10 NĂM “GIẢI VHNT ĐẤT MỚI” CỦA GIÁO PHẬN XUÂN LỘC

10 NĂM GIẢI VĂN HÓA NGHỆ THUẬT ĐẤT MỚI

Giáo phận Xuân Lộc 2010-2020

***

Bùi Công Thuấn

Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh, người sáng lập Giải VHNT Đất Mới

        Giải Văn hóa Nghệ thuật Đất Mới được Ban Văn hóa kết hợp với Ban Truyền thông Giáo phận Xuân Lộc tổ chức trao giải lần thứ nhất năm 2011, đến nay là lần trao giải thứ 10 (năm 2020). Sự duy trì một giải Văn hóa nghệ thuật trong thời gian dài là một nỗ lực rất lớn về Mục vụ văn hóa của giáo phận Xuân Lộc. Trong tình hình hoạt động văn học nghệ thuật ở các giáo phận trong cả nước còn trầm lắng, Văn chương thị trường “…chiều theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận công chúng, hạ thấp chức năng giáo dục, nhấn mạnh một chiều chức năng giải trí…truyền bá các tác phẩm độc hại, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân và đất nước… “ (Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị ngày 16/6/2008), thì Giải Văn hóa nghệ thuật Đất Mới với “ước muốn xây dựng những giá trị văn hoá nghệ thuật Công giáo nơi cộng đồng dân Chúa” là một hoạt động giàu ý nghĩa và thật đáng trân trọng.

Đón các tác giả

MỤC ĐÍCH TỔ CHỨC GIẢI

Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á (ECCLESIA IN ASIA của ĐGH J.Paul II) dạy rằng: “…Con đường của những nhà rao giảng Tin Mừng là làm cho đức tin Kitô giáo trở nên một thành phần của di sản văn hoá của dân tộc.

Giải Văn hóa-Nghệ thuật Đất Mới là một hoạt động nằm trong chương trình Mục vụ Văn hóa của giáo phận Xuân Lộc, đáp lại lời dạy của Giáo hội.

Thông báo đầu tiên của giáo phận Xuân Lộc nói rõ về mục đích của Giải:

 “Các văn kiện của Giáo hội về Mục vụ văn hoá và các tác phẩm của Đức cha Đa Minh Nguyễn Chu Trinh, nhất là bộ truyện dài “Đất Mới”, đã khơi gợi ước muốn xây dựng những giá trị văn hoá nghệ thuật Công giáo nơi cộng đồng dân Chúa…Vì thế Ban Văn Hoá giáo phận Xuân Lộc tổ chức giải Văn Hoá Nghệ Thuật Đất Mới.

Thông báo tiếp theo, Giáo phận nói rõ hơn về tầm quan trọng của Văn hóa- nghệ thuật:

“Văn học nghệ thuật là lãnh vực quan trọng của văn hoá góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị tinh thần của con người. Trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá, việc gìn giữ những giá trị văn hoá dân tộc, chống lại ảnh hưởng xấu cuả văn hoá thực dụng, ngoại lại, phi nhân, trở nên cấp bách và cần thiết hơn bao giờ, đặc biệt trong việc gìn giữ và giáo dục đức tin đối với người trẻ, trong gia đình, giáo xứ và các môi trường  xã hội. Để góp phần vào công cuộc xây dựng văn hoá Công Giáo trong Giáo Phận, Ban Văn Hoá giáo phận Xuân Lộc tổ chức cuộc thi sáng tác VHNT Đất Mới”.

THỐNG KÊ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM CÁC NĂM

 2011201220132014201520162017201820192020
Tác giả223645606192103125155124
Thể loạiThơTruyện ngắnTruyện dàiKịch BảnCa khúcPhim ngắnẢnh đẹp Công giáo
Số tác phẩm (10 năm)6815 bài (103 tập thơ)5413966  660  04577 ảnh đơn + 56 bộ ảnh

Các tác giả tham gia giải ngày càng mở rộng ra các giáo phận trong cả nước: Tổng GP Sài Gòn, Tổng GP Huế, Tổng GP Hà Nội, giáo phận Hưng Hóa, Giáo phận Long Xuyên, giáo phận Quy Nhơn…và nhiều tác giả ngoài Công giáo.

Năm 2020 có 124 tác giả:

Tác giảHà NộiHuếSài GònCông giáoKhông Công giáoĐại Chủng việnDòng tuĐan việnHội Nhà văn
TS211588111130418065

Giải cũng mở rộng thêm các bộ môn. Lúc đầu chỉ có bộ môn Thơ, Truyện ngắn, Truyện dài, Ca khúc và Kịch bản văn học. Năm 2017 có thêm bộ môn Ảnh nghệ thuật “nét đẹp Công giáo” và năm 2020 có thêm giải Phim ngắn với chủ đề: “Sống đạo”, mở rộng khả năng phản ánh hiện thực đời sống Công giáo và làm phong phú sắc màu nghệ thuật của giải.

CÁC GIÁ TRỊ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC

  1. Nhìn trong tiến trình lịch sử văn học

Trong thực tế, văn chương Công Giáo tại Việt Nam còn rất khiêm tốn bên cạnh lịch sử văn chương dân tộc. Kể từ khi đạo Công giáo truyền vào Việt Nam đến nay, đã có khá nhiều các nhà văn hóa Công giáo ở nhiều lĩnh vực, song trong lĩnh vực sáng tác văn chương, định vị được với lịch sử văn học dân tộc chỉ có một số tên tuổi. Đáng kể là Felippe do Rosario Bỉnh (1759-1833), Đặng Đức Tuấn (1806-1874), Nguyễn Trường Tộ (1827-1871), Huỳnh Tịnh Paulus Của (1834-1907), Trương Vĩ Ký (1837-1898), P.J.B Nguyễn Trọng Quản (865-1911), nhà thơ Hàn Mạc Tử (1912-1940), Lm Kim Định (1915-1997), Lm Thanh Lãng (1924-1978), nhà thơ Xuân Ly Băng (1926-2017), GS Nguyễn Văn Trung, Đức Giám mục J.B Bùi Tuần, Song Nguyễn (Đức Giám mục Daminh Nguyễn Chu Trinh), Lm Trăng Thập Tự, nhà thơ Lê Đình Bảng… Về thể loại, các tác phẩm văn học Công giáo hầu hết là thơ. Những thể loại khác như truyện ngắn, truyện dài, kịch là rất ít.

Nguyên nhân là do lịch sử truyền giáo ở Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn, Giáo hội mới chỉ chăm lo xây dựng những nền tảng Hội Thánh. Chẳng hạn, xây dựng nhà thờ, đào tạo chủng sinh, thành lập các giáo phận, giáo xứ, in ấn kinh sách, Việt hóa các nghi lễ phụng vụ, tổ chức các nề nếp sinh hoạt Mục vụ, cử hành các Bí tích; đồng thời tập trung vào việc rao giảng Tin Mừng thông qua cử hành Phụng vụ. Hơn nữa văn học nghệ thuật là một lĩnh vực đòi hỏi tài năng, tâm huyết và lòng nhiệt thành, lại phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh xã hội, vì thế văn chương Công giáo chưa trở thành một bộ phận có những đóng góp giá trị vào sự phát triển chung của văn học dân tộc. Điều này thể hiểu.

Giải Văn hóa-Nghệ thuật Đất Mới là một hoạt động Mục vụ của giáo phận Xuân Lộc trong nỗ lực “làm cho đức tin Kitô giáo trở nên một thành phần của di sản văn hoá dân tộc” như lời dạy của Giáo hội. Còn cần nhiều thời gian những giá trị của Giải mới có thể lan tỏa.

Tuy vậy, sự phát triển của Giải thật đáng mừng. Giải đã quy tụ được nhiều tác giả Công giáo và ngoài Công giáo, trong đó các cây bút chuyên nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều. Mỗi năm, Ban Văn hóa giáo phận đều in được một tuyển tập các tác phẩm đoạt giải. Đó là một niềm hy vọng. Với 541 truyện ngắn và 39 truyện dài, Giải đã có được một số vốn kha khá so với số tác phẩm tiểu thuyết Công giáo tính từ Truyện Thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản đến nay. Và điều đáng mừng hơn là Giải VHNT Đất Mới đã trở thành một hoạt động văn hóa của giáo phận có sức thu hút ngày càng rộng trong mọi thành phần dân Chúa để cùng nghĩ suy, cùng sáng tạo, cùng khẳng định những giá trị của Tin Mừng.

            2. Giá trị của “Văn hóa nghệ thuật Đất Mới

Đặc sắc các tác phẩm của Giải không chỉ phản ánh đời sống Công giáo trong một không gian, thời gian rộng, không chỉ đặt ra những vấn đề thách thức lương tâm Công giáo trước thời đại, mà còn thể hiện phong phú vẻ đẹp của tư tưởng Nhân văn dưới ánh sáng Mỹ học Kitô giáo.

  Mỹ học Kitô giáo khám phá cái đẹp của Con người trong hình ảnh Thiên Chúa: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa” (Stk 1, 27). Tư tưởng Nhân văn Kitô giáo là tư tưởng về tình yêu thương Con người, giải thoát Con người khỏi đau khổ, tội lỗi và sự chết. Đó chính là tình yêu Thiên Chúa dành cho con người qua Đức Kitô: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình (Ga 15, 13 ).

Tư tưởng này rất gần gũi với tư tưởng Nhân văn của dân tộc. Người Việt nhìn bản chất Người là Đẹp: “Người ta là hoa đất”, coi trọng giá trị Con người (“Một mặt người hơn mười mặt ruộng”), và lấy thái độ sống “Thương người như thể thương thân” làm phẩm hạnh hàng đầu.

Con người ở đây chính là những “người thân cận” (Mt 22, 39) với mình trong mọi hoàn cảnh của đời sống.

Các tác phẩm VHNT Đất Mới nhìn Con người với một niềm tin yêu, trong sáng và hy vọng, rất khác với cái nhìn bi quan, cái nhìn hạ thấp phẩm giá con người, coi “tha nhân ấy là địa ngục” (J.P.Sartre), trong nhiều tác phẩm văn chương đương đại khai thác thị hiếu bản năng, cổ vũ lối sống thực dụng, vị kỷ, vô luân…

Bạn đọc có thể tiếp cận được những giá trị của tư tưởng Nhân văn Công giáo trong các tác phẩm của Giải (xin đọc Tuyển tập 10 năm).

            3. Khẳng định những giá trị văn hóa Công giáo

            Đã có những lúc, do hoàn cảnh nhất định, trong văn chương Việt Nam xuất hiện những tác phẩm miêu tả sai lệch về đời sống người Công giáo, chẳng hạn Bão Biển của Chu Văn, Cha con và của Nguyễn Khải…

Các tác phẩm của Giải VHNT Đất Mới khắc họa thành công hình ảnh các Linh mục, nữ tu sống “Đời dâng hiến” là những người hết lòng vì đoàn chiên, dù phải đối mặt với những hoàn cảnh khốc liệt, phải hy sinh mạng sống; đồng thời phản ánh được thực tại sống “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc” của người Công giáo Việt Nam ở khắp nơi trên quê hương đất nước. Không gian nghệ thuật mở rộng từ vùng sông nước miền Tây Nam bộ đến núi rừng Tây Nguyên, Tây Bắc; từ Việt Nam đến các giáo hội ở Châu Phi trong khoảng thời gian từ trước 1945 đến nay với nhiều biến động lịch sử.

Các tác phẩm VHNT Đất Mới cũng lên tiếng mạnh mẽ trong việc bảo vệ sự sống, bảo vệ thai nhi, bảo vệ gia đình là cái nôi của mọi giá trị văn hóa truyền thống và đời sống tâm linh. Những vấn đề về môi trường sống, môi trường thiên nhiên, môi trường văn hóa cũng được nhiều tác giả quan tâm, đặc biệt khi đất nước hội nhập toàn cầu hóa và các làn sóng xâm lăng văn hóa đang làm băng hoại con người hôm nay…

Các tác phẩm VHNT Đất Mới cũng đề cập nhiều đến những vấn đề của người trẻ, đó là sống đức tin trong một môi trường xã hội có một nền văn hóa khác biệt với văn hóa Kitô giáo, hay trong một bối cảnh xã hội khắc nghiệt (Truyện dài Đóa hồng thứ 40); vấn đề tình yêu và tình dục, vấn đề hôn nhân khác tôn giáo, vấn đề hạnh phúc…

            Với những gì đã đạt được, Giải VHNT Đất Mới hy vọng sẽ góp phần làm phong phú văn chương nghệ thuât Công giáo và ngày càng có nhiều tác phẩm giá trị về tư tưởng và nghệ thuật làm nở hoa Mục vụ văn hóa của Giáo hội.

            4. Định hình nghệ thuật Công giáo

            Nghệ thuật Công giáo có đặc điểm gì? Đó là nền nghệ thuật lấy tư tưởng Mỹ học Kitô giáo làm lý tưởng thẩm mỹ, lấy chủ nghĩa Nhân văn Kitô giáo làm nội dung. Nền nghệ thuật ấy có cội nguồn là Kinh thánh (cả Cựu Ước và Tân Ước). Điều này có thể nhìn thấy rõ trong hội họa, âm nhạc, kiến trúc…phương Tây.

Các tác phẩm tham gia Giải VHNT Đất Mới kế thừa các truyền thống nghệ thuật của Giáo hội và của dân tộc và dần dành định hình nét riêng trong việc chọn đề tài, trong cách kiến tạo tác phẩm, xây dựng nhân vật, kiểu bút pháp và cách thể hiện. Ngày càng có sự phong phú về màu sắc thẩm mỹ của nhiều phong cách nghệ thuật, ngày càng có sự công phu trong tìm tòi sáng tạo. Từ một giải địa phương, các tác phẩm của Giải đã có thể sánh ngang với nhiều giải thưởng văn học trong nước về phẩm chất để tự khẳng định sự đóng góp những giá trị mới của văn học Công giáo vào dòng chảy văn học đương đại. Tất nhiên, sự đóng góp này còn khiêm tốn, nhưng đã là những tín hiệu vui.

Thí dụ, các tác phẩm Diễn ca Kinh thánh đều có dấu tích thể loại Diễn ca của dân tộc; Giải VHNT Đất Mới đã có những công trình lớn thi hóa Kinh thánh bằng các thể thơ, Phú dân tộc như: Châm Ngôn Kinh thánh diễn thơ (Trần Trung Hậu), Sách Tôbia & Sách Giu-đi-tha (Bùi Văn Nghiệp), Sách Sáng Thế, Sách Étte, Sách Tông Đồ Công Vụ, Sách Xuất Hành; Lịch sử cứu độ (1000 khúc thơ-Nguyễn Tiến Mỹ), Dệt thơ Lời Chúa năm A-B-C, trường ca về các thánh tử đạo (Nguyễn Hữu Tâm, Cao Danh Viện). Tác giả Nguyễn Thị Như Hà có hai tập thơ hơn 900 bài Haiku, trích 440 câu trong các sách Huấn ca, Châm ngôn, Is, Ai ca, Diễm ca; Giêrêmia; A-mốt; Ê-phê-xô; Mt; Ga; Lc; 2Côrintô; Mikha; Gióp; Tv; 2Samuel, Đệ nhị luật. Đó là một công trình đồ sộ.

  Các ca khúc Đất Mới tiếp tục nền thánh ca của Giáo hội kết hợp với bản sắc âm nhạc Việt. Giải VHNT Đất Mới còn góp thêm những sáng tác mới về Đức Mẹ Núi Cúi.        

Truyện dài Đất Mới là một thành công đặc biệt. Bởi truyện dài là một thể loại khó đòi hỏi tài năng và tâm huyết. Những năm đầu của Giải có rất ít truyện dài. Đến nay, sau 10 năm Giải đã có 39 truyện dài, trong đó đã có những tác phẩm thực sự giá trị về nội dung tư tưởng và nghệ thuật. Thí dụ truyện dài Những nốt nhạc nên đời (2013), Bé Hai, Huỳnh Đệ Vàng (2014), Hương Thạch Thảo (Phạm Thị Lành 2018 ). Nổi trội hơn cả là: Ôi tội hồng phúc (Nguyễn Phương Thảo-Canada. 2017) và Đóa hồng thứ 40 (2020)…

Từ truyện vừa (đoản thiên tiểu thuyết) Thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản đến thơ Hàn Mạc Tử là một chặng đường tìm tòi sáng tạo, văn học Công giáo đã ghi được dấu ấn với lịch sử văn học dân tộc. Thế hệ kế tiếp là các nhà thơ Xuân Ly Băng, Trăng Thập Tự, Lê Đình Bảng, nhà văn Song Nguyễn, Cao Gia An…

Gần đây, các công trình Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam (Võ Long Tê, 1965), Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường (Lê Đình Bảng-2009), các bộ sách 6 cuốn Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam (Lê Đình Bảng sưu tâp 2009) và bộ sách 5 cuốn Có một vườn thơ đạo (Trăng Thập Tự chủ biên 2012) đã khẳng định được có một nền văn học Công giáo Việt Nam khá phong phú. Tạp chí Nghiên cứu văn học của Viện Văn học số tháng 7/2020 đã thực hiện chuyên san: “Văn hóa, Văn học Công giáo Việt Nam-Diện mạo và đặc sắc”như là  sự khẳng định sự tồn tại của văn học Việt Nam trong dòng chảy văn học dân tộc.

Thực ra, Kinh thánh (Cựu Ước và Tân Ước) là một kho tàng hết sức đồ sộ mà các nhà văn Công giáo có thể học tập và sáng tạo. Kinh Thánh kể rất nhiều câu chuyện. Đặc biệt là những dụ ngôn Đức Giêsu trực tiếp kể. Đó là những truyện ngắn sâu sắc về tư tưởng, phong phú về nghệ thuật và đặc biệt là có khả năng khai mở tâm linh người nghe, đem đến cho người nghe Ơn Cứu Độ. Xin đọc đoạn Kinh Thánh kể về người đàn bà ngoại tình bị ném đá (Ga 8, 2-11), cuộc đối thoại của Đức Giêsu với chị em Mac-ta (Ga 11, 1-45), Đức Giêsu đối thoại với Philatô (Ga 18, 28-38), Đức Giêsu kể dụ ngôn người Sanari nhân hậu (Lc 10, 29-37), dụ ngôn Người cha nhân hậu (Lc 15, 11-32), dụ ngôn ông nhà giàu và anh La-da-rô nghèo khó (Lc 16, 19-31)…Những câu chuyện ấy đã trở thành tâm thức của nhân loại suốt hơn 2000 năm qua.

            Gần đây, tác phẩm thơ Dưới cái cây ánh sáng của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, hiện là Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, khai thác rất hay ý tưởng về Thánh giá và cuộc khổ nạn của Đức Giêsu.

Nhìn lại như thế để các tác giả tham gia Giải VHNT Đất Mới tự hào về những gì cha ông đã làm được, và nỗ lực hơn nữa sáng tạo những tác phẩm giá trị đóng góp cho văn học dân tộc.

VỀ VIỆC TỔ CHỨC GIẢI

            1. Nỗ lực của toàn giáo phận.

            Sự thành công của Giải về tổ chức là nỗ lực của toàn giáo phận. Trước hết là của các Đức cha giáo phận. Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh là người khởi xướng tổ chức Giải, Đức cha Giuse Đinh Đức Đạo, người tiếp tục mở rộng mục vụ Văn hóa. Các Ban Truyền thông, Ban Văn hóa, Ban Thánh nhạc và Ban Giáo dân phối hợp tổ chức mọi mặt, từ trang trí sân khấu, tổ chức hội trường, chuẩn bị tài chính, chuẩn bị giải thưởng, in ấn tác phẩm, khách mời, tổ chức họp mặt tác giả, chuẩn bị các tiết mục công diễn phụ họa (Múa của các dòng Tu như Hội dòng Mến Thánh Giá, Hội dòng Nữ Tỳ Chúa Giêsu Linh Mục, hội dòng Thánh Gioan Thiên Chúa, các thầy Đại Chủng viện thánh Giuse Xuân Lộc, ca đoàn Sao Mai, ca đoàn và các đoàn thể giáo xứ Russeykeo; Giới Hiền mẫu và Gia trưởng của Giáo xứ Chính Tòa v.v…Tất cả tạo nên một chương trình trao giải hoành tráng và hiện đại. Ngày trao Giải VHNT Đất Mới trở thành một sự kiện văn hóa đặc thù của giáo phận.

            2. Sự nhiệt tình tham gia của các tác giả.

            Một giải thưởng văn nghệ chỉ thực sự thành công khi có nhiều tác giả tham gia.      Giải VHNT Đất Mới có nhiều tác giả tham gia nhiều năm, tham gia ở nhiều thể loại, cả thơ, văn, truyện và kịch. Các tác giả đều nỗ lực vượt lên chính mình so với lần trao giải trước.

 Xin đơn cử, Thầy Petrus Dương Kim Quới tham gia giải từ ngày đầu. Thầy đạt giải thưởng cả ở bộ môn thơ, truyện ngắn và ca khúc. Nhóm Sao Mai gồm các nhạc sĩ Nguyên Nhung, Đoàn Văn Sửu, Viết Phương, Hồng Việt, Ngọc Tuyên có tác phẩm đạt giải hầu như ở khắp các năm; nhiều nữ tu viết truyện dài, đạt giài nhiều lấn như: nữ tu Maria Hà Thị Thúy Diễm (đạt giải truyện dài Con Hoang. 2011, Những nốt nhạc nên đời. 2013, Xương bánh Đúc. 2015, truyện ngắn Khóc Muộn. 2018). Nữ tu Maria Vinc Nguyễn Thị Chung (đạt giải các truyện dài Đâu là hạnh phúc thật. 2015; Thử chết một lần. 2016; Khi trái tim lên tiếng. 2018; Chàng xe ôm. 2019). Maria Phạm Thị Lành (truyện dài Huỳnh Đệ vàng.2014; Phía sau hố thẳm tội lỗi 2016, Hương Thạch Thảo. 2018) Tác giả thơ Catarina Nguyễn Thị Lam (Song Lam) đạt giải các năm 2012, 2013, 2015, 2016, 2017, 2018, 2019); tác giả trẻ Lê Quang Trạng (Long xuyên) đạt giải truyện ngắn và Kịch các năm 2015, 2016, 2017, 2018)…

            Có thể nhận thấy chính sự tham gia nhiệt tình và nỗ lực sáng tạo không ngừng của các tác giả làm nên thành công của Giải. Đó là sự thành công của sự quy tụ gặp gỡ nhiều cây bút Công giáo và ngoài Công giáo, thành công ở sự phong phú thể loại và bút pháp, thành công ở phạm vi rất rộng của việc phản ánh hiện thực đời sống Công giáo và sự thể hiện giàu có vẻ đẹp tư tưởng Nhân văn Kitô giáo.

HY VỌNG NHỮNG MÙA VÀNG

            10 năm Giải VHNT Đất Mới là một niềm hy vọng. Tuy chưa có nhiều tác giả tác phẩm nổi trội song giải đã quy tụ được một đội ngũ người sáng tác Công giáo đông đảo có tiềm năng, trong đó có nhiều người trẻ; khơi gợi và phát huy niềm say mê văn chương Công giáo ở họ, mở ra nhiều ngả đường sáng tạo. Sau 10 năm Giải VHNT Đất Mới cũng đã có những đóng góp nhất định vào nền văn học Công giáo đương đại, và biết đâu những gieo mầm hôm nay sẻ đem đến mùa vàng sum suê trong tương lai. Cánh đồng Mục vụ văn hóa đã mở ra mênh mông những mùa gặt.

***

VÀI HÌNH ẢNH

Trao giải thơ
Giải ca khúc
Hợp xướng ca khúc đoạt giải
Múa minh họa
Tuyển tập tác phẩm đạt giải VHNT Đất Mới 2018-2019
Bìa tuyển tập 10 năm giải VHNT Đất Mới
Bìa tuyển tập tác phẩm đạt giải VHNT Đất Mới 2020

NGUYỄN DU-ĐÔI ĐIỀU NGẪM NGHĨ

NGUYỄN DU (1765-2020)-Đôi điều ngẫm nghĩ

Bùi Công Thuấn

Kỷ niệm 250 năm năm sinh Nguyễn Du, Hội Kiều học, UBND tỉnh Nghệ Tĩnh, Bộ Văn hóa- Thể thao va Du lịch, Hội Nhà văn Việt Nam đã có nhiều hoạt động để tôn vinh nhà thơ lớn của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Cũng đã có rất nhiều người nghiên cứu viết về Nguyễn Du. Chỉ riêng một hội thảo quốc tế với chủ đề “Đại thi hào dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du- Di sản và các giá trị xuyên thời đại” do Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức ngày 08.08.2015. đã có hơn 100 tham luận, trong đó có 13 tham luận đến từ các học giả Pháp, Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc, Đài Loan… với những hướng tiếp cận mới mẻ.

Tôi đã định không viết gì thêm, nhưng thấy lòng mình vẫn có điều muốn chia sẻ, bởi cho đến nay, Nguyễn Du và Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) vẫn thôi thúc chúng ta về những điều còn ẩn mật.

Tám câu đầu Đọan trường tân thanh (chữ Nôm)-Nguyễn Du
  1. NHÀ THƠ ĐI TÌM CHÂN LÝ

Ngoại trừ bài Long Thành cầm giả ca có nhắc đến nhà Tây Sơn, còn lại, Nguyễn Du im lặng trước hiện thực Việt Nam (1765-1820) suốt từ thời hậu Lê qua thời Quang Trung và Gia Long. Cả khi đi sứ Trung Quốc 1813, ông cũng không có dòng nào về những gì đang diễn ra ở triều đại nhà Thanh lúc ấy giờ. Đó là vấn đề cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.

Các nhà nghiên cứu đều cho rằng Nguyễn Du là con cháu nhà Lê, lại làm quan cho nhà Nguyễn, mà đạo “trung hiếu” của nhà Nho đòi buộc “Trung thần bất sự nhị quân”, thành ra Nguyễn Du không tránh khỏi mặc cảm. Nhưng trong tình thế ông không thể  không ra làm quan với Gia Long, Nguyễn Du còn chứng kiến việc Gia Long trả thù tàn khốc nhà Tây Sơn, giết hại công thần Nguyễn Văn Thành, Bùi Thị Xuân, Đặng Trần Thường… thì thân phận một “hàng thần lơ láo” như Nguyễn Du nào có nghĩa gì. Cho nên giữ im lặng là thái độ phải lẽ của bậc thức giả.

Hơn nữa, Nguyễn Du còn được Gia Long trọng dụng, thăng chức liên tục. Ông không thể phủ nhận lòng ưu ái của Gia Long. Trên đường đi sứ qua Ải Nam Quan, ông đã viết:“Ơn vua như biển chưa mảy may báo đáp”. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du cũng viết: ”Rằng: Ơn Thánh đế dồi dào/ Tưới ra đã khắp, thấm vào đã sâu”(câu 2489). Như vậy, Nguyễn Du đã đạt được “hùng tâm và sinh kế” là hai điều mà ông hằng ấp ủ mà có lúc ông bế tắc đến tuyệt vọng (Tạp thi 1, U cư 2, Mạn hứng 1,…).

Nhưng đọc thơ Nguyễn Du, người đọc không nguôi day dứt về những gì ông muốn chia sẻ. Trong bài My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù), ông tỏ lộ:

Ngã hữu thốn tâm vô ngữ dữ, 
Hồng Sơn sơn hạ Quế giang thâm
.

(Ta có một chút tâm sự, không biết bày tỏ cùng ai, 
Dưới chân núi Hồng Lĩnh, sông Quế Giang sâu thẳm.)

Và ông tự khóc thương thân trong bài Độc Tiểu Thanh ký:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

            (Không biết sau ba trăm năm nữa

                Ai là người trong thiên hạ khóc Tố Như)

Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Du, người đọc thấy rõ hành trình tư tưởng của ông. Về cơ bản, Nguyễn Du là một nhà Nho. Lúc lưu lạc “thập tải phong trần”, sống trong nghèo khổ tha hương, ông hướng về lý tưởng “kinh bang tế thế” của nhà Nho, ông đau đáu mộng công danh, và than thở khôn nguôi vì tóc đã bạc mà chưa làm được việc gì.

(Dịch nghĩa:)

Cuộc thế trăm năm phó mặc gió bụi,

 Hết ăn nhờ ở miền sông lại ăn nhờ ở miền biển. 

Đã lâu rồi, lúc cao hứng, không còn ấp ủ giấc mộng gác vàng nữa, 

Nhưng hư danh nào đã buông tha kẻ bạc đầu này.

                                (Mạn hứng 1)

Cái dáng nho nhã bình sinh nay xơ xác như con phượng nhốt trong lồng.

Công danh thì như con rắn chui tuột vào hang lúc nào rồi.

                                (Tống Nguyễn Sĩ Hữu nam quy)

Nhưng khi đã làm quan, được thăng chức, được cử đi sứ, Nguyễn Du lại không hề nhắc đến mộng công danh nữa. Ông nhận ra thân cá chậu chim lồng mà muốn về quê. Nghĩa là cái mộng công danh, cái lý tưởng ông theo đuổi ngày xưa đã không thỏa mãn ý nguyện của ông.

(Dịch nghĩa)

Những con oanh đẹp trong vườn vua ghen nhau vì sắc đẹp

Rau thuần già nơi quê cũ vẫn còn nấu canh được

                                    (Tống nhân)

Thân này đã làm vật trong lồng trong chậu 
Còn tìm đâu lại cuộc chơi phóng đãng 
Chớ nhìn chân trời mà than thân lưu lạc 
Phía nam sông nay đã là đất của vua rồi.

                             (Tân thu ngẫu hứng)

Một dòng sông đầy ngăn một xóm hẻo lánh 
Trong đó có một cao sĩ không ra khỏi cửa… 
Ta muốn treo mũ ra về theo ý nguyện 
Để cùng ông gảy đàn uống rượu vui hưởng tuổi già.
(Tặng nhân)

Đi sứ Trung Quốc(có nhà nghiên cứu cho rằng, trong 10 năm gió bụi trước khi ra làm quan, Nguyễn Du đã từng đi Trung Quốc), ông đã đi qua nhiều nơi,thăm những di tích danh nhân văn hóa, của lịch sử hàng ngàn năm ở Trung Quốc. Ta từ xa đến, muốn hỏi chuyện nghìn năm cũ (Hoàng Sào binh mã). Ông đứng trên lập trường Nho gia để đánh giá nhân vật lịch sử: “Ngày thường không thấu hiểu hai chữ “trung tín”/ Thì đến đâu cũng không giải quyết được vấn đề “sống và chết”. (Thuyền xuôi qua ghềnh Đại Than). Ông ca ngợi người trí dũng, nhân nghĩa. Ông chê trách kẻ tham tàn bạc ác.

Tầm nhìn của ông rất rộng. Ông quan sát lịch sử Trung Quốc từ thời Đế Nghiêu. Ở mỗi nơi, đứng trước di tích lịch sử, ông đối thoại với con người đã ghi dấu tại nơi ấy về cuộc đời họ, về ý nghĩa nhân sinh, về giá trị làm người. Đặc biệt, đứng trên lập trường dân tộc, ông mỉa mai chí anh hùng của Mã Viện chỉ là trò cười. Ông mượn mộ kỳ lân để tố cáo tội ác Minh Thành Tổ (Kỳ lân mộ). Với người Trung Quốc, ông ca ngợi Đế Nghiêu, vinh danh Tỷ Can, Nhạc Phi. Khen Âu Dương Tu: Một tấm lòng son để lại tiếng xưa nay (Mộ Bùi Tấn Công). Khen Lạn Tương Như bảo vệ được đất nước khỏi chiến tranh (Lạn Tương Như cố lý). Ca ngợi Kinh Kha: Thần dũng hiên ngang chỉ có mình ông. Ca ngợi Dự Nhương:”Chiếc gươm ngắn thời đó dài bảy tấc/ Riêng có tia sáng dài muôn trượng rọi thấu cổ kim”. Khen Chu Du: Đốt sạch trăm vạn quân họ Tào/ Trượng phu cũng đủ thỏa chí bình sinh”(Mộ Chu Du), khen người hiền Vinh Khải Kỳ (thời Xuân Thu), ca ngợi Hàn Tín, Văn Thiên Tường. Ông tôn vinh Đỗ Phủ là bậc thầy: Văn chương lưu muôn đời, bậc thầy muôn đời / Bình sinh bái phục không lúc nào ngớt” (Mộ Đỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương kỳ 1). Ông chia sẻ nỗi niềm của Khuất Nguyên:Ngàn năm trước ai hiểu người tỉnh một mình, /Bốn phương lòng trung biết gửi nơi nào?”, ông đồng điệu với Lý Bạch : Danh vọng coi thường như giẻ rách. Ông sánh mình với Liễu Tông Nguyên:”Một thân bị đày ải nơi xa sáu ngàn dặm / Văn chương nghìn thuở, là một trong tám nhà văn thơ lớn bậc nhất / Thời trai trẻ, ta cũng có tài ví như gỗ tốt / Nay bạc đầu, tự mình than vãn trước gió thu…”(Vĩnh châu Liễu Tữ Hậu cố trạch). Ông ghét bọn bất trung (Đáng xấu hổ họ Ngụy quê mùa tham sống / Dám hồ đồ gượng ép chia hai Trung với Lương– Mộ Tỷ Can). Ông nặng lời với Tần Cối:”Gác Cách Thiên lầu vàng đổ nát / Còn thằng gian lẩn quất chốn này/ Tim đen nọc độc chứa đầy/ Để cho sắt sống oan lây nghìn đời (Tượng Tần Cối 2). Ông chê Tào Tháo (72 ngôi mộ gió). Coi Tô Tần chỉ là kẻ nhỏ mọn (vì chỉ lo lợi lộc riêng không vì nước- Đình Tô Tần). Chê Quản Trọng sự nghiệp nhỏ.

Sự thật của lịch sử Trung Quốc là vậy, nhưng những con người và sự việc ở ngay trước mặt (Sở kiến hành, Trở binh hành…) cũng đâu có khác. Thành ra những gì Nguyễn Du thao thức lại là vấn đề của hiện sinh. Ấy là tất cả đã qua đi và sẽ qua đi, dù là Hạng Vũ, Hàn Tín, Kinh Kha, Chu Du, Tào Tháo, Hoàng Sào, Tôn Quyền, hay Lưu Bị,.. Cái gọi là sự nghiệp cũng chỉ là không. Đáng thương thay cho kiếp phù sinh.

Vua xưa dấu cũ đã xa rồi 
Triền miên sông Hán ngày đêm trôi
 

                (Chiều ở Hán Dương)

Rốt cuộc muôn khéo nghìn khôn cũng thành không tất cả 
Từ ngàn xưa đau lòng nước sông Chương
 
Ta nghĩ đến người xưa mà xót nỗi mình
 
Bồi hồi ngẩng lên cúi xuống, thương kiếp phù sinh.
 

                           (Đổng Tước đài)

Gió thu lúc mặt trời lặn ngóng quê nhà 
Nước trôi mây nổi, sạch hết mưu đồ làm bá làm vua 
Đâu rồi đất Tôn Quyền tranh giành với Lưu Bị? 
Trông chỉ thấy xanh um một vùng cỏ hoang.

                  (Sở vọng)

Trăm vạn cờ xí vượt sông Hoàng Hà phía bắc 
Dưới đất Yên còn vùi gươm giáo 
Việc xa xôi xảy ra đã hai nghìn năm 
Mênh mông ở bên thành một bãi cát. 

                   (Hàn Tín giảng binh xứ)

Người nay cảm chuyện nghìn năm trước 
Đương thời nghĩ chuyện khó tính thông
 
Giỏi ra chỉ một sông Dương Tử
 
Thành bại theo dòng cuốn bể đông.

                  (Hoàng Châu trúc lầu)

Giàu sang trên đời như mây nổi 
Trăm năm rốt cuộc đều như thế
 
Quay đầu nhìn chỉ thấy một áng bụi mịt mùng.

