẳng lẽ mình không bỏ ra được một quỹ thời gian nhỏ để đọc sao? Và rồi tôi tự luận rằng, cứ coi tiểu thuyết Trong cơn lốc xoáy là một bộ phim truyền hình nhiều tập, mỗi ngày xem vài tập thì sẽ “thấm” hơn. Vì có người đã nhận xét Trong cơn lốc xoáy có chất điện ảnh. Vâng, và điều đáng nói là, “Trong cơn lốc xoáy” đã cuốn hút tôi từ đầu đến dòng chữ cuối cùng của tác phẩm. Gấp cuốn sách lại, tôi nói với lòng mình, thật đáng khâm phục tác giả cả về tài năng và tâm huyết. Trong cơn lốc xoáy là một tiểu thuyết hay và đáng đọc.

Sở dĩ tôi đọc được đến trang cuối cùng của cuốn sách vì Trầm Hương có cách viết rất mạch lạc, trong sáng. Trang văn có chất “say” của cảm xúc và sự hấp dẫn của văn chương. Tôi tự hỏi, làm thế nào nhà văn giữ được chất “say” này trong suốt 10 năm để viết tác phẩm và trải ra trong hơn 1000 trang văn, và rồi và làm cho người đọc “say” theo? Với một rừng, biển tư liệu, làm thế nào tác giả khai thác được để tạo nên một thế giới nghệ thuật riêng? Và tôi nhận ra điều này, năng lực đọc, phân tích, tổng hợp, chọn lựa tư liệu; khả năng hư cấu, kiến tạo tác phẩm cùng với sự nhập thân của tác giả vào lịch sử, hóa thân vào số phận nhân vật để làm nên một tác phẩm văn chương của Trầm Hương không phải nhà tiểu thuyết nào cũng có được.

Nếu ghi lại hết cảm giác của tôi khi đọc Trong cơn lốc xoáy, có lẽ sẽ làm mất thời gian của bạn đọc. Nhưng có điều này, tôi nghĩ nên chia sẻ, ấy là tác phẩm dẫn người đọc vào những không gian, thời gian đặc biệt của lịch sử và những hoàn cảnh, những tình huống hết sức “khó gỡ”(điều này tạo ra sự hấp dẫn), vì thế cần phải có vốn hiểu biết rộng về văn hóa, lịch sử mới cảm nhận được cái hay của tác phẩm. Chẳng hạn đời sống xã hội ở Phnom Penh đầu thế kỷ XX hay ở Paris, California sau 1975. Đặc biệt phải có trải nghiệm về tình hình chính trị xã hội Sài Gòn ngày khởi nghĩa 25/8/1945, Sài Gòn ngày toàn thắng ngày 30/4/1975. Và trải nghiệm về đời sống ở bưng biền trong kháng chiến, những khó khăn khi người dân phải bỏ thành phố đi “kinh tế mới”, những cuộc vượt biên đầy chết chóc, sợ hãi cùng với những khủng hoảng của đời sống xã hội sau 1975…Không có những trải nghiệm ấy, bạn đọc sẽ mất đi một nửa “cảm giác văn chương” khi đọc tác phẩm.

Đôi khi tôi bị “choáng” với một vài chi tiết. Và tôi tự hỏi, tác giả có hư cấu quá tay hay không? Và phải chăng đó là “thật”? Chẳng hạn, Jeannette đang tắm thì Vạn tới. Jeannette bảo Vạn vào tắm chung, rồi bảo Vạn kỳ ngực cho mình. Khi thấy Vạn còn mặc quần đùi, Jeannette nói: “Sao không cởi ra, sao cù lần thế?” Vừa nói Jeannette vừa kéo phăng chiếc quần đùi của Vạn”(cuốn I. tr.401). Tất nhiên là văn hóa Việt không thể chấp nhận hành vi ấy của Jeannette!

Một chi tiết khác. Khi Vạn tuyệt thực ở chuồng cọp, phổi của Vạn bị dập nát vì cú đá của một tên lính Pháp. Vật lộn với tử sinh, Vạn phải uống nước tiểu của mình. “Hơn 10 ngày tuyệt thực, Vạn không còn cả nước tiểu để uống. Anh dùng một sợi dây kẽm nhỏ mài nhọn, chọc vào động mạch cánh tay trái hút máu. Những giọt máu thấm vào cổ họng, ngọt kỳ lạ…Nhưng máu rồi cũng kiệt. Anh chọc mãi vào động mạch, đau điếng mà vẫn không hút được giọt máu nào!”(I. tr.107). Oh My God! (Trời ơi!) Không còn giọt máu nào thì sao Vạn có thể sống được! Dùng dây kẽm chọc vào động mạch, nếu bị nhiễm trùng, Vạn làm sao không sống nổi! Tôi sững người tự hỏi, Trong cơn lốc xoáy viết về “người thực việc thực” hay tiểu thuyết hư cấu lãng mạn?

Có một chữ tác giả sử dụng làm tôi băn khoăn mãi. Tác giả viết:Quân đội của Hà Nội đã vô tới sài Gòn”(cuốn II.tr.311); ”Đa phần người Việt Nam đều mong muốn Bắc Việt vào Sài Gòn, thống nhất hai miền”(II.tr.313). Sao không là Quân giải phóng, vì theo hiệp định Paris 1972, quân Bắc Việt là quân ngoại nhập, phải rút khỏi miền Nam!

MỘT TRUYỆN TÌNH

Có thể nói ngay, Trong cơn lốc xoáy là tiểu thuyết viết về cuộc đời của bà Jeannette, một nguyên mẫu người Pháp. Số phận của Jeannette bị chi phối bởi người thân trong gia đình trước các biến động xã hội và lịch sử. Jeannette không thiếu cơ hội để chọn lựa một cuộc sống sung sướng, hạnh phúc nhưng cô có lối đi riêng của mình.

Truyện mở đầu khi cô bé Jeannette được 5 tuổi sống ở Phnom Pênh với cha mẹ nuôi là ông Joseph và bà Luisa đầu thế kỷ XX. Cô được chăm sóc như một công chúa. Ông Joseph Casabiarca là giám đốc kiểm toán quan thuế ba miền Đông Dương. Khi Joseph được điều về Việt Nam, Jeannette cũng theo về. Khi cha mẹ nuôi chết, Jeannette về sống với cha mẹ ruột là ông Antoine Villarial và bà Nguyễn Thị Hai ở Thủ Đức.

Ở Sài Gòn, Jeannette đi học rồi yêu, lấy chồng và làm ăn.

Thời kháng chiến chống Pháp, gia đình Jeannette bị Đội quân Cao Đài thân Nhật của Hoàng Huy bắt. Nhờ Nagamoto cứu giúp, gia đình ông Antoine thoát nạn, nhưng Jeannette lại bị Nagamoto, chiếm đoạt, có thai. Nagamoto là mật thám của Nhật, hắn gửi Jeannette ở nhà bà Năm Sương Thu. Ở đây Jeannette gặp Vạn và yêu Vạn. Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Nagamoto sụp đổ và bị bắt. Jeannette sinh con, đứa con chết.

Jeannette và Vạn yêu nhau. Jean trở thành đội viên chi đội 12. Công việc của cô là lấy tin từ sĩ quan Pháp. Cô lần ra đường giây mua vũ khí của bọn lính mũ đỏ rồi cùng Vạn chở vũ khí ra bưng biền cho kháng chiến. Một lần Jeannette tìm đến địa điểm bí mật ở Chợ Lớn để gặp Vạn, cả hai đang bày tỏ tình yêu thì lính bót Pô Lô Chợ Lớn ập vào bắt Vạn đi. Jeannette bị mời về đồn. Ở đây Jeannette bị Cala, phó sếp bót Pô-lô và Theodor, anh trai cô bạn Micheline liên tiếp cưỡng hiếp. Theodor đưa Jeannette về nhà bà Hai.

Để cứu Vạn, Jeannette liên hệ với dược sĩ Cao. Cao giúp đỡ tiền bạc để Jeannette lo lót cho bọn mật thám Pháp, song Jeannette lại bị Cao chiếm đoạt. Cao bị cò Bazin sờ gáy vì có tiếp tế cho Việt Minh. Sợ bị liên lụy, Cao bỏ về Pháp. Ông ta mua nhà và chu cấp cho Jeannette đầy đủ. Jeannette sinh con, dược sĩ Cao ở Pháp đặt tên con là Eveline. Khi Vạn bị tuyên án 15 năm tù khổ sai và bị đày đi Côn Đảo vì tội lừa đảo, Jeannette lấy Quý và làm ăn với anh trai Pierre (sau biến cố Mậu Thân ở Sài Gòn, cả gia đình Pierre về Pháp).

Đến năm 1960, Jeannette có 5 con với Quý là Chance, Lee, Măng, Cúc, Lan. Thời chống Mỹ, để lo cho tương lai các con, Jeannette giao tiếp với Merryl Clifford, Đại tá sư đoàn 1 Mỹ và được Clip giúp đỡ cho vào căn cứ Long Bình kinh doanh phục vụ cho lính Mỹ. Jeannette kiếm được nhiều tiền. Sau 30/4/1975, cuối năm 1976 bà cùng con, cháu về Pháp (II.tr.343). Ở Paris, bà lo việc học, việc đám cưới cho các con là Eveline, Chance, Lan. Cho Măng vào trường quân đội để chữa ma túy, đăng ký đi lính Pháp cho Lee… Sau khi ông Quý là chồng bà chết, bà về Việt Nam, sống ở Long Hải.

Viết về cuộc đời bà Jeannette, nhà văn Trầm Hương chú tâm vào tình yêu và tình mẹ của bà. Cả hai tình cảm này Jeannette đều sống với “những vết thương sâu trong lòng của những con người trong cơn biến động của lịch sử.”

Về vai trò và trách nhiệm làm mẹ, Jeannette viết cho chị Lucia rằng: Em là một bà mẹ thất bại, một bà ngoại đau đớn bất lực nhìn đứa cháu gái của mình đi dần vào cái chết trắng, chẳng còn có tương lai/ Em đã sống cùng những vết thương sâu cho đến hết cuộc đời mình”(II.tr.468).

Eveline, đứa con của Jeannette với Dược sĩ Cao được Jeannette gửi cho hai bà chị của ông Cao nuôi dạy. Bị giáo dục trong một môi trường nghiêm khắc và cô độc, Eveline bị trầm cảm, đồng tính, và yêu cô bạn gái tên Nhường. Muốn thoát khỏi hai bà cô, Eveline tìm học bổng sang Pháp du học. Ở Pháp, Jeannette lấy Trịnh Ngọc, sinh được đứa con trai đặt tên là Rồng. Nhưng rồi Eveline lại bị “thầy chùa” Ngân lừa cả tình và tiền, bịnh đồng tính trở lại. Eveline uống thuốc ngủ tự tử (II.tr.426).

Cả Chance và Lan, con của Jeannette đều quậy ngang bỏ học. Lúc ấy, Jeannette đang kinh doanh phục vụ lính Mỹ trong căn cứ Long Bình. Chance có thai ba tháng với lính Mỹ, Jeannette phải dẫn đi giải quyết (II.tr.263), còn Lan, bỏ học, dẫn bạn trai là lính Mỹ về nhà. Jeannette phải làm đám cưới cho hai cô con gái khi hai cô đã có bầu ba tháng (Đám cưới. II.tr.271). Măng hiếp dâm con Bảy, bà quản lý dẫn đi phá thai (II.tr.457). Măng còn nghiện ma túy, Jeannette phải đưa sang Pháp đăng ký học trường quân đội để cai nghiện. Sau đó Măng lấy Cherry (II.tr.302). Cả đến đứa cháu con của Lan tên là Kitty ở Mỹ cũng nghiện ma túy và bỏ nhà đi (II.tr.399)…

Trước những tình huống như thế, Jeannette bất lực. Bà đau đớn quằn quại với số phận. Khi Eveline chết, Bà Jeannette kêu lên: “Chính mẹ đã gây ra bi kịch này cho Eveline! Ôi lạy Chúa, Người hãy tiếp tục trừng phạt con! Eveline đâu muốn có mặt trên đời. Nó sinh ra là vì con. Eveline vô tội mà!”(II.tr. 427).

Tôi thật ngạc nhiên về điều này. Lúc Eveline ngoại tình với “thầy chùa” Ngân ngay trong nhà mình, Jeannette gặp Eveline, định khuyên bảo con thì Eveline nói với mẹ rằng: “Xin mẹ đừng kinh ngạc, đừng lên án khi con đến với thầy Ngân…Tình yêu có những lý lẽ riêng, như xưa kia mẹ đã từng yêu một anh Việt Minh, bị cả gia đình lên án…”(II.tr. 386). Phải chăng đó là nhân quả, gieo nhân nào gặt quả đó, như chính Jeannette đổ lỗi cho ông Quý, chồng bà, vì ăn chơi với đĩ điếm mà các con gái của ông là Chance, Lan hư hỏng?

Phải chăng các con của Jeannette “kế thừa” khí chất của người mẹ, đúng như Eveline nói. Xưa kia, lúc mới 13 tuổi Jeannette đã yêu Henry (I.tr.203). Jeannette học trường Marie Curie, để trả thù người cha là ông Antoine, Jean quậy phá và bị đuổi học nhiều lần. Tình cờ gặp lại Lucien, và thất thân với Lucien (I.tr.250), nhưng chị của Lucien không đồng ý cho Lucien cưới Jeannette. Sau Jeannette lại quen thân với cậu Tú Minh nhưng bà Hội đồng, mẹ của Minh không đồng ý vì không “môn đăng hộ đối”. Minh chết vì thương hàn.

Cuộc đời Jeannette cuốn đi với rất nhiều người đàn ông: Jeannette yêu Henry nhưng lại thất thân với Lucien nhưng hôn nhân không thành. Jeannette bị Nagamoto chiếm đoạt, nhưng lại hiến thân với Vạn. Jeannette bị Cala và Theodor hãm hiếp, rồi lại bị dược sĩ Cao chiếm đoạt. Còn nhiều người khác yêu Jeannette và muốn có Jeannette. Đó là mật thám Trần Nhơn, luật sư Gaston. Lúc Jeannette sang Pháp tìm ông Cao để đòi lẽ công bằng cho Eveline, De Marcelange dòng Bá tước cầu hôn bà, nhưng Jeannette từ chối. Thời Mỹ ở Sài Gòn, Merryl Clifford trước khi về Mỹ đã tỏ tình với Jeannette nhưng bà cũng từ chối (II.tr.220). Jeannette chỉ yêu Vạn nhưng lại lấy ông Quý.

Trong những mối quan hệ do sự vần xoay của số phận ấy, Jeannette không biết là phúc hay họa. Jean tự đánh giá mình: “Mình rắc rối quá! Tự mình nhận ra điều ấy…Mình sống không giống ai, chẳng làm theo khuôn mẫu phép tắc của một phụ nữ đã có chồng” (II.tr.459). Hai bà chị dược sĩ Cao khẳng định với em về Jeannette: “Cậu nghĩ xem, chưa tròn 20 tuổi mà cái cô Jeannette đã lăng nhăng đủ loại đàn ông Pháp, Nhật, lính kín đủ loại, giờ tới cậu” (I.tr.354); “Cậu mê muôi nên không biết con Jeannette đó là hồ ly. Mấy thầy chú kia bị nó quyến rũ vô tù, tán gia bại sản hết, giờ nó dùng sắc đẹp mê hoặc để cậu cung phụng cho nó, chớ nó có yêu gì cậu!”(I.tr.535), còn Lài, chị dâu của Vạn cho rằng Jeannette là một con quỷ, là “người đàn bà nguy hiểm, không khéo cô ta sẽ tiếp tục đưa chú vào hỏa ngục” (II.tr.203)

Và đây là lời tố cáo của ông Quý, chồng của bà Jeannette: “ông Vạn và Nét (Jeannette) gặp lại nhau năm 1962. Bà nét đem ông Vạn về trong gia đình nói là ông thầy giáo để dạy học cho mấy đứa nhỏ một thời gian ngắn, có lẽ do sợ đổ bể hay không kín đáo nên bà ta mới đem ông Vạn đến làm việc cho hãng của ông Pierre Villarial…bà ta sống cuộc đời hai mặt mãi đến ngày 30/4, tôi vẫn không hay biết gì…/ Bà Nét và ông Vạn đã lén lút sống như thế trong lúc tôi vẫn tin tưởng và hoàn toàn tin cậy bà ta. Họ đã lường gạt và phản bội tôi từ bấy lâu nay…Còn một việc quan trọng nữa là nếu bà muốn biết (?). Ông Vạn đã lợi dụng cách mạng để làm nhiều việc mà nếu là một người cách mạng chân chính không thể làm được”(II.tr.381).

Bạn đọc Việt Nam nghĩ gì về số phận dâu bể như thế của bà Jeannette. Phải chăng những đứa con bà “hư hỏng” là do kế thừa tính khí và cách sống của bà? Bà tự nhận thức mình sai lầm trong cách giáo dục con và bất lực trước hoàn cảnh. Hai bà chị Ông Cao nhận xét về Eveline: “Thật là héréditaire, mẹ nào con nấy” (II.tr.390), Bạn đọc Việt Nam có người sẽ nghĩ: “Mẹ nào con nấy”!

Về tình yêu với Vạn, từ ngày đầu đến ngày cuối, trong đầu Jeannette có một bàn thờ Vạn (II.tr.380), mà có lúc Jeannette tưởng đã đạp đổ, nhưng ước vọng sau cùng của Jeannette là được bên Vạn, được hòa tro cốt mình với tro cốt Vạn rải vào lòng biển xanh, để cả hai sóng bước bên nhau dạo chơi cùng những con sóng của biển xanh không ngừng (II.tr.463).

Tình yêu của Jeannette và Vạn bắt đầu từ lần hai người gặp nhau ở nhà Bà Năm Sương Thu. Lúc ấy Vạn đang làm thầy giáo để lọt vào “hang ổ” làm phân rã lực lượng của bà Năm Sương Thu thân Nhật. Nagamoto dẫn Jeannette đến gửi ở nhà bà Năm Sương Thu nhờ che chở. Khi bà Năm Sương Thu giới thiệu, Vạn và Jeannette nhìn nhau. Họ cảm nhau ngay ở cái nhìn đầu tiên ấy, dù lúc ấy Jeannette mới bị Nagamoto chiếm đoạt và đang có thai: “Cô ngước nhìn lên. Như có một luồng điện từ mắt chàng trai truyền dẫn vào sóng mắt cô, dừng lại ở đó. Rồi những tia sáng từ ánh mắt anh chạy dọc theo sống lưng Jeannette. Cô thu hết can đảm nhìn lại anh. Một chàng trai trạc 24 tuổi, cao lớn, ngực nở, với những bắp thịt rắn chắc dưới áo sơ mi ngắn tay màu xanh nước biển, da ngăm đen và nụ cười rộng mở”…”Vạn chợt nghe tim mình đau nhói  trước vẻ đẹp hoàn hảo và đôi mắt màu hạt dẻ sâu thẳm nỗi buồn…”(I.tr.320)..”Mắt vạn lướt nhanh qua thân hình yêu kiều của Jeannette, dừng lại ở khuôn bụng gợn một đường cong e ấp dưới làn áo Kimono”(I.tr.321).

Cả hai đều bị quyến rũ bởi vẻ đẹp thân xác của nhau. Sau khi Nagamoto bị bắt đi, Jeannette ngã vào vòng tay Vạn. Một đêm mưa, Jeannette đang cô đơn. Có tiếng chim cú kêu. Vạn xuất hiện. Sau đó hai người lao vào nhau làm tình nhiều lần.”Anh tự nguyện hiến thân cho cô”; “có sự hòa hợp hoàn toàn giữa hai thân thể, hai tâm hồn. Anh và cô cứ thế thiếp đi trong hoan lạc(I.tr.383).

Người đọc có thể hiểu hai người yêu nhau hoàn toàn là cảm xúc xác thịt và sự cảm thông hoàn cảnh, đó không phải là tình yêu từ trái tim? Bằng chứng là khi Vạn đang trong hoàn cảnh phải sống bí mật, Jeannette tìm đến chỗ Vạn ở Chợ Lớn. Hai người bày tỏ tình yêu. Cả hai cùng khóc. Jeannette chỉ có ước muốn nhỏ nhoi là “được yêu và sống bên người mình yêu”. Sau khi nghe Vạn giải thích, hai người “hạnh phúc tột cùng được dâng hiến, cho đi nhận lại hòa nhau làm một của đôi trai gái đang dồn nén khao khát” (I.tr.457).

Lưu ý rằng Jeannette đang có thai với Nagamoto và ông ta vừa bị mật thám Pháp bắt. Nagamoto có ơn cứu cả gia đình Jeannette khỏi sự tàn sát của Hoàng Huy. Chính vì điều này, khi bị bà Năm Sương Thu chất vấn, Vạn đã cứng họng: “Cướp vợ một người đàn ông đang thất thế, bị tống giam trong tù không phải là vô đạo sao?!”(I.tr.441).

Người đọc không thể hiểu Vạn yêu Jeannette vì điều gì trong khi anh đang thực hiện nhiệm vụ cách mạng rất khó khăn và nguy hiểm là mua vũ khí và chuyển cho kháng chiến. Dù Jeannette có giúp Vạn mua được súng của bọn lính mũ đỏ cần tiền, song vì Jeannette mà Vạn bị mật thám Pháp bắt. Anh thiếu cảnh giác. Anh đã phải trả giá cho tình yêu này bằng 15 năm khổ sai và đày Côn Đảo. Vạn bị kết tội lừa đảo và cướp tài sản, không phải tội mua súng cho Việt Minh. Về sâu xa, Vạn bị tù là do lòng ghen tức của mật thám Trần Nhơn và luật sư Gasto khi cả hai không chiếm đoạt được Jeannette. Gasto nói với Jeannette: “Mà nếu như cô có chấp thuận ngủ với tôi đi chăng nữa thì thằng Việt Minh đó cũng không bao giờ được trở về. Tôi muốn nó mãi mãi không còn được gặp lại cô”(II.tr.27).

Gasto nhận xét về tình yêu của Jeannette với Vạn: “Thật ra, cô đi theo tên Việt Minh ấy chỉ vì cô mê anh ta, mê theo kiểu đàn bà theo đàn ông nên sẵn sàng làm theo những điều anh ta xúi giục”(I.tr.546). Jeannette yêu Vạn không phải xuất phát từ tình yêu với lý tưởng cách mạng của Vạn, với công tác anh làm cho kháng chiến. Trái lại, có lúc Jeannette thốt lên rằng: “Cách mạng là gì? Kháng chiến là gì?Tại sao lại khắc nghiệt với chúng ta như vậy?”(I.tr.455).

Ta hiểu được vì sao ngay sau khi biết tin Vạn bị tù 15 năm, Jeannette đã lấy Quý. Vì Jeannette sinh ra không phải là để chờ đợi một người ở tù. Jeannette đã sinh cho Quý 5 đứa con, cùng Quý làm ăn, và chung sống với ông ta cho đến khi Quý chết, Jeannette mới về Việt Nam. Jeannette thú nhận với Vạn: “Em đã không chờ được anh suốt 15 năm xuân sắc. Em sống bản năng với những ham muốn tầm thường”(II.tr.440)

Tôi cũng không hiểu được “tình yêu” Jeannette dành cho Vạn sau khi ông ra tù. Jeannette dẫn ông đi mua quần áo, mua sách, tìm việc cho ông làm. Cả khi Jean biết Vạn đã bị 15 năm tù Côn Đảo làm biến dạng, không còn khả năng sinh lý, Jeannette vẫn gắn bó với Vạn, bất chấp mọi hệ lụy. Jeannette tự hỏi: “Ta chịu đựng cuộc sống này đến lúc nào đây?! Cam chịu cho đến suốt đời sao?! Gia đình, những đứa con, danh dự. Tất cả những thứ đó làm thành sợi dây thít chặt số phận ta. Ta hiểu nó mà tại sao không vùng thoát ra khỏi nó”(II.tr.199).

Khi người yêu bị tù thì Jeannette bỏ đi lấy chồng, rồi khi người yêu ra tù, Jeannette lại bỏ chồng, bỏ 5 con để trở lại với người yêu cũ, hẳn độc giả Việt Nam không dễ chia sẻ cách sống này với Jeannette! Cho nên ta hiểu sao ông Quý tố cáo vợ phản bội và sống hai mặt, và Hoa, vợ sau của Vạn, đã tỏ thái độ lạnh lùng ngay khi Jeannette tới nhà. Nhìn thấy gia đình Vạn hạnh phúc, Jeannette vội ra khỏi tổ ấm của Hoa (II.tr.398). Ít ra bà cũng con biết tự trọng. Nhưng Jeannette bị sốc vì thái độ của Hoa, bà viết cho Vạn: “Anh không biết dạy vợ.Tôi giờ chỉ có sự thương xót anh. Cái bàn thờ anh trong đầu tôi, vợ anh đạp đổ hết rồi!” (II.tr.380).

Sau cùng thì cả hai cùng tha thứ cho nhau, Jeannette tìm về bên Vạn vừa kịp khi Vạn lìa đời, đúng như ước nguyện tình yêu của ông. Cái chết của Vạn được miêu tả khá cải lương! (II.tr.441)

Những gì không thể giải thích được về tình yêu của Jeannette và Vạn bằng cảm quan của bút pháp hiện thực thì lại là vùng trời mở rất rộng cho sự sáng tạo của ngòi bút lãng mạn. Tôi nghĩ, Trong cơn lốc xoáy là một truyện tình lãng mạn (có màu sắc cải lương).

HAY “TIỂU THUYẾT VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG”?

             Mặc dù Trong cơn lốc xoáy được giải A của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trong cuộc thi sáng tác về đề tài cách mạng và kháng chiến (giai đoạn 1930-1975) vào tháng 8 năm 2015, và điều này cũng gợi cho tôi vài vấn đề lý luận..

Nhà văn Trầm Hương cho rằng: để hiểu bi kịch tình yêu và phụ nữ với vẻ đẹp của lòng nhân hậu, đa cảm, hy sinh, chịu đựng luôn là đề tài bất tận của văn học.”[1] Chị cho biết thêm: “Tôi muốn chia sẻ với các độc giả của mình thông điệp về những vết thương sâu trong lòng của những con người trong cơn biến động của lịch sử[2]

Như vậy nhà văn Trầm Hương viết Trong cơn lốc xoáy là để nói về “bi kịch tính yêu và phụ nữ”, qua đó chia sẻ thông điệp về “những vết thương sâu trong lòng của những con người trong cơn biến động của lịch sử. Vì toàn bộ cuốn tiểu thuyết là cuộc đời của bà Jeannette, chuyện “người thật việc thật” (trong cuốn sách, còn in kèm hình ảnh Jeannette từ nhỏ đế khi về già, cùng với gia đình bà). Người đọc có thể nhận thấy bối cảnh lịch sử, cách mạng và kháng chiến được nhắc đến là để xác định các mốc thời gian cuộc đời của nhân vật.

Những sự kiện, những biến cố lớn lao của Lịch sử, cách mạng và kháng chiến Việt Nam không được dựng lại như một dòng chảy suốt từ đầu thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI. Tác giả chỉ chọn thuật lại một vài sự kiện lịch sử như một bản tin báo chí. Cũng có thể đây là góc nhìn rất hẹp của một phụ nữ Pháp quanh quẩn gia đình mình, không quan tâm đến tình hình chính trị bên ngoài.

Đây là một đoạn thuật lại những ngày cách mạng tháng 8 năm 1945 ở Sài Gòn: “Bí thư xứ ủy Nam kỳ chọn ngày 25 tháng 8 năm 1945 làm cuộc cách mạng giành chính quyền ở Sài Gòn…Một kế hoạch khẩn cấp giành chính quyền của cách mạng đã được bí mật gửi đến các cơ sở lực lượng “Thanh niên Tiền Phong”. Họ tranh thủ ngày đêm tìm vũ khí, từ mua lén, vận động lính Nhật ném vũ khí xuống sông rồi cho người lặn xuống sông vớt lên, không loại trừ cả cướp giật từ quân Nhật. Ngày 25 tháng 8 năm 1945, một cuộc biểu tình kỳ diệu hơn một triệu người từ các cửa Bắc, Nam, Đông, Tây đến các vùng xa xôi của Nam kỳ lục tỉnh đổ về Sài Gòn…cuộc khởi nghĩa lạ lùng và kỳ diệu thành công ở Sài Gòn rồi lan ra khắp các tỉnh Nam kỳ như thế” (I.tr.335). Xin chú ý đến đại từ nhân xưng “họ”, ngôi thứ ba, để chỉ lực lượng cách mạng. Không có dòng nào miêu tả cuộc cách mạng thắng lợi trong cả nước và bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945 ở Ba Đình. Cũng không có tin tức gì về cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm (1946-1954), sự ra đời của cách mạng miền Nam (1960) và cuộc kháng chiến chống Mỹ 20 năm (1955-1975).

Ngày 30/4/1945 ở Sài Gòn cũng được thuật lại như như vậy: “…cách sài Gòn chỉ 12 cây số, đêm 27 rạng 28 tháng 4, một tiểu đoàn đặc công quân cách mạng đã quyết tử đánh chiếm cầu Rạch Chiếc. Quân đội Sài Gòn phản ứng quyết liệt bằng đại liên, trung liên, được cả hỏa lực cối, pháo chi viện…Suốt ngày 29 và 30 tháng 4 năm 1975, sau nhiều đợt chiến đấu giằng dai ác liệt, quân cách mạng mới làm chủ được cây cầu, mở đường cho những chiếc xe tăng tiến vào thành phố”(II.tr. 317). “…Big Minh không làm gì. Ngày 10 tháng 3, mất Buôn Mê Thuột. Năm mươi hai ngày sau, xe tăng Bắc Việt đã vào được Dinh Độc lập. Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ nhanh...”(II.tr.324). Tác phẩm không có dòng nào bao quát tình hình chính trị quân sự mùa xuân 1975 và về chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam.

Theo dõi nhân vật Vạn, người Đảng viên, chiến sĩ họat động bí mật nội thành, người đọc càng thấy rõ hơn việc tác giả không đặt mục đích xây dựng tiểu thuyết viết về cách mạng và kháng chiến.

Lý lịch cuộc đời của Vạn được viết trong điếu văn (II. Tr.441-442), xin trích những họat động chính như sau: “đồng chí sớm giác ngộ, tham gia phong trào học sinh, sinh viên chống chế độ thống trị Pháp-Nhật. Đồng chí được tổ chức phân công hoạt động bí mật, chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa cướp chính quyền năm 1945 ở Sài Gòn…Tháng 8 năm 1947 đồng chí bị địch bắt tra tấn, đánh đập, qua các cửa nhà lao Catinat, Khám Lớn Sài Gòn,  đày ra Côn Đảo. Trong thời gian 15 năm bị giam cầm, tù đày, tra tấn cực hình đến mức độ nào vẫn giữ được khí tiết trung kiên…Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng chí một lòng một dạ trung thành với cách mạng…Ra tù, đồng chí chữa bệnh và móc nối với tổ chức cách mạng H159 nhận nhiệm vụ tổ trưởng tổ dân vận xây dựng cơ sở cách mạng ở Bến cảng, rải truyền đơn vận động công nhân khuân vác phá chìm nhiều chiếc xà lan chở đạn vào Nhà Bè và tham gia hướng dẫn đoàn xe tăng quân giải phóng qua cầu Phan Thanh Giản, tiến vào Dinh Độc Lập giải phóng Sài Gòn ngày 30/4/1975”.

