DƯ ÂM ĐẠI HỘI LẦN THỨ X-HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

DƯ ÂM ĐẠI HỘI LẦN THỨ XHỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

Bùi Công Thuấn

***

Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam nhiệm kỳ 2020-2025 (ảnh chụp sau cuộc họp đầu tiên)

            Dư âm còn lại trong tôi sau những ngày dự Đại hội lần thứ X – Hội Nhà văn Việt Nam (23-25/11/2020)  là niềm vui về một Đại hội chuyển giao thế hệ và những băn khoăn về con đường trước mặt của văn chương Việt Nam.

MỘT ĐẠI HỘI YÊN Ả ĐẾN NGẠC NHIÊN

            596 nhà văn dự Đại hội, nhưng chỉ có một ý kiến của đại biểu 90 tuổi. Cụ lên đọc phát biểu trang trọng, bài bản. Mặc dù hội trường rất trật tự nhưng tiếng của cụ lạc vào cõi nào. Lũ nhà văn thế hệ con cháu cụ ngồi phía dưới chỉ thấy tội nghiệp cho cụ.

Có nhiều thời gian dành cho tham luận và phát biểu ý kiến nhưng cũng không có nhà văn nào lên tiếng. Cả khi chờ kết quả kiểm phiếu, chủ tịch đoàn kêu gọi nhà văn trình bày ý kiến tự do (không cần đăng ký trước), cũng không ai đăng đàn. Người này nhìn người kia, cười. Xong! Cả hội trường im lặng, nói chuyện thì thầm. Điều này gây kinh ngạc vì ở đại hội cơ sở còn có một vài ý kiến, càng kinh ngạc so với các kỳ đại hội trước, người ta tranh cướp micro để phát biểu.

            Nguyên nhân có thể là, Chủ tịch đoàn đã không tổng kết ý kiến ở các đại hội cơ sở để đại hội đại biểu thảo luận thêm, thành ra, các nhà văn thấy rằng có phát biểu gì thêm cũng không ai nghe. Đại hội là nơi làm việc của Ban chấp hành. Ban chấp hành đọc báo cáo, Ban chấp hành kiểm điểm, Ban Chấp hành trình bày những nội dung điều lệ Hội cần thay đổi, Ban chấp hành đề ra phương hướng nhiệm vụ cho nhiệm kỳ mới. Rồi bầu Ban chấp hành cgho nhiệm kỳ mới. Đại hội không giải quyết những vấn đề của nhà văn. Nhà văn đi dự đại hội chỉ làm một việc (được coi là có tinh thần dân chủ) là giơ tay biểu quyết đồng thuận với Ban chấp hành về những “thành tích” lớn lao của nhiệm kỳ (2015-2020), và hợp thức hóa những gì đã được quyết định. Thế là đại hội thành công tốt đẹp.

            Nguyên nhân thứ hai có thể là, những nhà văn hay phát biểu ở những đại hội trước gần như không có ai trong đại hội này. Đại hội lần trước (2015) và lần này(2020), Điều lệ hội đã loại tất cả những hội viên Hội Nhà văn Việt Nam tham gia vào một tổ chức đoàn thể khác mà chưa được phép của Bộ nội vụ. Nhờ thế không khí đại hội rất vui vẻ, yên lành và đầy chất nhân văn. Chỉ hơi lộn xộn một chút lúc có đông đại biểu cùng lên bỏ phiếu. Thế là đại hội thành công tốt đẹp.

            Gọi là thành công tốt đẹp vì Đại hội đã bầu được một Ban chấp hành 11 nhà văn tài năng ở khắp các vùng miền tổ quốc, có thể đại diện cho nhiều vùng văn học khác nhau, và nhờ đó có thể kích thích sự phát triển văn học đồng đều ở những nơi mà trước đây chưa được chú ý.

Nhưng nếu coi đó là một thành công thì phải giải thích thế nào khi Ban chấp hành nhiệm kỳ IX-HNV khi chỉ có 6 người? Đã có ý kiến cho rằng, Ban chấp hành nhiệm kỳ IX chỉ là Ban chấp hành của Hội nhà văn Hà Nội, hay là Ban chấp hành của Văn nghệ quân đội! Và nếu như thế thì những “thành tích” mà Ban chấp hành nhiệm kỳ IX đạt được có là “thành tích” của hơn 1000 hội viên HNV không? 1616 tác phẩm của hội viên trong 5 năm (2015-2020) có phải là do sự thúc đẩy và hỗ trợ sáng tác của Ban chấp hành đối với từng hội viên mà đạt được như vậy chăng?

 Câu trả lời là không. Sự thật là, mỗi nhà văn tự thân sáng tác, tự mình rao bán bản thảo, hoặc tự bỏ tiền ra in tác phẩm, rồi tự phát hành hoặc đa số chỉ in vài trăm bản để tặng bạn bè. Ban chấp hành nhận những nỗ lực của từng nhà văn ấy là thành tích của Hội, tôi e những nhà văn tự in, tự phát hành tác phẩm của mình sẽ không bằng lòng đâu! Bởi vì đó không phải là kết quả của kế hoạch “đẩy mạnh sáng tác” của Ban chấp hành Hội.

Tôi xin kể một chuyện nhỏ. Năm 2017 tôi gửi đến nhà xuất bản Hội Nhà văn (Hà Nội) xin giấy phép cuất bản cuốn “Lý luận và phê bình văn học-Diện mạo của một thời”. Lúc ấy nhà thơ Đỗ Hàn nhận bản thảo. Nửa tháng sau tôi được biên tập viên gọi trả bản thảo và không cấp giấy phép. Tôi hỏi lý do, biên tập viên trả lời: không phù hợp với “Luật xuất bản” và không giải thích gì thêm. Tôi không rõ lúc đó nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đang phụ trách nhà xuất bản HNV có đọc và ra lệnh không cấp giấy phép hay không? Tôi tự so sánh cuốn sách của mình với cuốn “Luận chiến văn chương” của Chu Giang thì thấy cuốn sách của mình nhẹ tênh. Cuốn sách của tôi chỉ ghi nhận diện mạo phê bình của một thời “như nó là”, vậy mà không in được. Tháng 2/ 2020 tôi gửi bản thảo đến nhà xuất bản Hồng Đức xin phép xuất bản cuốn “45 năm văn học Việt Nam”, tôi chờ đến nay đã 10 tháng vẫn không thấy tăm hơi gì. Tháng 8/2020 tôi gửi đến Nxb Hội Nhà văn chi nhánh miền tây Nam bộ xin giấy phép xuất bản cuốn “Về thăm một miền quê”, đến nay đã 4 tháng vẫn chưa được cấp phép. Tôi không rõ vì lý do gì. Tôi là một hội viên Hội Nhà văn, trong ba năm in  3 cuốn sách. Tôi viết với trình độ chuyên nghiệp và ý thức trách nhiệm cao, nhưng không xin được giấy phép xuất bản. Vậy Ban chấp hành Hội “đẩy mạnh sáng tác” đến từng hội viên như thế nào? Sai tôi không nhận được sự trợ giúp của Hội? Ấy là chưa nói, trong nhiều năm gần đây, những bài phê bình văn học của tôi gửi đến báo Văn nghệ, đến trang vanvn.net của Hội cũng bị loại mà không một lời phản hồi của Ban biên tập!

Hình như việc “đẩy mạnh sáng tác” của Ban Chấp hành chỉ nằm trong hoạt động tổ chức trại sáng tác và tổ chức các cuộc thi thơ, thi tiểu thuyết. Và “thành tích” đẩy mạnh sáng tác chỉ là vài chục cuốn sách đoạt giải, không tạo được ấn tượng gì đối với công luận? Nếu vậy thì sao nói được, trong 5 năm qua, Hội Nhà văn Việt Nam đã làm tốt nhiệm vụ chính trị?

Tôi nghĩ các nhà văn dự đại hội biết rõ điều này: Nhiều nhà văn không còn sáng tạo được vì quá già. Mắt đã mờ, lưng đã mỏi, tay đã run, thì làm gì có được những tác phẩm “kết tinh” hiện thực lớn lao của dân tộc, làm sao vươn tới được “tác phẩm đỉnh cao” về tư tưởng và nghệ thuật xứng tầm với dân tộc này, một dân tộc đang bước đi những bước thần kỳ vào thế kỷ XXI, biết thế nên nhà văn tự im lặng! Còn Ban chấp hành, các vị cứ làm tốt nhiệm vụ chính trị của mình.

Việc chính là, Ban chấp hành phải thực hiện cho được nhiệm vụ chính trị, còn chuyện sáng tác những tác phẩm đỉnh cao của hội viên là chuyện lâu dài, hãy đợi đấy! Trước mắt Hội Nhà văn cứ làm công tác phong trào, cứ cổ vũ hội viên viết những tác phẩm phong trào, tạo những “dàn đồng ca” hoành tráng, thế cũng là tốt rồi. Trong 5 năm, hội viên in được 1616 tác phẩm là thành công rồi. Không có văn chương phong trào thì làm gì có tác phẩm đỉnh cao. Cách làm văn chương từ trước đến giờ vẫn thế!

ĐẠI HỘI CHUYỂN GIAO THẾ HỆ

Ban chấp hành nhiệm kỳ 2020-2025 gồm 11 nhà văn ở khắp các vùng miền trong nước.

1.Nhà văn Nguyễn Quang Thiều 1957 (Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam).

2.Nhà thơ Trần Đăng Khoa 1958 (Phó Chủ tịch Hội).

3.Nhà văn Nguyễn Bình Phương 1965 (Phó Chủ tịch Hội).

4.Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ 1966 (Ủy viên Ban Thường vụ)

5.Nhà văn Bích Ngân 1960 ( Ủy viên Ban Chấp hành),

6.Nhà văn Khuất Quang Thụy 1950 (Ủy viên Ban Chấp hành)

7.Nhà thơ Trần Hùng 1957 (Ủy viên Ban Chấp hành)

8.Nhà thơ Lương Ngọc An 1965 (Ủy viên Bân Chấp hành)

9.Nhà văn Vũ Hồng 1966 (Ủy viên Ban Chấp hành)

10.Nhà thơ Hữu Việt 1963 (Ủy viên Ban Chấp hành)

11.Nhà thơ Phan Hoàng 1967 (Ủy viên Ban Chấp hành)

Các nhà văn trong Ban chấp hành ở độ tuổi từ 53 đến 63 (trừ nhà văn Khuất Quang Thụy 70 tuổi). Đội ngũ này được coi là trẻ (có người nói: Nhà văn không có tuổi). Hầu hết trưởng thành lên sau chiến tranh. Họ có cách viết khác với thế hệ trước, tức là không bị ràng buộc bởi Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, hơn thế, từ khi đất nước “đổi mới” (1986), họ còn tiếp cận với nhiều lý thuyết văn học và khuynh hướng văn nghệ trên thế giới. Đặc biệt là sự đổi mới quan điểm văn nghệ của Đảng trong Nghị quyết 5 (1998) và Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị (2008). Lúc đó họ ở độ tuổi trên dưới 30. Vì thế Ban Chấp hành nhiệm kỳ 2020-2025 được coi là sự chuyển giao thế hệ.

            Nhưng xin lưu ý rằng, đây là chuyển giao thế hệ lãnh đạo Hội Nhà Văn, không phải là chuyển giao thời kỳ văn học, chuyển giao ý thức tư tưởng và nghệ thuật mới. Đại hội không bàn về những vấn đề này. Ban chấp hành vẫn kiên định quan điểm của Đảng về văn nghệ, kiên định lý tưởng Xã hội chủ nghĩa và xác lập rõ Hội Nhà văn Việt Nam là mội “tổ chức chính trị-xã hội- nghề nghiệp”, “Hội Nhà văn Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; hoạt động theo đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng”(Điều lệ Hội).

Trong diễn văn đọc tại Đại hội Nhà văn ngày 25/11/2020, ông Võ Văn Thưởng-Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo TƯ, Trưởng ban chỉ đạo Đại hội các Hội VHNT toàn quốc-nhấn mạnh [1]: “Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, kế tục truyền thống các thế hệ nhà văn đi trước, các nhà văn Việt Nam tiếp tục có mặt trong từng bước phát triển của đất nước và trong từng niềm vui, nỗi buồn của nhân dân, tiếp tục sứ mệnh quan trọng và đặc biệt của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu”.

Ông nhắc nhở: “Cho đến nay, Hội viên Hội Nhà văn chúng ta vẫn chưa xây dựng được những tác phẩm lớn về các cuộc kháng chiến vĩ đại, về những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, về cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Về chất lượng tác phẩm, tính chuyên nghiệp chưa cao, có ít tác phẩm đủ sức tạo thành các hiện tượng văn học,…

Ông đề ra nhiệm vụ cho Hội Nhà văn: Nhiệm vụ của Hội trong nhiệm kỳ mới là phải tiếp tục góp phần đáng kể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, chống sự suy thoái biến chất về tư tưởng chính trị và đạo đức; Trong tổng kết văn học Việt Nam nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, thúc đẩy hòa hợp dân tộc, xây dựng đại đoàn kết dân tộc, thông qua văn học, thúc đẩy một đời sống dân chủ lành mạnh, tiếp tục bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống và tạo dựng những giá trị nhân văn mới cho xã hội; Đồng thời tiếp tục tạo dựng hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trên thế giới thông qua văn học. Hội Phải tạo ra những bước đi có tính quyết đinh cho một dòng văn học thiếu nhi đa dạng, phong phú, hiện đại, đậm bản sắc văn hóa dân tộc để cùng xã hội tạo ra những sản phẩm đặc biệt nhất, quan trọng nhất là CON NGƯỜI Việt Nam. Đó là triển vọng là tương lai của đất nước mà nhà văn cần hướng tới”.

            Những nhiệm vụ Đảng giao cho Hội Nhà văn là rất vẻ vang nhưng cũng hết sức khó khăn. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, tân chủ tịch Hội Nhà văn phát biều: ”Thách thức với Ban chấp hành Hội Nhà văn khóa X là vô cùng to lớn, nhưng thách thức lớn hơn là thách thức của mỗi nhà văn trước trang viết của mình. Mỗi nhà văn phải trả lời biết bao câu hỏi, của chính mình, của mỗi thân phận quanh mình, của cả dân tộc trong một thời đại với nhiều biến động”[2] . Trả lời báo Thể thao & Văn hóa, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều hứa sẽ cố gắng hết sức: “Tôi đã giữ cương vị Phó chủ tịch Hội Nhà văn trong 10 năm, tôi nhận ra hết thảy những khó khăn đó. Những người đã bỏ phiếu cho tôi là những người đã tin tưởng tôi, những người chưa bỏ phiếu cho tôi là những người đang nhận ra khiếm khuyết của tôi. Làm được gì tôi chưa nói trước, nhưng tôi sẽ cố gắng hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ.”[3]

            Gọi là “thách thức”, vì đó là thách thức tài năng sáng tạo. Mà tài năng luôn là của hiếm. Với 1116 hội viên mà đa phần là nhà văn phong trào, và rất nhiều người già, thì Hội nhà văn mong đợi gì. Từ đổi mới (1986) đến nay đã 34 năm, họ không viết được tác phẩm lớn thì một ít tuổi đời còn lại, khi sức đã cùng lực đã kiệt, thì liệu họ còn kham nổi trách nhiệm nặng nề là viết những tác phẩm lớn hay không? Vậy chỉ trông nhờ vào thế hệ nhà văn trẻ. Nhưng người cầm bút thế hệ 8X, 9X lại không biết gì về chiến tranh, họ lớn lên trong kinh tế thị trường và tiêm nhiễm những ảnh hưởng văn hóa nước ngoài do toàn cầu hóa, liệu họ có viết được “những tác phẩm lớn về các cuộc kháng chiến vĩ đại, về những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới…”? Câu trả lời là rất khó. Vì những nhà văn 8X, 9X  không “trải qua bể dâu” của cuộc kháng chiến và công cuộc đổi mới cùng với dân tộc. Họ lại đang sống trong một môi trường khác, có cách nhận thức và suy nghĩ suy khác, họ viết văn với những mục đích cá nhân khác.

 Từ nhiều năm qua, chưa hề có tác phẩm lớn nào về chiến tranh cách mạng và kháng chiến. Cuốn Biên bản chiến tranh 1,2,3,4.75 của Trần Mai Hạnh (xuất bản 2015) được coi là tiểu thuyết tư liệu. Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội nhà văn hồ hởi nói đến một xu thế tiểu thuyết tư liệu viết về chiến tranh cách mạng và kháng chiến. Nhưng thực tiễn văn học đã không như vậy. Biên bản chiến tranh 1,2,3,4.75 chỉ là một tác phẩm báo chí. Dự đóan về xu thế tiểu thuyết tư liệu viết về chiến tranh cách mạng và kháng chiến đã không xảy ra. Trái lại, tiểu thuyết hiện nay khai thác nhiều về đề tài lịch sử.

 Với một thực lực hội viên như vậy, liệu Ban Chấp hành mới của Hội Nhà văn có “cây đũa thần” nào khơi gợi cảm hứng sáng tạo nơi 1116 hội viên không? Hay để đẩy mạnh sáng tác, Ban Chấp hành mới lại vẫn chỉ tổ chức trại sáng tác, tổ chức các cuộc thi thơ, thi tiểu thuyết nhưng Hội đã từng làm trong nhiều thập kỷ qua?

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, với tư cách Chủ tịch Hội Nhà văn nhiệm kỳ 2020-2025 phát biều: “Thay mặt BCH Hội nhà văn Khóa X, thay mặt thế hệ kế cận sau, những người đang cầm bút và sẽ trưởng thành trong tương lai bày tỏ sự biết ơn Đảng, Nhà nước, các cơ quan liên quan đã tạo tất cả điều kiện để Đại hội Khóa X thành công tốt đẹp. Chúng tôi lúc này nhận thấy sứ mệnh thật vinh quang, hạnh phúc thật lớn lao nhưng trách nhiệm cũng vô cùng nặng nề. Chúng tôi xin tiếp bước các nhà văn chân chính đã chọn đi, đồng hành cùng Cách mạng, đất nước. Chúng tôi nguyện làm tốt hơn nữa trách nhiệm ấy. Cuối cùng, tôi muốn nói rằng việc đặt cược lòng tin vào chúng tôi của các hội viên, của Đảng, Chính phủ và thế hệ mới là một cuộc đặt cược chắc chắn thành công!”.

Tôi quý mến tài năng và tinh thần làm việc đầy trách nhiệm của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, song tôi e rằng, tân Chủ tịch chưa lường hết những gì ông phát biểu rằng: “cuộc đặt cược chắc chắn thành công”. Giữa “lòng tin” và thực tại là một khoảng cách rất xa. Với một kế hoạch chu đáo, người ta có thể làm thành công mọi công việc, song trong sáng tạo nghệ thuật, sự “thành công” luôn nằm ngoài ý chí chủ quan của tác giả.

KỲ VỌNG CỦA HỘI VIÊN

            1. Điều đã được nói nhiều ở các đại hội cơ sở là việc kết nạp hội viên và trao giải thưởng văn học.

            Trong 5 năm (2015-2020) Ban Chấp hành đã kết nạp được 185 hội viên mới “phần đông là các cây bút trẻ sung sức”(Báo cáo tổng kết của Chủ tịch Hữu Thỉnh). Riêng hai năm 2019& 2020 Ban Chấp hành đã kết nạp 113 hội viên mới. Đây là điều bất thường. Năm 2020 có tân hội viên đã 75 tuổi (sinh 1945), cũng là “nhà văn trẻ” bất thường. Câu lạc bộ thơ Namkau ở Hà Nội mới thành lập được 6 tháng, năm 2020 có 7 hội viên Câu lạc bộ được kết nạp Hội Nhà văn Việt Nam (một điều kỳ diệu).

Những điều bất thường và kỳ diệu này làm cho nhiều hội viên nản lòng. Bởi trong 54 hội viên kết nạp năm nay, tôi không thấy khuôn mặt thơ văn nào có cốt cách, tài năng sánh ngang với những nhà thơ, nhà văn hiện nay (Nguyễn Quang Thiều, Trần Quang Quý, Lê Thành Nghị; Nguyễn Bình Phương, Đỗ Tiến Thụy, Bích Ngân, Phong Điệp…). Người ta bảo rằng chỉ cần trình độ Câu lạc bộ là đủ chuẩn kết nạp Hội Nhà văn, và ngược lại Hội Nhà văn chỉ là Câu lạc bộ sang hơn câu lạc bộ địa phương một chút! Hội Nhà văn đã tự làm mất giá chính mình trước yêu cầu về chất lượng của xã hội.

Trước một thực tạu như vậy, Ban Chấp hành cần đề ra những chuẩn mực (đánh giá chất lượng) để kết nạp hội viên. Ý kiến của Nam Cao là đáng tham khảo: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có…”. Tôi nghĩ, Hội chỉ kết nạp những cây bút có năng lực sáng tạo, và đã thực sự có đóng góp sáng tạo cho văn học. Không kết nạp những “thợ chữ”. Hãy để các Hội VHNT địa phương làm công tác phong trào.

            Về trao giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết lần thứ V(2015-2019) có 176 tác phẩm tham gia và 26 tác phẩm được trao giải. Cuộc thi được đánh giá là “ghi dấu bước chuyển mới về thể loại trọng yếu của văn học ta”(Báo cáo tổng kết), nhưng trong 26 tác phẩm được vinh danh, có nhiều tác phẩm làng nhàng, rất hiếm những sáng tạo mới mẻ về tư tưởng và nghệ thuật. Cách tổ chức cuộc thi và trao giải là cách làm văn chương phong trào không thể tìm ra tài năng và tác phẩm đỉnh cao.

Tôi nghĩ, Hội Nhà văn chỉ trao giải cho tác phẩm nào thực sự góp phần đổi mới văn học. Giải của Hội Nhà văn là giải chuyên nghiệp, không phải giải phong trào.

            2.“Lực lượng hùng hậu nhất của văn học ta trong những năm qua được huy động vào nhiệm vụ trung tâm là đấu tranh xây dựng môi trường văn hóa, xây dựng con người, trong đó vấn đề đạo đức xã hội là vấn đề nóng bỏng nhất” (Báo cáo tổng kết). Đó là đánh giá theo tinh thần Nghị quyết của Đảng.

Thực tế thì khác. Nhiều tiểu thuyết lịch sử đat giải thưởng tiểu thuyết (2015-2019). Giải nhất là tiểu thuyết lịch sử Từ Dụ Thái Hậu. Xu hướng viết tiểu thuyết lịch sử đã diễn ra hàng chục năm rồi. Tôi gọi đó là một dạng “ăn mày quá khứ”. Nhà văn không có khả năng  viết về cái “lịch sử đang diễn ra”, bèn tìm về quá khứ. Công việc “sáng tác” chỉ là đọc lại chính sử rồi “bịa” ra (Nguyễn Công Hoan nói: Hư cấu là bịa y như thật) những gì mà khoảng trống chính sử cho phép. Đấy không phải là “sáng tạo”, càng không là đóng góp mới về tư tưởng và nghệ thuật. Tiểu thuyết Hội Thề (Nxb Phụ nữ 2009) của Nguyễn Quang Thân và tiểu thuyết Chim ưng và chàng đan sọt (Nxb HNV 2014) của Bùi Việt Sỹ (cả hai cuốn đều đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn) đã từng bị công luận lên án gay gắt về những bịa đặt, đó chẳng phải là một kinh nghiệm cho văn chương Việt Nam hay sao?

Lịch sử là quá khứ. Thời nào có vấn đề của thời ấy. Tiểu thuyết lịch sử không thể giải quyết vấn đề đạo đức xã hội hôm nay. Cho nên nói rằng “Lực lượng hùng hậu nhất của văn học ta trong những năm qua được huy động vào nhiệm vụ trung tâm là đấu tranh xây dựng …vấn đề đạo đức xã hội…”là nói theo tinh thần Nghị quyết của Đảng.

Xin Ban Chấp hành hãy nhìn thẳng vào thực tại sáng tác để đánh giá cho được nền văn học Việt Nam đang ở đâu và đã đạt được những giá trị gì. Có vậy mới có thể tìm ra giải pháp phát triển văn học trong giai đoạn tới. Cho đến giờ, Văn chương Việt Nam đã phát triển thành 3 dòng chính: Văn chương cách mạng và kháng chiến, Văn chương nhân văn và dân chủVăn chương thị trường. Mỗi dòng văn học có những thành tựu và giá trị khác nhau. Không phải tất cả đều tập trung vào “vấn đề đạo đức xã hội”.

            3. Tinh thần của Ban Chấp hành là “Tất cả vì hội viên”. Tôi chưa rõ Ban Chấp hành mới sẽ đề ra chương trình hành động thế nào để thể hiện tinh thần này? Nhiệm kỳ trước Ban Chấp hành cũng làm việc với tinh thần này, nhưng nhiều hội viên đã phải tự xoay trở để tồn tại mà không có sự trợ giúp của Ban Chấp hành. Có nhà văn viết tác phẩm rồi tự rao bán bản thảo, tự bỏ tiền ra in, tự bán sách; hoặc sách của hội viên nằm chết ở nhà xuất bản HNV. Vậy Ban Chấp hành mới có thể giúp gì cho nhà văn vừa viết được tác phẩm lớn phục vụ nhiệm vụ chính trị, vừa giúp tác phẩm có thể “sống” được trong cơ chế thị trường? Hiện nhà văn hôm nay phải đối mặt với áp lực thị trường rất lớn, mà thị trường có quy luật riêng của nó. Không có sự hỗ trợ của Hội Nhà văn, cá nhân từng nhà văn khó mà ”sống” được với thị trường.

            4. Cần phải cải tổ mạnh mẽ cả về tổ chức và nội dung tờ báo Văn nghệ, trang vanvn.net, tạp chí Nhà văn &Tác phẩm. Hiện nay ba trang này chưa bao quát được những thành tựu mới của văn học Việt Nam, chưa trở thành diễn đàn cho những khuynh hướng sáng tác mới, chưa tiêu biểu cho những tiếng nói tài năng, tâm huyết của nhà văn trong cả nước. Nhà văn ở các tỉnh xa rất khó chen chân, góp mặt. Tại sao có tình trạng như vậy? Mỗi hội viên Hội Nhà văn đều có quyền đăng tác phẩm của mình trên ba trang này, miễn là phù hợp với tiêu chí xuất bản và không trái với Luật xuất bản. Bây giờ được đăng bài trên trang của Hội Nhà là nhà văn được sự ban ơn. Thân phận nhà văn thật thảm hại ngay trên sân nhà.

            5. Nhất thiết Hội Nhà văn phải viết được bộ lịch sử văn học Việt nam (1975-2025). 50 năm văn học sau 1975 chưa được đánh giá, tổng kết một cách chính thức trên cơ sở khoa học và tái hiện lại diện mạo văn học “như nó đang là”.

Thành ra trong trường học, thầy cô dạy Ngữ Văn không biết nói gì với học sinh về thành tựu giai đoạn văn học từ 1975 đến nay. Lớp 12 vẫn dạy Rừng xà nu của Nguyên Ngọc, Người lái đò sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân, Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, Một người Hà Nội của Nguyễn Khải…Học trò ngán học Văn ứ đến cổ. Hỏi học sinh có biết tác phẩm văn học nào hiện nay không, học sinh đều lắc đầu, có chăng biết tên nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Việc người trẻ thờ ơ với văn học có nguyên nhân từ nhà trường và Hội Nhà văn là vậy. Không có người trẻ đọc văn thì làm gì có “thị trường” văn học, làm gì văn học có đất sống?