                    (Đồ trung ngẫu hứng)

Nguyễn Du bế tắc trước vấn đề của hiện sinh:

Ta từ xa đến, muốn hỏi chuyện nghìn năm cũ. 
Nhưng ông lái đò lắc đầu như không nghe thấy!
                           (Hoàng Sào binh mã)

Thầm đọc bài ca hỏi trời, 
Trời cao, biết đâu mà hỏi?
(Bất mị)

Trong tất cả tác phẩm của Nguyễn Du, ông chưa bao giờ an nhiên trong Đạo, mặc dù có lúc ông muốn theo Đạo (Mộ xuân mạn hứng). Và dù đọc kinh Kim Cang ngàn lần, Lòng này thường định không xa rời đạo thiền/ Đạo Phật không tâm, không ý bao la vô tận,” nhưng khi Nguyễn Du nhìn xuống cuộc đời, “Cúi nhìn xuống thấy thành có nhiều sự đổi thay mà ngậm ngùi khôn xiết.”(Đề Nhị Thanh động). Nguyễn Du cũng không tìm thấy con đường giải thoát nơi Phật vì tâm của ông không lúc nào thôi xót xa thôi thúc trước hiện thực (Long Thành cầm giả ca, Thái Bình mại ca giả, Độc Tiểu Thanh ký, Trở binh hành, Văn tế thập loại chúng sinh…). Ông không sao lý giải được những vấn đề của ngàn năm và đành xuôi theo Thiên mệnh của Nho giáo.

Hành trình tư tưởng này tạo nên một giá trị đặc sắc thơ Nguyễn Du, đó là thơ tư tưởng. Tuy Nguyễn Du không vượt qua được thời đại của mình, nhưng ông đã tiếp cận được với vấn đề hiện sinh của ngàn đời. Ông nhìn hiện thực thời đại của ông bằng cái nhìn thấu suốt lịch sử ngàn năm qua và hướng về những thế kỷ sau ông. Tất cả rồi sẽ qua đi, sẽ chỉ còn lại đồ nát và hoang tàn, tất cả là hư không. Và vì thế, dù được Gia Long trọng dụng, ông vẫn thờ ơ với quan trường.

Trước sân, cây mai lại qua một mùa xuân nữa. 
Tâm sự anh hùng đã nguội lạnh, không còn nghĩ đến chuyện ruổi rong, 
Đường danh lợi làm luỵ đến sự khóc cười.

                                       (Xuân tiêu lữ thứ)

II HỒN THƠ NGUYỄN DU

Trong khi Nguyễn Du bế tắc về tư tưởng thì có một nơi hồn thơ ông luôn luôn hướng về, luôn rạng rỡ, luôn an lạc, đó là quê hương. Nơi có núi Hồng Lĩnh, sông Lam, có những tháng ngày ông tự nhận mình là “Hồng sơn hiệp lộ”, “Nam hải điếu đồ”. Dù là khi lưu lạc hay lúc làm quan, lúc đi sứ, thì quê hương luôn gọi ông trở về, và chỉ có nơi đó ông mới thực là chính mình.

Cố ráng mắt nhìn xem quê hương mình ở chỗ nào? 
Chỉ thấy vài chấm nhỏ, đó là những cánh chim hồng bay lên đám mây trắng.

                                                            (Thanh Quyết giang viễn diểu)

Có hình nên phải chịu vất vả 
Không bệnh mà lưng vẫn khom khom 
Ngoảnh đầu trông về bến sông Lam 
Lòng nhàn xin tạ từ chim âu trắng.

                               (Thu chí)

Lòng nhớ quê xa vạn dặm, quay đầu lại 
Mây trắng ở phía nam nhiều biết là bao.

                            (Ngẫu hứng)

Ở đất khách lâu năm, ngồi dưới bóng đèn mà rơi lệ. 
Quê hương xa nghìn dặm, nhìn trăng mà đau lòng. 
                                     
(Xuân dạ)

Hồng Lĩnh trong giấc mộng thiếu vắng những cuộc đi săn 
Ðầu bạc còn in dấu chân khắp núi song. 
                          (Hàm Đan tức sự)

Ta vốn có tính yêu núi 
Xa rồi nhớ bao nhiêu 
Nay trên đường đi Tiềm Sơn 
Tưởng như ở trong dãy Hồng Lĩnh. 

                (Trên đường Tiềm Sơn)

Nguyễn Du nhớ quê không phải là nhớ gia tộc và quá khứ vàng son, dường như điều ấy không làm vướng bận trái tim ông; ông cũng cũng không phải lo lắng nhiều về cuộc sống gia đình, không tha thiết bạn bè thù tạc, mặc dù tình cảm của ông vẫn dành cho họ.

Quê hương hạn hán hại việc nông 
Mười miệng trẻ thơ sắc đói cùng
 
Rau thuần cá vược mà nhớ quá
 
Cứ về cần chi gió thu trông.

                       (Ngẫu hứng 4)

Phía bắc Hoành Sơn, mười miệng kêu đói 
Góc đông thành vua, một thân nằm bệnh 
Các bạn quen biết lấy làm lạ tại sao ta sầu mộng 
Thiên hạ ai là người không ở trong mộng?

                              (Ngẫu đề)

Nguyễn Du tự tạc chính hồn mình vào thiên thu. Đó là một con người suy tư về hiện sinh, một nhà thơ, nhà thơ tư tưởng đầy ắp tình quê:

Bóng mây lững thững sớm chiều biến đổi, 
Lớp sóng cuồn cuộn kéo cả cổ kim đi. 
Cuộc trần thế trăm năm chỉ là giấc mộng khi mắt mở, 
Tựa lan can, lòng nhớ núi Hồng nơi ngàn dặm. 
Một mình bồi hồi ngắm bóng, chẳng nói năng gì, 
Mấy sợi tóc bạc phất phơ rủ xuống tà áo.

            (La Phù giang thủy ca độc tọa)

Truyện KiềuVăn chiêu hồn là những tra hỏi về hiện sinh sâu sắc vượt thời đại của Nguyễn Du. Ở hai tác phẩm này, hồn thơ Nguyễn Du là tình cảm nhân đạo có tư tưởng triết học và chiều sâu tâm linh, kết hợp với những trải nghiệm kiếp người dâu bể của chính Nguyễn Du. Nguyễn Du đã sống những ngày vinh hoa phú quý bên phụ thân, rồi đến những ngày tang tóc, lưu lạc đói khổ, có lúc phải đi ăn xin (khất thực). Ông cũng đã thấm thía những ngày trong tù (My trung mạn hứng). Ông không hiểu tại sao trên đất Trung Hoa no ấm lại có phận người tàn tạ (Long Thành cầm giả ca), phận người bất hạnh (Thái Bình mại ca giả), và ông tận mắt nhìn thấy người chết đói trên đường (Trở binh hành). Những oan khiên thì không sao kể xiết. “Oan này còn một kêu trời nhưng xa”, đặc biệt là thân phận con người trong chiến tranh phong kiến phi nghĩa.

Buổi chiến trận mạng người như rác,
Phận đã đành đạn lạc tên rơi.
Lập lòe ngọn lửa ma trơi,
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đa,
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Nguyễn Du không thương người theo cái nhìn Phật giáo, tất cả chúng sinh đều mang kiếp khổ (Khổ đế). Nguyễn Du nhìn kiếp khổ bằng cái nhìn xã hội. Trong Văn chiêu hồn, Nguyễn Du chia làm 3 hạng người, ông dành cho họ tình yêu thương tùy vào chính những gì họ làm ở trong đời này. Với những kẻ có tham vọng quyền lực đế vương, những lăm cướp gánh non sông, những kẻ bài binh bố trận, mong cướp ấn nguyên nhung, những hạng người này gây nên bao nhiêu nghiệp chướng oan khuất, họ “Dãi thây trăm họ nên công một người”. Nếu có đáng thương là thương ở chỗ họ không hiểu cơ trời, nên rước lấy thảm bại. Hạng người thứ hai là những người mưu cầu giàu sang, công danh, phú quý. Nếu có đáng thương thì thương ở chỗ họ không biết tất cả chỉ là phù vân.“Của phù du dẫu có như không,/ Sống thời tiền chảy bạc ròng,/ Thác không đem được một đồng nào đi.” Loại người thứ ba, rất nhiều, gộp chung những người bất hạnh: kẻ vào sông ra bể, kẻ buôn bán, kẻ mắc vào khóa lính, cô gái lầu xanh lỡ thì, người hành khất, kẻ tù oan, đứa tiểu nhi, kẻ chìm sông lạc suối, người sảy cối sa cây, người leo giếng đứt dây, kẻ trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành, người mắc sơn tinh thủy quái, người sa nanh sói, ngà voi, tất cả họ, “Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết,…”Nguyễn Du thương xót cho kiếp người của họ bằng chính trải nghiệm hiện sinh của mình (ông đã từ sống trong đói khổ, trốn chạy lưu lạc, hành khất, tù đày…). Ông kêu gọi mọi người hãy thương lấy những con người bất hạnh, dù chỉ là một chút nhỏ nhoi, đó mới là con đường giúp giải thoát.

Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,
Của có chi bát cháo nén nhang,
Gọi là manh áo thoi vàng,
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

Ai đến đây dưới trên ngồi lại,
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu.
Phép thiêng biến ít thành nhiều,
Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sinh.

Có thể nhận thấy chính tình cảm nhân đạo kết hợp với những trải nghiệm hiện sinh đã nâng hành trình tư tưởng tra hỏi về chân lý ở Nguyễn Du lên một tầm cao vượt qua cả Nho, Đạo và Phật đến với mọi người, mọi thời đại. Nguyễn Du là nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của văn chương Việt Nam là vì vậy.

III. NHÀ THƠ HÔM NAY HỌC TẬP ĐƯỢC GÌ TỪ NGUYỄN DU

Nhà thơ hôm nay không thể có được những trải nghiệm hiện sinh dâu bể như Nguyễn Du,  và vì thế hồn thơ khó đạt tới tư tưởng triết học về bản thể, về nhân sinh, là nền tảng làm nên thơ tư tưởng của Nguyễn Du. Ngày nay, chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa hưởng thụ vật chất… nhiễm vào lối sống của người làm thơ, làm cho họ trở nên vô cảm, họ không thể vượt qua hiện sinh để đạt tới những chứng ngộ của kiếp người như Nguyễn Du. Nói vậy để thấy rằng, để trở thành nhà thơ tư tưởng là rất khó. Trong văn chương Việt Nam, những nhà thơ tư tưởng như Nguyễn Du có thể chỉ đếm trên đầu ngón tay. Và chỉ văn chương tư tưởng mới có sức sống lâu bền trong tâm thức người đọc.

Dù vậy, nhà thơ hôm nay có thể học được nhiều ở Nguyễn Du. Học sự uyên bác về lịch sử, văn hóa của mọi thời. Nhà thơ phải nuôi dưỡng một tình yêu quê hương sâu nặng, tình thương yêu con người bằng chính bản thể của mình. Và đặc biệt là học Nguyễn Du ở cách sử dụng tiếng Việt tinh tế, tài hoa và đầy sức mạnh. Nói đến sức mạnh thơ Nguyễn Du, ngoài tư tưởng triết học, tình cảm nhân đạo, thì bút pháp hiện thực đã làm nên những bài thơ bất hủ cho văn chương dân tộc. Trong Nguyễn Du có chất phóng khoáng của Tiên thi Lý Bạch, có cái dữ dội gân guốc của Thánh thi Đỗ Phủ, có cái tài hoa của Bạch Cư Dị và có bóng dáng cả Phật thi Vương Duy. Nhưng Nguyễn Du là Nguyễn Du, với dấu ấn của núi Hồng, sông Lam rất đậm, với những vấn đề nhân sinh được đặt ra còn làm bận tâm nhiều thời đại… và một Nguyễn Du của tiếng Việt tài hoa, sang trọng. Điều này nhiều thế hệ nhà thơ Việt Nam nữa vẫn khó vượt qua được. Nguyễn Du vẫn chờ đó.

Một mình bồi hồi ngắm bóng, chẳng nói năng gì,

Mấy sợi tóc bạc phất phơ rủ xuống tà áo.

              (La Phù giang thủ ca độc tọa)

Tháng 11. 2015

____________________________

Nguồn: Bùi Công Thuấn-Văn chương Việt Nam, Những gì còn với mai sau. Nxb HNV 2016

LÊ ĐÌNH BẢNG-NHÀ THƠ CÔNG GIÁO

NỘT TẤM LÒNG VỚI THI CA CÔNG GIÁO

(Trò chuyện với nhà thơ-nhà nghiên cứu văn học Lê Đình Bảng)

Bùi Công Thuấn

Nhà thơ Lê Đình Bảng Sinh ngày 17.9.1942 tại làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh. Quê: Thọ Cách, Thái Thụy, Thái Bình. Học Tiểu chủng viện Mỹ Đức (Thái Bình), Phan Rang và Phanxicô Savie (Bùi Chu) Sài Gòn, ĐCV Lê Bảo Tịnh – Gia Định (1958-1960). Tốt nghiệp Cử nhân Giáo khoa Việt Hán – ĐH Văn khoa Sài Gòn (1966), ĐH Sư Phạm Sài gòn -Việt Hán (1971). Từng dạy học ở Nguyễn Bá Tòng, Nguyễn Duy Khang (Sài Gòn)… Cộng tác với các báo: Trái tim Đức Mẹ, Đức Mẹ La Vang, Đức Mẹ Hằng Cứu giúp, Thẳng Tiến, Sống Đạo, Hoà Bình, Dân Chủ, Công Giáo và Dân Tộc, Hiệp Thông, Đồng Hành, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Phụ Nữ…..Văn Hoá Phật giáo (1960-1975). Ông cũng là thành viên, ủy viên các Ban thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam: Ủy Ban Thánh Nhạc, Ủy Ban Phụng Tự, Ủy Ban Giáo Dân, Ủy Ban Văn hóa, Ủy Ban loan báo Tin Mừng.

Lê Đình Bảng đã in các tập thơ: Bước chân giao chỉ (Sài gòn 1967), Hành hương (2006), Quỳ trước đền vàng (2010), Lời tự tình của bến trần gian (2012), Ơn đời một cõi mênh mang (2014), Kinh buồn (2014), và các tập thơ được phổ nhạc: Đội ơn lòng Chúa bao dung (2012), Lời khấn nhỏ chiều Chúa nhật (2012), Về cõi trời mênh mang (2012). Ngoài ra Lê Đình Bảng còn là nhà nghiên cứu lịch sử văn học Công giáo Việt Nam. Ông đã in “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường” (2010), và bộ sách  gồm 6 cuốn, 4.088 trang in: “Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam” (2009) do ông sưu tầm, nghiên cứu…

            Tôi may mắn được trò chuyện với nhà thơ Lê Đình Bảng một vài lần, những lần dự hội thảo ở Huế, ở Đại chủng viện Xuân Lộc. Câu chuyện của chúng tôi rất thú vị và mở ra rất rộng về phía nghiên cứu, sáng tác văn học Công giáo. Tôi chỉ xin phép ghi lại đây những nghĩ suy và tấm lòng của một người yêu văn chương Công giáo.

***

            BCT: Thưa anh, làm thơ, khó nhất, trước hết là vốn từ. Nghèo chữ nghĩa thì không thể làm thơ được. Thơ của anh có một vốn từ hết sức phong phú, ở đâu anh có được một kho từ vựng giàu có như vậy?

            LĐB: Xin thưa Anh, cái gốc gác, ngọn nguồn trước đã, nhé. Thú thật, tôi vốn tham lam, ngay từ khi tấm bé. Đọc, đọc và đọc. Dĩ nhiên, lúc thơ dại ấy, đọc chỉ là đọc. Cái gì cũng vơ vào. Rồi lớn dần, khôn ra, có suy nghĩ. Đọc, đọc và tích luỹ cho mình. Để ngẫm ngợi. Để suy diễn. Để quy nạp. Để tiêu hoá. Tất cả như một quá trình của vạn vật tuần hoàn: sinh, hoá, trụ, diệt.

Tôi mê Cựu Ước (đặc biệt, Sáng Thế, Xuất Hành, Giảng Viên, Thi Phú, Tiên Tri, Huấn Ca, Thánh Vịnh, Diễm Tình Ca…) Trong ấy, toàn là thơ và thơ. Mình chết đuối trong dòng sông vỡ bờ ấy cả một đời. Lại đọc và ghiền Tân Ước, nhất là theo bước chân Chúa Giê su rảo khắp  núi đồi, biển đảo, rừng sâu, làng chài, phố thị, làng quê. Hỏi, thế thì làm sao mà thiếu vắng Kinh Thánh được? Tôi đã nhiều phen trao đổi với anh chị em làm thơ Công giáo rằng, “ai không đọc và sống Kinh Thánh” thì đừng hòng bén mảng tới cõi thi ca Công giáo. Họ tin hay không, tự do và ân sủng Chúa ban, tuỳ lòng họ mở hay khép.

Bên cạnh Kinh Thánh, tôi có một ”nguồn vốn nhưng không, dân dã, ruột thịt”, đó là kho tàng kinh sách nhà đạo, mà ông bà, thầy mẹ, anh chị em, bà con tôi ”mớm nuôi” tôi. 

 Này, Anh có tin, tôi gấp quyển Toàn Niên Kinh Nguyện dày cộm mấy trăm trang, rồi khoanh tay, nhắm mắt đọc thuộc lòng như cháo chảy, từ trang đầu đến trang cuối không? Chuyện khảo kinh, thi kinh hồi bé ở xứ đạo làng quê nghèo khổ của tôi đấy.

Đấy là cái nguồn bên đạo, nhé. Còn nguồn ngoại lai, cứ tạm gọi là ”bên lương” đi. Là chút ít chữ Hán Nôm, là Sử ký Tư Mã Thiên, là Đường Thi, kể cả Sách vở La Quán Trung, Bồ Tùng Linh. Đọc, đọc cho kỳ hết. Nhà nghèo, coi cọp, đọc ké. Thế là nuốt. Vô được nhiêu, hay nhiêu. Chắc chắn, không dư, không rơi rụng, vương vãi bao nhiêu. Vẫn đủ vốn, dù 30, 50 hay 100. Còn lãi chán. Tôi đã nghiệm ra đáp số của mùa màng bát ngát này…

Tôi xin xưng tội công khai với Anh: Không thể đếm hết các điển ngữ Kinh Thánh và Kinh Nguyện đã ”hoá thân” đã ” nhập thể” vào thi ca của tôi. Y như cái ”bí tích ân sủng” Chúa đã “đóng đinh” vào cả linh hồn, thân xác tôi vậy. Không còn là ”ảnh hưởng, tác động, va chạm, lây nhiễm, ám ảnh” nữa. Đã ”nhập hồn vía, đã thành máu thịt tôi”. Tôi mặc kệ Thánh Thần, như gió muốn thổi đến đâu thì thổi. Sống mà không phải tôi sống, mà Chúa sống trong tôi. Anh đừng cười mà bảo tôi ngoa ngôn, nhé. Không. Tôi nhớ, Anh viết, trong Quỳ trước đền vàng, Hành Hương, còn nhiều thú vị cần được khai quật, nhưng vì khuôn khổ bài viết không cho phép đấy thôi. Vâng, đúng vậy. Ở mỗi tập thơ, mỗi quyển sách (trong bộ Ở Thượng Nguồn…) tôi còn gửi gắm, ký thác rất nhiều, biết ngỏ cùng ai? Tôi trộm nghĩ, Anh là người đầu tiên và duy nhất, như Columbus đặt chân lên miền đất hứa châu Mỹ. Rất hãnh diện, khi người khác ”nhìn và nhận ra” mình là người bên đạo, đi đạo, có đạo, không lẫn vào đâu được. Cái dấu sắt nung đỏ lửa là cây thánh giá đã ”đóng đinh” trên hình hài, điệu bộ, ngôn ngữ và linh hồn tôi rồi, không xoá mờ, phai nhạt được. Kinh Thánh, Kinh Nguyện đã là gia nghiệp đời tôi. Tạ ơn Chúa.

Song song với hai nguồn vốn thánh thiêng trên, tôi con có chút “của riêng” để “làm tin”. Đó là thứ ngôn ngữ cửa miệng rất dân gian, là lời hát ru, là những gì tôi nghe, tôi nhớ, tôi gom góp, như con chim tha hạt sớm chiều. Con đường ấy là điền dã, là cơm đường cháo chợ, hát xẩm xin ăn rách rưới bên đường. Tôi đi, tôi thấy, tôi lắng nghe, tôi chắt chịu, dành dụm, giữ ngọc gìn vàng. Tất cả quy hướng về Chúa, khi chúng “tự nhào nặn, tự cộng sinh và tiếp biến”. Khi bay bổng, thăng hoa nhất, đấy là đã ”tới cõi” đặt dưới chân Chúa vô lượng hải hà…Tôi vỡ đất, cày cuốc, gieo trồng. Chúa cho sương trời hơi đất và nắng gió, đơm hoa, kết trái.

            BCT: Quả là nguồn từ vựng của anh bát ngát và nhờ thế, thơ anh như cánh đồng, như trời bể bao la chữ. Thưa anh, anh làm thơ Công giáo với mục đích gì?

            LĐB: Khi tôi làm thơ, làm thơ đạo, làm thơ Công giáo, nói như thánh Phao lô, dù Hy Lạp hay Do Thái, miễn sao rao truyền được tin mừng của Đức Ky tô bị đóng đinh. Chuyện này, có vẻ giản đơn và nhẹ nhàng. Nhưng thưa Anh, đối với tôi lớn lắm, khó lắm. Phải ”đổ hết máu thịt mình ra”. Một cuộc ”khổ nạn” trên hành trình Núi Sọ. Đâu phải hễ mở miệng lạy Chúa tôi,  Lạy Đức Mẹ, có ông cha, bà phước, có bóng tháp nhà thờ, có tiếng chuông, tiếng cầu kinh…amen là thơ đạo, thơ Công giáo đâu? Còn lâu! xin lỗi, không dám đâu! Gọi đó là ”thơ đạo” ư? Biết chết liền!Hihi!

            BCT: Thưa anh, anh làm thơ như thế nào?

            LĐB: khi cầm bút, tôi chỉ muốn để mình trôi đi như hơi thở. Nói thật, ít khi, tôi phải khổ công để khuôn ép, gò bó. Tôi rất sợ đánh mất ”cái thoáng qua, cái khoảnh khắc vụt đến,vụt đi” ấy. Sợ không gặp lại, sợ nó khác đi. Lúc này, đọc lại các tập thơ đã ra đời, thưa Anh, tôi không hề có ý gì khi chọn ”bao nhiêu bài, bao nhiêu câu ,bao nhiêu thể loại” cho mỗi tập. Phải chẵn hay lẻ? Phải thế nọ, thế kia. Không. Nó cứ diễn ra như nó muốn.

          Rất tâm đắc với Anh về một người làm thơ, một nhà thơ Công giáo Việt Nam, là ” phải thực sự tài năng (kể cả ngón tài hoa nữa); một bản lĩnh trong sáng tạo; một cốt cách độc đáo và một vốn liếng rất giàu có về ngôn từ, hình tượng.”

            BCT: Anh nghĩ gì về người sáng tác, người viết lý luận phê bình văn học Công Giáo Việt Nam đương đại?

            LĐB: …trộm nghĩ, cứ 1000-5000 tín hữu thì có thể có được 1-2 người viết lách (dĩ nhiên chưa phải là nhà văn, nhà thơ). Mà giả như trong 500-1000 nhà văn nhà thơ thì cũng chưa chắc có được một ngòi bút lý luận – phê bình cho xứng tầm…Hãy cứ nhìn suốt chiều dài lịch sử văn học Việt Nam (từ 1533 đến 2009) mà xem. Chỉ loé lên như một tia chớp ở Võ Long Tê (1965) và lác đác, bàng bạc với Thanh Lãng và Nguyễn Văn Trung. Rồi thôi, lịm tắt. Không còn động tĩnh, âm hao gì? Mà cũng chẳng hề nghe ngóng một thắc mắc, phản hồi? Hình như, tôi có dự cảm về một tình cảnh ”sống chết mặc bay”, từ cả mọi phía: Hội thánh tôi yêu và người tín hữu cầm bút?

Nói thật, trong cõi… nghiên cứu – lý luận – phê bình Văn học Công giáo Việt Nam, chúng ta là một…vùng trắng, một cánh đồng hoang. Gần 500 năm, đạo Chúa vào Việt Nam, chúng ta đã có một gia tài. Nhưng càng về sau này, càng nhạt, càng trống vắng. Bởi vậy, bản thân tầm thường của tôi – với ơn Chúa và nỗ lực vượt khó, cày ải, tuyệt vọng trong  nhiều năm (1975-2009) – chỉ vỡ vạc được bấy nhiêu, đóng góp cho đạo, cho đời. Bây giờ đã gần đất và xa trời, chỉ biết cầu xin và hy vọng, Anh, người viết lý luận – phê bình Văn học Công giáo Việt Nam sẽ viết nên những dòng chữ làm sánh danh Chúa, giới thiệu cho xã hội thấy được những chân dung, những cống hiến có giá trị thật vào dòng chảy Văn học Việt Nam.

BCT: Cám ơn anh về một “niềm hy vọng”. Anh đã sưu tầm và viết bộ sách 6 cuốn Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam như thế nào?

LĐB: Bộ sách 6 Tập này là tất cả mồ hôi, máu lệ của tôi, suốt dòng dài năm tháng khốn khổ, cô độc, cô đơn nhất trên chiếc xích lô già nua, còm cõi, vất vưởng đầu đường xó chợ. Thậm chí, cái ruột bút bi, mảnh giấy, chỗ ngồi yên ả cũng được xem là…xa xỉ, ước mơ. Tất tần tật viết tay, những bao thuốc lá, những mảnh giấy hoá đơn, lặt vặt, vương vãi, những căm xe xích lô xâu chuỗi giấy tờ, chữ nghĩa, hình ảnh….Computer, google, net…còn ở mãi…đẩu đâu…xa vời, không dám nghĩ tới…Nói thật, không ai có thể ngờ. Bản thân tôi, đến lúc này, cũng không ngờ! Hẳn là hồn thiêng của hơn 100 tác giả, ở cõi bên kia, đã nguyện cầu Chúa gia hộ, độ trì tôi chăng? Xin Anh hiểu cho tình cảnh…cưu mang, sinh thành và chào đời của chúng

Khi suy nghĩ và viết bộ sách 6 tập Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam, tôi chỉ nhắm 2 điều: đãi cát tìm vàng – thi ca, và tìm hiểu thi ca Công giáo Việt Nam xuyên suốt dòng lịch sử từ buổi hừng đông (tạm thời là từ nửa đầu thế kỷ XVI đến nay: đương đại, nhưng chỉ đề cập đến những tác giả và tác phẩm của những người đã mất. Thuật ngữ ”thượng nguồn” ở đây, không được, không bị hiểu là…tận cùng…tít tắp của thời gian. Nhưng đơn giản thôi, là các tác giả và tác phẩm của người và của thời đã qua. Trên dưới một trăm tác giả, vài trăm tác phẩm (vì cũng có tác giả có 2, 3, 4, 5 tác phẩm) và hàng nghìn hình ảnh minh hoạ trong bộ sách hơn 4000 trang ấy, thưa Anh, lại vẫn là ”thơ và thi ca Công giáo Việt Nam”. Chẳng dám nghĩ, đó là ”tiêu chí” nào. Chẳng muốn ”nhốt” họ vào một cái ”khuôn khổ” nào. Thậm chí, cũng không hề có ý tưởng ”sắp xếp” vào một khuynh hướng, một trường phái cụ thể nào, như thường tình của các nhà viết văn học sử: Dương Quảng Hàm,Vũ Ngọc Phan, Thiếu Sơn, Phạm Thế Ngũ…

Bởi vậy, tôi không đánh số 1, 2, 3…5, 6. Cứ để mặc người đọc tự do, cầm tập nào và đọc tập nào, tuỳ ý. Kể cả việc họ có quyền thắc mắc, đặt xuống hoặc nâng lên tập này, tập kia, xếp đặt lại cho có bên có bề, theo ý họ. Đã có khá nhiều người đọc và góp ý với tôi rằng ”tại sao…và tại sao?”. Tôi chỉ dạ vâng, để đó

          Còn về hình thức cũng thế. Kinh Thi, Sở Từ, Liêu Trai, Sử Thi, Thánh Vịnh, Tiên Tri, Diễm Tình Ca, Vè Vãn, Ca Ngâm, Hát Nói v.v. không nằm trong phạm trù của một ”tiêu chí” nào. Viết để mời gọi mọi người cùng bàn, cùng ăn, cùng uống. Khóc và cười với nhau, như thánh Phaolô và Đổ Phủ bảo. Thế thôi. Vì thế, tôi tạm chia cái ”thượng nguồn thi ca” ấy ra làm 6, 7, 8 nhánh, gọi là “miền thơ”.Tôi sống, tôi đọc và tôi đã ”nắm” được cái ”chất thi ca Công giáo Việt Nam” nhiều, ít trong từng tác giả, tác phẩm: thơ trong kinh nguyện; thơ để cầu nguyện; thơ trong những diễn ca Phúc Âm; thơ để huấn giáo; thơ để ghi nhận ký ức, hoài niệm và thơ trong ca từ của thánh nhạc thánh ca Việt Nam. Và sau nữa, thơ trong Vè Vãn, Ca Ngâm và cả trong Câu Đối, Sắc Phong, Hoành Phi, Liễn…

Trong lúc viết đề dẫn…, tôi đã chọn lựa: tự sự, tuỳ bút. Hẳn Anh đã nhận ra, ở mỗi Tập và mỗi tác giả, tác phẩm, tôi sắm vai ”người trong cuộc, người kể chuyện” với tác giả, hơn là nhà văn ”đứng nhìn, soi rọi và…phát hiện” ra những ẩn giấu, khuất chìm. Đa phần, bằng “điền dã, tiếp cận, gặp gỡ, trò chuyện, thư từ” (kể cả tranh luận, giữa những thập niên (1965-1975-2009) chưa hề có internet, computer, google…riêng đối với tôi.

 Nhờ những ”chứng nhân sống” này, tôi đã “moi” được chút chút ”tăm cá, bóng chim”. Cũng là nhờ ơn Chúa thôi. Đến khi bộ sách này ra đời, tôi tạ ơn Chúa. Sau đó, tôi ”lập đàn” hương khói nguyện cầu các tác giả đã phù trì, che chở tôi vượt qua trăm nỗi đoạn trường, tưởng không thể nào…

Không chỉ khi viết về Lịch sử văn học Công giáo , mà thưa Anh, ở toàn bộ những sinh hoạt của tôi – từ suy nghĩ, nguyện cầu đến viết lách (viết văn, làm thơ), dạy học, mc…tôi vẫn một mực sắm vai” một người kể chuyện, ở ngôi thứ nhất “ tôi”. Tất tần tật không gian, thời gian, chủ thể, khách thể đều ở trạng thái ”hiện thực hoá”. Tôi nghĩ, sẽ sinh động, ngồn ngộn, tươi nguyên hơn là một quá khứ đã bị đóng băng, bị đổ xi măng cốt thép; hơn là những chói loà chỉ tổ làm mờ mắt, choáng ngợp, để mày mò bước theo những lối mòn nhạt nhẽo, cũ mèm.

Chúa, Phật, Tiên, Người, Đời, Tình Yêu, Nỗi đau, Nỗi Chết…đối với tôi đều mới tinh sương, như bình minh Sáng Thế, như một Lễ Hiện Xuống Mới. Đó là tổng hợp vào chính bản thân mình một giao thoa, một cộng sinh và tiếp biến. Đó là, xin lỗi Anh, tôi hơi…vô phép, một cuộc ”nhập thể/ đã hoá vào máu thịt” rất “vô thức”, có lẽ còn chờ được “mạc khải”. Tôi cứ để mặc lòng, trí và ngòi bút trôi đi. Đã có Thánh Thần sáng soi, dìu dẫn. Anh đọc và hẳn Anh đã nắm rõ. Cái tôi và Chúa và tất cả cứ bàng bạc, phủ sóng ở mỗi chữ, mỗi câu, mỗi tập. Không khiên cưỡng, gò ép phải thế này, thế kia được. Do đó, có lúc nó Cựu Ước, Thánh Vịnh, Ngôn Sứ, Diệu Ca. Đôi khi, nó Tân Ước dày đặc những dụ ngôn đã hoá sinh vào đồng đất quê nhà Việt Nam, vào đồng dao, vào ngôn ngữ cửa miệng dân gian. Lại có lúc, nó trôi nổi ra bát ngát tam quan, đình chùa, miếu mạo, hát xẩm, ca trù …

BCT: Anh đã sống qua những giai đọan biến động rất lớn của lịch sử Việt Nam, sao anh vẫn giữ được hồn thơ trong veo? Anh có chịu ảnh hưởng của tác giả, tác phẩm một nền văn học nghệ thuật nào không?

LĐB: Anh hỏi tôi, giữa…trùng điệp những ảnh hưởng du nhập, tác động, tiếp cận từ Kinh Thánh, Kinh Nguyện, Dân Gian đến Văn học cổ, Hán Nôm, Đường Thi, Thiền và va chạm nhiễu nhương của thời thế trước và sau 1975, tại sao thơ LĐB vẫn ”trong veo”?? Ồ, lạ nhỉ? Thưa Anh, tôi vẫn một lòng trân trọng – kể cả ngưỡng mộ và khâm phục –  các bậc tài hoa tiền bối. Nhưng nhất định không ”bị choáng ngợp, bị mê hoặc” đến nỗi mờ mắt, hết thấy con đường phía trước. Chúa bảo tôi ”kho trời chung, mà vô tận của mình riêng”. Chả bao giờ vơi, chả bao giờ cạn.

Làm thơ hay hoặc dở, không phải những điều mình viết, mình nói ra. Nhưng quan trọng, là ”cách mình viết, mình nói ra thế nào”. Cũng như chỉ có đồ rê mi fa sol la si…ấy thế mà âm nhạc Đông Tây, cổ kim hoà điệu, Cò lả, Quan họ, Hát Xẩm, Đò đưa, ca khúc, hợp xướng…Chẳng hiểu, thưa Anh Thuấn, tôi nghĩ và tôi đã viết lách, đặc biệt tôi đã ”sống máu thịt với thơ Công giáo Việt Nam” như vậy có gì là…lập dị, sai trái không?…

Anh đã chỉ ra được cái ”lan man/ miên man” rất lăng ba vi bộ của tôi trong lối viết “tuỳ bút” trong nghiên cứu văn học. Một chuyện lạ đấy, như tôi hiểu. Anh đâu có trách tôi. Nhưng đã có không ít người – có máu nghiên cứu – không đồng tình. Họ bảo và khuyên tôi nên ”xoá đi/ làm lại”. Nghĩa là ” không thể chấp nhận vừa nghiên cứu, lại vừa tự sự, tuỳ bút.”. Làm như thế, theo họ, tác phẩm sẽ mất đi tính ”uyên bác, khoa học và khách quan”. Vâng, thưa Anh, tôi giữ nguyên si. Không chỉ khi làm thơ, mà cả trong mọi lĩnh vực đời sống của tôi. Điều này, đã hơn một lần, tôi khẳng định với Anh đó. Đấy là cái thế giới ”nguyên sinh, trữ tình” của tôi…

Vẫn tồn tại trong tôi một thắc mắc, từ lâu rồi, tại sao quá ít ”nghiên cứu sinh bậc Cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ Công giáo” làm luận văn, luận án chuyên đề về văn hoá, văn học Văn học Công giáo nhỉ? Chúa ôi, cả một kho tàng bát ngát, địa hải, thiên hà. Đây cũng là một “cánh đồng truyền giáo” chứ bộ ? Tôi vừa nghe cô học trò tôi báo tin, mời tôi về Hải Phòng dự buổi trình luận án Tiến sĩ ngôn ngữ học” về ngôn ngữ Công giáo  trong sách Toàn Niên Kinh Nguyện của các giáo phận Dòng Đa Minh (Hải Phòng, Bùi Chu, Thái Bình, Bắc Ninh, Lạng Sơn). Tuyệt vời! Là Hội đồng Giám mục Việt Nam, xin lỗi, lại là Uỷ Ban Văn Hoá, đích thân tôi sẽ ”trải chiếu hoa” mời vị Linh mục ứng sinh ấy và trao một Giải thưởng Văn hoá -Đức Tin xứng tầm ngay lập tức. Anh thử nghe ngóng xem nó ra sao, nhé.

BCT: Anh đã viết “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường”, xin anh cho biết những suy nghĩ của anh về lịch sử và tương lai của Văn học Công giáo Việt Nam?

LĐB: Mấy hôm nay, câu hỏi của Anh khiến tôi cứ phân vân, đến là khó đưa ra được một nhận định rốt ráo. Có chăng, một nền Văn học Công giáo ? Có chăng một nền Văn học Công giáo Việt Nam? Lịch sử nền văn học ấy như thế nào? Rộng lớn và bao quát quá.Trí khôn cùng vốn hiểu biết của tôi thì hạn hẹp, nông cạn, làm sao với tới? Ở đây, thưa Anh, chỉ đơn thuần là những tản mạn suy nghĩ và những đoạn rời cảm nhận về Văn học Công giáo Việt Nam thôi. Không dám mở rộng ra Văn học Công giáo của giáo hội.