Nhà văn Trầm Hương đã không khắc họa được nhân vật Vạn như một chiến sĩ cách mạng trong đời thực giai đoạn từ trước cách mạng tháng 8/1945, đến kháng chiến chống Mỹ. Vạn chỉ liên lạc và nhận nhiệm vụ từ 2 người là luật sư Thành (I.tr.143) và bác sĩ Nghĩa (I.tr.159). BS Nghĩa “đã chỉ đạo Vạn kết thân với Nagamoto, sẽ cài Vạn vào một lực lượng thân Nhật…Đó cũng là sứ mạng của Vạn trong đường dây thầm lặng của người luật sư Cộng Sản” (I.tr.227). Luật sư Thành ra tù, bí mật gặp Vạn, giao nhiệm vụ: “cậu phải đột nhập vào sao huyệt võ trang thân Nhật của bà Năm Sương Thu. Cậu phải tìm cách ngăn chặn sự tác hại của đội quân này, đưa họ về với con đường dân tộc” (I.tr.274). “Công việc của cậu là khoác lên vỏ bọc thân Nhật… hóa giải những bi kịch lầm đường, tìm cách thu và chôn giấu vũ khí Nhật cướp được từ Pháp để khi cần là chúng ta đã có vũ khí” (I.tr.274-275). Tác phẩm có miêu tả một chuyến Vạn cùng Jeannette chở vũ khí mua được vào bưng biền, nhưng không thấy Vạn thực hiện nhiệm vụ làm tan rã đội quân của bà Năm Sương Thu như thế nào. Ở trong nhà bà Năm Sương Thu, Vạn chỉ là thầy giáo thầm lặng.

Thời gian Vạn ở trong tù, chỉ có mình Jeannette xoay sở để cứu ông. Tuyệt nhiên không có tổ chức cơ sở Đảng nào hỗ trợ ông.

Cũng vậy, sau khi ra tù, ông được đưa về Tổng nha cảnh sát, “ông thấy mình cô đơn, lạc lõng, không người thân”(II.tr.180). “Ông bước đi một cách vô định”(II.tr.181). Sau cùng ông đón xích lô đến nhà Jeannette. Vạn rơi vào tình trạng trầm cảm và suy kiệt, Jeannette phải tìm cách hồi sinh ông. Trong cuộc hội ngộ giữa Jeannette và Vạn, tác giả tường thuật: “Sự hy sinh lớn nhất của ông là mất Jeannette” (II.tr.191),”Mất tình yêu làm ông trống rỗng” (II.tr.192). Không có đồng chí hay tổ chức Đảng nào đón ông, để ông nối lại với tổ chức tiếp tục công tác cách mạng. Phải chăng do quan hệ “lén lút” với Jeannette gây ra hậu quả nghiêm trọng, Vạn đã bị tổ chức bỏ rơi?

Sau đó Vạn được Jeannette tìm việc làm. Ông làm quản lý cho Việt Nam Stevedore. Một cơ sở làm ăn của anh Pierre (II.tr.202). Ở đây, “Vạn cũng biết tìm gái cho những ông chủ Mỹ”(II.tr.226). Rồi Vạn chung sống với Hoa, một cô gái bị lính Mỹ hiếp. Đến cuối năm 1990, Hoa và 3 đứa con của ông đi Mỹ diện con lai (Đoan Trang là con lai Mỹ, con riêng của Hoa). Vạn không đi.”Vạn lang thang vô định trên những con đường ngang dọc...”(II.tr 394). Vạn bán nhà cũ (nơi có 2 con bị sát hại) mua nhà nhỏ ở Thủ Đức. Ông cho cô Tím ở trọ phía sau và từ chối tình yêu của cô.

Ông viết nhật ký, nhưng không nhắc lại đời họat động, chỉ nhắc tình yêu với Jean (II.tr.415). Ông triết lý:Ôi, lý tưởng, hoài bão, ước mơ vá biển lấp trời của ta rốt cuộc đều thua trước thực tế đàn bà. Không có cái thực tế ấy, đôi cánh chim bằng thế là bị cắt rụng. Những người đàn ông không thể sống thiếu đàn bà” (II.tr.420).

Do đâu nhân vật Vạn, một chiến sĩ cách mạng trung kiên, đến cuối đời lại cô độc và có cái nhìn bi đát như vậy. Quý là chồng Jeannette đã nhận xét về Vạn: “Ông Vạn đã lợi dụng cách mạng để làm nhiều việc mà nếu là một người cách mạng chân chính không thể làm được”(II.tr.381).

Sau khi Vạn qua đời, Jeannette phải lo hậu sự cho ông. Jeannette không biết tính toán làm sao, vì người thân của Vạn chẳng còn ai (vợ con đã đi Mỹ). Sau có người bạn tù của Vạn đề nghị đưa tro cốt Vạn vào nghĩa trang liệt sĩ. Ông ta nói: “Tiêu chuẩn xây mộ ở đây thì khó chớ chỉ để cái hũ thì dễ. Nhiều bạn tù của ông Vạn cũng được đặt trong tòa nhà tưởng niệm ở nghĩa trang. Bà cho ông quản trang chút đỉnh tiền, đảm bảo bạn tôi được hương khói đầy đủ” (II.tr.447). Nghĩa là muốn được để tro cốt của Vạn trong nghĩa trang liệt sĩ, Jeannette cũng phải lo lót tiền cho ông quản trang. Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, hoạt động từ trước 1945 sao lại được đối xử như vậy?

Nhân vật luật sư Thành và bác sĩ Nghĩa (hai lãnh đạo cách mạng trực tiếp của Vạn) mất hút trong tác phẩm. Người đọc không biết hai người này là ai, trong tổ chức nào của Đảng. Tác phẩm không miêu tả quan hệ gì của hai ông với Vạn kể từ khi Vạn bị mật thám bắt đày ra Côn Đảo. Tổ chức Đảng và các hoạt động của Đảng cũng không được nói đến. Nhà văn chỉ viết chung về “những người cộng sản”, có nhắc đến tên (mà không miêu tả hoạt động) của những người trí thức dấn thân cách mạng (I.tr.475) như Huỳnh Tấn Phát, Hà Huy Giáp, Phạm Ngọc Thuần, Nguyễn Văn Hưởng, BS Phạm Ngọc Thạch… qua suy nghĩ của Nagamoto, có nhắc đến việc Bí thư xứ ủy Trần Văn Giàu diễn thuyết hùng hồn trong ngày 2/9/1945 tại đại lộ Norodom (I.tr.347).

Như vậy, xét cả việc miêu tả bối cảnh lịch sử, cùng với việc xây dựng nhân vật người chiến sĩ cách mạng, ngòi bút Trầm Hương đã không phản ánh được chân thực quá trình cách mạng và kháng chiến nhiều thập kỷ của dân tộc. Đến cuối tác phẩm, tác giả vẫn khẳng định Trong cơn lốc xoáy là một truyện tình lãng mạn. Vạn đã viết cho Jeannette: “Anh không biết mình sẽ ra đi vào lúc nào. Nhưng còn sống, còn thở anh vẫn yêu em, nhớ đến em. Anh chỉ có một lời khẩn cầu duy nhất với cuộc đời là trước khi ra đi, được em tha thứ…”(II.tr.439).Anh ước nguyện trước khi chết được gặp em…hãy yêu thương anh”(II.tr.440).

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ

             Trong cơn lốc xoáy viết về “người thật việc thật” (thể ký) là bà Jeannette lại trở thành tiểu thuyết tình cảm lãng mạn; tiểu thuyết được giải thưởng về đề tài cách mạng và kháng chiến, nhưng tác giả lại không có chủ đích viết về cách mạng và kháng chiến… Do đâu có những mâu thuẫn như vậy?

Sự lúng túng của nhà văn bắt nguồn từ cách viết trung thành với cuộc đời thực của nguyên mẫu (từ nhỏ đến khi già) trái với những nguyên tắc của hư cấu nghệ thuật về một chuyện tình lãng mạn.

Nhân vật Vạn Trong cơn lốc xoáy là một nhân tố để tác giả thực hiện chủ đề “vết thương sâu” trong lòng Jeannette, và bên cạnh còn những nhân tố khác là Henry, Lucien, Nagamoto, Trần Nhơn, Gasto, Cala, Theodor, dược sĩ Cao và ông Quý cùng với các đứa con của Jeannette.

Nhưng cũng phải thấy rằng, Jeannette có nhiều điều kiện để chọn lựa một cuộc đời hạnh phúc. Ngay từ tình yêu đầu tiên, nếu Jeannette lấy Henry “Cô có thể trở thành một mệnh phụ giàu có, vợ một vị tướng quyền uy, sống trong yên bình hạnh phúc(I.tr.216), hoặc sau này khi sang Paris, Jeannette cũng có thể lấy De Marcelange và cả khi đã lớn tuổi, Jeannette cũng có thể đi chung con đường hạnh phúc với Merryl Clifford về Mỹ. (Thúy Kiều trong Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du không được quyền chọn lựa hạnh phúc).

Lý giải về cuộc đời Jeannette, tác giả vin vào “số phận”. “Jeannette như một cánh bèo trôi dạt theo dòng thời cuộc…”(I.tr.315). Bà Hai Antoine, mẹ ruột Jeannette cho rằng Jeannette “hồng nhan bạc phận” (II.tr.43). Tác giả bình luận: “Số phận đẩy họ xa nhau, quăng họ vào cơn lốc xoáy cuộc đời,…họ gặp lại nhau,... Một người đàn ông bị biến dạng sau 15 năm tù ở Côn Đảo. Một người đàn bà không còn vú, không còn tử cung. Họ chỉ còn nước mắt…” (II.tr.332). Và khi cô Hai Berth Minh, chị của ông Cao chết, Jeannette còn cảm nhận “sự vô thường của cuộc đời” (II.tr.392). Sự gắn ghép tư tưởng phương Đông vào tính cách một nhân vật phương Tây thực dụng như Jeannette Trong cơn lốc xoáy có chỗ còn “sượng”, phải chăng ngòi bút Trầm Hương chưa đủ “chín”để viết một tác phẩm tư tưởng? Điều này khác rất xa với Nguyễn Du khi ông xây dựng nhân vật Thúy Kiều thành một nhân vật tư tưởng chuyển tải thuyết “Tài mệnh tương đố”, sau đó Nguyễn Du dùng thuyết Thiên mệnh và chữ “Tâm” của Phật giáo để lý giải những bể dâu của kiếp người.

Nếu chỉ viết về cuộc đời “hồng nhan bạc phận” của Jeannette, thì cuốn tiểu thuyết có thể rút gọn được hàng trăm trang. Tuổi thơ của Jeannette và tuổi thơ của Vạn (30 chương đầu) chỉ cần viết gọn trong một chương. Những chương viết về Eveline. Chance, Lan, Măng,…gây ra đau khổ cho Jeannette cũng có thể rút gọn thành một chương. Cả những chương Vạn làm việc cho Việt Nam Stevedore, “biết tìm gái cho những ông chủ Mỹ”, rồi lấy Hoa, một cô gái làm sở Mỹ bị lính Mỹ hiếp có thai, và việc hai đứa con Vạn bị sát hại cũng không cần thiết, vì chỉ làm hỏng giá trị nhân vật “người chiến sĩ cách mạng” của Vạn. Việc Jeannette gặp lại Vạn, sống “lén lút” với Vạn, dù chẳng còn gì cho nhau mà dẫn đến đổ vỡ, cũng làm tổn hại đến cuộc tình lý tưởng của hai người.

Cái thiếu nhất của tác phẩm là vắng bóng một tư tưởng có ý nghĩa triết học làm nền để Trong cơn lốc xoáy trở thành một tác phẩm lớn. Tại sao cuộc đời Jeannette lại diễn ra như vậy? Tác giả không lý giải được. Viết lại cuộc đời bà Jeannette, ngòi bút Trẩm Hương kể truyện một cách tự nhiên chủ nghĩa, vì thế tác giả không thể hư cấu thành một tác phẩm văn chương chứa đựng tư tưởng riêng của mình. Trong cơn lốc xoáy có những trang văn không thuyết phục là do sự mâu thuẫn giữa cách viết về người thật việc thật và ước muốn xây dựng một tác phẩm tư tưởng về thân phận người phụ nữ trong cơn dâu bể.

Điều này cũng gây ra những cảm nhận trái chiều trong “tầm đón đợi” của bạn đọc. Người Việt đã quen yêu mến những nhân vật có phẩm chất văn hóa Việt, nhưng Jeannette xa lạ với những truyền thống văn hóa ấy. Việc Jeannette chung đụng xác thịt với nhiều người đàn ông, yêu một người lại sống hai mặt với một người khác và nhiều lần dẫn con đi phá thai, Jeanette đã sống rất khác với văn hóa Việt, tôi nghĩ Jeannette khó chinh phục được thiện cảm của bạn đọc Việt! Nhân vật Vạn cũng xa lạ với kiểu nhân vật “người chiến sĩ cách mạng” đã quen trong Văn học cách mạng Việt Nam. Những cách xây dựng nhân vật như thế tuy có “mới” trong tiểu thuyệt Việt đương đại, song không khỏi gây ra những nghi ngại (tuy không nói ra). Nếu Trong cơn lốc xoáy là tác phẩm viết cho công chúng Pháp hoặc cho công chúng của văn chương thị trường thì không cần phải đặt ra bất cứ vấn đề lý luận nào.

              Trong cơn lốc xoáy là tác phẩm tâm huyết viết trong 10 năm của tác giả, tôi nghĩ, bạn đọc cần hiểu mục đích viết của tác giả hơn là “kỳ vọng” về những gì mình mong muốn ở tác phẩm. Đó là “thông điệp về những vết thương sâu trong lòng của những con người trong cơn biến động của lịch sử.

Tôi chú ý đến chỗ độc đáo này của ngòi bút Trầm Hương. Đó là tác giả trình bày một hiện thực với những góc nhìn trái ngược nhau (bút pháp hiện thực), cùng với những nhân vật có cá tính không giống với đời thường (bút pháp lãng mạn). Cách viết này tạo ra sự hấp dẫn, và gợi được nhiều vấn đề để người đọc suy gẫm. Trong tác phẩm, ngòi bút của tác giả nghiêng về phía “truyền thống” (ngợi ca cách mạng, ngợi ca tình yêu thủy chung, ngợi ca tự do…) thì nhân vật lại làm ngược lại. Giữa những điều trái ngược, người đọc phải tự mình chọn lựa một thái độ tiếp cận tác phẩm.

Chẳng hạn, tác phẩm văn học “truyền thống” luôn ca ngợi cách mạng và kháng chiến thì Jeannette lại cho rằng: “Cách mạng là gì? Kháng chiến là gì?Tại sao lại khắc nghiệt với chúng ta như vậy?”(I.tr.455).Trong khi tác giả khẳng định Vạn là chiến sĩ cách mạng trung kiên thì Quý, chồng Jeannette đã nhận xét: “Ông Vạn đã lợi dụng cách mạng để làm nhiều việc mà nếu là một người cách mạng chân chính không thể làm được” (II.tr.381). Nhân vật Jeannette tập trung nhiều đánh giá trái ngược nhau gay gắt.

Đọc Trong cơn lốc xoáy, tôi thấy thấp thoáng cách viết của V. Hugo. Trong Những người khốn khổ (Les Misérables), V. Hugo viết về  những con người khốn khổ trên nền của cách mạng Pháp với một tư tưởng nhân văn sâu sắc. Trầm Hương cũng khai thác những vết thương sâu trong lòng của những con người trong cơn biến động của lịch sử Việt Nam (rất tiếc, cách viết còn bị giới hạn). Dù sao, việc tác giả giữ được cảm xúc của ngòi bút trong 10 năm để viết 1024 trang truyện đã là một nỗ lực đáng khâm phục và trân trọng. Sự hấp dẫn của tác phẩm đối với bạn đọc là sự thành công của tài năng và tâm huyết. Và “những vấn đề” mà Trong cơn lốc xoáy đặt ra sẽ còn gợi ra được nhiều điều cho các nhà phê bình văn học trong tương lai.

 

Tháng 7/ 2019

__________________

[1] vanchuongphuongnam

[2] Ngọc Bích.

https://voh.com.vn/van-hoa-giai-tri/10-nam-cho-bo-tieu-thuyet-trong-con-loc-xoay-203352.html

PHẢN HỒI CỦA NHÀ VĂN TRẦM HƯƠNG VỀ BÀI VIẾT (qua email ngày 06/7/2019)

Cảm ơn anh đã chịu khó đọc hơn 1000 trang “Trong cơn lốc xoáy”

Cảm ơn anh đã có những phản biện.

Vài chi tiết, mong anh đọc lại kỹ. Vạn thực sự đến với Jeannette khi cô đã sinh con và con cô chết trong bệnh viện. Nagamoto  bị  bắt vào nhà giam. Jeannette không  hề có tình yêu sâu đậm với Nagomoto, nên việc cô đến với Vạn cũng là điều có thể hiểu được.

Việc dùng từ “quân đội Bắc Việt” và “Họ” ở đây là Trầm Hương đứng dưới góc quan sát của nhân vật.

Jeannette chỉ là một phụ nữ bình thường,  Nhưng cô sinh ra trong một xã hội đầy biến động. Cô lúng túng, bị lốc xoáy cuốn đi cũng là điều dễ hiểu

Trầm Hương không muốn giải thích rạch ròi những điều anh đưa ra vì nếu làm được vậy thì xã hội ngày nay đã là thiên đường. Nghịch lý cuộc đời những nhân vật là cảm hứng để nhà văn cầm bút. Dưới góc nhìn một phụ nữ, Trầm Hương có những đồng cảm với nhân vật Jeannette để viết. Trong âm nhạc có những nốt lặng. Văn chương cũng vậy thôi. Nếu luật pháp, chính sách làm được hết, làm được rạch ròi thì Trầm Hương đã không phải dành hơn 10 năm đề đọc, tiếp xúc nhân vật, suy ngẫm và viết “Trong cơn lốc xoáy”

Khi cho ra đời :Trong cơn lốc xoáy”, Trầm Hương cũng hiểu sẽ có những cái nhìn nhiều chiều về tác phẩm của mình. Nhân vật Jeannette và một nhân vật đa tính cách. Cả Vạn cũng vậy. Họ là những con người bình thường. Vạn như bao thanh niên trí thức thời mất nước, sẵn sàng xếp bút nghiên, lao vào cuộc chiến đấu cho nền độc lập, Lòng yêu nước đã giúp vạn làm được những việc khó. Ông đã làm được nhiều việc lớn: phá rã đội quân Cao Đài thân Nhật, đưa đội quân ấy gia nhập kháng chiến; cung cấp tiền bạc, thuốc men, vũ khí cho kháng chiến… Ông đã làm được những việc khó ấy trong bối cảnh cuộc kháng chiến cũng rất khó khăn, phức tạp. Nhưng ông cũng là một người đàn ông có những giằng xé: vừa muốn giữ Jeannette riêng cho mình, vừa muốn cô được sống một cuộc đời bình yên…

Chắc hẳn anh cũng thông cảm cho Trầm Hương khi tác phẩm của mình bỏ lững nhiều nhân vật. Lịch sử đất nước mình có biết bao điều biến động hơn một thế kỷ. Có những người hôm qua còn tôn thờ hình mẫu nhân vật nào đó, vài chục năm sau họ  đã quay lưng.

Nhưng vào thời điểm cách mạng tháng tám, rõ ràng quá hào khí!

Tóm lại, Trầm Hương viết về góc nhìn một phụ nữ bé nhỏ trong dòng chảy lịch sử. bối cảnh xã hội quá khốc liệt, xin đừng quá  khe khắt với những đứa con hư của Jeanette, vì cả xã hội miền Nam thời ấy cũng quá đảo điên. Chính sự đổ vỡ, thất bại làm mẹ của Jeannette cho chúng ta nhìn thấy để được làm một người phụ nữ bình thường trên đất nước trải qua quá nhiều biến động của chiến tranh là điều thật  không dễ dàng. Cuối đời, bà đã về Việt Nam, chỉ để chết trên mãnh đất bà  sinh ra, cũng đủ cho chúng ta nhìn thấy khát vọng hạnh phúc và nỗ lực hàn gắn những vết thương sâu trong lòng mỗi người.

Ông Quý có cái nhìn về Jeannette và Vạn đầy cay nghiệt cũng là điều dễ hiểu khi đó là cái nhìn của một người đàn ông nhận ra trái tim người vợ không có chỗ dành cho mình. Khi lấy Jeannette ông hứa nếu “Anh Sáu trở về thì tôi sẽ trả em lại cho anh ấy”. Nhưng có được Jeannette rồi,  ông cũng ích kỷ và ghen tuông thường tình…

Trầm Hương không xây dựng nhân vật điển hình để mọi người noi gương vì văn học thời chiến tranh cách mạng đã làm rất tốt nhiệm vụ này.

Trầm Hương lớn lên sau chiến tranh, là phụ nữ nên dễ đồng cảm với thân  phận và những giọt nước mắt của phụ nữ. Điều hạnh phúc của Tràm Hương  là khi khép lại trang sách, độc giả còn suy ngẫm và thắc mắc. Kiều của Nguyễn Du cũng được nhiều người hiểu ở nhiều góc cạnh…

Cũng thật lòng cảm ơn những phản biện để biết thêm khuynh hướng của nhiều độc giả.

***

“THẾ GIỚI XÔ LỆCH” VÀ NHỮNG GÓC TIẾP CẬN- BÙI CÔNG THUẤN

THẾ GIỚI XÔ LỆCH” VÀ NHỮNG GÓC TIẾP CẬN

Bùi Công Thuấn

Thế giới xô lệch

 

Đến nay (2019) Thế giới xô lệch của nhà văn Bích Ngân đã xuất bản được 10 năm (tháng 12.2009) và được tái bản nhiều lần. Đó là quãng thời gian đủ để một tác phẩm văn chương sống trong lòng người đọc thế nào, cũng là quãng thời gian để tác phẩm có còn nói được tiếng nói của hôm nay hay đã trở thành tiếng nói một thời quá vãng. Tôi chú ý đến các hướng tiếp cận tác phẩm và xem những góc nhìn nào khả dĩ đọc được tác phẩm?

SỰ NGỘ NHẬN CỦA MỘT GÓC NHÌN

Cuộc tọa đàm 17/3/2010 về tiểu thuyết Thế giới xô lệch có mặt nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu với những góc nhìn khác nhau, soi rọi khá toàn diện về nhiều vấn đề. Đó là các nhà văn Trung Trung Đỉnh, Dạ Ngân, Lý Lan, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Khôi Vũ, Mai Sơn, Trần Thùy Mai; các dịch giả Phạm Viêm Phương, Nguyễn Lệ Chi; nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên; nhà nghiên cứu văn học Nhật Chiêu; và các nhà văn nhà thơ trẻ như: Trần Nhã Thụy, Dương Bình Nguyên, Vũ Đình Giang, Phan Hồn Nhiên, Trương Trọng Nghĩa…

Nhà văn Trung Trung Đỉnh cho rằng tiểu thuyết Thế giới xô lệch nằm trong

luồng tiểu thuyết mới viết về thế sự. Nhà văn Dạ Ngân nhận xét: “Xô lệch như vậy là còn ít, là chưa thấm tháp gì so với hiện thực hay so với sự chưng cất nếu người đọc đòi hỏi cao hơn.”…” tác giả dường như vẫn còn hơi chần chừ, do dự, rón rén trong sự triển khai. Đáng lẽ ra những nhân vật, số phận trong tiểu thuyết cần phải “xô lệch” hơn nữa thì tuyệt vời biết bao Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: “Thế giới xô lệch” chỉ mới “xô” chứ chưa “lệch”. Bích Ngân đã chọn được ý tưởng hay, đặc sắc để triển khai nhưng chưa đẩy đến tận cùng”. [1]

Nhà văn Bích Ngân, tác giả, nói về chất liệu sáng tác: Chất liệu viết nên cuốn tiểu thuyết này được tôi manh nha sau những lần đến thăm một quân y viện, lúc đó tôi là phóng viên của một tờ báo. Khi thăm hai trại thương binh (một trại dành riêng cho người mất chân trái và một trại dành cho người mất chân phải), tôi nấn ná thật lâu ở trại thương binh toàn người trai trẻ bị mất hết hai chân do vướng bom mìn. Nhìn gương mặt trẻ măng và cặp mắt trong veo của họ, lòng tôi đau nhói, rồi tôi không sao cầm được nước mắt khi nghĩ, nếu họ là anh trai, em trai hay là người yêu của tôi. Hình ảnh và ý nghĩ đó ám ảnh tôi và nhân vật của tôi dần hình thành.”

Chủ đích của tác giả là: Điều tôi muốn viết về thương binh không phải là chiến tranh, thứ đã cướp đi một phần thân thể họ mà là cuộc sống sau đó, cuộc sống vốn dĩ bình thường lại trở nên bất thường vì sự thay đổi của chính người lính Với thương binh, chiến tranh vẫn còn đó, một cuộc chiến khác, cuộc chiến của sự hòa nhập, cuộc chiến của sự tồn tại…”[2]

Có thể nhận thấy những ý kiến tôi vửa dẫn ra ở trên đều xuất phát từ góc nhìn “văn học phản ánh hiện thực”. Vì thế có ý kiến yêu cầu tác giả cần phải “xô lệch hơn nữa”, nghĩa là đòi hỏi nhà văn phải phản ánh cho được hiện thực xô lệch lớn lao hơn nữa, triệt để hơn nữa của cuộc sống hôm nay.

Tôi cho rằng đây là một ngộ nhận. Bích Ngân viết Thế giới xô lệch không phải là để  “phản ánh hiện thực”, đành rằng chất liệu tiểu thuyết là hiện thực.

Câu truyện chỉ gói gọn trong một gia đình, không có những quan hệ xã hội chằng chịt. Gia đình ấy có nhân vật Tôi, cha mẹ, anh chị, cùng với ký ức về ông nội, bà nội, người chú vượt biên mất tích, người em chết non. “Những nhân vật ấy xét cho cùng, đều thẳng thớm và lành lặn..”(Dạ Ngân). Chính tác giả cũng xác nhận: Các thành viên của gia đình trong Thế giới xô lệch, nhìn ở một góc hết sức bình thường thì đều là những con người tử tế, thậm chí họ còn có lối sống mẫu mực. Họ đều có chữ nghĩa, biết đọc sách, biết thưởng thức âm nhạc, biết lưu giữ ký ức, biết phản biện, biết tự vấn và biết thương yêu nhau.”[3]

Những gì gọi là “hiện thực” được miêu tả chỉ là những “hiện tượng” được nhìn thấy và nhận thức qua con mắt của nhân vật Tôi, người ngồi trong xe lăn, ở một góc nhà. Đó là “hiện tượng” chị gái ngoại tình bị anh rể tra vấn, nhưng thực hư người đàn ông của chị là ai, ở đâu, Tôi không biết. Sau này Tôi hỏi chị, chị chỉ nói người tình ấy “chết rồi”. Đó là “hiện tượng” anh trai làm ăn thế nào mà có cửa nhà khang trang, xe hơi bóng loáng, Tôi cũng không biết. Đó là “hiện tượng” người vợ đua đòi, mua xe Honda trả góp, rồi học nhảy, Tôi cũng chỉ nghe vợ nói. Tôi không biết sự việc cụ thể sinh hoạt của vợ như thế nào. Những chuyện về người chú, về ông nội cũng chỉ là nghe kể lại. Nhân vật Tôi như một người bị bịt mắt mà mãi về sau mới đượctháo ra tấm băng che mắt.”(tr.276. Thế giới xô lệch, Nxb HNV 2009).

Người đọc không tìm thấy địa chỉ cụ thể của gia đình này ở đâu. Hình như đâu đó ở miền tây. Trong truyện có một địa danh duy nhất là kênh Dừa, cũng không rõ ở tỉnh nào. Nhân vật người cha cũng chỉ được hé lộ vài nét. Ông là một quan chức liêm chính. “Ba tôi giống ông nội, gương mặt vuông, vầng trán cao, mắt sâu, mũi thẳng. và đôi tay nữa” (tr.43 sđd). Ông sắp tuổi hưu (tr.44 sđd). Ba tôi biết đàn, biết hát, biết viết kịch, biết làm thơ (tr. 59 sđd). Ông tin hoa thơm lấn dần cỏ dại. Ông tin cái thiện luôn thắng cái ác. Ông tin con đường ngắn nhất để con người đến với nhau là con đường từ trái tim đến trái tim. Và ông tin vào sự trong sạch, trước hết là của chính mình”(tr.183 sđd). Đó là nhận thức của Tôi về cha. Còn ông ta làm việc gì, cơ quan của ông ở đâu, nhân thân xã hội của ông thế nào không được tác giả nói đến.

Nhân vật Tôi, trong gia đình gọi là Út, sinh ra ở vùng sông nước miền tây. Từng đậu Đại học Hàng hải, ước mơ chỉ huy con tàu hiện đại, con tàu đưa Tôi tới những xứ sở mới (tr.136, sđd). Tôi đầu quân sang Campuchia. Chuyến ra quân đầu tiên tôi đã vướng mìn, dù chưa một lần ra trận. Tác giả không cho biết Tôi ở đơn vị nào, bị mìn ở chiến trường nào bên Campuchia. Trở về đời thường, Tôi là một thương binh cụt hai chân, có sổ thương binh, nhưng Tôi không hề có bất cứ quan hệ xã hội nào, không sinh hoạt trong hội thương binh. Nhân vật Tôi chỉ ở trong nhà, phụ má việc may quần áo. Có đi xem kịch với má và lăn xe đến chỗ chị ở để chia sẻ tâm sự. Những lần như thế Tôi qua phố, nhìn vu vơ.

Với một nội dung truyện như thế, người đọc muốn tìm xem nhà văn Bích Ngân phản ánh hiện thực gì, thì đó sẽ là phiến diện, và nói đến “giá trị phản ánh hiện thực”của tác phẩm là không thể.

Đành rằng, văn học luôn phản ánh hiện thực. Thế nên, người đọc mơ hồ thấy có bóng dáng những chuyện tiêu cực xã hội như chuyện ăn cắp điện của người chú, tài xế ăn cắp xăng và kê không tiền sửa xe, người anh chiếm hữu tài sản công nhờ đó giàu lên rất nhanh, và ngay chính sự liêm chính của người cha cũng trở thành mối lợi cho nhiều người khác…Đúng như nhà văn Dạ Ngân nhận xét, những chuyện tiêu cực như thế là chưa thấm tháp gì so với hiện thực hôm nay. “Giá trị hiện thực” không phải là giá trị của Thế giới xô lệch, càng không phải là yếu tố cuốn hút người đọc.

Có ý kiến cho rằng trong Thế giới xô lệch, Bích Ngân viết về thương binh, viết về đời sống của họ sau chiến tranh, và thông qua đó viết về chiến tranh (tức là phản ánh hiện thực), điều ấy cũng nằm ngoài ý nghĩa của cấu trúc tác phẩm. Bởi nhân vật Tôi, thương binh cụt hai chân, không được miêu tả nhân thân xã hội, tức là những phẩm chất của người lính cách mạng, có lý tưởng, căm thù giặc, gắn bó với nhân dân, chiến thắng gian khổ, không sợ hy sinh…Trong tác phẩm, Tôi có gặp người bạn đào ngũ giờ làm chủ tịch phường. Đó là một hình ảnh tương phản với Tôi và có hàm nghĩa, Và khi Tôi lăn xe trên phố, nhìn xe cộ chạy qua, “Tôi không ngăn được ý nghĩ hằn học tối tăm là, chính bánh xe của những chiếc ô tô bóng loáng như chiếc xe anh tôi đang đi đã cán nát, đã lấy đi đôi chân tôi”(tr. 256 sđd) Những chi tiết như thế không thể được coi là viết về thương binh hay viết về chiến tranh được.