***

            Không thể trong một nhiệm kỳ, Ban Chấp hành có thể làm được mọi việc để đưa nền văn học Việt Nam sánh ngang với văn học thế giới. Cũng không thể chỉ trong 5 năm, Ban Chấp hành có thể đạt được mục tiêu mà Đảng giao cho là:“xây dựng được những tác phẩm lớn về các cuộc kháng chiến vĩ đại, về những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới”. Là một hội viên, tôi hy vọng Ban Chấp hành hãy bắt đầu bằng những việc có ý nghĩa đổi mới một cách nền tảng, căn cơ, với tinh thần “Tất cả vì hội viên”, để từ đó tạo ra những cơ may cho sự phát triển.

Kính chúc Ban chấp hành Hội Nhà văn nhiệm kỳ 2020-2025 thực hiện được những gì đã hứa với hội viên.

28/ 11/2020

Bạn có thể đọc bài này trên trang: vanchuongphuongnam

______________________________ 

[1]http://vanvn.net/van-hoc-voi-doi-song/dangnha-nuoc-va-nhan-dan-luon-dong-hanh-voi-cac-nha-van/23040

[2] Phát biểu tại lễ bế mạc Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 10 của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.

[3]https://thethaovanhoa.vn/van-hoa/chu-tich-hoi-nha-van-viet-nam-nguyen-quang-thieu-chung-toi-dat-cuoc-vao-nha-van-tre-n20201125230921522.htm

VÀI HÌNH ẢNH VỀ ĐẠI HỘI

Toàn cảnh hội trường (khách sạn La Thành-Hà Nội ngày 24/11/2020)
Ban chấp hành nhiệm kỳ 2020-2025 mới ra mắt
Chuyển giao thế hệ giữa nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch HNV nhiệm kỳ 2015-2020 với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, chủ tịch HNV nhiệm kỳ 2020-2025
Tặng hoa Ban chấp hành 2015-2020
Tài liệu của Đại hội: Cuốn Nhà văn hiện đại (1654 trang) Mỗi nhà văn được giới thiệu 1 trang
Trang giới thiệu BCT (trang 44-Nhà văn hiện đại)
Đoàn nhà văn miền Đông & Đồng bằng sông Cửu Long
BCT dự Đại hội X-Hội Nhà văn Việt Nam (23-25/11/2020)
Niềm vui dự đại hội là được gặp gỡ nhiều bạn bè trong cả nước. Từ trái sang: PGS-TS Phan Trọng Thưởng, nhà thơ Lê Quang Trang, nhà văn Trần Dũng, nhà thơ-TS Lê Thành Nghị…

GỬI TỚI ĐẠI HỘI NHÀ VĂN LẦN THỨ X (2020)

GỬI TỚI ĐẠI HỘI-HỘI NHÀ VĂN LẦN THỨ X (2020)

Bùi Công Thuấn

Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam nhiệm kỳ 2015-2020

            Bài viết chỉ là ghi nhận riêng của tác giả khi quan sát đời sống văn học Việt Nam (2015-2020) từ đó gửi vài ý kiến tới Đại hội Nhà văn lần thứ X (2020).

NHỮNG HỌAT ĐỘNG CỦA HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

Trong 5 năm qua, Hội Nhà văn Việt Nam đã có nhiều nỗ lực phát triển văn học Việt nam. Chẳng hạn, tại Hội nghị công tác văn học 2017, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã nêu 3 việc cấp bách là: Nâng cao chất lượng sáng tác, lý luận-phê bình và dịch thuật văn học; Bổ sung đội ngũ các nhà văn trẻ, tài năng và tâm huyết; củng cố tổ chức và hoạt động cơ quan các cấp, nhất là các cơ quan cấp 2 của Hội… Các nhà văn dự hội nghị đề xuất bổ sung thêm những vấn đề: Tiếp tục giới thiệu những tác phẩm văn học có tinh thần yêu nước, tiến bộ, nhân văn của các nhà văn miền Nam trước năm 1975; đổi mới phương thức xét giải thưởng văn học và kết nạp hội viên mới; quan tâm hơn nữa đến mảng văn học  thiếu nhi và các hoạt động bồi dưỡng sáng tác, công bố tác phẩm v.v…[1]

Trong những hoạt động cụ thể, phải kể đến việc quảng bá văn học Việt. Ngày thơ Việt Nam 2015 kết hợp ba hoạt động: Liên hoan Thơ châu Á – Thái Bình Dương với Hội nghị Quốc tế quảng bá Văn học Việt Nam. Các hoạt động được tổ chức tại nhiều địa bàn khác nhau thuộc Hà Nội, Quảng Ninh và Bắc Ninh. Liên hoan thơ quy tụ 151 đại biểu quốc tế đến từ 43 quốc gia và các vùng lãnh thổ, và nhiều nhà văn, nhà thơ, dịch giả tiêu biểu  khắp các vùng miền trên cả nước.

Từ ngày 28/9 đến ngày 2/10/2015 tại Pháp đã diễn ra chuỗi sự kiện liên quan tới giới thiệu, dịch thuật, phê bình và gặp gỡ nhà văn, dịch giả văn học Việt Nam ở các thành phố Paris, Bordeaux và Limoges. PGS-TS. Đoàn Cầm Thi, nhà nghiên cứu (Học viện Ngôn ngữ và Văn minh phương Đông -Inalco) của Pháp cho biết văn học Việt được dịch khá nhiều tại Pháp.

Trong năm 2016 diễn ra hai hội nghị đặc biệt: Hội nghị Lý luận phê bình lần thứ IV (24-27.6) tại Tam Đảo và Hội nghị đại biểu những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX (27-29.9) tại Hà Nội do Hội Nhà Văn tổ chức. Hai hội nghị này có ý nghĩa quan trọng về chính trị và văn học.

 Hội nghị Tam Đảo tập trung vào chủ đề “Văn học 30 năm đổi mới, hội nhập và phát triển 1986-2016”. Tổng kết hội nghị, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà Văn nói về những dự định đẩy mạnh quá trình kết tinh tác phẩm. Hội Nhà văn đặt hàng nhà Lý luận Phê bình viết về đề tài: Bản chất của đổi mới văn học là gì? Mối quan hệ của Cái Mới, Cái Hay, cái Truyền thống là gì?…Hội Nhà văn sẽ xin phép tổ chức một cuộc hòa hợp dân tộc.

 Hội nghị đại biểu những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IXcóhơn 100 đại biểu. Đó là những gương mặt văn chương có thành tích tốt, có số lượng sách đã xuất bản khá đồng đều (có người đã in 20 đầu sách);  Hội nghị đã tập hợp, bồi dưỡng, định hướng sáng tác cho những người viết trẻ trên khắp mọi miền tổ quốc…[2]

Đặc biệt là cuộc gặp mặt lần thứ nhất “Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc”. Tại buổi lễ bế mạc chiều ngày 24-10-2017 tại Khu Biệt thự Hồ Tây-Hà Nội, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cho rằng: Dù đã chủ động và làm được nhiều việc nhưng sau một thời gian dài Hội Nhà văn Việt Nam mới chính thức tổ chức cuộc gặp lần đầu. Còn một số tồn đọng của quá khứ chưa thể giải quyết hết được trong một thời gian ngắn, Hội Nhà văn Việt Nam tôn trọng suy nghĩ độc lập của các nhà văn và sẵn sàng chờ đợi. Hội đã, đang và sẽ làm tất cả những gì có thể để hội tụ các tài năng văn học trong mái ấm của tình đoàn kết dân tộc. Với tinh thần “đoàn kết để sáng tạo, sáng tạo trong đoàn kết”. Trong không khí cởi mở, thân tình các nhà văn đã đóng góp nhiều ý kiến có giá trị. Tinh thần chung là tạo ra sự hợp tác thông thoáng, hiệu quả để các nhà văn ở nước ngoài có điều kiện tốt nhất tiếp cận đời sống, đẩy mạnh sáng tác, công bố tác phẩm và tổ chức các sự kiện giao lưu với bạn đọc trong nước.[3] Nói cho đúng thì sự thành công của cuộc họp mặt chưa được như mong đợi của Ban tổ chức. Nhưng cuộc họp mặt để lại nhiều dư âm tốt và nhiều suy nghĩ cho những người có trách nhiệm lịch sử đối với văn học Việt.

TÌNH HÌNH VĂN HỌC

Nhìn từ góc độ Hội Nhà văn, tình hình văn học trong 5 năm qua vẫn phát triển mạnh mẽ trên tất cả các mặt hoạt động.

Tại Hội nghị công tác văn học 2018, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam báo cáo: năm 2018 văn học Việt Nam tiếp tục có những nét khởi sắc đáng mừng; đời sống văn học cởi mở, dân chủ hơn, có nhiều tác phẩm được công bố, trong đó tính dự báo của văn học có nhiều dấu hiệu đáng mừng. Các lĩnh vực: Văn xuôi, thơ, văn học dịch, lý luận-phê bình văn học… đều có bước phát triển rõ rệt; đặc biệt là chất lượng và số lượng của các sáng tác trẻ ở văn xuôi và sự “nở rộ” của trường ca trong lĩnh vực thơ. Thực tiễn sáng tác cho thấy sự gắn bó giữa nhà văn với đất nước, dân tộc, nhân dân được thể hiện rõ hơn, trách nhiệm hơn.

Nổi bật là các hoạt động đi thực tế sáng tác, tổ chúc nhiều trại sáng tác theo từng thể loại, mở nhiều cuộc hội thảo về lý luận-phê bình văn học và công tác công bố tác phẩm, quảng bá văn học được quan tâm hơn trước. Các Liên chi hội khu vực, vùng miền sau khi có quyết định thành lập của BCH Hội, đã nhanh chóng tổ chức đại hội, kiện toàn tổ chức và đi vào hoạt động bước đầu có nền nếp.[4]

Báo cáo tại Hội nghị công tác văn học năm 2019, nhà thơ Hữu Thỉnh cho biết: hoạt động sáng tác vẫn được đẩy mạnh, chỉ riêng NXB Hội Nhà văn đã xuất bản hơn 1650 tác phẩm bao gồm các thể loại. Chủ nghĩa yêu nước, Chủ nghĩa Nhân văn vẫn là chủ đề xuyên suốt trong các tác phẩm. Các cơ quan cấp 2 của Hội cũng có nhiều hoạt động sáng tạo, năng động và hiệu quả, như: Cuộc thi truyện ngắn của tạp chí Nhà văn và tác phẩm; cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ; Các hội thảo chuyên đề của Hội đồng lý luận, phê bình văn học v.v… Đặc biệt, Hội nghị quảng bá văn học Việt Nam lần thứ IV và Liên hoan thơ quốc tế lần thứ III được tổ chức trong dịp Ngày thơ Việt Nam lần thứ XVII đầu Xuân 2019-Nguyên tiêu Kỷ Hợi đã có tiếng vang lớn, được dư luận trong nước và bạn bè quốc tế đánh giá cao. [5] 

Năm 2019, nhiều cuộc gặp gỡ, tọa đàm, hội thảo cũng đã được tổ chức. Tọa đàm “Nhận diện văn học trẻ Thủ đô 10 năm gần đây” do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức; Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội tổ chức hội thảo “Định hướng sáng tác các tác phẩm văn học, nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới”. Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Hội thảo “Thơ và Văn xuôi đồng bằng sông Cửu Long 45 năm”,  Hội thảo thơ Thanh Tùng… Hội thơ Đường luật Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Thơ Đường luật đời Lý”. Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trung ương tổ chức hội thảo khoa học toàn quốc với chủ đề “Vai trò định hướng của phê bình trong hoạt động thực tiễn và sáng tạo văn học, nghệ thuật hiện nay“…

Nhận định chung về chất lượng sáng tác văn học, trong Hội thảo khoa học toàn quốc ngày 19-12-2018 ở Hà Nội do Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương tổ chức với chủ đề “Nhìn lại quá trình xã hội hóa các hoạt động văn học, nghệ thuật ở Việt Nam từ khi ban hành chủ trương đến nay”, nhà thơ Hữu Thỉnh phát biểu: “Xã hội hóa với văn nghệ sĩ là tài năng được thừa nhận, tác phẩm được thừa nhận, tạo được tiếng vang với công chúng và có sức sống lâu dài. Xã hội hóa làm ra cả nghìn CLB thơ, nhưng tôi đọc thì không có bài thơ nào hay, có sức sống lâu dài. Nxb Hội Nhà văn có 1125 đầu sách được phát hành trong 1 năm nhưng chất lượng thì như thế nào? Chúng ta có cả một vườn sản phẩm được gọi là văn hóa nhưng thực chất văn hóa được bao nhiêu? Tôi hoan nghênh xã hội hóa nhưng không thể vì vài đồng tiền mà quên đi giá trị tác phẩm. Tác phẩm phải đi vào lòng người, đấy mới là xã hội hóa cao nhất[6]

Phải chăng có sự mâu thuẫn trong chính sự đánh giá văn học? Có thể hiểu ý kiến của nhà thơ Hữu Thỉnh-Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam như thế này: Về mặt các hoạt động phong trào, Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội VHNT địa phương vẫn có những họat động sôi nổi và đã thu đạt được nhiều tác phẩm. Song Văn học Việt Nam trong 5 năm qua vẫn chưa có “tác phẩm đỉnh cao”, “tác phẩm kết tinh” được những giá trị lớn lao của dân tộc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống.

MỘT VÀI GHI NHẬN

            1. Năm 2015 tôi đi dự Đại hội đại biểu Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ IX tại Hà Nội. Trước đó, không khí ở các Đại hội cơ sở rất sôi nổi và căng thẳng. Có một “cuộc đấu tranh” quyết liệt với  những hội viên Hội Nhà văn Việt Nam tham gia vào Ban Vận động Văn đoàn Độc lập. Ngày 09. 07. 2015 khai mạc đại hội. 542 nhà văn đại biểu về dự đại hội. Việc tổ chức hết sức chặt chẽ. Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch HNV trình bày phương hướng, nhiệm vụ phát triển văn học 2015-2020, ông nhấn mạnh nhiệm vụ đẩy mạnh sáng tác, xây dựng Hội thành một tổ chức chính trị -xã hội-nghề nghiệp vững mạnh, đồng hành cùng dân tộc, vì lợi ích tối cao của dân tộc, đoàn kết thân ái, giàu nghĩa tình đồng nghiệp. Bồi dưỡng kết nạp tài năng trẻ, “tất cả vì hội viên, tất cả hướng tới hội viên”, tiếp tục mở rộng giao lưu hội nhập khu vực và quốc tế. Ông cũng trình bày những mục tiêu và các giải pháp cụ thể từ đó có những kiến nghị với Nhà nước, Chính phủ và Quốc Hội.

            Năm nay do đại dịch Covid, mọi hoạt động của Hội Nhà văn đều phải ngưng lại. Dù vậy, Đại hội Hội Nhà văn ở các khu vực cơ sở đều đã được tổ chức tốt đẹp. Đại hội cơ sở chủ yếu thông qua Dự thảo Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 2015-2020 và Phương hướng nhiệm vụ 2020-2025; thông qua Bản kiểm điểm của Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam và bầu đại biểu đi dự Đại hội Đại biểu HNV lần thứ X tại Hà Nội. Tất cả còn ở phía trước.

            Ban Chấp Hành Hội nhà văn Việt Nam quyết định tổ chức Đại hội Nhà văn lần thứ X vào ngày 23-25/11/2020 tại Khách sạn La Thành Hà Nội. Để bầu được một ban chấp hành mới đáp ứng yêu cầu của thời đại mới, về nhân sự quả thật không dễ chút nào. BCH nhiệm kỳ 2015-2015 chỉ có 6 người quả thực đã không quán xuyến được đời sống văn học Việt Nam trong năm năm qua.

            2. Giải thưởng Hội Nhà văn trong 5 năm qua:

            Cho đến nay, những tác phẩm đạt giải không gây được tiếng vang nào. Năm 2017 và 2018 “mất mùa” giải thưởng cả văn xuôi và thơ. Các tác phẩm đạt giải Lý luận phê bình hầu hết là đề tài cũ. Riêng cuốn Văn học Nga hiện đại-những vấn đề lý thuyết và lịch sử của Trần Thị Phương Phương có đem đến một chút khí sắc mới.

            Giải thưởng năm 2020 của Hội Nhà văn vừa mới công bố. Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ V (2016-2019) có 26 giải, trong đó nhiều tác phẩm chỉ làng nhàng. Những tác phẩm thực sự đem đến cái mới về tư tưởng và nghệ thuật cho tiểu thuyết Việt Nam hôm nay xem ra còn phải chờ. Tác phẩm đạt giải Nhất là một tiểu thuyết lịch sử. Tôi cho đó là một dạng “ăn mày quá khứ” mà không sáng tạo. Tại sao nhà văn không viết về lịch sử hôm nay, về hiện thực hôm nay? Bao nhiêu vấn đề lớn lao của dân tộc đang diễn ra sao không được nhà văn khám phá, sáng tạo? Tôi nghĩ những tác phẩm không đem đến cái mới cho văn học hôm nay thì không nên trao giải. Tại sao ở thời kỳ đổi mới (1986-1990) nhiều nhà văn đã viết được những tác phẩm làm thay đổi hẳn nền văn học dân tộc. Văn học Việt Nam từ chủ nghĩa hiện thực XHCN chuyển hẳn sang những kiểu tư duy nghệ thuật đương đại của thế giới. Vậy mà đã hơn 30 năm rồi tiểu thuyết hôm nay không có gì mới hơn?!

Giải thưởng “sáng tác về biên giới biển đảo” đợt 1 được trao cho các tác giả tại trụ sở Hội Nhà văn sáng 22/11/2020 gây một ngạc nhiên lớn về số lượng giải:

4 tác giả giải Nhất: Nhà thơ Trần Đăng Khoa với tác phẩm “Đảo Chìm Trường Sa”, nhà văn Nguyễn Bình Phương với tác phẩm “Mình và nó”, nhà thơ Thi Hoàng với tác phẩm “Ba phần từ nước mắt” và nhà thơ Trịnh Công Lộc với chùm thơ về biển .

10 tác giả giải Nhì ,

18 tác gỉa giải Ba

12 tác giải được giải thưởng tôn vinh,

            Điều ngạc nhiên là trong 4 giải Nhất có hai tác giả đang là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (2015-2020). Có thực các tác phẩm được trao giải có giá trị tư tưởng và nghệ thuật đáng được tôn vinh, hay đây chỉ là một sự chia chác giải như đã thành thông lệ trước đây?

Nếu coi giải thưởng của Hội Nhà văn là thước đo sức khỏe của một nền văn học thì trong 5 năm qua, Văn học Việt Nam vô cùng trầm lắng. Do đâu có tình trạng này? Ban chấp hành Hội Nhà văn đã đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh sáng tác, và các hội viên đã in rất nhiều tác phẩm song vẫn không có tác phẩm kết tinh? Hình như lớp nhà văn già đã cạn kiệt sức lực và vốn sống, còn lứa nhà văn trẻ thì mất phương hướng?

            3. Đâu là nguyên nhân?

Dòng văn học Cách mạng và kháng chiến được Hội Nhà văn và các Hội VHNT địa phương tích cực thúc đẩy sáng tác như kế hoạch đã đề ra. Các Hội VHNT địa phương và Hội Nhà văn liên tục mở các trại sáng tác, tổ chức các chuyến đi thực tế, Trung ương mở các hội thảo định hướng. Số lượng tác phẩm của dòng văn học này là rất lớn, song chưa có một tổng kết đánh giá nào về giá trị của các tác phẩm phong trào này. Có một thực tế là, sau khi trại sáng tác kết thúc, tất cả các tác phẩm của trại viết đều được xếp vào kho để làm vốn cho đời sau (ai cần thì đọc). Những nhà văn trưởng thành lên trong kháng chiến có vốn sống, có lý tưởng và có kinh nghiệm viết, song 45 năm qua vốn liếng và sức lực ấy đã được khai thác. Đến nay hầu hết đã già và rất ít người có thể sáng tác trong bối cảnh lịch sử xã hội ở thế kỷ XXI. Trong khi lớp nhà văn trẻ trưởng thành lên sau chiến tranh, họ sống trong xã hội kinh tế thị trường hội nhập toàn cầu hóa, họ không có ký ức gì về chiến tranh cách mạng, nên không thể có được tác phẩm kết tinh cả một giai đoạn lịch sử vĩ đại của dân tộc. Điều này đặt ra trách nhiệm rất lớn đối với Hội Nhà văn trong việc bồi dưỡng thế hệ nhà văn kế thừa.

            Dòng văn chương dân chủ và nhân văn cũng chững lại. Những đề tài “nóng” hầu như đã được khai thác hết ở giai đoạn 1986 – 2000. Tiểu thuyết Mối Chúa của Đãng Khấu (Tạ Duy Anh) Nxb HNV 2017 bị Cục xuất bản thu hồi vì lý do: “Nội dung cuốn sách phản ánh những vấn đề nổi cộm trong xã hội hiện nay. Qua đó, tác giả đã vạch trần những tiêu cực và bất công trong xã hội. Tuy nhiên, phần lớn các nhân vật trong tác phẩm từ thấp đến cao đều đen tối, vô vọng, đau đớn. Qua lời kể của các nhân vật, hiện lên những thế lực hắc ám, một xã hội hầu như được chỉ huy bởi những kẻ ngu dốt, tham lam, thủ đoạn. Toàn bộ hệ thống bộ máy chính quyền bộc lộ sự tàn nhẫn, vô đạo, đàn áp nông dân, giết hại lẫn nhau, giết người chống đối chỉ vì tiền. Một số chi tiết được viết với giọng điệu giễu nhại sâu cay, miêu tả tiêu cực có phần tô đậm và có tính khái quát khiến cho hiện thực trở nên đen tối, u ám (trang 38, 43, 74, 129, 140, 141, 158, 161, 173, 198, 251…). Các trang viết về chính quyền cưỡng chế nông dân trong việc thực hiện các dự án được miêu tả một cách cường điệu, coi đó như hai lực lượng thù địch, chính quyền đàn áp như một trận đánh được chuẩn bị kỹ lưỡng từ vũ khí đến lực lượng bí mật (trang 113, 115, 124, 167, 168, 207, 209, 220, 248…)[7]

Tiểu thuyết Kiến, Chuột và Ruồi của Nguyễn Quang Lập dù in ở Mỹ (2019) và được Phạm Ngọc Tiến tụng ca nhưng không gây được tiếng vang nào.

            Tôi nghĩ, viết về những “cái tiêu cực” hôm nay (Mối Chúa) hay về Cải cách ruộng đất (Kiến, Chuột và Ruồi), nhà văn không thể cạnh tranh được với báo chí, với truyền thông đa phương tiện. Thời xa vắng (Lê Lựu), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Thời của thánh thần (Hoàng Minh Tường)… đã xa rồi. Nếu nhà văn chỉ viết để phê phán hiện thực thì sẽ không có độc giả. Độc giả U50, U60 không biết gì về Cải cách ruộng đất. Độc giả trẻ hôm nay quan tâm đến những vấn đề khác mà họ có thể tìm thấy trong văn chương thị trường.

            Văn chương thị trường, sau vụ mùa nở rộ 2014. Đến nay, cũng trở lại im ắng. Chẳng hạn, năm 2019,công chúng đọc nhiều loại sách về  kỹ năng sống như: Thoát khỏi bẫy cảm xúc hay trò lửa đảo của tâm trí (Tác giả Thiện Từ); Kế hoạch Marketing trên một-trang-giấy (Tác giả Allan Dib); LeapĐột phá tư duy trong kinh doanh (Tác giả Howard Yu), Thuật nói chuyện hàng ngày (Tác giả Hoàng Xuân Việt) (40). Sách Văn học chỉ cóLàm bạn với bầu trời của Nguyễn Nhật Ánh và tản văn Hành lý hư vô của Nguyễn Ngọc Tư [8]. Gần đây Nguyễn Ngọc Tư mới in tiểu thuyết Biên sử nước với một bút pháp khá mới lạ, có thể là một đóng góp cho tiểu thuyết Việt Nam, song hình như cuốn này khó đọc đối với độc giả phổ thông.

            Viết tác phẩm văn chương thị trường không dễ.  Văn chương thị trường hướng về lứa độc giả trẻ, mà lứa tuổi này thay đổi thị hiếu liên tục. Tuổi 18- 20 có nhu cầu tâm lý của tuổi vào đời hăm hở. Chỉ vài năm sau, Tuổi 25-30 đã rời khỏi thế giới lãng mạn để bước vào đời quay quắt với việc kiếm sống. Sau giờ lao động, người trẻ cần giải trí. Trên các trang mạng xã hội tràn ngập các phim ảnh, các chương trình ca nhạc. Chỉ một chiếc smartphone cũng giúp họ thư giãn, chẳng mấy người còn đọc sách.

Cho nên không phải nhà văn nào cũng thành công khi hướng ngòi bút về thị trường. Cuối năm 2019,  nhà văn Khôi Vũ đăng status trên Facebook kêu gọi các nhà xuất bản “giải cứu” bản thảo của ông. Ngày 14/1/2020, trên FB, nhà văn Trần Nhã Thụy cho biết, lần đầu chi tiền túi in cuốn Ba tao bay ra ngoài cửa sổ và 9 truyện ngắn khác. ” Anh xin giấy phép in 500 cuốn, nhưng thực tế chỉ in 300 cuốn và tự mình đi bán.

 Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà văn, trong Hội nghị công tác văn học 2019 đã đặt vấn đề để: “Thị trường sách của chúng ta là nó có rào. Đây là một thực tế mà chúng ta cần phải suy nghĩ. Vì sao vậy? Đối với thị trường, tôi thấy là nhiều năm nay chúng ta đã đưa ra, đã thảo luận, nhưng mà thị trướng nó có quy luật của thị trường. Chúng ta phải theo thôi. Chúng ta không thương mại hóa, nhưng chúng ta cũng không thể coi nhẹ quy luật của thị trường là, cái nào hay, cái nào có tiếng thì người ta đọc”.

4. Nói văn học Việt Nam trong  5 năm qua trằm lắng cũng cần phải nói đến sự trầm lắng của lý luận phê bình. Các cây bút viết lý luận phê bình sôi nổi trước đây hầu như “lặn” mất tăm (?). Các diễn đàn cũng không có người quan tâm. Tất nhiên lác đác cũng có một vài bài viết khen tác phẩm này, tác giả kia “càng đọc càng hay[9], rất vô thưởng vô phạt. Nhiều cuốn sách lý luận phê bình viết về đề tài cũ. Các tác giả viết về những nhà văn nhà thơ đã được nói đến nhiều như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Bích Khê, Hàn Mạc Tử, Vũ Hoàng Chương, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Nguyên Hồng trước 1945; và các tác giả Tố Hữu, Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Phạm Tiền Duật, Lưu Quang Vũ… giai đoạn 1945-1975. (Xin đọc: Những sinh thể văn chương Việt-2018; Phê bình Ký hiệu học-2018; Giấu vàng trong gió thu-2019)…). Phải chăng các tác phẩm văn học trong 5 năm qua không có gì để Lý luận phê bình khám phá? Hay các nhà phê bình quen cách viết cũ, đề tài cũ, thi pháp cũ không thể đọc được các tác phẩm viết bằng bút pháp mới, thi pháp mới?

Đã có những cuốn sách lý luận phê bình rất đáng chú ý nhưng lại xuất hiện âm thầm. Đó là cuốn Phê bình văn học thế kỷ XX của Thụy Khuê (2018), dù rằng Thụy Khuê chỉ in lại những gì đã viết trước đó. Cuốn này có thể là một đóng góp rất giá trị về mặt lý luận phê bình trong nước, mặc dù Thụy Khuê cũng có những hạn chế nhất định trong việc thể hiện những quan điểm riêng. Bộ sách Lược khảo văn học của GS Nguyễn Văn Trung in ở Sài Gòn trước kia đã được tái bản (2019) cũng là một đóng góp rất có ích cho người viết lý luận phê bình. Có thể nói hai cuốn sách này là “sách gối đầu giường” cho người viết phê bình văn học trẻ.