Chưa lâu lắc gì lắm đâu. Chính xác là suy nghĩ ấy chỉ mới nhen nhúm trong đầu, từ khi có ý định ”làm công việc nghiên cứu lịch sử Văn học Công giáo Việt Nam”. Đâu, khoảng những thập niên 1975-2009. Nhưng thật ra, đã khởi đi ngay từ những năm tháng đèn sách miệt mài ở nhà trường, với những khuôn phép, chuẩn mực rất giáo khoa thư, 1955-1965…

Vâng, từ cái chuỗi dòng dài thời gian xa lắc xa lơ mịt mù ấy, trong tâm tưởng rất vô thức và vụng dại, trăng mật của tôi, Văn học Công giáo Việt Nam không hơn ”một khái niệm” khá mơ hồ và trừu tượng. Nó hiện ra son nhạt trong tôi như một ”người tình nho nhỏ xinh xinh để chiêm bao mộng mị”. Thánh thiêng và tinh khiết lắm. Vô nhiễm như vỉa quặng còn ngủ quên dưới lòng đất, đừng ai chạm tới. Đơn giản, vì lúc ấy, ngay cả đến thầy dạy cùng sách vở, văn bài của mình toàn là kinh sách, lễ nhạc, giáo điều, phụng tự…Không hề thấy bóng dáng một tác giả, một tác phẩm nào mặc tấm áo ”văn học Công giáo”.

Trộm nghĩ, hay một cách mặc nhiên, chúng đã là ”Văn học Công giáo Việt Nam“ rồi, mà bọn trẻ chúng tôi khờ khạo, không hay biết? Thú thật, có một thuở một thời, tôi mông muội đến…tội nghiệp như thế đấy. Chưa bao giờ và có ai dạy cho biết thế nào là Văn học Công giáo, Văn học Công giáo Việt Nam, thế nào là một tác giả, một tác phẩm Văn học Công giáo. Tội nghiệp chưa !

Đến lúc lớn khôn hơn, có tí chữ nghĩa, đọc và học môn Văn học sử Việt Nam, rồi từng bước, hiểu ra ”vẫn có đấy, một dòng chảy văn học Việt Nam song song với những kinh qua của lịch sử Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn v.v. Và văn học với thời thế, từ đấy, đã mang tính ”biện chứng và tất yếu”, không dễ gì biện bạch rạch ròi. Thời thế nào, văn học ấy.

Tôi miên man ngẫm ngợi mãi. Quay trở về Văn học Công giáo Việt Nam thì sao? Chỉ thấy lác đác, chỗ này, người kia viết hoặc nói chung chung về một vài nhân vật, sự kiện, truyện tích, câu thơ, bản nhạc, bức tranh, tuồng tích mang nội dung Công giáo. Cứ vô tư và tự nhiên như là chuyện kể dân gian. Thành thử, tôi vẫn nghĩ, Công giáo là Công giáo và văn học là văn học. Cả hai chẳng có dây mơ rễ má gì với nhau. Chúng độc lập, tồn tại ở trong hai phạm trù riêng, Công giáo và văn học, đạo và đời. Những sách vở, tư liệu tôi đọc và học, không hề chỉ ra ”cái chất Văn học Công giáo ” của một tác giả hay một tác phẩm. Tất cả, như đã bị lớp sương mù của quan điểm, lập trường chính trị và mục vụ, truyền giáo che mờ, khoả lấp, hướng dẫn, khuôn ép. Một mặt, né tránh, e dè, phớt tỉnh hoặc không mấy mặn mòi bắt chuyện. Đó là trường hợp của đại đa số sách báo, giáo khoa. Từ Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Dương Quảng Hàm cho đến Thiếu Sơn, Nghiêm Toản, Võ Thu Tịnh…

Mặt khác, có nhắc đến, nhưng chỉ là ”chạy qua gánh hàng bồ có bán ảnh tượng và sách báo Công giáo” ở các phiên chầu lượt của xứ đạo làng quê ta. Nói cho có, viết qua loa. Đó là trường hợp của những ”đấng bậc” chuyên viết lịch sử truyền giáo (Sử Ký Hội thánh; Tường trình về truyền giáo; Hạnh Các thánh…). Đó là sách báo, tư liệu của Lê Thiện Bá, Phao lô Qui, Nguyễn Hồng, Phan Phát Huồn, Bùi Đức Sinh…

Mãi đến 1965, với Lịch Sử Văn Học Công giáo Việt Nam của nhà nghiên cứu Võ Long Tê, vấn đề mới dần rõ ra. Có một nền Văn học Công giáo Việt Nam. Và kết thúc tập sách này, tác giả chỉ mới làm công việc giới thiệu cho chúng ta buổi hừng đông thế kỷ 16-17, khi vóc dáng Văn học Công giáo Việt Nam còn ở dạng kinh nguyện và ca vãn truyền khẩu.

Từ đó, đứt đoạn, không có ai tiếp nối, kế thừa. Từ đó, Văn học Công giáo Việt Nam và việc đi tìm Văn học Công giáo Việt Nam lại rơi vào lãng quên, tối om như vào chốn lâm bô. Khoảng giữa những thập niên 1958-1970, ở Đại học Văn Khoa Sài gòn và Huế, Đà Lạt, chúng tôi may mắn được tiếp cận với một số công trình nghiên cứu chuyên ngành văn chương của các giáo sư Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung. Cũng có đấy ít nhiều chất “Công giáo Việt Nam ”. Nhưng rõ ràng là…có vậy.

Cho nên, trong điều kiện thiếu thốn và hoàn cảnh tự thân của mình nỗ lực học tập tấm gương người đi trước đã mở đường và do một lực đẩy từ bên trong nội tâm, tôi liều mạng viết ”Văn học Công giáo Việt NamNhững chặng đường”. Như một bước khởi động với nhiều…suy nghĩ trong vòng…thử nghiệm, thăm dò đầy rủi ro. Những chặng đường Văn học Công giáo Việt Nam được phân định như sau:

– Chặng đường vỡ đất – gieo trồng (thế kỷ 16-17).

– Chặng đường đâm chồi – nảy lộc (thế kỷ 18-19).

– Chặng đường đơm hoa – kết trái (thế kỷ 20).

Công giáo Việt Nam đã có một  nền văn học trong dòng sinh mệnh của dân tộc.

Chuyện ”Văn học Công giáo Việt Nam phát triển thế nào?”

Là một chuyện dài, của nhiều thời, nhiều người. Hôm qua, hôm nay và ngày mai. Hôm qua đã có, đã gầy dựng, đã làm nên một nền Văn học Công giáo Việt Nam, với những tác giả, tác phẩm. Họ đã đóng trọn vai trò và chức năng trong dòng lịch sử mấy trăm năm, từ 1533 đến nay. Hôm nay và ngày mai nghĩ gì, làm gì? Câu hỏi và trả lời được đặt ra về phía Hội thánh và về phía người tín hữu cầm bút. Cần phải có một gặp gỡ, một hội luận, một trao đổi, một bàn bạc, một lắng nghe, một tiếp thu và cùng nhau bắt tay thực hiện? Câu hỏi còn treo lơ lửng đấy.

BCT: Xin hỏi anh một chút riêng tư. Đọc thơ anh, BCT thấy man mác một nỗi buồn, mênh mông là buồn, nó chi phối giọng thơ và tạo nên chất trữ tình của thơ anh. Anh có thể “mở lòng” với bạn đọc được xíu nào không?

            LĐB: Thưa anh, quên đi thì thôi. Chứ hễ nhắc nhớ tới, là lại buồn. Anh hỏi tôi, cái buồn gì? Nói ra có vẻ… không đâu. Mà là cái buồn… thiên cổ, không thể gọi tên. Tôi không oán trách, vì chính mình làm khổ mình thôi. Biết mà không sao dứt đường…tơ được. Đúng là nhiều khi, đọc Kinh Thánh, rồi đọc thơ, thấy mình tìm được ủi an. Y như ông Phùng Quán bảo ”vịn câu thơ mà đứng dậy.”

Cũng may, thưa Anh, chúng ta còn một trạm dừng, một bến đỗ, là văn chương. Trong tôi, mặc dù già yếu và sống xa quê, nhưng lúc nào cũng tươi nguyên một cuộc sinh sôi, đi tìm cái mới, cái hay, cái đẹp cho ngôi đền thi ca Công giáo. Cho mình và biết đâu, nhờ ơn Chúa, truyền cảm hứng, mở đường cho người đi sau. Sự thật là đã gần hết cuộc đời rồi, chính tôi không hiểu nổi ”cuộc hoá sinh và nhập thể” giữa mặt đất với bầu trời, giữa thánh thiêng và dung tục, giữa đạo với đời ra sao trong thơ tôi. Nhưng chắc chắn là có, không thể phân tích hoặc lý giải được.

            BCT: Cám ơn anh nhiều. Kính chúc anh sức khỏe, niềm vui và dồi dào Ơn Chúa để anh tiếp tục “Hành Hương” đến những miền bờ xôi ruộng mật của tư tưởng và nghệ thuật, “đi tìm cái mới, cái hay, cái đẹp cho ngôi đền thi ca Công giáo”…góp phần làm giàu cho thi ca Công giáo đương đại.

Tháng 7/2020

CÓ MỘT VƯỜN THƠ ĐẠO-Trăng Thập Tự

MỘT VƯỜN ĐẦY HƯƠNG SẮC

(Tổng quan về bộ sách Có một vườn thơ đạo. Nxb Phương Đông.

Nhóm thực hiện: Trăng Thập Tự, Cao Huy Hoàng, Lê Đình Bảng, Lê Hồng Bảo, Mạc Tường, Nguyễn Đình Diễn, Nguyễn Thanh Xuân, Thiện Chân, Trần Như Luận,  Trần Vạn Giã – Vũ Thủy.)

Bùi Công Thuấn

***

Nhà thơ-Lm Trăng Thập Tự cho biết[1] về việc thực hiện bộ sách Có một vườn thơ đạo như sau:

Việc sưu tầm và biên soạn Có một nườn thơ đạo có ba giai đoạn:

Giai đoạn I ở Đà Lạt và Nha Trang (1978-1996). Trăng Thập Tự  thực hiện với tiêu chí sưu tầm và giữ lại cho khỏi mất: Chép tay đóng bìa cứng một tập: Mùa Hoa. Năm 1999, in với giấy phép NXB Thuận Hóa: Góp nhặt thơ Công giáo.

Giai đoạn II ở Sài gòn (2006-2007), trong thời gian nghỉ bệnh, TTT mời Lê Đình Bảng, Nguyễn Đình Diễn, Cao Huy Hoàng cùng tham gia đọc chọn những bài sưu tầm được. Lúc ấy Lê Đình Bảng đang san định các tư liệu “Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam”. Nhóm xem chương trình của mình như tiếp nối công việc của Lê Đình Bảng, vừa làm vừa chọn, dự kiến cứ xong được 15 tác giả sẽ in một tập. Do Lê Đình Bảng cho biết sẽ in thành ba tập, tập đầu của nhóm là Kinh Trong Sương  – Nxb Phương Đông, 2008 – được ghi phụ đề là “Thơ Công giáo Việt Nam – tập 4”.

Giai đoạn III ở Quy Nhơn(2009-2012), có thêm Mạc Tường, Thiện Chân, Nguyễn Thanh Xuân cùng với Lê Hồng Bảo, Trần Như Luận, Trần Vạn Giã và Vũ Thủy, dự kiến làm cho kịp mừng 100 năm ngày sinh Hàn Mạc Tử, nhưng do mỗi người ở một nơi, hơn một năm chưa xong quyển nào.

Do đó, giữa năm 2010, năm người ở Quy Nhơn là Trăng Thập Tự, Mạc Tường, Trần Như Luận, Nguyễn Thanh Xuân và Thiện Chân đổi chương trình, gặp mặt thường xuyên để làm cho xong. Để vinh danh nhà thơ Công giáo tiền phong, nhóm tập trung vào những tác giả sinh từ 1912, tức là cùng năm với Hàn Mạc Tử về sau. Có một số vị không thể nào liên lạc được, và chắc hẳn còn nhiều vị khác mình không biết để mà tìm.

Việc chọn lựa và biên tập đượclàm theo tiêu chí:trân trọng và giữ gìn sáng tác của những tác giả có tâm huyết muốn tìm hứng thơ nơi đức tin Kitô giáo, và giới thiệu một cách đơn giản. Nói chung, việc biên soạn nằm trong thao thức mục vụ, nhằm giới thiệu dòng thơ Kitô giáo cho đại chúng giáo dân, khích lệ các tác giả và  khích lệ lớp trẻ rèn luyện thơ văn.

Giữa năm 2012, bản thảo tạm xong, được xếp thành 4 tập Có Một Vườn Thơ Đạo, lo thủ tục xuất bản và kịp phát hành dịp tổ chức kỷ niệm 100 năm. Ba năm sau đó đã làm tiếp tập 5.

NỘI DUNG BỘ SÁCH

          Lời giới thiệu bộ sách do Chủ tịch Ủy ban Văn hóa – Hội đồng Giám mục Việt Nam, GM Giuse Vũ Duy Thống (13/5/2012)

          Lời tựa của GM Micae Hoàng Đức Oanh.

Bộ sách gồm 5 quyển (2.430 trang).

Tập đầu mang tên “Thi sĩ của thánh giá”, lấy ý từ một câu thơ của bài Nguồn thơm, giới thiệu con người, cuộc đời và thơ đạo của Hàn Mạc Tử, kèm với bài viết của một số người về thơ đạo của ông.

Các tập sau được đặt tên theo những hình ảnh trong bài thơ AVE MARIA bất hủ của Hàn Mạc Tử, giới thiệu thơ đạo của những tác giả theo chân Hàn Mạc Tử. (Đôi lời của nhóm sưu tập)       

Nội dung cụ thể như sau:

Quyển II: Như song lộc triều nguyên, giới thiệu 42 tác giả (năm sinh từ 1912-1940).

Lời giới thiệu của nhóm biên tập: “Như song lộc triều nguyên – như hai con nai ngưỡng vọng lên nguồn suối. Đây là nguồn suối ân sủng, là chính Thiên Chúa, là nguyên ủy tối cao của muôn vật muôn loài, là Đấng mà linh hồn tín hữu nói chung và linh hồn người thơ nói riêng hằng khát khao ao ước. Như nai rừng mong mỏi/ Tìm về suối nước trong /Hồn con cũng trông mong Được gần Ngài, lạy Chúa! (Tv 42,2)…

 Do chịu ảnh hưởng thơ Pháp, Hàn Mạc Tử cũng như nhiều nhà thơ mới thế hệ đầu lắm khi diễn ý liền mạch, đuôi câu thơ trên nối liền với đầu câu thơ dưới. Như thế, “ơn phước cả cao dâng” là liên quan mệnh đề diễn nghĩa cho “nguyên” (nguồn suối); còn “song lộc” là hình tượng minh họa cho “thần nhạc”. Hai bè nhạc trầm bổng như đôi lộc vừa chầu chực vừa ca tụng nguồn ơn phước cả. Hai dòng nhạc ấy gồm một từ cõi vô hình của triều thần thiên quốc và một từ nhân loại hữu hình được đại diện bởi Hàn Mạc Tử và những người làm thơ dệt nhạc muôn thế hệ …”

Đáng chú ý là các tác giả:Bàng Bá Lân, Xuân Ly Băng, Hồ Dzếnh, Đình Quang, Nhất Tuấn, Trần Thị Hoa. Phạm Đình Tân, Ngọc Minh,  Nguyễn Duy Diễn, Vân Uyên Nguyễn Văn Ái, Vũ Huyền Dư, Võ Thanh Tâm, Lm. Nguyễn Tiến Lợi, Đơn phương, Lm. Thanh Quân

Quyển III: Ơn phước cả giới thiệu 51 Tác giả (sinh năm 1941-1955).

Nhóm sưu tầm dẫn giải:

“Như song lộc triều nguyên ơn phước cả

 Dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng.  

Hình ảnh “ơn phước cả dâng cao” gợi lại thị kiến về Ơn Cứu độ chan hòa trong

sách ngôn sứ Ezekiel thời Cựu Ước (chương 47)… Đền thờ là tượng trưng thân thể Chúa Kitô, cho nên dòng suối chảy tự đền thờ cũng chính là dòng máu và nước trào tuôn từ cạnh sườn Chúa (Ga 19,34), là nguồn ân sủng của Ba Ngôi Thiên Chúa: ơn sáng tạo của Chúa Cha, ơn cứu chuộc của Chúa Con và ơn thánh hóa của Chúa Thánh Thần.  Trong sách Êzêkiel, dòng ơn phước dâng nhanh thành lũ lụt mênh mông nhưng, với Hàn Mạc Tử, nó còn dâng cao đến vô tận, nương theo “cõi vô cùng cao tột bậc”, như “sáng bao la vây lút cõi thiên không”.  Hòa quyện vào nguồn ơn phước cả, dòng chảy văn thơ Công giáo Việt Nam cũng là một nguồn ơn dạt dào Thiên Chúa đang ban qua lịch sử”

Các tên tuổi đã khẳng định trong làng văn nghệ Việt: Trăng Thập Tự, Lê Đình Bảng, Bùi Chí Vinh; Trần Vạn Giã, Trần Mộng Tú, Cao Huy Hoàng, Mạc Tường, Nguyễn Tầm Thường,

Nhiều tác giả làm thơ tự tình.

“Tôi muốn dùng lời thơ, tiếng hát để cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa. Hơn thế nữa, tôi muốn chia sẻ đến tất cả mọi người những rung cảm chân thành của tôi để cùng mọi người cảm tạ, chúc tụng, tôn vinh tình Chúa, liên kết tình người trong yêu thương, vui tươi và an bình vì luôn có Chúa ở cùng.” (Thúy Nga – tr. 390 quyển III)

 Quyeån IV: Thần nhạc sáng hơn trăng giới thiệu  44 tác giả (sinh từ 1956-1990),

đa số là cộng tác viên của chuyên san Đồng Xanh Thơ…

Các tác giả có khí cốt riêng là: Phan xi cô, Lưu Minh Gian (tức Lm Cao Gia An), Lm Jos Vũ Huy Thông, Trịnh Tây Ninh, Phan Thị Liên Giang, Đinh Thiện Phương, Trần Phương Nhã , Kim Dạ , Song Lam, Glassey Trần Nguyễn Trang Đài, Kim Dạ. Nguyễn Thông (trường Viết văn Nguyễn Du.

Thế hệ sinh sau năm 1975 nhiều người có trình độ học vấn và thành đạt trong công việc. Nhiều tiếng thơ trẻ theo kịp “Thơ trẻ” đương đại, góp phần làm mới thơ Công giáo. Ý thức sáng tạo sâu sắc và đa dạng (Đinh Thiện Phương, Trần Phương Nhã , Kim Dạ)

          Quyển V: Bay tới cõi thiên đàng (Nxb Đông Phương. 2015) giới thiệu 45 tác giả (sinh từ 1918 đến 1981). Nhóm sưu tập giới thiệu:

          “Nhóm sưu tập hứa hẹn sẽ thực hiện những quyển tiếp theo vào năm 2015 mang tên “Vườn Thơ Đạo Nở Hoa”. Tựa đề này ôm theo ước mơ tìm kiếm và vun trồng được thật nhiều tài năng trẻ.

          Thế nhưng chỉ ba năm, thời gian quá ngắn để phát động nơi các bạn trẻ Công giáo lòng yêu mến và khả năng sáng tác thơ văn. Do đó, tập sách bạn đang cầm trên tay và tập tiếp theo chưa có may mắn mang tựa đề ấy. Nó lấy lại tựa đề cũ và đánh số thứ tự tiếp theo.  Tập 5 này ra đời khá muộn, có một phần vì nhóm sưu tập thấy lúng túng, liệu có nên khóa sổ bộ sách với quyển thứ 5 chăng. Nay thì chúng tôi đã tìm được cách giải quyết. Chúng tôi sẽ tiếp tục công việc như một chương trình phục vụ, cứ gom góp dần, mỗi lần được khoảng 40 tác giả mới với đầy đủ nội dung cần thiết, sẽ ấn hành một quyển mới…”

Các tác giả đã khẳng định được tên tuổi: Phi Tuyết Ba (Hội viên HNV), Nguyễn Thị Mai (hội viên HNV), Lê Hồng Bảo, Nguyễn Địa Đàng (Lm. Nguyễn Thiên Cung).

MỘT VƯỜN HƯƠNG SẮC

          Bộ sách giới thiệu 183 tác giả thơ Công giáo suốt từ thời Hàn Mạc Tử (1912) đến nay gồm nhiều thành phận xã hội, sinh trưởng rải khắp trong Nam, ngoài Bắc và các tác giả sống ở Đức, Pháp, Mỹ, Canada…(trong đó có 34 Linh mục, 1 Hồng y, 1 Giám mục, 11 nữ tu: chiếm 25%)

          Nhiều người đã thành danh ngoài xã hội cả bên đạo và bên đời như Bàng Bá Lân, Xuân Ly Băng, Hồ Dzếnh, Trăng Thập Tự, Lê Đình Bảng, Bùi Chí Vinh (nhiều giải thưởng văn học); Trần Vạn Giã (Hội viên HNV), Trần Mộng Tú, Phan xi cô, Lưu Minh Gian (tức Lm Cao Gia An), Phi Tuyết Ba (Hội viên HNV), Nguyễn Thị Mai (hội viên HNV), Nguyễn Địa Đàng (Lm. Nguyễn Thiên Cung)…

          Ý thức sáng tạo của mỗi tác giả cũng rất phong phú. Tâm điểm của hồn thơ là Thiên Chúa. Làm thơ là sống đức tin, là trải nghiệm kiếp nhân sinh trên đường Thánh giá, là trò chuyện, là tâm tình cầu nguyện để được kết hợp với Thiên Chúa, cũng là tự tình, chia sẻ với mọi người.

          Nhà thơ Lê Đình Bảng reo vui:

              “…Tôi làm thơ, nghĩa là tôi cầu nguyện

                    Hồn reo vui trong từng chữ, từng lời

                    …

                    Tôi làm thơ, nghĩa là tôi cầu nguyện

                    Như chùm hoa tự trút hết hương thơm

                    Phải tự nghiệm sinh, để sống vô thường

                    Chẳng hề nghĩ, mình cho đi, nhận lại…”     

                                  (Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện)

          Lm. Giuse Maria Cao Gia An (bút danh Lưu Minh Gian) thổ lộ: “Nếu hành trình sống đức tin đặt tôi mỗi ngày trước tôn nhan Thiên Chúa, lời thơ chính là lời kinh nguyện, lời thân thưa mà linh hồn tôi dâng lên Thiên Chúa”.

          Tác giả Giuse Nguyễn Khắc Đại kể rằng: “Từ năm 1954 đến năm 1975. Tôi làm thơ đơn giản là để ghi lại những tâm tình đối thoại với Đức Kitô, những cảm xúc, những trải nghiệm, và những biến cố cuộc đời. Thơ tôi như những trang nhật ký không được viết đều đặn. Để ghi lại niềm vui, nỗi buồn, và cả những giây phút yếu đuối”. 

Tác giả Mạc Tường(1954) làm thơ là tiến gần về phía Chúa: “vận dụng ngôn ngữ thi ca để ca tụng Thiên Chúa và tất cả những gì thuộc về Ngài, tôi lờ mờ nhận ra càng ngày mình càng tiến gần hơn về phía Thiên Chúa, phía của bờ bến yêu thương.” 

          Với tác giả Cao Huy Hoàng (1954), làm thơ là một “ơn gọi” của Chúa: “Tôi vẫn luôn ý thức rằng tôi đã nhận được quá nhiều Hồng Ân của Chúa”; “Chúa đã gọi con vào ơn gọi làm thơ, không phải làm thơ cho Chúa nhưng làm thơ với Chúa. Không có bài thơ hay tác phẩm nào là của con. Tạ ơn Chúa đã tín nhiệm con để chuyển tải nỗi buồn, niềm vui, đau khổ, và hạnh phúc của Chúa đến cho mọi người”.

          Nhà thơ Bùi Chí Vinh(1954) bộc trực: “Hơn 40 năm chểnh mảng việc đạo, tôi bây giờ sẵn sàng tuyên xưng Đức Tin bất kỳ thời điểm nào;…Tôi kể chuyện này có thể các bạn không tin, nhưng cứ mỗi lần bị đẩy đến đường cùng hoặc sắp “lên đoạn đầu đài”, tôi đọc kinh Lạy Cha (hoặc cầu xin Chúa và Đức Mẹ) là kể như mọi chuyện tai qua nạn khỏi.”

          Tác giả Phạm Thái Sơn nói cụ thể hơn: “Trong giai đoạn đầu của đời cầm bút, thì sự sáng tác thơ Đạo chỉ là những bài than thân trách phận trước Đấng Tối Cao… Than khóc cho quê hương xứ sở, than khóc cho hoàn cảnh gia đình ly tán, và than khóc cho chính mình với những nỗi đau khi sớm phải lăn ra đời bươn chải. Trong đó có nhiều những dằn vặt về tội tình, những thứ tội lỗi phát sinh trong tôi từ nguồn gốc tội của người khác cộng vào thêm tính bất cần đời, liều lĩnh của chính mình. Rồi tôi cũng dần hiểu ra tình thương yêu vô tận của Thiên Chúa, qua sự dẫn dắt của tình mẫu tử thiêng liêng.”; “Tôi thấy tự hào vì mình được làm thi sĩ của Chúa, tôi tận hiến mãi mãi lời thơ của tôi để trở nên sở hữu của Người

          Tác giả Trần Thị Hồng Nhung (1979) xác lập sự khác biệt giữa “nhà thơ đạo” với “nhà thơ đời”: “Ngày xưa khi chưa theo Đạo, tôi làm thơ như một trò chơi tung hứng ngôn từ… Nay đã biết Chúa, tôi cảm nhận được ý muốn của Ngài. Ý muốn ấy có một sức bật làm trái tim tôi nấc lên, phát ra từng thanh âm rồi kết nối lại thành những dòng thơ, cho tôi thêm chất liệu dệt tấm khăn cầu nguyện…Tôi chỉ còn biết đáp trả Ngài bằng tất cả cuộc đời còn lại của tôi, bằng mọi khả năng Ngài trao ban để gieo mầm hạnh phúc, trong đó có những giờ cầu nguyện bằng thơ và reo lên tiếng Tạ ơn Ngài bây giờ và mãi mãi “.

          Nhà thơ Nguyễn Thị Mai (1955) làmthơ thiên về tình cảm, chủ yếu phản ánh thân phận những con người bất hạnh kể lại việc làm thơ của mình: “Tôi viết nhiều bài thơ, trong đó thơ về Chúa không nhiều, nhưng tôi tin một điều, bây giờ vẫn tin, rằng: Tất cả thơ tôi là do Chúa hiển linh sáng tạo. Vì thế tôi mãi mãi biết ơn Chúa”

          Tác giảVũ Toàn Năng (1968) mở rộng cánh cửa thơ đạo: “ Thơ đối với tôi như cuộc nói chuyện của người con với cha, như một câu chuyện kể về Chúa Giêsu, về Đức Mẹ và các Thánh, như câu chuyện kể về cuộc sống trong kiếp nhân sinh có những điều đẹp đẽ và cũng có những điều giúp tôi nhìn lại chính mình, cũng như câu chuyện kể về quê hương đầy yêu dấu như một sự biết ơn, về những cảnh đẹp của mặt đất và các vì sao

          Tác giả Trần Phương Nhã (1984) làm thơ là trải nghiệm hiện sinh: “Toâi göûi vaøo thô taát caû nhöõng caûm nghieäm cuûa mình veà tình yeâu, veà Thieân Chuùa nhö moät söï uûi an cho nhöõng thaát baïi, nhöõng khieám khuyeát cuûa chính baûn thaân mình”.

          Tác giả Lê Hồng Bảo (1962) có một cảm nghiệm: “Tôi làm thơ không nhiều và cũng không hay. Chỉ là những tự khúc dâng trào khi tâm sự đầy ắp. Thơ đến với tôi như một hồng ân trong chuỗi hồng ân bất tận của Thiên Chúa”

          Tác giảVân Uyên Nguyễn Văn Ái (1920) lý giải thơ ở một tầng cao của nhận thức: “Thơ là lời của Người, mà Tình là của Trời, làm liên tưởng tới ‘Ngôi Lời’ nói lên bằng lời của loài người tình yêu thầm kín của Trời ‘Thiên Chúa-Tình Yêu’. Viết một bài thơ hay đã khó, viết một bài thơ vừa thấm nhuần lẽ đạo vừa thật là thơ lại còn khó hơn nhiều. Những bài thơ như vậy nâng tâm hồn lên những tầng trời thăm thẳm nghĩa yêu. Đây mới thật là những bài Thơ Tình, vì nói về Tình viết chữ hoa (Tình đời, Tình đạo,Tình người, Tình Trời)”.

          Tác giã M. J. Vĩnh An cầu nguyện: ”Lạy Chúa! Xin cho con luôn bước đi trong Chúa cùng với những sợi tơ vàng óng ánh để dệt mãi những vần điệu dâng Ngài. Cũng xin được gửi tặng đời một chút hương thơm và hơi ấm của tình yêu diễm tuyệt đang tuôn chảy từ Trái Tim Rất Thánh Giêsu.”

          Có thể nhận thấy bộ sách bao gồm nhiều thế hệ nhà thơ với những phong cách khác nhau. Nhiều tác giả chịu ảnh hưởng lối thơ 7 chữ, 8 chữ của thơ Lãng Mạn (1930-1945)… trong đó có những người dùng cách viết của Hàn Mạc Tử (Nguyễn Duy Diễn, Nguyễn Văn Ái, Vũ Huyền Dư, Đơn Phương…)

Những nhà thơ giàu phẩm chất thi nhân thì tìm được cho mình những con đường sáng tạo riêng (Xuân Ly Băng, Trăng Thập Tự, Lê Đình Bảng…). Thơ của họ vẫn nằm trong dòng chảy thơ truyền thống nhưng họ đem đến cho thơ truyền thống nhiều cái mới. Đó là tư tưởng Mỹ học Kitô giáo, thi liệu, cảm xúc thơ, hình tượng thơ, ngôn ngữ thơ là từ nguồn Kinh Thánh (thoát hẳn tư tưởng Mỹ học,  thi liệu, cảm xúc, hình tượng thơ Trung Quốc trong văn học trung đại Việt nam)[2]

Những nhà thơ thế hệ trẻ hơn, nhiều người trong số họ đem đến cho thơ ca Công giáo những điều mới mẻ về thi pháp của thơ Việt đương đại (Đinh Thiện Phương, Trần Phương Nhã , Kim Dạ, Glassey Trần Nguyễn Trang Đài, Phan Thị Liên Giang, Lưu Minh Gian…), đem thơ Công giáo đến gần với bạn đọc trẻ.

Tuy vậy trong bộ sách cũng có nhiều tác giả phong trào, làm thơ chủ yếu là để thể hiện ý tưởng, chưa có tìm tòi những tứ thơ mới, những hình tượng mới, cảm xúc mới và những cách diễn đạt mới. Điều này khiến cho thơ trở nên cũ về nội dung, nghèo nàn về nghệ thuật.

 Bởi thực ra, người đọc giáo dân (trung bình có 60 năm đi nhà thờ) đã nghe rất nhiều lần những bài giảng, những lời giáo huấn, những lời kêu gọi. Trong nhà thờ, họ đã được học hỏi Kinh Thánh, đã sống với tâm tình thống hối và ngợi ca. Tất cả những điều ấy, ngôn ngữ ấy, cách nói ấy mà diễn thành thơ (kiểu văn xuôi bắt thành vần) thì không thể lay động trái tim người đọc. Cái cũ giết chết cảm xúc thẩm mỹ.

Văn chương là nghệ thuật ngôn từ, tức là sáng tạo “Cái Đẹp” bằng ngôn ngữ. Ngôn ngữ thơ là yếu tố sáng tạo bậc nhất của thơ. Nếu không chú ý đến điều này, người làm thơ nói chung và các tác giả thơ Công giáo nói riêng sẽ không vượt lên được.

VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ

Nhà thơ-Lm Trăng Thập Tự

            Cần khẳng định giá trị bộ sách và ghi nhận tâm huyết, công sức rất lớn của nhóm các tác giả biên tập mà chủ biên là nhà thơ-Linh mục Trăng Thập Tự.

            Bộ sách đã sưu tầm và lưu trữ được một số lượng tác giả thơ Công giáo đủ để giới nghiên cứu văn học Công giao hôm nay và mai sau viết được những công trình về lịch sử văn học Công giáo nối tiếp các công trình của các nhà nghiên cứu Võ Long Tê (1965) và Lê Đình Bảng (2009). Nếu không có bộ sự tập này, người viết nghiên cứu sẽ hết sức vất vả và mất nhiều thì giờ để tìm kiếm tích lũy tài liệu, mà thời gian càng qua đi, tài liệu càng mai một.

 Mỗi tác giả thơ là một nhân chứng Phúc Âm của thời đại mình. Họ cũng góp làm giàu thêm nền văn học của dân tộc mình, dù đó là nhà thơ chuyên nghiệp hay nhà thơ phong trào. Nhất là trong hơn 100 năm qua (từ 1912 đến 2020), lịch sử dân tộc đã trải qua những biến động hết sứ lớn lao, người Công giáo “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc” cùng sẻ chia trách nhiệm lịch sử với dân tộc mình. Thơ Công giáo góp tiếng nói chứng nhân vào bối cảnh lịch sử ấy. Đọc thơ Công giáo có thể nhận thấy bản lĩnh và vẻ đẹp của dân tộc này, bên cạnh thơ ca chung của dân tộc.

Nhà thơ-Linh mục Trăng Thập Tự cho biết: “Công việc sưu tầm và biên soạn trước hết là theo thôi thúc mục vụ. Mục vụ ở đây là nhằm giới thiệu dòng thơ Kitô giáo cho đại chúng giáo dân, khích lệ các tác giả và  khích lệ lớp trẻ rèn luyện thơ văn.”(đd). Đây là mục đích trung tâm và cũng là giá trị cốt lõi của bộ sách.

 “Giới thiệu dòng thơ Kitô giáo”cũng chính là làm lan tỏa ánh sáng Phúc Âm, là Phúc Âm hóa môi trường, là sứ mệnh của mọi Kitô hữu. Mục đích thứ hai là: “khích lệ các tác giả và  khích lệ lớp trẻ rèn luyện thơ văn”. Đây cũng là một mục đích quan trọng. Sáng tác văn học là một công việc hết sức khó khăn và rất cô đơn. Hơn nữa tài năng văn học luôn là của hiếm. Nếu Giáo hội không vun trồng những hạt mầm sáng tạo văn học nghệ thuật, nếu người sáng tác ra chỉ để đọc một mình hoặc cất trong ngăn kéo, và nếu đời sống tinh thần giới trẻ bây giờ chỉ biết cắm mặt vào màn hình smartphone, thì tương lai văn học Công giáo, tương lai Giáo hội sẽ thế nào có thể nhìn thấy ngay từ bây giờ. “khích lệ các tác giả và  khích lệ lớp trẻ rèn luyện thơ văn” phải là những hành động cụ thể. Việc sưu tầm và biên tập, xuất bản bộ sách Có một vườn thơ đạo là một công việc hết sức ý nghĩa

Rất tiếc trong phạm vi một bài viết ngắn, người viết mới chỉ trình bày tổng quan về bộ sách Có một vườn thơ đạo. Còn cần rất nhiều nhà nghiên cứu tham gia vào việc nghiên cứu Văn học Công giáo. Lịch sử văn học Công giáo của cha ông đã để lại một di sản hết sức quý giá cho dân tộc. Các nhà văn, nhà thơ Công giáo hôm nay cần làm cho di sản ấy giàu có thêm, như lời dạy của giáo hội: “làm cho đức tin Kitô giáo trở nên một thành phần của di sản văn hoá của một dân tộc,.. (Tông Huấn về việc đào tạo Linh mục trong hoàn cảnh hiện nay (Pastores Dabo Vobis của Đức Giáo Hoàng Gioan Phao lô II)

Xin cùng đọc ba bài thơ thuộc ba thế hệ và phong cách khác nhau

ĐÂY, GIỜ LINH THIÊNG

           Nguyễn Duy Diễn (1920-1965)

Thành Bê Lem, một đêm xưa rực rỡ

Cả muôn loài quỳ lạy, tiếng reo vang…

Đoàn thiên thần so cánh thắng lâng lâng

Cao tiếng hát ru trần gian lạnh lẽo.