Vậy nếu Thế giới xô lệch không phản ánh hiện thực, không nằm trong dòng văn chương thế sự, không viết về chiến tranh thì tác phẩm thuộc dòng văn chương nào? TS Trần Hoài Anh trong bài viết “ Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong Thế giới xô lệch”(24/3/2016)[4] cho rằng Thế giới xô lệch là một tác phẩm có tính triết luận sâu sắc, nhưng ông cũng nhìn tác phẩm qua góc nhìn “phản ánh hiện thực”. Ông cho rằng với Bích Ngân, “cái nhìn hiện thực đa chiều, đa diện như nó vốn có. Thế giới xô lệch chính là một cuộc “giải phẫu” khá sâu sắc và tinh tế về tâm thức và tâm cảm của con người Việt Nam thời hậu chiến.

Tôi cho rằng Thế giới xô lệch là sự chưng cất những vấn đề của hiện thực để thành một tác phẩm tư tưởng. Sự thành công của tác phẩm tùy thuộc vào tài năng nghệ thuật của tác giả. Nhưng nếu gọi Thế giới xô lệch là một tác phẩm tư tưởng (kiểu triết luận), thì tôi e rằng ngòi bút của Bích Ngân chưa vượt qua được giới hạn. Điều này tôi tin rằng Bích Ngân “nhận ra được những giới hạn, đặc biệt những giới hạn không thể vượt qua của mình” (tr.274, sđd)

NHỮNG VẤN ĐỀ THÚ VỊ CỦA LÝ LUẬN PHÊ BÌNH

Tác phẩm là một cấu trúc, một thế giới nghệ thuật. Nghĩa của tác phẩm là nghĩa do cấu trúc ngôn ngữ nghệ thuật tạo ra, không phải là nghĩa do người đọc gán cho nó. Tác phẩm cũng là một sinh mệnh biệt lập với tác giả, thế nên nếu tác giả có chủ đích đặt vào tác phẩm một nghĩa chủ quan nào đó thì cái ý nghĩa chủ quan ấy, nhiều khi trở thành một bộ phận lắp ghép bị hoại tử. Và ngày nay, “Thuyết Người đọc” chú ý đến nghĩa của “cộng đồng diễn dịch”, nghĩa của “tầm đón đợi”. Thế nghĩa là văn bản tác phẩm trở thành nguồn tạo nghĩa, và sự đa nghĩa của tác phẩm xuất phát từ góc nhìn. Và những lớp nghĩa này nhiều khi không trùng khớp với nhau. Đọc Thế giới xô lệch, tôi không thấy tác giả thực sự hướng ngòi bút của mình về việc phản ánh đời sống thương binh hay có ý thức khám phá chiến tranh như góc nhì văn học phản ánh hiện thực.

Nói nghĩa của tác phẩm nằm trong cấu trúc là nghĩa được tạo ra từ sự tương quan giữa các yếu tố của cấu trúc. Đó là lớp vỏ ngôn ngữ, là hình tượng nhân vật, là tình huống, là cốt truyện, là bút pháp, là tư tưởng thẩm mỹ…Trong Thế giới xô lệch, nghĩa của tác phẩm trước hết xuất phát từ nhân vật Tôi, nhân vật trung tâm, trong tương quan với các thành viên gia đình, trong những tình huống mà Tôi can dự vào, trong thái độ miêu tả và cả trong mục đích diễn ngôn của tác giả…

Bởi vì, trước hết, Tôi là nhân vật trần thuật. Tôi kết nối các nhân vật khác. Tôi phát hiện ra các vấn đề của Tôi và của tha nhân, Tôi tra vấn hiện thực. Tôi cũng là kiểu nhân vật được tác giả chọn lựa, để thực hiện một cách viết và Tôi là diễn ngôn của chính tác giả (tác giả hóa thân vào Tôi).

Nhân vật Tôi là kiểu nhân vật kẻ tật nguyền. Người tật nguyền (do chiến tranh, tai nạn, bệnh tật hay bẩm sinh), theo tôi, thường là những người có thế giới nội tâm không ngừng xê dịch với giằng xé âm thầm và họ chiếm một số lượng không nhỏ trong cộng đồng…”(Bích Ngân, đd). Nhân vật Tôi quan sát hiện tượng và nhận thức để đi đến ý thức. Trong Thế giới xô lệch, nhân vật Tôi là nhân vật ý thức, kiểu nhân vật tư tưởng. Có một dòng tậm trạng luôn trôi chảy trong Tôi, và nhiều khi ngòi bút của Bích Ngân tiếp cận được với cách viết “dòng ý thức” của văn chương Hiện sinh. Tôi ý thức về Tôi, tôi ý thức về tha nhân, ý thức về sự sống, đau khổ và hạnh phúc.

Đối chiếu với mọi người, tôi ý thức sâu sắc về sự tật nguyền, sự đau khổ cả về thể xác và tâm hồn. Hình ảnh chỗ hai ống quần bùng nhùng, hình ảnh về đôi chân bị mất và sự tương phản với những đôi chân lành lặn là điều ám ảnh nhất đối với tôi. Tôi ý thức mình là “con thú tật nguyền” (tr. 6, Sđd). Đoạn văn này cực tả thảm trạng của sự tật nguyền: “…những đứa bạn bị tàn phế mà không chết như tôi, ngoài mấy đứa còn cưới được vợ có con, số còn lại đều mắc thêm một vài tật xấu nào đó. Thằng làm càn, đập phá. Thằng chửi rủa, la hét.  Thằng cạy miệng không nói lời nào.Thằng nằm ngửa hát nghêu ngao. Thằng hứng lên tuột quần khoe “của quý”. Thắng mân mê hình cố nhân rồi tru lên như chó dại…” (tr. 88, sđd).

Và giấc mơ về những đôi chân của Tôi thì thật là khủng khiếp: “…Khi đến gần, tôi nhận ra đó là những hình thù không đầu, không mình, chỉ có chân. Những đôi chân. Vô số những đôi chân./ Những đôi chân trần trụi máu me, những đôi chân trắng lốp vòng băng, những đôi chân lùng nhùng trong ống quần màu cỏ úa./ Chúng hung hăng xô lấn. Chúng lăn xả vào bất kể thứ gì cản trở đường đi của chúng./ Chúng bườn lên người tôi, khiến tôi hét lên./  Tôi toát mồ hôi đầm đìa…” (tr. 90, sđd)

Và tôi ý thức về tôi như một con vật bản năng: “Tôi thấy mình cũng chẳng khác gì con Phèn. Cũng sợ đau, sợ đói, sợ lạnh, sợ bị bỏ rơi và cũng sục sạo tìm cái ăn cái uống khi đói khi khát cũng lùng tìm một cái lỗ để sục vào đó tất cả tinh lực khát thèm, trút vào đó tất cả nỗi uất ức tuyệt vọng để rồi gào lên trong thú đau sung mãn trong cạn kiệt, trong hấp hối, trong loay hoay không lối thoát để rồi lại tự nguyện cột chặt vào cái thói quen khốn khổ khốn nạn của bản năng. Thói quen ấy đã biến gã tật nguyền thiếu hụt thành một kẻ tôi đòi, bạc nhược kéo lê cái sự sống nửa người nửa ngượm” (tr.243-244, sđd).

Ý thức về sự mất mát đôi chân kéo Tôi về thân phận một con thú tật nguyền kéo lê cuộc sống “nửa người, nửa ngợm”. Nhưng cái phần “người “ mới làm cho tôi đau khổ. Người anh bế Tôi vào phòng tắm, nơi ấy, tôi quan sát và ý thức về sự tật nguyền rõ nhất: “Tôi nhìn xuống cái bụng đang đói của mình. Tôi cầm cục xà bông thơm của anh xát khắp bụng, khắp người, rồi cổ, vai, tay, hai khúc đùi còn lại và sau hết chà nhẹ nhẹ vào chùm sinh dục nhão nhẹo./ Đó là chỗ tôi luôn kỳ cọ kỹ lưỡng nhẹ nhàng và âm thầm nhận ra sự khỏe mạnh nguyên vẹn trong cái thân thể tật nguyền của mình… tôi lại cúi xuống, đưa tay nâng đỡ rồi vuốt ve cái bộ phận đàn ông của mình./ Tôi vuốt ve cho đến khi “thằng nhỏ” ấm lên, săn lại, nóng hổi sinh lực… khát khao một thân thể lành lặn. Khao khát một thân thể…khác mình…”(tr. 33, sđd).

Sự khát khao ấy trở thành thách thức cái phẩm chất “người” của Tôi khi người chị nói: “Khi nào em thành một người đàn ông thực sự, khi ấy em sẽ hiểu chị” (tr.120, sđd). Tôi phải trở thành một người đàn ông, bất luận đó là loại đàn ông nào. Có vậy Tôi mới là Người. Tôi biết, “điều kiện để một thàng con trai to xác, tật nguyền nhưng còn nguyên vẹn cái sinh lực giống đực, trở thành một gã đàn ông, đương nhiên phải có sự chung đụng với một sinh thể khác giống. Là giống cái...”(tr. 122, sđd). Thế nhưng, khi có được vợ, Tôi lại để cô dâu nằm co ro bên cạnh, “tỉnh dậy, Tôi biết Tôi đã chưa làm được cái việc của một người chồng trong đêm động phòng”(tr. 172, sđd).

Từ đây, Tôi ý thức sâu xa về nỗi bất an, sự bơ vơ, sự xa cách, sự bất lực của một con thú tật nguyền. Tôi không thể giúp vợ đóng nổi một cái đinh để móc mùng. Vợ tôi “lia mắt từ đầu tóc, mặt mũi tôi đến thân thể tôi và dừng lại chỗ khúc đùi lùng nhùng sẹo vết, mở miệng: Đàn ông…” rồi bỏ lửng câu nói (tr. 194, sđd). Và “Tôi không ngờ mình lại cam chịu như một người câm và còn khốn khổ hơn một người thiếu khả năng nói(tr.220, sđd).

Tôi ý thức về Tôi và nhận ra Tôi chỉ là con thú tật nguyền với tất cả nỗi khốn khổ tủi nhục, bất lực và tuyệt vọng, thì khi Tôi ý thức với tha nhân, Tôi nhận ra Tha nhân là những “kẻ xa lạ”. Miêu tả điều này, Bích Ngân đặt nhân vật Tôi vào bóng dáng của A.Camus (“Kẻ xa lạ”) và của J. Sartre: “Tha nhân ấy là địa ngục”[5]. Tôi là “kẻ xa lạ” ngay cả với con Phèn, một con chó trung thành trong nhà. “Không ai biết tôi là ai. Mà tôi có là ai thì cũng chẳng đem lại một ý nghĩa nào cho ai”(tr.252, sđd). Ngay cả lúc ở bên vợ, “Lúc bên nhau mà không thể chạm được vào nhau tôi bứt rứt không yên…”(tr.187, sđd), “Vợ tôi đã biến thành một người đàn bà mà tôi chưa từng biết” (235, sđd). Trong mắt tôi, mối quan hệ của anh rể tôi với chị tôi là một mối bất hòa không thể hàn gắn, họ chỉ gây đau khổ cho nhau, và cả người đàn ông chị yêu, cũng không đem lại hạnh phúc cho chị. Ấy là tha nhân. Chị tôi có nỗi đau âm thầm, nỗi đau từ một kẻ kiếm tìm, chơi vơi và vấp ngã (tr.254, sđd). Còn anh tôi, “sự hãnh tiến hời hợt của anh không chỉ là chất cồn sát thương mà còn như trêu ngươi, cười cợt đối với kẻ tật nguyền… Anh và tôi cũng không có cùng một niềm vui và cả nỗi đau. “(tr.255, sđd). Thằng bạn đào ngũ giờ là một Chủ tịch phương, “khó tìm được một thứ ngôn ngữ chung giữa hai kẻ không di chuyển cùng một phương tiện” (tr.256, sđd). Cũng vậy, tôi, anh chị tôi, người tài xế và vợ tôi, đều trở thành “địa ngục” cho cha tôi. Những gì ông yêu thương, những gì ông giữ gìn xây dựng, ngay cả niềm tin của ông, cũng bị tha nhân làm cho sụp đổ. Chương 15, phần V (tr.284, sđd) miêu tả khá hay một cảnh “tha nhân ấy là địa ngục”. Trong căn nhà đóng kín cửa, người cha đã không thể chịu đựng được nỗi đau khi phải đối mặt với những đổ vỡ do tha nhân gây ra là thằng con “bất hiếu”, người tài xế phản chủ, đứa con dâu xấc láo. Đến nỗi ông phải đuổi tên tài xế về và đuổi đứa con dâu ra khỏi nhà.

Xây dựng nhân vật Tôi có ý thức Hiện sinh với ý tưởng của A.Camus và của J.Sartre (?), nhưng Bích Ngân vượt qua những triết gia hiện sinh này. Nhà văn để cho nhân vật tự tháo cái miếng bịt mắt mình ra mà tự cứu rỗi. Anh tôi nhất quyết xin thôi việc Nhà nước để tự khởi nghiệp, để không còn ăn cắp của công hoặc dựa dẫm vào uy tín của cha. Tôi tự lăn xe đến nhà chị, không cần nhờ đến má, tự thoát khỏi thân phận nô lệ (tr.189, sđd). Và nhờ việc đi tìm mộ của bà nội, cả gia đình xích lại gần nhau. “Cái thế giới xô lệch chực ngả nghiêng chao đảo, bất ngờ được kéo lại, được vực dậy và được giữ thăng bằng bởi sức mạnh của sự chia sẻ” (tr.302, sđd).

Để cứu nhân vật thoát khỏi tình cảnh bi đát Hiện sinh, Bích Ngân để các nhân vật đồng cảm, chia sẻ, bao dung lẫn nhau và sự trở về với truyền thống, giữ gìn những truyền thống của cha ông. Người cha đã chăm sóc bà nội nuôi khi bà cụ bị ung thư giai đoạn cuối. Ông cho gọi cả nhà tiễn bà. Anh Tôi thuê một chiếc vỏ lãi và đích thân cõng bà xuống ghe, ngồi với bà đưa bà về. Anh trai Tôi cũng đã chủ động trong mọi công việc đi tìm và bốc mộ bà nội. Ba và anh chị em bốc từng nắm đất xương cốt của bà “cũng tìm kiếm, cũng hy vọng được chạm vào, được lưu giữ những gì từng thuộc về bà” (tr.308, sđd) “Tôi lại nhớ lời nói đều đều vô cảm của vị linh mục về thứ ánh sáng nơi thiên đường./ Và tôi nhận ra thứ ánh sáng ấy, có lẽ không chỉ có ở thiên đường mà đang tràn ngập ở đây, nơi những con người lạc mất nhau đã tìm thấy nhau(tr.309, sđd).

VĂN CHƯƠNG BÍCH NGÂN

Những trang miêu tả “dòng tâm trạng” của nhân vật Tôi là điều đặc biệt gây chú ý trong Thế giới xô lệch.  Có lúc Bích Ngân tiếp cận được với cách miêu tả “dòng ý thức” của văn chương Hiện Sinh. Và vì thế, có những câu văn rất dài, bởi mạch ý nghĩ của nhân vật trôi đi miên man. Những câu văn như thế chuyển tải được sự say mê của ngòi bút Bích Ngân cùng với những gẫm suy giàu chất triết lý. (Tất nhiên Bích Ngân không phải là nhà văn tư tưởng).

Đọc Thế giới xô lệch, cái đọng lại là tư tưởng. Xin đọc: “Con vật nào càng dễ thỏa mãn với miếng ăn, con vật đó càng trung thành(tr.261, sđd). “Cuộc đời này, có lẽ giống như một bản nháp khổng lồ. Một bản nháp không ngừng tẩy xóa”(tr.269, sđd). “Khi thật sự trưởng thành là lúc họ nhận ra được những giới hạn, đặc biệt những giới hạn không thể vượt qua (tr.274, sđd). “…đôi khi thói quen cũng là một thứ giới hạn khiến con người hèn yếu và vô tâm” (tr.275, sđd)

Vì cách miêu tả gần với cách viết “dòng ý thức” của văn chương Hiện sinh nên ngòi bút của Bích Ngân soi vào hiện tượng đến từng chi tiết rất nhỏ, như thể cách soi hiện thực của Hiện tượng luận. Nhân vật Tôi nhìn ngắm rất kỹ, rất lâu và suy nghĩ rất sâu về một chi tiết nào đó như khám phá một hiện thể.

Hình ảnh cái ống quần bèo nhèo chỗ mất cặp chân luôn là một ám ảnh của Tôi. Lúc tắm, Tôi nhìn ngắm, nâng niu bộ phận sinh dục của Tôi và đánh thức cái khát khao một thân thể lành lặn. Con đường Tôi đi qua, sợi tóc của vợ vương trên gối, cái mùi người già và cái mùi hôi hôi của thịt ươn nơi bà nội nuôi được Tôi cảm nhận với tất cả sự ngạc nhiên của lần đầu tiên Tôi nhìn thấy.

Trước một “hiện tượng” nào đó, Tôi cũng lặng im quan sát, nhận thức và ý thức về nó như một tồn tại trong tương qua với tha nhân. Chẳng hạn, việc người chú xoay đồng hồ ăn cắp điện được nhắc đến 3 lần trong những hồi tưởng của Tôi về Chú (Chương 3 phần I, Chương 2 phần II, chương 6 phần II, chương 15 phần V…). Đó là những trải nghiệm của Tôi về sự tồn tại của một con người, dù rằng con người ấy có thể đã chết trên đường vượt biên nhưng nó không được quyền chết trong tương quan với người sống (cha Tôi, ông Tôi, má Tôi, anh Tôi, chị Tôi và Tôi). Nó phải sống, cả trong hai chiều kích trái ngược, tình thương yêu của gia đình, để kết nối mọi người lại, và để làm gương cho tha nhân không được chết vì những sai lầm!

Chẳng hạn, việc ba chỉ ngồi ở cái ghế riêng của ông ở trong nhà, là sự kiên định không đổi của một tính cách, một nguyên tắc sống, một lý tưởng sống, dù sóng đời có thể làm xô lệch đi mọi thứ.

Chẳng hạn, việc cả nhà Tôi tìm chuỗi tràng hạt và bức chân dung Đức Mẹ của ông nội, hình như là một ẩn dụ cho việc tìm kiếm một niềm tin đã mất mà không thể tìm lại; hoặc bản Sonat Ánh trăng cùa Beethoven mà người cha hay mở như là một ẩn dụ cho sự cứu rỗi khỏi những tình huống hiểm nghèo làm mất đi nhân tính. Và lời giảng của vị linh mục về ánh sáng thiên đường tưởng chỉ là vu vơ lại chợt sáng lên cả chủ đề tư tưởng của tác phẩm khi người đọc gấp cuốn sách lại…Tất cả những sự việc ấy được Tôi ý thức nhiều lần như ý thức về tồn tại của Tôi trong tương quan với tha nhân.

Màu sắc thẩm mỹ của trang văn Bích Ngân khá phong phú. Độ say của ngòi bút tạo nên chất thơ của câu chữ (chương 9, phần III, tr.142, sđd). Những gẫm suy trải nghiệm sâu sắc tạo nên những trang viết giàu tính triết luận (chương 13, phần V, tr 265, sđd). Ngòi bút mổ xẻ hiện thực về bà nội nuôi khía vào trái tim người đọc những vết đau nhói (Chương 6, phần V, tr. 228, sđd) có sức mạnh làm thức tỉnh những tâm hồn vô cảm. Và viết về sex, Bích Ngân chứng tỏ một bản lĩnh văn chương vượt trội. Sex trong Thế giới xô lệch được soi ở góc nhìn trần trụi bản năng nhục thể của con vật giống đực và con vật giống cái; nhưng sex cũng là nhân tính, là khát khao hạnh phúc, là phẩm chất đàn ông mà Tôi “đang kiệt sức…vì không thể trở thành người đàn ông như chị nói”(tr. 273, sđd)…

Vì miêu tả “dòng tâm trạng” của nhân vật Tôi nên tiểu thuyết của Bích Ngân làm mờ nhòe thời gian và không gian. Nhưng Bích Ngân có cách nối kết các chương, cách kiến tạo tác phẩm rất chặt chẽ. Kết nối liền mạch của tình huống giữa các chương, hoặc dùng ký ức kết nối quá khứ với hiện tại; hoặc nhắc lại một lời thách đố, một sợi tóc, một bản nhạc, như một chất keo làm liền mạch truyện. Đặc biệt có sự tái hiện quá khứ đồng thời với hiện thực đang diễn ra. Những người, những việc của quá khứ (người chú, ông nội, bà nội) cùng sống với con cháu ở hiện tại. Trên chuyến xe chở cô Tôi về, mọi người cùng nhắc đến chú. Anh Tôi nói: “Lần cuối cùng con cũng đi cùng với chú út trong một chuyến xe gặp mưa gió dai dẳng như vậy”. Cô Tôi nói: “Bữa cơm cuối cùng cô nấu cho chú út con ăn chỉ có mắm kho chấm rau luộc, vậy mà chú ăn sạch cả nồi cơm”. Má Tôi nói: “Còn chị, chị đã không kịp làm một bữa cơm đãi chú”. Còn Tôi, “Tôi nhận ra anh tôi cũng giống chú. Cũng mái tóc dày hất ngược ra sau. Cũng cái trán vừa rộng, vừa cao. Cũng gương mặt vuông chữ điền. Gương mặt của ông Tôi, gương mặt ba Tôi và gương mặt Tôi”, “hình như chú cũng đang hiện diện” (tr. 70, sđd)… Tôi còn có thể nói đến những điều thú vị khác trong nghệ thuật tiểu thuyết của Bích Ngân, nhưng xin để dành bạn đọc thưởng lãm khi đọc tác phẩm.

XIN CHIA SẺ VỚI NHÀ VĂN

Thế giới xô lệch có những thành công đáng trân trọng về tư tưởng và nghệ thuật, song tôi vẫn thấy sự chênh vênh của ngòi bút tác giả. Đó là sự chênh vênh giữa ý thức về Hiện sinh của nhận vật Tôi và những “hiện tượng”xã hội mà Tôi ý thức về. Những “hiện tượng” này chưa đủ sức để nâng ý thức của Tôi lên thành tư tưởng thẩm mỹ. Hiện tượng chị Tôi ngoại tình, hiện tượng chú Tôi ăn cắp điện, hiện tượng vợ Tôi đua đòi khiến Tôi bất an, hiện tượng người tài xế của cha Tôi khéo xoay sở, hiện tượng anh Tôi phất lên bằng cách làm ăn mờ ám (nói cách khác, đó là những “hiện tượng” tiêu cực của xã hôi), những hiện tượng này chứa đựng tư tưởng gì trong tác phẩm?

Và vì thế dẫn đến cách kết thúc phần nào có thể gây ra sự hụt hẫng nơi người đọc. (Cũng có thể tác giả chọn cách kết có hậu như văn chương truyền thống). Các vấn đề của hiện thực chưa được giải quyết triệt để. Vấn đề chiến tranh cho đến nay vẫn còn nhiều trăn trở không nói thành lời: “Chẳng ai được cả, kể cả người thắng cuộc. Tổn thương và mất mát…Mất mát hiện diện mọi nơi”(tr.74, sđd), Cuộc tìm kiếm tình yêu của chị tôi vẫn vô vọng. Nỗi bất an của Tôi về việc người vợ có nhiều nhu cầu khác mà tôi không thể đáp ứng vẫn còn nguyên đó. Vợ Tôi vẫn tiếp tục đua đòi lối sống thực dụng và ngày càng coi thường gia đình Tôi, xấc láo với ba Tôi. Chú Tôi mất tích vẫn chưa tìm thấy. Chuỗi tràng hạt và bức ảnh Đức Mẹ của ông tôi vẫn không tìm thấy. Ba Tôi sẽ làm gì để mẹ Tôi đỡ phải gò lưng ngồi may, và Tôi sẽ phải làm gì để có thể là một người đàn ông như mong mỏi của người vợ (trước đó Tôi vẫn chưa hoàn thành việc đánh máy thuê tập bản thảo do chị đưa cho, thay vào đó Tôi chỉ chơi game). Nếu vợ Tôi bỏ, Tôi biết đi đâu khi“Tôi biết tôi sẽ không chịu nổi khi phải sống trong cái trại thương binh với sái chiếc giường sắt đặt trong cùng một căn phòng ba chục mét vuông cùng với sáu chiếc xe lăn, sáu cái cà mèn, sáu cái chén ăn cơm, sáu đôi đũa, sáu cái ly uống nước, sáu cái bô có nắp đậy…và một cái phòng vệ sinh chật hẹp”(tr 93, sđd).

Sự chênh vênh này của ngòi bút Bích Ngân là có thể hiểu được bởi vì đây là tiểu thuyết đầu tay của chị, chị lại viết về một đối tượng khó (người tật nguyền), lại chọn lựa một cách viết đòi hỏi trình độ tư tưởng và trải nghiệm nào đấy.

Vì thế, tác phẩm cũng treo lơ lửng giữa bờ hiện thực với những đòi hỏi tích cực của một sứ mệnh văn chương, và giữa bờ Hiện sinh là một cuộc tra vấn tư tưởng. Làm thế nào để chữa lành Con Người Tật Nguyền giữa thế giới còn sự hiện diện của cái ác (tr. 268, sđd).

Cả hai bờ vực này ngòi bút Bích Ngân chưa vượt qua được.

***

Tôi tin rằng các nhà phê bình sẽ còn nói đến tác phẩm này nhiều nữa, bởi Thế giới xô lệch còn nhiều khoảng trống đòi buộc người đọc phải lấp đầy, và tác phẩm này có khả năng đáp ứng những “tầm đón đợi” mới ở tương lai.

Tôi nghe được tiếng kêu bi thiết của CON NGƯỜI TẬT NGUYỀN trong Thế giới xô lệch, ngay cả khi họ còn đủ tứ chi. Nhân vật người anh nói: “nhiều lúc con thấy mình còn quẻ quặt, tật nguyền hơn cả thằng út nữa” (tr.290, sđd). Và người chị, “Chắc cũng không khác gì tôi, chị cũng mang thương tích, cũng cắn răng chịu đau. Và, có lẽ chị cũng đang sống cùng với nỗi đau” (tr.254, sđd). Khi nào những “con người tật nguyền” trong xã hội này chưa được băng bó vết thương, được chia sẻ nỗi đau, được yêu thương chăm sóc thì người ta còn phải tra vấn về sự tồn tại của kiếp người. Thế giới xô lệch là một chia sẻ giàu tính nhân văn, chia sẻ về “thứ ánh sáng…không chỉ có ở thiên đường mà đang tràn ngập ở đây, nơi những con người lạc mất nhau đã tìm thấy nhau” (tr.309, sđd).

Tiếp cận được kiểu loại tác phẩm tư tưởng, Thế giới xô lệch là một đóng góp có giá trị cho văn chương Việt Nam đương đại, bởi kiểu loại tác phẩm này còn thưa thớt (Cùng thời với Thế giới xô lệch có tiểu thuyết Song Song của Vũ Đình Giang. 2007, tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc của Nguyễn Danh Lam, 2010). Điều này giúp ta hiểu được, dù đã được xuất bản 10 năm trước đây, Thế giới xô lệch vẫn mang nguyên vẹn hơi thở của thời đại.

Tháng 6. 2019

___________________

[1] Thế giới xô lệch nhưng Bích Ngân vẫn hiền lành:

http://toquoc.vn/the-gioi-xo-lech-nhung-bich-ngan-van-hien-lanh-99105865.htm

[2] Nhà văn Bích Ngân viết về cuộc chiến thời bình của thương binh

http://sankhau.com.vn/news/nha-van-bich-ngan-viet-ve-cuoc-chien-thoi-binh-cua-thuong-binh.aspx

[3] Bích Ngân trả lời phỏng vấn

https://vnexpress.net/giai-tri/bich-ngan-con-nguoi-ai-cung-co-luc-xo-lech-2136982.html

[4] Tham luận Hội thảo khoa học quốc gia Thế hệ nhà văn sau 1975, 

       do Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tổ chức 28/4/2016

https://trieuxuan.info/?pg=tpdetail&id=15493&catid=6

[5]  trong vở kịch No Exit, nhân vật Garcin đã thốt lên: “Tha nhân là đa ngc.”

“Hell is other people” (Jean-Paul Sartre, No Exit, translated by Stuart Gilbert).

 

 

THƠ TÔ THÙY YÊN

THƠ TÔ THÙY YÊN

TÔ THÙY YÊN 1

Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sanh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định.

Ông sáng tác thơ và có thơ được đăng báo từ năm 16 tuổi! Đến cuối năm 1956, ông đã tham gia nhóm Sáng Tạo (gồm Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, và Thái Tuấn)

Trước 1975,  ở miền Nam, ông bị động viên, nhập ngũ từ năm 1964 đến 1975, Chức vụ sau cùng là Thiếu tá trong quân đội VNCH. Sau 1975, ông đi cải tạo 13 năm. Từ năm 1993, ông định cư ở Mĩ. Ông từ trần tại Houston. CA. 21/5/2019

Các nhà thơ Du Tử Lê, Tô Kiều Ngân, Ý Nhi và các nhà nghiên cứu phê bình Thụy Khuê, Đặng Tiến, Nguyễn Vy Khanh, Bùi Vĩnh Phúc, Trần Hữu thục, Nguyễn Đức Tùng, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Mạnh Trinh… đã có những bài viết rất hay về thơ Tô Thùy Yên. Nguyễn Hưng Quốc nhận định Tô Thùy Yên “là một trong những nhà thơ lớn nhất của miền Nam trong giai đoạn 1954-75, hơn nữa, cũng là một trong những nhà thơ lớn nhất của Việt Nam nói chung trong cả nửa sau thế kỷ 20

Để có thể xác định Tô Thùy Yên là một nhà thơ lớn và là một “nhà thơ lớn nhất của Việt Nam nói chung trong cả nửa sau thế kỷ 20“như nhận xét của Nguyễn Hưng Quốc thì cần có những hội thảo, những nghiên cứu sâu rộng trên cả một nền thơ  Việt Nam. Ý kiến của một người chỉ là góc nhìn riêng, và góc nhìn riêng thì thường là rất hẹp.

Theo quan sát của tôi, một nhà thơ lớn phải là nhà thơ có tư tưởng lớn, cũng là người tự đặt được cột mốc nghệ thuật trong tiến trình phát triển của lịch sử văn chương dân tộc và mở ra một trào lưu sáng tác sau đó. Nhà thơ lớn là người nói được tiếng nói của thời đại và tác phẩm của ông ta phải được công chúng rộng rãi biết đến, công nhận và yêu thích.

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ như vậy. Tư tưởng yêu nước của ông là tư tưởng tiến bộ vượt không gian thời gian. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc và Lục Vân Tiên của ông là những cột mốc trong lịch sử văn học. Hình tượng người nông dân dánh giặc anh hùng lần đầu tiên đi vào văn chương Việt Nam qua trang thơ Nguyễn Đình Chiểu và sau đó trở thành hình tượng trung tâm của văn chương kháng chiến. Quan điểm văn chương chiến đấu của Nguyễn Đình Chiểu là quan điểm có nguồn gốc truyền thống, và sau ông vẫn được kế thừa. Ông trở thành nhà văn của nhân dân.