Trong  5 năm qua, giới lý luận gần như đã “bão hòa” việc tiếp thu các lý thuyết văn học nước ngoài. Chẳng còn thấy sự háo hức nói về Hậu hiện đại, về Bakhtin, Giải Cấu trúc, về Phê bình Sinh thái về Lý thuyết Người đọc, Lý thuyết trò chơi…Và việc đề ra trách nhiệm tìm kiếm một nền lý luận phê bình văn học riêng của Việt Nam cũng dần dần rơi vào im lặng. Việt Nam chưa có nhà lý luận phê bình nào đề ra được những lý thuyết văn học mới. GS Trần Đình Sử trong buổi ra mắt cuốn sách “Trên đường biên của Lý luận văn học” chiều 23 tháng 1 năm 2015, do Khoa Viết văn báo chí, Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức đã nói: ”Nền lý luận mà chúng ta đang có cũ quá rồi! Quá date rồi! Chúng ta, trong đó có tôi đã sai lầm, đã ấu trĩ, đã ngộ nhận nhiều rồi..”[10]

THỬ ĐỀ XUẤT MỘT VÀI VẤN ĐỀ

  1. Hội Nhà văn Việt Nam cần bổ sung đội ngũ nhà văn trẻ. Số lượng nhà văn trẻ ở

các Hội VHNT địa phương và ở Hội Nhà văn là rất khiêm tốn trong khi những nhà văn từ kháng chiến bước ra trẻ nhất cũng đã U70. Nếu Hội Nhà văn không trẻ hóa đội ngũ thì tình trạng đứt gãy thế hệ các nhà văn là không tránh khỏi.

Thời đại mới sẽ sản sinh ra một thế hệ mới. Thế hệ ấy bằng tài năng của mình sẽ thực hiện sứ mệnh thời đại theo cách của mình. Văn chương cũng vậy. Bây giờ là thế kỷ XXI, thời đại của thế hệ 4.0 với những vấn đề của toàn cầu hóa. Những vấn đề của hôm nay không chỉ thu gọn trong một trận đánh (kiểu chống càn trong Hòn Đất), một thôn làng (kiều dân làng Xô Man trong Rừng Xà Nu), hay một cá nhân (như cô Hiền trong Một người Hà Nội). Hiện tượng những năm gần đây nhiều nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử chỉ là một dạng khác của “ăn mày quá khứ”. Độc giả hôm nay muốn biết quá khứ, họ sẽ đọc sách lịch sử, chẳng hạn Đại Việt sử ký toàn thư. Những tiểu thuyết lịch sử hư cấu không thể thuyết phục người đọc bằng sách lịch sử, bởi đa số tiều thuyết lịch sử là bịa đặt, và không ít sự bịa đặt đã bị phản đối (chẳng hạn cuốn Chim ưng và chàng đan sọt của Bùi Việt Sỹ). Nhà văn hôm nay né tránh hiện thực, viết tiểu thuyết lịch sử là mượn chuyện xưa để nói về hiện thực hôm nay. Tại sao nhà văn không viết về lịch sử hôm nay?

Lịch sử đương đại – dòng chảy đời sống hôm nay có bao nhiêu vấn đề lớn nhưng không một tác phẩm văn học nào “kết tinh“ được. Bởi thế hệ nhà văn kháng chiến không thể viết mà thế hệ nhà văn trẻ lại không được chuẩn bị và tạo điều kiện để viết, thành ra, văn chương rơi vào sự im lặng, một sự im lặng rất đáng lo ngại Những tác phẩm văn chương phong trào, viết theo những chủ đề cho trước, viết theo những “công thức” an toàn thì không thể chạm tới những vấn đề lớn lao của dân tộc đang diễn ra. Chỉ những nhà văn của “hôm nay” mới có thể viết về thời sự lịch sử của thế hệ mình. Chuẩn bị cho đội ngũ nhà văn trẻ này là trách nhiệm của Hội Nhà văn.

Nhìn vào danh sách 54 tân hội viên Hội Nhà văn Việt Nam 2020 tôi không thấy một khuôn mặt nào có cốt cách văn chương sánh ngang với các nhà văn hiện nay như Nguyễn Bình Phương, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp, Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều, Trần Quang Quý, Lê Thành Nghị, Ly Hoàng Ly, Văn Cầm Hải…Hình như đội ngũ mới kết nạp này mới chỉ đáp ứng văn chương phong trào.

2.Hội Nhà văn cần viết một bộ lich sử văn học. Hòa bình, thống nhất đất nước đã 45 năm. Song chưa hề có một bộ Lịch sử văn học nào về văn học 1975-2020. Vì thế không thể định vị văn học 1975-2020 đang ở đâu trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc. Nếu Hội Nhà văn không có điều kiện thực hiện công trình này thì nên đặt hàng Viện Văn học hoặc các trường đại học để viết. Đời sống văn học không thể không có lịch sử. Giai đoạn 1930-1945, chỉ 15 năm đã là một giai đoạn phát triển rực rỡ của văn học Việt. Giai đoạn  1975-1975, dù chiến tranh hết sức ác liệt, nhưng nền văn học 1945-1975 “xứng đáng đứng vào đội ngũ tiên phong những nề văn học chống đế quốc trên thế giới”. Vậy nền văn học 1975-2020 là nền văn học thế nào? Những điều được dạy trong nhà trường phổ thông về giai đoạn văn học này là hết sức sơ sài (xin xem SGK Ngữ Văn 12). Vì thế, thật dễ hiểu tại sao người trẻ hôm nay không yêu văn chương Việt. Học sinh 12 vẫn học Rừng xà nu, Những đứa con trong gia đình, Chiếc thuyền ngoài xa…những tác phẩm viết ở giai đọan trước, người trẻ không biết gì về văn học hiện nay. Trách nhiệm này trước hết thuộc về Hội Nhà văn

3.Đẩy mạnh sáng tác thế nào? Trong 5 năm qua, có nhiều tác phẩm ghi được dấu ấn trong lòng độc giả. Có thể kể đến cuốn Kể xong rồi đi của Nguyễn Bình phương (2017), Con chim Joong bay từ A tới Z của Đỗ Tiến Thụy (2017), tập truyện ngắn Đường đến cây cô đơn của Bích Ngân (2019), tiểu thuyết Từ Dụ Thái Hậu của Trần Thùy Mai (2019), Làm bạn với bầu trời của Nguyễn Nhật Ánh và tản văn Hành lý hư vô của Nguyễn Ngọc Tư (2019)…

            Những cuốn sách trên không nằm trong tác phẩm đoạt giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn, cũng không là kết qủa từ các trại sáng tác do các hội VHNT tổ chức. Điều này có ý nghĩa gì?

Có lẽ Hội Nhà văn cần thay đổi cách chọn tác phẩm để trao giải và thay đổi cách tổ chức các trại sáng tác. Bao giờ các tác phẩm đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn là tác phẩm gây được ấn tượng với bạn đọc và là kết tinh của các trại sáng tác, lúc ấy mới có cơ may thúc đầy sự sáng tạo. Nếu các trại sáng tác chỉ thu được những tác phẩm làng nhàng rồi cất vào kho, thì đó là sự lãng phí rất lớn. Các giải thưởng không gây được dấu ấn trong công chúng độc gỉa thì giải thưởng đó bị nghi ngờ là có thể hiểu. Người ta nghi ngờ có sự “chạy” giải thưởng, nghi ngờ có sự “chia chác” giải thưởng. Những ý kiến như thế nghe rất rõ ở các đại hội cơ sở.

Tôi đề nghị, những tác phẩm vào chung khảo các cuộc thi, các cuộc trao giải hàng năm, cần đưa ra công luận trước khi chọn trao giải. Ban Chấp hành Hội có thêm một kênh thông tin về tác phẩm thì sự chọn lựa sẽ tốt hơn, minh bạch hơn, công chúng nhìn rõ năng lực thẩm định tác phẩm của Ban Giám khảo hơn. Điều này chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm.

Cần nâng tầm học thuật của các tác phẩm đạt giải lên thay vì chỉ chú trọng đến nội dung  “phản ánh” hiện thực của tác phẩm. Cần thay đổi cách chọn trao giải thay vì chỉ chú ý đến tính dân chủ và tính phong trào. Chỉ trao giải cho tác phẩm nào thực sự đem đến cái mới về tư tưởng và nghệ thuật cho văn chương đương đại. Có vậy, khi nhìn vào giải thưởng, người ta mới thấy được tiến trình văn học Việt Nam phát triển như thế nào. Bởi vì chính những tác phẩm ấy mới làm phát triển văn học.

4. Ngày 9/3/2019, lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam thành lập Ban chỉ đạo kiện toàn, củng cố, nâng cao chất lượng toàn diện báo Văn nghệ. “Mục tiêu là Trí tuệ, Đẳng cấp và Sang trọng. Nguyên tắc chung là đổi mới tờ báo dựa trên cơ sở giữ vững và phát huy những thế mạnh đã có; chỉ cải tiến, đổi mới những trang-mục không phù hợp hoặc chất lượng còn thấp; lấy lý luận-phê bình làm khâu đột phá; tăng cường thông tin về đời sống văn học và những vấn đề nổ cộm của đời sống văn học; mở rộng trao đổi, tranh luận… trên mặt báo”… Nhưng từ đó đến nay tôi chưa nhận thấy sự đổi mới nào rõ rệt. Vẫn là những nét vẽ minh họa “ngày xưa” ấy, cách trình bày ấy, cách chọn bài ấy, màu giấy cũ ấy. Và không phải không có những điều tiếng về tờ báo trong việc đăng bài. Hình như có sự dàn đều, chia đất cho các địa phương, và cũng có những gửi gắm thân quen để được đăng bài (?)

Tôi nghĩ, Tờ báo Văn Nghệ phải là tiếng nói tiêu biểu cho nhà văn trong cả nước, phải phản ánh được các xu thế mới, các tìm tòi sáng tạo mới và là nơi tin tưởng, tự hào của nhà văn. Ở mỗi hội VHNT địa phương đều đã có một tờ tạp chí. Các tác giả đều có thể đăng bài trong tạp chí địa phương mình. Tờ Văn Nghệ của Hội Nhà văn chỉ đăng những bài tinh tuyển, những bài thực sự có giá trị, thực sự đem đến cái mới cho văn chương. Không nên đăng cho có đủ mặt địa phương, đăng dàn đều, kiểu làm văn chương phong trào. Tờ Văn nghệ lâu nay “mất giá” là vì nặng tính chất “phong trào” như thế. Tờ Văn Nghệ nên đề ra một tiêu chí chọn bài, đăng bài, công khai cho mọi hội viên, tránh để điều tiếng về việc chọn bài đăng bài như một kiểu “ban ơn” cho nhà văn.

Tôi mong có một sự thay đổi thực sự từ nội dung đến hình thức của tờ Văn Nghệ trong nhiệm kỳ tới của BCH Hội Nhà Văn.

XIN GỬI TỚI ĐẠI HỘI

            Lời gửi gắm tới Đại hội Đại biểu Hội Nhà văn lần thứ X (2020) là, bằng tài năng, tâm huyết và trí tuệ của mình, các nhà văn cần thoát khỏi tình trạng “êm ả” (trì trệ) của nhiều năm qua và “kết tinh” được những tác phẩm xứng tầm với thời đại của mình.

Tháng 10/ 2020

Bổ sung 20/11/2020


[1] http://vanvn.net/thoi-su-van-hoc-nghe-thuat/hoi-nghi-cong-tac-van-hoc-nam-2017/1325

[2] http://vanvn.net/thoi-su-van-hoc-nghe-thuat/tong-ket-hoi-nghi-dai-bieu-nhung-nguoi-viet-van-tre-toan-quoc-lan-thu-ix-/698]

[3] Mai Nam Thắng-http://vanvn.net/thoi-su-van-hoc-nghe-thuat/be-mac-cuoc-gap-mat-lan-thu-nhat-%E2%80%9Cnha-van-voi-su-menh-dai-doan-ket-dan-toc%E2%80%9D-/1252

[4]  http://baovannghe.com.vn/hoi-nghi-cong-tac-van-hoc-nam-2018-18591.html

[5] http://vanvn.net/tin-tuc/hoi-nghi-tong-ket-cong-tac-van-hoc-nam-2019/2565

[6]http://vanvn.net/thoi-su-van-hoc-nghe-thuat/hoi-thao-khoa-hoc-toan-quoc-%E2%80%9Cnhin-lai-qua-trinh-xa-hoi-hoa-cac-hoat-dong-vhnt-o-viet-nam-tu-khi-ban-hanh-chu-truong-den-nay%E2%80%9D/2051

[7] https://tuoitre.vn/dinh-chi-phat-hanh-tieu-thuyet-moi-chua-cua-ta-duy-anh-20170921124459155.htm

[8] https://www.nxbtre.com.vn/diem-tin/nxb-tre-12-tua-bo-sach-an-tuong-cua-nam-2019-33851.html

[9] http://vanvn.net/tu-doi-vao-van/%E2%80%9Cchim-en-bay%E2%80%9D-cang-doc-cang-hay/22805

[10] http://trannhuong.com/tin-tuc-19005/giao-su-tran-dinh-su-da-len-duongchang-moi.vhtm

LỄ TRAO GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2020

Sáng thứ Hai 16/11/2020, Lễ trao giải VHNT Đất Mới năm 2020 được tổ chức tại Hội trường Tòa Giám mục Xuân Lộc. Có sự hiện diện của Đức cha Giuse Đinh Đức Đạo- Giám mục giáo phận Xuân Lộc, Đc Gioan GM Phụ tá, Đức cha cố Đaminh Nguyễn Chu Trinh, người khởi xướng giải từ 2011. Ngoài ra còn có Lm Trưởng Ban Văn hóa các giáo phận Quy Nhơn, Long Xuyên và đông đảo quý thầy Đại Chủng sinh, quý dì, các tác giả đoạt giải từ Sài Gòn, Hà Nội, Lạng Sơn, Lào Cai, Kontum. Đak Nông, Nha Trang, Bùi Chu, Phát Diệm, Nam Định, Ninh Bình, Quãng Nam, Buôn ma thuột, Tiền Giang, Cần Thơ…Ngoài phần trao giải còn có phần phụ diễn văn nghệ đặc sắc, trình bày các tác phẩm đoạt giải. Ban tổ chức cũng tặng các vị khác mời và các tác giả 2 ấn phẩm: Đất Mới nở hoa (Tuyển tập 10 năm) và Đóa hồng thứ 40 (tuyển tập 2020). Sau phần trao giải là thánh lễ tạ ơn và liên hoan gặp gỡ giữa các đấng chủ chăn và cộng đoàn.

GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2020

MỘT VÀI HÌNH ẢNH

Hội trường TGM Xuân Lộc
Toàn cảnh
Một góc sân khấu
Giải Thơ
Giải truyện ngắn
Giải truyện dài
Giải Kịch bản văn học
Giải ca khúc
Giải ảnh đẹp Công giáo
Khán giả (đoàn Quy Nhơn)
Tác giả đoạt giải
Tiết mục ca khúc Ave Maria đoạt giải nhất, trình bày Acapella (Tác giả và các bạn Nhạc viện TpHCM)
Đạo Diễn Xuân Thành
Nhà văn Khánh Liên (Bìa trái)
Triển lãm ảnh đẹp (một góc)
Triển lãm ảnh đẹp (Một góc)
Lm Dom Ngô Công Sứ Trưởng Ban Truyền thông đang tổ chức việc trao giải
Giao lưu Quy nhơn -Xuân Lộc tối 15/11/20
Nhà văn Khánh liên và các tác giả trẻ đoạt giải
Lm Võ Tá Khánh (nhà thơ Trăng Thập Tự) chia sẻ
Nhóm ảnh Xuân Lộc (các tác giả là Nghệ sĩ nhiếp ảnh đoạt nhiều giải quốc gia). Người đang nói là Nghệ sĩ nhiếp ảnh Bùi Viết Đồng
Tác giả đoạt giải nhất Ảnh đẹp Đất Mới 2020 là người tôn giáo bạn ở KonTum. Bên cạnh là Nhiếp ảnh gia Hoàng Long (ông từng là trưởng phòng văn hóa, rồi Trưởng Ban Tuyên giáo Tp Long Khánh. Hiện là TB Dân vận Tp LK)
Đoàn các nhà thơ, nhà văn Quy Nhơn năm trước (năm nay cũng hiện diện trong Lễ trao giải VHNT Đất Mới 2020 nhân kỷ niệm 10 năm)
Một nụ cười rất tươi của Lm Võ Tá Khánh (nhà thơ Trăng Thập Tự) nguyên là Trưởng Ban Văn Hóa Gp Quy Nhơn

BIÊN SỬ NƯỚC-NGUYỄN NGỌC TƯ QUEN MÀ LẠ

(Đọc Biên sử nước, tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư-Nxb Phụ nữ Việt Nam 2020)

Bùi Công Thuấn

            Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn tôi quý mến ngay từ ngày đầu chị xuất hiện. Đọc Biên Sử Nước, tôi vẫn gặp một khuôn mặt văn chương đậm nét Nam bộ nhưng lại rất mới lạ. Nguyễn Ngọc Tư tạo ra một thế giới nghệ thuật đầy ẩn dụ cùng với nhiều phá cách trong kiến tạo tiểu thuyết hư cấu (Fiction) hướng đến kiểu tác phẩm tư tưởng khiến Biên sử nước không dễ đọc. Ở góc nhìn này, Nguyễn Ngọc Tư có những đóng góp giá trị cho nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam đương đại.

MỘT THẾ GIỚI CỦA NHỮNG ẨN DỤ

            Có thể nói toàn bộ hệ thống hình tượng, kể cả những chi tiết miêu tả rất thực trong Biên Sử nước đều có thể đọc như những ẩn dụ.

            Chương đầu và chương cuối vỏn vẹn chỉ có mấy dòng:

            Chương 1: đã tới bên sông

            “Ngày hai ngàn không trăm bốn mươi sáu, Đức Ngài chỉ còn mỗi trái tim. Người đàn bà sẽ lấy nó đã tới bên kia sông, tay bồng đứa nhỏ”.

            Chương 11: rời

            “Ngày hai ngàn không trăm bốn mươi sáu, kẻ tự xưng là Đức Ngài chỉ còn mỗi trái tim. Người đàn bà sẽ lấy nó đang qua sông, tay bồng đứa nhỏ

            Toàn bộ 11 chương tiểu thuyết viết về người đàn bà tay bồng đứa nhỏ đi lấy trái tim của Đức Ngài.

            Người đọc không thể biết ngày 2046 là ngày tháng năm nào, người đàn bà bồng đứa nhỏ là ai, con sông được nói đến là con sông ở vùng nào, cả nhân vật Đức Ngài cũng không có bất cứ chi tiết nhân thân xã hội. Mở đầu, người đàn bà đã tới bên kia sông. Kết thúc tác phẩm, người đàn bà đang qua sông, nghĩa là hành trình đi lấy trái tim của Đức Ngài chưa xảy ra. Câu chuyện còn bỏ ngỏ.

            Trong tiểu thuyết có nhiều địa danh, nghe rất quen thuộc, nhưng nếu bạn đọc tra bản đồ địa lý thì không hề có. Đó là cù lao Lẻ, xóm Lầy, Đất Giồng, đồi Tro, bến Gò, Vạn Thủy, thị trấn Xép, Yên Xuyên, Hà Đô, đồn binh núi Biên. Nhân vật Tôi kể:Anh Hai mất tích ở biên giới Trung-Mông (tr.18). Hai địa danh Yên Xuyên, Hà Đô, nghe như tên một nơi nào đó ở Trung Quốc (Trung Quốc có: Ngô Xuyên, Đồng Xuyên, Hán Xuyên, Lợi Xuyên, Nghi Đô, Thành Đô…). Tôi chưa rõ dụng ý của tác giả, nhưng nghĩ rằng, vì là địa danh hư cấu nên bạn đọc không cần phải xem nhà văn viết về vùng đất nào. Cũng có thể là một trò chơi chữ. Bởi nếu người đọc lần theo các địa danh thì sẽ phát hiện ra gốc của địa danh trong truyện là gốc miền tây: Yên Xuyên (miền tây có Long Xuyên), Hà Đô (miền tây có Hà TiênTây Đô tức là Cần Thơ), núi Biên (có Tịnh Biên, một huyện miền núi An Giang giáp Cambodia); Đất Giồng (miền tây có Giồng Trôm – một huyện của tỉnh Bến Tre; Giồng Riềng – một huyện của tỉnh Kiên Giang)…

            Đứa nhỏ trên tay người đàn bà là con của Phú, nó không biết cười (chương 3), con chị Tùy là đứa nhỏ rịn nước (chương 5), con chị Khùng chỉ khóc, khóc không ngừng nghỉ (chương 7), con của Cẩm bị ghẻ (chương 9). Trẻ con vốn hồn nhiên hay cười nhưng những đứa trẻ trong Biên sử nước phải chăng là ẩn dụ cho trẻ con hôm nay. Chúng đã bị tước đọat mất sự hồn nhiên. Hình hài và nhân tính trở nên méo mó. Và đó là nguyên nhân người mẹ phải đi tìm trái tim người để chữa bịnh cho con.

            Tại sao chỉ có trái tim người mới chữa được bịnh cho những đứa trẻ ? Nói cách khác chỉ có trái tim người mới giúp những đứa trẻ trở lại làm người?  Trái tim là biểu tượng của sự sống, tình yêu thương. Thông điệp của nhà văn là chỉ có tình yêu thương đối với trẻ mới đem lại cho trẻ sự hồn nhiên (nhân tính). Trong Biên sử nước, tất cả mọi người mẹ đều đến cù lao Lẻ để lấy trái tim Đức Ngài, nhưng họ mới chỉ “đang sang sông”, chưa lấy được trái tim ấy, nghĩa là những đứa trẻ vẫn đang trong trạng thái mất nhân tính (nụ cười là biểu hiện đẹp đẽ của nhân tính, tiếng khóc là nối thống khổ không thể kìm nén). Nhưng nếu giả như họ lấy được trái tim ấy thì thế nào? Đức Ngài trong Biên sử nước chỉ là một “màn lừa đảo kinh thiên động địa”(chương 4-tr. 43), tái tim của Đức Ngài cũng chỉ là Trái Tim Lừa Đảo. Sự mất nhân tính của thế giới này không có phương thuốc nào chữa được! Đó là một thông điệp bi thiết.

            Chương 9 miêu tả nhân vật tôi sống trong một Thế giới chỉ ruồi và cứt ruồi, nhân vật Tôi và Cẩm chỉ ăn chữ. “Có lần cổ (Cẩm) lấy một cuốn sách, bảo mình cứ chọn ăn những chữ thừa không quan trọng thử coi. Nghĩa là nếu chúng mất đi, cũng chẳng ảnh hưởng gì tới câu chuyện. Rốt cuộc cuốn sách chỉ còn lại không tới 100 chữ. Cẩm nói mình đã bỏ bụng một đống chữ chẳng bổ béo gì” (tr.112). “Thế giới ruồi” và “người ăn chữ” là ẩn dụ hàm chứa thông điệp gì? Chúng ta hiểu rằng trong thế giới hiện thực, ruồi xuất hiện nhiều ở bãi rác. “Thế giới ruồi” là thế giới của rác, của những cái dơ bẩn. Con chữ trên trang giấy là những ký hiệu mang thông tin. “Ăn chữ” chứ không phải là ăn giấy, ăn mực. “Ăn chữ” là ăn thông tin. Phải chăng đó là thông điệp nhà văn nói về thảm cảnh con người trong thế giới thông tin rác, thế giới của sự dơ bẩn tràn ngập? (Việc giải mã ẩn dụ này có thể không đúng với chủ ý của nhà văn, nhưng trong cách đọc hiện đại, ý nghĩa của tác phẩm là những gì người đọc lấp đầy văn bản).

            Chương 5 (nước lên) kể lại việc chị Tùy mở vòi nước giặt đồ rồi quên khóa, chị vội chạy theo trai, khiến cho nước chảy ngập lụt. Cả thành phố căng ra chạy lụt. Mọi nỗ lực khóa vòi nước lại đều thất bại. Tỉnh phải bó tay. Bao sớm chiều người ta chỉ còn biết đứng thở dài nhìn vùng nước nở rộng…Trong thực tế, một vòi nước giặt quần áo không thể làm ngập lụt thành phố được. Hình ảnh ấy là một ẩn dụ. Và ẩn dụ ấy có ý nghĩa gì? Chị Tùy chạy theo trai là chạy theo tình yêu. Chính tình yêu làm ngập lụt đời sống. Nhưng đến chương 8 (cưới bóng), chị Tùy lại bị người yêu là Viễn bỏ rơi (tr. 97) vì thế trận ngập lụt ấy mới gây họa cho mọi người. Phải chăng tình yêu cũng gây họa. Nếu vậy thì bi kịch này của nhân loại đến bao giờ mới thoát ra được!

            Biên sử nước là thế giới ẩn dụ chứa đựng nhiều thông điệp tư tưởng của Nguyễn Ngọc Tư. Điều này làm cho tác phẩm dù rất mỏng (125 trang in) vụt lớn lên vượt trội so với tiểu thuyết Việt Nam đương đại.

NHÂN VẬT TÔI VÀ SỰ PHÁ CÁCH  TRẦN THUẬT

            Trong suốt tác phẩm, nhân vật Tôi là người kể chuyện người đàn bà tay bồng con đi tìm trái tim người. Trong tiểu thuyết truyền thống, nhân vật Tôi chỉ là một người. Tôi hoặc là tác giả, hoặc là một nhân vật trong truyện mà tác giả nhập thân vào. Trong Biên sử nước, nhân vật Tôi ở mỗi chương là một nhân vật khác với Tôi ở chương trước. Trong cách kiến tạo tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, nhân thân của Tôi được giữ rất bí mật. Tôi chỉ được nhận biết khi truyện kể về gần cuối chương. Chương 9 và chương 10, người đọc không thể nhận ra Tôi là ai. Điều này tạo thêm một nguồn hấp dẫn.

            Chương 2, nhân vật Ta là Đức Ngài ngồi trên ngai nhìn nhân gian quỳ lạy ở dưới.

            Chương 3, Tôi là Phúc Dương, người trùng tên với rất nhiều tên Phúc, có lẽ là một nhà báo đi tìm hiểu và viết phóng sự về cô gái tên Phúc mắt bò, bạn học cũ.

            Chương 4, Tôi là “sư mẫu”, ngoài 80 tuổi, là nhân chứng duy nhất vạch trần “màn lừa đảo kinh thiên động địa”của thằng Báo trong việc dựng thằng Phủ lên thành Đức Ngài để lừa thiên hạ.

            Chương 5, Tôi là thằng nhỏ mồ côi đi theo ông Từ. Tôi đi tìm chị Tùy, người đã mở vòi nước rồi quên, làm ngập lụt thành phố. 

            Chương 6: Tôi là em chị Thu. Nghe tin báo chị Thu (Trà Thị Thu) tới miệt Vạn Thủy lấy trái tim của người cầm đầu một tà giáo nào ở đó, Tôi đi tìm chị Thu.

            Chương 7: Tôi (thằng tù số 280) kể chuyện Bốn thằng tù với một chị đàn bà đã loạn trí còn phải mang đứa nhỏ trên tay”. Mãi sau này khi nghe tin người đàn bà ẵm con đi tìm tim Đức Ngài, tôi nghĩ đó là chị Khùng.

            Chương 8. Chị Tùy (nhân vật ở chương 5) kể chuyện mình bị Viễn bỏ rơi và chuyện hạnh phúc của vợ chồng anh Xây.

Chương 9, Tôi là người ăn chữ, có vợ và chia tay vì chị vợ không chịu nổi việc Tôi ăn chữ. Có lẽ Tôi là thợ sửa ống nước. Tôi là người kể chuyện Cẩm.