Nhạc nao nức hương thiên thu tuyệt diệu

Đây vòm trời thơm ngát ánh muôn sao!

Vàng tuôn rơi lấp lánh tự trời cao;

Mưa hy vọng kết triều thiên thắm thiết.

Trời đất cũ từ đây thôi cách biệt!

Muôn trùng thiêng cầm sắt nối thang mây…

Ôi! Thiên Đàng bừng sáng: gió xuân bay

Làm tung nở những búp lòng xao xuyến.

Đời đổi hướng, Nhạc Vàng đương hiển hiện!

Khói trầm dâng ngây ngất khắp không gian…

Hồn thê lương bừng tỉnh choáng hân hoan

Nghe rộng mở một Mùa Xuân sáng láng…

*** 

VÀO ĐỀN LỄ HƯƠNG

             Lê Đình Bảng (1942)

Nhớ mùa Chay trước, em qua

Thứ Năm đi lễ Đức Cha truyền dầu

Hai lòng đã bén duyên lâu

Cứ như lá rét tìm nhau trong cành

Ta nhìn trong mắt em xanh

Hoa xoan tim tím, mỏng manh. Ô kìa

Ở nơi vòm cửa bên kia

Có đôi chim mới tha về cọng rơm

Lúa mùa con gái đương thơm

Hay hương tóc của chiều hôm lên đền

Cậy nhờ quả phúc khôn thiêng

Xuống mưa móc để hồn thiêng dư đầy

***

HOÀNG HÔN ĐAU THƯƠNG

              Đinh Thiện Phương (1983)

Thôi được, anh sẽ trở về lại nơi xóm vắng

Gục đầu lên chuỗi hạt chiều chớm thu

Đếm những chiều trôi nhanh và hoàng hôn tắt bên cửa

Lời kinh Mân Côi u uất hắt hiu theo nắng tan cuối mùa

Em yêu hỡi, Ừ thì anh sẽ ra đi vậy

Anh không muốn làm thập giá trên vai em

Để đời em về sau mãi gió mưa đêm tối

Đằng đẵng tháng ngày ôm bóng hình vạn lối

Giữa trần gian lạc lõng mơ đến cõi địa đàng

Anh âm thầm lên đồi, dang tay lẻ loi làm thập giá

Và chờ mong sẽ có một người con gái

Chịu đóng chặt thân mình vào thập giá là anh

Anh vẫn tin còn thập giá tình yêu

Và vẫn còn những tình yêu thập giá

Rồi một ngày anh trút hơi thở

Nhẹ nhàng trên phiến đá chờ mong

Nếu em đến, đừng đọc kinh em nhé

Vì lời kinh không cho anh được chút ân tình

Sớm mai vào giáo đường,

Em sẽ thấy và tự hỏi,

Sao em và nhân loại luôn mến yêu thập giá

Mà đau thương vẫn từng phút triền miên?

Hãy nhìn anh lần cuối, anh sẽ trả lời em

“Vì em và nhân loại suốt một đời tôn sùng thập giá,

 Mà chưa phút nào yêu kẻ đang trên thập giá dang tay”

Tháng 7/ 2020

_________________

  1. Email ngày 19.7.2020
  2. Xin đọc bài Bùi Công Thuấn viết về thơ Xuân Ly Băng, Trăng Thập Tự, Lê Đình Bảng, Mỹ học Kitô giáo…

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC SỐ 7/ 2020

ĐỌC SÁCH

TIẾP CẬN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA SONG NGUYỄN

(Lý luận, phê bình văn chương của Bùi Công Thuấn.

NXB Hồng Đức, Hà Nội, 2019, 284 trang)

ĐỖ THỊ THU HUYỀN

TS.- Viện Văn học. Email: pho.quen@gmail.com

Bài in trên tạp chí Nghiên Cứu Văn học (Viện Văn học) số tháng 7/ 2020,

chuyên san về “Văn hóa, Văn hoc Công giáo-Diện mạo và đặc sắc

***

Với quan niệm nhà phê bình và nhà văn là tri âm tri kỷ, Bùi Công Thuấn với công trình Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn dường như khám phá ra được đặc trưng trong những tác phẩm của Song Nguyễn[1]. Cấu trúc cuốn sách gồm ba phần: “Giới thiệu tác phẩm của Song Nguyễn”, “Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn”, “Cảm hứng từ Đất mới” đem đến cái nhìn vừa mang tính khái quát vừa có những phân tích sâu về thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. Tác giả Bùi Công Thuấn nhận định rằng, xét trên dòng chảy lịch sử văn chương Công giáo, Song Nguyễn (Giám mục Đa Minh Nguyễn Chu Trinh) là người tiếp tục khơi nguồn mạnh mẽ về văn học nghệ thuật của giáo hội và “rồi đây các nhà nghiên cứu văn học Công giáo sẽ tìm thấy nhiều vấn đề lý luận văn chương rất đáng quan tâm từ những tác phẩm của Song Nguyễn” [3, tr.8].

Phần 1- Giới thiệu tác phẩm của Song Nguyễn, tương ứng với 17 tác phẩm là 17 bài viết ngắn, súc tích và đi vào giới thiệu trực diện vấn đề, Bùi Công Thuấn nêu tư tưởng bao trùm tác phẩm, chỉ ra nghệ thuật biểu hiện trong cốt truyện, xây dựng nhân vật, tạo tình huống… 17 tác phẩm được giới thiệu: Một đời dâng hiến, Đồng hành, Đất mới I, II, III, Định hướng, Chỉnh hướng, Còn một niềm tin, Chuyến xe về trời, Người cha hiền, Mẹ yêu của con, Suối nguồn, Đồng cỏ xanh, Vì sao sáng, Tiếng kêu, Đường lên Núi Cúi chủ yếu như những điểm sách để độc giả có thể tiếp cận tác phẩm của Song Nguyễn, với văn phong giản dị, đặc biệt nhiều liên hệ, bày tỏ cảm xúc cá nhân trong bình luận: “Nhìn vào số lượng tác phẩm trên, hẳn chúng ta sẽ thấy ngạc nhiên tự hỏi, Đức cha bận bao nhiêu công việc mục vụ, người lấy thời gian đâu để viết. Tuổi tác đã cao, sao Đức cha có thể kham nổi công việc viết văn nặng nhọc ấy. Nhưng điều quan trọng là, Đức cha tích lũy vốn sống như thế nào để có thể ghi lại được bao nhiêu cảnh đời, chia sẻ được với bao nhiêu là số phận giáo dân” [3, tr.7]. Ở Đồng hành, Song Nguyễn đã viết những trang suy nghiệm sâu sắc về cuộc sống, về đời tu, về ý nghĩa cuộc sống, giá trị làm người, hòa quyện giữa những hoàn cảnh, những kiếp nạn, những niềm vui nỗi buồn với những khám phá từ Kinh Thánh; Ngài Linh mục Nguyễn Phương Toàn dấn thân đi kinh tế mới sau khi nếm trải đủ mùi tục lụy(Đất mới I), ở tập II là dấn thân vì đoàn chiên, con đường của Linh mục Nguyễn Phương Toàn là sự thức nhận “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”…

Dành những trang viết xúc động về mẹ, về cha, Song Nguyễn đưa đến cái nhìn nhân văn và thông điệp dù không mới nhưng chưa bao giờ là cũ. Những người mẹ bất hạnh đều được ơn Chúa, đều vượt qua những nỗi khổ nhục với tâm hồn bao dung và sau cùng bằng con mắt đức tin họ đã tìm thấy hạnh phúc Chúa ban. Ông còn kể rất hay về những người cha trong cõi đời rất thực này. Mỗi truyện là một người cha của đời thực được khám phá và chiêm nghiệm qua con mắt và trái tim người con: “Hãy sống can trường trong trách nhiệm của mình, hãy làm mẫu gương tốt đẹp cho con, hãy chăm lo cho những mầm xanh tài năng của xã hội thành cánh hoa yêu của Chúa” [3, tr.71].

Phần 2 – Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn với 7 vấn đề được phân tích kỹ lưỡng. Tác giả bàn sâu về tác phẩm văn chương của Song Nguyễn đặt trong bối cảnh văn chương Công giáo Việt Nam, tư tưởng nhân văn trong Đất mới, và văn hóa Công giáo trong lòng dân tộc. Bên cạnh việc xây dựng những nhân vật linh mục, nữ tu, giáo dân “sống đức tin giữa đời thường”, hành xử theo ánh sáng tin mừng…; những tác phẩm của Song Nguyễn còn đặt ra nhiều vấn đề đối với những người cầm bút Công giáo, chẳng hạn nhà văn Công giáo chọn bút pháp nào, đối tượng của văn chương Công giáo là gì, viết về hiện thực cuộc sống dưới góc nhìn nào và mục đích cầm bút của nhà văn Công giáo là gì… Và mục đích cao nhất của nhà văn là “viết lại những mảnh đời, số phận, trải nghiệm, tác giả có ý rút ra cho đời mục vụ của mình những bài học cuộc sống; hay nói khác đi tác phẩm là những bài suy niệm sống qua các nhân vật. Và nếu có thể, chia sẻ với bạn bè tất cả những kinh nghiệm quý báu này. Mục đích chỉ đơn giản như vậy” [3, tr.112].

 Giá trị hiện thực thấm đẫm tinh thần nhân văn mà tác phẩm của Song Nguyễn luôn được tác giả tái khẳng định trong 7 bài viết của phần 2. Và rằng, mai sau muốn hiểu xem người Công giáo “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc” như thế nào, người đọc có thể tiếp cận với từng con người, từng sự việc một cách cụ thể trong Đất mới, Một đời dâng hiến, Định hướng, Đồng hành… Trong đó, tác phẩm được tập trung phân tích nhiều là Đất mới I, II, III. Song Nguyễn đã xây dựng được hình tượng nhân vật người giáo dân trong Đất mới, vừa có những phẩm chất hiện thực vừa vươn tới những vẻ đẹp của đoàn chiên “như lòng Chúa mong muốn”. Người giáo dân trong Đất mới, đặc biệt là ban hành giáo đã góp mặt cùng với cha sở, linh mục Nguyễn Phương Toàn làm nên một miền đất mới, “đó là vùng đất của đồng cỏ xanh và suối ngọt Đức Ái, vùng đất của nước trời ngay tại trần gian khi tất cả cùng hướng về người nghèo khổ, làm hết sức mình để nâng cao đời sống và phẩm giá của họ” [3, tr.176]; “Đất mới được viết trong ánh sáng của tư tưởng nhân văn công giáo nên từ nội dung câu chuyện đến nhân vật, chi tiết nghệ thuật đến bút pháp đều ánh lên vẻ đẹp chân thực có thể chạm vào được tâm thức sâu xa của người đọc” [3, tr.146]. Bởi thế có thể thấy “tôn giáo đã tạo nên hệ thống những chuẩn mực giá trị đạo đức. Những chuẩn mực ấy không chỉ duy trì trong quá trình thực hiện các nghi thức tôn giáo mà còn điều chỉnh cả hành vi của con người trong đời sống thường nhật khi ứng xử với con người trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Qua những điều cấm kị, răn dạy đã điều chỉnh hành vi của mỗi tín đồ trong đời sống cộng đồng” [2, tr.22].

Phần 3 là những cảm hứng từ Đất mới gồm 3 kịch bản và 1 ca khúc. Không phải ngẫu nhiên mà phần cuối cùng của cuốn sách dù dung lượng không lớn nhưng lại cho thấy sức ảnh hưởng từ sáng tác của Song Nguyễn đối với người viết. Tác phẩm được tập trung tìm hiểu nhiều nhất, công phu nhất là 3 tập Đất mới, bởi theo Bùi Công Thuấn nhận định, “Đất mới là bài ca yêu thương, bài ca ca ngợi con người. Ánh sáng tư tưởng nhân văn Công giáo đem đến một niềm tin thực sự cho người đọc, niềm tin vào con người chí thiện, vào sức mạnh của con người có thể làm nên Nước trời ngay trong cõi tại thế này, và hơn hết niềm tin vào người Mục tử “hiền lành và khiêm nhường” hết lòng vì đoàn chiên” [3, tr.143]. Với bộ 3 tập Đất mới, Bùi Công Thuấn cho rằng lần đầu tiên văn chương Công giáo Việt Nam có truyện dài mà dung lượng hiện thực được miêu tả có tầm vóc sử thi.

Thâm nhập sâu vào tác phẩm cũng như hoàn cảnh sáng tác của Song Nguyễn, Bùi Công Thuấn đưa ra những kiến giải tỉ mỉ, sâu sắc về thế giới nghệ thuật Song Nguyễn – hiện thực ở một giáo xứ Công giáo vùng sâu vùng xa những ngày đầu xây dựng kinh tế mới khi đất nước còn vô vàn khó khăn. Nhưng chính ở đó, những nhân vật như Linh mục Phương Toàn (Đất mới) – người đã dấn thân cùng đoàn chiên, khai mở miền đất mới; hay những con người khi bị rơi vào nghịch cảnh, thậm chí tuyệt vọng rồi cuối cùng đều tìm thấy ánh sáng phục sinh nơi Chúa. Bùi Công Thuấn chỉ ra xác đáng rằng, tất cả các tác phẩm của Song Nguyễn, đều trực tiếp hay gián tiếp, nhìn thấy ánh sáng cứu độ của Chúa Giêsu trong mỗi con người; và mỗi câu chuyện đều kết thúc “có hậu” khi các nhân vật đều được hồng ân của Chúa.

Nguyễn Đức Lữ xác định: “Bản tính của người Việt Nam là cởi mở, bao dung chứ không bị hẹp hòi, kỳ thị, khép kín. Dù là tín ngưỡng nào, tôn giáo gì, từ đâu đến, thì cộng đồng người ở đây cũng sẵn sàng chấp nhận – miễn là không vi phạm đến lợi ích quốc gia và đi ngược lại truyền thống văn hóa dân tộc. Khổng giáo và Đạo giáo từ Trung Hoa lan xuống, Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang nước ta từ rất sớm, vẫn song song tồn tại cùng nhau một cách hòa bình cùng với tín ngưỡng bản địa mà không xảy ra những cuộc chiến tranh tôn giáo nào. Kể cả về sau một số tôn giáo phương Tây nhập vào Việt Nam, tuy có xa lạ với truyền thống văn hóa dân tộc, nhưng vẫn được chấp nhận” [2, tr.79]. Ngay từ lời đầu sách, Bùi Công Thuấn đã khẳng định vị trí nhất định của văn chương Song Nguyễn: “Theo dòng chảy của văn chương Việt Nam, tác phẩm của Song Nguyễn đã có những đóng góp giá trị vào văn chương Công giáo đương đại, đó là việc khắc họa thành công hình tượng tích cực về các Linh mục Công giáo trong một giai đoạn lịch sử dân tộc có những biến cố lớn lao. Tác phẩm của Song Nguyễn cũng phản ánh được nhiều mặt đời sống người Công giáo từ 1945 đến thời kỳ đổi mới 1986” [3, tr.14]. Giai đoạn hiện nay, theo nhà nghiên cứu Dương Phú Hiệp, “cần giải quyết vấn đề tôn giáo dưới góc độ văn hóa và phải xem xét giáo dục tôn giáo là vấn đề quan trọng” [1, tr.50]. Bởi thế, công trình của Bùi Công Thuấn đã khẳng định một luận điểm hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện tại khi cho rằng những tác phẩm của Song Nguyễn với giá trị hiện thực, tinh thần nhân văn, đã góp một thông điệp ý nghĩa vào công cuộc “xây dựng nền văn hóa Công giáo trong lòng văn hóa dân tộc”, vì đó là nhiệm vụ của mọi thành phần dân Chúa, “họ vừa là Kitô hữu vừa là con dân Việt Nam, vừa phải thấm nhuần văn hóa dân tộc vừa phải làm cho đức tin Kitô giáo trở thành một phần trong di sản văn hóa ấy. Con đường còn rất dài ở phía trước” [3, tr.205].

Tài liệu tham khảo

[1] Dương Phú Hiệp (Chủ biên, 2010), Nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[2] Nguyễn Đức Lữ (2007), Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.

[3] Bùi Công Thuấn (2019), Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội.


[1] Song Nguyễn là bút danh của Đức Giám mục Đaminh Nguyễn Chu Trinh, Giám mục Giáo phận Xuân Lộc.

TƯ TƯỞNG MỸ HỌC KITÔ GIÁO

TƯ TƯỞNG MỸ HỌC KITÔ GIÁO

Và Văn học nghệ thuật Công giáo

Bùi Công Thuấn

Bữa tiệc ly-Tranh của Leona de Vinci

                        

Hãy quan sát nhưng ngôi thánh đường Công giáo, đó là những kiến trúc có vẻ đẹp riêng. Nhà thờ Công giáo luôn có tháp chuông, thường là kiểu tháp nhọn vươn thẳng lên cao, hướng tầm mắt người nhìn lên trời. Hãy nghe thánh ca Công giáo, đó là một nền âm nhạc đồ sộ. Vẻ đẹp toát ra từ giai điệu, lời ca, hòa âm, hợp xướng. Thánh ca Công giáo vang lên khắp mọi nẻo trên mặt đất trong mùa Noel, đưa người nghe vào thế giới của niềm vui thánh thiện hòa bình. Nền thánh ca ấy trở thành một bộ phận trong kho tàng văn hóa của nhân loại. Và hãy ngắm nhìn những tranh tượng Công giáo, hình ảnh Đức Giêsu, Đức Maria, và rất nhiều nội dung Kinh thánh đã trở thành đề tài hội họa, thành những tác phẩm kinh điển của hội họa thế giới. Cái đẹp của hội họa Công giáo đã gợi ra bao cảm xúc cho người xem tranh…Như vậy, dù là hội họa, âm nhạc hay kiến trúc Công giáo đều có cái đẹp riêng, cái đẹp ấy được soi chiếu bởi tư tưởng Nhân văn và tư tưởng Mỹ học Kitô giáo.

TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN KITÔ GIÁO

Tư tưởng nhân văn đặc biệt phát triển thành trào lưu tư tưởng nghệ thuật từ thời Phục Hưng ở phương Tây. Ðặc trưng chủ yếu của Chủ Nghĩa Nhân Vănlà sự suy tôn con người, là sự khôi phục lại con người (hay tính người), và con người bao giờ cũng được coi là tốt đẹp (con người chí thiện). Con người được đặt vào trung tâm thế giới, được đặt lên ngôi cao nhất (con người chí tôn)[1]. Văn học và nghệ thuật thời đó đưachất ngườivàochất thần thánh”, biến đời sống thần thánh thành đời sống bình thường của con người. Con người là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài”(Shakespear). Các nhà nhân văn chủ nghiã lấy câu của Terence, một nhà hài kịch La Mã làm phương châm: ”Tôi là một con người, không có cái gì có tính chất người lại xa lạ với tôi”. Con ngưởi là một bộ phận của tự nhiên, sống và chết theo quy luật tự nhiên, vì thế phải trả con người về tự nhiên để nó phát triển theo tư nhiên[2]. Chiến tranh phong kiến, chủ nghiã khổ hạnh, ngu dân, đàn áp tư tưởng là trái với tự nhiên, là nguồn gốc gây ra bất hạnh, xấu xa, tội lỗi trên thế giới. Chủ nghĩa Nhân Văn sau thời Phục Hưng được làm phong phú hơn bởi tư tưởng dân chủ thời Khai Sáng, ý thức đấu tranh giải phóng con người cuả chủ nghiã Marx và ý thức về  tồn tại của chủ nghiã Hiện sinh.

Nhưng vượt lên trên tất cả là tư tưởng Nhân văn Kitô Giáo mà cội nguồn là Kinh Thánh. Kinh Thánh đem đến cho nhân loại cái nhìn về bản tính con người, về cõi người, về ý nghiã sự sống của con người. Con người là gì? Con người không chỉ là vật chất thụ tạo, mà con người được nâng lên khỏi mọi loài thụ tạo, mang phẩm giá con cái Thiên Chuá, được thánh hóa và và hiệp thông với Thiên Chúa. Sáng Thế Ký viết rằng: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa(Stk 1, 27). Đức Giêsu nói: “Thầy là cây nho, anh em là cành” (Ga 15, 5). Khi nhập thể làm người, Ngài là Anh Cả của loài người; Ngài là đầu, Giáo hội là Thân thể, mỗi tín hữu là chi thể của Ngài; con người được làm em của Ngôi Con Thiên Chúa và thành con cái của Thiên Chúa. Không có cái nhìn nào về Con người siêu việt như thế. Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Thiên Chúa Cha cho con người : “Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến. Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng Ta”(Ga.17.19-21).

Kinh Thánh nói Con người nhưng không phải là Con người trừu tượng mà là con người cụ thể, đó là những con người trong mọi tình huống khốn cùng của họ. Mở đầu bài giảng Tám mối phúc, Đức Giêsu dạy rằng: ”Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chuá là của anh em”(Lc 6.20). Trong cuộc phán xét chung, Đức Vua đã thưởng cho những người được chúc phúc, vì “xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”.”Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt.25.35-40). Đức Giêsu cũng nói với các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: “Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông.”(Mt 21, 31). Tên trộm lành đã được vào Nước Trời ngay khi Chúa trút hơi thở trên Thánh giá: Luca thuật lại: “anh ta thưa với Đức Giê-su: “Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi !” Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng(Lc 23, 42-43). Kinh Thánh đã trân trọng con người ở thân phận bé nhỏ và khốn khổ nhất, lấy hành động vì con người làm thang bậc giá trị để  phán xét ở ngày cánh chung.

Từ cái nhìn con người như thế, Kinh Thánh lấy lòng yêu thương con người làm điều răn quan trọng. Khi được hỏi điều răn nào quan trọng nhất, Đức Giêsu trả lời:”Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn lớn nhất và điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình (Mt.22.37-39). Chúa còn dạy: “Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em(Mt. 5:44). Nhưng yêu thương như thế nào? Yêu thương bằng quan tâm thiết thực, như trong dụ ngôn về “Người Samari tốt lành” (Lc.10.29-37). Thấy người bị nạn bên đường, thầy Tư Tế bỏ đi, thầy Lêvi cũng tránh xa, còn người Samari lại gần “lấy dầu, lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, ông ta lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói:” Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”. Người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang, theo luật Môise thì phải bị ném đá. Thế nhưng Đức Giêsu đã cứu chị và nói với chị: ”tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”(Ga.8.11). Một lần khác, cảm thương tình cảnh cuả chị em Mácta và Maria, Đức Giêsu đã khóc thương Lazarô (Ga.11.33). Người đã truyền cho Lazarô từ cõi chết sống lại.

Qua những trường hợp cụ thể ấy, Kinh Thánh đã chỉ ra, tư tưởng Nhân văn Kitô giáo  thể hiện cái nhìn con người trong phẩm vị con Thiên Chúa, lòng yêu thương Con người mang đến Ơn Cứu rỗi. Điều này khác rất xa với nhiều nhãn quan triết học về con người.

Vấn đề con người, tương quan giữa người với người, hạnh phúc của con người và giải phóng con người là vấn đề của muôn thuở. Bi kịch của con người vẫn còn nguyên đó. Đau khổ, thù hận, tội lỗi, sự chết vẫn bao trùm lấy con người. Chỉ tư tưởng nhân văn Công Giáo mới soi rọi ánh sáng cho số phận của con người. Cả Friedrich Nietzsche và J. P. Sartre đều phủ định Thượng đế. Nietzsche giết chết Thượng đế để tôn con người lên hàng Siêu nhân, con người Tự do, tự định lấy ý nghĩa cho sự tồn tại của chính mình. Với Satre, tất cả là phi lý: ”Thượng đế là một phi lý, vũ trụ là một phi lý và cuộc nhân sinh là một phi lý”. “Tha nhân là địa ngục cho tôi”[3]. Triết học Hiện sinh vô thần kéo con người xuống đất và dìm con người trong tuyệt vọng. Trái lại, Gioan viết: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1, 9). Đức Giêsu cũng khẳng định: “Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối”(Ga 12, 46); Người nói rõ hơn: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 1-6). Đức Giêsu và công cuộc Cứu độ của Người trên Thập giá chính là cốt lõi của tư tưởng Nhân văn Kitô giáo.

Đức Giêsu là “Cái Đẹp trọn hảo”, nguồn vô tận cho sáng tạo nghệ thuật

TƯ TƯỞNG MỸ HỌC KITÔ GIÁO

Thông thường Mỹ học được hiểu là bộ môn khoa học về Cái Đẹp. Alexander Baumgarten đã dùng thuật ngữ Mỹ học để đặt tên cho tác phẩm Aestheticä (Mỹ học) của ông (17501758). Nhưng ngoài Cái Đẹp, Mỹ học còn nghiên cứu các phạm trù thẩm mỹ khác như Cái Cao cả, Cái bi, Cái hài... Cho đến nay, chưa có sự thống nhất về đối tượng của Mỹ học.

Mỹ học là một môn học còn trẻ, nhưng tư tưởng Mỹ học lại xuất hiện từ rất xa xưa, từ Platon (427-347 TCN), Aristote (384-322 TCN)… Và nhận thức về Cái Đẹp cũng rất khác nhau. Xin dẫn vài ý kiến. Platon cho rằng có cái đẹp vật chất và cái đẹp tinh thần, nhưng chỉ có cái đẹp tinh thần, cái đẹp của ý niệm, mới là cái đẹp vĩnh hằng, tuyệt đối. Socrates (469-399 TCN) đặt câu hỏi: “Đẹp là gì?”; Ông trả lời: “Đẹp là cái thích thú do tai nghe mắt thấy” (Hippias Maior). Aristote coi Cái Đẹp là trật tự của sự hài hòa, cân xứng.  Ông cho rằng Cái Đẹp của thực tại, trung tâm là vẻ đẹp của con người. Thánh Augustinô (354–430), cho rằng chỉ có thượng đế là vĩnh viễn, là vẻ đẹp tối cao, vẻ đẹp tuyệt đối mà thôi. Thánh Tôma (1225-1274) nhận thức Cái đẹp là một đặc tính của hữu thể. Nền tảng của cái đẹp là chính Thiên Chúa, Hữu thể tự tại. Cái đẹp được nhìn trong tương quan với cái Thật và cái Tốt. Đẹp là sự rạng rỡ của cái Thật [4]. Hegel (1770-1831) quan niệm Cái Đẹp là một sự thể hiện đặc biệt của ý niệm tuyệt đối dưới hình thức cụ thể, cảm tính. Nhà văn nổi tiếng người Nga Fyodor Mikhailovich Dostoyevsky (1821-1881) đã nhận ra giá trị của Cái Đẹp: “Cái Đẹp cứu rỗi thế giới” (lời nhân vật Hoàng thân Myshkin trong tiểu thuyết Thằng Ngốc). Tsernysevski khẳng định dứt khóat: “Cái Đẹp là cuộc sống”.

Thực ra Cái Đẹp là một thực tại khách quan, nhưng nhận thức về Cái Đẹp thì luôn là cảm tính chủ quan. Vì thế, đứng trước một đối tượng thẩm mỹ, ta không thể tranh cãi. Mỗi người có cách cảm thụ Cái Đẹp rất riêng… Nói cách khác chỉ con người mới cảm nhận được Cái Đẹp của thực tại khách quan. Loài vật và sự vật, tự nó không nhận thức được Cái Đẹp. Trong cuộc sống, Cái Đẹp là một giá trị.

“Cái Đẹp” trong tư tưởng Mỹ học Kitô giáo được đặt trên nền tảng Kinh Thánh. Thực tại khách quan ấy là thiên nhiên, vạn vật, đời sống. Sáng Thế Ký thuật lại rằng, sau khi sáng tạo vũ tụ, muôn loài muôn vật và con người, “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! (Stk 1, 31). Như vậy Cái Đẹp bắt nguồn từ Đấng Sáng Tạo và mọi Hữu thể đều đẹp. Trung tâm của Cái Đẹp là con người, vì “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa” (Stk 1, 27). Chỉ khi con người phạm tội, sa ngã, nó mới trở nên xấu và nhận ra Cái Xấu (phạm trù đối lập với Cái Đẹp).

Con Thiên Chúa được sai xuống làm người để cứu rỗi Con người, để làm cho Con người trở nên “hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo” (Mt. 5, 48). Vì Vậy Đức Giêsu chính là “Cái Đep hoàn hảo”, hình ảnh của Thiên Chúa Cha. Điều này Kinh Thánh từ Cựu Ước đến Tân Ước đều miêu tả cụ thể. “Khi Chúa Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”(Mt 3,16-17). Đức Giêsu hiện ra là một Hữu thể đẹp hoàn hảo làm rạng rỡ vũ trụ, Cái Đẹp mang Thần khí của Thiên Chúa, Cái Đẹp trọn hảo như Ý Chúa Cha.

Một trình thuật khác về Đức Giêsu: “Hôm ấy, Đức Giê-su đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng… chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.”(Mt 17, 1-9). Chính Thiên Chúa Cha đã khẳng định Đức Giêsu là “Cái Đẹp trọn hảo” như ý Chúa Cha.

Tất nhiên Đức Giêsu không chỉ Đẹp qua cái nhìn thị giác như chúng ta đã thấy trong những trình thuật Kinh Thánh ở trên. Vẻ đẹp của Đức Giêsu còn thể hiện ở lòng yêu thương nhân hậu đối với mọi kiếp người, đặc biệt là vẻ đẹp hùng vĩ của Ơn Cứu độ khi Ngài bị treo lên. Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn. Và kìa, bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung đá vỡ. Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được chỗi dậy” (Mt. 27, 51-52). Và đây là vẻ đẹp đầy quyền năng của Đấng làm chủ vũ trụ, làm chủ tạo vật trong “ngày quang lâm”: “Vì, như chớp loé ra từ phương đông và chiếu sáng đến phương tây thế nào, thì cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy… “Ngay sau những ngày gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển. Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến. Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời kia.”(Mt 24 27-21).

Như vậy, Kinh Thánh đã trình bày Đức Giêsu là “Cái Đẹp trọn hảo” (trong tương quan Chân, Thiện, Mỹ), và tư tưởng Mỹ học Kitô giáo được soi chiếu từ chính từ chính Đức Kitô là hiện thân của vẻ đẹp. Những tư tưởng Mỹ học cho rằng Cái Đẹp là đời sống, Cái Đẹp cữu rỗi nhân loại, trung tâm của Cái Đẹp là con người…có những giới hạn nhất định so với trong tư tưởng Mỹ học Kitô giáo.

SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT KITÔ GIÁO

Có thể tóm lược tư tưởng Mỹ học Kitô giáo như thế này: Mọi tạo vật được Thiên Chúa tạo dựng đều tốt đẹp. Thiên Chúa là Cái Đẹp trung tâm, con người được dự phần vào Cái Đẹp trung tâm trong hiệp thông với Đức Kitô. Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Và Đức Giêsu, Con Thiên Chúa là “Cái Đẹp trọn hảo”.

Văn chương nghệ thuật Công giáo phải là sự khám phá những tư tưởng Mỹ học từ Kinh thánh, khám phá “Cái Đẹp” tỏa sáng trong mọi tạo vật, trong mọi phận người, mọi hoàn cảnh của cuộc sống, và trên hết phải là “Cái đẹp trọn hảo” của Đức Giêsu.

Tư tưởng Mỹ học (từ Kinh Thánh) kết hợp với tư tưởng Nhân văn Kitô giáo là cốt lõi làm nên mọi giá trị của văn học nghệ thuật Kitô giáo. Điều này có thể nhận trõ trong Âm nhạc, Kiến trúc, Hội họa… Châu Âu.

Để kết, tôi xin mượn những dòng tuyệt bút của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt nam) khi ông khám phá ra Cái Đẹp từ Thánh giá:

“…Hỡi Chúa Trời, con quỳ dưới chân Người, con gánh trên lưng con bóng tối khổng lồ. Đôi môi con run rẩy chạm vào những ngón chân Người giá lạnh nhưng những giọt máu chảy từ bàn tay bị đóng đinh của Người từng giọt, từng giọt rơi xuống ngực con rực sáng và nóng ấm vô tận

Cây thập giá nơi Người bị đóng đinh trong đêm sừng sững dựng lên cái Cây Ánh Sáng vĩ đại nhất trên thế gian này

Con đã sinh ra trên thế gian này con đã uống sữa thơm và mật ngọt của người
Tuổi thơ con đã từng được những thiên thần của Người dắt chạy trên cánh đồng lộng lẫy của thế gian

Con đã cười vang, tiếng cười trong như ban mai khi chơi trò đuổi bắt cùng những thiên thần của Người

Con đã từng nằm trong vòng tay ấm như hơi lửa để các thiên thần dắt con vào cơn mơ…” (Dưới cái cây ánh sáng– khúc thứ hai).

Tháng 7/2020

_________________ 

[1] Nguyễn Kiến Giang. http://phucdinhhong.wordpress.com/2010/01/18/v%e1%ba%a5n-d%e1%bb%81-con-ng%c6%b0%e1%bb%9di-va-ch%e1%bb%a7-nghia-nhan-van-m%e1%bb%9bi-pha%cc%80n-1/#more-96

[2] Tự điển Văn Học. tr291

[3] Dẫn theo Trần Thái Đỉnh: Triết học Hiện sinh. Công ty sách Thời Đại và Nxb Văn Học. 2015. Tr.308

[4] https://tsthdm.blogspot.com/2016/09/cai-ep-trong-lich-su-triet-hoc.html

THƠ LÊ ĐÌNH BẢNG-Quỳ Trước Đền Vàng

Những khuôn mặt thơ Công giáo đương đại

“QÙY TRƯỚC ĐỀN VÀNG”, THƠ CỦA “NGƯỜI ĐI NHẶT CHỮ” TÀI HOA.

(Đọc tập thơ Quỳ trước đền vàng của Lê Đình Bảng. Nxb Tôn Giáo 2010)

Bùi Công Thuấn

Nhà thơ Lê Đình Bảng

***

Nhà thơ Lê Đình Bảng tự nhận mình là “người đi nhặt chữ”:

Con chỉ là người đi nhặt chữ

Lang thang nơi phố chợ đông người

Để nghe mạch chảy, nghe trời đất

Ngàn vạn âm vang của cuộc đời…

                                          (Kinh khuya)

Những dòng thơ trên đủ giới thiệu cho bạn đọc một hồn thơ khoáng đạt, cao rộng. Hồn thơ ấy “nghe mạch chảy” của thời gian, “nghe trời đất” cất lời và, nghe ”ngàn vạn âm vang của cuộc đời”. Đó là một hồn thơ đã vượt ra khỏi giới hạn của không gian và thời gian để trái tim rung cảm dào dạt trước vẻ đẹp rất lạ lùng và kỳ diệu của cuộc đời này.

Lê Đình Bảng đã in các tập thơ: Bước chân giao chỉ (Sài gòn 1967), Hành hương (2006), Quỳ trước đền vàng (2010), Lời tự tình của bến trần gian (2012), Ơn đời một cõi mênh mang (2014), Kinh buồn (2014), và các tập thơ được phổ nhạc: Đội ơn lòng Chúa bao dung (2012), Lời khấn nhỏ chiều Chúa nhật (2012), Về cõi trời mênh mang (2012). Ngoài ra Lê Đình Bảng còn là nhà nghiên cứu lịch sử văn học Công giáo Việt Nam. Ông đã in “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường” (2010), và bộ sách  gồm 6 cuốn “Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam” (2009) do ông sưu tầm, nghiên cứu…

Quỳ trước đền vàng là tập thơ riêng về Đức Maria.

Tập thơ Quỳ trước đền vàng

KHÁP PHÁ MỚI MẺ VỀ HÌNH TƯỢNG ĐỨC MARIA

            Ở Việt Nam, việc sùng kính Đức Maria đã trở thành lòng đạo nhiệt thành của giáo dân. Trong một năm có đến 2 tháng hoa, tháng Năm và tháng Mười dành để giáo dân quây quần xung quanh Mẹ, đọc kinh Mân Côi, kiệu hoa, dâng hoa. Các tước hiệu dành cho Đức Maria cũng rất phong phú: Đức Mẹ Hằng cứu giúp, Đức Mẹ ban ơn lành, Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Maria Nữ vương hòa bình… Linh địa Công giáo cũng là linh địa của Đức Mẹ: Đức Mẹ La vang, Đức Mẹ Trà Kiệu, Đức Mẹ Măng Đen, Đức Mẹ Tàpao… Kinh nhạc để cầu nguyện cùng Đức Maria cũng rất phong phú và có nhiều bài tuyệt hay.