Tôi nghĩ Tô Thùy Yên chưa có được tầm vóc đó, dù khuộn mặt thơ của ông có góc cạnh. Thơ ông có tư tưởng nhưng chưa định hình một tư tưởng của riêng ông, và cũng ở mặt tư tưởng, thơ ông bị hạn chế đối với công chúng trong nước, nghĩa là tư tưởng của ông chưa vượt qua được thời đại. Ông có đóng góp vào sự đổi mới thi ca ở miền Nam những năm 1960 và một số bài thơ của ông được yêu mến ở miền Nam đương thời. Bài thơ Chiều trên phá Tam Giang được Trần Thiện Thanh phổ nhạc một phần có làm thơ ông vang xa. Dù vậy, qua bóng dáng của ông tôi thấy thấp thoáng Bùi Giáng, Phạm thiên Thư, và Trường Sa hành có cái lãng tử của Nguyễn Bính, có cái day dứt của Thâm Tâm…

Vâng, cũng chỉ là cảm nhận chủ quan.

Thơ Tô Thùy Yên là thơ hiện thực vươn lên thơ tư tưởng, là thơ hiện đại nhưng đậm màu sắc cổ điển, là khí chất bi tráng của “Cái Ta thất bại” có bóng dáng từ Cao bá Quát, hoặc xa hơn nữa (Đỗ Phủ). Không phải vô tình, trong trại cải tạo, lúc thèm đọc thơ quá, Tô Thùy Yên từng ghi lại bằng chữ Hán bài  “Đồng Cốc Huyện Chung cư Thất ca” của Đỗ Phủ cho lão nhà thơ Hà Thượng Nhân.

Tôi đọc thơ Tô Thùy Yên với một xúc động sâu xa những gì ông viết về kiếp người. Cái hay của thơ Tô Thùy Yên chỉ có thể cảm nhận mà không cần phân tích. Dù vậy, người đọc cần có vốn tri thức và sự trải nghiệm. Bởi chính cuộc đời trải nghiệm bể dâu của ông đã làm nên thơ ông. Ông đã vượt qua được “Hố thẳm tư tưởng”(chữ của Phạm Công Thiện) để tiếp cận tư tưởng Thiền, bao dung và nhân ái.

Tôi chia sẻ tư tưởng này của ông về thi ca: “…Đặc biệt, trong những tình huống cực kỳ chông chênh, nghiệt ngã, sinh tử mà chính con người bị đọa đày dìm đắm vào đó, bị đặt để trước nguy cơ thường trực của sự trấn lột chính cái nhân phẩm còn sót lại của mình, thơ, hơn bao giờ hết đã chứng tỏ một cách mãnh liệt cái khả năng siêu việt gần như là tôn giáo của thơ. Trong những tình huống đó, rất nhiều người đã nương tựa vào thơ, để mà gìn giữ lấy mình, để mà sống sót với tư cách là con người…”(Bài nói tại Seattle Public  Library 26/7/1997)

Không nhà thơ nào vượt qua được bối cảnh lịch sử chi phối mình, thế nên nói về thơ Tô Thùy Yên lúc này cần đặt mình trong tâm thức dân tộc để trân trọng cả những vinh quang và đau đớn mà dân tộc đã trải qua trong chiến tranh.

Nhiều người đọc cho rằng những bài thơ sau đây là những bày thơ hay của Tô Thùy Yên:

Chiều trên Phá Tam Giang (1972). Hề, Ta Trở Lại Căn Nhà Cỏ (1972). Đêm qua Bắc Vàm Cống. Anh Hùng Tận, Trường Sa hành (1974). Đãng tử. Tưởng tượng ta về nơi bản trạch. Mùa hạn (Nghệ Tĩnh 1979). Ta về (1985). Thắp Tạ…

Xin trích vài câu thơ của Tô Thùy Yên:

CÁNH ĐỒNG CON NGỰA CHUYẾN TÀU

Trên cánh đồng hoang thuần một màu,
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu.
Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau.
Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu.
Cỏ cây, cỏ cây lùi chóng mặt.
Gò nổng cao rồi thung lũng sâu.
Ngựa thở hào hển, thở hào hển.
Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau.
Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn.
Ngựa gục đầu, gục đầu, gục đầu.
Cánh đồng, a! cánh đồng sắp hết.
Tàu chạy mau, càng mau, càng mau.
Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ,
Chấm giữa nền nhung một vết nâu.
                      (4-1956)
TA VỀ

“Ta về – một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai…
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ?
Mười năm, đá cũng ngậm ngùi thay..

……

Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thuở trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta”

(Ta về 1985)

TẶNG PHẨM

“Thắp tạ càn khôn một vô ích
Thắp tạ nhân quần một luyến thương

Thức cho xong bài thơ
Mai sớm ra đi
Cài hờ lên cửa tặng”

***

ĐƯỜNG LÊN NÚI CÚI-Chương 6

Đường lên Núi Cúi -Chương 6

Bùi Công Thuấn

 

 

 

 

        Thưa Đức cha! Đến hôm nay Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Núi Cúi đã được phép xây dựng và đang thi công, trong tương lai gần sẽ hoàn thành. Chúng con muốn Đức cha cho biết có nguyên nhân động cơ nào dẫn đến thành công này không?

Đức cha Đaminh rất vui:

-Tôi có thể trả lời ngay với thầy. Nguyên nhân đưa đến thành công này có nhiều: nguyên nhân xa, nguyên nhân gần. Xa như sự thành công của Đại hội FABC (Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục châu Á) và những cuộc viếng thăm cấp cao của các vị lãnh đạo Nhà nước (về Tôn giáo). Nguyên nhân gần như Lễ Kim Khánh Linh mục của Đức cha Giáo phận.

***

 

 FABC & NHỮNG SỰ KIỆN

(FABC: Federation of Asian Bishops’ Conferences)  

fabc-3

         Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) lần thứ X là một sự kiện có ảnh hưởng quan trọng đối với Giáo hội Việt Nam và đặc biệt với giáo phận Xuân Lộc. Lần đầu tổ chức một hội nghị quốc tế về tôn giáo ở Việt Nam, Hội đồng giám mục Việt Nam hiểu những khó khăn mình sẽ gặp phải.

         Trả lời phỏng vấn Ban Biên tập WHĐ (trang web của Hội đồng Giám mục Việt Nam) về FABC, Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận thành phố Hồ Chí Minh nhận định [1]:

Tôi thấy có một số trở ngại từ cả đôi bên. Nhìn bề mặt là những thủ tục hành chánh phức tạp. Nhìn chiều sâu, là sự nghi ngờ và sợ sệt từ đôi bên. Song cho đến nay, xem ra đôi bên hiểu nhau hơn, nhất là biết rõ hơn về chủ đề của Hội nghị X là Loan Tin Mừng Sự Sống và Tình Thương của Chúa Giêsu Kitô nhằm đáp lại những thách đố trong xã hội Á châu hôm nay. Và đôi bên có những bước mở đường cho nhau vượt qua những nghi ngại.

          Đức Hồng Y còn kể tiếp câu chuyện: Đầu năm 2011, Ban Thường Vụ FABC có mời tôi dự cuộc họp ở Bangkok. Vị Tổng Thư ký có đặt cho tôi hai câu hỏi: (1) Nhà nước Việt Nam có cho các thành viên FABC nhập cảnh không? (2) Nếu tổ chức tại Việt Nam, các tham dự viên Hội nghị X có được tự do phát biểu không?

Tôi trả lời: (1) Xem ra Nhà nước Việt Nam muốn cho tổ chức Hội nghị IX tại Việt Nam, nên tôi nghĩ rằng Nhà nước sẽ cho các tham dự viên nhập cảnh; (2) Năm 2010, Hội đồng Giám mục Việt Nam có tổ chức Đại Hội Dân Chúa Việt Nam với sự tham dự của đại diện 26 giáo phận tại Việt Nam, cùng một số đại diện những Giáo hội ngoài Việt Nam và có cộng đoàn công giáo Việt Nam. Tôi thấy mọi người phát biểu cách tự do, tất nhiên theo chủ đề Hội đồng Giám mục Việt Nam nêu ra, là xây mới Giáo hội tại Việt Nam thành Giáo hội mầu nhiệm – hiệp thông – sứ vụ. Sau đó FABC quyết định tổ chức Hội nghị X năm 2012 tại Việt Nam.

          Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm thông báo những tín hiệu vui từ phía chính quyền Việt Nam [2]: “Chúng tôi đã thông báo cho Chính quyền biết. Chính quyền đã có văn thư trả lời, và đề nghị xúc tiến việc thực hiện thủ tục nhập cảnh cho các Giám mục và chuyên viên thần học đến dự hội nghị. Ngày 23 tháng 11 vừa qua, Cục Quản lý xuất nhập cảnh đã thông báo cho chúng tôi biết: (1) Đồng ý cho 118 khách được nhập xuất cảnh Việt Nam, theo danh sách đính kèm; (2) Những khách này được nhận thị thực tại sân bay quốc tế. Như thế, coi như mọi sự đang tiến hành tốt đẹp.

Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh, Giám mục Giáo phận Xuân Lộc, nơi đăng cai tổ chức hội nghị, trả lời phỏng vấn Ban Biên tập WHĐ:

Phóng viên: Để đón tiếp một hội nghị có tầm vóc khu vực như thế, chúng con hình dung Đức cha phải lo lắng và vất vả nhiều. Đức cha có thể cho chúng con biết đôi chút về sự chuẩn bị đó không?

Đức cha Đaminh xác nhận:

Đúng là chúng tôi rất lo lắng và vất vả. Nhà cửa, phòng ốc phải tu sửa lại, các trang bị nội thất cũng phải coi lại, phải bổ sung hoặc thay thế. Chẳng hạn phải trang bị cho phòng họp chính và 9 phòng họp nhóm của Hội nghị, các phòng phải được trang bị máy lạnh v.v… Chúng tôi chưa có kinh nghiệm về việc tổ chức một hội nghị như thế này nên nhiều khâu chuẩn bị phải dò dẫm. Việc trang trí cho Hội nghị cần nhiều sáng tạo, công phu. Chúng tôi có nhờ những chuyên gia nghệ thuật trợ giúp, để nhân đó, trình bày cho Hội nghị những nét văn hoá nghệ thuật đặc trưng của dân tộc; rồi khâu ẩm thực chẳng hạn, cũng là một vấn đề rất phức tạp.”[3]

Đức cha nói thêm:

-Trả lời phỏng vấn chỉ khái quát thế. Trong thực tế thì nhiều việc lắm. Thí dụ, bố trí chỗ ở và làm việc cho khoảng 250 vị khách quốc tế sao cho có đủ những tiện nghi tôi thiểu, phải có Internet băng thông rộng để đưa tin. Cái này mình phải thuê riêng. Đặc biệt là vấn đề bảo đảm an ninh cho Hội nghị, tôi đề nghị Chính quyền bảo vệ vòng ngoài. Tòa Giám mục chịu trách nhiệm bên trong. Đến cả vấn đề ẩm thực cũng phải được bảo đảm an toàn tuyệt đối, thực phẩm lấy nguồn từ đâu, được kiểm tra thế nào, nấu nướng khẩu vị ra sao. Xin lưu ý rằng các Đức Hồng y và các Đức Giám mục ở châu Á có khẩu vị rất khác nhau…

Đấy là về điều kiện ăn ở và làm việc, còn việc tổ chức đón tiếp, tổ chức Đêm Văn hóa Việt Nam như một điểm nhấn nữa, công phu lắm! Trước đó gần 2 tháng, Ban Giáo dân-giáo phận do Đức Ông Vinh sơn chủ trì đã họp bàn về những công việc cụ thể. Phải huy động đến vài ngàn người tham gia tổ chức.

***

CacDaiBieu

(Các đại biểu)

BẢN TIN TỔNG HỢP VỀ FABC LẦN THỨ X

 

Chúa nhật 9-12-2012, Đức hồng y Oswald Gracias, Tổng thư ký Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC), cùng với một số Giám mục và chuyên viên của FABC đã đến phi trường Tân Sơn Nhất để chuẩn bị tham dự Đại hội toàn thể FABC lần thứ X tổ chức tại Tòa Giám mục Xuân Lộc, Việt Nam.

Riêng Đức hồng y Oswald Gracias đã cùng Đức hồng y Gaudencio Borbon Rosales (Đặc sứ của Đức Thánh Cha tại Đại hội X FABC), Đức Tổng Giám mục Leopoldo Girelli (Đại diện không thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam), và Đức Hồng y GB. Phạm Minh Mẫn ra Hà Nội, cùng với Đức Tổng Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn (Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam) đến thăm xã giao Chính quyền Việt Nam trước khi khai mạc Đại hội.

Hội đồng Giám mục Việt Nam đã cử Ðức cha Phaolô Bùi Văn Ðọc, Giám mục Mỹ Tho, và Ðức cha Phêrô Nguyễn Văn Ðệ, Giám mục Thái Bình, đi dự Hội nghị.

Ban Biên tập WHĐ phỏng vấn Đức cha Phao lô Bùi Văn Ðọc, ngài cho biết nội dung chính của Hội nghị lần này là:

– Hội nghị toàn thể của Liên Hội đồng Giám mục Á châu lần này, vì là kỷ niệm 40 năm thành lập và quy chế được Toà Thánh Vatican phê chuẩn vào năm 1972, nên đã chọn chủ đề: Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) kỷ niệm 40 năm – Ðáp lại những thách đố tại châu Á. Hội nghị sẽ nhìn lại các sinh hoạt và đường lối đã vạch ra trong 40 năm qua, và chúc tụng tạ ơn Thiên Chúa; cố gắng phân định các dấu chỉ của thời đại và cầu nguyện xin Ơn Khôn ngoan; cùng nhau suy nghĩ trong cái nhìn đức tin về bối cảnh mục vụ hiện nay tại châu Á, và xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn Giáo hội; suy nghĩ về cách thức đáp ứng những thách đố trên bình diện mục vụ, xin ơn quảng đại và can đảm. Sau cùng Hội nghị muốn nói lên sự quyết tâm dấn thân mới mẻ và quyết liệt hơn cho Giáo hội tại Á châu.

Trong hội nghị, Ðức cha Phaolô chia sẻ tham luận:

-Bài tham luận của tôi nhắc lại đường lối đối thoại theo ba hướng mà Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) đã đề ra ngay từ khi mới thành lập (Tài Liệu Làm Việc, số 5) là: hướng về người nghèo, hướng về các nền văn hoá, hướng về các tôn giáo, tôi có đề nghị nên cùng nhau suy nghĩ về một hướng thứ tư, là đối thoại với xã hội vô thần duy vật. Tôi có nhắc tới sự hướng dẫn tích cực của Ðức Thánh Cha Bênêđictô XVI trong dịp các Giám mục Việt Nam đi viếng mộ hai thánh Phêrô và Phaolô năm 2009.

Trong phần thứ hai, tôi nhắc lại số 17 đề cập đến một “văn hoá mới” đang lan rộng tại châu Á và làm đảo lộn những giá trị cổ truyền, do ảnh hưởng của việc toàn cầu hóa, tạo ra một não trạng “duy thế tục”, duy vật, duy hưởng thụ, duy tương đối. Trong thực tế hiện nay, não trạng này cũng khá phổ biến ở Việt Nam, giống như ở nhiều nước Á châu khác. Não trạng này, nếu không được lưu ý kịp thời, có thể làm xói mòn các niềm tin tôn giáo, và ngay cả đời sống đức tin Kitô giáo.

Trong phần thứ ba, tôi đề cập tới những nỗ lực của Giáo hội tại Việt Nam, tiêu biểu là Ðại hội Dân Chúa năm 2010, một cố gắng nhìn lại của Giáo hội tại Việt Nam để hướng tới việc sống đức tin sâu xa hơn, trên cả ba bình diện mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ, để làm chứng cho Tin Mừng về Tình Yêu của Thiên Chúa trên Quê hương Ðất Nước Việt Nam và tất cả những nơi mà có người Việt Nam Công Giáo hiện diện.

Cuối cùng, Ðức Cha Phaolô bày tỏ ước mong của ngài:

– Cũng như một số Ðức cha Việt Nam khác, tôi mới biết Liên Hội đồng Giám mục Á Châu (FABC), vì từ trước tới nay, chúng tôi ít có dịp giao lưu, nhưng lần này tôi hy vọng sẽ là “một sự bắt đầu mới” của Giáo hội tại Việt Nam hội nhập vào khu vực Á châu, một sự hội nhập rất cần thiết, vì rõ ràng Việt Nam là một quốc gia Á châu, dân tộc Việt Nam là một dân tộc Á châu. Chắc chắn chúng ta có rất nhiều điểm chung với các Giáo hội chị em tại Á châu. Sự hiệp thông giữa các Giáo hội địa phương tại châu Á sẽ làm cho Giáo hội trở nên năng động hơn, vui tươi hơn, và hỗ trợ nhau cách hữu hiệu hơn trong việc loan báo Tin Mừng cho chư dân và việc Tân Phúc âm hoá.

Tôi tin vào cái nhìn tiên tri của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II: Thế kỷ 21 là thế kỷ của châu Á. Chúng ta hãy mạnh dạn giới thiệu gương mặt Chúa Giêsu cho các dân tộc Á châu, cho các nền văn hoá Á châu. Chắc chắn Ngài sẽ thu phục được những con người Á châu, vì chính Ngài cũng là một người Á châu như mọi người Á châu chúng ta. Ngài sẽ ban cho chúng ta Thần Khí Phục sinh của Ngài, và càng ngày sẽ càng có thêm người được chia sẻ Tình Yêu và Sự Sống của Ngài. Ngài sẽ đẩy lùi “nền văn hoá sự chết” khỏi lục địa Á châu. (Ban Biên tập WHÐ)

THÁNH LỄ KHAI MẠC FABC LẦN THỨ X

Sáng nay (ngày 11-12-2012), đông đảo các Linh mục Giáo phận Xuân Lộc, tu sĩ nam nữ đại diện các dòng tu, đại diện qúy chức Ban Hành giáo và Ban Trị sự các giới trong Giáo phận cùng một số khách mời đã quy tụ về Tòa Giám mục Xuân Lộc dự Thánh lễ khai mạc Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á Châu (FABC) và kỷ niệm 40 năm thành lập FABC (1972- 2012).

Cùng tham dự lễ khai mạc có đại diện Ban Tôn giáo Chính phủ, chính quyền địa phương, và đại diện các tôn giáo bạn.

Trước khi Thánh lễ bắt đầu, Hội nghị đã chụp hình lưu niệm chung trong khuôn viên Tòa Giám Mục Xuân Lộc và trong hội trường chính.

Đúng 9 giờ, Đức hồng y Gaudencio Borbon Rosales đặc sứ của Đức Thánh Cha cử hành Thánh lễ Khai mạc tại nhà nguyện tòa Giám Mục Xuân Lộc. Rước chủ tế là các Chủng sinh Đại Chủng viện Xuân Lộc và hơn 230 linh mục giáo phận hiện diện cùng đồng tế.

Trong bài chia sẻ Tin Mừng nói về người mục tử đã bỏ 99 con chiên tốt để đi tìm một con chiên lạc, Đức hồng y đặc sứ so sánh với tình hình ở Á châu. “Tại Á châu, Kitô hữu rất ít, nên có thể nói ở châu lục chúng ta có tới 99 con chiên lạc, và chỉ có 1 con chiên ở trong chuồng! Mà Chúa thì không muốn mất một con chiên nào! Dù chỉ một con chiên lạc, Ngài cũng bỏ tất cả để đi tìm! Huống hồ là 99 con lạc! Vậy trách nhiệm của chúng ta là gì?

Sau lễ, Đức Hồng y Đặc sứ công bố Sứ điệp của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI gởi cho Hội nghị FABC X tổ chức tại Xuân Lộc, Việt Nam. Đức ông Giuse Đinh Đức Đạo tóm dịch: Nội dung có ba phần chính: Qúa trình hình thành FABC; quá khứ FABC đã diễn ra chuyện gì và hướng tới tương lai.

Cuối cùng ngài chuyển Phép lành Tòa thánh của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đến mọi thành phần dân Chúa. Vị Đặc sứ khẳng định: Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI luôn đồng hành với FABC.

          Đức Tổng giám mục Léopoldo Girelli đón tiếp phái đoàn Chính phủ đến thăm tại phòng khách Toà Giám mục Xuân Lộc.

Thánh lễ khai mạc kết thúc vào lúc 10 giờ 30.

KHAI MẠC HỘI NGHỊ        

Lúc 10g30 Đại hội cử hành nghi thức khai mạc tại Tòa Giám mục Xuân Lộc.

Một cuộc rước trọng thể đưa phái đoàn FABC cùng với đại diện chính quyền và đại diện các tôn giáo bạn đi từ Toà Giám mục vào Hội trường Đại Chủng viện.

Chương trình bắt đầu bằng tiết mục biểu diễn trống của các nữ tu dòng Nữ tỳ Chúa Giêsu Linh mục.

Sau đây là diễn tiến chương trình:

Lm. Raymond Leslie O’Toole, Thư ký thường trực của FABC cám ơn và giới thiệu chương trình.

Ông Trưởng Ban Tôn giáo Tỉnh Đồng Nai giới thiệu phái đoàn chính quyền và tôn giáo bạn.

Đức Giám mục Đaminh Nguyễn Chu Trinh, Giám mục Chính toà Xuân Lộc chào mừng Đại hội.

Đức Tổng Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam nói về Giáo hội Việt Nam và FABC.

Đức Hồng y Oswald Gracias, Tổng thư ký FABC trình bày sơ lược 10 Đại hội FABC.

Đức Tổng Giám mục Léopoldo Girelli, Đại diện không thường trú của Đức Thánh Cha tại Việt Nam nói về FABC và năm Đức Tin.

Đức Hồng y Gaudencio Borbon Rosales, Đặc sứ của Đức Thánh Cha tại Đại hội X FABC chuyển sứ điệp của Đức Thánh Cha đến Đại hội và dân tộc Việt Nam.

Ông Phạm Dũng, Thứ trưởng Bộ Nội Vụ, Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ chúc mừng Đại hội.

Đức Hồng y GB. Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận thành phố Hồ Chí Minh diễn tả tâm tình của giáo dân Việt Nam đối với Đại hội.

Chương trình khai mạc chấm dứt bằng vũ khúc “Dân ca ba miền” của các nữ tu dòng Mến Thánh Giá Xuân Lộc.

Trước khi ra về, phái đoàn Chính quyền đã trao tặng Đại hội FABC X những lẵng hoa thật lớn và thật đẹp.

Phái đoàn FABC sau đó dùng cơm trưa vào lúc 13g30, và phiên họp đầu tiên của Đại hội đã bắt đầu vào lúc 16g. Với giờ cầu nguyện Taizé lúc 20g30, ngày khai mạc Đại hội FABC X đã kết thúc trong bình an.
Tường thuật nghi thức khai mạc

 

200 thanh niên nam nữ của giáo xứ Ninh Phát, và một số giáo xứ hạt Xuân Lộc trong màu áo dài hồng, và khăn đóng, áo thụng màu vàng đồng, đón các đại biểu dọc theo đường đi của tiền sảnh Tòa Giám mục sang hội trường Đại Chủng viện.

Gần 600 nhạc công các ban nhạc kèn của một số giáo Hạt trong giáo phận Xuân Lộc như của Hạt Gia Kiệm (300), Hạt Xuân Lộc (120), Hạt Hòa Thanh (100) và Hạt Biên Hòa (70) đứng kín một phần sân của Đại Chủng viện.

Đội trống của giáo xứ Bắc Hải, Hố Nai 145 người mang lễ phục ngày hội của truyền thống Việt Nam. Và hơn 100 đồng bào Công Giáo người  dân tộc  với trang phục của mình  đã sắp hàng ngay thẳng trước sân còn lại của Đại Chủng viện để đón các thành viên của Hội nghị và các vị khách quý tiến vào hội trường Đại Chủng viện khai mạc hội nghị.

Khoảng hơn 11 giờ trưa, đoàn rước quý đại biểu dự hội nghị, quý đại diện chính quyền, các tôn giáo bạn từ tiền sảnh Tòa Giám Mục sang Hội trường Đại Chủng viện giữa những tiếng pháo tay giòn giã, không dứt, giữa những nhạc kèn, tiếng trống hào hùng âm vang.

Dẫn đầu đoàn là các thanh niên trong trang phục dân tộc áo dài màu vàng đầu đội khăn đóng mang 40 logo của FABC đi đầu đoàn rước. Mỗi Logo giơ cao lên là biểu tượng của một năm FABC hoạt động.  Sau đó là các vị Tổng Đại diện của các giáo phận tại Việt Nam do Đức Ông Vinhsơn Đặng Văn Tú, Tổng Đại diện Giáo phận Xuân Lộc đi đầu. Tiếp theo là các Đức Giám mục và các thành viên văn phòng của Hội nghị.

Sau đó nổi bật là 40 chàng trai trong trang phục lính triều đình ngày xưa, cầm 40 lọng vàng đứng ngay hàng trực đón quý đại biểu. Họ đón các vị khách quý đai diện Chính Quyền và các tôn giáo, và các vị Tổng Giám mục, Hồng y đại biểu.

Sáu vị đi cuối cùng đoàn rước là Đức Cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh, (Giám mục Xuân Lộc chủ nhà) Đức Tổng Giám mục Phêrô Nguyễn văn Nhơn, (Chủ Tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam) Đức Hồng Y GB Phạm minh Mẫn, (Tổng Giám mục Tổng giáo phận thành phố Hồ Chí Minh)  Đức Tổng Giám mục Leopoldo Girelli (Đại diện không thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam), Đức Hồng y Oswald Gracias (Tổng Thư ký FABC) và Đức hồng y Gaudencio Borbon Rosales (Đặc sứ của Đức Thánh Cha tại Đại hội X FABC). Ngoài lọng vàng trang trọng, còn có các thầy Đại Chủng viện thánh Giuse Xuân Lộc cầm sẵn dù trong tay để che nắng cho từng vị đại biểu.

Mở  đầu lễ  khai mạc là “Tiếng trống khai hội” của 20 diễn viên múa trống rất nghệ thuật và điêu luyện của quý Dì thuộc Hội dòng Nữ Tỳ Chúa Giêsu Linh mục. Trong trang phục áo dài vàng truyền thống, với những tiếng trống hào hùng, âm vang góp phần làm hưng phấn ngay từ những phút đầu tiên.

Sau phần trình diễn đặc sắc của tiếng trống truyền thống, Cha Raymond Leslie O’Toole, Thư ký điều hành Hội nghị FABC, và Đức ông Giuse Đinh Đức Đạo, Giám đốc Đại Chủng viện Thánh Giuse Xuân Lộc phụ trách phiên dịch ngồi vào bàn điều hành phía trên sân khấu để bắt đầu chương trình Lễ Khai Mạc.

Trước khi các Đức Hồng Y, Tổng Giám mục có diễn văn khai mạc, ông Trưởng Ban Tôn giáo tỉnh Đồng Nai giới thiệu cùng quý đại biểu Hội nghị FABC những vị đại diện các cấp chính quyền từ Trung ương đến tỉnh Đồng Nai và thị xã Long Khánh; cùng đại diện các tôn giáo bạn: Phật giáo, Cao Đài Tây Ninh, và Tin Lành về dự lễ khai mạc. Đáng lưu ý, có sự hiện diện của ông Phạm Dũng, Thứ trưởng Bộ Nội Vụ, Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ; ông Dương ngọc Tấn, Phó trưởng Ban Tôn giáo Chính Phủ; ông Trần Hoàng Thám, Phó chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ông Nguyễn Thành Trí, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai.

          Lời chào mừng của Đức Giám mục Xuân Lộc.

Trong diễn văn chào mừng – khai mạc, Đức cha Đaminh Nguyễn chu Trinh, Giám mục Giáo phận Xuân Lộc chào mừng Đức Hồng y Gaudencio Borbon Rosales (Đặc sứ của Đức Thánh Cha), Đức Hồng y Oswald Gracias (Tổng Thư ký FABC), Tổng Giám mục Leopoldo Girelli (Đại diện không thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam), quý Đức Hồng y, Tổng Giám mục, Giám mục, tất cả quý Đại biểu về dự Đại hội FABC. Ngài cũng chào mừng quý vị đại diện các cấp chính quyền từ  Chính phủ, đến cấp Tỉnh, cấp Thị xã, đến quý vị đại diện các tôn giáo bạn… Đức cha Đaminh thay mặt cho Đức cha Phụ tá Tôma, cùng 475 Linh mục, 1692 Tu sĩ nam nữ, 237 Chủng sinh và gần một triệu giáo dân thuộc Giáo phận Xuân Lộc gởi lời trân trọng đến tất cả quý vị về dự lễ Khai mạc FABC, nhất là dâng lên Đức Thánh Cha lòng kính trọng trong sự hiệp thông và yêu mến vâng phục.

Đức cha Đa Minh cũng cho biết, cùng với Tổng giáo phận thành phố Hồ Chí Minh, Giáo phận Xuân Lộc đã huy động mọi tài lực, nhân lực để góp phần tổ chức tốt nhất cho Đại hội FABC gặt hái nhiều thành công tốt đẹp. Vì là lần đầu tổ chức Hội nghi FABC tại Giáo phận Xuân Lộc và Tổng giáo phận Tp.HCM, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, mong quý Đại biểu thông cảm. Cuối diễn văn khai mạc, Đức Cha Đaminh kính chúc quý Đại biểu tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần, quý khách đầy an bình hạnh phúc, chúc hội nghị FABC X thành công.

           Lời chào mừng của Chủ Tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam

Tiếp theo đó, Đức Tổng Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, nhân danh các Giám mục Việt Nam, toàn thể dân Chúa, gởi lời chào mừng đến các Đại biểu của Hội nghị, đặc biệt đến vị Hồng Y Đặc sứ của Đức Thánh Cha. Dân Chúa Việt Nam hết sức biết ơn quý đại biểu Hội nghị FABC. Ngài nhắc qua trang sử vàng Truyền giáo tại Việt Nam. Các Thừa sai là những người tiên phong đem hạt giống Đức Tin đến quê hương Việt Nam. Máu các Thánh Tử Đạo Việt Nam không ngừng vun chăm cho hạt giống Đức Tin lớn mạnh. Đức Cha Chủ tịch nói, qua thực tế, Việt Nam mới chỉ có khoảng 7 triệu tín hữu Công giáo, còn 87% dân số chưa thuộc Kitô hữu Công giáo. Đức Cha nhấn mạnh: Sự hiện diện của quý Đại biểu về dự Hội nghị FABC nhắc nhớ đến sứ vụ Truyền giáo. Ngài xin trao tất cả qua bàn tay Đức Maria.

Đức Tổng Giám mục – Chủ Tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam đã nói lời cám ơn chân thành các cấp chính quyền Việt Nam, cách riêng Giáo phận Xuân Lộc. Theo Ngài, quý vị Đại biểu về dự Hội nghị FABC đều nhận thấy sự trân trọng, hiếu khách, và được tiếp đón hết sức nồng hậu.

 

          Phát biểu của Đức Hồng y Tổng thư ký FABC.