            Chương 10, Tôi kể truyện Mi một cô gái quậy phá trong cơn mộng du. Tôi có 2 đời chồng, chồng trước gốc Nhật, chồng sau hay hút thuốc. Nhưng Tôi lại là một người đàn bà bị tai nạn xe hơi, chưa tỉnh.

            Sự phong phú kiểu nhân vật Tôi (người kể chuyện) trong Biên sử nước có ý nghĩa gì? Nguyễn Ngọc Tư đã phá cách hẳn cách kể chuyện quen thuộc của tiểu thuyết. Sự khác biệt nhân vật người chuyện ở mỗi chương làm phân rã cốt truyện tiểu thuyết khiến cho mỗi chương trở thành một truyện ngắn riêng biệt. Điều đáng chú ý người kể chuyện là người đi tìm kiếm người đàn bà bồng con, là nhân chứng cho mọi sự kiện. Họ rất khác nhau về nhân thân xã hội. Đó là một nhà báo, một đứa nhỏ mồ côi, một thằng tù trốn trại, một người ăn chữ có lẽ là thợ sửa ống nước, một người bị tai nạn xe hôn mê chưa tỉnh (vậy mà vẫn kể chuyện được. Có lẽ Tôi hôn mê phần ý thức, còn phần tiềm thức vẫn hoạt động, nhà văn miêu tả dòng chảy ý nghĩ miên man trong tiềm thức của nhân vật này); một bà già ngoài 80 tuổi được gọi là “sư mẫu”,là nhân chứng, và đặc biệt là chị Tùy, một người đàn bà mất tích ở chương 5 lại trở thành người kể chuyện ở chương 8.

Tất cả các nhân vật Tôi đều có câu chuyện riêng góp vào làm đầy thêm câu chuyện về người đàn bà bồng con đi lấy trái tim Đức Ngài. Những câu chuyện của Tôi mở rộng biên độ không gian, thời gian của tiểu thuyết. Truyện không chỉ ở xóm Lầy, cù lao Lẻ, Vạn Thủy mà ở Núi Biên cách nhà Tôi non ngàn cây số (tr.71), hoặc biên giới Trung-Mông (tr.18), Tôi sống trong cái thư viện bị ruồng bỏ, cách với ngoài kia loạn lạc phải tới một ngàn năm ánh sáng.(tr.104)

Quan sát nhân vật Tôi, người đọc phát hiện ra tác giả giao cho nhân vật một sứ mệnh chuyển tải thông điệp. Nhân vật Tôi (sư mẫu) là người vạch trần trái tim Đức Ngài có thể chữa bách bịnh chỉ là một trò lừa bịp: Tôi là nhân chứng. Nhân vật Tôi (Phúc Dương) là một phóng viên, người gỡ rối ai là Phúc mắt bò trong 117 người tên Phúc. Nhân vật Tôi (đứa nhỏ mồ côi, em chị Thu và người tù số 280) chỉ chạm tới bóng dáng người đàn bà bồng con đi tìm trái tim người). Sau cùng là Tôi, người mất trí trong một tai nạn xe hơi, kể chuyện Mi quậy phá trong cơn mộng du. Vậy tiến trình từ Tôi (sư mẫu) đến Tôi (người mất trí) có ý nghĩa gì? Cái chân lý tưởng đã nắm được với nhân chứng rành rành ấy (sư mẫu) trở thành một điều không có thật và không có cơ sở để tin (người mất trí kể chuyện), nói cách khác, những gì tưởng là chân lý thì chẳng là gì cả. (Và nếu có thì nó nằm trong ký ức của người mất trí). Thông điệp này đẩy đến tận cùng sự hoài nghi về thực tại hôm nay. Thực tại này chỉ có sự lừa gạt, dối trá, tin đồn, chỉ có sự méo mó, tha hóa (người ăn chữ, người nhai tóc, trẻ không biết cười, một thế giới ruồi, gián và tai họa (những giấc mơ mọc cánh của Tôi-chương 5)

Nhân vật Tôi-người kể chuyện làm cho tiểu thuyết Biên sử nước trở nên khó đọc, Cần phải nhìn ra sự phát triển của nhân vật tôi từ đầu tới cuối tác phẩm mới thấy được những thông điệp ẩn dấu mà nhân vật chuyển tải. Nhân vật Tôi cũng tạo ra sự cuốn hút của việc truy tìm. Tôi cũng kể rất nhiều chuyện đời thường làm cho những ẩn dụ trở nên tư nhiên như thể đó là hiện thực.

Và dù Tôi làm phân rã cấu trúc Biên sử nước thì Biên sử nước vẫn là một tiểu thuyết chặt chẽ về cấu trúc (do sự phát triển vai trò của vật Tôi), thống nhất chủ đề tư tưởng và tư tưởng. Đó là tài năng kiến tạo tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư.

NGƯỜI ĐÀN BÀ BỒNG CON

Người đàn bà bồng con đi tìm trái tim Đức Ngài (tim người) làm thuốc chữa bịnh cho con là một hình tượng kết nối các chương, thể hiện thống nhất chủ đề tư tưởng của tác phẩm để tạo nên tiểu thuyết Biên sử nước.

Sự mới mẻ ở hình tượng này là, không chỉ có một nhân vật người đàn bà bồng con mà có nhiều người đàn bà khác nhau. Họ trở thành đối tượng của sự truy tìm nhưng không gặp.

 Chương 3, Phúc Dương truy tìm người đàn bà bồng con đi lấy trái tim Đức Ngài. Nhưng có đến hàng trăm người tên Phúc. Sau khi thu thập thông tin, cô nghĩ là Phúc Mắt bò, một bạn học cũ. Nhưng Phúc Dương mới chỉ tìm thấy một tấm hình có Phúc mắt bò mà chưa gặp lại được người bạn này. Chương 5: thằng nhỏ mồ côi đi theo ông Từ là người được cử đi tìm chị Tùy, người đã mở vòi nước rồi quên, làm ngập lụt thành phố. Nhưng cũng chưa tìm được. Chương 6: (Tôi) em chị Thu nghe tin báo chị Thu (Trà Thị Thu) tới miệt Vạn Thủy lấy trái tim của người cầm đầu một tà giáo nào ở đó, Tôi đến nhà chị Thu (trước kia là nhà tôi). Nhưng không thấy. Chỉ thấy hình bóng chị trong đoạn phim do canera cửa hàng tiện lợi ghi lại và được Hy là nhân viên cửa hàng chép vào điện thoại cho Tôi. Chương 7: Tôi (thằng tù số 280) trong khi vượt ngục, đã tiếp cận được chị Khùng, được chị Khùng cho ăn. Sau này, khi nghe tin có người đàn bà bồng con đi lấy tim người làm thuốc thì Tôi nghĩ ngay là chị Khùng. Chương 8, vợ anh Xây có lẽ nghe lời độc địa của chị Tùy đã đi tìm trái tim người để chữa bịnh không con. Chương 9: Bữa đài loan tin có người đàn bà ôm con đi lấy tim người làm thuốc, tôi biết là Cẩm” (tr.116). Cẩm là người trôi dạt. Cẩm đến sống chung với tôi trong một thư viện bỏ hoang, cả hai cùng ăn chữ.

Như vậy hình tượng “người đàn bà bồng con đi lấy trái tim người làm thuốc chữa bịnh” có chung những đặc điểm sau dây: Những người đi truy tìm họ đều chưa tìm được họ, nhưng có tiếp cận được trong một hoàn cảnh nào đó, và khi nghe tin về người đàn bà bồng con đi lấy trái tim người thì đoán chừng là người họ đã gặp. Tất cả đều chưa gặp mặt người đàn bà bồng con, mà chỉ thấy một vài dấu tích một vài “nghe nói” và đoán chừng. Hình ảnh “người đàn bà bồng con” gợi ra nhiều liên tưởng trong đời sống tâm linh Việt.

Trong Biên sử nước, mỗi người đàn bà (được phỏng đoán là người bồng con đi lấy trái tim người) đều có một hoàn cảnh đặc thù và chuyển tải một thông điệp riêng. Phúc Mắt bò nổi tiếng ở trường vì bị mắc kẹt với  đáy quần loang máu, khi ướt khi khô đanh. Tuy vậy, Phúc là một học sinh giỏi Toán toàn quốc, lấy bằng bác sĩ chuyên khoa 2 ở Hà Đô. Mẹ Phúc khoe với mấy bạn hàng ngoài chợ: “Con nhỏ sắp lấy bằng giáo sư”. Sau làm thu ngân cho một của hàng bách hóa tự chọn. Giờ chạy theo cả những ông thầy bùa ngải xác cậu cốt cô (tr.32), đó là điều không ai hiểu được. Nhưng thông điệp của nhà văn rất rõ ràng: người mẹ chấp nhận từ bỏ tất cả để tìm phương thuốc chữa bịnh cho con với một niềm tin tuyệt đối.

Chị Thu (Chương 6): “không ra đàn bà cũng chẳng ra đàn ông. Cái mũi gom cao và đôi mắt hai mí…cơ mặt cứng lạnh, mớ tóc xơ rối, dáng người khô khòng, chị ít cười”(tr.72). Đi dạy học, chị mặc áo dài xanh da trời. Ở nhà chị nuôi gián. “Học trò của chị Thu cũng không mấy yêu quý cô giáo dạy môn Ngữ văn”(tr.73). Dường như người đàn bà này không hợp với môi trường sống của mình, phải chăng vì thế chị Thu làm bạn với gián?

            Người đàn bà tên Cẩm (chương 9) là người ăn chữ. Cẩm chui ra từ một cái thùng rác úp ngược. Bồng trên tay một tiếng khóc xanh yếu, cổ mệt lả…”; “Sau này Cẩm kể cô không mục đích nào, chỉ đi vậy thôi, ‘hơn ngồi một chỗ chờ chết’”(tr.105). Cô là đàn bà với vòm háng ấm, đôi đầu vú nhỏ, búi mông cứng.107 Cẩm sống trôi dạt, chỉ ăn chữ. Cẩm nói mình đã bỏ bụng một đống chữ chẳng bổ béo gì”(tr.112). Dường như nhân vật này thể hiện tư tưởng hiện sinh của tác giả: Đời sống bản chất là vô nghĩa. Sống là đi về cõi chết?

Các nhân vật này đều thể hiện tư tưởng về “sự biến mất của con ngườ” trong cõi đời này. Nhân vật Tôi khi theo dõi dấu tích chị Thu đã nghĩ về mình:“Hình ảnh cuối cùng của tôi trước khi biến mất khỏi cõi đời, cũng sẽ được một con mắt điện tử nào đó giữ lại 30 ngày, rồi tự động tan đi không dấu vết. Ai sẽ ngồi xem lại hình ảnh tôi” (tr.75).

Tất cả các nhân vật người đàn bà bồng con đi tìm trái tim người chỉ được ghi nhận qua dấu tích họ để lại (Gián trong nhà chị Thu; vòi nước chảy và quần áo giặt của chị Tùy, ấn tượng về tiếng móng tay gãi miết vào da bật máu trên da của Cẩm.…), qua một vài mối quan hệ của họ với người này người kia, và qua những thông tin ai đó nói (bọn học trò trường Yên Xuyên nói về Phúc mắt bò, người mẹ nói về Phúc…). Cuộc truy tìm họ là vô vọng (Thằng nhỏ mồ côi được giao nhiệm vụ tìm chị Tùy phải leo lên cột địện tránh nước lụt để định hướng).

Sự biến mất vô vọng của người đàn bà bồng con đi tìm trái tim người chỉ là một cuộc ra đi chưa đến đích (còn “đang sang sông”) hay là một thái độ phản kháng?

Về lý do chị Tùy ra đi, người ta trách mẹ chị Tùy rằng: “Phải dì bớt bạc đãi con Tùy đi một chút thì đâu tới nỗi”(tr.48). Có nghĩa sự ra đi của chị Tùy là phản kháng lại sự bạc đãi của người mẹ. Cẩm nói về sự trôi dạt của mình: “chỉ đi vậy thôi,‘hơn ngồi một chỗ chờ chết’”(tr.105), tức là phản kháng lại sự tù đọng hiện sinh. Phúc mắt bò từ bỏ nghề bác sĩ để làm thu ngân cho một cửa hàng, từ bỏ sự chữa tri y khoa cho đứa con không cười bằng cách tin vào thầy bùa ngải xác cậu cốt cô, phải chăng Phúc phản kháng lại một xã hội thực dụng (chỉ có tiền) và văn minh phương Tây (cách chữa bịnh bằng Tây Y)? Điều này bạn đọc có thể thấy rõ rất nhiều người chữa bịnh tà bằng cách tìm đến các thầy bùa. Ở chương 10, nhân vật Mi và Tôi kéo đổ tượng đài ở trung tâm thành phố (tr.120). Mi ném đá vào đèn ở quảng trường, mở tung những trụ nước cứu hỏa, cài thuốc nổ đánh sập một chân cầu…phải chăng đó là sự phản kháng vô chính phủ về những tiêu cực trong đời sống (chẳng hạn phản khác việc xây tượng đài bê tông cốt tre)

Không thể hiểu khác, qua hình tượng người đàn bà bồng con đi tìm trái tim người, nhà văn ca ngợi tình yêu thương con của người mẹ, đồng thời bày tỏ thái độ phản kháng xã hội về nhiều mặt, thể hiện ý thức về Hiện sinh và về sự tồn tại của một con người trên cõi nhân gian này, cõi nhân gian đầy ruồi, đầy gián, đầy lọc lừa. Con người tồn tại trong vô vọng, như giữa mênh mông nước không có gì bám víu, không gì ngăn được sự ngập lụt. Hệ thống hình ảnh ẩn dụ có ý nghĩa biểu tượng chứa đựng những thông điệp còn ẩn rất sâu dưới lớp vỏ chữ nghĩa, đó là một đặc sắc của Biên sử nước.

NGUYỄN NGỌC TƯ QUEN MÀ LẠ

            “Tụi tui ăn chữ. Xin bạn đừng có tầm thường như những người tôi từng biết, họ hoặc nhìn tôi như kẻ điên hoặc dán vào tôi cái nhìn ngờ vực, nghĩ ăn chữ chắc có ám chỉ gì. Nhưng ăn chữ chẳng mang tầng nghĩa ngầm nào khác. Nó đơn thuần như bạn ăn cơm. Nghĩa là nhai nuốt bằng răng, tận hưởng hương vị qua gai lưỡi, và tiêu hóa chúng trong dạ dày, thấm hút chút dưỡng chất vào thành ruột. Ở ngoài kia có nhiều người ăn chữ kiểu như tôi, chỉ là chúng ta không biết đó thôi” &tr.105)

            Phải chăng Nguyễn Ngọc Tư đang đối thoại trực tiếp với chúng ta và hóa giải cái cách chúng ta bẻ khóa mật ngữ của tác phẩm? Chúng ta nhận ra Biên sử nước là một thế giới ẩn dụ, Nguyễn Ngọc Tư bảo “chẳng mang tầm nghĩa ngầm nào khác”, nhưng xin thưa, khi tác phẩm đã được công bố và được đọc, thì nghĩa tác phẩm thuộc về diễn giải của người dọc. “Tác giả đã chết” (Roland Barthes).

Trong Biên sử nước, nhiều lần nhân vật đối thoại trực tiếp với người đọc như vậy. Đây là một chia sẻ trải nghiệm: “Bạn biết đó, khi bạn không nhà cửa chẳng mẹ cha, sống nhờ cơm miễu Thánh thì phụ nữ là thứ gì đó xa tận bên kia biển…Với đàn bà, nhìn thẳng vào họ thôi cũng khiến tôi thấy mình không xứng đáng”(tr.58).

                Cách viết của mỗi chương là ghi lại dòng “ý nghĩ miên man” (tr.76) của nhân vật Tôi. Nhân vật tôi ở hiện tại, rồi ký ức xuất hiện. Quá khứ đồng hiện với hành động ở hiện tại. Nhân vật để cho ý nghĩ của minh trôi đi từ chuyện này sang chuyện khác, tạt ngang rồi tạt dọc, xa lạc chỗ khởi đầu ở hiện tại, sau đó quay về hiện tại. Người đọc chỉ lơ đãng một chút là không còn biết mình đang ở đâu giữa rừng chi tiết truyện, và sẽ rối tung lên không biết bám vào đâu để lần ra manh mối chính. Điều này khiến cho độc giả không thể đọc nhanh. Thú thực là mỗi chương tôi phải đọc lại vài lần mới thoát ra được cái rắc rối của cấu trúc truyện. Và trong khi nghe Nguyễn Ngọc Tư kể chuyện, tôi gặp đâu đó các miêu tả độc thoại nội tâm của Hemingway (Ông Già và Biển Cả), ở chỗ khác tôi lại thấy những dòng miêu tả rất lạ theo cách miêu tả Hiện tượng luận (Husserl), thực sự là thú vị. Thú vị ở văn bản đang đọc, tức là những gì nhà văn dệt nên bằng văn chương và thú vị với một tác phẩm văn chương đã hội nhập với văn chương thế giới đương đại.

            Nói thế để nhấn mạnh điều này Nguyễn Ngọc Tư muốn viết một tác phẩm tư tưởng. Vì thế nếu muốn tìm “giá trị phản ánh hiện thực” của tác phẩm theo cách đọc cũ, người đọc sẽ thất vọng. Biên sử nước chỉ kể những chuyện đời thường trong dân gian: chuyện gái bỏ nhà theo trai (chị Tùy), chuyện tù vượt trại (chương 7), chuyện một bà già bị mấy giỏ xoài đè chết (tr. 19), anh xe ôm kể chuyện vợ ghen (tr. 23), chuyện “Được làm đàn bà tới bến rồi đó, sướng không?!”(tr.26), chuyện con nít bị ghẻ (con của Cẩm), chuyện một nhiếp ảnh gia biến mất ở Núi Biên (tr.70), chuyện trẻ con khóc (tr. 84), chuyện một cô gái nằm vắt ngang đường tàu tự tử (tr.96), chuyện phụ nữ bị nghén ăn lá mục (tr.100), chuyện hôn nhân đổ vỡ (tr. 108)… những chuyện như thế chẳng phản ánh vấn đề chính trị xã hội nào của hiện thực hôm nay. Thấp thoáng có vài vấn đề như, xây tượng bê tông cốt tre (tr. 120), chuyện buôn thần bán thánh (Đức Ngài), chuyện đồng tính (chuyện Tôi là người đàn bà có hai đời chồng với Mi-tr.120), nhưng đó cũng không phải là những vấn đề “nóng” của xã hội Việt Nam hôm nay.

            Điều thú vị là, Nguyễn Ngọc Tư trình bày tư tưởng rồi lại phủ định tư tưởng ấy, giống như Biên sử nước là một thế giới ẩn dụ nhưng tác giả lại bảo “chẳng mang tầng nghĩa ngầm nào khác”.

            Người đàn bà đi tìm trái tim người để chữa bịnh cho con với một lòng yêu thương và một niềm tin tuyệt đối. Tác giả khẳng định chỉ có tính yêu thương (trái tim) mới chữa lành mọi bịnh tật, mới cứu rỗi nhân tính. Thế nhưng ngay sau đó nhân vật “sư mẫu’ là một nhân chứng sống đã nói rõ Đức Ngài chỉ là một trò lừa gạt. “Trái tim” của kẻ lừa gạt làm sao chữa được bịnh. Thế nghĩa là chẳng có tình yêu thương nào chữa lành tình trạng nhân tính bị tha hóa!

            Nguyễn Ngọc Tư nói về sự biến mất của một con người như một tất yếu: “Hình ảnh cuối cùng của tôi trước khi biến mất khỏi cõi đời, cũng sẽ được một con mắt điện tử nào đó giữ lại 30 ngày, rồi tự động tan đi không dấu vết. Ai sẽ ngồi xem lại hình ảnh tôi” (tr.75) và trong truyện là rất nhiều trường hợp con người biến mất (Phúc mắt bò, Cô Long, chị Thu, chị Khùng, Cẩm…). Thế nhưng, người ta vẫn thấy dấu tích của họ, họ đang lang thang nơi này nơi kia, và không phải họ không để lại những hậu quả. Chị Tùy bỏ đi để nước chảy ngập cả thành phố, Chị Thu đi để lại cái nhà đầy gián. Cô Long bỏ đi đến nỗi thằng Phủ phải giả làm Đức Ngài để gây tiếng vang “sao cho ở phương trời nào con nhỏ kia cũng nghe thấy” (tr.43). Nghĩa là con người “biến mất” vẫn tồn tại. Phải chăng đây là sự mâu thuẫn trong tư tưởng của Nguyễn Ngọc Tư?

            Cũng vậy, khi Nguyễn Ngọc Tư nói đến một vài hiện tượng xã hội nhưng ngay sau đó lại phủ định những gì mình vừa kể. Chuyện xây tượng đài bê tông cốt tre, hoặc tình trạng con ông cháu cha quậy phá (nhân vật Mi, chương 10). Phần sau câu chuyện, tác giả lộ ra rằng đó là chuyện kể của một người hôn mê vì tai nạn xe chưa tỉnh, và Mi quậy phá khi cô mộng du, nghĩa là của hai kẻ không có ý thức. Chuyện chỉ xảy ra trong tiềm thức của một người đã mất hết ý thức. Vậy tiếng nói phản kháng ấy có giá trị gì với thực tại?

            Có thể lý giải sự mâu thuẫn của Nguyễn Ngọc Tư là do nhà văn thể hiện tư tưởng nhưng không dựa trên một hệ thống triết học nào. Nhà văn cũng không viết với khuynh hướng văn chương dấn thân (J.P.Sartre-1905-1980), vì thế những thông điệp tư tưởng của Nguyễn Ngọc Tư trong Biên sử nước chỉ có ý nghĩa như một tiếng nói trách nhiệm trước một thời đại mà nhân tính bị hủy hoại trầm trọng, tình yêu thương không còn khả năng cứu chữa bệnh tật của con người. “Chúng ta không biết mình đang sống trên những mục rã nào” (tr.120). Tôi nghĩ tiếng nói trách nhiệm ấy thật đáng quý.

            Biên sử nước có cách đặt tên khá lạ. Những thở dài mang vị muối, Dấu nước, gọi vang, nước lên, những kén, tiếng khóc từ trời, cưới bóng…Tất cả tên chương đều không được viết hoa. Có điều gì đó rất trái với quy luật ngôn ngữ thông thường. Lẽ ra phải viết “những cái kén” hoặc “tiếng khóc thấu trời”. Thở dài” là một động từ, “những” là số số từ, chỉ đứng trước danh từ, không thể đứng trước động từ (Những thở dài). Sự “lạ hóa” cả ở nội dung nhan đề ”cưới bóng”. Sự “lạ hóa” cách viết nhan đề cũng là một phá cách của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư. Nó tạo ra sự “gây hấn” với người đọc ngay khi tiếp cận tác phẩm. Nhan đề “Biên sử nước” là một gây hấn như vậy. Người đọc thường nghe “biên niên sử” của một triều đại. Nhưng Nguyễn Ngọc Tư viết “Biên sử nước”, vậy nên được hiểu thế nào? Biên niên sử của nước hay bên lề (đường biên) lịch sử của nước, hay là ghi chép về (biên chép) lịch sử của nước? Tác phẩm không hề chứa đựng các nội dung này.

Thôi thì cứ nghe theo lời nhà văn, cách đặt tên tác phẩm, tên chương: “chẳng mang tầng nghĩa ngầm nào khác”. Chẳng qua là một trò chơi chữ thú vị, vậy thôi! Nói như thế thì trả lời thế nào về chức năng của nhan đề? Nhan đề chứa đựng nội dung, tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm. “Biên sử nước” nhất định chứa đựng những điều ấy, không phải chỉ là một trò chơi chữ đơn thuần. Phải chăng nhan đề ấy gợi ra vấn đề nước ở đồng bằng sông Cửu long một thời ngập lụt (“chan nước đi hàng mấy trăm cây số”. tr.53) mà bây giờ đối mặt với sự khô cạn? Cho nên người ta không thể cười được, như đứa trẻ kia chỉ khóc không ngơi? Tìm mãi một con đường giải quyết như không thấy (như tìm người đàn bà bồng con)?

Tôi rời cuốn sách mà lòng ngổn ngang, dường như tôi đuổi theo những gì Nguyễn ngọc Tư viết giống như mấy người tù chạy theo thằng 551, tưởng nó dẫn đường trốn trại, ai dè nó chạy theo một con chim thằng chài, một con chim xanh biếc, và thằng 551 hỏi ngược lại những người tù rằng ”Nhưng sao tụi mày lại chạy theo” (Chương 7-tr.79). Những người tù trốn trại chạy theo thằng 551 là vì ngộ nhận, còn tôi chạy theo Biên Sử nước, chẳng lẽ…!

***

Nguyễn Ngọc Tư (bìa trái) cùng các nhà văn nữ trong Đại Hội-Hội Nhà Văn tại Trà Vinh 2020

Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn có những nỗ lực khám phá sáng tạo liên tục, rất quen ở phong cách nhưng mới lạ ở nghệ thuật và tư tưởng. Thế hệ nhà văn đồng thời với Nguyễn Ngọc Tư giờ trở thành những cây viết chủ lực của văn chương Việt, họ đã làm thay đổi hẳn dòng chảy văn chương Việt và tiếp cận với văn chương thế giới. Những đóng góp về thi pháp và tư tưởng của Nguyễn Ngọc Tư trong Biên sử nước là một trường hợp cụ thể.

Xin chúc mừng nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.

Tháng 11/2020

HỘI NGHỊ CÔNG TÁC VĂN HỌC HNV 2020

HỘI NGHỊ CÔNG TÁC VĂN HỌC 2020

Sáng thứ Bảy 17/10/2020, tại Hà Nội, Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức HỘI NGHỊ CÔNG TÁC VĂN HỌC năm 2020.

Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà Văn trình bày những nét chính công tác văn học năm 2020. (Sau đây là phần lược ghi theo stream trên FB của nhà thơ Nguyễn Hữu Nhân)

Do tình hình dịch Covid, nhiều hoạt động của Hội Nhà văn phải dừng lại. Ngày Thơ Việt Nam đã được chuẩn bị rất kỹ, nhưng không tổ chức được. Dù vậy ta vẫn phải duy trì  các hoạt động của Hội như Báo Văn nghệ, các tạp chí, các bộ phận của BCH…

Cuộc thi tiểu thuyết được coi là một mùa bội thu. Cuộc thi gây nhiều ấn tượng. Có thể nói là thành quả của cả nhiệm kỳ.

Vẫn tiếp tục đầu tư sáng tác. Cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ sắp kết thúc. Hoạt động của BCH, của Đảng đoàn có nhiều cố gắng

Dù đại dịch Covid có ảnh hưởng đến các hoạt động đối ngoại của Hội Nhà văn, song ta vẫn giữ được mối quan hệ với các đối tác, vẫn cử người đi nước ngoài gặp gỡ trao đổi. Đặc biệt tập thơ Sông Núi trên vai , thơ Việt Nam được dịch và xuát bản tại Ý, là 1 trong 6 cuốn sách được chú ý trong năm tại Ý.

Việc trọng tâm của năm 2020 là chuẩn bị cho Đai Hội-Hội Nhà văn lần thứ X, dự kiến trong tháng 11/2020. Đến nay Đại hội ở cơ sở trong cả nước đã sắp hoàn thành, chỉ còn một đại hội của các nhà văn thuộc chi hội cơ quan HNV là chưa họp. Đại hội cơ sở của chi hội HNV Tp Hồ Chí Minh và ĐH Liên chi hội Miền Đông & Đồng bằng Sông Cửu Long đã được tổ chức rất tốt. Khái quát công tác tổ chức đại hội đã được làm bài bản, chu đáo. Chúng ta sẽ tổ chức một Đại hội ĐOÀN KẾT, DÂN CHỦ, ĐỒI MỚI và TRÁCH NHIỆM.