Vì thế, thật không dễ để có thể khám phá ra những điều mới mẻ về hình tượng Đức Maria. Trước đây, Hàn Mặc Tử đã viết bài Ave Maria tuyệt hay, bài thơ lại được Nhạc sư Hải Linh phổ nhạc, tạo nên một lâu đài nghệ thuật tráng lệ:

…Sáng nhiều quá cho thanh âm vời vợi
Thơm dường bao cho miệng lưỡi không khen
Hỡi Sứ Thần Thiên Chúa Ga-bri-en
Khi người xuống truyền tin cho Thánh Nữ
Người có nghe xôn xao muôn tinh tú
Người có nghe náo động cả muôn trời
Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời
Để ca tụng – bằng hương hoa sáng láng
Bằng tràng hạt, bằng Sao Mai chiếu rạng
Một đêm xuân rất đỗi anh linh…”

            Những câu thơ dát bằng châu ngọc ngôn ngữ ấy sẽ là đỉnh thi sơn mà những nhà thơ Công giáo đi sau khi viết về Đức Maria không dễ vượt qua. Lê Đình Bảng đã khắc họa được một hình tượng Đức Mẹ rất đẹp nhưng hoàn tòan khác với hình tượng Đức Maria của Hàn Mặc Tử.

 Nhà thơ Họ Hàn ca tụng Đức Mẹ “bằng hương hoa sáng láng/ Bằng tràng hạt, bằng Sao Mai chiếu rạng”, và đặt Đức Mẹ trên trời cao với chuyển động của vũ trụ: “xôn xao muôn tinh tú/ …náo động cả muôn trời”. Xung quanh Đức Mẹ “Sáng nhiều quá” “Thơm dường bao”.

Lê Đình Bảng đem Đức Mẹ về gần gũi với mình, gần gũi với đời sống khó nghèo gian nan. Đức Mẹ hòa trong khung cảnh thiên nhiên Việt Nam, cô đọng trong những tình tự dân tộc, và sâu lắng trong tâm thức về người mẹ Việt. Đặc biệt, Lê Đình Bảng dùng hình ảnh “Mẹ hóa đá” đã có trong văn hóa dân gian Việt để khẳng định lòng tin: Mẹ vững như núi đá chở che con Mẹ mấy trăm năm ở những linh địa. Nhờ thế, bạn đọc ngoài Công giáo có thể tiếp cận được thơ về Đức Mẹ một cách tự nhiên, như thơ về người mẹ trần gian của mình.

            Mẹ sống với đàn con những ngày nước trắng đồng không, những ngày mưa giông, bão lụt khắp cả Bắc, Trung, Nam:

Mẹ là giại nứa phên tre

Những khi nắng quái, bốn bề mưa giông

Lòng tin con, ngã ba sông

Trông ra nước trắng đồng không mấy bờ

                                     (Heo may lời con)

Mẹ với đời nghèo khó âm thầm nhẫn nhục.

Mẹ tít tắp đầu non

Hai trăm năm nhẫn nhục

…Đất vẫn nghèo sỏi đá

Vẫn lá rau, con cá

Con bốn mùa nắng nôi

Đêm đêm thắp sao trời

Mẹ, mưa nguồn tắm gội

Cây đời con tốt tươi”

            (Mẹ vẫn ở đầu non)

Một hình tượng giàu phẩm tính dân tộc:

Mẹ vẫn đứng cùng phong rêu quá khứ

Hai trăm năm, phơi rát mặt gió Lào

Cháy lòng con bao nỗi nhớ xôn xao

Mỗi khi đếm từng mùa thu đi, thay lá

               (Trường ca Mẹ La vang)

Một tứ thơ rất đẹp về cái nóng khắc nghiệt của gió Lào làm đá rịn mồ hôi.

Bỗng dưng con thấy bồi hồi

Sông khuya đá rịn mồ hôi gió Lào…

Mẹ là bến lặng bờ trong

Để con nương náu mà giong thuyền về

                   (Kinh nguyện La Vang)

Mẹ là Mẹ cả núi sông.

Dừng đây, đôi ngả đi, về

Chênh vênh đá dựng, tư bề núi non

Tít mù làng bản, sơn thôn

Rưng rưng khói biếc hoàng hôn nhớ nhà…

Mẹ sông, Mẹ núi, Mẹ ngàn

Mẹ ôm lấy cả vô vàn chúng sinh

                                           (Mẹ. Suối an bình)

Lê Đình Bảng gặp gỡ hồn thơ Hàn Mặc Tử, nhưng vẫn rất khác:

Vì đêm ấy mới là đêm trừ tịch

Xác-hồn-thiêng-vô-nhiễm trổ thành hoa

Giữa ba tòa sen ngát ánh dương pha

Giữa băng tuyết rỡ ràng ơn phước lạ

Hai nghìn năm, Mẹ sầu bi hóa đá

Lạnh vô cùng, tím ngắt những hoàng hôn…

                              (Cửa đẹp)

            Lê Đình Bảng khác Hàn Mặc Tử vì khắc tạc Đức Maria trên nền của hiện thực Việt Nam:

Sau cuộc chiến tưởng chừng không được gặp

Lúa ngô reo hay triệu triệu tấm lòng

Mấy đồng trong, nước trắng cũng về sông

Mẹ đứng đó, hai trăm năm, lệ đá”

            (La Vang. Tháng Tám mùa thu)

            Lê Đình Bảng tâm tình với Mẹ:

Con mải mê cuộc sống

Để bây giờ tay không

Vẫn lạc chợ, trôi sông

Vẫn cơm đường, cháo chợ

Mẹ thành non thành đá

Phong rêu với bụi bờ…

                        (Lên ngàn)

Và đây là lời nguyện cầu:

Lạy Mẹ Tà Pao giáng phúc, ban ơn

Xin mở rộng cửa thiêng đường, Mẹ nhé

Và thương lấy những đoạn trường, dâu bể

Để chúng con làm muối mặn cho đời

Thả lưới xa bờ, chỗ nước xa khơi

Bên phải mạn thuyền, cá tôm đầy chặt

            (Trường ca Mẹ Tà Pao)

            Lê Đình Bảng ít nói đến Mẹ trên trời. Đức Maria trong thơ Lê Đình Bảng cũng không đậm chất thần học trong Kinh thánh như Mẹ đồng công Cứu chuộc, Mẹ Thiên Chúa. Người Mẹ ấy cũng không phải là Mẹ của những ơn phép lạ mà người bình dân thường cầu xin (lâu lâu lại có tin đồn Đức Mẹ hiện ra chỗ này, chỗ kia). Đức Maria của Lê Đình Bảng gần gũi thân thương lắm, và rất Việt Nam.

            Tôi rất thích tứ thơ này về Đức Mẹ, vì Mẹ cùng “nắng nôi dãi dầu”, cùng ”áo rách thương nhau” với con dân Việt.

Đội ơn Đức Mẹ Môi Khôi

Cho con yêu cả nắng nôi dãi dầu

Cũng đành áo rách thương nhau

Cái duyên cam quít vừa sâu vừa đằm

                                           (Con về thăm xứ bưởi)

            Và đây là hình ảnh người mẹ trần gian đã nuôi nấng nhà thơ niềm tin yêu cậy trông với Đức Mẹ trên trời. Hình ảnh người mẹ này thật mới lạ trong thi ca Việt đương đại.

Mẹ ngồi trước hiên, tay lần tràng hạt

Đếm cả đời người được mấy mùa vui…

Nhà ta đó, tiếng súng xa đồn bót

Đêm đêm về, nghe thầm thĩ cầu kinh…

Mẹ cong lưỡi chữ R phát Riệm

Mỗi lần dạy con dâng hạt, dâng hoa

Lần chuỗi Mân Côi kính nhớ Đức Bà

Mấy chục năm qua con vẫn nhớ lời mẹ

                      (Tháng Giêng, Về Phát Diệm)

Của cải mẹ cha cho có vậy

Để dành khi con lớn, con khôn

Những câu kinh sách, phiên chầu, lễ

Đã thấm vào da thịt, máu, xương

Đã nên nhân đức, nên lòng đạo

Nuôi sống cả đời con, xác, hồn…

                  (Chuyện những mùa hoa)

NHỮNG BÀI THƠ TÌNH CÔNG GIÁO

            Hình như sau bài thơ tình Tha La xóm đạo củaVũ Anh Khanh (1950), tôi chưa được gặp bài thơ tình Công giáo nào (?). Vì thế khi được đọc Quỳ trước đền vàng, tôi thật ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thơ tình Công giáo của Lê Đình Bảng:

            QUÊ NHÀ

Tháng Năm rồi tới tháng Mười

Làm sao quên được một thời ấu thơ

Cùng em đi lễ nhà thờ

Hoa bằng lăng nở tím bờ ao sen

Em quỳ, tôi cũng quỳ bên

Hương trầm lên, khói trầm lên trước tòa

Mẹ là vườn ngát hương hoa

Chúng con, giọt nước mưa sa ngoài đồng

            Bạn đọc ngoài Công giáo không hiểu tại sao nhà thơ lại nói đến tháng Năm và tháng Mười trong kỷ niệm tình yêu. Đó là hai tháng “nhà đạo” dành tôn kính Đức Mẹ. Trong hai tháng này, nhà thờ Công giáo có nghi thức dâng hoa, rước kiệu Đức Mẹ, không khí vui như ngày lễ hội.

Tình yêu trong bài thơ chỉ là kỷ niệm đơn sơ nhưng thánh thiện, tinh khiết: kỷ niệm nhà thơ cùng em đi lễ nhà thờ, con đường có hoa bằng lăng tím và có cả ao sen. Em quỳ, tôi cũng quỳ bên/ Hương trầm lên, khói trầm lên trước tòa.

Kỷ niệm chỉ có vậy nhưng bài thơ tình có sức ám ảnh về những điều mới lạ. Đó là tứ thơ “Cùng em đi lễ nhà thờ/ Hoa bằng lăng nở tím bờ ao sen”. Cái mới lạ của tứ thơ là sự kết hợp màu tím bằng lăng lãng mạn với hoa sen hồng thuần khiết. Nhưng mà, ao sen gần nhà chùa hơn “nhà đạo”, và hương trầm, khói trầm bay lên nghi ngút cũng là không gian Thiền. Cả hai chất liệu tưởng như xa lạ và trái ngược với cái đẹp Công giáo lại được miêu tả hết sức tự nhiên. Một điều lạ nữa là nhà thờ thường đông người nhất là trong tháng hoa. Ở thôn quê ngày xưa, trong nhà thờ nam nữ không được ngồi bên nhau như Tây. Trong bài thơ này, nhà thơ và em lại rất riêng tư. Cùng quỳ bên nhau, cùng hướng lên Đức Mẹ, tâm hồn họ bay lên cùng với hương trầmkhói trầm ngào ngạt.

Lê Đình Bảng đem vào thơ tình Công giáo chất liệu làng quê thấm đẫm tình tự dân tộc kết hợp với vẻ đẹp của cái riêng tư phương Tây tạo nên một bài thơ tình rất đẹp. Đó là cái đẹp của một tình yêu đơn sơ, thánh thiện, sự tinh khiết, gắn bó với làng quê, tình quê. Tình yêu này rất khác với tình yêu đậm chất nhục thể trong thơ tình Xuân Diệu.

Thơ tình Lê Đình Bảng neo được trong lòng người đọc nhiều cảm xúc là nhờ cái tình tự làng quê rất đậm ở những tứ thơ thật tài hoa:

            MÙA TRĂNG VU LAN NHỚ MẸ

Năm ấy em lên mười mấy tuổi

Tôi từ phố huyện về thăm quê

Trời mưa, mưa mấy ngày không ngớt

Con nước lên sấp sấp bậc hè

Nghe thoáng, ở bên bờ giếng, đợi

Đầu vườn cây khế mới ra hoa

Hình như cơn gió nồm nam gọi

Đôi sáo nâu về đậu trước nhà

Chúng cũng như mình thôi, vất vả

Nhịn ăn, đâu nhịn được tình yêu

Trời ơi, cái tháng ba năm đói

Mong bếp nhà ai lên khói chiều

Có phải vì em mau nước mắt

Khi không, ra đứng ngóng đầu thôn

Em buồn, tôi cũng buồn lây, nhỉ

Nom cứ như hai đứa mất hồn

Em biết tôi mồ côi bố mẹ

Những thèm yêu, thèm nhớ người dưng

Giờ, em ở phía nơi chân sóng

Tôi, đóm sao khuya lạc cuối rừng

Chả biết đến khi nào gặp lại

Mà thời gian đằng đẵng vô chừng…

Cứ mỗi mùa Vu Lan cúng quả

Nghe chùa bên mở huệ, tuần chay

Dọc đường ra nghĩa trang em bảo

“Mẹ ngủ trong gò đất cỏ may

Thành bụi, thành tro than lãng đãng

Vầng trăng tơ mọc giữa ban ngày”

            Hiện thực sống đạo ở làng quê làm phong phú thêm không gian nghệ thuật của thơ ca Việt Nam.

Tôi từ phố Hiến xa xôi

Cây rau, ngọn cỏ, suốt đời long đong

Hôm vô tới xứ Đàng Trong

Chờ em ở mãi Ba Giồng mới lên

Đò theo sông Hậu, sông Tiền

Những mông mênh nước, những mênh mang trời

Nửa khuya, cập bến Chùa Dơi

Thoảng nghe kinh kệ, nhịp vơi, nhịp đầy

Hạt mừng em giấu trong tay

Hạt thương, tôi dỗ dành cây hoa hường

Đường nào xuôi ngả Thơm Rơm

Qua Hàm Luông, ghé Cái Mơn mấy hồi

Đền vàng, quỳ trước song đôi

Khấn dâng, một mảnh gương soi trước tòa

Đây là Phép Ngắm Rosa

Và đây tràng chuỗi Đức Bà Môi Khôi

Bao giờ cho đến tháng Mười

Chim quyên xuống đất thuyền tôi lên bờ

Nắng vàng ngoài dậu ô rô

Hôm nay lễ trọng, nhà thờ đông ken

Dập dìu trai gái đua chen

Cho tôi theo kiệu về bên xứ nhà

Lạy trời, đừng nổi phong ba

Để tôi neo một bến phà-quê em…

            Bài thơ hay ở chất giọng ca dao, ở sự tài hoa của nhà thơ trong nghệ thuật kể chuyện, ở cái tình tự quê hương rất sâu trong những tứ thơ đột ngột mới lạ và ở nét đẹp lễ hội Công giáo làm mới hẳn không gian thơ (so với không gian nhà chùa trong thi ca dân tộc).

Tôi trích hơi dài và không bình gì thêm, vì cái hay của thơ Lê Đình Bảng như hương hoa thấm vào rất sâu ở mọi giác quan của người đọc, tạo nên cái âm vang nghệ thuật trong tâm hồn, đó là một thứ hạnh phúc rất lạ chỉ có nghệ thuật mới có thể đem đến. 

NHÀ THƠ, NGƯỜI NHẶT CHỮ  TÀI HOA

            Thơ Lê Đình Bảng hiện lên hình ảnh “người nhặt chữ” tài hoa. Đó là một thi nhân lãng tử, một gã thương hồ. Nhà thơ tự hỏi:

Hoa quỳ năm ngoái, năm xưa

Có còn yêu gã thương hồ hay không.

                  (Mẹ như trăng ở đầu nguồn)

Người thơ hòa trong dòng người hành hương đi mọi miền đất nước: Đỉnh Mẫu sơn (Lên đình Mẫu Sơn), đền thánh Đức Mẹ La Vang (Trường ca Mẹ La Vang),vào namviếng Đức Mẹ Bãi Dâu (Nguyện cầu Mẹ Bãi Dâu), về thăm Đức Mẹ ở Xứ Bưởi Năm Roi (Con về thăm xứ Bưởi), Về thăm Mẹ Hòn Chông, Tháng 5 về quê Mẹ Trà Kiệu, Về thăm Mẹ Trà Kiệu-Bến Tre. Nhà thơ”lên núi chay tịnh bốn mươi ngày” (Lên ngàn), lên Tây Nguyên viếng Đức Mẹ Măng Đen (Kinh cầu Mẹ Măng Đen), về Phan Thiết viếng Mẹ Tà Pao (Trường ca Mẹ Tà Pao)…

Trăm năm trước những ai về Dinh Cát

Về Cổ Vưu, Cây Da, ghé Hội Yên

Những nhà thờ – họ đạo, xóm làng bên

Cờ xí rợp mấy vùng quê lương, giáo

Người ở Kinh ra, cân đai, áo mão

Kẻ Đàng Ngoài vô, thanh lịch, đài trang

Qua Truông nhà Hồ, vượt phá Tam Giang

Chốn heo hút bỗng dập dìu phường phố

Đợi con nước, tuần trăng, xem quỳnh nở

Tháng Tám mùa thu, đến hẹn lại lên

Trăm nẻo về, cùng một bến đông ken

Muôn ngã rẽ chảy đầy nguồn sông Mẹ

                                   (Trường ca Mẹ La Vang)

Lòng thành chẳng dám đơn sai

Chúng con Kinh Bắc, dặm dài đường xa

Những là mớ bảy mớ ba

Chân son phách nhịp, miệng hoa hát tình…

…Đương mùa vải chín trên cây

Thảo thơm dâng Mẹ những ngày hành hương

                        (Nỗi niềm Kinh Bắc)

Trong dòng người đông ken ấy, “gã thương hồ” đầy ắp tâm sự. Đó là nỗi niềm

 của “kẻ đã treo gươm rửa kiếm”, đời”Như một ngọn nhang tàn thắp khuya”, nhưng còn lắm gian nan.

“Xót kẻ đã treo gươm rửa kiếm

Thân ngựa già thoắt biến màu sương

Mơ phai tàn cuộc đoạn trường

Nước trôi sông vắng con đường tịch liêu”

                            (Khóc mẹ)

Như một ngọn nhang tàn thắp khuya

Heo may khẽ động đã tan lìa

Đời con những nắng trưa, mưa sớm

Đắm đắm trông lên một nẻo về

                             (Mẹ hằng xuân)

Đời con, thuyền ván ra khơi mãi

Giông gió tư bề, giông gió thôi…

Những lúc chênh chao mùa đổi gió

Mẹ ơi con mệt đứt hơi rồi

Chèo buông, không lái, trôi đầu sóng

Mẹ dẫn đưa con về đến nơi

                        (Đầu sóng xa khơi)

Biết vậy nhưng không thể khác được, vì đã trót tài hoa. Nhà thơ tâm sự với Mẹ:

Mẹ biết, lòng con như chỉ rối.

Sợi thưa mau, ngang dọc bời bời

Chả là, con trót đa mang quá

Gieo gió, đành cam gặt bão thôi

Đã mấy lần ăn năn sám hối

Ngựa quen đường cũ đã lâu rồi

Làm sao rửa sạch bao lầm lỗi

Chẳng lẽ làm hư phí của giời

                             (Phù dung)

            Dù trăn trở cuộc sống “nắng mưa” nhưng người thơ gần gũi và tin yêu Mẹ, có khi đùa vui bên Mẹ.

Mẹ ơi khi Mẹ lên trời

(Cho con cưỡi ngựa đi mời quan viên)

Đêm nay chờ nụ trăng lên

Thuyền ơi, đừng dạt về bên kia bờ

                  (Mẹ như trăng ở đầu nguồn )

            Bạn đọc những câu thơ đầy ắp tâm sự của Lê Đỉnh Bảng, và nhiều khi kinh ngạc về sự tài hoa của thi nhân. Tài hoa ấy thể hiện ở sự phát hiện “Cái đẹp” của đời sống Công giáo, cái đẹp của tình yêu lứa đôi thánh thiện tinh khiết, cái đẹp của những tứ thơ bất ngờ, cái đẹp của thơ ca cổ điển, cái đẹp ở vốn từ giàu có trong sự giao thoa giữa ngôn ngữ bình dân với ngôn ngữ bác học. Còn có Cái đẹp của sự kết tinh thơ cổ điển, thơ lãng mạn với ca dao và cái đẹp của một “hồn thơ đạo” cao rộng phóng khoáng, sánh ngang với hồn thơ Đường và cốt cách thơ Thiền.

            Đây là những câu thơ thấp thoáng Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du:

Xót người vò võ trông mong

Chân mây, đầu núi, quãng đồng, dặm xa…

Xót người dầu dãi trên non

Hơi sương, khói núi, hoàng hôn, nguyệt tà

                     (Nguyện cầu Mẹ Bãi Dâu)

Âm hưởng những câu Kiều vừa sang trọng vừa day dứt:

Cũng đành gửi lại mai sau

Phất phơ ngoài nội bông lau cuối mùa

Lấy gì đền đáp thân thưa

Mẹ ơi, bong bóng chiều mưa tội tình?

Hạt buồn vào cõi ba sinh

Hạt hư vô của phận mình long đong

Kể từ con biết trông mong

Trái tim như cứ bồng bềnh, ủ ê.

Từ hôm nguồn bỏ sông về

Xa nhau, bỗng nhớ non khuya bóng chày

Bãi bờ nghìn dặm quanh đây

Bên kia lũy khuất, bên này rào ngăn

(Cho mai sau đời con )

Phảng phất khí vị Thiền, và âm vang thơ cổ điển:

Mai sớm đầu sương phơi sắc thắm

Đã chiều phai nhạt mấy tràng giang

Xin làm hạt bụi rơi vương vãi

Mỗi bước chân qua chẳng ngó ngàng

                                    (Phù dung)

            Hạt sương đầu ngọn cỏ sớm mai phơi sắc là hạt sương của Vạn Hạnh Thiền sư (“Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”– Thị đệ tử). Tứ thơ “Đã chiều phai nhạt mấy tràng giang” gợi ra hình ảnh nỗi buồn cổ điển của Huy Cận trong bài Tràng giang. Nhưng Lê Đình Bảng kết hợp hòa điệu tư tưởng Thiền, màu sắc cổ điển với tư tưởng con người chỉ là tro bụi của Thiên Chúa giáo tạo nên một tứ thơ mới lạ.

            Cái tình tứ tài hoa này thật thú vị:

Nghĩ mình, một chút mưa sương

Giọt vui chưa cạn, giọt thương đã nhòa

Những ngày chơm chớm hương hoa

Thoáng qua, chỉ một thoáng qua, phai tàn

Chiều chiều mây trắng bay ngang

Ấy ai, đò dọc, đò ngang xa vời

Bây giờ sông rẽ ngăn đôi

Nhớ nhung là của hai người nhớ nhung

                     (Nhớ nhung)

            Và sự tinh tế đến kinh ngạc:

Ở đây, cồn bãi lưa thưa

Thoảng nghe chuông lễ nhà thờ hôm mai

Ở đây, trứng cá, bông xoài

Một cơn gió thoảng rụng ngoài hiên mưa

              (Về thăm Mẹ Hòn Chông)

XIN ĐƯỢC CHIA SẺ VỚI NHÀ THƠ

            63 bài thơ trong Quỳ trước đền vàng đều là những bài thơ hay, có nhiều bài cái hay níu lấy người đọc không dứt ra được (Trường ca Mẹ La Vang, Kinh nguyện La Vang, La Vang. Tháng Tám mùa thu, Về La Vang. Nhà Mẹ trăm gian, Bao giờ cho đến tháng Mười, Đồng dao, Quê nhà, Mùa trăng Vu lan nhớ mẹ, Tiệc cưới Cana, Về thăm Mẹ Hòn Chông, Mẫu đơn nở cạnh nhà thờ…).

Rất vui và rất quý vì sau Hàn Mặc Tử, thơ ca Công giáo lại có được một ngòi bút tài hoa như nhà thơ Lê Đình Bảng. Quỳ trước đền vàng đặc sắc ở những hình ảnh rất đẹp của đời sống Công giáo. Tình yêu Công giáo rất tinh khôi. Tiếng thơ là tiếng tâm tình chân thực. Và hơn tất cả, Quỳ trước đền vàng khám phá, sáng tạo nhiều tứ thơ mới lạ so với thơ ca đương đại; khám phá hình tượng Đức Mẹ hòa trong thiên nhiên, cuộc sống và tâm thức Việt. Cái Tôi “nhà đạo” của thi nhân đã vượt qua Cái tôi cô đơn bế tắc của Thơ Mới. Lê Đình Bảng vẫn làm thơ truyền thống, nhưng đã nâng phẩm chất nghệ thuật của thơ truyền thống Việt lên một bước mới, đó là sự kết hợp mỹ học truyền thống với mỹ học Thiên Chúa giáo đậm chất Việt.

            Nhà thơ vẫn chưa ngừng bay lên:

Xin mở rộng cửa thiên đường Mẹ nhé

Con bay lên theo cánh gió của trời

Mẹ là biển, là sao mai chiếu rạng

Thuyền con neo, chờ bến lặng, ra khơi

                         (Thuyền đời)

Tháng  6/ 2020

____________________________________

THƠ XUÂN LY BĂNG

Những khuôn mặt thơ ca Công giáo đương đại

NHÀ THƠ XUÂN LY BĂNG

Bùi Công Thuấn

Nhà thơ Đức Ông Xuân Ly Băng

            Xuân Ly Băng là bút danh của Đức Ông G.B Lê Xuân Hoa (1926-2017). Ngài thụ phong linh mục năm 1959 tại Gia Định. Ngài từng là Giáo sư Tiểu Chủng viện Chân Phước Tự, Thủ Đức-Gia Định, Tiểu Chủng viện Sao Biển, Nha Trang. Ngày 25-1-1998, ngài được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong tặng Giám Chức Danh Dự (Đức Ông). Từ 2006 ngài là Tổng Đại diện giáo phận Phan Thiết. Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa, Giám mục Nha Trang trong thánh lễ mừng Kim Khánh Linh mục của  Đức ông đã nhận xét: Ngài “Dùng thi phú để hát ca tán tụng Thiên Chúa. Ngài nhìn thấy Thiên Chúa trong mọi sự và tâm hồn thi sĩ đã tác tạo nên những vần thơ ngợi khen cảm tạ…Ngài ca tụng Thiên Chúa với cả hồn thơ trữ tình dạt dào lòng yêu mến Chúa.”[1]

Đức Ông Xuân Ly Băng đã viết trên 1000 bài thơ và đã xuất bản các tập thơ [2]: Thơ kinh, Hương kinh, Trầm tư, Nỗi niềm, Bài ca thương khó, Dụ ngôn Phúc âm, Như trầm hương, Kinh trong thời gian, Khúc hát ân tình, Một vùng châu lệ, Kinh sầu trên quê hương…

Để hiểu Xuân Ly Băng về quan niệm sáng tác, hành trình nghệ thuật, và những nguồn cội thơ của ngài, xin đọc “Nhà thơ Xuân Ly Băng-Cuộc đời và tác phẩm”(Nxb Phương Đông 2011) và bài phỏng vấn của nhà thơ-Linh mục Trăng Thập Tự với Xuân Ly Băng ngày 25.8.1988.[3] Tôi xin không nhắc lại trong bài viết này.

NHÀ THƠ CÔNG GIÁO CÓ NHIỀU THƠ PHỔ NHẠC

Nhà thơ-Đức Ông Xuân Ly Băng

Theo nhà thơ An Thiên Minh [2 đd], Xuân Ly Băng có 120 bài thơ được các nhạc sĩ Công giáo phổ nhạc.

Đơn cử bài thơ Say Noel:

Đêm nay Noel về
Hồn hỡi lắng tai nghe
Đàn muôn cung réo rắt
Dồn dập khắp sơn khê
Đêm nay Hài Đồng đến
Đem hoan lạc trời cao
Đêm nay thơ kính mến
Sẽ say ngã lao đao
Ôi Noel đêm trời nhiệm mầu
Rượu nồng ta không nếm
Sao lòng trí ngất ngư?
Ta say muôn ánh nến
Ngời rạng vạn hào quang

Ta say tiếng chuông vàng
Trong gió trời hổn hển
Từng trận đổ vang vang…
Ta say muôn lời kinh
Thơm như hoa thiên đình
Êm như dòng suối nhạc
Đẹp như lệ đồng trinh
Ôi Noel! Đêm trời nhiệm mầu
Nhạc an hòa, thơ kính mến
Hương phượng thờ đang ngào ngạt dâng lên
Ban cho lòng người đau khổ trần gian
Hiểu ý nghĩa Noel miền cao cả.

Nhạc sư Kim Long phổ bài thơ này thành một bài hợp xướng hoành tráng. Trong đêm Noel, tiếng hát ca đoàn vang lên như tiếng của hàng vạn thiên thần hân hoan. Cái thần của bài hợp xướng này là thanh âm diễn tả được trạng thái “say Noel” của mọi tâm hồn trong đêm thánh.  Câu thơ “Đêm nay sẽ say ngã lao đao” rất khó phổ nhạc, nhưng nhạc sư Kim Long đã phổ rất tuyệt câu này. Hầu như các ca đoàn Công giáo đều đã có lần hợp giọng trong bản hợp xướng này. Xin nghe (theo link) ca đòan Hương Kinh  hợp xướng:

https://nghenhacthanhca.com/music/listenone/4272/Say-Noel/

                                          (Say Noel-Đọan mở đầu)

Nhạc sĩ-Lm Xuân Thảo phổ nhạc bài Say Noel thành bài Đêm Noel giai điệu Slowrock ngọt ngào, đằm thắm, lắng rất sâu trong mọi tâm hồn giáo dân giờ phút Con Chúa nhập thể làm người. Bài này không chỉ được các ca sĩ Công giáo trình bày mà còn thịnh hành trong các CD nhạc phổ thông mùa Noel. Xin nghe ca sĩ Thu Phương hát ca khúc này (theo link):

https://thanhcavietnam.net/ThanhCaVN/#Play,5472

                                                                          (Trích đoạn đầu)

Cả hai khuôn mặt lớn của nhạc sĩ Công giáo Việt Nam cùng phổ một bài thơ và tạo nên hai tác phẩm âm nhạc rất hay, và rất khác nhau về màu sắc thẩm mỹ. Điều này là biểu hiện của một nền nghệ thuật Công giáo có tầm vóc riêng, có bản sắc riêng, giàu có sự sáng tạo trong lòng nghệ thuật dân tộc.

Tôi ghi nhận được (không đầy đủ) trên mạng xã hội một số bài thơ sau đây của Xuân Ly Băng đã được phổ nhạc và được vang lên trong nhiều nhà thờ Công giáo:

Nhạc sư-Lm Kim Long phổ nhạc 31 bài:

  1. Cho hồn con hát -2. Chúng tôi có Ngài -3. Đêm về con yêu Ngài – 4. Hát bài tân ca

 5. Khi nào Ngài đến- 6. Nếu hôm nay –7. Ngài là tất cả -8. Người thợ vô danh –9. Vì Lời Ngài -10. Xin Ngài là ánh sáng -11. Giao duyên –12. Noel không có Chúa –13. Ngài đi vào lịch sử –14. Say Noel – 15. Theo vì sao cứu thế – 16. Hỡi người bộ hành – 17.Trong máu giao hòa – 18. Bên tòa Mẹ – 19. Đoàn người diễm lệ – 20. Con sợ gì – 21.Hương xuân/1- 22. Xuân chầu Mẹ – 23. Xuân sang – 24. Khi nào Ngài đến – 25. Cho hồn con hát- 26. Bên hang đá (hợp xướng) -27. Ngày về – 28. Nhạc hòa bình  (hợp xướng)29. Khúc hát mùa xuân (hợp xướng)30. Mầu nhiệm Tình thương (hợp xướng)  –31. Bài ca máu đỏ (hợp xướng)

            Nhạc sĩ Tuấn Kim phổ nhạc các bàiLời trên Thập giá, Phút linh thiêng, Đến lượt con, Hết nghe chuông Noel, Dứt lời cầu nguyện, Tán tụng Mẹ, Kính mừng Maria 2, Thuyền bơi sông Mẹ, Đức Mẹ TàPao 1. Bóng hồng trong sương – Hỡi người bộ hành –  Nếu con nhớ –  Thơ mừng Xuân –  Trên sông Babilon…

            Đức cố Giám mục Vũ Duy Thống phổ nhạc bài Sao không (Sao em không lần chuỗi). Ns Phạm Trung phổ bài Linh mục một huyền nhiệm, NS Linh Huyền Dung phổ bài Mẹ TàPao…(Xin lỗi các nhạc sĩ đã phổ nhạc thơ Xuân Ly Băng mà tôi không nêu ở đây).

            Nhớ lại trước đây (1958) Nhạc sư Hải Linh phổ thành hợp xướng bài thơ Đà Lạt trăng mờ của Hàn Mặc Tử và từ bài thơ Ave Maria của Hàn Mặc Tử viết thành Trường ca Ave Maria. Cả thơ và nhạc đều đạt đến đỉnh cao nghệ thuật, đưa người nghe vào thế giới huyền diệu, cao rộng của âm thanh, ánh sáng và sự thánh thiện. Say Noel của Kim Long và Xuân Thảo cũng đem người nghe vào thế giới của tâm linh cao rộng đẹp đẽ như vậy.

            Hiện tượng thơ Xuân Ly Băng được phổ nhạc nhiều có ý nghĩa gì?

            Các ca khúc Công giáo đều dùng trong phụng vụ, hát lên để ca tụng và cảm tạ Thiên Chúa. Điều ấy có nghĩa, thơ Xuân Ly Băng đậm tính chất cầu nguyện, là tiếng nói của tâm hồn giáo dân vươn lên tới Thiên Chúa. Ca khúc hát trong thánh đường còn là ca khúc dành cho cộng đoàn. Vì thế thơ Xuân Ly Băng được phổ nhạc là thơ hướng về công chúng. Lời thơ gần gũi, dễ hiểu.

            Các nhạc sĩ tìm đến thơ để phổ nhạc còn có một nhu cầu khác. Lời kinh đọc, Kinh thánh, bài giảng lễ hầu như đã trở thành ngôn ngữ đời thường. Một đời sống đạo mấy chục năm nghe giảng Kinh thánh, đọc kinh cầu nguyện thì những lời kinh đạo ấy đã thành ngôn ngữ đời thường. Viết được giai điệu mới đã khó, viết được lời mới còn khó hơn. Người nghệ sĩ sáng tác làm thế nào để tìm được ý tứ mới, ngôn ngữ mới, cách diễn đạt mới? Vì thế nhiều người tìm đến thơ. Thơ Xuân Ly Băng đáp ứng yêu cầu này. Say Noel có cái mới ấy.

Ta say muôn lời kinh
Thơm như hoa thiên đình
Êm như dòng suối nhạc
Đẹp như lệ đồng trinh
Ôi Noel! Đêm trời nhiệm mầu
Nhạc an hòa, thơ kính mến

                         (Say Noel)

ĐỐI THOẠI VỚI CÁI TÔI CỦA “THƠ MỚI”

Nhà thơ-Đức ông Xuân Ly Băng

Tôi hát tôi ca

Và tôi ngân nga

Tôi buông ra muôn cung huyền diệu…

Cần chi ai hiều

Thế giới hồn tôi

(Thanh sắc)

            Những dòng thơ ấy của Xuân Ly Băng có dáng dấp khẩu khí của Xuân Diệu nhưng lại rất khác Xuân Diệu. Trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn, Xuân Diệu viết:

Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất.
Không có chi bè bạn nối cùng ta…

…Ta bỏ đời mà đời cũng bỏ ta
Giữa vắng ngắt, giữa lạnh lùng thê tuyệt!

                  (Hy Mã Lạp Sơn)

Xuân Ly Băng có một mảng thơ viết theo thi pháp của “Thơ Mới” (1930-1945). Nhà thơ cũng khai thác thi tứ Thơ Mới, nhập thân vào “Cái Tôi” của nhà thơ tiểu tư sản, nói tiếng nói của họ trước thực tại, rồi từ đó thoát hẳn ra bên ngoài để đối thoại, cảm thông. Bạn đọc phổ thông thường được đọc những đánh giá rằng thơ Lãng Mạn trước 1945 là thơ của Cái Tôi cô đơn, buồn, bế tắc.

Xuân Diệu: “Tôi là con nai bị chiều đánh lưới/ Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối” (Khi chiều giăng lưới). Huy Cận: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” (Tràng giang). Chế Lan Viên: “Với tôi, tất cả như vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!”(Xuân)…

Hoài Thanh nhận định: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy cận. Cả trời thực, trời mộng vẫn neo neo theo hồn ta.