Đức Hồng y Oswald Gracias – Tổng Thư ký FABC là người Ấn Độ, trong bài nói chuyện, Ngài đã nói đôi nét về Lịch sử FABC. Đây chính là hoa trái của Công đồng Vaticano II. Hội nghị FABC lần thứ X còn là kỷ niệm 40 thành lập FABC (1972-2012). Đây là một dịp, một cơ hội để nhìn lại – phân định quá khứ, vừa hướng tới tương lai. Với bầu khí quá tốt đẹp này, Ngài mong muốn có dịp được trở lại Việt Nam. Ngài cũng tin rằng quý Đức Hồng Y, và quý Đức Cha đại biểu rồi sẽ trở về đất nước của mình, nhưng chắc còn để lại trái tim nơi đây.

          Cảm tưởng của Đức Tổng Giám mục Leopoldo Girelli

Vị Đại diện không thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam là Đức Tổng Giám mục Leopoldo Girelli khi bước lên đã  mở lời ‘xin lỗi’, vì sẽ nói một cách bộc khởi, không soạn sẵn. Trước hết ngài có lời chào đến Đức Hồng y đặc sứ Đức Thánh Cha tại hội nghị FABC, ngài nói: vị Đặc sứ là đôi mắt, đôi tay, môi miệng của Đức Thánh Cha. Về dự Hội nghị, gặp gỡ các Đại biểu đại diện Liên Hội đồng Giám mục Á Châu… ngài cảm thấy an bình như thể ở nhà mình. Trước sự hiện diện quý giá của các vị đại diện chính quyền, của các vị khách quý các tôn giáo bạn đã thể hiện tương quan với Giáo hội Việt Nam với quốc gia và dân tộc của mình.

Mượn lời Chúa Giêsu, ngài nói đến việc nhận ra các dấu chỉ thời đại, cụ thể nơi Hội nghị FABC là một dấu chỉ. Hướng đến Năm Sống Đức Tin, ngài cho biết cả Châu Á cần được Phúc Âm hóa. Trong sứ vụ tân Phúc Âm hóa, ngài nhấn mạnh tương quan hai chiều: trong Giáo hội và ngoài Giáo hội, vừa tích cực học hiểu giáo lý đào sâu Đức tin, vừa hướng đến lương dân chưa là Công giáo; ngài đặc biệt chú ý vai trò anh chị em Giáo dân những chứng nhân Tin Mừng sống giữa đời.

Ngài cầu chúc Hội nghị FABC sẽ đem lại nhiều hoa trái trong công cuộc tân Phúc Âm hóa. Vị đại Đại diện Tòa Thánh kết bằng câu tiếng Việt: ‘Đức Thánh Cha yêu các con, yêu anh chị em’.

          Lời phát biểu của Trưởng Ban Tôn giáo Chính Phủ

Ông Phạm Dũng- Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ, trước hết, cảm ơn những lời khen ngợi tốt đẹp của các Đại biểu về đất nước Việt Nam, con người Việt Nam, và Giáo hội Công giáo Việt Nam. Trong bầu khí chuẩn bị Mừng Chúa Giáng Sinh, thay mặt Chính phủ, Ban Tôn giáo Chính phủ, chính quyền các cấp chúc mừng các vị Hồng Y, các vị Giám Mục… Ông cũng kính chúc hội nghị FABC thành công tốt đẹp.

Vị đại diện Chính quyền cũng nói qua tầm quan trọng của FABC trong đời sống Kitô hữu, cách riêng đối với người Công giáo Việt Nam, khi lần đầu tiên tổ chức tại Việt Nam. Ông đánh giá cao Giáo hội Công giáo Việt Nam đã có những đóng góp cho sự nghiệp chung của dân tộc, cho đời sống an bình- ổn định- phát triển, nhất là trong công cuộc đổi mới đất nước. Với sứ vụ yêu thương của Chúa Giêsu, ông nói lại tinh thần thư chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam về “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc”, nhắc lại ý của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI với các Đức Giám mục Việt Nam trong dịp Ad Limina gần đây ‘một người Công giáo tốt cũng là một công dân tốt’. Ông khẳng định lại chính sách nhất quán về tự do tôn giáo của chính phủ Việt Nam. Kết lời phát biểu, ông đã nói một câu mà nhiều người rất tâm đắc: ‘cầu chúc Chúa phù hộ cho tất cả chúng ta’.

Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn

Phát biểu cuối cùng, Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục-Tổng Giáo phận Tp.Hồ Chí Minh nói lên trong ngày khai mạc hội nghị FABC lần thứ X này ‘ba lời cám ơn”.

Lời cám ơn đầu tiên xin gởi đến tất cả quý Đức Hồng Y và Quý Đức Tổng Giám mục, quý Đức Giám mục đại biểu các nước trong khu vực Á châu về dự hội nghị FABC. ‘Ngôi nhà Việt Nam’, với sự hiện diện của quý Đại biểu đã mở rộng thêm cánh cửa, đón nhận luồng gió trong lành và tươi mát của sự hiệp thông;

Lời cám ơn thứ hai xin gởi đến Chính phủ Việt Nam, chính quyền tỉnh Đồng Nai đã tạo điều kiện cho Giáo hội giúp xây dựng “Ngôi nhà Việt Nam” thêm tình người, tình huynh đệ, anh em một nhà.

Lời cám ơn thứ ba xin gởi đến mọi thành phần Dân Chúa Việt Nam, cách riêng Giáo phận Xuân Lộc đã tích cực hợp tác với nhiều thành viên các Giáo Phận khác tích cực tổ chức hội nghị FABC; cảm ơn tất cả các vị đã góp phần cho Giáo hội Việt Nam đón tiếp hội nghị FABC trong niềm vui phấn khởi, tình huynh đệ anh chị em một nhà.

Sau cùng Đức Hồng y nói: Ngài xin ‘báo cáo’ những gì nghe thấy từ sáng tới giờ từ phía quý đại biểu, quý khách, trước việc tổ chức đón tiếp nồng hậu của địa phương: ngỡ ngàng vì những điều thật kỳ diệu, thật hoành tráng.

          Kết thúc Nghi thức khai mạc

Lễ khai mạc kết thúc với phần trình diễn các tiết mục múa dân ca ba miền của các nữ tu dòng Mến Thánh Giá Xuân Lộc.

Cha Thư ký Raymond Leslie O’Toole gởi lời cám ơn đến tất cả mọi người đã tích cực làm nên buổi lễ khai mạc sinh động, tốt đẹp. Mọi người dùng cơm chung.

 

***

NGÀY LÀM VIỆC THỨ HAI FABC X:

Xin ơn khôn ngoan để nhận ra dấu chỉ thời đại

 

Thánh lễ buổi sáng lúc 7 giờ do Đức Hồng y GB. Phạm Minh Mẫn chủ tế. Ngài chia sẻ những cảm nhận trong việc đón nhận và sống Lời Chúa cùng Sự Khôn Ngoan của Ngài, nhằm đáp lại những thách đố trong xã hội hôm nay:

  1. Trước hết, sau 15 năm sống và phục vụ trong thành phố của tôi, tôi cảm nhận Chúa Giêsu luôn đồng hành với chúng tôi, như Ngài đã đồng hành với hai môn đệ làng Êmau. Tôi cảm nhận tình yêu của Ngài có đủ năng lực biến đổi những khổ đau và thất vọng, thành cơ hội cho gia đình giáo phận chia sẻ với mọi người niềm tin yêu và hy vọng của mình…
  2. Thứ đến, tôi cảm nhận Chúa Thánh Thần đang ban ơn canh tân lòng trí và mở rộng tầm nhìn, để chúng tôi có thể đáp lại những thách đố gay go của xã hội hôm nay…
  3. Thứ ba, trong khó khăn, thử thách, và cả trong sợ hãi, tôi cảm nhận rằng, với sự dìu dắt của Chúa Giêsu và Thánh Thần của Ngài, cùng sự trợ lực của Thánh Mẫu Maria và các thánh Tử Đạo Việt Nam, nhiều người công giáo… mở rộng lòng trí cùng con tim, lấy tình yêu đáp trả tình yêu của Thiên Chúa đối với mọi người,… cách riêng những người lâm cảnh cùng khổ, và sống bên lề xã hội.
  4. Sau cùng, trong thành phố quá đông dân này, tôi cảm thấy nhiều người cần đến nguồn nước hằng sống của Chúa Giêsu… Do đó, tôi cảm thấy có bổn phận giúp cho mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn công giáo, bước đầu là trở nên giếng nước đầu làng, nơi đó Chúa Giêsu hiện diện và cung cấp nguồn nước trong lành cho mọi người…

Trong ngày, có 3 phiên họp chung và 1 phiên họp theo nhóm.

Ngày thứ hai của Đại hội cũng kết thúc bằng giờ cầu nguyện Taizé.

 

***

NGÀY LÀM VIỆC THỨ BA

 

          Thứ Năm 13-12-2012 Đại hội toàn thể Liên Hội đồng Giám mục Á châu suy tư với chủ đề “Suy tư đức tin về hoàn cảnh mục vụ, xin ơn hướng dẫn”.

Chia sẻ Lời Chúa trong Thánh lễ, vị Hồng y chủ tế Gioan Thang Hán của Hong Kong cho rằng Thánh Gioan Tẩy Giả chính là gương mẫu tuyệt vời của việc loan báo Tin Mừng, giúp người khác nhận ra Đức Giêsu chính là Đấng Cứu tinh mà nhân loại cần tìm đến. Vị chủ tế nói về những thách đố của Giáo hội Hong Kong trong quá khứ cũng như hiện tại.

Lúc 9g, các thành viên Đại hội đã họp nhóm, thảo luận về những xu hướng chính yếu của thời đại dẫn đến những yêu cầu về mục vụ. Sau đó là những báo cáo của các văn phòng FABC.

Vào lúc 12g trưa, Đại hội vui mừng chào đón Đức hồng y Luis Antonio Tagle (Tổng giám mục Manila) và Đức Tổng Giám mục Orlando B. Quevedo (Tổng giám mục Cotabato) đến tham dự Đại hội.

Sau trưa, lúc 13g30, Đại hội đặc biệt long trọng chào đón Đức Tổng Giám mục Savio Hàn Đại Huy, Tổng thư ký Bộ Truyền giáo. Đáp từ cho những lời chào mừng trọng thể, vị Tổng thư ký đã kể một câu chuyện thật vui để ghi nhận những thành quả và khích lệ những nỗ lực truyền giáo của Giáo hội Việt Nam.

Buổi chiều, Đại hội tiếp tục với các cuộc hội thảo và kết thúc bằng hát Kinh chiều trọng thể tại Hội trường lúc 19g.

Buổi tối là giờ cầu nguyện Taizé.

***

NGÀY LÀM VIỆC THỨ TƯ

Thứ sáu 14-12-12 là lễ kính thánh Gioan Thánh giá chủ đề Hội nghị: “Đáp ứng những thách đố mục vụ, xin ơn can đảm và quảng đại”.

Trong bài giảng Thánh lễ cử hành vào lúc 7g, Đức Hồng y chủ tế Malcolm Ranjith của Sri Lanka đã khai triển mẫu gương đời sống của Thánh Gioan Thánh Giá. Ngài nói, để có thể đáp ứng những thách đố mục vụ của thời đại, cần phải liên kết chặt chẽ với Chúa Giêsu trên thập giá. Thành công của đời tông đồ không phải ở những gì chúng ta đã làm được, mà ở chỗ chúng ta đã mở lòng ra như thế nào để Chúa ngự trị trong ta và trong mọi người. Trong Chúa, ta mới có thể đáp ứng được những thách đố lớn lao phát sinh trong thế giới hiện đại.

Trong các phiên họp hôm nay, Đại hội bàn về chủ đề, soạn thảo sứ điệp và tu chỉnh điều lệ FABC.

 

 

***

 

ĐÊM VĂN HÓA VIỆT NAM

 

Vào lúc 20g15, các thành viên đại hội được mời ra sảnh Tòa Giám mục để chuẩn bị tham dự Đêm Văn hóa Việt Nam. Đức hồng y Gaudencio và Đức Tổng Giám mục Hàn Đại Huy, lấy lửa từ nến Phục sinh, thắp hai “ngọn đuốc đức tin”. Hai ngọn đuốc này truyền lửa qua 54 ngọn đuốc khác trên tay 54 thanh niên, tượng trưng cho 54 dân tộc Việt Nam; đồng thời cũng truyền lửa cho 256 lồng đèn hoa sen trên tay 256 thiếu nữ, tượng trưng cho 256 giáo xứ của Giáo phận Xuân Lộc.

Lửa thắp lên rồi, một đoàn rước bắt đầu hình thành và chuyển động – băng qua một sân cỏ rộng tiến vào hội trường Đại Chủng viện – gồm: nhóm Đuốc đức tin nam nữ, đoàn Lễ tân nón lá, đội cồng chiêng, các nữ tu Mến Thánh Giá trong trang phục ba miền, các thỉnh sinh Dòng Nữ Tỳ Chúa Giêsu Linh Mục trong những tà áo dài lộng lẫy, 40 bạn trẻ mang logo FABC, đội trắc, đoàn lính thú mang lọng che, 12 thiếu nữ Lễ tân áo đỏ, và các em thiếu nhi thiên thần, mỗi em cầm tay một thành viên đại hội tiến bước vào hội trường.

Linh mục Tiến Lộc giới thiệu chương trình bằng tiếng Anh lưu loát và vui tươi. Đức Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm nói tiếng Anh rất tự nhiên (không soan thành văn bản để đọc) giải thích ý nghĩa, nội dung chương trình và khai mạc Đêm Văn Hóa.

Chương trình gồm những phần chính: Nguồn gốc dân tộc Việt, Âm nhạc Ba Miền, Âm nhạc Các Dân Tộc Việt Nam, Ca nguyện. Mọi người rất hân hoan sống lại thuở ban sơ của quê hương với Lạc Long Quân và Âu Cơ, say mê thưởng thức những nét đặc sắc của âm nhạc và điệu múa dân tộc, chăm chú ngắm nhìn hình ảnh nhà thờ Việt Nam ở các miền đất nước, ngỡ ngàng trước sự điêu luyện của ca đoàn Trùng Dương khi trình diễn những tác phẩm “Hòn Vọng Phu”, “Trường ca Mẹ La Vang”…

Đêm Văn Hóa Việt Nam kết thúc với lời cám ơn của Đức Ông Giuse Đinh Đức Đạo, kinh Salve Regina, lời phát biểu cảm tưởng và phép lành của Đức Hồng y Đặc sứ Tòa Thánh.

 

***

 

          NGÀY LÀM VIỆC THỨ NĂM

Ngày làm việc cuối cùng của FABC X tại Xuân Lộc diễn ra với chủ đề: FABC tái cam kết dấn thân cho sứ vụ của Giáo hội tại châu Á.”

Các đại biểu họp hai phiên toàn thể, nghe diễn văn ngắn của Đức Tồng Giám mục Savio Han Đai Huy từ Bộ Truyền Giáo, và nghe báo cáo của Ban Thư ký Trung ương FABC. Phiên tiếp theo các đại biểu dành thì giờ để đọc, thảo luận và duyệt sứ điệp của đại hội.

Đầu giờ chiều, các đại biểu lên xe trở lại Sài Gòn. Một số đại biểu, tham dự viên FABC lên đường về nước. Các đại biểu còn lại được chia thành 15 đoàn (1 đoàn thăm Đại Chủng Viện Thánh Giuse, 14 đoàn thăm các Giáo xứ thuộc các Hạt) và cử hành Thánh lễ, dùng cơm tối với cộng đoàn tại đó, do một Giám mục Việt Nam dẫn đoàn và chủ sự Thánh lễ (trừ đoàn tại Nhà thờ Cha Tam vì tại đây có cộng đoàn người Hoa), để, theo như lời ĐHY GB Phạm Minh Mẫn (WHĐ, 01-12-2012), rằng: “Các Hồng y, Giám mục Á châu, muốn đi đến nhiều nhà thờ trong thành phố cùng dâng lễ với người Công giáo Việt Nam vào lúc 18h30 chiều thứ bảy 15-12-2012, để đi vào chiều rộng và chiều sâu của đời sống đạo nơi người Công giáo Việt Nam.”

Cụ thể, 15 đoàn của FABC như sau: 1/ Đại Chủng viện thánh Giuse. 2/ Giáo xứ Đa Minh Ba Chuông (Hạt Phú Nhuận. 3/ Giáo xứ Thánh Phaxicô Xaviê (Hạt Chợ Quán). 4/ Giáo xứ Bình An (Hạt Bình An). 5/ Giáo xứ Tân Chí Linh (Hạt Chí Hòa). 6/ Giáo xứ Gia Định (Hạt Gia Định). 7/ Giáo xứ Xóm Thuốc (hạt Gò Vấp). 8/ Giáo xứ Trung Chánh (hạt Hóc Môn). 9/ Giáo xứ Phú Bình (hạt Phú Thọ). 10/ Giáo xứ Tân Định (Hạt Tân Định). 11/ Giáo xứ Phú Trung (Hạt tân Sơn Nhì). 12/ Giáo xứ thánh Nguyễn Duy Khang (Hạt Thủ Đức). 13/ Giáo xứ Tân Lập (Hạt Thủ Thiêm). 14/ Giáo xứ Xóm Chiếu (Hạt Xóm Chiếu). 15/ Giáo xứ Hà Nội (Hạt Xóm Mới).

 

***
          NGÀY LÀM VIỆC THỨ SÁU

            Sáng Chúa nhật ngày 16-12-2012, ngày thứ sáu và cũng là ngày cuối cùng của FABC X, Lễ bế mạcKỷ niệm 40 năm thành lập Liên Hội đồng (1972-2012) được cử hành tại Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn vào lúc 9h30 sáng do Đức Hồng y Oswald Gracias (Tổng thư ký FABC) chủ sự và giảng lễ, sau đó là phần công bố sứ điệp của Hội nghị toàn thể Liên Hội đồng Giám mục Á châu lần thứ X.

Buổi trưa, Đức Hồng y chủ nhà GB Phạm Minh Mẫn đãi tiệc, bế mạc FABC X tại Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn.

 

***

 

Phụ lục 1

                      Sứ điệp Hội nghị toàn thể lần thứ X

                    của Liên Hội đồng Giám mục Á châu

 

          “Canh tân các sứ giả Tin Mừng để phục vụ công cuộc Tân Phúc âm hóa tại châu Á”

“Chúng tôi loan báo cho anh chị em điều chúng tôi đã thấy và đã nghe” (1 Ga 1, 3).         

         Chúng tôi, các giám mục đại diện của các Hội đồng Giám mục thành viên và các Hội đồng Giám mục liên kết, thuộc Liên Hội đồng Giám mục Á châu, đã họp Hội nghị toàn thể lần thứ X tại Xuân Lộc và Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam), từ ngày 10 đến ngày 16 tháng Mười Hai 2012.

         Tham dự Hội nghị, có: Đức hồng y Gaudencio Rosales, Đặc sứ của Đức Thánh Cha; Đức Tổng giám mục Saviô Hàn Đại Huy SDB, Tổng thư ký Bộ Loan báo Tin Mừng các dân tộc; Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli, Đại diện không thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam; quý đại biểu huynh đệ của các Liên Hội đồng Giám mục châu Đại dương, châu Mỹ Latinh và châu Âu; quý đại biểu một số tổ chức quyên góp và tài trợ; quý Đức cha và Thư ký các văn phòng FABC; và quý khách mời. Tổng số đại biểu tham dự là 111 vị (gồm: 7 hồng y, 69 giám mục, và 35 linh mục, tu sĩ, giáo dân).

          Chúng tôi cảm tạ Chúa về biến cố lịch sử bản Quy chế thành lập FABC được Tòa Thánh chuẩn nhận 40 năm trước đây. Quả là một hồng phúc đặc biệt cho chúng tôi vì dịp kỷ niệm 40 năm FABC lại trùng với bốn biến cố quan trọng: Năm Đức Tin, kỷ niệm 50 năm khai mạc Công đồng Vatican II, 20 năm xuất bản sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, và Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ 13 vừa kết thúc về Tân Phúc âm hóa để thông truyền đức Tin Kitô giáo.

          Tất cả những biến cố này nhắc chúng ta ý thức về căn tính sâu xa nhất của mình: chúng ta là một cộng đoàn đức Tin được Chúa kêu gọi thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng nơi trần gian. Chúng tôi cảm tạ Chúa đã chúc lành cho FABC trong công cuộc canh tân sứ vụ yêu thương và phục vụ tại châu Á.

          Chúng tôi hết lòng biết ơn Giáo hội tại Việt Nam, đặc biệt các giáo phận Xuân Lộc và TP.HCM, đã dành cho chúng tôi sự đón tiếp hết sức nồng hậu và hiếu khách. Chúng tôi cảm ơn Chính phủ Việt Nam đã cởi mở và giúp đỡ Hội nghị chúng tôi được diễn ra tại đất nước có những truyền thống và văn hóa phong phú này. Chúng tôi nguyện xin Thiên Chúa ban muôn ơn lành cho Giáo Hội tại Việt Nam và nhân dân Việt Nam.

          Chúng tôi cũng bày tỏ tình hiệp thông và liên kết, cũng như sự khích lệ, đối với Giáo hội Công giáo tại Trung Quốc. Các đại biểu của Giáo hội Trung Quốc đã không có mặt tại Hội nghị của chúng tôi. Chúng tôi thiết tha mong mỏi sẽ có ngày cuộc quy tụ huynh đệ được mở rộng thêm ra với sự tham gia tích cực tại FABC của Giáo hội Trung Quốc. Chúng tôi hiệp nhất với Giáo hội Trung Quốc trong lời cầu nguyện cho mọi người của đất nước rộng lớn này được bình an, hưởng niềm vui và hy vọng đã được Chúa Kitô mang đến.

         Chúng tôi hết lòng biết ơn tất cả anh chị em giáo dân, nam nữ tu sĩ, các linh mục và giám mục đang thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, thậm chí phải liều cả mạng sống. Tinh thần quả cảm và hết lòng phục vụ Tin Mừng của anh chị em đã soi sáng và củng cố chúng tôi rất nhiều.

         Tuần lễ diễn ra Hội nghị thực sự là một Tuần Đức Tin. Ngọn lửa niềm tin của chúng tôi vào Thiên Chúa đã bừng cháy thêm lên trước đức Tin sâu sắc và sống động của dân Chúa tại Việt Nam và qua câu chuyện của các vị tử đạo. Nhờ chứng từ cao cả của các vị tử đạo, sức mạnh của đức Tin và đức Cậy đã ngời sáng.

         Trong ánh sáng của Lời Chúa, Hội nghị của chúng tôi nhận diện những nẻo đường thực thi sứ vụ mà Chúa Thánh Thần soi dẫn. Được Thánh Thần hướng dẫn, chúng tôi đọc các dấu chỉ thời đại, những trào lưu lớn trong xã hội tại châu Á và những thực tại đang diễn ra trong Giáo hội của mình, đồng thời phân tích những thách đố và cơ hội đang mở ra để có thể đáp ứng từ chiều sâu đức Tin của mình. Chúng ta đang thực thi một sứ vụ rất khó khăn là loan báo Đức Giêsu là Chúa và là Đấng Cứu thế giữa những thay đổi mau chóng tại châu Á. Vì lẽ đó, chúng ta càng phải ý thức hơn nữa mình phải trở thành một cộng đoàn có kinh nghiệm về Đức Kitô và làm chứng cho Đức Kitô. Trọng tâm công cuộc Tân Phúc âm hóa đã được Đức Chân phước giáo hoàng Gioan Phaolô II khởi xướng và được Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI tái khẳng định, chính là lời thúc giục hãy trở nên những chứng nhân đích thực và đáng tin cậy về Đức Giêsu là Thiên Chúa và là Đấng Cứu thế.

          Chính Thần khí đã từng thúc đẩy Công đồng Vatican II nay cũng đang hiệu triệu chúng ta thành những sứ giả được đổi mới của Tin Mừng để phục vụ công cuộc Tân Phúc âm hóa. Chính Thánh Thần là Đấng có thể làm cho Giáo hội và từng người chúng ta nên mới. Chính Thánh Thần là Đấng giúp chúng ta có thể đáp ứng một cách đáng tin và có hiệu quả trước các trào lưu xã hội và những thực tại đang diễn ra trong Giáo hội đã được Hội nghị bàn đến.

         Để trở nên những thừa sai mới, chúng ta phải đáp lại Thần khí đang hoạt động tích cực trong thế giới, trong sâu thẳm hiện hữu của chúng ta, trong các dấu chỉ thời đại và trong tất cả những gì thực sự thuộc về con người. Chúng ta cần phải sống linh đạo Tân Phúc âm hóa.

          Chúng tôi đề nghị với anh chị em một số chiều kích cơ bản của nền linh đạo này:

  1. Gặp gỡ cá nhân với Đức Giêsu Kitô. Trước hết và trên hết, những sứ giả mới của Tin Mừng cần phải có một đức Tin sống động, được xây dựng trên nền tảng cuộc gặp gỡ sâu xa, cá vị và có sức biến đổi, với con người sống động của Đức Giêsu Kitô, một cuộc gặp gỡ đem lại hiệu quả là bản thân được hoán cải và trở nên môn đệ của Chúa Giêsu trong lời nói và việc làm. Tóm lại, chúng ta loan báo Đấng mình đã thấy, đã nghe và chạm đến (1 Ga 1, 1-3). Cuộc gặp gỡ cá vị này và đời sống người môn đệ là điều hết sức cần thiết. Thiếu điều này, không ai có thể chạm đến cái hồn của châu Á.
  2. Say mê sứ vụ. Nếu chúng ta có mặt là để thi hành sứ vụ, thì chúng ta cần phải có niềm say mê sứ vụ. Truyện kể về Giáo hội tại châu Á đan xen với truyện kể về các vị thừa sai và các vị tử đạo. Các vị là những giáo dân, tu sĩ nam nữ và hàng giáo sĩ đã dám liều mạng sống mình vì Đức Kitô. Câu chuyện về các ngài thôi thúc và khích lệ chúng ta. Các ngài là hiện thân của niềm say mê truyền giáo theo một cách thức mà loài người không thể làm được, nhưng đối với Thiên Chúa thì hoàn toàn có thể (Lc 18, 27). Chân phước Gioan Phaolô II khẳng định: “Một ngọn lửa chỉ có thể được thắp lên bởi chính một vật đang cháy lửa… (chúng ta) phải cháy lửa tình yêu Chúa Kitô và lửa nhiệt thành mong ước làm cho Đức Kitô được nhiều người nhận biết hơn, yêu mến hơn, bước theo sát Người hơn” (Tông huấn Ecclesia in Asia, số 23). Lời Thánh Phaolô: “Tình yêu Ðức Kitô thôi thúc chúng tôi” (2 Cr 5, 14) lay động cõi lòng chúng ta hãy chia sẻ tình yêu khôn sánh của Chúa Giêsu cho toàn thể thế giới. Bởi lẽ chúng ta xác tín rằng mọi niềm khao khát của các dân tộc Á châu đều được kiện toàn nơi Chúa Giêsu, Đấng là Sự Sống.
  3. Tập trung vào Nước Thiên Chúa. Việc loan báo Chúa Giêsu tác động đến mọi khía cạnh cuộc sống và các tầng lớp xã hội –toàn bộ cuộc sống con người. Do đó linh đạo Tân Phúc âm hóa không tách thế giới của chúng ta khỏi Triều đại của Thiên Chúa. Không tách đời sống vật chất khỏi tôn giáo, cũng không làm cho đời sống đức Tin xa lìa nghĩa vụ làm thay đổi đời sống chính trị và kinh tế xã hội. Trên hết, linh đạo của sứ giả Tân Phúc âm hóa không tách Đức Giêsu Kitô ra khỏi Nước Chúa, cũng không tách những giá trị của Nước Chúa ra khỏi Con người Đức Giêsu. Tập trung vào Nước Thiên Chúa là trao bản thân mình cho Chúa Giêsu và tầm nhìn của Người về một nhân loại mới đúng theo khuôn mẫu của Người.
  4. Quyết tâm hiệp nhất. Chúa Giêsu đã cầu nguyện cho chúng ta được hiệp nhất với Chúa Cha, với Người và với nhau (Ga 17, 20-22). Qua cuộc Khổ nạn, cái Chết và sự Phục sinh của Người, Chúa Giêsu đã phục hồi mọi sự nơi chính mình Người, và đưa nhân loại cùng toàn thể thụ tạo vào sự hiệp thông với Chúa Cha và Thánh Thần. Như Chúa Giêsu, những nam nữ thừa sai Tân Phúc âm hóa cần phải sống và cổ võ sự hiệp thông.

         Quả thật, linh đạo hiệp thông chính là linh đạo của Tân Phúc âm hóa. Chân phước Gioan Phaolô II nhắc chúng ta nhớ “hiệp thông và sứ vụ gắn kết với nhau không thể tách rời”. Thông hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi “là nguồn mạch và là hoa trái của sứ vụ: hiệp thông đưa đến sứ vụ và sứ vụ được hoàn tất trong hiệp thông”(Tông huấn Ecclesia in Asia, số 24, trích dẫn Thông điệp Christifideles laici, số 32). Vì thế đây phải là phương châm của chúng ta: “hiệp thông vì sứ vụ” và “sứ vụ vì hiệp thông” (Tông huấn Ecclesia in Asia, số 25). Các sứ giả Tin Mừng sẽ gặt hái kết quả hữu hiệu khi sống kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu và quảng đại dấn thân làm chứng và cổ võ sống thông hiệp với Chúa, với nhau và với mọi thụ tạo.

          Trong bối cảnh châu Á đang tìm kiếm sự hài hòa giữa những căng thẳng và xung đột đang gia tăng, mọi thành phần dân Chúa –giáo sĩ và giáo dân, nam cũng như nữ, giới trẻ cũng như thiếu niên nhi đồng– đều được mời gọi trở thành những người loan báo Tin Mừng, sứ giả của Lời Chúa, người kiến tạo hòa bình và xây dựng sự hiệp thông. Một sự hiệp thông như vậy cần được thể hiện qua chính sự hiệp thông sống động của các cộng đoàn giáo xứ và giáo phận.