Việc xét giải thưởng và kết nạp hội viên 2020 làm trong ngày hôm nay, vì nếu để BCH nhiệm kỳ mới làm thì không kịp.

Các Hội đồng chuyên môn sẽ chọn: Văn (3 cuốn), Thơ (3 cuốn), LLPB (3 cuốn), văn học dịch (2 cuốn). Có khỏang 10 cuốn, Ban Chấp hành sẽ tập trung đọc để kịp trao giải.

Về kết nạp hội viên mới. Năm nay dự kiến kết nạp từ 25 đến 30 ngưởi. Năm ngoái kết nạp đông quá, có thể nói là đông nhất từ trước đến giờ. Cũng có ý kiến về chất lượng hội viên mới. Năm nay chú ý đến chất lượng hơn. Hội Nhà văn có 1062 hội viên mà Hà Nội chiếm hơn 600 người vì thế nên chú ý đến những tỉnh chưa có hội viên. Cũng nên xem xét những trường hợp “có va vấp” nhưng bản thân nhà văn đã đứng dậy và tiếp bước. Chúng ta nghiêm khắc nhưng chúng ta cũng phải nhân văn. Không để cái án treo lơ lửng suốt một đời người gây nên những bi kịch. Dự kiến văn xuối: kết nạp 15 người, Thơ: 10 đến 12 người; Lý luận phê bình không hạn chế (từ 5 đến 7 người); Dịch: 3 đến 5 người. Nhà văn trẻ: 3 đến 5.

Sau báo cáo của nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch HNV, các Hội đồng Chuyên môn sẽ họp để xét trao giải tác phẩm và kết nạp hội viên mới xong trong buổi sáng.

***

NHỮNG MÙA VÀNG VĂN HỌC CÔNG GIÁO-Bùi Công Thuấn

DÀNH CHO CÁC BẠN QUAN TÂM ĐẾN VĂN HỌC CÔNG GIÁO

NHỮNG MÙA VÀNG VĂN HỌC CÔNG GIÁOBùi Công Thuấn

Bìa bản thảo của tác giả 2020

Mục lục

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. Tư tưởng Mỹ học Ki tô giáo

2. Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam và Những vấn đề

3. Phân kỳ lịch sử văn học Công giáo Việt Nam

4. Văn hóa Công giáo trong lòng văn hóa dân tộc

NHỮNG KHUÔN MẶT TIÊU BIỂU

1. Song Nguyễn-Nhà văn Công giáo giàu sức sáng tạo

2. Song Nguyễn và văn chương Công giáo

3. Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn

4. Thơ Trăng Thập Tự

5. Thơ Xuân Ly Băng

6. Lê Đình Bảng-Quỳ trước đền vàng (Thơ)

7. Lê Đình Bảng- Hành hương (Thơ)

MÙA VÀNG VĂN CHƯƠNG

1. Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam (Tổng quan)

2. Có một vườn thơ đạo (Tổng quan)

3. Mười năm Giài VHNT Đất Mới

4. Ôi tội hồng phúc-Nguyễn Phương Thảo

5. Con Hoang-Hà Thị Diễm Thúy

6. Bé Hai– Phạm Vinh Sơn

7. Hương Thạch Thảo-Phạm Thị Lành

8. Ngã lên cỏ thơm-Nguyễn Văn Học

9. Những ngày còn lại-Trần Thị Sương

10. Chàng xe ôm-Nguyễn Thị Chung

11. Giải Viết văn đường trường 2016

12. Giải Viết văn đường trường 2017

13. Trò chuyện với nhà thơ Lê Đình Bảng

BẠN DOWNLOAD TẠI 1 TRONG 2 LINK SAU:

https://app.box.com/file/733814678648

http://www.mediafire.com/file/q3d58xkh4osonml/13_NH%25E1%25BB%25AENG_M%25C3%2599A_V%25C3%2580NG_V%25C4%2582N_H%25E1%25BB%258CC_C%25C3%2594NG_GI%25C3%2581O.rar/file

TRUYỆN DÀI ĐẤT MỚI 2020- Một mùa vàng hy vọng

Giải VHNT Đất Mới năm 2020 có 6 Truyện dài + 9 truyện vừa

TRUYỆN DÀI ĐẤT MỚI 2020 MỞ RỘNG NHIỀU CHỦ ĐỀ

            Đóa hồng thứ 40 nói về tình cảnh người xuất khẩu lao động và thái độ sống đức tin trong những môi trường xã hội văn hóa khác biệt với Kitô giáo.

            Ngựa chứng trong sân tu viện kể lại sự sa ngã của thầy Tín, lỡ mất cơ hội làm linh mục. Thầy phải bắt đầu lại từ số “0”. Truyện Trở về là tình cảnh khó khăn của người xuất tu khi hòa nhập với cuộc đời.

            Ba ơi! Khi nào mẹ về? là thảm cảnh tinh thần của một gia đình. Lỗi lẩm của người cha gây ra cái chết của người mẹ, gây ra nỗi tuyệt vọng và trầm cảm con cái.

Sứ mạng kể truyện một cháu bé cùng mẹ giúp đỡ các linh hồn bị kẹt lại bởi những tà thuật mà không thể siêu thoát.

            Di trú tới thiên Chúalà trạng thái trầm cảm của người trẻ trên đườngTìm được bản thân; hãy là chính mình”

            Về gieo hạt giống yêu thương là cuộc đời của An. An sinh ra với một một thân thể không hoàn hảo, lại sớm mồ côi. Nhưng Chúa “vẫn luôn đồng hành cùng anh trên suốt chặng đường dài để anh gặp được những người tốt, những thiên thần của Chúa. Họ đã dạy anh những bài học về tình thương và sự sẻ chia”.

            Nhiều truyện viết về người trẻ vào đời và sống đạo trong bối cảnh xã hội hôm nay. Họ phải đối mặt với nhiều thử thách, nhất là thử thách đức tin. Nhờ ơn Chúa và tình yêu thương của mọi người, họ đã vượt qua được thảm cảnh của mình.

SỰ PHONG PHÚ VỀ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN

            Nhiều tác giả có nghệ thuật viết truyện dài chuyên nghiệp, năng lực sáng tạo phong phú. Vốn sống, vốn văn hóa giàu có, và đặc biệt đa dạng về bút pháp. Chẳng hạn, Sứ mạng là một truyện phiêu lưu hiện đại, ngược lại, Đóa hồng thứ 40 là một truyện ký về những vấn đề nóng của xã hội Việt Nam hiện nay. Ngựa chứng trong sân tu việnSứ mạng có nhiều trang rất hấp dẫn. “Chất trẻ” của văn phong cũng là một đặc sắc của truyện dài 2020.

            Những năm đầu của giải VHNT Đất Mới truyện dài mới đạt trình độ văn chương phong trào thì truyện dài Đất Mới 2020 đã có nhiều truyện đặc sắc có thể theo kịp với văn chương đương đại.

          (Xin đọc thêm phần nhận xét từng tác phẩm)

***

TRUYỆN DÀI

Ngựa chứng trong Tu Viện

Tác giả: Maria Goretty Ng thị Xuân

Dòng Nữ tỳ Chúa Giêsu Linh Mục Tu viện Thánh Giuse

***

            1.Truyện dài 61 trang A4, có  một Lời giải trình và 11 chương. 7 chương đầu do tác giả kể. Từ chương 8 đến hết, nhân vật “Thầy Tín” tự kể. Chủ đề nhấn mạnh đến Lòng Chúa Thương xót: “Thiên Chúa không mệt mỏi khi tha thứ cho con người. Tội nhân cũng có tương lai tốt đang chờ đợi.  Thánh nhân cũng đã từng trải qua một quá khứ xấu xa.“Không có Chúa, tôi chẳng làm gì được” (Ga 15,5)

            Truyện kể lại sự sa ngã của thầy Tín, lỡ mất cơ hội làm linh mục và phải bắt đầu lại từ số “0”.

            Thầy xuất thân trong một gia đình gia giáo. Cha mẹ là Thầy cô Vương Tào-Phương Quý, Công giáo, tình nguyện đi dạy vùng xa dân tộc “Tà Lũ”. Lúc nhỏ, Bờm (tên gọi của thầy Tín)rất thông minh, năng động. Từ say 30/4/75 gia đình thầy vào Nam, lúc đầu mua đất làm rẫn ở Xuân Lộc sau chuyển về sống ở Biên Hòa. Tín học Đại học Y khoa. Tốt nghiệp, Tín bỏ lại nhiều cô theo đuổi, bỏ lại công danh sự nghiệp (bác sĩ) để đi tìm ý Chúa. Sau 6 năm tu tập ở “học viện” Tín được vĩnh khấn dòng.

            Trong một lần giảng phòng, một buổi tối, thầy Tín đến nhà cô Hoài Nam. Lúc này chồng Hoài Nam đi công tác xa. Không cầm lòng được trước vẻ đẹp nữ sắc của gái một con, thầy Tín ôm hôn Hoài Nam. Với mặc cảm tội lỗi, lúc ra về, đường đêm, Tín bị xe tông, hôn mê 13 ngày mới tỉnh. Sau 3 tuần xuất viện về gia đình. Tâm trạng bị dày vò như trong luyện hình. Sau 9 tháng Tín trở về nhà dòng.

            Tín đi giảng phòng gặp Dì Anna. Dì được mạc khải. Dì đã nói đúng tội lỗi dày vò tâm hồn Tín và nhắc nhở anh. Nhưng rồi khu được tin chồng Hoài Nam chết, Tín thấy mình có trách nhiệm phải chăm sóc Hoài Nam và con của cô, anh muốn bỏ tu để sống cới cô. Cãi lệnh Bề trên, trời tối, Tín lấy xe đi đến nhà Hoài Nam. Lần tày Tín lại bị tông xe nhưng không chết.

Tín trở lại nhà dòng với mặc cảm tội lỗi dày vò triền miên. Tín đến gặp cha Tổng Phụ Trách và đưa ngài cuốn sổ ghi chép tất cả tội lỗ của mình, và xin cha cho ý kiến. Ngài có việc phải đi, hẹn gặp lại tôi. Sau đó ngài tìm Tín và cho Tin một chọn lựa nữa. Tín đã chọn cộng đoàn Martino để phục vụ. Và Tín bắt đầu lại từ con số “0”.

Sau 9 năm ở cộng đoàn Martimo, Tín gặp lại Dì Anna. Dì nhắc Tín phải luôn cảnh giác và tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót…

            2.Truyện nhấn mạnh đến sự sa ngã của Tín để từ đó, qua nhân vật Dì Anna khẳng định Lòng Chúa Thương Xót. Dí Anna được xây dựng như là một “tiên tri”. Dì được Chúa cho biết rõi tâm hồn tội lỗi của Tín. Dì dẫn cuộc đời sa ngã của Madalena và thánh Augustino cùng với lời dạy của Đức Giáo hoàng Phanxicô để khuyên giải Tín.

            Phần miêu tả tâm trạng dày vò của Tín gây được ấn tượng. Tuy nhiên sự sa ngã của Tín với Nam Hoài không có cơ sở. Bởi hai người chưa hề có quan hệ tình cảm nào trước đó. Nam Hoài đang có một gia đình hạnh phúc, có chồng danh giá, con ngoan. Nam Hoài không có tình ý gì với Tín, cô cự tuyệt Tín là đương nhiên. Vì thế không có cớ để Tín phạm tội lần thứ 2. Không thể có chuyện nghe tin chồng Nam Hoài chết, Tín muốn bỏ tu về lấy Nam Hoài. Nếu tác giả miêu tả trước đó hai người có tình yêu thắm thiết thì còn có thể.

Cả hai lần Tín bị xe tông xe đều do mối quan hệ với Nam Hoài. Tín chạy xe  ban đêm, phóng hết tốc lực và không kềm chế được mình. Lưu ý rằng Tín đã học Đại học Y khoa ít nhất 7 năm, đã 2 năm tu tập và vĩnh khấn. Một người đã được giáo dục đạo đức rất sâu (Y đức và tâm đức) như thế thì không có chuyện bốc đồng phóng xe đi ban đêm như một tay chơi ngông để rồi nhận lấy tai nạn…

Về quan hệ nữ giới, trước đó Tín từng từ chối tình yêu của nhiều cô gái: từ chối tình yêu của Khuyên ở cấp III; và Mai Anh, Trâm Khương ở Đại học. Tín cũng không có biểu hiện gì của thói háo sắc hay chứng cuồng dâm, vì thế, việc đột nhiên Tín ôm hôn Nam Hoài, sau đó định bỏ tu lấy Hoài như tác giả miêu tả là không thuyết phục.

Tính cách nhân vận Tín không được miêu tả thuần nhất trong mối quan hệ xã hội và bầu khí tâm linh. Lúc nhỏ Tín là một cậu bé thông minh, cá tính. Nhưng khi lên đại học và nhập dòng, tính cách ấy không phát triển. Tín trở thành một người khác. Tín hoàn toàn mê muội và yếu đuối. Do đâu Tín như vậy trong khi hoàn cảnh xã hội (Tín tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa) và đã vĩnh khấn dòng, lẽ ra Tín sẽ rất khôn ngoan, mạnh mẽ và nhân hậu.

Cả việc Dì Anna biết được tội lỗi dấu kín trong tâm hồn Tín cũng không có cơ sở khoa học. Người đọc có cảm giác Dì Anna được Chúa mạc khải cho biết về Tín (không biết Dì Anna thánh thiện và đạo đức như thế nào mà được Chúa ban cho ơn đặc biệt ấy?). Truyện sử dụng bút pháp hiện thực thì mọi yếu tố duy tâm vượt ra ngoài hiện thực đều gây ra sự hoài nghi về tính chân thục nghệ thuật.

Về văn chương, có lẽ học tập cách viết của Thánh Augustino trong Tự thuật (Confessions) nên từ chương 8 trở đi, tác giả để cho nhân vật tự kể chuyện, trang văn trở nên khởi sắc. Các chương đầu tẻ nhạt. Tác giả bình luận ngoại đề nhiều.

Truyện kết lại bằng ý tưởng: “Tội nhân cũng có tương lai tốt đang chờ đợi”, nhưng tương lai của Tín là gì? Dù Tín đã phục vụ 9 năm ở cộng đoàn Martino? Trước đó, khát vọng của Tín là trở thành Linh mục. Có lẽ khát vọng của Tín mãi mãi là khát vọng! Cách kết truyện như thế chỉ là một lời an ủi Tín, không thể có khả năng vực dậy một tâm hồn đã sụp đổ.

***

Truyện dài Đất Mới 2020-

SỨ MẠNG

Tác giả: Maria Đặng Thị Kim Thoa

***

TÓM TẮT ( Tóm tắt của tác giả)

1.Câu chuyện bắt đầu từ lúc người mẹ đơn thân quyết định thuê nhà ở riêng, không

sống chung với mẹ ruột nữa. Cô ấy đã dọn đến ở trong một ngôi nhà mà cả khu phố đều cho là đã bị ám. Nhưng thực ra, mọi chuyện đều do một số linh hồn chọn ngôi nhà là nơi gặp cô ấy, nên đã đuổi hết những người khác đi.

Cô ấy và cậu con nhỏ có một sứ mạng: giúp đỡ các linh hồn bị kẹt lại bởi những tà

thuật mà không thể siêu thoát.

Bằng đức tin vững vàng nơi lòng Chúa xót thương, với sự can đảm, hai mẹ con cô đã

Có những cuộc đối đầu kinh hoàng với Qủy dữ, và sự trợ giúp của vị Tiên tri Elia vĩ đại.

Để giúp cô ấy có thể chiến đấu chống lại thế lực bóng tối hùng mạnh, Tổng Lãnh

Thiên Thần Michel đã được phái đến với cô trong một giấc mơ để tập huấn cho cô kỹ năng chiến đấu.

Khi Qủy Satan dồn toàn lực quyết sát hại hai mẹ con cô, các linh hồn từ muôn nghìn

Năm đã đồng tâm nhất trí cầu nguyện cho cô. Chúa Trời cảm động, đã cho Tổng Lãnh Thiên Thần Michel giáng trần chiến đấu với Qủy vương.

Cuộc chiến đã gây nên những kinh thiên động địa khắp trái đất. Và cả nhân loại sợ hãi

nguyện cầu. Cuối cùng, vinh quanh của Chúa Trời ngự xuống mặt đất, Qủy dữ run sợ  và bị đuổi xuống hỏa ngục. Trái đất bình yên như chưa có chuyện gì xảy ra.

Truyện kết thúc khi Tổng lãnh Thiên Thần đã khiến cho cô trở lại thực tế như tất cả

chỉ là một giấc mơ dài. Con trai bé nhỏ của cô cũng được xóa hết ký ức về những chuyện siêu phàm. Chỉ có cô là được lưu giữ tất cả, cùng sợi tóc của Thiên Thần tổng lãnh Michel như một kỷ niệm đẹp.

2. Kim Thoa có nghệ thuật kể truyện hấp dẫn của một nhà văn chuyên nghiệp.Văn

chương trau chuốt. Tác giả khéo léo kết hợp việc miêu tả hiện tượng siêu hình với đời sống thực, đồng thời đi sâu phân tích những phản ứng tâm lý của nhân vật Tôi gây được lòng tin nơi người đọc. Việc trích dẫn Kinh thánh, tra cứu khoa học trong một cấu trúc chặt chẽ được giữ kín, tác giả đã tạo nên những trang văn có sức thuyết phục và giữ chặt lấy người đọc.

  Truyện thâm nhập khá sâu vào những tín niệm thần học là Linh hồn, sự giải thoát, thế

giới bên kia, cõi người và cõi ma quỷ, sự tương quan con người và thần linh. Nền tảng của những vấn đề trên là những nhận thức từ Kinh thánh. Chẳng hạn, tác giả trích Khải Huyền 12, 1-10; (chương 5, tr.34); Ephêsô 6, 10-20 (chương 21, tr 87) làm nền tảng cho sự triển khai ý tưởng của mình; đồng thời tác giả cũng kết hợp với việc tra cứu khoa học để xác minh sự thật của vấn đề (tra cứu Google). Chủ đề truyện khá rõ ràng: “sứ mạng: giúp đỡ các linh hồn bị kẹt lại bởi những tà thuật mà không thể siêu thoát”.

            Để triển khai chủ đề, tác giả đã kể những cuộc phiêu lưu không tưởng(tr.113) của nhân vật “Tôi” và đứa con của mình (Nhóc Kin, 5 tuổi) trong những giấc mơ. Tôi và con bước vào trong gương, theo một linh hồn sang thế giới bên kia, ở đó Tôi đã phải chiến đấu với con quỷ có 2 cái sừng, với 5 mụ điên, với mãng xà 9 đầu, với rất nhiều xác ướp…Tôi và Kin được Tiên tri Êlia chỉ đường, được Tổng lãnh Thiên thần Michell huấn luyện chiến đấu và được ngài trợ giúp để đánh bại chúa tể của bóng tối là Satan, cứu các linh hồn bị mắc kẹt chưa siêu thoát… Nhưng tất cả “chỉ là một giấc mơ dài không có thật (tr. 139) được Tôi kiểm chứng cụ thể (đoạn kết) qua  xác nhận của Kin, và của chính mình (thí dụ việc dán mặt TV).

            Nói cho đúng, đây là một truyện phiêu lưu giải trí mang nội dung thực hiện một sứ mạng tâm linh là giúp đỡ các linh hồn bị kẹt lại bởi những tà thuật mà không thể siêu thoát. Vì thế, người đọc thấy rõ sự pha trộn những tình tiết của nhiều kiểu truyện phiêu lưu trong những phim truyện thiếu nhi hiện đại (Harry Potter, Thế giới song song), cả truyện dân gian (Thạch Sanh chém Chằn tinh) và Khải Huyền…Có khác chăng là tác giả lấy các tín niệm về linh hồn, Thiên thần, ma quỷ, trong thần học Công giáo kết hợp với đức tin vào Lòng Chúa Thương Xót.

            Vì thế sự thành công và hạn chế của tác phẩm không nằm trong nghệ thuật kiến tạo cấu trúc tác phẩm mà nằm trong những ý niệm thần học mà tác giả dựa trên đó xây dựng cốt truyện.

            Trước hết chủ đề “Sứ mạng”. Mãi tới chương 22 chủ đề này mới được tiết lộ. Kin dẫn Tôi đi và nói: “Đi giúp đỡ các linh hồn bị mắc kẹt mẹ ạ!”(tr.103). Nếu là một tác phẩm tâm linh thì chủ đề này phải được khám phá ngay từ đầu. Đã rõ. Tác phẩm chỉ là truyện phiêu lưu giải trí. Dành cho trẻ con. Xin đọc chương 24: ”Tầng hầm chết chóc”, hành động truyện hoàn toàn là phiêu lưu. Nói như thế để thấy rằng “Sứ mạng” không phải là truyện nói về những vấn đề tâm linh dưới ánh sáng Thần học Kitô giáo, để giải quyết những vấn đề xã hội đang đặt ra thách thức lương tâm Công giáo. Tuyệt nhiên người đọc không tìm thấy ý nghĩa tâm linh hay những vấn đề nóng của xã hội đương đại mà người Công giáo đang đối mặt. Đây là chỗ yếu nhất của ngòi bút Kim Thoa.

            Nhân vật Tôi là người phụ nữ thế nào mà được mạc khải giao cho một nhiệm vụ rất quan trọng là “giúp đỡ các linh hồn bị mắc kẹt không siêu thoát”?

            Tôi là người thuê nhà ở tổ dân phố 4, phường Lãm Hà, thành phố Hải Phòng, làm nghề bán hàng online (tr.96). Tôi dính với một người đàn ông có vợ và có con với ông ta (Nhóc Kin). Con gái ông ta học Đại học Hàng Hải. Tôi và ông ta sống ly thân. Tôi từng có người yêu giờ là Linh mục. Tôi không còn khả năng sinh sản. Cái dại của tôi là dính với ông ta mà không bám lấy người yêu.

            Nói thẳng ra, về mặt đạo đức tôn giáo, nhân vật Tôi không phải là một người đủ thánh thiện, đủ sức mạnh đức tin, đủ sống đời dâng hiến để có thể đựơc Thánh Thần mạc khải cho tiếp cận với thế giới bên kia. Cho nên giao cho nhân vật Tôi “sứ mạng” như vậy là vượt quá tín lý thần học.

            Sự vượt quá tín lý thần học còn thể hiện ở nhiều tình huống. Chẳng hạn chương 21, Cuộc tập huấn đầu tiên (tr. 87) Tổng lãnh thiên thần Micae hiện ra huấn luyện cho Tôi. “Ngài đánh con te tua. Con sắp gẫy vụn ra rồi. Suốt nhiều giờ trôi qua trong trận mưa gậy khắp thân thể, tôi đau đến nỗi chỉ muốn chết đi cho rồi, đỡ phải tập tành, đỡ phải đánh đấm. Mệt rũ người, tôi chán nản tột cùng”; và hiệu quả của cuộc huấn luyện ấy là gì? Tôi nhận thức rõ: “Tôi giật mình tỉnh dậy. Giấc mơ thật tuyệt! Không biết cuộc tập huấn trong mơ này có để lại hiệu quả gì cho tôi hay không, tôi thấy mình vẫn… ngáp bình thường như mọi buổi sáng khác” (tr. 95). Có một nụ cười khôi hài ở chi tiết này!!! Michell là Tổng lãnh Thiên thần, nếu có huấn luyện thì ngài huấn luyện sức mạnh tâm linh, sao lại dùng gậy đánh Tôi te tua, không phải chỉ một hai gậy mà là “trận mưa gậy”! Có lẽ tác giả muốn gây hứng thú hài hước cho trẻ chăng (giống Tề Thiên đại thánh dùng gậy đánh yêu quái).

            Một điều làm người đọc hoài nghi nữa là, theo tín lý, con người sau khi chết, linh hồn đến trước mặt Chúa chịu phán xét, hoặc lên Thiên đàng, hoặc xuống Địa ngục, hoặc ở nơi luyện tội (quen gọi là Lâm Bô). Nhưng trong truyện này tác giả lại đặt ra một cõi khác, mà tác giả gọi là Cõi Trung Gian (chương 15, tr.72). Những linh hồn bị tà thuật ếm bùa (chương 23),  nhốt không thoát ra được, không biết ở cõi nào? Nếu là cõi của quỷ Satan thì đó là Đia ngục. Đưa những chuyện ếm bùa, cương thi tấn công vào truyện, tác giả đã đặt không gian truyện  ra ngoài tín lý Công giáo. Trẻ con nếu đọc những điều miêu tả thế này sẽ rối trí và rối luôn cả đức tin đã được giáo dục.

            Nếu được gia công thêm, Sứ Mạng sẽ là một truyện dài đặc sắc của giải VHNT Đất Mới 2020

***

Truyện dài

DI TRÚ TỚI THIÊN CHÚA

M. Innocentio NGUYỄN THỊ DUYÊN, O.Cist.

Đan Viện Xitô Thánh Mẫu Vĩnh Phước

(số trang ghi chú là trang của bản thảo)

***

Di trú tới Thiên Chúa là truyện dài 140 tr.A4 (khoảng  300 trang in), gồm 28 chương, phần mở đầu và Kết. Phần kết là một bài văn nghị luận, nhân vật Tôi (không rõ là tác giả hay nhân vật) trực tiếp trình bày chủ đề và trình bày thông điệp tư tưởng. Truyện có dáng dấp một tự truyện viết theo thể loại nhật ký, trình bày vấn đề về người trẻ. Tác giả có cách viết hấp dẫn, song trang văn khá nặng nề do bối cảnh truyện chật hẹp và tất cả hiện thực chỉ được nhìn qua tâm trạng của nhân vật Tôi, một nhân vật bị trầm cảm. Truyện khó đọc vì chủ đề không nhất quán.

TRUYỆN VỀ MỘT NGƯỜI TRẺ TRẦM CẢM (?)

Truyện kể lại trạng thái tâm hồn tù đọng bế tắc của Minh Châu (nhân vật xưng Tôi, người kể truyện) sau cái chết của chị Linh Nga. Minh Châu là cô gái học lớp 11 chuyên lý, được chọn vào đội tuyển quốc gia. Cô có cha mẹ đạo hạnh, gia đình nề nếp. Cô có tài hội họa và cũng là người đàn Piano trong ca đoàn nhà thờ. Cô vô tình gây ra cái chết cho người chị:

 “Sáng hôm đó chúng tôi đi vội nên chưa ăn sáng, tôi đã nói chị dừng xe lại và chờ tôi mua đồ ăn sáng cho hai chị em. Vì thế chị mới bị chiếc xe kia nhào tới. Nếu tôi không muốn dừng lại mà cứ thế tới trường thì đã chẳng có chuyện gì xảy ra. Tôi đã không mất chị mãi mãi.(tr.80). “Từ ngày ấy đầu óc Minh Châu như bị khóa kín lại. Cô không biết phải trả lời những câu hỏi của bố mẹ và của những người khác như thế nào nữa nên cô gần như chẳng nói gì. Cũng không biết phải làm gì để được gọi về lại với cuộc sống. Hình ảnh của chị cứ vương vấn, tồn tại mọi nơi, nơi nào cũng có chị.”(tr.3)

Minh Châu tự phân tâm: “những nỗi đau, sự mất mát quá lớn và có lẽ là sự chấn động đến tính cách mà những người trẻ phải gánh chịu. Nhiều khi phải luôn cố tỏ ra giống người khác trong khi đó chúng ta biết chúng ta khác biệt. Có những lúc tôi nghĩ rằng cuộc sống của tôi là sự giả vờ, một sự lẩn tránh – những ý nghĩ trôi qua tôi, không phải như tôi hiện giờ. Tôi đã vội ngồi dậy, bật đèn lên, tay bám chặt vào thành giường. Bởi vì tôi biết nếu tôi buông tay ra, dù chỉ một lần thôi, tức thì tôi sẽ ra ban công và nhảy xuống. Tôi không thể biết điều này và tại sao lại như vậy, nhưng nó là như vậy.”(tr.133)

Minh Châu được một người bạn chung lớp đưa cô trở lại cuộc sống. Người bạn duy nhất ấy tên là Hà Linh (gốc Việt) ở Vũ Hán sang Việt Nam học. Cha mẹ Hà Linh chết trong một tai nạn giao thông. Hà Linh trở thành mồ côi. Hà Linh  trở về Vũ Hán trong kỳ nghỉ, cô đã chết vì lây nhiễm Covid khi chăm sóc bà ở bệnh viện. Điều ấy lại một lần nữa làm tổn thương tâm hồn Minh Châu.