Xin đọc Xuân Ly Băng:

CHUÔNG CHIỀU

Chiều tàn trên bến cô liêu
Đò ngang thưa chuyến, quán chiều vắng tanh
Gió đưa hiu hắt trên cành
Đồng không sương bủa buồn tanh chim về
Hồn chiều lên ý não nề
Buồn ơi! xa vắng đê mê là buồn
Bỗng nghe một tiếng chuông buông
Xa xôi tự tháp thánh đường nào đây!
Vang lên cao vút tầng mây
Rồi ngân nhè nhẹ như ngây ngất lòng

Tiếng êm nhạc gió rừng thông
Ru như tiếng trúc dịu trong chiều vàng
Rồi tan trong gió mênh mang
Những âm thanh đã nhịp nhàng trong tôi
Bắc cầu nối ý xa khơi
Hồn tôi với lại nước trời xa xăm

Huy Cận viết Sông dài trời rộng bến cô liêu…/ Mênh mông không một chuyến đò ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mật” (Tràng giang). Xuân Ly Băng dùng lại tứ thơ này: “Chiều tàn trên bến cô liêu/ Đò ngang thưa chuyến, quán chiều vắng tanh;

Thế Lữ viết: “Tiếng đưa hiu hắt bên lòng, Buồn ơi! Xa vắng, mênh mông là buồn”(Tiếng sáo Thiên Thai). Xuân Ly Băng nhắc lại tứ thơ này: “Hồn chiều lên ý não nề/ Buồn ơi! xa vắng đê mê là buồn”.

Rõ ràng Xuân Ly Băng nhắc lại các tứ thơ của “thơ mới” là để gợi ra không gian nghệ thuật và không gian tư tưởng của Huy Cận, Thế Lữ (cũng là của thơ Lãng Mạn). Xuân ly Băng nhập thân vào nhà thơ tiểu tư sản để hiểu và cảm thông với họ rồi dùng tiếng chuông thánh đường dẫn đến không gian tư tưởng mới, đầy màu sắc, âm thanh trong sáng, cao rộng hơn. Không gian ấy hướng lên trên. Cái Tôi không còn buồn cô đơn bế tắc mà tràn ngập niềm vui của sự kết nối với “nước trời” (một nội dung quan trọng của Kinh Thánh).

“Bỗng nghe một tiếng chuông buông
Xa xôi tự tháp thánh đường nào đây!…

…Bắc cầu nối ý xa khơi
Hồn tôi với lại nước trời xa xăm”

Bài thơ Củi mục, cũng đối thoại với triết lý vô thường, hư vô trong thơ Lãng mạn.

Huy Cận từng viết, đời người như một cành củi khô trôi dạt không viết về đâu giữa giòng đời trăm ngả: “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả/ Củi một cành khô lạc mấy dòng” (Tràng Giang). Xuân Ly Băng suy tư từ một cành củi mục:

Khi vớt lên một cành củi mục
Và bắt về chiếc lá vàng trôi
Ta sẽ nghe tiếng hồn ai thổn thức
Lệ trào tuôn than khóc ngậm ngùi

Đó là quy luật của vô thường

Nhưng than ôi gió thời gian quét sạch
Hồn thảo thu man mác bóng tà dương
Khiến bao nhiêu cành vàng cùng lá ngọc
Dạt về đâu trên mặt đất vô thường

Và đây là tâm trạng nhà thơ Lãng mạn:

Và người nghệ sĩ những chiều hôm
Ngắm bóng non xa bỗng thấy buồn
Trời không mưa gió không tiễn biệt
Mà thấy trong lòng giọt lệ tuôn

Xuân Ly Băng chia sẻ với nhà thơ Lãng mạn và gieo một niềm tin yêu:

Thôi đừng khóc nữa lá cành ôi
Có khóc đời cũng thế mà thôi
Vì trong thời gian có vĩnh cửu
Trong ly rượu nồng có mùi ngải cứu
Vị đắng đót sẽ còn lại muôn năm
Là lộc trời để nhắc nhở xa xăm.

Trong đối thoại, Xuân Ly Băng tuyệt nhiên không nói gì đến Tôn giáo mà nhà thơ đối thoại bằng tư tưởng với tư tưởng, đem cái “vĩnh cửu”, “cái muôn năm” để hóa giải cái “vô thường”, những cái bị “thời gian quét sạch”. Đó là thái độ trân trọng và cảm thông chia sẻ, và là nghệ thuật. Dùng thi pháp thơ Lãng Mạn để nói chuyện nghệ thuật với nhà thơ lãng Mạn.

Điều đặc sắc là Xuân Ly Băng làm mới thơ Lãng mạn bằng cách đem tư tưởng mới, ý tứ mới thay cho nỗi buồn sự bế tắc hư vô chủ nghĩa trong thơ lãng mạn.

Do đâu Xuân Ly Băng có cuộc đối thoại này với thơ Lãng mạn ? Nhà thơ cho biết: “Khi còn nhỏ, học theo chương trình Pháp, nhờ học văn chương Pháp, tôi biết và chịu ảnh hưởng của Paul Verlaine, Alfred de Vigny, Alfred de Musset, đặc biệt là Lamartine. Nguồn ảnh hưởng thứ hai là Thơ Mới Việt Nam: Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu, Huy Cận, Thanh Tịnh, nhất là Hàn Mạc Tử.”[3 đd]

Lưu ý rằng sau, thơ Lãng Mạn (1930-1945), thi ca Việt Nam có nhiều nỗ lực cách tân. Xu hướng Hiện thực xã hội chủ nghĩa trở về với công chúng. Nhóm sáng tạo ở Sài Gòn, các nhà thơ miền Bắc như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm đều nỗ lực vượt qua Thơ Mới. Họ chủ trương đổi mới bằng bút pháp. Xuân Ly Băng đổi mới về tư tưởng mỹ học.

Tư tưởng mỹ học trong thơ Xuân Ly Băng là tư tưởng Thần học và mỹ học Thiên Chúa giáo. Xuân Ly Băng ý thức rõ: “Phải khẳng định rằng thơ là để nói lên cái đẹp là Thiên Chúa. Những gì thuộc về Thiên Chúa đều đẹp. Chúng ta ca tụng Thiên Chúa bằng cái đẹp thể hiện qua văn chương, qua thơ ca”[3, đd]. Ngài chủ trương làm “nghệ thuật”  dưới bóng cây Thánh giá và Ánh Sáng Phục Sinh của Đức Kitô. Thơ Xuân Ly Băng miêu tả rất nhiều thiên nhiên đẹp , và đó là cái đẹp của Thiên Chúa. Ngài mong muốnlàm sao để đem Chúa từ trong ánh trăng, từ gió vào trong khối óc, trái tim, rồi từ đó trào ra nơi ngọn bút? Thiên nhiên này hoàn toàn khác với thiên nhiên trong thơ Lãng mạn, khác cả với thiên nhiên thơ Đường và thơ Trung đại Việt Nam. 

CỐT CÁCH THƠ XUÂN LY BĂNG

            Nhà thơ Xuân Ly Băng trước hết là một Linh mục. Ngài dùng thơ để ca tụng Thiên Chúa, để loan báo Tin Mừng. Đó là nhiệm vụ ngài nhận từ Đức Giêsu và giáo hội của Người. Đời dâng hiến của ngài là để thực hiện nhiệm vụ đó. Thế nên phần lớn thơ Xuân Ly Băng có nội dung giáo huấn. Mảng thơ này bị giới hạn trong nội dung, tư tưởng và ngôn ngữ giáo huấn của Giáo hội. Xuân Ly Băng khó thể hiện cốt cách thơ. Ngày xưa, thời cộng đoàn dân Chúa không biết chữ, các “cố đạo” đã đặt thành vè các nội dung giáo lý để cộng đoàn đọc trước giờ lễ. Vè bình dân dễ thuộc, dễ nhớ nên có tác dụng dạy đạo rất hiệu quả. Ngày nay, trình độ của cộng đoàn đã khác. Vè, kinh vãn không còn là phương tiện dạy đạo đắc dụng như ngày xưa. Nếu các nhà thơ Công giáo làm thơ chỉ ở dạng vè, sẽ không có người đọc.

Bậc làm cha làm mẹ
Xin gởi gắm đôi lời
Ghi nhớ lấy ai ơi
Để thi hành bổn phận
Hầu chu toàn bổn phận

Sinh con thì cẩn thận
Có chừng mực điều hòa
Có trách nhiệm sâu xa
Vì gia đình hạnh phúc
Để giống nòi hạnh phúc

        (Bổn phận cha mẹ)

Xuân Ly Băng có nhiều bài thơ giáo huấn. Ở những bài này, tính giáo huấn lấn át tính thơ (thí dụ: Bổn phận cha mẹ, Bài học truyền giáo, Sao em không lần chuỗi, Chuỗi Môi Côi, Xâu chuỗi Mân Côi, Sự thánh thiện của Chúa Giêsu, Những danh hiệu của Chúa Giêsu, Năm Linh Mục, Linh mục, ngài là ai? Trái Thánh kinh, Đoản khúc Tin Mừng, Lâu đài đêm…). Tuy vậy cũng có những vừa bài đáp ứng được nhiệm vụ giáo huấn lại vừa đạt được phẩm chất văn chương. (14 chặng đàng Thánh giá).

            Cốt cách thơ Xuân Ly Băng hiển lộ ở những bài thơ tự tình (Bài ca tình ái, Thanh sắc, Say Noel, Đàn vọng cố hương, Bao giờ cho hết mùa thu, Suy nghĩ cúi đầu, Thơ không về, Vì Ngài là tất cả, Tôi nằm xuống…)và thơ trải nghiệm tư tưởng từ đời thực (Noel không có Chúa, Ha-ga và Ít-ma-ên, Lời Chúa Trên Đại Dương, La Vang đất Mẹ…)

            Thơ tự tình bộc lộ một hồn thơ thanh khiết, trọn vẹn tin yêu phó thác, hồn thơ hòa vào hạnh phúc miên viễn của nước trời, không vướng bận trần ai.

Gửi vào Chúa tâm hồn tín thác
Đêm linh hồn man mác tình yêu
Có bình minh sáng thật nhiều
Có hiu hiu gió mỗi chiều mơn man

Gửi vào Chúa muôn vàn giọt lệ
Đêm linh hồn xiết kể hân hoan
Du dương tiếng sáo tiếng đàn
Giữa cô liêu ấy chứa chan ân tình

            (Lâu đài đêm tối)

            Thơ trải nghiệm tư tưởng lại khác hẳn. Nhà thơ phóng túng trong nghĩ suy, trong cách thể hiện những điều gan ruột và trong tìm tòi những tứ thơ mới lạ. Xin đọc

Ha-ga và Ít-ma-ên
           ( St 21, 8-20)

Nàng bế con chúi đầu đi trong sa mạc
Gió cát dập vùi
Hừng hực nắng trời như thiêu đốt mẹ con
Bánh ăn đã kiệt
Bầu nước cạn hết từ lâu
Khốn đốn vô cùng !
Nàng ngồi bệt xuống
Hôn con rồi đẩy nó vào bụi cây
Ngước mắt lên trời
Nghẹn ngào nàng than thở:
Đức Chúa ở đâu rồi?
Đau lòng tôi lắm, Chúa ơi !
Làm sao để con tôi thoát chết
Nàng ngoái lại nhìn bầu trời quê hương
Nước mắt chảy ròng ròng
Nhớ lúc ra đi!
Nàng nghẹn ngào than thở :
Ap-ra-ham, tôn chủ ơi !
Tình nghĩa sao chỉ có thế thôi,
Ai đem tôi đến cho ông?
Sao ông nhẫn lòng xua đuổi tôi đi?
Sa-ra, lệnh bà ơi!
Ghen chi ghen lắm hủy đời tôi nay

Rồi nàng khóc rống lên
Ít-ma-ên khóc giật giọng
Âm thanh chạm đến mây trời
Đức Chúa sai thần sứ xuống:
Can đảm lên, đừng sợ, Ha-ga ơi!
Hãy nâng đứa trẻ dậy
Nước uống đã có đây
Hãy cho nó uống gấp!
Nàng biết chăng:
Đức Chúa đã chọn nó từ lâu
Làm thành một dân tộc
Lang thang khắp sa mạc
Cung tên vút kín bốn phương trời.

Sáng Thế ký kể rằng:Ha-ga và Ích-ma-ên bị đuổi đi

Y-sác lớn lên và khi cậu bé đủ tuổi ăn thức ăn bình thường thì Áp-ra-ham bày một bữa tiệc lớn ăn mừng. Nhưng Sa-ra thấy đứa con, mà người nữ nô lệ Ha-ga đã sinh cho Áp-ra-ham, cười giỡn [a]10 Nên Sa-ra bảo Áp-ra-ham, “Ông hãy đuổi con nhỏ nô lệ nầy và con nó đi đi. Con nó sẽ không được hưởng chút gia tài nào hết; con tôi sẽ hưởng tất cả.”11 Lời yêu cầu nầy khiến Áp-ra-ham khó xử, vì nó cũng là con mình. 12 Nhưng Thượng Đế bảo Áp-ra-ham, “Đừng quá băn khoăn về đứa trẻ và người nữ nô lệ. Hãy làm theo điều Sa-ra yêu cầu. Dòng dõi mà ta hứa với con sẽ ra từ Y-sác. 13 Ta cũng sẽ làm cho dòng dõi của con trai người nữ nô lệ thành ra một dân lớn vì nó cũng là con trai con.”14 Sáng sớm hôm sau Áp-ra-ham lấy ít thức ăn và một túi da đựng đầy nước. Ông trao mọi thứ cho Ha-ga rồi đuổi nàng đi. Mang các thứ đó theo người, Ha-ga đi lang thang trong sa mạc gần Bê-e-sê-ba.15 Chẳng bao lâu, túi đựng nước cạn, Ha-ga để con mình dưới một bụi cây. 16 Rồi nàng đi một khoảng xa xa xong ngồi xuống. Nàng nghĩ, “Con tôi thế nào cũng chết. Tôi không có can đảm nhìn cảnh đau lòng nầy.” Nàng ngồi đó và òa khóc.17 Thượng Đế nghe tiếng đứa trẻ, nên từ thiên đàng thiên sứ của Thượng Đế gọi Ha-ga, “Ha-ga, có việc gì vậy? Đừng sợ! Thượng Đế đã nghe tiếng đứa trẻ đàng kia. 18 Hãy đến cầm tay đỡ nó dậy. Ta sẽ khiến dòng dõi nó thành ra một dân lớn.” 19 Rồi Chúa chỉ cho Ha-ga thấy một giếng nước. Nàng đến đó lấy nước đổ đầy bình cho đứa nhỏ uống.20 Thượng Đế ở cùng đứa nhỏ khi nó khôn lớn. Ích-ma-ên sống trong sa mạc và trở nên tay bắn cung rất giỏi”.

Nếu so sánh bài thơ với đoạn tường thuật của Sáng Thế ký, người đọc sẽ nhận ra những đặc sắc của ngòi bút Xuân Ly Băng.

 Xuân Ly Băng sáng tạo hẳn một tác phẩm mà không trói mình trong khuôn khổ của Sáng Thế Ký. Nhà thơ xây dựng riêng một hình tượng người phụ nữ của thơ mình. Thơ tự do làm cho hồn thơ Xuân Ly Băng trở nên khoáng đạt mạnh mẽ. Truyện được kể với tốc độ nhanh, đường nét miêu tả, dựng cảnh, thiết kế hành động nhân vật đầy sáng tạo (Ít-ma-ên khóc giật giọng/ Âm thanh chạm đến mây trời”. Người phụ nữ bị ruồng bỏ, xua đuổi, cô độc bồng con đi trong sa mạc đầy nắng, đối mặt với cái chết. Con người đau khổ ấy trở nên lớn lao và lẫm liệt. Nàng Ha-ga được khắc tạc trong không gian, thời gian và tình huống, với chiều cao “chạm đến mây trời” và trải ra chiều rộng “bốn phương trời”. Nàng tiếp cận được với Đức Chúa, và Đức Chúa đã an ủi và cứu giúp nàng. Ẩn sâu dưới câu chuyện kể khách quan và con chữ tưởng như vô tình lại là tấm lòng của nhà thơ với con người đau khổ cô độc và niềm tín thác vào Chúa. Chúa lắng nghe và thấu hiểu, Chúa chở che và an ửi, Chúa còn làm những điều kỳ diệu mà con người không thể biết. Đức Chúa nói với Ha-ga rằng Ngài đã chọn con nàng, dù nàng chỉ là nô tỳ, để “Làm thành một dân tộc/ Lang thang khắp sa mạc/ Cung tên vút kín bốn phương trời.”

Chuyện của Haga là truyện của Sáng Thế Ký. Chuyện của Thánh Phanxicô Xavie là đời thực:

Lời Chúa Trên Đại Dương
(Kính nhớ Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận)

Có những con hải âu soãi cánh,
Bay sà xuống ngỡ ngàng,
Hơn một lần,
Trên đại dương,
Để nghe lời Kinh Thánh,

Từ một chiếc thuyền nan.
Và những đám mây chiều,
Chụm đầu trên hải đảo cô liêu,
Khi nghe reo lên một hồi chuông nhỏ,
(Dù cuộc hành trình còn dang dở)
Để nghe lời Chúa Tình Yêu,
Từ một người bé nhỏ.
Và những đợt sóng bạc đầu,
Bỗng một ngày thấy mình sáng láng,

Oà kìa, cây Thánh giá
Xuất hiện trên bầu trời,
Khi một người khách lạ,
Nói về Chúa Ba Ngôi
Cho chim cho cá,
Cho người thổ dân nghèo đói tả tơi.
Hỡi người con của lâu đài Navarre,
Thừa vinh quang phú quý,
Thừa gấm vóc lụa là,
Thừa học vấn cao xa,
Đã bỏ mình cô đơn trên hoang đảo.

Hôm nay đây,
Trên độ dày lịch sử,
Tôi thấy người hiện ra
Trên nhật nguyện thành Goa,
Trên đại dương đầy dông bão,
Trên sương mù eo biển Ma-lắc-ca,
Trên vườn đào của xứ Mặt trời thức giấc.

Với đàn hải âu, tôi kính chào Người,
Với mây biển muôn màu, tôi hát bài ca đẹp nhất,
Với sóng bạc trùng dương,
Tôi vỗ tay reo,
Hỡi Phanxicô loan Tin Mừng Cứu độ.

Chỉ có vài chi tiết trong bài thơ giúp người đọc nhận ra Phanxicô Xavie: Ngài là người con của lâu đài Navarre (miền bắc Tây Ban Nha), truyền giáo ở Goa (Ấn Độ 1542), ở xứ Mặt trời (Nhật)… Và người “Đã bỏ mình cô đơn trên hoang đảo”(Xavie chết trên đảo Thượng Xuyên, ngay cửa khẩu Quảng Châu khi chờ thuyền lén vào Trung Quốc).

Xuân Ly Băng sáng tạo hẳn một hình tượng Phaxicô Xavie trong không gian và thời gian cao rộng tráng lệ. Nhà thơ không kể “thành tích” truyền giáo của Xavie. Cũng không kể như “hạnh các thánh”. Xavie hiện lên là một người khách lạ, một người bé nhỏ, vây quanh là Có những con hải âu soãi cánh, một chiếc thuyền nan, đám mây chiều, Và những đợt sóng bạc đầu để nghe Lời Kinh thánh, để nghe lời của Chúa Tình Yêu. Bài thơ mở rộng lên cao bằng một hình ảnh đẹp đến lạ lùng: “Và kìa, cây Thánh giá/ Xuất hiện trên bầu trời,/ Khi một người khách lạ,/ Nói về Chúa Ba Ngôi/ Cho chim cho cá,/ Cho người thổ dân nghèo đói tả tơi.” Xavie có sức thu hút tất cả đến với mình để nghe Kinh Thánh, và cũng chính Lời Tình yêu từ Xavie có sức làm biến đổi mọi tạo vật:

Và những đợt sóng bạc đầu,
Bỗng một ngày thấy mình sáng láng,

Sóng bạc đầu trên biển là sóng dữ, nhưng sau khi nghe Lời Chúa Tình Yêu, nó tự nhận thấy mình sáng láng. Sóng trở nên đẹp hiền hòa rạng rỡ, không còn là sóng dữ. Khám phá được một hình ảnh diễn tả sự cảm hóa của Tin Mừng với tạo vật như vậy không phải người làm thơ Công giáo nào cũng có thể đạt tới.

Hình tượng Xavie còn được tô đậm hơn nữa trên nền thiên nhiên tráng lệ giàu ý nghĩa biều tượng và chiều sâu lịch sử, nhờ thế “người khách lạ, một người bé nhỏ” trở nên thân thiện và kỳ vỹ :

Hôm nay đây,
Trên độ dày lịch sử,
Tôi thấy người hiện ra
Trên nhật nguyện thành Goa,
Trên đại dương đầy dông bão,
Trên sương mù eo biển Ma-lắc-ca,
Trên vườn đào của xứ Mặt trời thức giấc.

Khổ thơ gồm những câu thơ ngày càng dài ra như là một bức tường thành đang xây lên, sự khẳng định tầm vóc Xavie ngày một bề thế vững chãi và vươn dài hơn trong lịch sử và thời đại.

Với đàn hải âu, tôi kính chào Người,
Với mây biển muôn màu, tôi hát bài ca đẹp nhất,
Với sóng bạc trùng dương,
Tôi vỗ tay reo,
Hỡi Phanxicô loan Tin Mừng Cứu độ.

Nhân vật  Tôi (nhà thơ) cũng đẹp trong không gian cao rộng (biển mây, trùng dương sóng bạc) giữa muôn loài hội tụ đầy màu sắc, thanh âm reo vui hân hoan. Tôi trong bài thơ này thật mới lạ so với Thơ Lãng mạn.

 Viết về thánh Phaxicô Xavie để “Kính nhớ Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận”, hẳnTác giả muốn làm sống lại hình ảnh Đức Hồng Y Fx Nguyễn Văn Thuận trong lòng người đọc Công giáo hôm nay? Đức Hồng Y Fx Nguyễn Văn Thuận cũng là người rao giảng tin Mừng trong mọi hoàn cảnh, và ngài, bằng sức mạnh của Tin Mừng, đã cảm hóa mọi người đến với ngài như Xavie. Xuân Ly Băng đã khẳng định tầm vóc lịch sử và thời đại của ngài.

NÓI VỚI NGƯỜI TRẺ

          Đức cha Giuse Vũ Duy Thống giải thích bút danh Xuân Ly Băng: “Xuân Ly Băng quả là ”Mùa Xuân trên núi Li Băng”. Vừa mượt mà tươi xanh, vừa nhẹ nhàng trìu mến …” Mùa xuân ấy một mùa xuân mầu nhiệm, rất diệu huyền và rất đổi anh hoa ”…”Xuân Ly Băng là một cuộc đời đã làm nên Mùa Xuân cho mình và không ngừng kiến tạo Mùa Xuân cho những người mình gặp gỡ…” (gpphanthiet.com)

Đức Ông Xuân Ly Băng chia sẻ với Lm – nhà thơ Trăng Thập Tự điều tâm huyết của mình: “Cha phải tìm kiếm những mầm non trong Hội Thánh để nối dõi tông đường: Liên lạc gặp gỡ nhau, vun trồng, nâng đỡ nhau về thi ca và về đức tin. Có thế ta mới làm tròn nhiệm vụ Chúa trao phó và đáp ứng điều Hội Thánh chờ đợi.”

Nhà thơ Xuân Ly Băng đặc biệt lưu ý: “Làm thơ là sáng tạo. Khi Xuân Diệu viết: “Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm”, Tản Đà đòi lôi ra chém vì Xuân Diệu dám bảo mặt trời đi ngủ. Thế nhưng làm thơ là phải vậy, phải sáng tạo.”  

Người làm thơ “cần hai chữ thành thực và khiêm nhường, đừng tự tôn vinh mình. Thời gian sẽ sàng lọc và đào thải những gì không phải là thơ.[4]

Tôi tâm đắc hai điều trong ý thức sáng tạo của nhà thơ Xuân Ly Băng. Đó là: làm thơ là sáng tạo và sự sàng lọc “những gì không phải là thơ”.

Nhiều người làm thơ Công giáo chỉ chú ý đến nội dung giáo huấn mà không nỗ lực sáng tạo (làm ra cái mới nghệ thuật), thành ra thơ rất cũ. Người làm thơ không biết rằng mình đang làm ra những thứ “không phải thơ”, tất nhiên những gì không phải là thơ sẽ bị đào thải.

Xuân Ly Băng đã góp vào thi ca Công giáo và thi ca dân tộc những hình tượng mới như hình tượng người phụ nữ bồng con đi trong sa mạc (Ha-ga và It-ma-ên), hình tượng Xavie, con người bé nhỏ giảng Kinh thánh cho muôn loài trên hoang đảo giữa biển khơi (Lời Chúa trên đại dương); làm mới hình ảnh thiên nhiên trong thơ so với thơ cổ điển và Thơ Mới, đem vào thơ một Cái Tôi mới (khác với Cái Tôi trong thơ Lãng mạn và thơ Hiện thực xã hội chủ nghĩa); Đem vào thơ cái nhìn mới của Kinh Thanh về vạn vật về cuộc đời (Mỹ học Thiên Chúa giáo): Tất cả đều đẹp, đều tốt tươi; và thay thế hồn thơ bi thiết của Hàn Mặc Tử bằng một hồn thơ trong veo hân hoan kết nối với trời cao.

Chỉ một tiếng chuông ngân cũng dạt dào cảm xúc thơ mới mẻ và thánh thiện.

Bỗng nghe một tiếng chuông buông
Xa xôi tự tháp thánh đường nào đây!
Vang lên cao vút tầng mây
Rồi ngân nhè nhẹ như ngây ngất lòng…

…Bắc cầu nối ý xa khơi
Hồn tôi với lại nước trời xa xăm

                         (Chuông chiều)

Tháng 5/ 2020

________________

[1] tường thuật của Lm Giuse Nguyễn Hữu An:

https://sites.google.com/site/giadinhpherokhoa/co-cau-to-chuc/Gii-thiu/dhuc-ong-j-b-le-xuan-hoa

[2] hiện các sáng tác của Đức ông Xuân Ly Băng chưa được tập hợp đầy đủ:

-Phan Chính cho biết: Xuân Ly Băng có 25 tập thơ, trên 120 bài thơ phổnhạc:

-Lm Giuse Nguyễn Hữu An: Ngài đã sáng tác 12 tập thơ đạo đời (đd 1]

-Nguyễn Quân TT, VRNs tường thuật Buổi ra mắt tác phẩm nhà thơ Xuân Ly Băng vào lúc 18g 15 phút chiều qua, ngày 13.02.2012 cho biết: Xuân Ly Băng có gần 30 tập thơ và hơn 1000 bài thơ:

                  (chuacuuthenews.wordpress.com › 2012/02/14 › xuan-ly-bang.)

Nhà thơ An Thiện Minh trong Thánh lễ “Tưởng niệm Đức ông – Nhà thơ Xuân Ly Băng” ngày 17.8.2017, tại Trung tâm Mục vụ TGPSG cho biết: Xuân Ly Băng có 27 thi phẩm, tổng cộng trên 1000 bài thơ; 1 kịch; 4 tác phẩm dịch; 4 bản thảo bị thất lạc. Có trên 120 bài thơ đã được phổ nhạc:

https://tgpsaigon.net/bai-viet/tuong-niem-duc-ong-%E2%80%93-nha-tho-xuan-ly-bang-48029

[3] Xuân Ly Băng trả lời Trăng Thập Tự ngày 25/8/1988:

https://www.tgpsaigon.net/bai-viet/xuan-ly-bang-hon-tho-va-tam-long-muc-tu-48041

[4] https://www.tapsanmucdong.net/2017/07/xuan-ly-bang-loi-ngo-cho-em-tho.html

THƠ TRĂNG THẬP TỰ

Những khuôn mặt thơ Công giáo đương đại

NHÀ THƠ TRĂNG THẬP TỰ

Bùi Công Thuấn

 

Nẻo quỳ hoa

***

            Khi tôi viết những dòng này thì nhà thơ đã “ném thơ” của mình đi để theo Chúa, bởi làm thơ, kéo lùi nhà thơ lại.

Lên dốc theo Ngài không kịp thở,

Mồ hôi nhễ nhại bước bơ thờ.

 

Những phút đứng làm thơ nhiếp ảnh

Kéo ghì tôi tụt lại thật xa.

Thì ném liều cả ảnh lẫn thơ

            (Leo núi-Trăng Thập Tự)

Nhà thơ Trăng Thập Tự có thể bỏ thơ mà đi, nhưng thơ của người thì vẫn còn đó. Một cõi thơ đẹp, đầy sáng tạo, hào sảng và giàu phẩm chất tư tưởng

MỘT NGƯỜI SAY MÊ HOẠT ĐỘNG NGHỆ THUẬT

            Trăng Thập Tự là bút danh của Linh mục Võ Tá Khánh. Trong bài “Dùng văn chương để loan báo Tin Mừng”[1], tác giả Thiên Lý đã viết khá đầy đủ về hoạt động văn chương của ngài. Điều đặc biệt là ngài không chỉ làm thơ để loan báo Tin Mừng. Văn học Công giáo từ khởi nguồn đến nay đã có truyền thống rao giảng Tin Mừng. Linh mục Võ Tá Khánh còn có khát vọng quy tụ những tác giả Công giáo, quy tụ đội ngũ viết văn trẻ, sưu tập các tác phẩm văn chương Công giáo để ghi khắc cho được được diện mạo văn chương Công giáo đương đại và ươm mầm một nền văn học Công giáo tươi tốt trong tương lai. [2]

Đây là một sự nghiệp to lớn của cả Giáo hội, của nhiều thế hệ những người có tâm huyết và cần nhiều công sức mới có thể làm được, bởi mục tiêu của Mục vụ văn hóa là: “…Con đường của những nhà rao giảng Tin Mừng là làm cho đức tin Kitô giáo trở nên một thành phần của di sản văn hoá của một dân tộc”[3]. Văn học Công giáo trong lòng dân tộc chưa làm được nhiệm vụ này.

Lm Võ Tá Khánh nhận rõ một thực tại: “ Đại chúng Dân Chúa sở dĩ lãnh đạm với công việc mục vụ Văn hóa chỉ là do không ai nói cho họ hiểu tầm quan trọng của văn học nghệ thuật trong việc loan báo và bồi dưỡng đức tin. Nếu các linh mục và tu sĩ quan tâm hơn và giải thích cho giáo dân biết, chắc chắn mọi sự sẽ khác hẳn.”[4]

Trong lời giới thiệu tập thơ Kinh Trong Sương (28/3/2008), Lm Võ Tá Khánh đã lên tiếng kêu gọi khẩn thiết:

“Chao ôi! Kinh trong sương, sách đạo chết đắm trong sương mù!

Chao ôi! Hội Thánh Việt Nam này sẽ đi về đâu khi các tầng lớp Dân Chúa không còn đọc sách?

Con tha thiết kính xin tất cả quý vị có mặt ở đây từ Đức Tổng, quý Đức cha, quý Cha, quý Khách cho đến những anh chị em nhỏ nhất, hãy gào thét lên cho mọi người đọc sách, cho mọi giáo xứ đều tổ chức hội thi đọc sách, cho mọi bậc cha mẹ đều sắm tủ sách gia đình…

Với lời kêu cứu khẩn cấp ấy, con xin trân trọng giới thiệu tuyển tập Kinh trong sương”.

Sau Hàn Mặc Tử công chúng không thể nhận ra một khuôn mặt nào của Văn chương Công giáo đương đại.

Có hai nguyên nhân chính là: các tác giả Công giáo chỉ sáng tác để loan báo Tin Mừng trong phạm vi Giáo hội (ngay cả trong phạm vi này cũng có mấy người đọc! Bởi họ đã nghe rao giảng Tin Mừng hàng ngày trong nhà thờ rồi), và Giáo hội không có bất cứ hoạt động văn chương nào có tầm vóc quốc gia để nghiên cứu, giới thiệu, quảng bá tác giả và tác phẩm văn chương Công giáo. Và vì thế những nhà nghiên cứu có muốn viết về văn chương Công giáo đương đại, cũng khó tìm đâu ra tác giả tác phẩm thực sự có giá trị tư tưởng và nghệ thuật.

Nhìn ở góc độ này, bạn đọc mới thấy được những nỗ lực hoạt động văn chương của linh mục Võ Tá Khánh (sáng kiến tổ chức các hình thức sinh hoạt để tập họp các cây viết, in ấn tác phẩm…) là rất đáng quý,…

…tuy rằng ngài vẫn một mình đơn độc trên con đường vạn dặm.

Võ Tá Khánh

Bùi Công Thuấn – Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh (Song Nguyễn) -Lm Trăng Thập Tự

PHẨM CHẤT TÀI HOA THI SĨ

Trong bài tựa cho tập thơ Có ai về Cát Minh (tuyển tập thơ 1963-2004), Lm nhà thơ Trăng Thập Tự đã kể lại hành trình tâm linh và cội nguồn thi ca của mình. Tôi xin không nhắc lại. Tuy nhiên, tất cả những gì đã viết về thơ Trăng Thập Tự mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu một tác giả.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Vy Khanh viết: Trăng Thập Tự “tác giả Tâm Tình Tu Viện (1969), Điệu Buồn Học Trò (1971), Có Ai Về Cát Minh (tuyển tập Thơ 1963-2004), v.v… Qua thơ, Trăng Thập Tự đã để hồn mình nhập vào Thánh Kinh, cầu nguyện với lời thánh thiện, diễn tả sự vật và biểu hiện tâm cảm qua lăng kính của Đức Tin.”

Nhà nghiên cứu Lê Đình Bảng trong Văn học Công giáo Việt Nam, những chặng đường (2010), viết về Trăng Thập tự vỏn vẹn như sau: “Trăng Thập Tự: Trường ca Anrê Phú Yên, Tiên tri, Quỳ hoa, Khúc linh ca (2003), Có ai về Cát Minh (2005.)

Nếu chỉ giới thiệu như vậy thì đâu là phẩm chất thi sĩ của Trăng Thập Tự, khuôn mặt thơ Trăng Thập Tự có những đường nét góc cạnh gì, và thơ Trăng thập Tự có những đóng góp gì cho sự phát triển của thơ Công giáo từ truyền thống đến đương đại?

Tôi thử tìm hiểu những phẩm chất thi sĩ của Lm Trăng Thập Tự trong Nẻo Quỳ Hoa (tuyển tập thơ 2005-2015).

Tuyển tập này gồm các tập thơ nhỏ Nẻo Quỳ hoa (24 bài), Diễm Ca (8 chương), Những khúc ai ca (5 khúc ca), 20 Mầu nhiệm Mân Côi, Đây lòng Chúa xót thương (14 bài), Nhật ký cho Mẹ (21 bài), và Ghetsêmani (68 bài).

Nội dung thơ khá phong phú. Nhà thơ quan tâm đến các Linh Mục, ngợi ca Đức Mẹ, suy nghiệm về Lòng Chúa thương xót, diễn ca Kinh thánh, khám phá về phẩm hạnh các thánh (Thánh Vinh Sơn Phao lô, thánh Phan xi cô nghèo, thánh nữ Anna). Trong Nẻo Quỳ hoa có cả thơ tự tình (bài Hương cũ) và thơ viết về những chuyện đời thường như sự việc tượng Đức Mẹ Sài gòn khóc, về Đức Tổng Ngô Quang Kiệt (bài Kính chào Môsê, Đêm Giuse), về dân oan khiếu kiện, những ngư dân bị tàn hại trên biển Đông (Dụ ngôn Mẹ), về một Linh mục bị bắt đi (Ghetsêmani 16). Tác giả cũng đối thoại với Thiền sinh trên đường pháp nạn, với anh em Tin Lành và tiễn biệt những người bạn được Chúa gọi về (Lm Trần Cao Tường, một nữ tu già)…Dù viết về đề tài nào, tiếng nói của nhà thơ luôn là tiếng nói thuộc về chân lý đầy tính thuyết phục. Tiếng nói ấy trở thành thơ vì được viết bằng Mỹ học Thiên Chúa giáo, tư tưởng Nhân văn Công giáo, ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần và phẩm tính tài hoa của thi sĩ.