  1. Đối thoại, một phương cách sống và thi hành sứ vụ. Công cuộc Tân Phúc âm hóa kêu gọi lấy tinh thần đối thoại thúc đẩy cuộc sống hằng ngày và chọn tương quan hòa hợp chứ không đối đầu. Đối thoại phải là tiêu chí cho mọi hình thức thực thi sứ vụ và phục vụ tại châu Á. Đặc trưng của đối thoại là khiêm tốn nhận ra sự hiện diện kín đáo của Thiên Chúa trong cuộc tranh đấu của người nghèo, trong sự phong phú về văn hóa của nhân dân, trong sự đa dạng về truyền thống tôn giáo và trong thẳm sâu cõi lòng mỗi người. Đối thoại như thế là lối sống và phương cách truyền giáo của chúng ta. Đối thoại trở thành nền tảng cho nền linh đạo hiệp thông nhằm canh tân sứ giả Tin Mừng.
  2. Hiện diện khiêm hạ. Chúng tôi tin rằng mỗi người châu Á đều dự phần và đồng hành trong cuộc hành trình tiến đến Nước Thiên Chúa, và tin rằng những cánh đồng truyền giáo là những thửa đất có sự hiện diện và hoạt động lạ lùng của Thánh Thần Thiên Chúa. Trên cánh đồng truyền giáo bao la tại châu Á, chứng từ lặng lẽ nhưng hùng hồn của đời sống Kitô hữu đích thực đòi phải biết hiện diện trong khiêm hạ, biết sống đối thoại, trong đó bao gồm cuộc sống cầu nguyện và “chiêm niệm”. Đó là yêu cầu đặt ra cho các sứ giả mới của Tin Mừng, hoạt động giữa những nền văn hóa đề cao sự bỏ mình và quý trọng cầu nguyện. Sự hiện diện khiêm hạ phải được thể hiện bằng nếp sống giản dị và liên kết với người nghèo.
  3. Vai trò ngôn sứ của người truyền giáo. Trở nên ngôn sứ là trong ánh sáng của Chúa Thánh Thần, nhận diện những nghịch lý tại châu Á và tố cáo bất cứ những gì làm suy yếu, hạ thấp giá trị và tước bỏ phẩm giá của con cái Thiên Chúa. Những sứ giả mới của Tin Mừng phải bảo vệ phẩm giá làm người của tất cả mọi người, nhất là của phụ nữ, trẻ em và những người không có đủ điều kiện sống cho ra con người trong xã hội châu Á chúng ta. Qua việc tố cáo bất công, những sứ giả mới của Tin Mừng loan báo tình yêu của Thiên Chúa, “những điều quan trọng hơn trong Lề Luật” tức là là công bình, lòng nhân từ và thành tín (Mt 23, 23), và tình yêu được Chúa Giêsu dành ưu tiên cho người nghèo.
  4. Liên đới với những nạn nhân. Trong Hội nghị, chúng tôi đã lưu ý con số các nạn nhân của quá trình toàn cầu hóa, của bất công, của thảm họa hạt nhân và thiên tai, của những cuộc tấn công do những kẻ cực đoan và khủng bố gây ra, con số ấy đang gia tăng từng ngày. Chúa Giêsu đứng về phía nạn nhân của các thảm họa và bất công. Người liên đới với những ai bị xã hội loại bỏ. Liên đới và xót thương những nạn nhân và bị gạt ra ngoài lề xã hội phải trở thành chiều kích chính yếu của linh đạo Tân Phúc âm hóa.
  5.  Chăm sóc tạo thành. Hội nghị cũng đã lưu ý việc lạm dụng thiên nhiên vì lợi ích kinh tế thiển cận và ích kỷ vẫn chưa được khắc phục. Những nguyên nhân do con người gây ra đã góp phần đáng kể làm cho trái đất nóng lên và khí hậu thay đổi, khiến người nghèo và người bị bóc lột phải hứng chịu những tác động bi đát hơn nữa. Mối quan tâm đến sinh thái, việc bảo toàn công trình tạo dựng, bao gồm sự công bằng và đồng cảm giữa các thế hệ, là yếu tố cơ bản trong linh đạo hiệp thông.
  6. Can đảm sống đức Tin và tử đạo. Từ buổi đầu Kitô giáo có mặt đến nay, mảnh đất Á châu đã thấm máu đào của các vị tử đạo. Nếu ngày nay chúng ta được mời gọi hãy đem sự hy sinh cao cả mà làm chứng cho đức Tin, chúng ta sẽ không từ nan. Chúa Giêsu đã căn dặn chúng ta, hy sinh như thế là dấu chứng tối hậu chúng ta tận trung với Người và với sứ mạng của Người. Xin các vị tử đạo tại đất nước chúng ta, trong đó có nhiều vị đã được tôn kính trên bàn thờ, giúp chúng ta biết noi gương các ngài và chuyển cầu cho chúng ta được thêm mạnh sức. Chúng ta tri ân Đức Chân phước giáo hoàng Gioan Phaolô II và Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã công bố nhiều vị chứng nhân người Á châu là những đấng tử đạo của Giáo hội, “máu các vị tử đạo là hạt giống phát sinh Kitô giáo”.

          Kết luận

          Trong Năm Đức Tin này, vào thập niên thứ hai của thiên niên kỷ mới, nhân dịp kỷ niệm 40 năm FABC, chúng tôi kêu gọi mọi người thuộc các Giáo hội tại châu Á hãy nuôi dưỡng niềm say mê đặc biệt đối với công cuộc Tân Phúc âm hóa.

         Chúng ta không được để mình thờ ơ hoặc bi quan trước những trào lưu xã hội tại châu Á đang đe dọa cấu trúc xã hội, sự bền vững của gia đình và tầm nhìn đức Tin của chính cộng đoàn Kitô hữu. Ẩn bên trong những thực tại này có thể là những nguồn lực nội tại của Thánh Thần, đang hoạt động trong lòng những giá trị Á châu, là những hạt giống của một nhân loại mới đang khao khát sự sống viên mãn trong Đức Giêsu.

          Sứ vụ của công cuộc Tân Phúc âm hóa, mới trong nhiệt tâm, mới về phương pháp và mới trong cách diễn tả, đang được đặt ra cấp thiết. Sứ vụ này kêu gọi các sứ giả Tin Mừng phải canh tân đổi mới với một linh đạo được đổi mới, linh đạo hiệp thông, linh đạo truyền giáo, linh đạo Tân Phúc âm hóa. Mỗi giáo xứ, mỗi cộng đoàn, mỗi gia đình cần phải trở thành trường dạy nền linh đạo này. Sứ vụ này đòi hỏi các nhà thừa sai mới phải sống hoán cải sâu sắc, phải thay đổi tầm nhìn cũng như phải nên giống Đức Kitô trong tâm tư và thái độ, và phải hiệp thông với Thiên Chúa. Sứ vụ này đòi hỏi phải có niềm tin sống động vào Chúa, phó thác nơi Chúa, theo chân Chúa Giêsu từ trong tư tưởng, tình cảm đến hành động.

          “Đoàn chiên nhỏ beeacute;” của Chúa Giêsu không được rụt rè hoặc sợ hãi giữa hàng tỉ người châu Á, chiếm hơn 60% dân số thế giới. Bởi vì chúng ta có chính Đức Giêsu Kitô, là nguồn duy nhất mang lại niềm tin cho chúng ta, là hồng ân độc đáo Thiên Chúa ban cho loài người. Người đồng hành với chúng ta như đã từng đi với các môn đệ trên đường đến Emmaus (Lc 24, 13-32). Trong mỗi cử hành Thánh Thể, Người mở mắt và sưởi ấm trái tim chúng ta bằng ngọn lửa tình yêu đối với công cuộc Tân Phúc âm hóa tại châu Á.

           Xin Mẹ Maria, Mẹ của Chúa Giêsu và là Mẹ của chúng ta, đồng hành cùng chúng ta đang bước đi trên những nẻo đường Á châu để “kể chuyện Chúa Giêsu”. Chúng ta không sợ. Chúng ta đã được Chúa bảo đảm, “Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ!(Mt 14, 27). Và chúng ta đã nhận được lời Người cam kết: “Hãy nhớ, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế(Mt 28, 20).

Xuân Lộc và TP.HCM, Việt Nam

Ngày 16 tháng 12 năm 2012

 

 

***

Phụ lục 2

Bản tin trên website của Ban Tôn giáo Chính phủ [5]

Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á châu

và những vấn đề Giáo hội Công giáo châu Á quan tâm

 

          Được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, từ ngày 11-15/12/2012 Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á châu đã diễn ra tại Tòa Giám mục Xuân Lộc; ngày 16/12/2012 Lễ bế mạc diễn ra tại nhà thờ Đức Bà Tp. Hồ Chí Minh. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu nội dung của Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á châu và một số vấn đề Công giáo châu Á quan tâm.

  1. Nội dung Hội nghị

Sáng ngày 11/12/2012, tại Tòa Giám mục Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai đã khai mạc Hội nghị lần thứ X của Liên Hội đồng Giám mục Á châu (viết tắt theo tiếng Anh là FABC).

Chủ đề Hội nghị là: “Bốn mươi năm FABC: Đáp ứng những thách đố của Châu Á”.

Có 119 đại biểu dự Hội nghị, trong đó có 115 đại biểu nước ngoài và 4 đại biểu của Việt Nam, gồm: 9 Hồng y, 29 Tổng Giám mục, 45 Giám mục, 18 linh mục, 3 đức ông, 3 nữ tu, 1 nam tu và 11 giáo dân đến từ 30 nước và vùng, lãnh thổ của 5 châu lục.

Bốn đại biểu của Việt Nam là Hồng y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám mục Tổng giáo phận TP. Hồ Chí Minh; Tổng Giám mục Nguyễn Văn Nhơn, Tổng Giám mục Tổng giáo phận Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam; Giám mục Nguyễn Văn Đệ, Giám mục giáo phận Thái Bình; Giám mục Bùi Văn Đọc, Giám mục giáo phận Mỹ Tho).  

Nhận lời mời của Ban Tổ chức, Lãnh đạo Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Lãnh đạo Ban Tôn giáo Chính phủ, Ủy Ban Nhân dân tỉnh và một số ban ngành tỉnh Đồng Nai dự Lễ Khai mạc.

Phát biểu tại Lễ Khai mạc đồng chí Phạm Dũng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ đại diện cho chính quyền đã ghi nhận những đóng góp của đồng bào Công giáo trong những năm qua, đồng thời mong muốn Công giáo Việt Nam ngày càng hội nhập mạnh mẽ trong mọi mặt đời sống xã hội, tiếp tục thực hiện đường hướng gắn bó, đồng hành cùng dân tộc: “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”, và ý chỉ của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI: “người giáo dân tốt đồng thời là người công dân tốt”.

Tại phiên khai mạc các đại biểu đều đánh giá cao sự quan tâm tạo điều kiện của chính quyền các cấp đến Hội nghị FABC và hoạt động tôn giáo diễn ra sôi động, tự do tại Việt Nam.

Trước đó, ngày 10/12/2012, Đoàn đại diện cấp cao của FABC đến chào xã giao Bộ Ngoại giao và Ban Tôn giáo Chính phủ. Đồng chí Phạm Dũng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ đã tiếp đoàn. Đoàn cảm ơn Nhà nước đã quan tâm, tạo điều kiện cho Giáo hội tổ chức Hội nghị. Đặc sứ của Giáo hoàng Benedict XVI, Hồng y Gaudencio Rosales cũng cho biết, Giáo hoàng đánh giá cao tiến triển trong quan hệ Việt Nam – Vatican, cũng như sự giúp đỡ của chính quyền Việt Nam trong hoạt động của Đặc phái viên không thường trú của Vatican.

Trong Lễ khai mạc Hồng y Gaudencio, Đặc sứ của Giáo hoàng đã chuyển đến Hội nghị Sứ điệp của Giáo hoàng Benedicto XVI, Giáo hoàng bày tỏ mong ước các Giám mục châu Á hãy tiếp tục quảng đại, dấn thân, đồng thời canh tân mọi khả năng và lòng nhiệt tình thực thi sứ vụ Giám mục để tình yêu Chúa Kitô, Hội Thánh, tin Mừng được thực hiện. Được đức tin nung nấu, các Giám mục cổ võ nền văn hóa mang tính nhân văn và bền bỉ theo dõi cuộc đối thoại giữa các tôn giáo.

Sau phiên khai mạc các ngày tiếp theo Hội nghị thảo luận nội bộ mỗi ngày một chủ đề. Ngày 12/12/2012, với chủ đề “Xin ơn khôn ngoan để nhận ra dấu chỉ thời đại”. Ngày 13/12/2012 “Suy tư đức tin về hoàn cảnh mục vụ, xin ơn hướng dẫn”. Ngày 14/12/2012 với chủ đề: “Đáp ứng những thách đố mục vụ, xin ơn can đảm và quảng đại” và kết nạp Đông Timo là thành viên chính thức FABC. Ngày 15/12/2012 với chủ đề: “Tái cam kết dấn thân theo các sứ vụ của Giáo hội tại châu Á”; các đại biểu chia thành 15 nhóm tham dự thánh lễ tại 14 nhà thờ và Đại chủng viện Thánh Giuse TP. Hồ Chí Minh.

Ngày 16/12/2012, Hội nghị tổ chức Thánh lễ kỷ niệm 40 năm thành lập FABC (1972-2012) tại nhà thờ Chính tòa Đức bà Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh và cử hành lễ bế mạc FABC, Hồng y Oswald Gracias, Tổng Thư ký FABC đã đọc Sứ điệp của Đại hội nói về linh đạo của Tân Phúc Âm hóa với 9 điểm: Gặp gỡ Đức Kitô, Loan báo Tin mừng, Tập trung vào Nước Trời, dấn thân xây dựng sự Hiệp thông, đối thoại, khiêm tốn, nhất tâm bảo vệ phẩm giá con người, liên đới với các nạn nhân trong xã hội, can đảm thực hiện đức tin bằng sự hy sinh.

Hội đồng Giám mục Việt Nam tham dự Hội nghị có 4 thành viên với một bài tham luận của Giám mục Bùi Văn Đọc, Giám mục giáo phận Mỹ Tho. Bài tham luận của Giám mục Bùi Văn Đọc đã đề cập đến việc mở rộng hướng đối thoại của Giáo hội châu Á từ “ba hướng đối thoại” sang bốn hướng đối thoại”: đối thoại với các tôn giáo, các nền văn hóa bản địa và người nghèo tại châu Á, gợi ý có nên chăng cần đối thoại với chế độ xã hội chủ nghĩa. Tiếp đó Giám mục Đọc trích dẫn lời Giáo hoàng Benedict XVI trong bài Huấn từ với Hội đồng Giám mục Việt Nam (năm 2009): “một sự hợp tác lành mạnh giữa Giáo hội và Cộng đồng chính trị là điều có thể thực hiện được. Giáo hội không hề muốn thay thế chính quyền, nhưng chỉ mong rằng trong tinh thần đối thoại và hợp tác tôn trọng lẫn nhau, Giáo hội có thể góp phần mình vào đời sống của đất nước, nhằm phục vụ tất cả mọi người dân”.

Hồng y Phạm Minh Mẫn, có bài chia sẻ về cảm nhận sống Lời Chúa nhằm đáp lại những thách thức trong xã hội hôm nay, “điều cần thiết là phải sống Lời Chúa dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần để hòa nhập vào nền văn hóa”.

Hai giáo phận được chọn làm địa điểm tổ chức Hội nghị FABC đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật chào mừng Hội nghị với những tiết mục đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, mang lại tình cảm tốt đẹp cho các đại biểu các nước đến dự Hội nghị. Tối ngày 14/12/2012, Tòa giám mục Xuân Lộc tổ chức Đêm Văn hóa Việt Nam với nhiều tiết mục đặc sắc gồm những phần chính: Nguồn gốc dân tộc Việt, âm nhạc ba miền, âm nhạc các dân tộc Việt Nam, và ca nguyện. Tiết mục thuở ban sơ của quê hương với Lạc Long Quân và Âu Cơ, với những nét đặc sắc của âm nhạc và điệu múa dân tộc, hình ảnh nhà thờ Việt Nam ở các miền đất nước, trình diễn những tác phẩm “Hòn Vọng Phu”, “Trường ca Mẹ La Vang”,…

Các đại biểu phát biểu tham luận của mình về Giáo hội tại châu Á. Nhìn chung các bài tham luận đều có nội dung thuần túy tôn giáo, nêu các vấn đề thuộc lĩnh vực thần học Công giáo, những thách đố trong việc truyền giáo của Giáo hội tại châu Á cũng như tác động của “đời sống thế tục”, “toàn cầu hóa” ảnh hưởng đến đức tin Công giáo, đưa ra những sáng kiến nhằm xây dựng giáo hội châu Á phát triển, việc truyền giáo đạt hiệu quả.

Nội dung chính của Hội nghị FABC đề cập đến những nội dung như: Vấn đề “toàn cầu hoá”; văn hóa; di dân; dân số; tự do tôn giáo; truyền thông xã hội; môi sinh môi trường; các giáo phái và đời sống ơn gọi,…và những tác động đến Công giáo tại châu Á, thách thức mà Công giáo châu Á phải đối diện,…

FABC sửa đổi chức danh của Tổng Thư ký FABC thành Chủ tịch FABC, phụ tá Tổng Thư ký FABC thành Tổng Thư ký FABC,…Hội nghị FABC đã định ra đường hướng hoạt động mục vụ của Công giáo trong thời gian tới.

Hội nghị đã công bố Sứ điệp với chủ đề: “Chúng tôi loan báo cho anh chị em điều chúng tôi đã thấy và đã nghe”.

Trong Sứ điệp, FABC cho biết Giáo hội cần nhận diện những nẻo đường thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng (truyền giáo) nơi trần gian, nhận biết các dấu chỉ thời đại, những trào lưu lớn trong xã hội tại châu Á và những thực tại đang diễn ra trong Giáo hội của mình, đồng thời phân tích những thách đố và cơ hội đang mở ra để có thể đáp ứng từ chiều sâu đức Tin.

FABC đề nghị chức sắc, giáo dân trong giáo hội cần phải sống linh đạo Tân Phúc âm hóa với 10 nội dung chính như: Gặp gỡ cá nhân với Đức Giêsu Kitô;  Say mê sứ vụ; Tập trung vào Nước Thiên Chúa; Quyết tâm hiệp nhất; Đối thoại, một phương cách sống và thi hành sứ vụ; Hiện diện khiêm hạ; Vai trò ngôn sứ của người truyền giáo; Liên đới với những nạn nhân; Chăm sóc tạo thành; Can đảm sống đức Tin và tử đạo. Tất cả những đề nghị của FABC đều tập trung vào việc kêu gọi tất cả thành phần Giáo hội tham gia truyền giáo tại châu Á.

FABC không quên nhắc đến sự quan tâm của chính quyền Việt Nam đối với Hội nghị: “Chúng tôi cảm ơn Chính phủ Việt Nam đã cởi mở và giúp đỡ Hội nghị chúng tôi được diễn ra tại đất nước có những truyền thống và văn hóa phong phú này. Chúng tôi nguyện xin Thiên Chúa ban muôn ơn lành cho Giáo Hội tại Việt Nam và nhân dân Việt Nam”.

  1. Những vấn đề FABC quan tâm

Chủ đề của Hội nghị FABC lần này cũng được nhiều người quan tâm: “Bốn mươi năm FABC: đáp ứng những thách đố của châu Á”. FABC cũng như Giáo hội Công giáo tại châu Á đang phải trải qua những thách đố như thế nào và giải quyết nó ra sao? Đó chính là thách thức như xu hướng thế tục hóa ảnh hưởng đến đời sống tu trì của linh mục, tu sỹ; sự không bền vững của gia đình truyền thống ảnh hưởng giáo dục đức tin Công giáo trong các gia đình; giới trẻ bị cuốn theo lối sống hưởng thụ, không thiết tha đến việc đi lễ nhà thờ hay xưng tội,…tất cả đã tác động không nhỏ đến việc giữ đạo và truyền đạo Công giáo ở châu Á.

Trước Hội nghị Giáo hội cũng công bố một loạt bài phỏng vấn của chức sắc Giáo hội Công giáo Việt Nam và FABC, trong đó đáng lưu ý là bài phát biểu của Tổng thư ký FABC, Hồng y Oswald Gracias, đã khẳng định: Hội nghị lần này Giáo hội quan tâm đến 3 vấn đề của Châu Á đó là: đối thoại với các nền văn hóa, với các tôn giáo và với người nghèo châu Á”. Đồng thời Hồng y cũng khẳng định FABC, Giáo hội Công giáo không tham gia vào đời sống chính trị cũng như can thiệp vào công việc nội bộ của bất cứ quốc gia nào.

Việc đối thoại đó của FABC cũng chính là phục vụ cho việc truyền giáo của Công giáo tại châu Á. Vì một việc FABC không thể không quan tâm đó chính là qua nhiều thế kỷ Công giáo được truyền vào châu Á, nhưng kết quả lại rất hạn chế, tại châu lục có 60% tổng dân số địa cầu sinh sống nhưng chỉ có 3% người theo Công giáo. Dân số Công giáo châu Á hiện nay là 124.046.000 người chiếm 3, 05% trong tổng số gần 4 tỷ người dân. Đặc biệt là tại một số quốc gia châu Á, FABC nhắc đến trong Hội nghị đó là việc truyền giáo đạt kết quả rất hạn chế, đôi khi còn giảm sút. Tại Kazakhtan, một nước cộng hòa Trung Á, thành viên chính thức của FABC có 150.000 giáo dân sống ở 4 giáo phận, giáo phận Chúa Ba Ngôi chỉ có 10% số người đi lễ nhà thờ ngày Chủ nhật. Tại Mông Cổ một thành viên liên kết của FABC sau gần 100 năm truyền giáo đến nay chỉ có 850 người Công giáo, trong đó có rất nhiều người không còn đến nhà thờ. Tại một số nơi ở Nam Á, người Công giáo chỉ chiếm 1% hoặc ít hơn, Nêpan chỉ có 8.000 người Công giáo trong tổng số 27, 5 triệu người. Khu vực Đông Á, Nhật Bản và Trung Quốc số người Công giáo chiếm dưới 1%; ở Hàn Quốc số người Công giáo chiếm 9%. Người công giáo chỉ là thiểu số tại châu Á trừ hai nước là Philippin và Đông Timo.

Một câu hỏi nữa được đặt ra đó là tại sao FABC lại đối thoại với các nền văn hóa, các tôn giáo. Châu Á là quê hương sản sinh ra các tôn giáo lớn như Phật giáo, Hồi giáo, Ấn giáo và cả Công giáo. Người dân châu Á đa phần đã theo hoặc bị ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống trước khi Công giáo được truyền vào, vì vậy việc truyền Công giáo vào khu vực này bị hạn chế. Ở một số nước, khu vực thì một số tôn giáo lớn có vị trí bao trùm trong xã hội. Các nước khu vực Trung Đông và Đông Nam Á như: Iran, Irăc, Li bi, Ả rập xeut, Các tiểu vương quốc Ả rập, Kuweit, Quatar, và Inđônêxia, số người theo Hồi giáo chiếm vị trí rất cao. Một số nước Đông Nam Á và Đông Á ảnh hưởng bởi Phật giáo như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Thái Lan, Mianma, Lào, Campuchia, Nepan, Mông Cổ,…..Còn tại Ấn Độ số người theo Ấn Độ Giáo chiếm vị trí lớn trong xã hội (khoảng 80% người Ấn Độ tự xem mình là người theo Ấn Độ Giáo). Châu Á cũng là khu vực có tỷ lệ người thu nhập dưới mức trung bình chiếm tỷ lệ cao trên thế giới. Chính vì vậy, FABC đặt ra mục tiêu cho Công giáo tại châu Á trong thời gian tới cần phải đối thoại với các nền văn hóa, các tôn giáo và người nghèo.

Trong bài viết lý giải việc dân số Công giáo chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn tại Châu Á, nhà thần học Felix Wilfred (người Ấn Độ) cho rằng một trong những nguyên nhân đó là tình cách “nước ngoài” đã là một đặc trưng của tất cả các giáo hội Công giáo địa phương tại châu Á. Tình hình này không chỉ do sự kiện là Kitô giáo đã được đưa vào từ bên ngoài. Tính cách “nước ngoài” của Kitô giáo cũng không phải do tôn giáo này tuyên xưng một đức tin khác. Bởi vì, các dân tộc Á châu luôn tiếp nhận và tôn trọng tính đa dạng. Felix Wilfred cho rằng: “Lý do chính khiến Kitô giáo đã bị xem là xa lạ vì các Giáo hội địa phương tại các nước Á châu, nhìn chung đã tách rời xu hướng sống của dân tộc, lịch sử, các cuộc đấu tranh và mơ ước của người dân. Các Giáo hội đã không tự đồng hóa mình với dân tộc, mặc dù đã thực hiện nhiều công trình có giá trị nhân danh đức bác ái”. Từ đánh giá đó, ông đưa ra đề xuất cho Giáo hội tại châu Á là: đối thoại với các tôn giáo, đối thoại với các nền văn hóa, đối thoại với người nghèo khổ.

Còn trong bài viết: “Đi tìm một cách thế hiện diện mới của Giáo hội tại châu Á”, Giám mục phụ tá Tổng giáo phận TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Khảm cho rằng: “Kitô giáo được xem là sản phẩm của quyền lực và văn hóa phương Tây, xa lạ với văn hóa và đời sống của người dân châu Á, do đó không thu hút được nhiều người dù đã hiện diện ở đây rất lâu”. Chính trong bối cảnh đó, mà Liên Hội đồng Giám mục Á châu đã và đang thúc đẩy việc xây dựng một cách thế hiện diện mới của Giáo hội tại châu Á. Để xây dựng một cách thế hiện diện mới của Giáo hội tại lục địa này, trước hết phải làm sao xây dựng Giáo hội thực sự trở thành một Giáo hội địa phương, một Giáo hội ăn sâu vào thực tại đời sống của các dân tộc Á châu “một Giáo hội nhập thể trong một dân tộc, một Giáo hội bản địa, một Giáo hội hội nhập trong một nền văn hóa”.

Theo Giáo hội, Hội nghị FABC không chỉ định ra đường hướng hoạt động mục vụ cho Giáo hội trong thời gian tới, mà Hội nghị này còn là cơ hội để những tín hữu sống chung trên mảnh đất châu Á với những nét chung về địa lý, văn hóa, xã hội, để chia sẻ cho nhau và học hỏi cùng nhau những kinh nghiệm trong việc thi hành sứ vụ “yêu thương và phục vụ” của Chúa Kitô trên đất nước cũng như tại châu Á nói chung./.

Bích Đượm – chuyên viên Vụ Công giáo

 

***

Sau khi Cha con cùng ôn lại FABC X tại Xuân Lộc (2012), tôi hỏi Đức cha:

-Thưa Đức cha, qua FABC X, Đức cha suy nghĩ gì về ảnh hưởng của Hội nghị này đối với công việc của giáo phận?

Đức cha trả lời ngay:

-Tôi gọi đó là một “biến cố” có ý nghĩa tực tiếp với công việc của Giáo phận.

Đức cha giải thích:

-FABC X là một biến cố Chúa dùng để tác động đến nhiều phía, không chỉ với Giáo hội Công giáo Việt Nam mà cả phía Nhà nước và quốc tế.

Ngưng một chút, Đức cha cho biết:

– Ngày 28/9/2014, nghĩa là gần 2 năm sau FABC X, khi tiếp Đức cha, Ông Phạm Dũng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ, đã nhắc lại sự kiện này. Ông đánh giá cao việc Giáo phận Xuân Lộc đã tổ chức Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) lần thứ 10 quy mô, trang trọng, đặc biệt phát huy bản sắc tốt đẹp văn hóa dân tộc trong đời sống đức tin, trong sinh hoạt tôn giáo..[6]

Đức cha cho biết thêm thông tin:

– Ông Phạm Dũng cũng cho biết, Hội nghị giữa Việt Nam (Ban Tôn giáo Chính phủ) và Liên minh Châu Âu (EU) chia sẻ kinh nghiệm về tự do tôn giáo vừa được tổ chức ngày 25, 26/9/2014 tại Hà Nội. Trong đó Việt Nam và EU đều thống nhất vấn đề thượng tôn pháp luật và coi trọng quyền con người trong tự do tôn giáo [6 đd].

 Về phía Giáo hội toàn cầu, Đức cha nói:

          – Khi đoàn đại diện FABC X gặp gỡ chào thăm lãnh đạo Ban Tôn giáo Chính phủ, ông Phạm Dũng- Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ- đã nhờ Đoàn chuyển lời cảm ơn tới Đức Giáo hoàng, các Bộ chức năng của Vatican đã tạo điều kiện cho bà con giáo dân làm tốt sứ mệnh của người công giáo và mong rằng Vatican quan tâm hơn nữa đến bà con Công giáo và chức sắc Công giáo ở Việt Nam.

Tại cuộc gặp gỡ này, Đức Hồng y Gaudencio Rosales, Đặc sứ của Giáo hoàng Benedicto XVI và Tổng thư ký FABC, Hồng y Oswald Gracias cũng cho biết, Đức Giáo hoàng đánh giá cao sự tiến triển của mối quan hệ giữa Việt Nam và Vatican, cũng như sự giúp đỡ của chính quyền Việt Nam trong việc cho phép đại diện không thường trú của Vatican hoạt động tại Việt Nam.[7]

Đức cha nói trong suy tư:

– Chúng ta chưa thấy được hết tầm quan trọng của FABC, nhưng bài viết trên trang của Ban Tôn giáo Chính phủ rõ ràng phản ánh khá trung thực, khách quan những nhận thức của Nhà nước về Hội nghị. Tác giả bài viết đặc biệt quan tâm đến nội dung này của Hội nghị: …các bài tham luận đều có nội dung thuần túy tôn giáo, nêu các vấn đề thuộc lĩnh vực thần học Công giáo,…” và phát biểu của Tổng thư ký FABC, Hồng y Oswald Gracias, đã khẳng định: Hội nghị lần này Giáo hội quan tâm đến 3 vấn đề của Châu Á đó là: “đối thoại với các nền văn hóa, với các tôn giáo và với người nghèo châu Á”. Đồng thời Hồng y cũng khẳng định FABC, Giáo hội Công giáo không tham gia vào đời sống chính trị cũng như can thiệp vào công việc nội bộ của bất cứ quốc gia nào.

Người trò chuyện:

-Thưa Đức cha, con cũng bất ngờ khi 4 năm sau FABC, Đức Tổng Giám mục

Phanxicô Xaviê, Tổng giáo phận Huế, trong lễ Kim Khánh mừng  50 năm Linh mục của Đức cha (năm 2016) còn rất ấn tượng: “Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) là một thành công vĩ đại ngoài sự tưởng tượng của những tham dự viên. Họ ca ngợi công việc đó không phải cho riêng Đức cha mà cho Hội đồng Giám mục Việt Nam.”

          Đức cha vui tươi hẳn lên:

-Tôi có nhiều hy vọng khi chia sẻ ý tưởng này với Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Ngài nói: “cho đến nay, xem ra đôi bên hiểu nhau hơn Và đôi bên có những bước mở đường cho nhau vượt qua những nghi ngại”. Tôi cũng lưu ý những phát biểu của ông Phạm Dũng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ. Ông ghi nhận những đóng góp của đồng bào Công giáo trong những năm qua, đồng thời mong muốn Công giáo Việt Nam ngày càng hội nhập mạnh mẽ trong mọi mặt đời sống xã hội, tiếp tục thực hiện đường hướng gắn bó, đồng hành cùng dân tộc: “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”, và ý chỉ của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI: “người giáo dân tốt đồng thời là người công dân tốt”.[8]

Người trò chuyện:

-Thưa Đức cha, trong xu thế hội nhập và phát triển, Nhà nước cũng có những nhận thức mới về tôn giáo. Đó là sự nhìn nhận tôn giáo là một phần của lịch sử dân tộc, văn hóa và đạo đức và hơn thế, là thực thể xã hội có khả năng cố kết cộng đồng và ổn định trật tự, an toàn xã hội; thừa nhận và khuyến khích phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống tốt đẹp của tôn giáo trong công cuộc xây dựng xã hội mới. Từ sự đổi mới tư duy về tôn giáo, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của đồng bào có đạo và đạt được tính hiệu quả của quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này [9].

Đức cha nhìn vấn đề cụ thể hơn:

-Thực ra cũng phải từ thực tiễn đời sống tôn giáo của nhân dân Nhà nước mới có sự đổi mới tư duy về tôn giáo. Thực tiễn ấy là, như FABC đã triển khai trong Sứ Điệp: Giáo hội Công giáo tại châu Á “hướng về người nghèo, hướng về các nền văn hoá, hướng về các tôn giáo; thể hiện bằng nếp sống giản dị và liên kết với người nghèo.” Và “xót thương những nạn nhân và bị gạt ra ngoài lề xã hội…” Đó chính là “sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Giáo Hội Việt Nam trong mấy chục năm qua, là những gì mà Caritas Việt Nam đã làm, giáo dân Giáo phận Xuân Lộc đã làm từ nhiều thập kỷ qua. Cho nên, việc Nhà nước cho phép Giáo phận Xuân Lộc xây dựng Trung tâm hành hương Đức Mẹ Núi Cúi là căn cứ vào chính thực tiễn tôn giáo mà FABC và Giáo hội Công giáo Việt Nam đã thể hiện. Tất nhiên là trong xu thế hội nhập chung với thế giới.