Và nhân vật Tôi (không rõ là Minh Chây hay tác giả) đặt vấn đề: ”Đã nhiều lần chúng ta là cha mẹ, anh chị, những người thân hay bạn bè đã không quan tâm đến những cảm xúc bất ổn, hay dễ dàng gạt những rung động đầu đời của tuổi trẻ sang một bên…

Có những lúc con trẻ của bạn đang thật sự không ổn, đang gặp vấn đề. Và chúng ta đã băn khoăn, nghi ngờ có gì đó không ổn, một điều mà ta chưa giải nghĩa được tường tận, nhưng lại không đủ thời gian hay sự quan tâm để theo đuổi mối nghi ngại này”(tr.133)

Thông điệp sau cùng nhân vật Tôi (không rõ Minh Châu hay Tác giả) hướng đến người trẻ là: “Nếu bạn nghĩ có điều gì đó trong bạn không ổn, hãy nói ra./ Bạn không hề đơn độc, bạn không cô đơn một mình./ Bạn không có lỗi./ Ở đây luôn có người sẵn sàng giúp đỡ và ở bên bạn./ Ở đây luôn có những vòng tay để xoa dịu nỗi đau mà bạn cần chữa lành.”(tr. 135)

NHỮNG THÀNH CÔNG

            Tác giả là một cây bút viết truyện dài chuyên nghiệp. Trang văn có sức cuốn hút bởi kỹ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật Tôi nhìn cuộc sống trong mọi chi tiết hàng ngày. Tác phẩm là một dòng chảy chảy nhận thức, ý thức trôi chảy liên tục từ đầu đến dòng cuối. Nhân vật luôn đưa ra những diễn ngôn có ý nghĩa tư tưởng. Ý nghĩa này được củng cố bởi lời của những nhà văn lớn trên thế giới được trích dẫn như: Lev Tolstoy, Lỗ Tấn, Jim Morison, Steve Jobs, Huxley và Orwell, Châu Tinh Trì, Virginia Woolf, Agatha Christie, thánh Augustino, Maxim Gorky, Frank Herbert…Những yếu tố này tạo nên bóng dáng của một tiểu thuyết tư tưởng.

Tuy nhiên, trong những nhân vật Minh Châu trích dẫn, ngoại  trừ thánh Augustino,

không có tên tuổi triết gia nào, hay dựa trên một hệ tư tưởng triết học nào. Những “tư tưởng” mà Tôi hướng đến, chỉ là những kinh nghiệm sống cả một cá nhân. Những câu nói có vẻ “triết lý” của nhân vật Tôi, làm cho văn chương trở nên nặng nề. Nhân vật Tôi bị chính những thứ “triết lý không tưởng” ấy trói buộc.

Đây là một “suy tư” của Minh Châu: “Có người sống nửa cuộc đời trong nỗi buồn của quá khứ, do vậy đã hủy hoại cả nửa đời người. Có người đã hết mình với đam mê nhưng cuối cùng khi hòa giải với quá khứ lại cười bản thân chẳng có gì hết. Chúng ta sẽ không bị đam mê hủy hoại, có lẽ chúng ta cũng không bị nỗi buồn hủy hoại. Chúng ta chỉ bị hủy hoại bởi nỗi buồn khi chúng ta trở thành nỗi buồn. Con người rồi sẽ chết nhưng ước mơ giúp chúng ta sinh ra từ cái chết. Tại sao chúng ta lại có cảm giác trên những thứ mà chúng ta yêu thích? Chúng ta lo lắng điều gì?” (tr.25)

Giả như những suy tư ấy là thật, thì những suy tư như vậy chỉ nói lên một điều là, đầu óc Minh Châu “có vấn đề”. Đó không phải là minh triết, không phải là nhận thức chân lý có tính khoa học, hay là những mạc khải từ Kinh thánh. Đó là một tâm hồn đầy dẫy những khái niệm triết học mà Minh Châu chưa đủ sức hiểu. Bản chất của nỗi buồn là gì? Đam mê là gì? Cảm giác là gì? Con người khi đã chết thì đâu còn ước mơ để có thể nói rằng “ước mơ giúp chúng ta sinh ra từ cái chết”. Người đọc thấy Minh Châu đã thấp thoáng tiếp cận với tư tưởng Hiện sinh, song tác giả đã không đủ sức dẫn dắt nhân vật khám phá Hiện sinh.

            Ở những chương cuối, tác giả (nhân vật Tôi) chuyển sang giới thiệu cảnh sắc Hà Nội. Bút pháp chuyển từ cách viết Tiểu thuyết sang sự ghi nhận khách quan của Bút ký. Không khí truyện tù đọng, u ám, thảm đạm trở nên trong sáng, cao rộng, và vui tươi. Nhân vật Tôi đã giới thiệu Nhà Thờ Lớn Hà Nội (tr.109), Kem Tràng Tiền, những con phố hàng rong (tr.111), Phố sách 19/12 (tr. 115), Vườn quốc gia Xuân Thủy (chương 21), bánh trôi Tàu của nghệ sĩ Phạm Bằng trên phố Hàng Giầy, cửa sông Hồng cho đến cuối Cồn Lu, Cồn Ngạn…gợi ra thế giới nghệ thuật của Thạch Lam. Trang văn chứa đựng một lượng tri thức sâu sắc về Hà Nội và tỏa sáng một tình yêu quê hương đằm thắm.

CÓ THỂ LÀ NHỮNG HẠN CHẾ

       1. Không gian truyện quá chật hẹp. “Tôi cần niềm tin. Bởi vì rất nhiều lúc tôi muốn chui vào nơi cư trú của riêng mình, chui vào thế giới của riêng tôi và tôi cảm thấy nơi đó an toàn”(tr.33). Tôi hoàn toàn trống rỗng (chương 2).Tôi không thể thoát ra khỏi những bức tường lượn sóng, do dự, dốc đứng và khép kín đến hoàn hảo của nó. Nhưng tôi ghét chúng, chúng phủ kín lấy tôi và không buông tha cho tôi” (tr.35)

Minh Châu chỉ quanh quẩn ở nhà, có khi phụ mẹ làm bếp (nhưng thường là mẹ chăm sóc cô), còn lại cô ở trong phòng riêng, hoặc vào phòng vẽ để nhớ người chị đã mất. Đến lớp, cô chỉ nhìn ra cửa sổ mà không tập trung để học khiến thầy cô phải nhiều lần nhắc nhở. Rời lớp học, cô xuống căn tin, chọn món ăn, trà sữa; cô thường lên tầng cao nhìn xuống, hoặc đi dọc hè phố, đến phố sách. Chỉ ở những chương cuối Minh Châu mới cùng Hà Linh theo cha xứ đến trại phong Vân Môn ở xã Vũ Vân, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, thăm đất Thánh Bến Cốc, Mái ấm” của hàng ngàn thai nhi. Thời gian còn lại của cô là đọc sách và lên mạng. Người bạn duy nhất là Hà Linh, sau có thêm Minh Nhật, nhưng tất cả chỉ trong phạm vi rất hẹp của tình bạn trong nhà trường. Không gian chật chội này chính là “nhà tù” vô hình đối với tâm hồn Minh Châu. Tâm hồn ấy có sự vận động sau khi Minh Châu đi thăm trại phong và thăm nghĩa trang đồng nhi. Trong thực tế, thời đại 4.0, người trẻ thường vươn tâm hồn đến những nơi rất xa và rộng. Họ trải nghiệm nhiều môi trường, họ dấn thân thử sức với nhiều thử thách và rất nhiều học sinh 12 đạt những nhọc bổng giá trị của các Đại học danh tiếng Mỹ, họ không chỉ quanh quẩn trong nhà và trong sân trường như Minh Châu.

            2. Điều gây ra bệnh trầm cảm của Minh Châu là cái chết của chị Linh Nga mà cô vô tình gây ra. Điều này kéo dài nhiều chương. Sau đó là cái chết của người bạn thân Hà Linh, người đã đưa Minh Châu trở lại cuộc sống, tâm hồn Minh Châu một lần nữa bị tổn thương.  Cuối tác phẩm, tác giả kêu gọi những người làm cha mẹ cần quan tâm đến đời sống tinh thần của con cái, những người trẻ, để giúp học vượt qua những bế tắc, những mặc cảm.

Hình như chủ đề này không liên quan gì đến nhan đề tác phẩm là “Di trú đến Thiên Chúa”. Trong suốt tác phẩm, đời sống tâm linh của Minh Châu rất mờ nhạt, dù gia đình đạo hạnh và cô đàn Piano cho ca đòan trong nhà thờ. Tôi (Minh Châu) có trích dẫn Tông huấn Chúa Kitô đang sống_ số 141, trích thư Thánh Phao-lô viết cho cộng đoàn tín hữu ở Philipphê…Nhưng tất cả chỉ là hình thức giữ đạo, đời sống tâm linh của Minh Châu chưa được khám phá đúng mức để thể hiện chủ đề Di trú đến Thiên Chúa”. Trái lại, cô kể cho Hà Linh lý do tại sao nhiều lần mình lên sân thượng nhà trường. Là vì, cô muốn trải nghiệm cái cảm giác tự tử (tr.105). Những lúc như thế, Minh Châu không phải là một cô gái có đức tin.

            3. Tìm được bản thân; hãy là chính mình” là một chủ đề khác được nhấn mạnh trong tác phẩm. Đây không phải là chủ đề đức tin. Người mẹ chúc mừng sinh nhật 17 tuổi của Minh Châu bằng những lời này: “Minh Châu! Hãy là con như con luôn muốn, đừng cố gắng vì một ai khác, cũng đừng cố gắng vì bố mẹ mà hãy cố gắng vì chính bản thân con. Cố lên – bé con của mẹ.”(tr.66).

            Minh Châu nhận định: Hà Linh là “Người bạn giúp tôi vượt qua những ràng buộc từ tận nơi sâu thẳm nhất để tìm ra con người mà tôi muốn trở thành. Tìm được bản thân là một câu hỏi luôn dằn vặt và sống mãi trong tâm tư của những người trẻ đang bước đần đến tuổi trưởng thành”… Chính Hà Linh đã giúp tôi trực diện với cuộc sống để tìm ra một giải phát mới cho những rắc rối trong cuộc sống (tr.114).

            Liệu việc không “tìm ra con người mà tôi muốn trở thành” có phải là điều gây trầm cảm cho Minh Châu không? Không phải. Thực tế, cha mẹ Minh Châu rất tôn trọng cô, tôn trọng điều cô muốn làm, tôn trọng cách sống, tôn trọng mọi sở thích. Minh Châu lại sinh trưởng trong một gia đình đạo hạnh, có nề nếp giáo dục tốt, trưởng thành lên trong một môi trường tốt, được thầy cô rất quan tâm, tạo mọi điếu kiện cho Minh Châu thăng tiến, vậy Minh Châu trăn trở điều gì về bản thân? Minh Châu biết rõ mình có năng lực học giỏi (được chọn thi học sinh giỏi quốc gia môn Lý), có năng khiếu hội họa (có phòng vẽ riêng) và có tài năng âm nhạc (nhà có đàn Piano). Minh Châu lại đọc nhiều sách, xem phim, chơi nhạc, có nhiều đam mê. Minh Châu chưa hề được miêu tả như một nhân vật vong thân. Cho nên không có vấn đề “tìm ra con người mà tôi muốn trở thành”. Minh Châu có cô bạn Hà Linh chia sẻ mọi điều, có người bạn trai Minh Nhật hết sức quan tâm. Cà Hà Linh và Minh Nhật không gặp vấn đề trầm cảm như Minh Châu, tại sao Minh Châu lại trăn trở? Tôi ngờ rằng, đó chỉ là những “trăn trở” mà tác giả gán cho nhân vật, không phải là “trăn trở” xuất phát từ tính cách, hoàn cảnh sống của nhân vật. Những chủ đề lạc lõng trong tác phẩm như thế này đã phá vỡ những tư tưởng cốt lõi mà tác giả muốn gửi gắm.

            4. Trong việc kiến tạo tác phẩm, tác giả cũng bắt nhân vật phải gánh những thông điệp quá sức mình. Minh Châu đang trầm cảm nặng, bỗng dưng lại đầy lòng yêu thương đối với người trại phong Vân Môn. Minh Châu xót thương vô hạn cho hàng vạn thai nhi khi cô đứng quan sát ở đất thánh Bến Cốc. Trước đó tác giả chưa bao giờ miêu tả Minh Châu là một nhân vật có tâm hồn nhân hậu, biết hướng đến tha nhân, hay có lý tưởng phục vụ tha nhân. Trái lại Minh Châu là người hướng nội. Cô luôn soi vào tâm hồn mình. Không bận tâm đến người khác. Ngay cả ở trường Minh Châu cũng chỉ có Hà Linh là người bạn duy nhất.

Cho nên việc lồng ghép chủ đề nhân đạo vào tác phẩm, đặt lên vai Minh Châu một gánh nặng quá sức, không làm cho nhân vật đẹp hơn. Có chăng chỉ là để lý giải một điều: Khi Minh Châu biết mở lòng ra với mọi người, nhất là những kiếp người khốn cùng, cô sẽ tìm thấy chính mình. Sinh nhật Minh Châu, bố mang bánh mừng sinh nhật ra và cùng mẹ hát bài chúc mừng sinh nhật Tôi: “Lúc này tôi mới cảm nhận thật sự mình hạnh phúc khi được sinh ra trong một gia đình”.

5. Chương Kết có thể gây ra những mâu thuẫn về xây dựng nhân vật. Nhân vật Tôi là tác giả hay là nhân vật Minh Châu? Nếu là tác giả, trong trường hợp này, tác giả trực tiếp bước vào tác phẩm để minh giải chủ đề bằng một bài văn nghị luận. Điều này vi phạm nguyên tắc sáng tác tiểu thuyết. Những nhà văn đầu thế kỷ XX (như Hồ Biểu Chánh chẳng hạn) hay ngồi chễm chệ trong tác phẩm mà bình luận ngoại đề. Nếu Tôi là nhân vật Minh Châu thì có mâu thuẫn. Minh Châu vừa là nạn nhân trầm cảm, lại vừa là người đang dang rộng vòng tay đón những người trẻ trầm cảm. Điều này không thể, vì Minh Châu mới 17 tuổi, vừa xong lớp 11, vừa trải qua một chấn thương tâm lý là cái chết của Hà Linh. Minh Châu chưa là người trưởng thành như một người nhiều trải nghiệm, một người đứng trong các đoàn thể thiện nguyện, với lý tưởng cao đẹp và lối sống rộng mở để tiếp đón các nạn nhân.

Có lẽ nên tách hẳn ra, để đọan kết là lời tác giả. Giống như Nguyễn Du, sau khi kể truyện của nhân vật Thúy Kiều, Nguyễn Du trực tiếp bình luận về chủ đề tư tưởng tác phẩm của mình (đoạn kết Đoạn trường tân thanh).

VÀ NHỮNG TRIỂN VỌNG

            Với tài năng viết tiểu thuyết như tác phẩm này, tác giả có khả năng viết những tác phẩm tư tưởng theo kỹ thuật dòng ý thức của văn chương Hiện Sinh. Vấn đề còn lại chỉ là kỹ thuật xử lý những chi tiết, những yếu tố của tác phẩm để tác phẩm đạt được tính chân thực nghệ thuật.

Ban Văn hóa-GPXL

***

Truyện dài Đất Mới 2020

BA ƠI! BAO GIỜ MẸ VỀ?

Maria Pacome HỒ THỊ PHƯỢNG, O.Cist.

 130 tr. 22 chương

(ghi chú trong bài viết này là số trang trên bản thảo)

***

            1.Truyện kể về trạng thái tinh thần bị sụp đổ, tuyệt vọng và trầm cảm của nhân vật Bích Trâm sau cái chết của mẹ là bà Nguyệt.

Một lần nọ, ông Cao, cha của Bích Trâm, không muốn cho con theo đạo, ông dẫn con đến một cái nhà kho chứa trà để dạy cô cách pha trà của tổ tiên, nhưng ông đã nhốt cô ở đó. Căn nhà bị chập điện cháy, mẹ cô (bà Nguyệt) vì cứu cô mà chết. Từ đó cô bị bệnh sợ bóng tối. Cô luôn hỏi ông Cao “Ba ơi! Bao giờ mẹ về”. Ông Cao chỉ nói bà Nguyệt đi chữa bệnh một thời gian sẽ về. Đến khi Bích Trâm phát hiện ra bà Nguyệt đã chết, cô thương mẹ và căm giận ông Cao đã nói dối. Cô không còn tin ai. Cô luôn bị ám ảnh bởi hình ảnh mẹ cô trong lửa cháy và từ chối tất cả sự chăm sóc của ông Hải (ông ngoại), từ chối sự cầu xin tha thứ của người cha (ông Cao). Bích Trâm học Đại học Sư phạm, khoa Tâm lý. Cô được Anh Quân, người học cùng lớp tận tình chăm sóc trong mọi tình huống ngặt nghèo. Quân đang du học ở Nhật, trong thời gian nghỉ, anh về nước và xin học lớp tâm lý Đại học Sư phạm Tp HCM với Bích Trâm.

Sau nhiều biến cố, Bích Trâm đã tha thứ cho ông Cao để trở về vòng tay yêu thương của gia đình và bạn bè. Anh Quân trở lại Nhật tiếp tục học. Sau 3 năm, Anh Quân trở về. Trong dịp dỗ bà Nguyệt (Mẹ Trâm), trước mặt gia đình Bích Trâm và sự hiện diện của cha mẹ mình, anh đã cầu hôn Bích Trâm. Nhìn con hạnh phúc, “ông Cao hoàn toàn yên tâm và tin vào những gì Chúa đang thực hiện trên gia đình của ông.”(tr. 130)

            2.Truyện đặt ra nhiều vấn đề của người trẻ với lương tâm Công giáo. Bệnh trầm cảm, sợ bóng tối và thù ghét cha của Bích Trâm có nguyên nhân từ việc ông Cao muốn có con trai nhưng bà Nguyệt chỉ sinh con gái là Bích Trâm. Từ đó ông thù ghét vợ con. Ông không cho Bích Trâm theo đạo và gây ra tội ác giết chết vợ. Ông làm cho con khiếp sợ, khủng hoảng và trầm cảm. Bích Trâm sụp đổ lòng tin vì chính người cha đã lừa dối cô và ông ngoại che dấu việc mẹ cô đã chết. Ở trường, Bích Trâm lại bị bạn bè đố kỵ làm cho bệnh trầm cảm của cô ngày càng nặng hơn. Sau cùng, chỉ tình yêu thương của gia đình (người cha, ông ngoại, Dì Út), sự cảm thông chăm sóc của thầy cô, bạn bè, Bích Trâm mới tìm lại được lòng tin yêu và hạnh phúc. Tác giả có thấp thoáng đề cập đến Lòng Chúa Thương Xót đối với ông Cao sau 25 năm bỏ Chúa.

            3. Về nghệ thuật, truyện có nhiều trang sinh động về sinh hoạt của sinh viên lớp Tâm lý D1 Đại học Sư phạm Tp HCM: Những chuyện đố kị của bạn gái, chuyện nghịch ngợm của bạn trai làm cháy chiếc thuyền gỗ trong phòng thí nghiệm, chuyện tham quan và biểu diễn ở Nhà Hát lớn Sài Gòn. Cấu trúc có hậu giải tỏa được những ngột ngạt bế tắc bao trùm lên số phận Bích Trâm.

            Dù vậy, việc kiến tạo tác phẩm, xây dựng tình huống, xử lý những mâu thuẫn nhiều chỗ chưa đạt được tình chân thật nghệ thuật.

Ông Cao và gia đình là người có đạo, sao ông lại cấm con gái mình theo đạo?

Căn nhà Bích Trâm bị ông Cao nhốt, khi Bích Trâm mở công tắc thì không có điện, vậy mà bỗng dưng chập mạch điện gây cháy nhà, Bích Trâm không biết đường thoát thân để chịu ngộp, rồi bà Nguyện xông vào cứu cô mà bị chết.

        Chương 20, đến một Nhà Nnguyện, “Bích Trâm cảm thấy những mệt mỏi và đau khổ đã dần tan biến, dường như cô đang bước vào một thế giới khác, một nơi yên bình và ấm áp đến kì lạ”. Cô nằm xuống, gối đầu lên ba lô ngủ (tr.103). Vậy mà sau đó, khi đi trong đêm cô lại có ý định tự tử. May mà hình ảnh người mẹ đã cứu cô. Hình ảnh người mẹ mỉm cười chào và nói với cô. “Con nhất định phải sống tốt và hạnh phúc. Hãy tha thứ cho ba nhé con, mẹ biết con làm được mà. Ba mẹ rất yêu con.”(tr.106)

        Cả Bích Trâm và Anh Quân đều là sinh viên Sư phạm, khoa tâm lý, vậy mà không thể tự kềm chế để dẫn đến những hành động rất vô văn hóa (nếu không nói là vô giáo dục). Ngày sinh nhật Bích Trâm, ông Cao làm bánh kem mừng sinh nhật con. Mặc dù đã có lời giảng giải của ông ngoại, “Bích Trâm đứng bật dậy và hất tung cái bánh lên khỏi tay ông…Ngỡ ngàng trước thái độ của con gái, ông Cao buồn bã nhìn từng miếng kem vương vãi dưới đất, ông đau khổ cúi gằm mặt và đầu gối khụy xuống”(tr. 82). Còn anh Quân, khi được cha là ông Tú can ngăn quan hệ với Bích Trâm, “Anh Quân tức giận cãi lại, không chút nể nang gì: -“Sao ba lại có những suy nghĩ cổ hủ như thế chứ? Con không thể tin ba lại là người có tầm nhìn hạn hẹp như vậy…-“Con sẽ thực hiện đúng như lời đã hứa, nhưng xin ba đừng đụng tới cô ấy, đó là người bạn duy nhất của con.” Anh Quân vẫn ung dung bước lên cầu thang, còn ông Tú thì tức sôi máu nóng muốn ném luôn tô mì vào người anh. Những hành vi và ngôn ngữ như thế ở niệng những người sinh viên Sư Phạm, khoa tâm lý là không thể chấp nhận được. Bởi họ là những người giáo dục rất kỹ  từ trong gia đình đến trường học, và họ đã là những người trưởng thành, có học hành tử tế.

        Truyện cũng có nhiều chương đoạn miêu tả những tình huống rất “Cải lương”, tức là tác giả cố ý “sáng tạo” những điểu khó có trong hiện thực. Chẳng hạn, đoạn tả Bích Trâm bị hai thanh niên cướp điện thoại rồi vác cô chạy. Khi nghe cô nói bị Covid nó mới buông tha rồi lấy thùng rác úp trên đầu cô (tr 88-92); họăc lúc Bích Trâm định tự tử thì Anh Quân đến cứu và đưa cô về. Anh bị bác bảo vệ chặn lại đòi đưa về đồn. “Anh Quân kéo Bích Trâm chạy như người ta rượt đòi nợ đến nơi”. Thực là một cảnh hài sân khấu; hoặc trên đường đưa Bích Trâm trở về (chương 19), Anh Quân bị kẹt xe vì có một tà nhà 7 tầng bốc cháy, sau đó cứu hỏa cho nổ tòa nhà để tránh gây tai nạn. Tôi không rõ tòa nhà đang cháy, hai bên các nhà cửa xung quanh đã được cứu thế nào, mà cứu hỏa cho nổ tòa nhà nhanh như vậy.

        Trong suốt 21 chương, lúc nào Bích Trâm cũng bướng bỉnh, căm thù cha, bất chấp lời dạy của ông ngoại, bỏ ngoài tai mọi chia sẻ của Anh Quân.  Vậy mà ngay sau khi ông Cao đến xin lỗi và chào con để về quê, Bích Trâm đọc thư ông ngoại, cô liền hối lỗi và chạy đi tìm cha. Cô xin lỗi và tha thứ cho cha. Lưu ý rằng, trước đó Trâm chưa hề được bác sĩ chuyên khoa tâm thần chữa trị bịnh trầm cảm, và cứ theo cách tác giả miêu tả, sự thù hận trong lòng Bích Trâm đối với cha, sự mất lòng tin vào cuộc sống của Bích Trâm là “hết thuốc”, vậy do đâu có sự phục hồi kỳ diệu ấy? Sự phục hồi này không phải do đời sống tâm linh hay sự thúc đẩy của Thánh Thần. Trước đó ông ngoại đã nhiều lần khuyên Bích Trâm nhưng cô đều gạt đi, giờ chỉ cần đọc một lá thư của ông Ngoại, Bích Trâm đã hồi sinh?

       Lúc đầu, hình như tác giả muốn đặt ra vấn đề xã hội (bệnh trầm cảm của người trẻ, nạn trọng nam khinh nữ, nạn bạo hành gia đình, vấn đề hạnh phúc đích thực; sự khác biệt thế hệ trong gia đình), nhưng đến kết truyện, đọng lại chỉ còn là truyện tình của Anh Quân và Bích Trâm. Tình yêu, sự kiên trì, sự bao dung của Anh Quân đã chữa lành vết thương cho Bích Trâm và đưa cô trở lại cuộc sống hạnh phúc. Sự không nhất quán về chủ đề làm phân tán giá trị tư tưởng của truyện.

        4. Nếu tác giả chú ý hơn đến tính văn chương, chú ý hơn đến quy luật của sự chân thực nghệ thuật và miêu tả sâu sắc hơn đời sống tâm linh của nhân vật thì ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm sẽ sáng hơn nhiều.

Tháng 10/ 2020

Ban Văn hóa-GPXL

***

Truyện dài Đất Mới 2020

NHỮNG MẢNH GHÉP

TD39-TG092-155 tr A5 38.420 word

1.Những mảnh ghép có 19 chương. “…là chuỗi những câu chuyện được tác giả lượm nhặt trong cuộc sống thường ngày, qua cách nhìn thực tiễn, những câu chuyện nghe kể lại và thêm chút hư cấu nhằm mục đích sinh động. Tác giả xây dựng hình tượng nhân vật An trong câu chuyện như đặt vị trí người đọc vào đó. Ở vị trí của nhân vật An, người đọc sẽ cảm nhận được những giá trị về quan điểm của từng câu chuyện mà tác giả muốn gửi gắm. Bởi thế giới này là bức tranh gồm nhiều mảnh ghép, mỗi mảnh ghép là một câu chuyện cuộc sống của từng người.Khám phá mỗi mảnh ghép đó như đi vào thế giới chung quanh vậy.” (Lời nói đầu).

Nhân vật An (Tôi)  kể chuyện của nhóm bạn 4 người chung lớp, chung xứ, xuất thân là dân “di cư 54”.  Nam học xong cấp 3 thì đi làm. Tùng học Triết ĐH KHXHNV-Tp HCM. Duy học Đai học Công nghệ. Tôi (AN), quê Hố Nai, học ngành Luật. Sau này Nam thành đạt, nhưng làm ca phê bằng bắp ngô, anh bị bắt (Buôn bán lương tâm). Duy du học Nhật, anh bị tai nạn chết, gia đình đưa tro cốt từ Nhật về (Du học, Cái chết). Tùng lấy Tuyền, hai người bị tai nạn chết ngay trong ngày đám cưới (Tình Thiên Thu).