Mỹ học Thiên Chúa giáo là ý thức về Cái Đẹp mang thuộc tính Thiên Chúa. Trong Sáng Thế Ký, sau khi sáng tạo vũ trụ và muôn loài, “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp”. Và “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa”. Mỹ học Thiên Chúa giáo nhìn ra cái đẹp trong vạn vật, trong con người, cái đẹp ấy xuất phát từ Thiên Chúa. Cái đẹp ấy có chiều kích cao rộng chói lòa trên núi Taborê, cái đẹp hiện sinh sâu thẳm của Đức Giêsu trong vườn cây dầu, cái đẹp hùng tráng bậc nhất của Ơn Cứu Độ trên đỉnh Núi Sọ và cái đẹp huy hoàng chiến thắng sự chết của Chúa Phục sinh. Thơ Trăng Thập Tự được chiếu rọi bởi ánh sáng Mỹ học ấy. Những bài hùng tráng nhất, sáng tạo nhất, tứ thơ đẹp nhất, ngôn ngữ gân guốc, khí thơ mạnh mẽ và hào sảng nhất của Trăng Thập Tự đều thấm đẫm ánh sáng Mỹ học ấy (Xin đọc: Khải huyền ca chiếc thuyền thúng, Đêm Giuse, Biển Khơi, Ra Khơi, Thiếu phụ hoa vàng, Ngày chinh phu trở về, Lời bão nổi, Cội và mầm, Trang kinh của Mẹ, Bản hòa âm Ba Ngôi, Kính chào Môsê… Rất tiếc trong phạm vi một bài viết nhỏ tôi không có điều kiện đọc riêng từng bài. Xin dành cho bạn đọc yêu mến thơ Trăng Thập Tự)

Cái đẹp của thơ là cái đẹp cổ điển nhưng rất mới lạ

Mười lăm năm thấy chàng về,

Nàng dâng nửa mảnh gương thề trong khăn.

Mười lăm năm vết xe lăn,

Khôn nguôi cầm sắt, khôn ngăn cầm kỳ.

Mười lăm năm ấy nói gì ?

– Mười lăm năm lại hái quỳ tặng nhau.

                                (15 năm ấy)

Vẻ đẹp vừa cổ điển, vừa lãng mạn:

Dõi tìm theo dấu hừng đông,

Kìa ai giặt áo ven sông nở vàng.

Vàng trôi vàng rủ nhau sang,

Ngước lên sáng rực trường giang một màu.

                 (Thiếu phụ hoa vàng)

Một tầm nhìn vượt thời gian, vượt không gian

Bỗng dưng trên bước đường lịch sử

Người biến về đâu, chẳng ai hay.

Sử gia ngơ ngác tìm muôn nẻo,

Hạc vàng chẳng thấy, thấy mây bay.

(Kính mừng thánh Vinhsơn Phaolô)

Vượt lên trên cái đẹp ngôn từ, cái đẹp của tứ thơ là sự sáng tạo những câu chuyện, những hình tượng thơ mà trước đó chưa có trong thơ Hàn Mặc Tử. Những hình tượng này mang nét đẹp của Cựu Ướcc và Tân Ước, cũng đồng thời chứa đựng những tố chất của thơ Việt. Năng lực sáng tạo của thi nhân thật dồi dào. Nghệ thuật kể chuyện thật sinh động hấp dẫn, tứ thơ mới lạ và giọng thơ thật hùng tráng. Xin đọc: Trang kinh của Mẹ, Khải huyền ca chiếc thuyền thúng, Ra khơi…

Lý Sơn, ô kìa mặt trời lên

Giữa mênh mông Thái Bình

Mặt trời đã phục sinh

Mặt trời đang thức dậy

Nhuộm biển sáng lung linh

Cho những thuyền lướt sóng

Cũng theo mặt trời lên

Thuyền đã vượt qua đêm

Thuyền hòa trong ánh sáng

Thuyền mơ.

Lý Sơn, đang khi ta không ngờ

Em vượt khơi từ bao giờ

Để sáng ngày rộn rã

Em giong thuyền về

Cho ta đón cá vào bờ.

Lý Sơn đoàn thuyền thơ

Hòa lẫn với mặt trời

Đang chói chang trở lại ..”

(Ra khơi)

“…

Với chiếc gậy chăn chiên

Người biến Pharaô thành trò cười cho thiên hạ

Ếch nhái chết ngập cung đình

Để toàn dân biết cung đình thối tha bẩn thỉu

Lửa cháy dinh Pharaô

Cho lòi mặt chuột nhắt chuột chù chuột cống.

Gậy nhúng xuống Ninh giang cuồn cuộn

Tố cáo máu dân lành căm hờn đỏ quạch sông Hồng

Với chiếc gậy chăn chiên

Người truyền giết chiên lấy máu bôi lên cửa

Làm nên đêm lẫy lừng khắp Ai Cập thất thanh

Và Dân Chúa xuất hành theo nhịp trống

Đêm rực lửa toàn châu Phi chấn động

Giương mắt nhìn Dân Chúa ra đi

Giã biệt cảnh đời nô lệ.

Với chiếc gậy chăn chiên

Người xẻ đôi lòng biển

Kiến tạo trong phút chốc một xa lộ mười mấy làn đường

Cho Đại Hội Dân Chúa băng qua như vũ bão …”

(Kính chào Môsê)

 NHÀ THƠ TƯ TƯỞNG

            Đặc sắc của thơ Trăng Thập Tự là tư tưởng. Nhà thơ không làm thơ để phản ánh hiện thực hay bày tỏ thái độ trước cuộc sống, dù rằng phản ánh hiện thực là thuộc tình của văn chương và tác phẩm luôn là diễn ngôn của tác giả. Trăng Thập Tự kết hợp tư tưởng Thần học với suy nghiệm hiện sinh của chính mình, từ đó vươn lên cõi cao rộng của ánh sáng, vượt qua bóng tối và sự chết, vượt qua những bộn bề nhiễu nhương oan khiên của hiện thực.

Từ góc nhìn này, thơ Trăng Thập Tự đã vượt qua tư tưởng Phật, Nho, Lão trong Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh-Nguyễn Du), trong Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiêu) cả trong quằn quại đau thương tuyệt vọng trong thơ Hàn Mặc Tử.

Xin đọc:

Thơ Hàn Mặc Tử nói về cái chết thương tâm và tuyệt vọng:

Một mai ở bên kia khe nước ngọc,

Với sao sương, anh nằm chết như trăng.

Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc,

Đến hôn anh và rửa vết thương tâm.(Duyên kỳ ngộ)

Tiễn biệt Linh Mục Trần Cao Tường, Trăng Thập Tự viết những câu thơ mà tư tưởng thật mới lạ so với thơ cổ điển viết về cái chết. Cái chết là hoan ca phục sinh. Cái chết cũng là cánh hạc mênh mông trời cao

Vẫy tay vời cánh hạc

Hẹn bên hồ Phục Sinh

Nghe câu hò Dũng Lạc

Hát khúc ca biến hình.

(Tiễn biệt cha Anrê Dũng Lạc Trần Cao Tường)

So sánh với tư tưởng hư vô trong Cung Oán ngâm khúc:

Trăm năm còn có gì đâu

Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì”

Cũng vậy, trong Chinh Phụ ngâm (Đặng Trần Côn-Đoàn Thị Điểm), hình ảnh người chinh phu nằm phơi xác giữa chiến trường trong đêm trăng thê lương, bi đát biết bao nhiêu:

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi

Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi”

Đây là hình ảnh tuyệt đẹp của chinh phu trong thơ Trăng Thập Tự

“…Chàng đi từ độ hè sang,

Hẹn ngày lấp lánh vinh quang lại về.

Chàng đem theo một lời thề,

Cho em ở lại một bề sắt son.

Đăm đăm mắt dõi chưa mòn,

Thoắt đâu đã thấy nước non rộn ràng.

Quỳ hoa đã rộ ven đàng,

Hoàng oanh báo tiệp tin chàng về xuôi.

Vàng tươi ai dệt vàng tươi,…”

            (Ngày chinh phu trở về)

Và đây là đối thoại trực diện với Thiền:

Em đi, đi về đâu? 

Khi vừa xanh mái đầu

Vội quy y xuống tóc

Dõi hành trình vô ưu.

 

Ai đưa em qua cầu

Cầu chỉ có một đầu

Bờ kia xa tít tắp

Trước mặt là vực sâu.

(Em về đâu? -Mến tặng các Thiền sinh Bát Nhã trên đường pháp nạn)

Tứ thơ: Ai đưa em qua cầu/ Cầu chỉ có một đầu / Bờ kia xa tít tắp/ Trước mặt là vực Sâu vừa là cái nhìn tư tưởng về con đường giải thoát vừa là tình cảm yêu thương trân trọng, xẻ chia những bi kịch của kiếp người. Con đường của Thiền sinh là con đường tu tập Bát chánh đạo, để đạt tới Tánh Không là sự giải thoát. Con đường ấy như cây cầu chỉ có một đầubờ kia xa tít tắp. Nhà thơ gợi ý một con đường cũng là cầu đưa ta qua vực sâu.

 Và đây là tư tưởng của Trăng Thập Tự: Tư tưởng thần học Thiên Chúa giáo kết hợp với trải nghiệm hiện sinh của riêng mình:

Đưa tay chạm phím tơ lòng,

Mà nghe réo rắt suối trong đầu nguồn.

Lần tay theo mạch trào tuôn,

Sông dào dạt nhạc, sóng cuồn cuộn thơ

Con nương theo phím tơ đồng,

Mà rung theo nhịp tiếng lòng Ngôi Con,

Thánh Thần hoà khúc véo von,

Hội chung trời đất vuông tròn trong Cha.

                     (Bản hòa âm Ba Ngôi)

Có nhiều bài thơ Trăng Thập Tự gần với Kinh Hoa Nghiêm (Phật giáo) nhưng khác về chất. Hoa Nghiêm nhìn vạn vật dù trong vô thường vẫn có Phật tính (Tánh Không). Trăng Thập Tự nhìn thấy cái đẹp của vạn vật trong tầm vóc cao rộng, sống động vĩnh cửu của Đấng sáng tạo.

Đưa con trên cánh đại bàng,

Tuôn mây dệt sóng, mênh mang nắng chiều.

Dìu con trên đỉnh cô liêu,

Bao la biển trắng, phiêu diêu đóa hồng.

Này không này bềnh bồng,

Mà chan ơn phúc mênh mông đất trời.

Không” và “” ở đây không phải là vô thường mà “chan ơn phúc mênh mông đất

 trời”. Tư tưởng này đẹp hùng vĩ biết bao.

Một hình ảnh tư tưởng khác:

Quỳ muộn hay quỳ sớm quá đây?

Cho lòng bỡ ngỡ, mắt ngây say!

Giữa ngàn lá biếc xanh xưa ấy,

Lạc một đóa vàng rực sáng nay.

                         (Quỳ lạ)

Nhà thơ ngạc nhiên trước một đóa quỳ lạ nở trong ngàn lá biếc xanh. Cái nhìn ấy không khác gì cái nhìn của Thiền sư Mãn Giác trong bài Thị Kệ: “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/ Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”(Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết; Đêm qua, sân trước một nhành mai.) Nhành mai của Mãn Giác là nhành mai giác ngộ của Ana Ca Diếp (Niêm hoa vi tiếu-Thiền thoại), còn đóa quỳ trong ngàn lá biếc xanh lại là “vô ngôn” của Chúa nói trong tâm thức nhà thơ:

Tôi bước tình cờ đâu biết hẹn,

Hoa chờ bất chợt có ai hay.

Ai hay trong vẻ vô tình ấy

Chúa nhắc riêng tôi chuyện những ngày.    

            Những tứ thơ tư tưởng như thế đọc thật thú vị. Thú vị hơn nữa là trong thơ Trăng Thập Tự có rất nhiều những tứ thơ tư tưởng mới lạ (xin dành cho bạn đọc tự thưởng thức)

Tôi đặc biệt chú ý đến những tứ thơ tư tưởng khi nhà thơ nói về TRĂNG, về ĐÊM, về sự thinh lặng và về Ghetsêmani  (16 bài Ghetsêmani).

Trăng là nghệ thuật và cũng là Thập tự (Ghetsêmani 11; Biển khơi)    

Trăng trút linh hồn, trăng rỉ máu,

Đọng xuống lòng đêm một chén sầu.

Đón lấy trao về Con Yêu Dấu,

Nhìn Con, Cha chẳng dám nhìn đâu (Ghetsêmani 11)

***

Thuyền ai đó, thuyền ai cuối bãi

Chở đầy trăng nhắm hướng mặt trời

Này thuyền có xuôi dòng sông chảy

Thì cho em về với biển khơi. (Biển khơi)

 Đêm là hình ảnh ẩn dụ rất đa nghĩa chứa đựng tư tưởng, với Trăng Thập Tự, đêm không phải là bóng tối tuyệt vọng mà đêm dẫn về ánh sáng

Đêm lắng xuống, đêm dày chất chứa,

Đêm dương gian, đêm cả cõi lòng.

Đêm hẹn hò tiếng hát hừng đông,

Đêm khải thị, đêm chờ, đêm đợi.

Lạy Thánh Tử, xin Ngài mau tới

(Đêm Ma Lâm)

Đêm về chiếc thuyền nhỏ/

Lao đao ngoài biển khơi. /

Sóng gió dập tơi bời, /

Các môn đồ kiệt sức.

            (Quỳ đằng sau)

Xin ngợi ca

Đêm thăm thẳm mịt mù

Đêm dẫn vào cõi sáng thiên thu

Như có Lời đã viết

(Đêm Giuse)

Ghetsêmani (16 bài) chứa đựng tư tưởng sâu xa nhất của Trăng Thập Tự. Kinh Thánh thuật lại Chúa cầu nguyện trong vườn Ghetsêmani. Đó là thời khắc hùng vĩ nhất của Đức Giêsu trong thân phận con người hiện sinh: cô đơn, bị phản bội, phải đối mặt với cái chết bi đát. “Người bắt đầu cảm thẩy hãi hùng xao xuyến. Người nói với các ông: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức” (Mc 14, 34-35). Và Người đã vượt qua hiện sinh trong một tư thế lẫm liệt: “Đứng dậy, ta đi nào!” (Mc 14, 42). Người vượt qua hiện sinh tiến đến vinh quang: “Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu.”(PI 2, 9). Không phải vô tình mà Trăng Thập Tự viết nhiếu bài suy tư về Ghetsêmani.

Dù con ngủ mệt nơi đây,

Lòng con vẫn ở bên Thầy đó thôi.

Sức con, Chúa đã biết rồi,

Tình con dù có nổi trôi theo dòng

***

Thì chén tình Cha con đón nhận,

Cho trăng vàng lại sáng đêm đêm.

Con xin uống trọn và hơn nữa

Cho trăng vòi vọi sáng tươi thêm

***

Ghetsêmani 16 ghi lại hình ảnh một Linh mục bị bắt đem đi như ngày xưa Chúa bị người Do Thái bắt đi đóng đinh.

Bỗng đâu đêm thức dậy ồn ào,

Bóng đen xô cửa đẩy nhau vào.

Đứng lên, Thầy hỏi lời đanh thép,

Cả bọn du côn suýt té nhào.

Chúng lùi một bước, tiến hai bước,

Trói tay, bịt mắt, dẫn Thầy đi.

Tôi muốn la lên nhưng khiếp nhược,

Rớt lại trong đêm, biết nói gì!

***

Xin thờ lạy nỗi cô đơn chí thánh

Giữa vườn khuya ướt lạnh vai gầy.

Con đến đây mong chia sẻ với Thầy 

Một giọt báu, giọt trích từ chén đắng.

                 (Ghetsêmani 12)

 

TRĂNG THẬP TỰ, NHÀ THƠ – LINH MỤC (thay lời kết)

Tôi gọi Linh mục Võ Tá Khánh là “Nhà thơ-Linh mục” bởi vì chất thi sĩ có trước phẩm tính Linh mục. Chất thi sĩ là yếu tố định vị một tác giả thơ là thi nhân. Còn phẩm tính Linh mục làm nên giá trị thơ.

Trăng Thập Tự làm thơ tự nhiên như hơi thở sự sống, và thơ cũng chính là hơi thở sự sống tinh tuyền của người thơ. Dù là các thể thơ truyền thống (Lục bát, Song thất lục bát, Thất ngôn, tứ tuyệt, Tứ tuyệt lục bát, truyện thơ) hay thơ tự do, ngòi bút thi nhân bay bổng tự nhiên như vốn dĩ tư duy và ngôn ngữ của người thơ là vậy. Cái Ta hòa vào đời sống tan vào tha nhân và vươn tới Thập giá, mà Thập giá lại ở ngay trong lòng mình, nhờ thế Cái Ta trở nên siêu việt.

Hừng đông thức giấc chân trời lạ,

Nhạc lặng, niềm riêng réo rắt ca.

Hương cũ dậy từ lòng thập giá,

Tình xưa đã mới lại trong ta.

             (Hương cũ)

Trăng Thập Tự đã làm mới thơ Công giáo và mở ra nhiều nguồn mạch cho thi ca Công giáo đương đại. Chẳng hạn sự kết hợp thi pháp thơ dân tộc (Thất ngôn, Lục bát, song thất lục bát, Tứ tuyệt…)[5] với Mỹ học Thiên Chúa giáo, việc soi rọi những hiện tượng xã hội dưới ánh sáng Kinh thánh (Kính chào Môsê, Đêm Giuse), việc sáng tạo những tứ thơ mới (Đức Mẹ khải huyền, Lời bão nổi), những hình tượng mới chiết xuất từ Cựu Ước và Tân ước (Thiếu phụ hoa vàng, Trang kinh của Mẹ), việc tái khám phác hình ảnh và đời sống Đức Giêsu (Người môn đệ được Chúa yêu, Xin đừng trốn nữa)… Điều ấy thật đáng quý.

Và Đây là Linh mục Trăng Thập Tự:

Tôi là Gioan Phêrô,

Môn đệ của Đấng đã chết mà vẫn sống,

Đấng có trái tim bằng lửa

Đấng đưa hai tay nắm hai đầu lịch sử,

Đấng bước trên sóng

Và thường bảo ra khơi thả lưới bên hữu thuyền…

(Khải huyền ca chiếc thuyền thúng)

Tháng 5/ 2020

______________

[1]https://www.vanthoconggiao.net/2018/01/dung-van-chuong-de-loan-bao-tin-mung.html

[2]. 5 quyển Có Một Vườn Thơ Đạo đã tập hợp được 187 tác giả thơ, tổ chức giải Đặng Đức Tuấn, Giải Viết văn đường trường (2012-2018); thực hiện Tuyển tập Văn thơ “Mục Đồng”, mỗi năm ấn hành 4 kỳ, mỗi tập khoảng 120 trang. [3]Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á (ECCLESIA IN ASIA của ĐGH J.Paul II)

[4]Thư chia sẻ ngày ngày 30-6-2017 của LM Võ Tá Khánh

[5]. Song thất lục bát xin đọc Những khúc ai ca. Thất ngôn mới (Ngõ Quỳ hoa). Tứ tuyệt (Khuất bóng mặt trời). Kết hợp với Thiền thoại (Trăng thu). Đúng chất thơ Trăng Thập Tự (Khải huyền ca chiếc thuyền thúng)

               

“LỊCH SỬ VĂN HỌC CÔNG GIÁO” VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ

LỊCH SỬ VĂN HỌC CÔNG GIÁO”  VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ

Bùi Công Thuấn

LSVGCG Jpeg

 

Xin đặc biệt ghi nhận các công trình Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam của Võ Long Tê (Nxb Tư Duy-Sài gòn 1965), Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường của Lê Đình Bảng (Nxb Tự điển Bách Khoa-Hà Nội 2010), những nghiên cứu của GS-Lm Thanh Lãng, của GS Nguyễn Văn Trung ở Sài Gòn trước 1975; và gần đây, chuyên luận Văn học Công giáo từ 1620 đến nay của TS-Lm Đaminh Nguyễn Đức Thông, trình bày trong hội thảo: Bốn trăm năm hình thành và phát triển chữ Quốc ngữ trong lịch sử loan báo Tin Mừng tại Việt Nam do Ủy Ban Văn Hóa trực thuộc Hội Đồng Giám mục Việt Nam tổ chức ngày 25-26/10/2019, tại Trung tâm Mục vụ TGP Sài Gòn. Có thể nói việc nghiên cứu lịch sử Văn học Công giáo Việt Nam đã đặt những nền móng vững chắc và khai mở nhiều con đường cho nhà nghiên cứu đi sau.

NHỮNG THÀNH TỰU

Nguyễn Đức Thông

            Cho đến nay, các nhà nghiên cứu Công giáo đã thống nhất được những chặng đường của lịch sử văn học Công giáo Việt Nam với những tác giả, tác phẩm làm nên diện mạo của một thời.

Tôi chọn chuyên luận Văn học Công giáo từ 1620 đến nay của TS-Lm Đaminh Nguyễn Đức Thông (2019) để khảo sát. Chuyên luận này kế thừa được những thành tựu nghiên cứu trước đó

Tác giả  phân chia các thời kỳ của lịch sử Văn học Công giáo như sau: (tóm lược)

  1. GIAI ĐOẠN CHỚM NỞ

Nền văn học có những đặc điểm: Về hình thức có chữ Hán, chữ Nôm và Quốc ngữ, về nội dung có kinh nguyện, giáo lý, truyện tích, giáo sử, quốc sử, ngữ pháp, từ điển, văn thư, tường trình và thi ca. Tác giả là các giáo sĩ, thầy giảng và giáo dân.

Các tác giả chữ Nôm:

  1. Majorica (1591-1656): 48 tác phẩm văn xuôi chữ Nôm (ông viết nhiều tiểu

sử các thánh như Thánh tổ Inhatiô, thánh Phanxicô Xaviê, Á Thánh Phanxicô Borgea, bà Thánh Engrace, Olaya, các bà thánh đồng trinh như Agnès, Cécile, Agathe …)

2.Thầy Gioan Thanh Minh (1588 – 1663): 15 tác phẩm hạnh các thánh

3.Thầy Phanchicô (?-1640) sáng tác kinh “Cảm tạ niệm từ” (“Phục dĩ chí tôn”)

  1. Mẹ con bà Catarina: soạn nhiều Kinh nguyện
  2. Lm.Lôren Huỳnh Lâu (1656 – 1712) Tác phẩm Inê tự đạo vãn (546 câu thơ

lục bát & Song thất Lục bát) là trường ca đầu tiên được dịch sang các tiếng Anh, Pháp, Latinh

  1. Lm. Lữ Y Doãn (1613 – 1678) Sấm Truyền Ca (1670) gồm 3596 câu thơ

lục bát, ngang tầm Chinh Phụ Ngâm Khúc, Kim Vân Kiều.

Các tác giả viết bằng Chữ Quốc Ngữ

  1. Lm. Alexandre de Rhodes, 1593-1660: Phép giảng tám ngày (1651)
  2. Lm. Felippe Do Rosario Bỉnh (1759 – 1833) viết 27 quyển sách bằng văn xuôi Quốc ngữ bàn về những vấn đề thần học, triết học, lịch sử thế giới cách thấu tình đạt lý. Sách Sổ Sang chép các việc(1822) đã được Lm Thanh Lãng giới thiệu.
  3. Lm. Đặng Đức Tuấn (1806 – 1874): Nổi bật nhất là Văn tế các đẳng.
  4. Thánh Philipphê Phan Văn Minh (1815 – 1853): Phi năng thi tập.1842
  5. Phêrô Phạm Trạch Thiện (1818 – 1903) dịch Cảm tạ niệm từ sang chữ Quốc

ngữ gọi là Kinh cao sang 90 câu lục bát…,

  1. Lm. Phêrô Trần Lục (1825 – 1899): Hiếu tự ca (1088 câu thơ song thất lục bát) ; Nữ tắc thường lễ (1016 câu thơ lục b) ; Nịch ái vong ân (440 câu)
  2. Paulus Huỳnh Tịnh Của (1834 – 1907): Tác phẩm của ông có thể chia thành

ba loại: Phiên âm, dịch các truyện, thơ Nôm sang chữ quốc ngữ; sáng tác và Biên khảo. Đáng chú ý là Đại Nam quấc âm tự vị,

7.Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898): Ông là nhà văn hóa (viết117 tác phẩm).

8. J. B. Nguyễn Trọng Quản (1865 – 1911). Truyện Thầy Lazaro Phiền (1887)

được coi là  mở đầu cho tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ.

  1. GIAI ĐOẠN TỪ 1919 – 1975

Văn học Công giáo ở giai đoạn này đã phát triển rất mạnh, rất rộng cả về phẩm lẫn lượng được thể hiện trong các hoạt động sau: Báo chí, hình thành các nhóm bút. Các linh mục, giáo sư, vừa giảng dạy vừa viết sách; nhiều nhà in Công giáo xuất hiện

Các tác phẩm:

  1. Dịch Kinh Thánh: các bản dịch từng phần và trọn bộ Kinh thánh,

các sách chú giải, diễn nghĩa, các từ điển Kinh thánh có khoảng 50 tác phẩm

  1. Sách Phụng vụ, giáo lý, kinh nguyện, tu đức.
  2. Sách Thần học, triết học
  3. Thư chung của hàng giáo phẩm: Từ năm 1900 đến 1975 có khoảng hơn 50 văn kiện, thư chung, thư luân lưu và thông cáo.
  4. Giáo sử, Niên giám, Kỷ yếu, Lịch Công giáo.
  5. Tự điển, từ điển, ngôn ngữ, Biên khảo văn học nghệ thuật, báo chí.
  6. Truyện, ca, vãn, thơ, tuồng, kịch.

TRUYỆN:

Trong giai đoạn từ 1919 đến 1975 có tác giả và tác phẩm sau:

Gilbert Trần Chánh Chiếu (1867-1919): Hương cảng nhân vật (1909); tiền căn hậu báo (1914).

Jacques Lê Văn Đức (1887 – 1974): Hai chị em (1915).

Phạm Tất Cung, dịch tác phẩm Quo vadis?

Phêrô Nghĩa, tức linh mục Philipphê Lê Thiện Bá (1891 – 1981), Đôi bước lưu ly (1928); Mưa nắng mai chiều (1928); Cha giết con (1932), Nhị độ mai (1933), Biết ai thượng lưu (1942) đăng trên Nam kỳ địa phận (1928 – 1942).

Nữ sĩ Thụy An tức Lưu Thị Yến: Tiểu thuyết Một linh hồn (1940).

Cung Giũ Nguyên (1909 – 2008, gốc Hoa). Các tiểu thuyết Một người vô dụng, Ngàn đời nhớ Anh, Nung lửa thử vàng, Nửa gánh tang bồng (1928 – 1945).

Linh mục Nguyễn Duy Tôn (1919 – 1976) có 4 tiểu thuyết: Phú ninh quằn quại (1952); Hai trái cam máu (1953); Hai tâm hồn (1959); Bông huệ tươi (1959);

Nguyễn Duy Diễn (1920 – 1965) đã viết Những ngày đẫm máu (1953), tiểu thuyết đầu tiên về các thánh tử đạo.

Lm.Vũ Đình Trác (1927 – 2003) có Đời anh (1959).

Hà Châu có quyển Xóm giáo.

Nhìn chung mảng truyện Công giáo không nhiều lắm so với các thể loại khác như ca vãn hoặc thơ.

CA VÃN, THƠ:

Nhiều tác giả tên tuổi như: nhà thơ Mai Lão Bạng (1870–1942); Nguyễn Hữu Bài (1863–1935); Hồ Ngọc Cẩn (1876–1948), Nguyễn Văn Thích (1891–1979); Mai Lâm (1915– 1992), Tống Viết Toại (1875 –1958), Phạm Đình Tân (1913 –1992), Long Giang Tử (1920 –1990), Lê Thiện Bá (1891 –1981), Trần Văn Trang (1882 –1945), Nguyễn Bá Tòng (1868–1944) Nguyễn Ngọc Quang (1090–1990), Nguyễn Duy Diễn (1920–1965), Đỗ Đình (1909 –1970), Bùi Tuân (1913 –1966), Vũ Đức Trinh (1918–1964), Vũ Đình Trác (1927–2003), Nguyễn Xuân Văn (1922–2002), Hoàng Kim (1930 –1985), Hồ Dzếnh (1916 –1991), Bàng Bá Lân (1912 –1988).

Ngoài ra còn có Võ Long Tê, Phạm Đình Khiêm, An Sơn Vị, Cao Vĩnh Phan, Xuân Ly Băng, Hoàng Diệp, Trương Đình Hòe, Mai Thành, Trăng Thập Tự, Đơn Phương, Nguyễn Tầm Thường, Lê Đình Bảng… là những người đã dùng thi ca như một lời kinh nguyện, đem Chúa đến cho mọi người bằng ngòi bút thi nhân của mình. Nổi bật nhất trong số này là Hàn Mặc Tử (1912 – 1940).

Tuồng kịch Tuồng Thương khó do JB Nguyễn Bá Tòng biên soạn và dàn dựng năm 1912, dài 150 trang ba lần tái bản, được coi vở kịch nói sớm nhất tại Việt Nam, lại còn được chuyển sang thể Opéra.

III. GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1975 TỚI 2019

Khoảng từ năm 1975 đến hết thế kỷ XX, Giáo hội Công giáo miền Nam rơi vào tình trạng bi đát. Phải tới thế kỷ XXI mới có được sự chuyển mình lạc quan. Có nhiều thành tựu ở các thể loại (nêu tác giả, tác phẩm):

Kinh thánh – Phúc âm diễn ca

Thơ ca Kinh thánh. Các tác giả : Giuse Đinh Cao Thuấn 3 tác phẩm; An Sơn Vị 2 tác phẩm, Trăng Thập Tự và Xuân Ly Băng, Lê Đình Bảng là những người đã ghi tên mình vào trong văn học Công giáo

Phụng vụ, giáo lý, kinh nguyện, tu đức

Thần học, Triết học

Tự điển

Báo chí

Vãn, thơ

Thể loại Vãn hầu như đã chết, Từ năm 1976 đến nay vẫn chỉ có một bài duy nhất, Trường ca Anrê Phú Yên, Trăng Thập Tự, 1976. Đã xuất hiện rất nhiều nhà thơ mới như Vũ Hoàng Chương, Phạm Câu Diên, Bách Huyền, Nguyễn Tầm Thường, Nhất Tuấn, Từ Khang Yến, Thanh Huệ, Xuân Thu, Hoàng Khánh, Lý Thụy Ý, Diệp Đình, Đình Quang, Minh Quân, Mai Thành, Minh Quân, Phanxicô, Cao Huy Hoàng, Lê Minh Bình Dương….

Truyện

Nguyễn Tầm Thường với cả chục tác phẩm; Nguyễn Đức Thông với 6 tác phẩm cả truyện ngắn lẫn tiểu thuyết; đặc biệt Song Nguyễn với 14 tác phẩm (truyện dài và các tập truyện ngắn)

Kết luận: Suốt 400 năm qua, ở đâu có người Công giáo, ở đó có văn học Công giáo, sử dụng chữ quốc ngữ để loan báo tin mừng, đối thoại với các tôn giáo khác. Hiện nay điều quan trọng cần đặt ra là làm thế nào để các trang mạng Công giáo ngày càng có giá trị Công giáo và văn học hơn.

NHỮNG VẤN ĐỀ

Nhà nghiên cứu VHCG++

Từ chuyên luận của TS-Lm Nguyễn Đức Thông tôi có một số suy nghĩ.

  1. Cần khẳng định văn chương Công giáo trong lịch sử văn chương dân tộc.

Các nhà nghiên cứu như Võ Long Tê, GS-Lm Thanh Lãng, GS Nguyễn Văn Trung, nhà nghiên cứu Lê Đình Bảng, TS-Lm Nguyễn Đức Thông… đã dày công nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật, khảo sát đánh giá để có thể làm hiện lên diện mạo văn học Công giáo trong tiến trình lịch sử từ khi đạo Công giáo truyền vào Việt Nam đến nay. Phần lịch sử văn học này, trước đây do nhiều nguyên nhân, các nhà nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam đã chưa quan tâm đầy đủ.

Các công trình nghiên cứu này cũng đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu cho những ai yêu mến văn học Công giáo và văn học dân tộc. Vì rằng, mới chỉ một Hàn Mặc tử được nghiên cứu sâu sắc. Những trí thức Công giáo như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký được nói đến nhiều là ở phương diện văn hóa hơn là văn chương. Còn lại hầu hết các tác giả khác được chưa được nghiên cứu cặn kẽ.

Dù vậy, với những gì đã làm được, các nhà nghiên cứu đều đã khẳng định văn chương Công giáo đem đến cho văn chương dân tộc những điều mới mẻ về tư tưởng và nghệ thuật.

Chẳng hạn, văn chương dân tộc thời trung đại đặt trên nền tảng tư tưởng Phật, Nho, Lão, dựa vào nguồn chất liệu văn chương cổ điển Trung Quốc (quan điểm văn chương, kiểu tư duy nghệ thuật, thể loại, điển tích, ngôn ngữ…); Văn chương Công giáo đem vào Thần học Công giáo, chất liệu Kinh Thánh, kiểu tư duy nghệ thuật từ Kinh thánh, Thánh vịnh và kiểu ngôn ngữ “nhà đạo”…

Thử so sánh 1Jpeg

Kết thúc truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh), Nguyễn Du cho rằng nỗi thống khổ của Kiều là do trời (Thiên mệnh của Nho giáo). Ông giải quyết tư tưởng “tài mệnh tương đố” bằng chữ Tâm của Phật giáo (“Tâm tức Phật/ Phật tức tâm”), bởi vì Phật giáo là đạo cứu khổ. Ngôn ngữ của Nguyễn Du là ngôn ngữ tư tưởng (Thân, mệnh, nghiệp) pha trộn với ngôn ngữ bình dân (tài liền với tai).

Lm Felippe Do Rosario Bỉnh “Tìm thấy Câu rút” là tìm thấy Thánh giá; tìm thấy Ơn Cứu độ từ Chúa Con. Nội dung bài thơ là những tín niệm Thần học Thiên Chúa giáo, với ngôn ngữ “nhà đạo”,  hoàn toàn mới so với tư tưởng của Nguyễn Du.

Một so sánh khác: Hình ảnh người phụ nữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu và trong Inê tử đạo vãn (562 câu lục bát-khuyết danh) -in trong Dictionarium Latino-Anamiticum của Jean Louis Taberd. 1838.

Cả Thúy Kiều và Kiều Nguyệt Nga đều là nhân vật Trung Quốc (Kiều Nguyệt Nga là nhân vật do Nguyễn Đình Chiểu sáng tạo). Kiều sống vào thời “Gia Tĩnh triều Minh”. Kiều Nguyệt Nga sống thời Sở Vương (?-489 TCN). Cả hai được miêu tả theo nghệ thuật ước lệ. Thúy Kiều là thân phận nô lệ cam chịu (“Thoắt buôn về, thoắt bán đi/ Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”). Nguyệt Nga là người phụ nữ tiết hạnh (“Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”). Cả hai sinh trưởng một gia đình trung lưu, thuần thục Tam tòng, tứ đức, và là những nhân vật lý tưởng của Nho gia. Trái lại, Inê tử đạo là một phụ nữ Việt Nam bình thường, được viết bằng bút pháp hiện thực. Thời cấm đạo, bà bị bắt vào tù, bị đánh đập tra tấn, chồng con vào thăm khuyên bỏ đạo nhưng vẫn kiên quyết theo Chúa tới cùng. Đó là người phụ nữ trung liệt với đức tin. Lý tưởng của bà là Nước Trời. Inê trả lời quan tra xét:

“… Chúng tôi giữ đạo Chúa Cha nhơn từ
Thật đàng công chính chẳng tư…
Tôi đâu dám bỏ công phu ngãi người.
Mặc ông tha, giết hai lời
Tôi thà chịu chết cõi trời nên công
Giết tha thì mặc lượng ông
Kim thạch là lòng chẳng chậy mỗ phân.”

Rõ ràng Inê là nhân vật người phụ nữ mới trong văn học đương thời so với Thúy Kiều và Kiều Nguyệt Nga cả về nội dung tư tưởng và bút pháp.

Gs Nguyễn Văn Trung (Lục Châu Học) ghi nhận: “Chúng tôi tìm thấy trong số 4400 trang chữ nôm cuả Maiorica (đầu thế kỷ XVII) có 1675 trang chép Truyện Các Thánh, bản chép hiện giữ tại Thư viện Quốc gia Paris, và Thanh Lãng có bản chụp, rất nhiều chuyện đáp ứng trong chừng mức nào đó những tiêu chuẩn viết truyện bằng văn xuôi theo lối tây phương. Chẳng hạn có một truyện dài gần 30 trang rất giống Quan Âm Thị Kính”. GS Nguyễn Văn Trung cũng đã phân tích Truyện Thầy Lazarô Phiền chỉ ra nhữ đặc sắc lối viết tiểu thuyết phương tây của Nguyễn Trọng Quản, làm thay đổi cách viết của Hồ Biểu Chánh (Lục Châu học-Chương 2: Diễn tiến truyện văn xuôi quốc ngữ).