Ngưng một chút để lắng sâu những suy tư, Đức cha nói:

-Chúng ta cám ơn Chúa đã cho chúng ta một cơ hội để chúng ta có thể làm vinh danh Chúa, và cầu xin ơn Chúa cho cho công việc của Giáo phận. Đức cha nghĩ tầm quan trọng sâu xa của FABC X (năm 2012 tại giáo phận Xuân Lộc) đối với việc xây dựng Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Núi Cúi là như vậy.

VÀI HÌNH ẢNH ĐÊM VĂN HÓA VIỆT NAM

fabc-lễ 13

fabc-lễ 2

Fabc 3 -khán giả

fabc-diễn viên 1

Fabc-diễn viên 4 ca trù

fabc-diễn viên 9

(Tác giả chụp chung với các diễn viên)

__________

TIN TỔNG HỢP: tham khảo từ trang Giáo phận Thái Bình

http://giaophanthaibinh.org/m/c204/Giao-hoi-Viet-Nam.aspx?pi=44

[1] http://giaophanthaibinh.org/m/a2447/Hoi-nghi-toan-the-Lien-Hoi-dong-Giam-muc-A-chau-luong-gio-trong-lanh-va-tuoi-mat-cua-su-hiep-thong.aspx

[2] http://giaophanthaibinh.org/m/a2414/Hoi-nghi-toan-the-Lien-Hoi-dong-Giam-muc-A-chau-.aspx

[3] http://giaophanthaibinh.org/m/a2484/Hoi-nghi-toan-the-Lien-Hoi-dong-Giam-muc-A-chau-.aspx

[4] Tác giả bài viếtBan Truyền thông Giáo Phận Xuân Lộc. Nguồn tingiaophanxuanloc

http://dongthanhtam.net/Giao-hoi-viet-nam/Nghi-le-Khai-mac-Dai-hoi-FABC-lan-thu-X-2118.html

[5] Bích Đượm http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/249/0/3442/Hoi_nghi_Lien_Hoi_dong_Giam_muc_A_chau_va_nhung_van_de_Giao_hoi_Cong_giao_chau_A_quan_tam

[6]Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ tiếp đoàn Giám mục Giáo phận Xuân Lộc

Kiều Nga-trang web của Ban Tôn Giáo Chính Phủ http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/254/0/6089/Thu_truong_Bo_Noi_vu_Truong_ban_Ban_Ton_giao_Chinh_phu_tiep_doan_Giam_muc_Giao_phan_Xuan_Loc

[7] Mối quan hệ Việt Nam-Vatican được đánh giá cao:

https://vov.vn/chinh-tri/moi-quan-he-viet-namvatican-duoc-danh-gia-cao-239095.vov

[8] Dẫn lại bài viết của Bích Đượm

[9] Nguyễn Nguyên HồngHọc viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/xay-dung-dang/2018/53298/Quan-diem-doi-moi-cua-Dang-ve-ton-giao-tin-nguong.aspx   

ĐƯỜNG LÊN NÚI CÚI-Chương 5

ĐƯỜNG LÊN NÚI CÚI

Truyện dài tư liệu

Bùi Công Thuấn

Núi Cúi

(Núi Cúi ngày lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng trung tâm hành hương)

Đường lên Núi Cúi -Chương 5

CON ĐƯỜNG GIAN NAN

 

 

Việc tìm được đất làm Trung tâm tôn kính Đức Mẹ là một ơn đặc biệt, là niềm vui và hy vọng của cả Giáo phận. Nhưng con đường phía trước còn rất dài. Chưa thể lường hết được khó khăn về mọi mặt. Trong khi khai phá vùng đất hoang Giáo phận vừa mua được, việc thứ nhất phải làm là xin phép để chính quyền giao đất và cấp phép xây dựng. Hẳn nhiên ai cũng biết Nhà nước luôn rất thận trọng trong việc giao đất cho tôn giáo.

Đức cha chia sẻ:

-Tất cả hồ sơ đều phải gửi về tỉnh, mà tỉnh thì họ vẫn ngại vấn đề trung tâm, nơi tập họp đông người. Bởi vì họ khó giữ an ninh trật tự, mà an ninh chính trị là nhiệm vụ hàng đầu, cho nên họ không chấp thuận. Họ nói rằng đất ở trên đó là đất quốc phòng. Mình đã có kinh nghiệm đất trên Russeykeo. Nghe nói chỗ Núi Cúi là đất quốc phòng thì mình liên hệ ngay với quân khu 7. Bởi Quân Khu 7 là đơn vị quân đội bao quát khu vực đó. Khi hồ sơ đã gửi đi, mình được Quân khu 7 trả lời đó không phải là đất quốc phòng, mà chỉ là điểm tọa độ cao pháo binh. Rất mừng. Họ chấp thuận cho 22 hécta. Như vậy Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thay Bộ Chính trị, cũng đã chấp thuận cho mình 22 héc ta. Mình có được thuận lợi đó.

Căn cứ vào ý kiến của hai cấp có thẩm quyền trên, Tỉnh mới chấp thuận cho mình gần 5 héc ta. Nhưng mà, lúc đó mình cũng chưa biết đất thực là thế nào, vì họ chấp thuận trên bản đồ. Khi mình kiểm tra thực địa thì hầu hết là đất sườn đồi và thung lũng. Không thể xây dựng được. Biết làm thế nào bây giờ? Thôi, Tỉnh đã cho vậy, thì cứ nhận, rồi xin tiếp. Bởi ngay cả 5 hecta là đất bằng thì cũng chưa đủ để xây dựng những cơ sở tối thiểu của Trung tâm.

Người trò chuyện

-Thưa Đức cha, đến nay Tỉnh đã chấp thuận cho mình được bao nhiêu héc ta tất cả.

Đức cha giải thích:

-Mình cứ kiên trì xin và trình bày để họ hiểu rõ về công việc của mình, đến nay Tỉnh đã chấp thuận cho mình 13, 627 hecta đất để xây dựng Trung tâm.

-Và Đức cha cho khởi công xây dựng ngay?

-Thầy thấy đó, từ khi mình tìm được đất ở Núi Cúi đến nay phải đã mất 4 năm mới có thể bắt đầu xây dựng, vì thế Giáo phận quyết định làm ngay.

-Nhưng thưa Đức cha, lúc mình làm Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Trung tâm (2015) thì mình đã được chấp thuận 13,627 héc ta chưa?

-Lúc ấy mình chỉ được cấp 4, 43 hécta thôi.

Rồi Đức cha nói với niềm hân hoan xác tín:

-Còn gian nan lắm, nhưng việc Chúa muốn thì Chúa làm và Đức Mẹ dẫn dắt.

Tôi chia sẻ ý nguyện của Đức cha. Người luôn có niềm xác tín như vậy. Tôi lại nghĩ, việc giao tiếp với chính quyền để xin phép chắc phải do bộ phận hành chính của Tòa Giám mục thực hiện, nhưng cụ thể là ai nhận trọng trách này. Tôi hỏi Đức cha:

Việc liên hệ với chính quyền để xin phép, Giáo phận giao cho ai làm, thưa Đức cha?

Đức cha cho biết:

-Người trực tiếp lo việc này là ông Trưởng Ban Hành giáo – Giáo phận, ông Nguyễn Văn Chiến. Ông ấy là cầu nối giữa mình với Chính quyền. Một đàng ông hiểu công việc của mình, một đàng ông quen giao tiếp. Họ cũng biết ông là Trưởng Ban Hành giáo- Giáo phận nên tin được. Ông khéo léo, tin cẩn, và biết làm việc. Ông ấy lo đầy đủ thủ tục hồ sơ, liên hệ các cơ quan ban ngành, tháo gỡ những chỗ vướng, nên tất cả các giấy phép này, giấy phép kia, việc lớn như vậy, chỉ từ 2014 đến nay công việc của Giáo phận mới thành được như vậy.

-Con cám ơn Đức cha. Xin Chúa ban cho Đức cha sức khỏe để Đức cha tiếp tục xây dựng Trung Tâm tôn kính Đức Mẹ như ý nguyện của Giáo phận và của riêng Đức cha.

 

***

Ông Chiến

Ông Trưởng Ban hành giáo -GPXL Nguyễn Văn Chiến mặc áo sơ mi xanh đội nón kết trắng, đứng bên phải ĐC Đaminh)

Hôm nay lễ Thánh Giuse bổn mạng Giáo phận, sân Tòa Giám mục rộn rã người ra vào. Các đoàn thể khắp nơi về mừng lễ. Đó là một nếp sinh hoạt quen thuộc. Từ khi Giáo phận xây dựng được cơ sở Tòa Giám mục mới, nơi đây đã trở thành nơi gặp gỡ của mọi sinh hoạt Mục vụ của Giáo phận. Cộng đoàn dân Chúa gặp nhau hân hoan như được bước vào cung điện Nhà Chúa.

Sau phần nghi lễ và liên hoan, tôi tìm gặp ông Trưởng Ban Hành giáo – Giáo phận. Tôi đã quen ông từ khi tham gia sinh hoạt trong Ban Giáo dân, nhưng ông hiện diện trong mọi hoạt động của Giáo phận, thành ra gần như có thể gặp ông thường xuyên ở Tòa Giám mục. Cũng ít thấy quý chức nào lại gắn bó với các hoạt động của Giáo phận và gần gũi các Đức Giám mục Giáo phận như ông.

Dáng ông dong dỏng, hơi gầy nhưng nhanh nhẹn, trẻ trung và hiền hòa dễ gần. Trong cách giao tiếp, ông chân thành nên được lòng tin của mọi người. Không bao giờ vắng nụ cười trên khuôn mặt ông, và ngay cả những khi có những công việc “nóng” vẫn thấy ông điềm đạm, hiền hòa. Có lẽ vì thế mà ông nối kết được mọi tâm hồn trong công việc.

Trong những lần gặp nhau trò chuyện việc của Giáo phận, tôi và ông thường đi bộ chậm chậm trong sân Tòa Gíam mục, dưới bóng những hàng cây cao mát rượi. Có khi tìm một băng ghế ngồi, cũng có khi bất chợt gặp nhau, vội vàng chỉ kịp gửi một lời chào. Cũng có khi gặp ông dịp Đức cha gọi tôi đi với ngài lên xem xét công việc trên Núi Cúi.

Những câu chuyện cứ chắp nối. Và khi Đức cha cho hay ông chính là người lo việc giấy tờ, xin giao đất, xin phép xây dựng Trung tâm cho Giáo phận, tôi mới hiểu tại sao ông  gần gũi với Đức cha như vậy. Những lần gặp gỡ với ông giúp tôi hình dung ra những gì ông đã làm cho công trình của Giáo phận trong những năm qua, những công việc không phải ai cũng làm được.

Đúng như Đức cha nói. Chính Chúa đã dùng những cơ hội, những hoàn cảnh những con người để thực hiện ý của Chúa. Tôi hiểu ông đã đi dưới ánh sáng dẫn dắt của Chúa Thánh Thần.

***

Người trò chuyện

-Ông có lo việc xin phép cho đất của Giáo phận trên Russeykeo không? Chắc ông làm việc với chính quyền huyện Xuân Lộc trên đó phải không?

Ông Trưởng Ban Hành giáo-Giáo phận (xin gọi tắt là ông Chánh):

Dạ không, trên Tỉnh.

-Trên Tỉnh, mình quan hệ với bộ phận nào? Có phải Sở Tài nguyên Môi trường không?

-Trên Tỉnh. Thường cao nhất là Tỉnh Ủy. Chính quyền trực tiếp là Ủy ban Nhân dân, các Phó chủ tịch tỉnh. Xuống Sở Tài nguyên Môi trường, thường là ở bộ phận tham mưu. Rồi liên hệ về quy hoạch và cấp phép xây dựng là Sở Xây dựng. Người tư vấn chuyển tiếp là Ban Tôn giáo, bộ phận chuyên trách Kitô giáo. Việc gì cần liên hệ với lãnh đạo thì mình liên hệ lãnh đạo, việc gì cần tư vấn, mình trực tiếp ở phòng. Những đơn vị ấy là đơn vị trình bày hồ sơ, và tư vấn cho mình. Khi làm việc thì gặp gỡ trực tiếp ở ngoài cơ quan, điện thoại, email.

Người trò chuyện

-Đất trên Russeykeo, phải không?

Ô Chánh:

Dạ Russeykeo. Sau khi trao đổi hết các vấn đề thì các anh ấy nói đất an ninh quốc phòng. Mình cũng giải thích: Đất của mình nằm lô đất sau cùng còn cách chân núi Chứa Chan 2, 5 km, chứ không phải sát chân núi. Hơn nữa, trên đỉnh núi có cái chùa, và ở dưới Gia Lào cũng có hai cái chùa mới, tức là hai cơ sở tôn giáo nằm ngay trong khu vực đất quốc phòng. Trung tâm mình xin còn cách chân núi 2, 5km, đâu có ảnh hưởng gì?

Lần sau gặp, họ cũng chỉ lấy lý do đó, họ không chấp thuận.

Ông ngừng một chút rồi nói tiếp:

-Sau đó Ban Tôn giáo chỉ cho một chỗ, ở tít trên Phương Lâm, gần đồi chuối, từ ngoài Quốc lộ 20 đi vào 20 cây số. Đất ấy hình như của dòng Xi Tô, chỗ đó có mấy chục hécta. Đất là đất của Xi Tô, đã có người ở, nhưng Nhà nước quản lý. Em bảo, đất của người ta làm sao mình lấy được! Đất lại cách quốc lộ 20 vào trong 20 cây số, giáp ranh với Lâm Đồng, làm sao đưa Trung tâm vào trong đó được. Trung tâm (nó) phải ở chỗ trung tâm, chỗ nào người ta đến được. Em không chịu. Thế là sau đó, cuối năm 2014, Đức cha mới qua bên Dốc Mơ, Ngài mới thổ lộ với cha cố Đường. Sự việc như thầy biết rồi đó.

Ông kể:

-Ngày mùng 4 tết, Đức cha sang thăm chúc tết cha cố Hoàng Minh Đường ở giáo xứ Dốc Mơ, có cha quản Hạt Gia Kiệm. Ngài thổ lộ việc tìm đất làm Trung tâm tôn kính Đức Mẹ. Ngài nói với quý cha rằng, đất của Tòa Giám mục định làm Trung tâm Đức Mẹ ở Russeykeo không xin được phép để xây dựng. Nhà nước trả lời đó là đất quốc phòng. Bây giờ Giáo phận chưa biết tìm đất ở đâu.

Nghe vậy, cha cố Đường, cha quản Hạt Gia Kiệm mới dẫn Đức cha đi tìm đất. Sau rất nhiều lần thăm dò và khoanh vùng, Giáo phận chọn được khu vực Núi Cúi. Một mặt Giáo phận vừa tìm mua đất, mặt khác liên hệ với chính quyền để xin giao đất và xin phép xây dựng Trung tâm.

Ông Chánh cho biết:

-Lúc ấy Tòa Giám mục đã mua được khoảng 22 hécta. Đầu tiên chỉ vậy thôi. Mình làm tờ trình. Theo sự hướng dẫn của một bộ phận Chính quyền, mình trình bày chỗ Russeykeo vì lý do an ninh quốc phòng, không thể xây dựng Trung tâm. Bây giờ chúng tôi tìm được nguồn đất ở bên này, chúng tôi xin phép được giao đất và xây dựng Trung tâm.

Người trò chuyện

-Mình trình cho Ủy ban Nhân dân Tỉnh hay cơ quan nào?

Ông Chánh:

– Ủy ban Nhân dân Tỉnh chứ! Tất cả đều phải trình Ủy ban Nhân dân Tỉnh hết, rồi sau đó Tỉnh mới giao cho các ban ngành liên quan. Mình phải liên hệ trực tiếp với Tỉnh. Họ ghi nhận ý đó.

Người trò chuyện

-Như vậy tờ trình đầu tiên của mình xin là bao nhiêu hécta?

Ông Chánh:

-Mình xin xây dựng 22 hécta. Tờ trình em còn giữ.

Ông Chánh nói tiếp:

-Đầu năm 2014 mình xin được giao đất để xây dựng. Khi giao đất, một mặt là mình phải liên hệ trên Tỉnh,  một mặt là mình phải ra ngoài Trung ương nữa.

Người trò chuyện

-Ngoài Trung ương mình phải liên hệ với cơ quan nào?

Ông Chánh:

Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Dân vận Trung ương, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Công an, những ngành liên quan đến tôn giáo. Vừa làm việc với ngoài Trung ương, vừa làm việc với địa phương.

Ông trầm ngâm và có vẻ e dè:

-Thực sự ra, trên Tỉnh, có người đồng thuận, có người không. Vấn đề là ở thời điểm đó còn khó và còn vướng lắm. Xưa thì, có bao giờ Bí thư với Chủ tịch Tỉnh đến thăm Tòa Giám mục đâu. Cùng lắm là có Phó chủ tịch, Trưởng Ban Dân vận, Ban Tôn giáo hoặc Chủ tịch Mặt trận dẫn đoàn đến thăm dịp lễ Giáng sinh. Lúc ấy Tỉnh chỉ chấp thuận cho mình gần 5 hecta.

Người trò chuyện

-Tức là Ủy ban Nhân dân Tỉnh chấp thuận bằng văn bản?

Ông Chánh:

-Không, mới ngỏ lời gần 5 héc ta. Trung ương nói nếu được 5 hécta mình cứ nhận, sau đó rồi xin thêm. (Thì thực sự ra) khi mình đến khu đất đó, mình mới chỉ ngó từ xa, (thì) đâu có định được đất nó thế nào.

Ông Chánh kể lại:

-Em mới hỏi ông chánh Tiến, trưởng Ban hành giáo Dốc Mơ là, khu đất nào, để xin tờ bản đồ, mình hoạch định nó. 22 hécta ban đầu gồm những thửa đất nào, rồi mình cộng các thửa lại để cho đủ 22 hécta, mình xin số tờ, số thửa, mình gắn vào tờ trình, chỗ nào trọn thửa, chỗ nào một phần thửa (đấy) để cho đủ số đó.

Ông Chánh thú nhận rằng:

-Mình đâu có nắm được cái thửa ấy nó nằm cụ thể trên mặt đất ở chỗ nào, các ông ấy cũng chẳng nắm được, chỉ biết nó ở trên bản đồ. Thế nên khi hỏi các ông ấy hai cái đồi (Núi Cúi) nó nằm đâu, các ông ấy phác phác trên bản đồ như vậy, thì mình làm theo các ông ấy, chắc nó là thửa đó, rồi làm tờ trình. Sau đó họ giao cho Sở Tài nguyên Môi trường. Mình liên hệ với Sở Tài nguyên, Ban Giám đốc giao cho Chi cục Quản lý Đất đai chuyên về quản lý đất này, trao đổi với nhau, bản vẽ mình đưa lên bao nhiêu thì họ biết bấy nhiêu. Những cái đồi, thung lũng, đủ mọi thứ. Hai bên trao đổi liên hệ với cả Ban Tôn giáo, trao đổi với nhau về 5 hécta. Em nói, 5 hécta thì không thể làm Trung tâm, vì đây là Giáo phận lớn nhất nước. Hai bên lại trao đổi, từ 5 hécta lên 8 hécta, rồi 8 hécta lên 10 héc ta. Và chốt cuối cùng là 13, 627 hécta.

Vậy để cho mình đạt được việc tổ chức Lễ Đặt viên đá đầu tiên vào ngày 15.8.2015, họ tranh thủ giao đất cho mình là 4, 43 hecta đầu tiên, giao đất để cho mình kịp tổ chức lễ. Thực sự ra khi giao 4, 43 hecta, mình cũng đã thực hiện cắm mốc đầy đủ.

Người trò chuyện

-Lúc đó bên Sở Tài nguyên Môi trường họ có đi với mình không?

Ông Chánh:

-Có chứ! Họ đi thực địa chứ, nhiều lần xuống khảo sát, kể cả lãnh đạo Tỉnh, và các ban ngành liên quan đều đi xuống khảo sát hết tất cả, rồi mới giao cho mình 4, 43 hécta.

Người trò chuyện

-Trong 4, 43 hécta có 2 cái đồi Núi Cúi không?

Ô Chánh tỏ vẻ thất vọng:

-Có một phần cái đồi bên này, chỗ bây giờ làm nhà nguyện Thánh Thể đó. Bên kia chưa có gì hết, nằm ngoài các thửa đất được giao. Khi mình về mình mới check lại bản đồ, mới biết nó lệch hết. Cái chỗ mình xin xây thì không có, còn chỗ được chấp thuận xây thì chỉ có một tí đất chỗ nhà nguyện Thánh Thể, còn lại bao nhiêu đều là sườn đồi và thung lũng, đâu có làm được cái gì!

Người trò chuyện

-Bây giờ mình làm sao?

Ông Chánh:

-Sau khi giao xong, bắt đầu trao đổi lại. Mình nói, đất được cấp phép nó nằm thế này thì không xây dựng được cái gì cả. Đất tính thì nhiều, nhưng thung lũng với sườn đồi không hà. Mình trao đổi lại với lãnh đạo Tỉnh với bên các ban ngành, như vậy thì không thể xây cất gì được, xin chuyển đổi lại. Sau khi trao đổi thống nhất rồi, em về làm lại tờ trình, hoạch định lại bản đồ có thêm hai đồi, còn chỗ sườn đồi, thung lũng thì bỏ đi, không lấy nữa, cắt bỏ ra, rồi vẽ lại…

Người trò chuyện

-Vẽ lại, là mình vẽ hay Sở Tài nguyên Môi trường Tỉnh?

Ông Chánh:

-Đất của mình thì mình làm, mình phải tự làm hết tất cả. Nhờ mình có được cái file bản đồ của họ, nên mình cập nhật được, với lại, nhờ mình đã đi thực địa, mình biết được cần phải chọn chỗ nào. Vẽ xong, mình trao đổi với họ, lại điều chỉnh, lần thứ hai thì nhất trí với phương án mới vẽ đó.

Ông Chánh chợt nhớ:

-Chưa, còn phương án thứ ba! Họ thấy rằng phía trên này còn vướng rừng bảo hộ. Thế là không được chấp thuận. Lại trao đổi nữa. Đi tới đi lui lần thứ ba. Cuối cùng, từ bản đồ đầu tiên ra đến bản đồ cuối cùng là 5 cái bản đồ, rất nhiều lần trao đổi lại, check lại. Cuối cùng, thống nhất là 13, 627 hécta.

Người trò chuyện

-Tức là sau khi đặt viên đá đầu tiên 15.08.2015?

Ông Chánh:

-Sau Lễ đặt viên đá đầu tiên, trao đổi lại vấn đề ranh mốc lại, khu đất mình chọn lựa. Chọn lưa là do mình chứ họ không chỉ định và họ cũng chẳng biết chỗ nào mà chỉ định. Thế là mình chọn lựa, mình cứ mày mò rồi làm. Vì không phải cái chuyên môn của mình nên làm tới đâu mình học tới đó. Không biết thì hỏi mấy đứa con nó chỉ, chẳng hạn như về kỹ thuật, cứ mày mò làm. Làm xong rồi trao đổi với họ đến cái bản đồ cuối cùng thống nhất, rồi mới làm lại tờ trình cuối, điều chỉnh lại, trình lên Ủy ban Nhân dân Tỉnh.

Người trò chuyện

-Vất vả quá ông nhỉ!

Ông Chánh tâm sự:

-Thực sự ra thì quá trình mình tự làm, nên mình phải làm rất nhiều tờ trình. Thứ nhất là tờ trình mình nhắc lại khi mà họ chưa giải quyết, rồi tờ trình xin chuyển đổi vị trí các thửa đất vì lý do là các vị trí kia là nó không có hiệu quả về mặt bằng đất để xây dựng các công trình, nó vướng sườn đồi hoặc vướng thung lũng. 4, 4 hécta người ta giao ban đầu về sau này phải cắt bỏ đi hết 1 hécta mấy, để cập nhật lại chỗ khác. Họ hỗ trợ mình rất là nhiều. Nhất là từ nhiệm kỳ sau của Đảng ủy và Ủy ban Nhân dân Tỉnh Đồng Nai, lãnh đạo Tỉnh tạo điều kiện. Những cái gì tồn đọng của tôn giáo, chính quyền đã trao đổi để giải quyết.

Người trò chuyện

-Công việc dễ dàng hơn rồi phải không, thưa ông?

Ông Chánh:

-Khi đã trao đổi xong với lãnh đạo, ngỏ ý, được đồng thuận rồi mới bắt đầu thực hiện. Vấn đề lại nảy sinh. Khi mình làm tờ trình cuối cùng để xin giao đất thì lại phải cập nhật theo thủ tục mới. Theo quy định Nhà nước, thì phải cập nhật vào quy hoạch Nông Thôn Mới từ xã, rồi lên huyện, rồi mới lên tỉnh. Phải đi theo từng cấp như vậy, phải cập nhật lại diện tích 13, 627 hécta mới vào Nông thôn Mới, đất quy hoạch tôn giáo (ấy), xong rồi mới trình lên từng cấp, Hội đồng Nhân dân Tỉnh trên đó mới duyệt lại.

Người trò chuyện

-Sao nhiêu khê quá vậy, thưa ông?

Ông Chánh vẫn kiên nhẫn:

-Xong việc đó rồi Tỉnh mới trình ra Trung ương. Tại vì, quỹ đất người ta xin, ra ngoài trung ương 5 năm mới trình một lần. Về quy hoạch, 5 năm Trung ương mới duyệt xét một lần cho các địa phương, mình vướng vào quy hoạch 5 năm đó. Năm 2010 mình đã xin tại Ryusseykeo. Năm 2014 mới xin tại Núi Cúi, , qua Lễ đặt viên đá 2015, mới là chu kỳ 2016-2021.

Ông Chánh kể về những sự phức tạp của việc xin phép:

-Tất cả quỹ đất Đồng Nai ra ngoài Trung ương cho đến tới cuối năm 2016, tỉnh Đồng Nai mới được chấp thuận. Tháng 11, em nhớ là tháng 11/2017. Tỉnh mới có thể làm thủ tục giao đất cho mình, mà theo theo những quy định mới, thủ tục mới. Lại chờ đợi, lại làm tờ trình, lại trao đổi, đi lên đi xuống không biết bao nhiêu lần, mới được giao đất. Quyết định giao đất tháng 5 hay tháng 6 gì đó.

Người trò chuyện

-Nghĩa là mới đây thôi?

Ông Chánh:

-Mới đây thôi đấy, vì Tỉnh chờ được Bộ Tài nguyên Môi trường ngoài kia chấp thuận tháng 11 mà, rồi về Tỉnh mới làm các thủ tục giao đất, theo các thủ tục mới, rồi họ mới giao đất cho mình. Mình là được giao đất sớm nhất trong tất cả các công trình ở Đồng Nai, kể cả công trình Nhà nước, công trình doanh nghiệp. Mình là được giao sớm nhất!

Trong sân đã có những đoàn lên xe ra về. Tôi hỏi:

-Ông Chánh đã về chưa?

-Chưa, em còn ở lại xem Đức cha có dặn dò gì không, có giao việc gì mới không, với lại cũng phải gặp vài vị trong Ban Hành giáo- Giáo phận để trao đổi những công việc sắp tới của Giáo phận.

Người trò chuyện

-Ông chờ tôi chút, tôi đi lấy chai nước, rồi mình nói chuyện tiếp nhá.

Tôi đến bàn để nước uống, lấy hai chai nước lọc. Tôi đưa cho ông một chai. Nãy giờ nói chuyện say mê, quên cả uống nước.

Người trò chuyện

-Lúc mình xây Nhà Nguyện và hội trường thì mình xin phép thế nào?

Ông Chánh:

-Xin xây dựng tạm 3 năm.

Người trò chuyện

-Lúc đó đã có giấy phép giao đất chưa?

Ông Chánh ngậm ngùi:

-Chưa. Cái xin xây dựng tạm cũng là một vấn đề, cũng có người bị kỷ luật, có người bị khiển trách. Mình xin làm tạm trước Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Trung tâm. Lúc ấy chưa được giao đất, chưa có gì cả. Mình mới chỉ mua đất, san ủi mặt bằng. Về mặt tâm linh, Đức cha nói mình cần nhanh chóng có chỗ đặt Thánh Thể để kéo ơn Chúa xuống cho Giáo phận. Với lại, em nghĩ, mình làm tạm thời thì đâu có vấn đề gì.

Người trò chuyện

-Lúc đó mình đã được chấp thuận 5 hecta đất chưa?

Ông Chánh:

-Chưa chưa! Chưa có cái gì hết, nhưng mình đã ngỏ ý với lãnh đạo Tỉnh. Có người tỏ ý đồng thuận, có người không. Mình làm tờ trình, xin xây dựng tạm, trong thời hạn 3 năm. Hai Phó Chủ tịch Tỉnh lên thẩm tra, một phụ trách về xây dựng, một phụ trách về đất đai. Trước nhất là mình xin làm nhà tạm là để kịp dịp Lễ đặt viên đá đầu tiên. Bởi vì khi tổ chức lễ, mình phải có nơi đón khách, phải có nơi làm lễ và rồi còn đãi tiệc nữa. Nếu đất trống trơn giữa nơi hoang vu thì tổ chức thế nào được? Rồi mình cũng ngỏ ý với Trung ương, xin trung ương giúp cho.

Người trò chuyện

-Lúc ấy tôi thấy Giáo phận làm hai nhà tạm ấy rất nhanh, khá rộng lớn và đẹp. Tôi không hiểu sao Giáo phận có thể làm nhanh như vậy. Không khí thi công phấn khởi vô cùng. Tiến độ công việc cứ ào ạt, cơ ngơi mỗi ngày mỗi khác.

Ông Chánh khẽ lắc đầu:

-Đó là nhìn bên ngoài vậy thôi. Mình xây dựng khi chưa có giấy phép, họ làm khó mình cái chỗ đó. Họ cũng mời lên.  Kỳ đó có Đức cha, Đức Ông với em, được mời lên Tỉnh, trao đổi về cái việc đó. Em với tư cách Trưởng Ban hành giáo-Giáo phận, đứng ra nhận trách nhiệm, với lý do là các ngài không biết gì về việc này.

Ông Chánh minh giải với họ:

-Thực ra, các ngài cũng lo lắng cho việc tổ chức Đại lễ đặt viên đá đầu tiên. Muốn đặt viên đá thì cần phải có cái nhà. Đã là trung tâm, thì phải có nhà nguyện tạm, thứ hai nữa là, phải có nhà đón khách. Khách dự lễ sẽ có Hội đồng Giám mục Việt Nam, có cả khách chính quyền Trung ương, địa phương.

Em nói vậy, thế họ bảo, tại sao không làm ở phía dưới, sau lễ đài.

Em lại phải trình bày:

-Các quý vị biết nơi đó là rất ồn ào, vì là nơi người dân dự lễ. Thứ hai nữa là, mặt bằng nó không có đủ. Thứ ba nữa là gió. Thế nên mới phải xin làm tạm trên đó.