An còn kể chuyện từ ngày đậu đại học, dự lễ khai giảng ở Đại học, dự mùa hè xanh ở xã PôKô –Kontum (các truyện: Lên Tây nguyện, Rừng thiêng bị bức hại, Mở đường kên đỉnh Xê Đăng), đi tuyên truyền pháp luật cho bà con ở gần vùng Núi Bà Đen (Mùa mãng cầu). An kể chuyện  Cô bé chim cánh cụt bán vé xố với bà ở khu nhà trọ; chuyện Đào Trường, người cùng xóm từ một tên ăn cắp trở thành tay giang hồ có số má; kể chuyện bất công ở tòa án nơi An làm phụ tá luật sư bảo vệ nguyên đơn là bà mẹ kiện con trai đã đuổi bà ra khỏi nhà sau khi bà sang tên nhà cho con (Tiếng gào thét).

Các tuyện là những mảnh hiện thực đời thường xung quanh ta. Tác giả quan sát, ghi nhận, suy gẫm và lên tiếng nói dựạ trên tiếng lương tâm, và nền tảng đạo đức truyền thống, lối sống tình nghĩa. Có truyện ca ngợi người lao động nghèo. Ông Đạt với xe cho đi lượm bao nilon trong mưa để cống không bị tắc (Ông lão và chiếc xe chó). Có truyện là bài học của bản thân. Nói chuyện với nông dân, Tôi chợt nhận ra mình như một con ếch mang tư duy của một kẻ nô lệ nhưng lại rất thích kể cho chim vàng anh nghe về một bầu trời rộng lớn (Mùa mãng cầu). Nhiều truyện phê phán sự xuống cấp đạo đức: Nam làm ca phê giả (Buôn bán lương tâm); Con trai đuổi mẹ ra khỏi nhà (Tiếng gào thét;, Đào Trường, người cùng xóm từ kẻ cướp thành gã giang hồ có số má (Niềm tin). Có truyện luận về sự thành bại (Thành công). Tác giả viết: “chúng ta không biết từ khi nào đã trở thành những người sát tế chân lý trên cái bàn thờ mang tên thành công vô thường đấy.”; luận về vấn đề đâu là giá trị thật của cuộc sống. Tác giả phê phán con đường mưu cầu tiền bạc (Nam), công danh (duy), và ca ngợi con người tình nghĩa (Bé Ân đối với bà, truyện Cô bé chim cánh cụt, hay lão Đạt với xe chó).

Tác giả nhận xét về Cô bé chim cánh cụt: “con bé tuy ít tuổi nhưng lại mang một tâm hồn cao thượng mà chưa hẳn những người trưởng thành đã có. Phải chăng ở thế giới này chúng ta có thể dễ dàng kiếm được nhiều người dư dả về vật chất nhưng lại khó kiếm được người giàu có về tâm hồn…”(tr.28).

Tác giả đánh giá lão Đạt: “Ông lão có lẽ đã tìm được cái triết lý cho chính bản thân mình, không mưu cầu hạnh phúc theo cách mọi người nghĩ, nhưng mưu cầu tình yêu thương và sở hữu nó như một món quà mà thượng đế ban tặng. Điều cao thượng hơn nữa là ông lại không bao giờ chỉ giữ chặt tình yêu thương đó cho riêng mình mà còn trao tặng nó như là mục đích của đời người. Với ông, cuộc sống chỉ đơn giản có thế” (tr.78).

Tuy nhìn ra được nhiều vấn đề của cuộc sống, song tác giả lại bế tắc trong việc đề xuất những giải pháp “cải tạo thế giới” xung quanh mình. Nam làm cà phê giả, Tôi khuyên can nhưng cậu ta không nghe. Tôi thấy rõ nạn phá rừng, nhưng chỉ biết đau xót. Tôi là phụ tá luật sư bào chữa cho nguyên đơn là bà mẹ bị con lấy mất nhà, biết rõ sự bất công nhưng Tôi (An) đã không thể làm được gì; người cùng xóm là Đào Trường đi cướp giật, cha xứ và nhiều người khuyên nhưng hắn ngày càng lún sâu vào đời giang hồ. Ông Đạt đi lượm bao ny lông cho cống thóat nước khỏi bị nghẹt nhưng cứ hễ mưa xuống thì đường phố Sài Gòn biến thành sông! Những người bạn thân nhất của Tôi, trong 4 người, thì hai người chết (Tùng, Duy) và một người đi tù (Nam), tôi chẳng làm được gì cho họ.  Phải chăng Tôi tự cho mình là khôn ngoan nên không chết và không vào tù?!

Nhìn vấn đề như thế để thấy rằng những “suy gẫm” của tác giả về hiện thực cuộc sống chưa đạt đến bản chất của vấn đề, chẳng khác gì “cưỡi ngựa xem hoa”. Xã hội Việt Nam trong đời sống kinh tế thị trường toàn cầu hóa hiện nay, đạo đức “truyền thống” đang bị chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa thế tục, mục đích lợi nhuận lấn át. Những điều gọi là đạo đức tình nghĩa thủy chung… của cha ông nay đang bị đập vỡ. Nền tảng gia đình đứng trước nguy cơ sụp đổ, trước sự xâm lăng văn hóa…nhân vật Tôi chưa nhìn thấy những vấn đề tư tưởng ấy.

            2.Những mảnh ghép không phải là một tập truyện dài (dù độ dài 155 trang in), cũng không phải là một tập truyện ngắn (dù Tôi kể đến 19 truyện). Đây là một tập tùy bút nghị luận. Tôi kể lại câu chuyện mình quan sát hoặc nghe kể lại, rồi từ đó đưa ra những bình luận cá nhân. Phần bình luận của Tôi là chính, những câu chuyện được kể chỉ là để chứng minh cho nhận định của Tôi. Đôi truyện có chất ký (Lên Tây nguyện, Rừng thiêng bị bức hại, Mở đường kên đỉnh Xê Đăng), hoặc phóng sự (Cô bé chim cánh cụt; Tìm mẹ bé chim cánh cụt; Đoàn tụ). Giá trị của những trang văn này là  một những mảnh hiện thực mà tác giả ghi nhận được.

Có điều, tác giả mới chỉ ghi nhận hiện tượng, chưa đạt đến bản chất của vấn đề. Chẳng hạn, truyện Tiếng giào thét, tác giả trình bày được sự không hợp tình hợp lý của vần đề. Mẹ sang tên nhà cho con trai, sau đó con trai đuổi mẹ ra khỏi nhà. Mẹ kiện đòi lại nhà, tòa xử con thắng kiện. Mẹ chỉ còn biết gào thét Công lý ở đâu? Câu hỏi ấy không được tác giả trả lời. Trong thực tế ở Việt Nam, có tới 80% những vụ án bị xử oan sai như thế. Và căn nguyên là ở đâu, tác giả chưa làm rõ.

Có một chi tiết nhỏ, nhưng lại lộ ra “cái giả” của trang văn. Trong truyện Kỷ niệm, tác giả mở đầu truyện bằng một đoạn tả cảnh thiên nhiên: “Trời lạnh, tiếng côn trùng ỉ eo đâu đó. Mùa xuân nhưng lại se lạnh như cái khí tiết mùa đông. Trăng rọi qua khung cửa hắt sáng tràn lên khắp người. Trăng lên muộn, tôi lững thững bước trên đường làng quê xóm nhỏ. Hôm nay mùng một tết ta, tôi về lại thăm gia đình”. (tr.146). Đọc câu văn trên, kẻ viết bài này sững người. Bởi vì đêm 30 và mùng một tết ta, làm gì có trăng! Người ta thường nói “tối như đêm 30”! Và cứ theo mạch văn thì Tôi về thăm nhà đêm mùng một, trăng hắt sáng lên khắp người.

Ban Văn hóa- Giáo phận Xuân Lộc

***

Truyện dài Đất Mới 2020

TRỞ VỀ

Jos Nguyễn Xuân Bảo-Bùi Chu

115 tr (78.712 words)-29 chương+chương cuối

            1.Hoàng rời chủng viện trở về nhà. Mẹ anh rất buồn. Anh sang thăm bà nội, bà dặn: Bỏ tu chứ không được bỏ Chúa. Nhiều lời nói ra nói vào làm cả hai mẹ con anh e dè. Giáo dân nơi giáo xứ anh ở rất trọng người đi tu nhưng họ không thể chấp nhận người tu xuất.  Cha xứ gọi Hoàng vào, ngài chia sẻ và an ủi. Ngài nhờ Hoàng trông coi ca đoàn giáo xứ Phúc An để giúp anh hội nhập với cộng đoàn. Nhưng khi anh tập hát, các ca viên lại tẩy chay anh, dù cha xứ (cha Quang) đã lưu ý mọi người về sự lòng mến và sự cảm thông. Hoàng lên chỗ cha Hảo là nghĩa phụ. Ngài khuyên: “giờ trở về với đời sống, con vẫn có thể dùng tài năng của mình để phục vụ và làm việc có ích cho bản thân, gia đình, giáo hội và xã hội. Miễn sao con đừng đánh mất mình là được”.  Hoàng ra Hà Nội như là một cuộc trốn chạy. Anh làm việc ở trung tâm dạy nhạc và bán nhạc cụ của Quân, một người bạn học. Lúc đầu Hoàng nghĩ Quân là một người bạn tốt. Nhưng làm với Quân một thời gian, anh nhận ra Quân chỉ coi anh như một nhân viên và thường thiếu lương anh. Hoàng quyết định bỏ việc ở Hà Nội, lên Yên Bái dạy học ở chỗ trường của bác Định. Hoàng nghĩ, chỉ khi anh gần gũi với những con người nghèo khổ anh mới tìm lại được chính mình. Anh nhận ra: “Dù không còn tu trì, nhưng giữa những con người đơn sơ và chất phác ấy, anh sẽ đem Chúa đến cho nhiều người hơn. Hoàng biết, anh vẫn muốn sống cuộc đời vì mọi người hơn. Đó từng là lý do để anh đi tu, và giờ là lý do để anh ra đi một lần nữa, đi tới miền ngoại biên xa xôi”(Chương cuối)

            2. Tác phẩm tô đậm thái độ dị nghị, tẩy chay của người thân, làng xóm, giáo xứ đối với một người xuất tu trở về, khiến cho Hoàng phải bỏ xứ mà đi. Trở về cuộc đời, sau khi làm việc với Quân, anh lại nhận ra rằng: “Người ta biết mình ngu, nên người ta lừa mình và vặn mình đến thế. Đặt niềm tin sai chỗ. Con người đáng sợ thế này ư?”(Chương 28), Và rồi Hoàng dự định lên Yên Bái, một vùng quê nghèo, chỗ bác Định để dạy học. Hoàng chấp nhận làm lại từ đầu. Chưa rõ anh có hội nhập thành công không (vì khi tác phẩm kết thúc, Hoàng còn đang chuẩn bị đi Yên Bái).

     Cha Hảo, Nghĩa phụ của Hoàng lại nhấn mạnh đến một chủ đề khác: “Đi tìm chính

 mình là vấn đề lớn nhất của mỗi con người, dù tu trì hay không.”(Chương 29). Hoàng quyết định đi Yên Bái vì “giữa những người nghèo khó, anh thấy mình gần họ hơn. Tìm lại chính mình. Anh sẽ tìm lại chính mình khi anh được sống giữa họ.” (tr.111).

Tuy là lý do để Hoàng rời bỏ Quân, rời bỏ Hà Nội nhưng chủ đề này rất mờ nhạt. Bởi Nếu nói Hoàng đi tìm lại chính mình, vậy anh đã đánh mất mình ở đâu và vì nguyên nhân nào? Chẳng lẽ anh chọn lựa đi tu, sau vì “thấy không hợp”(tr. 45) , anh bỏ tu, sự chọn lựa ấy là “đánh mất mình” hay sao? Cũng có thể, trước những dị nghị của người đời, anh đã không còn đủ tự tin, không còn đủ bản lĩnh đối mặt với thử thách, anh không còn là anh. Và sau cùng phải bỏ xứ mà đi. Hành động ”bỏ xứ” này là “đánh mất mình”? Rồi khi Hoàng làm việc cho trung tâm của Quân, anh nhận ra Quân chỉ coi anh là một nhân viên, không phải là bạn, thậm chí bị Quân xỉ vả khi anh bê trễ, đó có phải là “đánh mất mình” hay không? Tác phẩm chưa có lời nào lý giải đủ thuyết phục cho chủ đề này, cả về mặt tư tưởng và về hành động thực tiễn của Hoàng.

            Trong đời thực, Hoàng là người thế nào? Hoàng trở về, anh được mẹ, bà nội và cô em gái nhà hàng xóm tên Hòa rất mực yêu thương. Anh được ông trùm Lợi và cha xứ tạo điều kiện để anh sớm hội nhập, được cha Hảo là nghĩa phụ chỉ bảo và được Quân đón tiếp, giao cho anh đứng trông coi một trung tâm mà anh không cần bỏ đồng vốn nào. Hoàng đã làm tốt công việc Quân giao.

Nhưng Hoàng không phải là người biết làm kinh tế. Anh thụ động ngồi chờ. Anh chờ Quân đón lên Hà Nội có sẵn việc làm, rồi lại chờ lên Yên Bái chỗ bác Định có sẵn trường cho anh dạy học. Anh chưa bao giờ tự mình thiết kế con đường mình đi, mà làm việc cảm tính. Trong Đại chủng viện, “anh thấy mình hơi ngột ngạt. Một nhịp sống đều đều, lặp đi lặp lại theo từng ngày. Cứ đến giờ nào là công việc của giờ đấy. Không một điểm nhấn. Không một hoạt động khiến anh hào hứng.” Ở nhà với mẹ, Hoàng không biết làm gì để thoát khỏi dị nghị và đỡ đần sự vất vả của mẹ. Làm việc với Quân, anh cũng không đủ khôn ngoan để thích ứng và cải tạo môi trường sống của mình, trong khi Quân đã tạo điều kiện làm việc và lương bổng bước đầu rất tốt. Hoàng không có kỹ năng sống. Đó là nguyên nhân thất bại của anh. Hơn thế, đời sống tâm linh của anh rất nhạt nhẽo.”Hoàng đã không còn sống trong đời sống cầu nguyện từ bao giờ rồi. Kể cả trong những ngày ở chủng viện, mỗi giờ kinh hay Thánh lễ là một cái gì đó hơi áp lực, hơi nặng nề với anh” (tr.45). Không có đời sống đức tin mạnh mẽ Hoàng sẽ không bao giờ thành công khi anh phải đối mặt với thử thách.

3. Truyện kể với tốc độ rất chậm, chỉ có tâm trạng của Hoàng mà rất ít hành động truyện thúc đẩy sự phát triển cốt truyện, khắc họa tính cách và số phận nhân vật. Hành động của nhân vật Hoàng chỉ là: rời chủng viện Hoàng về nhà, tham gia ca đoàn nhà xứ, đi gặp cha nghĩa phụ rồi ra Hà Nội làm việc với Quân. Rất nghèo những tình huống truyện, nhưng lại quá dư thừa những chi tiết vụn vặt, khiến cho văn chương bị rỗng, nghĩa là: lời, chữ thì nhiều mà dung lượng hiện thực được phản ánh lại rất ít. Có thể tóm gọn hơn 200 trang in trong vài chữ là, “truyện kể về những khó khăn, bế tắc của người xuất tu”.

Truyện không có tư tưởng gì, không đề xuất được vấn đề xã hội thực tiễn nào, nếu không nói tác giả đã không miêu tả đúng bản chất tâm linh, sức mạnh Đức tin của đời sống người đi tu. Hoàng cho rằng “đời sống Chủng viện khiến anh thấy mình hơi ngột ngạt. Một nhịp sống đều đều, lặp đi lặp lại theo từng ngày. Cứ đến giờ nào là công việc của giờ đấy. Không một điểm nhấn. Không một hoạt động khiến anh hào hứng. Vốn Hoàng là người hướng ngoại, hướng ngoại hoàn toàn nên những nhịp sống đều đều đó khiến anh thấy mình không còn phù hợp.”(tr.45).Thực ra người đi tu với ơn gọi Linh mục phải có đức tin thật mạnh mẽ, có sức mạnh lửa cháy của Chúa Thánh Thần (nội tâm) và một đời sống nhiệt thành phục vụ đoàn chiên (hướng ngoại). Hoàng không có cả hai phẩm chất này, anh lại đổ lỗi ngược lại cho đời sống Đại Chủng viện, điều ấy tác giả viết không thuyết phục.

Ban Văn hóa-Giáo phận Xuân Lộc

***

Truyện dài Đất Mới 2020

ĐÓA HỒNG THỨ 40

Giuse Lê Ngọc Thành Vinh-Hà Nội

211 tr A5 tr (48.740 words)-TD08-TG021

(Số trang ghi chú là số trang của bản thảo)

***

1.“Mùa Xuân đã về trên cây lá, còn Mùa Xuân Tuổi Trẻ của “đóa hồng thứ 40” sẽ đi về đâu, tất cả đều nằm trong sự quan phòng của Thiên Chúa”.(tr. 208)

Đó là câu văn kết thúc tác phẩm. Đóa hồng thứ 40 có dáng dấp một truyện ký, ghi chép lại khá chân thực ba mùa xuân Thanh Hiền sống và làm việc trên đất Nhật. Thanh Hiền 25 tuổi, là Sinh viên trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, chuyên ngành âm nhạc và dương cầm. Thanh Hiền đẹp, cô cao tới 1,7m. Khuôn mặt ưa nhìn và làn da trắng muốt. Cô xuất khẩu lao động sang Nhật, làm việc trong công ty đóng hộp cơm. 5 chương đầu kể chuyện chỗ ở, việc thực tập và làm việc hết sức vất vả. Ở công ty, Hiền bị Thu Cúc dụ dỗ đóng phim vợ chồng (phim JAV), nhưng cô tránh được.

Những chương sau là hồi tưởng của Hiền về mối tình đầu với Chiến Thắng, cuộc tình thứ  2 với Apolong, cuộc tình thứ ba với Đình Trọng. Cả ba người đều bỏ cô để theo Chúa sống đời dâng hiến. Hiền cũng hồi tưởng chuyện tình của bố mẹ (Bà Hà-ông Minh), chuyện tình của người chị là Hoài Hương và việc Hương đi xuất khẩu lao động ở Angola, về thảm cảnh nợ nần, tai họa liên tiếp của gia đình.

Để kiếm thêm tiền gửi về nhà trả nợ vay nóng,  Hiền đã nhận đàn cho ca đoàn ở  nhà thờ Tin Lành, dạy nhạc cho học sinh lớp ba ở trường Tiểu học trong vùng với mức lương gấp đôi làm ở công ty cơm hộp. Cô có ước mơ sang Anh để kiếm nhiều tiền hơn. Hiền được Huy môi giới sang Anh “trồng cỏ”. Do bận công việc, Hiền phải lùi thời gian đi chuyến sau. May cho cô không đi chuyến ấy. Huyền My, một người bạn của Hiền đã trở thành nạn nhân của chiếc xe container chở 39 xác chết khi vào nước Anh. Người bạn ấy là đóa hồng thứ 39, và Hiền là đóa hồng thứ 40.

            Sau cùng, gia đình Hiền được đền bù tiền đất do quy hoạch, Hoài Hương đã trả được nợ và mở thêm một tiệm bán và sửa chữa ngư cụ cho bố (ông Minh). Hương được chị Mai là một đồng nghiệp giúp cho đi dạy lại. Thằng Cò (con của Hương) được đi học. Cuộc đời của cả gia đình Thanh Hiền như đã sang trang (tr.20)

Hiền suy gẫm: “Chẳng phải Chúa đã cho cô một cơ hội được sống sót, đóa hồng thứ 40 này phải sống sao cho xứng đáng, sống sao cho có ích, sống cho cả 39 đóa hồng kia, đặc biệt là cho đóa Huyền My” (tr.187)

                2. Truyện tập trung miêu tả tình cảnh của ngưới xuất khẩu lao động, và thái độ sống đức tin của người trẻ xa quê trong một môi trường văn hoá xã hội có nhiều khác biệt Kitô giáo. Chẳng hạn, Hiền trọ ở nhà ông Tokieda người Tin Lành với kỷ luật nghiêm nhặt, cô phải ứng xử thế nào để không cảy ra mâu thuẫn tôn giáo với ông bà; hoặc để có thêm tiền cô đã nhận chơi đàn cho ca đoàn nhà thờ Tin Lành, tập hát thánh ca Tin Lành, nghe Mục sư Tin Lành giảng mà không phai nhạt hoặc “rối đạo” so với tín lý Công giáo; hoặc chịu sự khinh miệt của bà Fuji. Hiền cảm thấy xấu hổ khi thấy có một em bé Nhật làm dấu khi ăn cơm trong khi lâu rồi cô đã không làm dấu trước mặt thiên hạ…

Nhưng chủ đề bao trùm là những ảo tưởng về kiếm tiền đổi đời của người lao động xuất khẩu (hai chị em Hoài Hương và Thanh Hiền). Họ bị nợ chồng chất, nhất là khoản tiền vay nóng 250 triệu để làm hồ sơ đi lao động. Ở Nhật, Thanh Hiền làm việc hết sức vất vả, và nếu không “làm thêm” thì chỉ đủ sống và dư chút đỉnh. Mơ ước trả nợ và đổi đời vẫn mù mịt. “Hiền băn khoăn tự hỏi, mình tới đây để làm gì? Đã gần hai năm trôi qua vẫn chưa trả hết số tiền đã nợ để đến được xử sở này. Đâu là Thiên Đường, đâu là Địa Ngục? (tr.189).

                Truyện dài Đóa hồng thứ 40 còn đặt ra nhiều vấn đề “nóng” của xã hội Việt Nam đương đại. Đó là tuổi trẻ sống ảo, yêu ảo; vấn đề Formosa; việc xuất khẩu lao động chất chứa nhiều điều phạm pháp và hiểm nguy như vay nóng, bị dụ dỗ làm việc phạm pháp (như đóng phim JAV, trồng cần sa…); Vấn đề “đại kết” Công giáo và Tin Lành khi Hiền trọ nhà ông Tokieda người Tin Lành, và việc Hiền đàn cho ca đoàn nhà thờ Tin Lành, hát thánh ca Tin Lành (tr.23&tr.150). Ở Việt Nam sinh viên học xong ra trường, muốn xin được việc thì phải “chạy” tiền, hoặc phải bán thân cho giám đốc (chuyện của Huyền My, tr.140); Việt Nam đã không trọng dụng tài năng (tr.154), hoặc xu thế làm mẹ đơn thân không bị kỳ thị như hồi xưa (tr.201)…

                Vì tác phẩm thuộc dạng truyện ký nên những ghi chép về một số mặt đời sống và con người ở Nhật khá chi tiết và sống động. Nhân vật ông chủ nhà trọ Tokieda gây được ấn tượng về một người có lòng nhân ái, sẵn sàng giúp đỡ người lao động Việt Nam, nhưng ông yêu cầu người trọ phải giữ những nguyên tắc thờ phượng của đạo Tin Lành (chẳng hạn nếu người trọ là Công giáo thì chỉ được đặt cây thánh giá không có tượng Chúa). Tác giả ghi nhận rất chi tiết sự vất vả khi lao động ở Nhật (chương 4: Ngày công đầu tiên), miêu tả sinh động hình ảnh trẻ em Nhật ở trường tiểu học (Chương 15: Trường học); miêu tả nhiều trải nghiệm của người trẻ trong đời sống hiện đại (sống ảo, yêu ảo, chạy việc, giao lưu quốc tế…)

Trong khi thuật lại những sinh hoạt đời sống ở Nhật, tác giả không che giấu sự khâm phục và thái độ ca ngợi văn hóa và con người “xứ mặt trời mọc”:

“Nếu so sánh độ sạch của cơm hộp Việt với cơm hộp Nhật thì quả là “một trời một vực”. Hai chữ “cơm hộp” ở Việt Nam gắn liền với chữ “bẩn”, đặc biệt là hộp xốp đựng cơm còn có chứa chất độc hại cho hệ tiêu hóa, thậm chí chứa cả chất gây ung thư. Còn cơm hộp của Nhật Bản phải nói là còn sạch hơn cả cơm nhà”(tr.39).

            “Buổi chiều, sau ăn trưa và giờ chơi tự do là thời gian bọn trẻ tự dọn dẹp trường học, chúng thực hiện một cách nghiêm túc, chuẩn mực và thành thục cứ như dọn nhà mình vậy khiến Thanh Hiền rất vui thích và ngưỡng mộ, cô không hình dung nổi mấy chục hay mấy trăm năm nữa ý thức của học sinh tiểu học của Việt Nam mới theo kịp, và cả cơ sở vật chất trường học cũng thế”(tr. 164).

            3. Tác giả có cách viết trẻ trung, sinh động và hiện đại. Truyện được thuật với tốc độ nhanh. Văn trong sáng và gọn (ít chữ thừa). Tác giả không kể truyện theo tuyến thời gian mà mỗi chương chọn kể những một sự việc đặc biệt, hoặc một biến cố xảy ra cho nhân vật. Thí dụ: Chương 2, ông chủ nhà trọ. Chương 3: Cạm bẫy. Chương 4: Ngày công đầu tiên. Chương 5: Cuộc tình đầu. Chương 6: Cuộc tình thứ hai. Chương 7: Cuộc tình thứ ba…Vì thế người đọc dễ theo dõi, ngòi bút tác giả không bị trói trong tuyến tính thới gian.

Thực ra đây là cách viết ký sự, phóng sự. Tác giả không dựng cảnh như tiểu thuyết mà chỉ “thuật” như tường thuật báo chí, kết hợp với suy nghĩ của nhân vật và những đoạn bình luận ngoại đề của tác giả.

Đây là một đoạn bình luận ngoại đề: “Cái chết đau thương của bạn ấy và 38 người là bài học cảnh tỉnh cho biết bao người đang ôm ấp mộng tưởng tới Anh để làm giàu dù biết là nhập cư bất hợp pháp, làm giảm bớt nạn buôn người và có thể là cả sản lượng cần sa tại Anh nữa. Những cái chết thật đớn đau nhưng không vô ích…”(tr.185).

Truyện thú vị là nhờ tác giả đem vào trang văn nhiều trải nghiệm, vốn sống giàu có và một vốn văn hóa có bề rộng và cả bề sâu. Những chương kể chuyện tình của người trẻ, hoặc Hiền kể lại truyện hài để trả lời câu hỏi Chúa ở đâu là nhưng trang văn rất trẻ, văn chương của ngày hôm nay. Xin đọc đọan tác giả bình luận về thánh ca Tin Lành:

“Tiếp cận với Ca đoàn Tin lành, Thanh Hiền cảm nhận thấy nhiều điều mới lạ, thú vị, ấy là việc thờ phượng thì người Công giáo chuộng tập thể (đọc nhiều kinh hạt, coi kinh lễ nhà thờ, kinh lễ gia đình là phút giây quan trọng mỗi ngày, nhưng nhiều lúc lại ê a thuộc lòng, dễ rơi vào hình thức trống rỗng), còn người Tin lành chú trọng thể hiện cá nhân (những lời cầu nguyện nhiệt tâm, tha thiết nhưng tự phát, dễ rơi vào chủ quan phiến diện). Dẫu vậy trong Thánh ca thì dường như hơi ngược lại: người Tin lành thích thể hiện bằng hợp xướng, người Công giáo thường chỉ hát những bài đồng ca có bè đồng giọng, nhiều nơi còn lạm dụng đơn ca, dễ rơi vào chỗ phô diễn tài năng hơn là thờ phượng Chúa. Thanh Hiền chợt nhớ hình ảnh mà nữ chân phước Elisabeth Chúa Ba Ngôi đã dùng để suy niệm về mầu nhiệm Ba Ngôi một Chúa, rằng âm nhạc trong Kito giáo tuy đi theo nhiều hướng sư phạm khác nhau, nhưng mỗi bên có cái hay riêng, đồng thời cũng có cái giới hạn riêng, tạo nên những mẫu người tín hữu khác nhau. Nếu biết đón nhận nhau, hai nền Thánh nhạc sẽ tạo thành một bản hòa âm, một sự hòa điệu sâu xa, một chân trời hiệp nhất cho các hệ phái Kitô giáo – một bản hợp xướng nhiều bè nhưng rất hòa hợp chứ không hề bị chênh phô”.(tr.112).