Và có lẽ nên đọc thêm những bài viết về thơ Hàn Mặc Tử của Hoài Thanh- Hoài Chân, Võ Long Tê, Thụy Khuyê, Đặng Tiến, Nguyễn Hữu Sơn, Lương Tú Tuấn…để thấy thơ văn Công giáo đem đến cho văn học dân tộc nhiều điều mới mẻ.

  1. Nhiều vấn đề cần được nhận thức chuyên sâu hơn.
  2. Hầu hết các tác giả nghiên cứu lịch sử văn học Công giáo Việt Nam chưa xác lập được thế nào làNhà văn Công giáo”, thế nào làtác phẩm văn chương Công giáo”. Vì thế mới đưa tất cả những người Công giáo cầm bút và tác phẩm của họ vào “lịch sử văn học Công giáo”. Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký là nhà văn hóa. 14 bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, sách của Trương Vĩnh Ký, các bản dịch Kinh Thánh, sách kinh nguyện, sách tự điển, kể cả kỷ yếu, sách lịch, báo chí vv… không phải là “tác phẩm văn chương”, mà chỉ là văn hóa phẩm.

Vì không xác lập những đối tựng nghiên cứu cơ bản nên mới có mâu thuẫn. Tác giả, tác phẩm được liệt kê ra khá nhiều, nhưng tìm những tác phẩm văn chương đích thực như Truyện Thầy Lazaro Phiền và những nhà thơ như Hàn Mặc Tử thì rất hiếm; gọi tác giả nào đó là nhà thơ, nhà văn Công giáo đích thực thì ít người dám khẳng định.

Võ Long Tê và Lm Nguyễn Đức Thông có đặt vấn đề văn chương Công giáo, nhà văn Công giáo, nhưng ý kiến của các vị, về lý thuyết, tiếp cận được với chân lý của vấn đề, song trong thực tiễn nghiên cứu, các vị lại không áp dụng những tiêu chí của mình để nghiên cứu văn chương Công giáo. Cho nên các vị đưa cả sách tự điển, kỷ yếu, thư chung… vào mục “tác phẩm” văn học Công giáo, đưa những nhà văn hóa như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của vào danh sách “nhà văn” Công giáo. (Mặc dù GS Nguyễn Văn Trung cho biết: Trương Vĩnh Vĩnh Ký viết nhiều tác phẩm, nhưng có rất ít bài viết về Công giáo).

Võ Long Tê nói về sứ mạng của nhà văn Công giáo như sau: “nhà văn có sứ mạng truyền bá đức tin. Nguyễn Đức Thông cũng một ý ấy: “Sứ mạng của văn sĩ Kitô giáo là truyền bá đức tin, sử dụng văn học làm công cụ thể hiện và truyền giảng đức tin Công giáo, diễn tả đức tin qua ngòi bút và nghệ thuật của mình.”

Nhà văn là những Linh mục Công giáo viết để “truyền bá đức tin” là điều tự nhiên, vì sứ vụ của Linh mục là rao giảng Tin Mừng. Nhưng người giáo dân sống giữa đời, ơn gọi của họ là trở nên “muối – men” cho đời. Họ “sống Phúc âm giữa lòng dân tộc”, họ Phúc Âm hóa môi trường bằng chính đời sống của họ, và nếu viết tác phẩm văn chương, thì họ viết về chính môi trường của họ với diễn ngôn của nhân chứng Tin Mừng.

Thiết nghĩ, khi trở thành một công cụ thì văn chương đã đánh mất bản chất của mình. Bởi văn chương là nghệ thuật. Tức là sự sáng tạo cái đẹp bằng ngôn từ. Nhà văn là người sáng tạo cái đẹp bằng chữ, bằng lời (khác với nhạc sĩ sáng tạo cái đẹp bằng âm thanh, họa sĩ sáng tạo cái đẹp bằng màu sắc, đường nét..). Nhà văn sáng tạo những hình tượng đẹp, thể hiện những tư tưởng đẹp, tìm tòi những tứ thơ mới lạ, khai mở những cách diễn đạt mới… Thí dụ hình tượng Inê trong Inê tử đạo là một hình tượng mới, với vẻ đẹp mới, đó là hình tượng văn học (đã so sánh ở trên).

Cốt lõi của tác phẩm văn chương là tư tưởng, là thái độ diễn ngôn của tác giả, là giọng điệu và cách thể hiện. Nhà văn Công giáo hay tác phẩm văn chương Công giáo phải thể hiện tư tưởng của Kinh Thánh (tư tưởng Thần học, tư tưởng Nhân văn Công giáo). Thiếu điều này không thể được coi là văn chương Công giáo.

Tư tưởng sâu sắc nhất trong Kinh Thánh là tư tưởng Nhân văn Công gíao. Kinh Thánh nhìn Con người trong bản thể Thiên Chúa, “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa…Thiên Chúa ban phúc lành cho họ..”(St 1, 27-28). Lòng yêu thương Con người làm điều răn quan trọng. Con người ở đây trước nhất là những con người nghèo khổ. “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.” (Mt 5,3). Và kết thúc trong ngày cánh chung, Chúa cũng hướng về người nghèo khổ (Mt.25.35-40). Vì thế yêu thương Con người với tư cách Con người mang bản thể của Thiên Chúa, đó là cốt lõi của tư tưởng Nhân văn Công giáo. Đức Giêsu dạy : …”ngươi phải yêu người thân cận như chính mình (Mt.22.37-39).

Như vậy để nhận ra một tác phẩm văn chương có mang “tính Công giáo” hay không, thì cốt lõi của tác phẩm phải là tư tưởng Nhân văn Công giáo, tất nhiên còn cần phải xét đến thái độ diễn ngôn của tác giả và cả nghệ thuật thể hiện nữa.

Trong thực tiễn đời sống văn chương, nhiều tác phẩm lấy đề tài Công giáo, miêu tả sinh hoạt của các tu sĩ, linh mục, giáo dân Công giáo, nhưng tư tưởng của tác phẩm chống lại Công giáo. Có những tác phẩm đã từng bị Giáo hội cấm. Chẳng hạn: Nhà thờ Đức Bà Paris của V. Hugo, Những con chim ẩn mình chờ chết của Colleen McCulough. Mật mã Davinci của Dan Brown;  Cám dỗ cuối cùng của Chúa của Nikos Kazantzakis, Bão biển của Chu Văn, Cha và Con và của Nguyễn Khải…

Vì thế các nhà nghiên cứu cần xác lập cho được nội hàm “Nhà văn Công giáo”, “Văn chương Công giáo” thì việc nghiên cứu mới có thể thấu đáo.

Hơn nữa cần có một “cơ chế”  xác định tác giả nào là nhà văn Công giáo. Về âm nhạc có Ban Thánh nhạc, về Mỹ thuật có Ban Nghệ thuật thánh nhưng không có Ban Văn học Công giáo. Người viết văn làm thơ Công giáo hoàn toàn là tự phát, đơn độc.

  1. Nội hàm của “Lịch sử văn học Công giáo” chưa chuẩn. Các công trình nghiên cứu mới chỉ đưa ra cái nhìn lịch sử về văn học Công giáo, chứ chưa khẳng định được “Lịch sử văn học Công giáo”.

Lịch sử là một dòng chảy liên tục. Lịch sử văn học là dòng chảy của những trào lưu văn học, sự kế tiếp nhau của các kiểu tư duy nghệ thuật, sự xuất hiện những tác giả mới tác phẩm mới tạo nên một diện mạo mới, một thời kỳ mới khác hẳn với thời kỳ trước đó. Điều này chưa được làm rõ trong phân lỳ lịch sử văn học Công giáo. Nói cách khác, lịch sử văn học vận động bằng chính những yếu tố nội tại của nó, đặc biệt về tư tưởng và kiểu tư duy nghệ thuật.

Chẳng hạn văn học Việt Nam giai đọan từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX (1740-1858) hoàn toàn khác với giai đọan trước đó và sau đó. Ở giai đọan này, về tư tưởng, chủ nghĩa nhân đạo là dòng văn học chính. Về nghệ thuật, nhiểu thể loại văn học mới xuất hiện: truyện thơ nômkhúc ngâm (truyện Kiều, Chinh Phụ ngâm), Ký sự (Thượng Kinh ký sự), Tuỳ bút (Vũ trung tùy bút), Tiểu thuyết lịch sử (Hoàng Lê nhất thống chí). Nhân vật người phụ nữ được tập chú thể hiện. Giai đoạn sau (Từ 1858 đến đầu thế kỷ XX) văn học Việt Nam chuyển hẳn sang văn học yêu nước chống Pháp với quan niệm văn chương chiến đấu (Nguyễn Đình Chiểu)…

Các công trình “Lịch sử văn học Công giáo” chưa xác lập rõ các thời kỳ phát triển của văn học Công giáo. Thí dụ. TS-Lm. Nguyễn Đức Thông  xác lập một thời kỳ dài từ 1919 đến 1975 không căn cứ trên một tiêu chí phân kỳ khoa học nào. Nếu lấy văn học Công giáo viết bằng chữ Quốc Ngữ thì phải tính từ Lm. Felippe Do Rosario Bỉnh (ít nhất là từ 1822). Nếu lấy theo nội dung văn học Công giáo, thí dụ về hạnh các thánh thì phải kể từ Majorica (năm 1634 ông soạn tiểu sử thánh Inhatiô, các bà thánh Đôrotê, Bacbara, Lutia, Agnès, Agata, Xébastianô, các thánh Faustin và Jovite Job, và nhiều vị thánh khác), hoặc Sấm Truyền Ca của Lữ Y Doãn (1613 – 1678), vì từ đó cho đến nay (2019) việc diễn ca Kinh Thánh vẫn là một dòng chảy của văn chương Công giáo, không có sự vận động nào khác về tư tưởng và kiểu tư duy nghệ thuật.

Trong khi đó, giai đoạn từ 1919 đến 1975 văn học dân tộc đã vận động qua nhiều kiểu tư duy nghệ thuật và tiếp cận được với văn học thế giới. Từ văn chương cổ điển (đầu thế kỷ XX) sang văn chương Lãng mạn, Tượng trưng, Siêu thực, văn chương Hiện thực phê phán (1930-1945), văn chương Hiện thực xã hội chủ nghĩa (1945-1975) với những kiểu sáng tác đặc trưng và nhiều thế hệ tác giả tiêu biểu.

Văn chương Công giáo không có sự vận động nghệ thuật này (ngoại trừ Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản và thơ Hàn Mặc Tử). Văn chương Công giáo Việt Nam chưa có một hệ thống mỹ học riêng, chưa có hệ thống lý thuyết văn học riêng, chưa hình thành các trường phái, trào lưu như văn học thế tục (thí dụ Mỹ học Thiền, Chủ nghĩa Lãng mạn, Chủ nghĩa Hiện thực phê phán, Chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo…). Chính ở đặc điểm này, chúng ta chỉ có thể nói các công trình đã nghiên cứu về lịch sử văn học Công giáo là “cái nhìn lịch sử về văn chương Công giáo” mà chưa khẳng định được “Lịch sử văn chương Công giáo”.

Đây chính là trăn trở của nhiều nhà nghiên cứu. Lm. Giuse Trương Đình Hiền trong “Tọa đàm-thơ-Nhạc phát huy văn học nghệ thuật Anrê Phú Yên” tại Trung tâm Mục vụ Tổng hợp Anrê Phú Yên, giáo xứ Tuy Hòa. Tác giả đã đặt vấn đề “Có hay không một truyền thống văn học Công giáo tại Việt Nam?”

  1. Cần đối chiếu với lịch sử văn học dân tộc khi xem xét đánh giá văn học Công giáo. Văn chương nghệ thuật là một thành tố của văn hóa cộng đồng. Nó quan hệ trực tiếp với các thành tố khác như ngôn ngữ, tư tưởng, chính trị, lịch sử, phong tục, tập quán, lối sống vv…Vì thế không thể tách rời văn chương Công giáo với lịch sử dân tộc, văn học dân tộc. Chỉ khi định vị được văn chương Công giáo ở đâu trong lịch sử dân tộc, trong văn chương dân tộc, trong lúc ấy mới có thể xóa được định kiến văn chương Công giáo đứng ngoài văn chương dân tộc. Bằng chứng là việc nghiên cứu văn chương Công giáo đã không được các nhà nghiên cứu văn chương dân tộc quan tâm.

Xin thử đối chiếu văn chương Công giáo và văn chương dân tộc ở chặng đường thế kỷ XVI-XVII:

Thử so sánh 2 jpeg

 Nhìn vào bảng so sánh trên, ta nhận ra nhiều điều.

Văn chương Công giáo phát triển song song với văn chương dân tộc. Sấm Truyền Ca (3596 câu thơ lục bát) của Lữ Y Doan đồng thời với Thiên Nam Ngữ lục (8.136 câu thơ lục bát) và trước Đoạn trường tân thanh (3254 câu lục bát) của Nguyễn Du, Đại Nam quốc sử diễn ca (1887 câu lục bát).

Văn chương quốc ngữ Công giáo đi trước văn chương quốc ngữ dân tộc khá xa. Thí dụ, cuốn Sách sổ sang chép các việc của Lm Felippe Do Rosario Bỉnh được viết năm 1822, trong khi đó Nguyễn Công Trứ, Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Đại Nam quốc sử diễn ca vẫn sáng tác bằng chữ Nôm.

Văn học dân tộc phát triển đỉnh cao tư tưởng và nghệ thuật ở nhiều thể loại như: Diễn ca lịch sử (Thiên Nam ngữ lục), Truyện văn xuôi chữ Hán (Truyền kỳ mạn lục), Truyện thơ Nôm (Đoạn trường tân thanh), Tùy Bút (Vũ trung tùy bút), Ký sự (Thượng kinh ký sự), Hát nói (Nguyễn Công Trứ), trong khi văn chương Công giáo không có tác phẩm đỉnh cao nào cả về tư tưởng và nghệ thuật, ngoại trừ Sấm Truyền Ca (3596 câu thơ lục bát).

Văn chương dân tộc phản ánh khá rõ hiện thực lịch sử dân tộc (thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Truyền kỳ mạn lục, Thượng Kinh Ký sự, Vũ trung tùy bút, Hoàng Lê Nhất thống chí…), còn văn chương Công giáo chỉ thấp thoáng phản ánh hiện thực của người Công giáo. Thí dụ các sáng tác của Lm Đặng Đức Tuấn: Việt Nam giáo sử diễn ca, Văn tế giáo dân tử nạn, Văn tế các Đẳng linh hồn, Giáo nạn trong quốc biến…

Hai dòng chảy chính của văn học dân tộc trong suốt lịch sử là Văn chương Nhân đạo chủ nghĩaVăn chương yêu nước. Sẽ rất khó tìm được một nhà văn, nhà thơ Công giáo cùng với tác phẩm của họ trong hai dòng chảy này (ngoại trừ Hàn Mặc Tử. Người ta ca ngợi Hàn Mặc Tử vì thơ của ông đóng góp cho sự phát triển của thơ ca dân tộc, chứ không ca ngợi ông là nhà thơ Công giáo). Theo Gs Nguyễn Văn Trung (Lục Châu học), thơ của thánh Phan Văn Minh (Phi năng thi tập, Vịnh Evang), có 4 bài đặc biệt tố cáo Pháp lợi dụng đạo Thiên Chúa để xâm chiếm Việt Nam. Đó là một chi tiết hiếm hoi. Chúng ta có nhiều trí thức Công giáo có tinh thần dân tộc, song nhà văn nhà thơ Công giáo mà tác phẩm của họ chung giòng với văn học dân tộc thì còn hiếm. Chính điều này đã tạo ra định kiến rằng văn học Công giáo đứng bên lề văn học dân tộc, hoặc xa lạ với văn học dân tộc. Không biết đến bao giờ văn chương Công giáo mới hội nhập được với văn chương dân tộc?

  1. Cần có cái nhìn lịch sử dựa trên lập trường của Giáo hội và tinh thần dân tộc khi đánh giá các tác giả văn học Công giáo. Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Vy Khanh nhận xét: “Lữ-y Đoan chứng tỏ giới linh mục, tu sĩ thời đó có tinh thần độc lập, tự chủ, tự hào về văn hóa Việt Nam”. Ông kết luận “Tóm một chữ, người công giáo Việt-Nam, các giáo dân cũng như các văn-nghệ sĩ, đã và luôn sống đạo với tinh thần dân-tộc; riêng các vị sau đã sáng tác, làm văn-chương và đã thể hiện đức tin một cách chân thành và sâu sắc qua tác-phẩm”[1]. Vì thế, giới nghiên cứu chú ý đến trước tác của các tác giả yêu nước gắn bó với dân tộc như thánh Phan Văn Minh, Giám mục Hồ Ngọc Cẩn. Lm Đặng Đức Tuấn được gọi là là “một trang quốc sĩ”; “Những di thảo của Linh mục Đặng Đức Tuấn để lại cho thấy tinh thần yêu nước của một người Công giáo Việt Nam, biết kết hợp hai lý tưởng Thiên Chúa và Tổ quốc”[2] ; và cũng dễ hiểu khi có những ý kiến phản đối A.Rhodes về những thành kiến của ông với Phật giáo, với việc thờ cúng tổ tiên của người Việt (Phép giảng tám ngày). Cũng vậy, có nhiều ý kiến trái ngược về hoạt động của Trương Vĩnh Ký[3], về Lm. Trần Lục [4]…
  2. Hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện văn chương Công giáo đương đại. Lác đác có một vài bài giới thiệu riêng lẻ. Nhà nghiên cứu Nguyễn Vy Khanh có giới thiệu được “Đôi nét về văn học Công giáo”[đd]. Ông nhắc đến các tác giả văn xuôi đương đại như: Thụy An Hoàng Dân, Nguyễn Thạch Kiên, Nguyễn Duy Diễn, Lm Petrus Vũ Đình Trác, Bùi Hoàng Thư, Hà Thúc Sinh, Quyên Di, Đường Phượng bay; các tác giả thơ: Giám mục Hồ Ngọc Cẩn, Lm Sảng Đình Nguyễn Văn Thích, Hàn Mặc Tử, Quách Thoại, Phạm Đình Tân, Lm Vũ Đức Trinh, Đức ông Xuân Ly Băng, Lm. Trăng Thập Tự, Lm. Nguyễn Tầm Thường, Lệ Khánh, Trần Vạn Giã, Cao Huy Hoàng.

Do đâu có tình trạng này?

Nhà nghiên cứu Lê Đình Bảng cũng tự xác nhận: “Chúng tôi chỉ biết chắc họ là những ngưởi Công giáo Việt Nam cầm bút, viết truyện. Còn nội dung tác phẩm có tính Công giáo hay không, vì chưa đủ tư liệu chính xác, xin đón nhận ý kiến bổ sung” [5] Có lẽ phải chờ nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu kế tiếp.

Một phần vì chưa xác định được ai là  nhà văn Công giáo đích thực, tức là người sáng tạo cái đẹp bằng ngôn ngữ, có tư tưởng thẩm mỹ riêng, có cốt cách văn chương riêng, và tác phẩm gây được ảnh hưởng với cộng đồng; một phần vì Giáo hội chưa đặt hoạt động văn học thành Mục vụ văn hóa và có những hoạt động hỗ trợ, nên các tác giả chỉ làm việc riêng lẻ, tự phát.

Văn chương Công giáo đương đại có những khuôn mặt rất đáng được nghiên cứu, bởi sáng tác của họ đã có những bước chuyển rất khác so với trước kia. Chẳng hạn, thơ của Xuân Ly Băng, thơ Lê Đình Bảng, thơ Trăng Thập Tự, truyện dài của Song Nguyễn… 14 tập truyện của Song Nguyễn (gồm truyện dài và tuyện ngắn)[6] phản ánh sử thi về cuộc sống người Công giáo Việt Nam suốt từ trước 1945 đến trước đổi mới (1986), xây dựng được hình tượng người Mục tử hết lòng vì đoàn chiên trong những biến động lớn lao của lịch sử. Có lẽ trước đây chưa tác giả Công giáo nào đạt được những chiều kích văn chương như thế.

Văn học Việt Nam đương đại cũng có một số tác phẩm sử dụng yếu tố tâm linh tôn giáo, trong đó có Thiên Chúa giáo như Cơ Hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà, Đêm thánh vô cùng của Sương Nguyệt Minh, Con gái thủy thần của Nguyễn Huy Thiệp, Dưới cái cây ánh sáng của Nguyễn Quang Thiều (một bài ca tráng lệ về con người hiện sinh khi tác giả chiêm ngắm cây Thánh giá) … Tuy nhiên cũng chưa có nhà nghiên cứu Công giáo nào xem xét yếu tố tâm linh Thiên Chúa giáo được các tác giả khai thác như thế nào và hướng đến mục đích gì? Khác thế nào với Bão biển của Chu Văn, Cha và Con và của Nguyễn Khải trước kia?

Nhà văn Công giáo hôm nay viết gì?

Thử đọc Thuật tích việc nước Nam xem Lm. Đặng Đức Tuấn viết những gì?[7] Phần thứ nhất ngài kể lịch sử truyền đạo Công giáo ở Việt Nam từ khi người Bồ Đào Nha đến truyền giáo dưới triều Lê Vĩnh Tộ, đến khi người Pháp nhận việc truyền giáo ở Việt Nam vào thời Cảnh Hưng, kể việc giám mục Bá Đa Lộc giúp Nguyễn Ánh, kể các cuộc cấm đạo Minh Mệnh thứ 13 (1832), Thiệu Trị thứ 7 (1847), Tự Đức thứ 9 (1856), Tự Đức thứ 11 (1858). Những cuộc cấm đạo đó đã gây ra bao nhiêu đau khổ cho giáo dân. Tác giả cũng kể lại tên các giáo sĩ, giáo dân đã tử vì đạo với những lời thương xót và ca ngợi. Phần thứ hai, Linh mục Đặng Đức Tuấn tự thuật về cuộc đời mình, từ khi ông bị bắt cho đến khi được thả. Năm 1862, ông bị bắt bị tra tấn đến nỗi không tự đi được nhưng vẫn không thay đổi lập trường. Rồi ông được mời vào Huế, ra mắt Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp. Vua ra lệnh xét hỏi ông về hai việc: Về văn nguyên đạo Gia Tô và về duyên cớ hành động của quân Pháp. Sau đó ông yêu cầu làm tờ trình lên vua, được cử làm phái viên phụ tá hai ông Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp ký Hiệp ước 1862. Phần cuối ông kể về cuộc thương lượng và ký kết. Xong việc ông trở về Huế. Các giáo dân bị bắt dần dần được tha và Linh mục trở về quê.

Lại đọc thơ Hàn Mặc Tử xem nhà thơ viết những gì? Hoài Thanh-Hoài Chân trong Thi Nhân Việt Nam thuật lại [8]: Gái Quê tả tình quê trong cảnh quê. Lời thơ dễ dàng, tứ thơ bình dị. Hương thơm: Ta bắt đầu bước vào một nơi ánh trăng, ánh nắng, tình yêu. Mật đắng: Ta vẫn đi trong mờ mờ. Nhưng thỉnh thoảng một luồng sáng lạ chói cả mắt. Ta bắt gặp dấu tích còn hoi hóp của một tình duyên vừa chết yểu. Máu cuồng và Hồn điên: Ta thấy những gì chung quanh ta? Trăng, toàn trăng. Xuân như ý: mùa xuân Hàn Mạc Tử nói đây có khi ở đâu hồi trời đất mới dựng lên, có khi ra đời một lần với chúa Jésus, có khi hình như chỉ là mùa xuân đầu năm… đầy dẫy những lời kinh cầu nguyện, những hương đức hạnh, hoa phẩm tiết, nhạc thiêng liêng, cùng ánh trăng, ánh thơ. Nhất là ánh thơ. Thượng thanh khí ghi lại những cảnh đã thấy trong chiêm bao, ở đâu giữa khoảng các vì tinh tú trên kia …

Sau khi ghi lại nội dung các tập thơ của Hàn Mặc Tử, Hoài Thành-Hoài Chân cảm nhận: “Với Hàn Mạc Tử Chúa gần lắm. Người đã tìm lại những rung cảm mạnh mẽ của các tín đồ thời thượng cổ…thơ Hàn Mạc Tử ra đời, điều ấy chứng rằng đạo Thiên Chúa ở xứ này đã tạo ra một cái không khí có thể kết tinh lại thành thơ”.

Tôi vừa dẫn hai tác giả văn chương Công giáo để khảo sát xem nhà văn nhà thơ Công giáo viết những gì, viết như thế nào và viết để làm gì; đồng thời xem hiệu quả văn chương với đời sống.

Có thể nhận thấy ở 2 tác giả trên, phạm vi đề tài, nội dung rất rộng và rất phong phú. Từ những trải nghiệm cá nhân đến những sự kiện và sự vận động của thời đại và lịch sử lớn lao; từ hiện thực vươn lên thế giới siêu thực, từ những đau khổ hiện sinh đạt đến cõi tâm linh cao rộng. Những gì Lm Đặng Đức Tuấn miêu tả về lịch sử thời đại mình có cả những điều mà hôm nay gọi là những vấn đề “nhạy cảm”. Qua đó thể hiện một thái độ sống đạo hết sự trung thực và “dũng cảm”, một lòng tin kiên trung và trình độ nhận thức mang tầm vóc thời đại. Khi được xét hỏi về 2 việc: Về văn nguyên đạo Gia Tô và về duyên cớ hành động của quân Pháp, Lm Đặng Đức Tuấn nói về đạo:

“Đạo dạy thờ Chúa linh thiềng

Dựng nên trời đất cầm quyền tử sinh

Hễ người thời có tính linh

Giữ lối đạo chính trường sinh cõi trời

Đạo dạy thờ vua dưới trời

Vì vua thay mặt chúa trời trị dân

Đạo dạy thảo kính sinh thân

Cù lao báo nghĩa tư cần đền ơn

Đấy là ba đấng trọng hơn

Hội ra quân phụ có quyền khác nhau.

Nói vể giặc Pháp:

“Như giặc bởi nước Rô Ma

Thì tôi cam chịu đạo qua phá rầy

Vốn nay chẳng phải làm vây

Lãng Sa nước khác đến gây chiến trường

Giặc này tôi chẳng biết tường

Nhưng mà ước cũng tìm đường lợi danh

Vậy nên gây cuộc chiến tranh

Nói đi giảng đạo hoành hành lao niên…”

Ta hiểu được tại sao Lm Đặng Đức Tuấn đang từ thân tù tội lại thuyết phục được vua quan nhà Nguyễn, và được mời tham gia phái đoàn thương thuyết của Phan Thanh Giản.

Còn đối với Hàn Mặc Tử, trải nghiệm đau thương giúp nhà thơ nhận ra điều kỳ diệu mà người đời thường không thể tiếp cận được. “Với Hàn Mạc Tử thơ có một sự quan hệ phi thường. Thơ chẳng những để ca tụng Thượng Đế mà cũng để ban ơn phước cho cả thiên hạ. Cho nên mỗi lần thi sĩ há miệng – sao lại há miệng? – cho thơ trào ra, làm chín từng mây náo động, muôn vì tinh tú xôn xao…Hàn Mạc Tử đã dựng riêng một ngôi đền để thờ Chúa. “[Hoài Thanh-Hoài Chân-đd]

Nếu nhà thơ nhà văn Công giáo hôm nay chỉ quanh quẩn trong những tâm tình cá nhân thì không biết bao giờ mới theo được Lm Đặng Đức Tuấn và Hàn Mặc Tử!

Trong Kinh Thánh, Đức Giêsu kể rất nhiều dụ ngôn. Thực chất đó là những truyện ngắn giàu ý nghĩa tư tưởng, và nghệ thuật, có sức khai mở tâm linh. Xin đọc dụ ngôn người Samari tốt lành (Lc.10.29-37), Dụ ngôn người cha nhân hậu (Lc 15, 11-32), dụ ngôn về ông nhà giàu và ông Lazarô nghèo (Luc. 16, 19-31)…

Học tập Thầy Giêsu, học tập Kinh Thánh, nhà văn Công giáo có thể viết về mọi đề tài, mọi vấn đề, viết về mọi cảnh ngộ, về mọi kiếp người, chỉ với một điều kiện, ngòi bút phải được soi dẫn bằng ánh sáng Kinh Thánh (tư tưởng Thần học và tư tưởng Nhân văn Công giáo). Nhà văn lăn vào đời sống để sống và viết, như Đức Giêsu nhập thể làm người, ở giữa mọi người, lên tiếng về mọi vấn đề, sẻ chia mọi nỗi niềm, nhận lấy Thập giá gánh tội cho nhân loại.

Đã có những tiếng nói đầy nhiệt thành với hoạt động văn học Công giáo, song chưa có sự đồng vọng. Trong đêm thơ “Trăng Thập Tự –  Thơ và Nguồn Đạo” được tổ chức tại Hoa Viên Hiệp Nhất, Dòng Chúa Cứu Thế, 38 Kỳ Đồng, Q. 3, Sài Gòn, tối Thứ Ba, 16-5-2006, nhà thơ-Lm Trăng Thập Tự chia sẻ rằng có một “lỗ hổng về sáng tác văn học nghệ thuật trong lòng Giáo Hội Việt Nam”; rằng “Trên trang mạng Việt Nam Thư Quán, có khoảng 420 tác giả thơ, trong đó phía Công Giáo chỉ một người duy nhất có mặt là Hàn Mặc Tử.”; và bày tỏ sự lo lắng: “Chúng con mong tìm được nhiều khuôn mặt trẻ quan tâm tới văn học nghệ thuật Công Giáo, nhưng không biết hỏi ở đâu”.

Nhà thơ-Lm Trăng Thập Tự có những đề xuất hết sức tâm huyết. Chẳng hạn: “Đã có Năm Truyền Giáo, Năm Thánh Thể, Năm Lời Chúa, có lẽ rồi chúng ta phải thỉnh cầu HĐGMVN phát động một số năm mục vụ liên quan đến văn hoá, chẳng hạn về Văn Học Nghệ Thuật;… vận động HĐGMVN thực hiện một Giải Văn Học Nghệ Thuật… Tuy nhiên, chẳng hy vọng gì sáng kiến được quan tâm”.

Quả thật, từ 2006 đến nay tình hình hoạt động văn học nghệ thuật Công giáo chưa có gì khởi sắc ngoài những nỗ lực riêng của một vài giáo phận. Đó là các giải thưởng văn học của Ban Văn hóa giáo phận Quy Nhơn (Giải Viết văn đường trường…), Giải Văn hóa Nghệ thuật Đất Mới của Ban Văn hóa giáo phận Xuân Lộc,… bước đầu tạo sự gặp gỡ, chia sẻ, tạo môi trường sáng tác cho người cầm bút Công giáo hiện nay.

MỘT HƯỚNG NHÌN VỀ TƯƠNG LAI

            Muốn có một nền văn học, nhất thiết phải có tác giả, tác phẩm. Khát vọng và hoạt động văn học nghệ thuật của nhà thơ-Lm Trăng Thập Tự cần được phát huy. Tức là cần tổ chức các giải thưởng văn học để phát hiện các tài năng và bồi dưỡng các tài năng trẻ làm vốn cho tương lai. Các giải thưởng của Ban Văn hóa giáo phận Quy Nhơn và Ban Văn hóa giáo phận Xuân Lộc đã phát hiện được nhiều cây bút có tiềm năng, và những tác phẩm có giá trị (thí dụ tiểu thuyết Ôi tội hồng phúc của Têrêxa Nguyễn Phương Thảo-Canada) nhưng làm thế nào để những cây bút này trở thành nhà thơ, nhà văn Công giáo như, Nguyễn Trọng Quản, Hàn Mặc Tử, viết được những tác phẩm “giải độc” được Mật mã Davinci (Dan Brown), Những con chim ẩn mình chờ chết (Colleen McCulough)…; làm thế nào để có được một nền văn học Công giáo góp phần làm phát triển văn học dân tộc (như thơ Thiền Lý-Trần), và làm thế nào để có nhiều trí thức Công giáo có những công trình nghiên cứu giá tri như của Gs Thanh Lãng, Gs Nguyễn Văn Trung, nhà nghiên cứu Võ Long Tê Lê Đình Bảng, Lm Nguyễn Đức Thông…

Còn cần rất nhiều sự hỗ trợ của Giáo hội.

Trong việc nghiên cứu lịch sử văn học Công giáo còn cần rất nhiều nỗ lực về sưu tầm, dịch thuật in ấn tài liệu cả trong nước và ở ngoài nước. Người đọc Công giáo hôm nay chưa tiếp cận được với các tác phẩm của Majoria, của Lm. Felippe Do Rosario Bỉnh.. ngay cả đến nhưng tác phẩm đương đại (thơ Xuân Ly Băng, thơ Lê Đình Bảng, thơ Trăng Thập tự..) cũng không dễ tìm. Thư viện Công giáo cần có đủ các tác phẩm của các tác giả Công giáo. Hiện thư viên Mân Côi Bùi Chu (thuvienmcbc.org), Thư viện Công giáo Việt Nam (thuvienconggiaovietnam.net) …chưa đáp ứng nhu cầu nghiên cứu. Làm thế nào để chuyển được kho tư liệu văn học Công giáo ở các thư viện Roma, Paris… thành thư viện điện tử để tất cả những ai yêu mến nghiên cứu văn học Công giáo có thể tiếp cận được…

Dù vậy, chân trời nghiên cứu văn học Công giáo đã mở ra, và chúng ta hy vọng trong tương lai sẽ có nhiều thế hệ tiếp bước các nhà nghiên cứu đi trước.

Tháng 01/ 5/ 2020

_______________

[1] Nguyễn Vy Khanh-Đôi nét về văn học Công giáo

http://phovui.vietbao.com/yaf_postsm485547_UYEN-NHI-TRANG—Phan-15.aspx#post485547

[2] Linh mục Đặng Đức Tuấn và cuốn sách Thuật tích việc nước Nam-Vũ Thu Hà & Nguyễn Ngọc Quỳnh-Viện nghiên cứu tôn giáohttp://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=496&Catid=225

 

[3]Vũ Ngự Chiêu-Vài tư liệu mới về petrus Key (Trương Vĩnh Ký): Thư ra mắt Ðại Nguyên Soái (Grand Chef) Pháp: “Tháng 3/1859, Petrus Key viết thư ra mắt Ðại Nguyên Soái (Grand Chef) Pháp, van nài hạm đội Pháp hãy tấn công ngay các thành trì miền Nam để giải  phóng giáo dân Ki-tô và dân tộc Việt dưới ách cai trị chuyên chế, bạc đãi giáo dân của nhà Nguyễn

[4] Lm Trần Tam Tỉnh: Thập giá và lưỡi gươm. Mục 8: Giám mục  Puy-gi-niê. Nxb Trẻ 1978

[5] Lê Đình Bảng-Văn học Công giáo Việt Nam-Những ch8a5ng đường. Nxb Tự điển Bách Khoa 2010. Tr.317

[6] Những tác phẩm đã in của Song Nguyễn:

  1. Một Đời Dâng Hiến, truyện dài,Nxb Tôn Giáo. 2009
  2. Đất Mới, truyện dài 3 tập. Nxb Tôn Giáo. 2009
  3. Đồng Hành, truyện dài, Nxb Tôn Giáo. 2010
  4. Định Hướng, truyện dài. Nxb Tôn Giáo. 2011
  5. Chuyến Xe Về Trời, tập truyện ngắn 1 Nxb Tôn Giáo. 2011
  6. Còn Một Niềm Tin, tập truyện ngắn2. Nxb Tôn Giáo. 2011
  7. Suối Nguồn, tập truyện ngắn 3. Nxb Tôn Giáo. 2011
  8. Người Cha Hiền, tập truyện ngắn 4. Nxb Tôn Giáo. 2012
  9. Những Người Mẹ, tập truyện ngắn 5. Nxb Tôn Giáo. 2012
  10. Chỉnh Hướng, truyện dài, Nxb Tôn Giáo, 2013
  11. Đồng Cỏ Xanh (truyện dài, Nxb Tôn Giáo, 2013)
  12. Tiếng Kêu, truyện dài. Nxb Phương Đông 2014
  13. Vì sao sáng, truyện dài. Nxb Tôn giáo 2015
  14. Đường lên Núi Cúi. Nxb Tôn giáo. 2019

[7] dẫn theo Vũ Thu Hà & Nguyễn Ngọc Quỳnh-Viện nghiên cứu tôn giáo

http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=496&Catid=225 [đd]

[8] Hoài Thanh Hoài Chân viết về Hàn Mặc Tử

https://www.thivien.net/H%C3%A0n-M%E1%BA%B7c-T%E1%BB%AD/author-mz8hO4-xm_bQYO5dbc_rLg

 

_____________