Người trò chuyện

-Kết quả thế nào?

Ông Chánh:

-Em phải nhận khuyết điểm. Rồi thôi. Sau đó mình phải làm tờ trình, xin Tỉnh chấp thuận cho mình làm nhà tạm 3 năm để có chỗ làm Nhà nguyện và tiếp khách.

Người trò chuyện

– Tôi lại tưởng lúc đó mình đã được giao đất 5 hécta có giấy tờ hẳn hoi rồi mình mới làm mấy cái đó?

Ông Chánh:

-Chưa, chưa có gì hết! Mình cũng đã ngỏ lời trước, họ cũng đã đồng ý. Nhưng mà mình và họ nghĩ là nó nằm trong ranh đất. Nhưng không phải, nó nằm ngoài ranh đất mình xin. Ấy! Nó gay là gay ở chỗ đó, chỗ mình làm nhà tạm nằm ngoài ranh đất.

Người trò chuyện

-Khi ông làm việc và gặp nhiều khó khăn như vậy thì ông có nghĩ điều gì không?

Ông Chánh:

-Thực sự ra thì em cảm nhận được điều này. Ở mỗi (cái) thời kỳ, mỗi một (cái) giai đoạn, Chúa, Đức Mẹ nâng đỡ và che chở cho mình. Em nói mỗi thời kỳ, mỗi giai đọan là thế này, là khi Đảng và Nhà nước đổi sang nhiệm kỳ mới, nhiệm kỳ 2010-2015 sang nhiệm kỳ 2016-2020 chẳng hạn, đặc biệt là khi có những chủ trương, chính sách mới, thì mình có cái thuận lợi. Cái việc đó nó đỡ cho mình, không thôi thì rất là gay gắt. Với lại, được cái, là mình phối hợp được nhiều ban ngành. Không phải mình chỉ làm việc với cấp lãnh đạo Tỉnh, mà minh còn trực tiếp làm việc với các Ban trực thuộc Tỉnh, các phòng chuyên môn, nhờ thế công việc mới nhanh được.

Người trò chuyện

– Lúc ông đi lo công việc như vậy thì ông đi một mình hay có ai bên Tòa Giám mục đi với ông?

Ông Chánh:

-Một mình em.

Người trò chuyện

– Nhưng làm sao người ta tin ông để làm việc được?

Ông Chánh:

-Thứ nhất là, đầu tiên Đức cha cho em một cái giấy ủy quyền, thứ hai là người ta cũng biết mình là Trưởng Ban Hành giáo của Giáo phận rồi. Với lại, trước đó mình đã quen biết với họ.

Người trò chuyện

-Trước khi làm việc, ông có quen thân nhiều các vị trong cơ quan Nhà nước không, các vị ở địa phương, ở các phòng ban, ở Ủy ban Nhân dân Tỉnh chẳng hạn?

Ông Chánh:

-Thưc sự ra quen thân nhiều các ông ấy là sau khi mình đi giao dịch về công việc của Giáo phận. Mình gặp họ nhiều lần thành ra quen thân thôi.

Người trò chuyện

– Nhưng mà cái độ thân tình thì có nhiều không? Tức là chỗ thân tình cá nhân, mà vì cái tình thân ấy, họ giải quyết công việc cho mình, thì cái thân tình ấy có nhiều không?

Ông Chánh:

-Vấn đề đó, thực sự là ơn Chúa. Em không có giao tiếp với họ trên bàn nhậu Bởi vì mình không nhậu được. Cà phê lại càng không. Mối quan hệ tình thân của mình với họ là ở cái khác. Thí dụ những dịp lễ, tết, mình đến thăm viếng họ. Em đi với Tòa Giám mục chúc tết chung, rồi mình gặp gỡ riêng. Họ quý cái chân tình của mình, họ thấy được sự trung thực của mình trong làm việc, nhất là việc em làm không phải là việc riêng, cũng chẳng có lợi lộc riêng tư gì, tất cả là vì việc chung của Giáo phận. Họ hiểu vậy, thành ra họ quý mến mình.  Em thấy có điều đặc biệt này là, họ rất quý mến Đức cha Đaminh, họ trọng cái nhân cách của Đức cha, họ thấy được tầm vóc của Đức cha, họ nhìn ra được những việc Đức cha làm là có những giá trị tốt cho văn hóa, cho xã hội, thành ra, khi em giao tiếp với họ, em có được ảnh hưởng rất lớn của Đức cha phía sau, nên công việc em làm mới được như vậy.

Người trò truyện:

– Đức cha Đaminh có đi gặp gỡ giao tiếp với các vị ấy nhiều không?

Ông Chánh lắc đầu:

-Không Không, để thầy có thể hiểu rõ được uy tín và ảnh hưởng của Đức cha Đaminh với chính quyền trung ương, địa phương em có thể tóm tắt như sau:

Uy tín và ảnh hưởng của Đức cha Đaminh khởi đi từ cuộc gặp gỡ với ông Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt vào ngày 29.4.2005 tại Tòa Giám mục. Dịp ấy ông vào dự mit tinh tại thành phố Hồ Chí Minh kỷ niệm ngày thống nhất đất nước. Ông đến thăm Tòa Giám mục, nhân trước đó ông có nhận được bản báo cáo tổng kết của Ban Bác ái Xã hội Giáo phận. Em nhớ là bản tổng kết được 54 tỷ đồng. Ông đến thăm chia sẻ và khích lệ người Công giáo Giáo phận.

Trong cuộc gặp gỡ đầu tiên này, ông tỏ ra rất quý mến và cảm phục việc lãnh đạo của Đức cha Đaminh, nhất là được nghe phát biểu rất chân thành của Đức cha Đaminh.

Đức cha Đaminh nói: “Bác ái là bản chất của người Công giáo. Người Công giáo không làm việc bác ái là đánh mất bản chất của mình. Chúng tôi sẽ vận động cho người Công giáo ngày càng gia tăng làm việc bác ái giúp mọi người không phân biệt”. Ngài xin chính quyền tạo điều kiện để người Công giáo làm việc bác ái, làm những công việc lợi ích cho dân, làm giàu đẹp cho đất nước.

Nghe Đức cha Đaminh nói, ông rất hài lòng và ông nói: “Các Cụ cứ lo việc tôn giáo cho tốt còn việc xã hội để chúng tôi lo”.

Sau cuộc tiếp xúc, ông Chủ tịch Phạm Thế Duyệt còn đi thực địa một vài giáo xứ xem công việc bác ái của họ có trùng khớp với bản báo cáo hay không!

Ngoài ra, còn hai ba lần ông Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thử thách việc bác ái cụ thể của Giáo phận như việc giúp đỡ đồng bào Sơn La di dời để lấy đất làm thủy điện Sơn La-Hòa Bình, hay việc cứu trợ những thuyền nhân ở Thanh Hóa lên đất liền định cư. Họ đã lênh đênh trên thuyền từ đời cha đến đời con thời vua quan cấm đạo. Và còn một lần nữa giúp cho một học sinh dân tộc, xin cá nhân ông Chủ tịch đóng học phí trọn khóa.

Qua những lần thử thách đó ông Chủ tịch rất quý mến và tin tưởng Đức cha Đaminh. Ông đã giúp đỡ nhiều cho việc phân chia Giáo phận mới Bà Rịa mà Hội đồng Giám mục Việt Nam đã đề nghị từ lâu. Hay việc thành lập Chủng viện Xuân Lộc mà Đức cha Phaolô-Maria cũng đã xin từ lâu, kể cả trường nghề Hòa Bình, trường nghề duy nhất cùa Giáo phận và có thể nói là duy nhất của Giáo hội Việt Nam, việc tái lập Ban Bác ái Xã hội Caritas Việt Nam đã ngừng trên 35 năm.

Ngoài ra ông Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn giới thiệu Đức cha Đaminh cho các vị lãnh đạo Chính phủ trong nhiều dịp. Cụ thể trong dịp đầu năm 2006 khi Đức cha Đaminh gọi điện chúc mừng năm mới ông, ông đáp: “Tôi đang ngồi uống rượu “thánh” của Cụ cho với các vị lãnh đạo đây”.

Có thể nói nhờ tình cảm đặc biệt của ông Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và lời giới thiệu Đức cha Đaminh cho các vị lãnh đạo Trung ương nhất là các vị lãnh đạo Ban Tôn giáo, Ban dân vận, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nên từ Trung ương đến địa phương đều quý mến Đức cha Đaminh.

Hơn nữa trong những dịp viếng thăm của các vị lãnh đạo Trung ương, Tỉnh, kể cả những dịp viếng thăm của các vị lãnh đạo tôn giáo như dịp Đức Hồng y Thánh bộ Truyền giáo đến Tòa Giám mục. Đức cha Đaminh cũng cho em được tham dự, nhất là được cụng ly với các vị lãnh đạo Chính quyền trong các bữa tiệc mừng. Vì Đức cha Đaminh không biết uống rượu. Nhờ vậy quý vị lãnh đạo Chính quyền Trung ương, Tỉnh, địa phương biết em, ngoài ra nhờ giấy giới thiệu của Đức cha Đaminh cho Em với tư cách là Trưởng Ban Hành giáo- Giáo phận, đại diện Đức cha để liên hệ với Chính quyền.

Người trò chuyện

– Như vậy, có phải nhờ ủy quyền của Đức cha Đaminh mà ông có thể giao tiếp với các cấp?

Ông Chánh:

-Dạ, đúng vậy…

Người trò chuyện

– Chắc ông phải đi lại rất nhiều?

Ông Chánh:

-Dạ, liên hệ đủ thứ ban ngành.

Người trò chuyện

– Ông liên hệ các ban ngành ở đây, còn ở ngoài Trung ương thì ai đi?

Ông Chánh:

-Em cũng đi luôn.

Người đàm thoại ngạc nhiên:

-Ông cũng đi luôn? Ra ngoài đó ông đi một mình hay đi với ai?

Ông Chánh:

-Em đi một mình.

– Ông giỏi thật? Sao ông quen ngoài đó để ra giao tiếp với họ được?

-Thực sự ra với Ban Tôn giáo ngoài đó, thí dụ, mỗi lần họ vào đây họ thăm, thì mình biết người này làm chức vụ này, người kia làm chức vụ kia. Chính trong cái nối kết ấy, mình hỏi thăm, mình xin số điện thoại, và trao đổi với nhau.

Người trò chuyện

– Ra ngoài đó ông gặp họ ở nhà riêng hay cơ quan?

-Đến cơ quan. Em ra ngoài đó, chủ yếu là chúc tết. Năm nào cũng đi

– Việc thăm chúc tết là bình thường, còn ông làm việc lúc nào?

-Làm việc chủ yếu bằng điện thoại, hoặc gửi email.

-Về mặt hành chính thì có tờ trình văn bản?

-Vâng, phải làm việc bằng văn bản hành chính, tờ trình. Còn giao tiếp thì qua điện thoại hoặc qua thư, hoặc là gặp gỡ khi các anh ấy vào đây. Có khi họ vào công tác ở thành phố Hồ Chí Minh. A lô một cái, mình gặp ở trên đó.

Người trò chuyện

– Như trường hợp ông Nguyễn Thiện Nhân (Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam), ông Nguyễn Xuân Phúc (lúc ấy là Phó Thủ tướng) vào đây thì mình có liên hệ trước không?

Ông Chánh:

-Các vị ấy đi theo đường chính ngạch. Họ họ báo với Tỉnh là đến Tòa Giám mục chúc tết.

-Ông Nguyễn Thiện Nhân và ông Nguyễn Xuân Phúc về đây, họ có lên Núi Cúi lần nào chưa?

-Chưa chưa!

-Nếu ra Trung ương thì ông gặp ai?

-Nếu ra Trung ương, thì đến Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Dân vận Trung ương, Ban Tôn giáo Chính phủ

Người trò truyện:

-Việc ông Nguyễn Thiện Nhân (Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam) chuẩn thuận cho mình 22 hecta thì mình làm thế nào?

Ông Chánh:

-Mình có gửi tờ trình. Cụ thể là thế này. Mình ra ngoài đó gặp gỡ, trao đổi, trình bày nguyện vọng của mình, và gửi những tờ trình. Sau khi ông Nguyễn Thiện Nhân vào đây, ông đã nắm bắt được vấn đề nên có ý kiến chuẩn thuận của Mặt Trận.

Người trò chuyện

– Khi giao tiếp với ông Nguyễn Thiện Nhân thì ông trực tiếp hay qua văn phòng của ông ấy?

Ông Chánh:

-Phải qua văn phòng chứ, rồi gặp anh Trình (Lê Bá Trình- Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).

Ngưng một chút, ông Chánh nói tiếp:

Ban Dân vận Trung ương cũng vậy. Qua văn phòng rồi gặp anh Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Trưởng Ban Dân vận Trung ương.

Người trò chuyện

-Còn bên Quân khu 7 thì sao?

Ông Chánh:

-Về quân khu 7, trước đây anh chỉ huy trưởng của Đồng Nai, anh lên làm Tư lệnh Quân Khu 7. Có thuận lợi cho mình khi liên hệ lên trên đó. Thường là, tất cả các văn bản, Ủy ban Nhân dân Tỉnh sẽ gửi cho các Ban, Ngành, trong đó có lấy ý kiến của Quân Khu 7, đại diện Bộ Quốc phòng trong này. Chỗ Tỉnh đội sẽ có tờ trình lên Bộ Quốc phòng, mà trực thuộc là Quân Khu 7. Quân Khu 7 cũng đồng thuận nhất trí vì, họ biết khu vực này, và họ cũng hiểu công trình của mình sẽ góp phần phát triển kinh tế xã hội, góp phần giữ gìn an ninh trật tự, họ cũng đồng thuận.

Người trò chuyện

-Tức là mình làm việc trước với họ rồi, nên khi Tỉnh chuyển hồ sơ qua, thì họ đã nắm được vấn đề và họ đồng thuận? Công nhận ông giỏi thiệt!

Ông Chánh:

-Thực ra là ý Chúa. Còn em thì em chỉ làm theo lương tâm của mình là một người Công giáo, làm theo sự thôi thúc của trách nhiệm với Giáo phận (với tư cách là Trưởng Ban hành giáo-Giáo phận) và đặc biệt là lòng yêu thương và sự ủy thác của Đức cha Đaminh.

Người trò chuyện

-Vâng, nói theo Đức cha Đaminh, “Việc Chúa muốn, Chúa làm”. Chúa dùng cơ hội, hoàn cảnh, con người để thực hiện việc của Chúa.

Ông Chánh:

-Thầy chưa thấy hết cái phức tạp của vấn đề đâu. Phức tạp lắm!

Người trò chuyện:

-Tôi tưởng vậy là xong rồi?

Ông Chánh:

-Chưa chưa! Khi mà đụng vào công trình tôn giáo, đất mới được giao với số lượng lớn, nó đụng tới vấn đề cấp phép quy hoạch. Cả một vấn đề! Ngày xưa không có thủ tục cấp phép quy hoạch. Bây giờ quy định phải cấp phép quy hoạch. Mà cấp phép quy hoạch thì thời gian nó kéo dài, rất là lâu. Việc giải quyết vấn đề mất 6 tháng, một năm, hai năm là bình thường. Việc cấp phép quy hoạch này là một cái bước mới rất khó.

Rồi ông Chánh kể:

-Mình lại phải mày mò xem việc xin cấp phép quy hoạch là làm thế nào? Quy trình là như thế này: Trước khi cấp phép quy hoạch lại phải được đánh giá tác động môi trường, bảo vệ môi trường, lại phải làm việc với một đơn vị khác, lại thủ tục, giải trình, đi lại và chờ đợi. Khi người ta họp về quy hoạch, hồ sơ phải có đánh giá tác động môi trường. Có cái đó, xong rồi mới đưa vào cấp phép, chuẩn bị hồ sơ cấp phép sau. Em phải liên hệ hợp đồng với bên Chi cục Bảo vệ Môi trường trực thuộc Sở Tài nguyên Môi trường cho nó nhanh. Sau khi trao đổi với Chi cục Bảo vệ Môi trường, mình ký hợp đồng xong và bắt đầu đi làm hồ sơ.

Người trò chuyện

-Vậy là xong rồi phải không, thưa ông Chánh:

Ông Chánh:

-Chưa chưa, còn lắm nhiêu khê. Họ bảo bây giờ muốn làm hồ sơ cho nó nhanh, nguyên cái công bố ở dưới xã là 40 ngày. Chi cục họ xuống đo đạc, thử đất, xong rồi làm hồ sơ. Họ đưa hồ sơ cho mình đem về xã ký. Khi hồ sơ đã xong, họ họp hội đồng, mời tất cả các Giáo sư, Tiến sĩ về đánh giá tác động môi trường. Họp hội đồng rồi, có những gì cần chỉnh sửa, người ta báo thì mình phải chỉnh sửa lại, Chi cục phải làm lại, được rồi, mới trình cho Sở Tài nguyên, Sở Tài nguyên mới trình cho Tỉnh ký giấy đánh giá tác động môi trường, rồi mới bổ sung  vào hồ sơ cấp phép.

Người trò truyện:

-Sao mà lắm thủ tục nhiêu khê quá vậy?

Ông Chánh kể tiếp:

– Trước cái đánh giá tác động môi trường, việc mình đi đường điện cũng vậy. Cái đường điện của mình thuộc hai huyện. Ba mét bên này thuộc huyện Định Quán, bốn mét bên kia thuộc huyện Thống Nhất. Đường điện của mình nó nằm bên Định Quán. Lúc đó họ cũng bắt mình phải có kế hoạch bảo vệ môi trường, đi đường điện cũng phải bảo vệ môi trường. Mà đường điện lại nằm giữa hai huyện, nên huyện không cấp giấy được, lại phải lên tỉnh. Cũng phải lên tỉnh cả gần tháng trời.

Người trò chuyện

-Khi được chấp thuận đánh giá tác động môi trường rồi thì hồ sơ xin cấp phép của mình được thông qua chưa?

Ông Chánh:

-Khi có giấy đánh giá tác động môi trường, bảo vệ môi trường rồi, mình cũng trao đổi với các anh lãnh đạo Tỉnh xin cấp phép cho kịp thời gian. Tỉnh chỉ đạo cho bên Sở Xây dựng đồng hành, nhận hồ sơ cho người ta để cấp phép quy hoạch cho nó kịp. Kỳ đó mình tính 15. 8 là lễ khởi công mà. Khi nộp hồ sơ còn vướng chưa làm quy hoạch, qua 15/8 rồi mà cũng chưa có, tới tháng 11, chủ trương của Tỉnh là có hết tất cả rồi. Bên Sở Xây dựng trình Ủy Ban Nhân dân Tỉnh ký giấy quy hoạch, mình cũng chậm trễ mất gần một tháng trời. Vì họ phải xin ý kiến chủ trương lại. Lãnh đạo Tỉnh phải họp lại, thống nhất chủ trương với các ban ngành. Ông Phó Chủ tịch sẽ ký giấy phép, nhưng ông ấy đi công tác suốt, tới gần ngày lễ rồi vẫn chưa có, em lại làm tờ trình, gửi cho Bí thư tỉnh, Chủ tịch tỉnh, Ban Tôn giáo tỉnh. Em nêu lý do: Hồ sơ đã nộp, hẹn một tháng mấy rồi, mà chưa nhận được giấy phép. Thế là gửi đi ngày hôm trước, ngày hôm sau, là lễ 22.11, lễ NGÀY GIÁO PHẬN, mình nhận được giấy phép kịp đúng ngày lễ.

Người trò truyện:

-Đúng là nín thở! Không ngờ công việc phức tạp và nhiêu khê đến vậy. Qua những sự việc như vậy, ông rút ra được những vấn đề gì không? Chẳng hạn làm thế nào để mình có thể xin được quyết định giao đất, quyết định cho phép xây dựng công trình?

Ông Chánh:

-Em chỉ nói về phía em, về phía xã hội thôi nha. Được cái, là mình làm việc, giao tiếp rất hài hòa trong các ban ngành, đồng bộ cấp trên, cấp dưới. Với cấp dưới, mình xin họ tư vấn cho mình những cái gì thuộc về thủ tục hồ sơ. Mình cũng trao đổi công việc của mình để họ hiểu và tham mưu báo cáo cho lãnh đạo, rồi lãnh đạo của họ mới chuyển lên Tỉnh. Mình cũng quen các cấp lãnh đạo trên tỉnh, cái gì vướng mắc là mình xin ý kiến các vị ấy. Các vị ấy chỉ đạo cho các ban ngành ở dưới giúp đỡ mình, nhờ thế công việc mới có bước tiến.

Người trò chuyện

-Về mặt làm giấy tờ, hồ sơ hành chính, ai làm cho ông?

Ông Chánh:

-Hầu như tất cả giấy tờ hành chính, hồ sơ, thủ tục em tự tìm hiểu và soạn thảo tất cả. Em gởi lên cho Đức cha xem, xin ngài hoàn chỉnh. Sửa xong rồi thì đem qua văn phòng đánh máy. Em gửi đi và theo dõi việc các cơ quan giải quyết hồ sơ.

Người trò chuyện

– Trong quá trình ông làm việc, giao tiếp với chính quyền, thì cái khó khăn nhất của ông là cái gì?

Ông Chánh:

-Thầy muốn nói về khó khăn gì? Thực sự ra chưa có cái gì gặp khó khăn cả. Khó khăn là vướng theo quy định, mà vì vướng những cái quy định đó nên nó mất thời gian của mình. Khó khăn đối với bên họ là một phần, mà bên mình cũng là một phần. Chẳng hạn, vì cái bản vẽ mình bị chậm, đâm ra nó cũng ảnh hưởng. Nhưng được cái là khi mình có vấn đề gì, thay vì mình phải có đầy đủ mọi thủ tục mới nộp được, thì mình xin với lãnh đạo Tỉnh, Tỉnh chỉ đạo xuống Sở Xây dựng nhận hồ sơ để xem trước. Có cái gì cần sửa, họ cho mình biết, mình chỉnh sửa lại. Khi mình có đầy đủ giấy tờ nộp vào là người ta giải quyết nhanh.

Người trò chuyện

– Họ có nghi ngại gì về mặt chính trị không? Khi mình làm những công trình lớn như thế này?

Ông Chánh:

-Không, họ không ngại chính trị. Đối với Nhà nước, với tôn giáo họ không ngại chính trị lắm đâu, nhưng mà họ chưa hiểu được hết cái vấn đề, thí dụ để làm gì? Dĩ nhiên họ biết là Trung tâm hành hương, thế nhưng mà họ chưa biết cái mức độ mình làm nó như thế nào…

Người trò chuyện

– Tức là chưa hiểu rõ quy mô thế nào, mục đích xây dựng Trung tâm để làm gì, và khi đi vào hoạt động, Trung tâm sẽ tạo ra ảnh hưởng xã hội, văn hóa như thế nào? Phải vậy không, thưa ông?

Ông Chánh:

-Đấy, cho nên họ ngại là ngại vấn đề đó. Chẳng hạn như trước đây, mình xin xây dựng Tòa Giám mục, là cả một vấn đề khó khăn. Khó khăn từ mọi phía. Còn bây giờ, mình có nhiều thuận lợi. Thứ nhất là họ hiểu rõ việc mình làm. Cái thuận lợi thứ hai là, con người của Đức cha Đaminh, kể cả từ Trung ương đến địa phương, khi gặp gỡ, gần gũi, đều quý mến kính trọng cái nhân cách, bản chất của ngài. Thứ ba nữa là, Giáo phận Xuân Lộc đã tổ chức những hội nghị, những đại lễ, tất cả đều thành công tốt đẹp, an ninh trật tự rất tốt. Cái đó người ta lại phục, người ta tin tưởng, nó thuận lợi cho mình. Có sự hỗ tương hai bên.

Người trò chuyện

– Trong khi ông giao tiếp như vậy, mối quan hệ cá nhân của ông với các cơ quan ban ngành, tình thân giữa ông với các vị trong bộ máy chính quyền có ảnh hưởng đến quyết định họ dành cho Tòa Giám mục không?

Ông Chánh:

-Có chứ!

Người trò truyện:

-Ảnh hưởng bao nhiêu phẩn trăm? 70% không? Ý tôi muốn nói là tình cảm cá nhân đối với người giao tiếp, tức là cái thân tình cá nhân, cái đó nó có ảnh hưởng không?

Ông Chánh:

-Không lượng định được, vì kết quả công việc là do mối quan hệ rộng lớn cả về chính trị, xã hội, văn hóa của Giáo phận đối với cộng đồng xã hội trong tầm vóc quốc gia; lại nữa, còn ảnh hưởng của Đức cha, chủ chăn của một Giáo phận có tới một triệu giáo dân. Tất nhiên Nhà nước hiểu được vai trò của Đức cha đối với một triệu giáo dân, hơn nữa trong cả Hội đồng Giám mục. Những cái đó có ảnh hưởng sâu xa và mạnh mẽ trong mối tương quan tôn giáo và chính trị. Riêng phần em, em là người đại diện Giáo phận trực tiếp lo hồ sơ, thì những thân tình cá nhân có giúp cho công việc của em được dễ dàng hơn, so với cách làm việc chỉ chạy theo hành chính.

Nó có cái thân tình như thế này, cái gì mà mình cần nói thì mình gặp, và chính cái gặp gỡ đó mình mới nói hết được. Điện thoại thì mình không nói được hết ý. Với những cái nối kết như vậy, họ có vấn đề gì cần trình bày với các ngài, thì qua em, họ nói với em, em sẽ trình bày với Đức cha trước, thế này thế kia, khi gặp gỡ với nhau trao đổi, nó rất nhanh, thuận lợi, cái gì được, không được thì báo cho nhau trước để mà không có đụng, đối thoại không đối đầu, nó là như vậy, vì mình là một cái đầu mối kết hợp cả hai, có sự tin tưởng nên nó thuận lợi.

Người trò chuyện

-Ông ở Tân Mai phải không? Gia đình trước nay làm công việc gì mà ông quen thân bên chính quyền nhiều vậy?

Ông Chánh:

-Không, hồi xưa em không có làm gì cả. Từ hồi làm Ban Hành giáo thì em mới quen. Hồi trước mỗi năm, tới lễ Giáng Sinh, giống như Tòa Giám mục, Ban Hành giáo Tân Mai có mời lãnh đạo Chính quyển thành phố về dự. Nhờ đó mà quen biết. Rồi sau này trực tiếp lo công việc, phải đi lại với các anh ấy nhiều lần, người ta thấy mình hiền lành, thật thà, thành ra quen thân. Cái chính là mình chân thành làm việc Giáo phận, và họ ngày càng hiểu Giáo phận hơn, nên họ giải quyết công việc cho mình.

Có lần lãnh đạo tỉnh xuống thăm Tòa Giám mục, chương trình của họ là thăm Tòa Giám mục, Đại Chủng viện, Nhà Truyền thống rồi về. Ngay sau khi xong nghi thức chúc mừng nhau, thấy có sự vui vẻ, em mới ngỏ với Đức cha Đaminh:- Thưa Đức cha, nhân dịp này, mình mời Bí Thư dùng cơm. Đức cha đồng ý. Em biết ông ấy đã hẹn ở ngoài rồi. Trong khi vui vẻ, mình gợi ý mời cả đoàn. Thấy cái tình của mình, Bí Thư nhất trí vui vẻ. Khi ngồi trong bàn cơm, Đức cha tiếp ông ấy, thân tình vui vẻ như một gia đình. Mọi việc mở ra một cái hướng khác liền. Bí Thư và Chủ tịch xuống bao giờ cũng có các Ban, Ngành đi theo. Nhờ đó mà mình quen thân tất cả. Ban Tôn giáo tỉnh bảo, bây giờ đi các nơi, người ta cứ hỏi tại sao Đồng Nai của ông lại thoáng thế này, thế nọ, thế kia? –Thì các vị cứ về Đồng Nai mà xem.

Cả hai chúng tôi cùng cười vui vẻ, cám ơn Chúa đã cho Giáo phận những người nhiệt thành làm việc Chúa, âm thầm như ông Chánh đây.

Đã mất nhiều thời gian của ông Trưởng Ban Hành giáo-Giáo phận, tôi chia tay ông với tất cả sự quý mến và cảm phục:

– Cám ơn ông. Xin Chúa trả công cho ông bội phần. Kính chúc ông vui, khỏe để tiếp tục công việc của Giáo phận. Còn nhiều vất vả và hy sinh ông ạ!

________________

Phụ lục 1

Quyết định về việc giao đất

                            để xây dựng công trình tôn giáo

                         tại xã Gia Tân 1, huyện Thống Nhất

 

Ngày 16/7/2018, UBND tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số 2432/QĐ-UBND về việc giao đất để xây dựng công trình tôn giáo tại xã Gia Tân 1, huyện Thống Nhất.

 

Chấp thuận giao 136.270,7m2 đất thuộc các thửa đất số 41, 57, 63, 64, 65,70,71, 72, 73, 74, 75, 76, 92, 93, 94, 109, 110, tờ bản đồ số 5 và mỗi phần các thửa đất số 42, 38, 39, 40, 54, 15, 77, 79, 80, 91, 102, 108, 111, 115 tờ bản đồ địa chính số 5 xã Gia Tân 1, huyện Thống Nhất cho Trung tâm Đức Mẹ Núi Cúi để sử dụng vào mục đích đất cơ sở tôn giáo (xây dựng các công trình tôn giáo).

– Hình thức giao đất: Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất.

– Thời hạn sử dụng đất: Lâu dài.

– Vị trí, ranh giới khu đất được xác định trích lục và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số 4916/2017, số 3526/2017 tỷ lệ 1/1000 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh thực hiện ngày 24/4/2017 và ngày 18/5/2017 (kèm theo).

Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký ban hành và thay thế Quyết định số 2519/QĐ-UBND ngày 28/5/2015 của UBND tỉnh.

Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc các Sở: Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Tài chính, Nội vụ, Sở Thông tin và Truyền thông; Cục trưởng Cục thuế; Trưởng Ban Tôn giáo; chủ tịch UBND huyện Thống Nhất, Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thống Nhất, Chủ tịch UBND xã Gia Tân 1, Trung tâm Đức Mẹ Núi Cúi, các tổ chức và cá nhân liên quan có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Đính kèm: Quyết định số 2432/QĐ-UBND.

Như Quỳnh

https://www.dongnai.gov.vn/pages/newsdetail.aspx?NewsId=160781&CatId=107https://www.dongnai.gov.vn/pages/newsdetail.aspx?NewsId=160781&CatId=107

______________________

Phụ lục 2

Quyết định về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết

                 xây dựng tỷ lệ 1/500 Trung tâm Đức Mẹ Núi Cúi,

                      xã Gia Tân 1, huyện Thống Nhất

 

Ngày 22/11/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 4148/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Trung tâm Đức mẹ Núi Cúi, xã Gia Tân 1, huyện Thống Nhất.

Phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Trung tâm Đức Mẹ Núi Cúi, xã Gia Tân 1, huyện Thống Nhất. Khu vực quy hoạch thuộc xã Gia Tân 1, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai (được xác định tại Trích lục và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số 3526/2017, tỷ lệ 1/1.000 do Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh thực hiện ngày 18/5/2017).

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành; Các cơ quan, đơn vị, địa phương, tổ chức có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Đính kèm: Quyết định số 4148/QĐ-UBND.

Như Quỳnh

https://www.dongnai.gov.vn/Pages/newsdetail.aspx?NewsId=163158&CatId=107

 

 

 

__________