Tất nhiên những ý kiến như thế còn có chỗ phải nghiên cứu sâu xa hơn, song tác giả tỏ ra mạnh dạn đề xuất một góc nhìn riêng của người trẻ. Đó là một cách nhập cuộc tích cực của văn chương.

Nếu có điều gì cần chia sẻ với tác giả thì đó là sự tô đậm “họa vô đơn chí” của gia đình Hiền, để có lúc cô đã nản lòng: “cô than trách Chúa, lúc con tàu của bố bị đắm thì Chúa đang ở đâu, đã bao lần Người nhắm mắt làm ngơ trước nỗi đau của gia đình cô như vậy? Người đã lấy đi em gái cô, đã lấy hết niềm vui của mẹ, biến mẹ thành một cỗ máy chỉ biết cày cuốc kiếm ăn để quên đi những nỗi đau, ấy vậy mà Người còn kéo mẹ đi sớm. Người đã để mặc cho chị gái của cô thân bại danh liệt, thằng Cò mất cha. Người thậm chí đã lấy đi cả ba chàng trai mà cô hết lòng yêu thương. Và giờ đây Người đã không cho bố cô và con cháu một cơ hội nào để được sống, thậm chí là để tồn tại như một con người có tự do và mưu cầu hạnh phúc”(tr.123)

Tình cảnh cùng cực của gia đình Thanh Hiền đã không được giải quyết bằng “sự quan phòng của Chúa”, hay bằng nỗ lực làm việc kiếm tiền của Thanh Hiền. Cô đã làm việc hết sức song nợ vẫn còn nợ. Vậy mà bỗng dưng, chị Mai, một đồng nghiệp của chị Hoài Hương, chỉ vẽ đường đi nước bước và cho Hương mượn tiền để  đòi lại sổ đỏ ngân hàng, sau đó Hương được đền bù gần một tỷ, do đất quy hoạch. Hương đủ tiền trả nợ và mở tiệm cho bố (chương 20). Đó là cách lý giải tự nhiên chủ nghĩa.

Một phương diện khác, người đọc dễ nhận ra phẩm chất xã hội của truyện phong phú hơn đức tin tôn giáo, dù rằng sau cái chết của Huyền My, bông hồng thứ 39, thì Thanh Hiền có nhận ra sự quan phòng của Chúa: “Mùa Xuân Tuổi Trẻ của “đóa hồng thứ 40” sẽ đi về đâu, tất cả đều nằm trong sự quan phòng của Thiên Chúa”.(tr. 208)

Ban Văn hóa-GP Xuân Lộc

***

CHÂN THÀNH CÁM ƠN CÁC TÁC GIẢ ĐÃ THAM GIA GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2020. KÍNH CHÚC CÁC TÁC GIẢ CÓ NHIỀU TÁC PHẨM XUẤT SẮC TRONG NHỮNG MÙA GIẢI TỚI.

Ban Văn hóa-GP Xuân Lộc

THƠ CỦA GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2020

THƠ CỦA GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2020

***

Bìa tuyển tập tác phẩm đoạt giải VHNT Đất Mới 2020

Số lượng tác giả và tác phẩm tham gia Giải VHNT Đất Mới 2020 khá đông đảo. Có 911 bài thơ (trong đó gồm 25 tập thơ) và 9 trường ca:

          1. Trường ca VỊ TÙ NHÂN SỐ 13, viết về ĐHY Fx Nguyễn Văn Thuận (9293 words).

          2 .Sách SÁNG THẾ.Song thất Lục bát. 621 khổ thơ. 2484 câu, 18.170 words.

          3. Sách ÉTTE. Song thất Lục bát. 173 khổ thơ. 692 câu thơ.

          4. Sách TÔNG ĐỒ CÔNG VỤ. Song thất Lục bát. 629 khổ thơ (2516 câu).

              Ba sách: Sáng Thế, Étte, Tông đồ công vụ của một tác giả.

5. KHÁT VỌNG. Truyện thơ  (3277 words).

6. Diễn ca tông huấn CHRISTUS VIVIT- ĐỨC KITÔ ĐANG SỐNG. 9396 words.

7. Sách XUẤT HÀNH. Lục bát diễn thơ. 42.305 words.

8. VÌ ĐỜI LÀ MỘT CHUYẾN ĐI. Trường ca: 10286 words.

9. CHUỖI MÂN CÔI NHIỆM MẦU. 72 khổ thơ 4 câu.

NHỮNG CHỦ ĐỀ CHÍNH

Thơ Đất Mới 2020 vẫn khai thác các đề tài của những năm qua.

Đề tài Đức Mẹ Núi Cúi: Tập thơ  “Kỷ nguyên Núi Cúi” có nhiều suy tư khám phá mới mẻ sâu sắc về Đức Mẹ Núi Cúi và công trình Trung tâm Đức Mẹ Vô Nhiễm Núi Cúi.

Đề tài Đời dâng hiến: Tập thơ Con Nhỏ I & II, 150 bài, và Thắp sáng niềm tin, 103 bài là niềm hoan ca về tình yêu Giêsu và lý tưởng sống đời hiến dâng. Trường ca Vị tù nhân số 13 (MSTP_T33) viết về Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, thể hiện niềm tin yêu kính phục với Đấng đáng kính. Ngoài ra nhiều tác giả thể hiện tình cảm với Đức cha Đaminh, với các đấng chủ chăn như tập thơ Dâng (MSTP-T66), tập thơ Tình ca Đất Mới (MSTP-T91).

Thể Diễn ca: Diễn ca Cựu Ước có những công trình đồ sộ. Đó là Diễn ca Sách Sáng Thế, Sách Étte, Sách Tông Đồ Công Vụ, sách Xuất hành và tập thơ diễn ca Tông huấn Christus Vivit – Đức Kitô đang sống. Những công trình này đòi hỏi tâm huyết, sức lực và tài năng cùng với lòng nhiệt thành việc Nhà Chúa.

Đặc biệt có hai tập thơ về bảo vệ thai nhi: Quyền sống (MSTP_T60) & Chuyện kể nơi mồ hoang (MSTP_T90), gây được ấn tượng với người đọc bởi thực trạng thai nhi bị giết hại và thái độ nhiệt thành dấn thân của tác giả trong việc bảo vệ sự sống.

Thơ Đất Mới 2020 có thêm thể loại mới là tập thơ thiếu nhi Bông hồng nhỏ (MSTP_T88), và tập thơ Hồn thơ Thiên linh- Tiên Sa Hài Đồng Giêsu (MSTP-T61) dịch thơ Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Bản dịch thơ giàu tính văn chương.

Có sự tham gia của các tác giả ngoài Công giáo. Thí dụ, tập thơ Vào chùa gặp tiên (MSTP-T34) 65 bài. TG027 viết 12 bài về nhiều đề tài: Đất Bazan, cao su Tây Nguyên, về Bến sông quê, Chợ Nổi về mùa xuân, về tuổi thơ…thể hiện tình yêu quê hương, tình gia đình.

Có tác giả giới thiệu nhiều bài thơ mà tác giả đặt tên là loại Thơ LƠ LỬNG. Rất tiếc là các tác phẩm này nằm ngoài tiêu chí cuộc thi nên không đưa vào xét trao giải. Ban tổ chức chân thành cám ơn các tác giả đã hưởng ứng cuộc thi, góp phần làm phong phú nội dung và màu sắc nghệ thuật của thơ ca Đất Mới.

ĐẶC SẮC NGHỆ THUÂT

            Thơ Đất Mới 2020 phát triển theo hai dòng quen thuộc: Dòng văn chương bình dân truyền thống và dòng thơ nghệ thuật

            Các Diễn ca Cựu Ước như Sách Sáng Thế, Sách Étte, Sách Tông Đồ Công Vụ, sách Xuất Hành; thơ tâm tình, thơ chúc mừng, thơ về sinh hoạt cộng đồng…hướng về công chúng rộng rãi để chia sẻ, để khích lệ hay kêu gọi, thường viết bằng thể Lục bát, Song thất lục bát của ca dao. Đặc điểm của dòng thơ này là lời thơ mộc mạc, giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày. Nội dung là những sự việc ngay trong đời sống thực (Mừng Ngân khánh, Kim khánh, Ngọc Khánh, Mừng 10 năm giải VHNT Đất Mới…). Thơ gây ấn tượng dễ thuộc, dễ nhớ, vui và thân tình dùng trong các sinh hoạt cộng đồng.

Tuy vậy, các tác giả chưa chú ý đầy đủ đến tính văn chương, lời thơ là khẩu ngữ sinh hoạt chưa trau chuốt. Tác phẩm chỉ chú ý nội dung và chia sẻ những giáo huấn (tập Tình thơ sống đạo). Đây đó còn sai vần, ép vần (Thí dụ: tập thơ Đáp lại tình Chúa, 18 bài; Tập Tình ca Đất Mới, 12 bài; tập thơ Con Nhỏ, 150 bài; tập thơ Kinh thờ kính 54 bài).

            Dòng thơ nghệ thuật dùng nhiều thể thơ 7-8 chữ của thơ Lãng mạn (1930-1945). Loại thơ này có cái hay tuyệt vời của ngôn ngữ, cảm xúc, nếu người làm thơ khám phá được những tứ thơ mới, có được những cách cảm nhận mới, những cách diễn đạt mới (xin đọc thơ Lê Đình Bảng, Xuân Ly Băng).

Thơ Đất Mới 2020, dòng thơ nghệ thuật sử dụng hình ảnh tượng trưng,  thơ thiếu chất sống đời thực. Nhiều bài thơ cũ cả về lời, về tình, ý. Thơ có hình, có nhạc, có chữ mà không có nội dung, vì thế không lắng đọng được, mặc dù có những tác giả viết rất điêu luyện (tập thơ Thì thầm; trường ca Vì đời là một chuyến đi; tập thơ Tấu lạy Bà…).

Một, hai tác giả tiếp cận được với các khuynh hướng thơ Việt đương đại (thơ tự do, bám sát đời sống hiện thực, nói tiếng nói của thời đại) song khuynh hướng này chưa thành một dòng chủ đạo có thể đóng góp những sáng tạo mới về nghệ thuật.

Đã đến lúc cần sự cách tân nghệ thuật cho thơ ca Công giáo. Giải VHNT Đất Mới đã 10 năm song đa số tác giả vẫn đi theo lối quen của quá khứ. Chúng ta còn đi phía sau rất xa so với thơ Việt đương đại. Các nhà thơ Công giáo cần tiếp bước Hàn Mạc Tử vượt lên trước thời đại, hội nhập với thơ ca dân tộc.

Ban Văn hóa-Giáo phận Xuân Lộc

Tháng 10/ 2020

***

Bìa tuyển tập 10 năm tác phẩm đoạt giải VHNT Đất Mới

TRUYỆN NGẮN GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2020

Có 118 truyện ngắn tham gia giải VHNT Đất Mới (Giáo phận Xuân Lộc) năm 2020. Truyện ngắn Đất Mới 2020 tiếp tục các chủ đề của những năm trước. Năm nay có thêm chủ đề về Đại dịch Covid-19

CHỦ ĐỀ VỀ ĐỜI DÂNG HIẾN:

 Có 26 truyện ngắn viết về chủ đề này, khám phá nhiều khía cạnh đời Mục vụ của nam nữ tu sĩ, Linh mục.

GIẤC MỘNG. (TD24; TG076) là mơ ước của Hoàng. Sau bao gian truân, anh đậu thủ khoa ĐCV nhưng không nhập học được vì viên gan B. Anh ngồi đó nhìn về tòa nhà ĐCV, buồn nhưng không thôi hy vọng. VẾT SẸO ĐỜI BA – ƯỚC MƠ ĐỜI CON (TD04; TG014) là một trường hợp khác : Sau 1975, ĐCV giải tán, chủng sinh về lao động. Cha Giám đốc hẹn khi có giấy báo thì các tu sinh trở lại. Nhân vật Nó đã chờ 10 năm nhưng không thấy giấy gọi. Thất vọng, Nó cưới vợ. Sau đó Nó nhận được giấy gọi của Cha Giám đốc ĐCV. Nó bàng hoàng vì Bưu điện gửi chậm 1 năm.

Nhiều truyện kể lại những người dấn thân theo Chúa đã từ bỏ tình yêu lứa đôi, từ bỏ cuộc sống tương lai đầy hứa hẹn: Đó là các truyện: Em ơi anh thuộc về Chúa (TD19;TG042); Anh sẽ đi tu. (TD25-TG076) ; Em đi tu (TD26; TG076); Anh từng nói yêu em (TN03-TG10).

Hình ảnh các nữ tu tỏa sáng trong nhiều trang văn trong việc phục vụ người nghèo ở nơi xa xôi, giúp đỡ bịnh nhân AIDS. Đó là các truyện Ánh sao thầm lặng (TN 19-TG 044); Đôi môi khô lại biết cười (TN50-TG86); Chuyến xe tình yêu (TN51-TG87); Làm con gái chứ không phải làm con dâu (TN73-TG101); Hương hoa hồi (TN84-TG119).

Hình ảnh Linh mục trong đời thường được quan sát kỹ hơn trong nhiều hoàn cảnh

Khác nhau. Các tác giả đều ghi nhận được vẻ đẹp người Mục tử nhân lành của Chúa giữa đoàn chiên. Đồng thời nhìn thẳng vào các vấn đề “nhạy cảm” trong mối quan hệ Linh mục và giáo dân. Trong đó có không ít ngộ nhận, hoặc những vấp váp có thể làm tổn thương lòng mến.

Trước hết là tình trạng Lạm phát ơn gọi (TD30, TG077). Đời sống lạm phát kinh tế, cũng lạm phát ơn gọi. Trong truyện Xin lễ (TD35-TG077) cha sở vô tình cầm phong bì xin lễ của giáo dân, ngài mở ra coi rồi nói: có nhiêu thôi à! Câu nói ấy làm cho một cậu giúp lễ bỏ lễ,  bỏ học nhạc. Mãi về sau cậu ta mới hiểu ngọn ngành. Trong truyện Xưng tội (TD36-TG077), Cha Bình đi chữa bịnh ở Sài Gòn, ngài vào xưng tội ở Đền Chúa Cứu Thế. Trong khi xếp hàng chờ, ngài bị mấy người chen ngang vào. Khi xưng tội, cha giải tội khuyên những điều làm cho ngài bàng hoàng. Sau đó, khi ở trong bịnh viện, ngài chia sẻ với một người bạn thăm nuôi cha về ý nghĩa việc xưng tội: Phạm tội-Tha tội-Xưng tội.

Cái tát của cha sở với cậu giúp lễ, làm cho cậu căm giận cha suốt đời. Chỉ khi là chủng sinh, đọc thư cha sở, cậu mới hiểu hết ý nghĩa yêu thương của cái tát ấy (truyện: Cái tát của tình yêu. TN30-TG060);Trong truyện Lật đá cửa mồ (TN34-TG60), chứng kiến ngững người ngoại đạo bị xứ đạo ruồng bỏ, Cha sở nhận ra, đã đến lúc phải tìm đến những vùng đất mới mà Chúa mời gọi, thay vì chỉ ở trong một xứ đạo toàn tòng, nhìn có vẻ tốt đẹp nhưng lại rất vị kỷ. Truyện Mục tử nhân lành (TN55-TG091) là cuộc đụng độ giữa cha Thắng coi xứ giáo dân sắc tộc vùng cao với người truyền đạo Tin Lành; Truyện Ân nhân giáo xứ (TD28-TG077) là kinh nghiệm của Cha Thuyên trong việc vận động giáo dân xây nhà thờ. Truyện Tờ vé số (TD33-TG077) là mối quan hệ của cha Vũ với bà bán vé số. Chỉ một sơ xuất nhỏ của nhóm thợ bắt điện lễ Giáng Sinh vô tình làm cho bà bị tai nạn xe.

Trong tuyện Gửi một thiên thần (TN36-TG065), tù nhân tử hình đã nhận được sự an ủi

cuả một vị Linh mục già. Anh ta đã ra đi bình an. Ước mơ của chàng sinh viên ngoại đạo (TD03-TG010) là ước mơ củaMinh. Anh thuộc  gia đình Phật giáo. Học xong ĐH Y khoa. Minh theo đạo rồi đi tu dòng, 12 năm thành Linh mục. Cha mẹ, dòng họ Minh phản đối, nhưng Minh vẫn thực hiện quyết định của mình. Từ gương sáng của Minh, cả nhà Minh cùng theo đạo.  Người H’Mông ở Tây Bắc giữ vững niềm tin khi vắng Lm. Vì Lm bị ngăn cản đến đây. Trong truyện Khi bình minh trở lại (TD18; TG040), Lm Thảo trở lại với bản làng, Mị và A Sử cùng báo tin cho bản đến dâng lễ Phục sinh, ngài phải rời bản trước bình minh. Những hạt giống trong đám tro tàn: là đứa con còn sống sót bây giờ đang là dự tu với cha Sơn. Gia đình cha Sơn bị Trưởng Sò sát hại. Nhưng cha Sơn tha thứ và cứu con Trưởng Sò. Ông ta thôi việc và nhà thờ. Ông không ngờ còn đứa con sống sót đang ở với cha Sơn.

CHỦ ĐỀ BẢO VỆ SỰ SỐNG

Truyện ngắn Đất Mới 2020 miêu tả nhiều nghịch cảnh bỏ thai và đặc biệt tập trung ca

ngợi những người tự nguyện chôn cất thai nhi, giúp đỡ những bạn gái cơ nhỡ. Đó là Chị Hương Khùng(TN05-TG015), người chôn cất 5000 thai nhi. Đó là ông Tư (truyện: Bên trong hàng rào hoa giấy. TN025-TG051) người dành khu vườn có hàng rao hoa giấy của mình làm chỗ chôn cất thai nhi. Trong truyện Đời sáng lên khi gặp Chúa (TN14-TG028), cô “Tuyết bao đồng” vỡ nợ, lại bị một căn bịnh lạ. Trong lúc tuyệt vọng, có người đến khuyên Tuyết hãy tìm đến Đức Mẹ. Và chị đã được ơn lành. Chị theo đạo. Chị nhận cô nhi và chôn cất thai nhi. Chị trở thành  mẫu gương Lòng Thương Xót Chúa. Trong truyện Bảng chỉ đường (TD44; TG117) Hoài Thương lớn lên ở cô nhi viện Tâm An, khi đi học Đại học, cô đã sa ngã và bị bỏ rơi khi có thai. Dù vậy, cô quyết giữ gìn đứa con trong bụng. Cô tìm về cô nhi viện Tâm An, nhưng tự thấy mình không xứng đáng. Cô đang dò đường. Những mảnh vỡ ghép nên trọn vẹn (TN15-TG031) là tình cảnh của ba con người: Anh bị tai nạn, mất gia đình. Chị bị gia đình ruồng bỏ. Một cô gái hoang thai vì mẹ chết, bố ghẻ lạnh. Cả 3 gặp nhau ở mái ấm; Họ tái hôn và giữ được đứa bé trong bụng cô gái.

TÌNH YÊU-HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Truyện ngắn tình yêu Đất Mới 2020 thường là những chuyện tình đổ vỡ. Lý do có thể

là bịnh tật (Sao anh nỡ đành quên ; TN09-TG021), bị bỏ rơi (Hoa Hạnh; TN10-TG021),  hoặc một người đi tu (Mưa tháng Mười ; TN11-TG021). Tất cả đều lâm vào hoàn cảnh bi kịch nhưng  truyện đọng lại ở tình người sâu sắc.

Gia đình Công giáo trong thời buổi thực dụng chủ nghĩa đang gặp nhiều sóng gió. Chỉ

có tình yêu thương và sự bao dung tha thứ, niềm cậy trông phó thác nơi Chúa, gia đình mới vượt qua được sự đổ vỡ đắm chìm. Chủ đề này được khám phá trong các truyện: Bến bờ hạnh phúc; Chiếc áo vá; Người chồng cao thượng, Thủy chung đến cùng. Gia đình cũng có tình trạng diễn kịch trước mặt con cái. Họ sống bất hòa nhưng làm bộ yêu thương nhau (Vườn địa đàng thêm một lần khóc).

Tuy vậy vẫn có những gia đình hòa thuận, đầm ấm, cưu mang lẫn nhau. Truyện Anh

Hai là hình ảnh gia đình Công giáo truyền thống. Cha mẹ chết, anh Hai lo cho em ăn học. Ngày em tốt nghiệp Y khoa, anh qua đời vì ung thư. Truyện Đạo làm dâu (TD45; TG118) là hình ảnh đẹp về người con dâu hôm nay. Quyên lấy Bảo, khác đạo. Quyên về nhà chồng và giữ trọn đạo làm dâu. Cô được mẹ chồng yêu quý. Bà nói Quyên đưa bà đi nhà thờ. Rồi bà gặp cha sở xin trở lại. Hóa ra bà là một Ki tô hữu, vì hoàn cảnh chồng có con riêng, mà bỏ nhà Chúa. Nhờ Quyên sống tốt, mẹ chồng đã trở lại đạo. Trong truyện Hãy cầu nguyện cho bố, Anh chị Qúy-Mến nhà nghèo vẫn nuôi con học Đại học và tu làm Linh mục.

LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT

Các tác giả kể chuyện về Lòng Chúa Thương Xót đều khẳng định rằng: “ kiên nhẫn,

hiền lành, yêu thương và nhất là biết liên lỉ cầu nguyện, tin tưởng, phó thác vào lòng thương xót Chúa là một trong những chìa khoá giúp cho đình ấm êm, hạnh phúc”(truyện Kiên nhẫn)

Trong truyện Tắm nắng tâm hồn, Cha mẹ Thuỷ ly dị. Thủy trở thành mồ côi, rồi hư

hỏng, làm gái điếm. Cô bị lừa tình và muốn tự tử. Thủy được các sơ Mái ấm cưu mang, trở thành chứng nhân của Lòng Thương Xót. Truyện Tư cách một tội nhân kể chuyệnmột người chồng đam mê cờ bạc rựơu chè bỏ Chúa 20 năm. Gần 70 tuổi, con cháu đầy đàn vẫn ăn chơi. Cả nhà kiên trì cầu nguyện. Ông bị ung thư gan và trở lại và được chết lành trong tay Đức Mẹ.

Truyện Hồn đạo là tình cảnh người đàn bà bị bỏ rơi, nuôi con một mình  đã âm thầm tha thứ cho người đã ăn nằm với mình. Trong truyện Người yêu dấu ơi, gia đình Khánh tan nát vì cha rựơu chè, bạo hành. Mẹ phải trốn chạy. Kiên trì tin tưởng vào Chúa,  Khánh đi tìm mẹ. Người mẹ từ chối gặp Khánh vì bà bị bịnh cùi và hiện đang ở trong trại phong. Rồi người cha thức tỉnh hối lỗi .

COVID 19 VÀ LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT

Truyện ngắn Đất Mới 2020 cũng nhạy bén với tình hình thực tại. Đại dịch Covid 19

hoành hành khắp thế giới, gây tai họa cho cả nhân loại, gây ra bao nhiêu thảm cảnh cho nhiều dân tộc. Trong tình hình ấy, đức tin được tỏa sáng, Kinh Thánh chiếu soi những bài học cứu rỗi cho loài người. Truyện Mùi chiên là hình ảnh Linh mục chăm sóc bịnh nhân Covid và qua đời vì lây nhiễm. Trong truyện Ai là người lân cận, Long đã hành xử  như truyện kể trong Kinh Thánh. Anh đi phát khẩu trang cho mọi người, cho người cơ nhỡ trú nhờ trong mùa Covid. Truyện Corona là niềm tin củamột bà mẹ ở Việt Nam có con  ở Canada. Người con bị Covid 19. Bà đã dạy con câu thần chú ngày xưa để chống lại Covid: “ma mả mà ma, ta là con Đức Bà, ta không sợ mày đâu.” Con bà sửa lại là: “Corona ,Corona ta là con Đức Bà, ta không sợ mày đâu”. Nhờ câu thần chú, con bà khỏi bịnh. Truyện Bầu trời đêm là cuộc trò chuyện giữa Thánh Phêrô và thánh Phanxicô về Đại dịch covid. Hai vị mong có nhiều Thánh Covid lên thiên đàng. Giải cứu là truyện Mùa Covid. Nhà thờ bị đóng cửa, các hội đoàn phải ngưng hoạt động. Các bà Legio tụ tập ở nhà cô Liên tám đủ thứ chuyện: chuyện khẩu trang, chuyện chính quyền và công an, chuyện trữ mì tôm mùa dịch, chuyện né Việt Kiều về nước, chuyện thầy chùa và tiền, chuyện chồng con, chó gà, heo qué,…Để chữa bịnh “tám” của các bà,nhânviệcngói nhà thờ bị vỡ, cô Liên rủ các bà “giải cứu nhà thờ”, hành động trong thinh lặng vì yêu mến. Xong việc, mọi người cùng làm giờ cầu nguyện.

CHỦ ĐỀ SỐNG ĐẠO

Chủ đề sống đạo truyện ngắn Đất Mới 2020 mở ra rất rộng trong hiện thực. Từ  đồng

quê lên thành phố đến vùng cao Tây Bắc; từ Việt Nam sang Cambuchia, sang Úc, sang Mỹ. Các nhân vật cũng xuất hiện trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Có anh chạy xe ôm, cô gái điếm, cô sinh viên, người bị bịnh cùi, người đồng tính, thầy phong thủy, người ăn mày, người tu xuất, người khác tôn giáo, khác quốc tịch, người buôn bán cạnh tranh…Tất cả những vấn đề của cuộc sống đều được nhìn dưới ánh sáng đức tin và luân lý Công giáo kết hợp với truyền thống nhân ái và thái độ sống thiện tâm của dân tộc.

Người H’mông nghèo khổ, bị nạn bạo hành gia đình, nạn tảo hôn, cần chia sẻ với họ. Các Sơ lên thăm, hàn gắn giúp gia đình họ (Ngước vọng vùng cao-TD10;TG022). Kỳ nghỉ, sinh viên Hạ (KHXHNV-TpHCM) lên vùng Tây Bắc giúp đỡ bọn trẻ, trong đó có cậu Xình bị bịnh kinh phong (Một thoáng vùng cao – TD09; TG022).

Vấn đề khác tôn giáo ngày càng đặt ra gay gắt trong đời sống đạo hôm nay. Truyện Theo đạo (TD34;TG077) cho biết, sau 5 năm, 10 cặp hôn nhân xin phép chuẩn khác đạo còn 5. Ly dị 3 cặp, ly thân 2 cặp. Người khác đạo không ghét đạo mà ghét cách sống đạo máy móc của người Công giáo. Chuyện tình cựu hòa thượng Cambuchia và cô gái Huế là một bi kịch của người Công giáo. Cha mẹ Hồng cầu nguyện cho Hồng bỏ anh Cambuchia, còn anh Cambuchia cầu Phật cho lấy được Hồng. Cuối cùng Hồng bất chấp tôn giáo, bỏ ngoài lời can ngăn của cha mẹ, theo anh cựu Hòa thượng về Cambuchia!

Tuy vậy nhiều người ngoại đạo, nhờ lòng tin đã nhận được ơn bình an. Cỏ dại kể

chuyện một người chưa theo đạo vượt biên. Tàu của bà bị nạn. Nhờ niềm tin vào tràng chuỗi mà được cứu sống. Cuộc sống mới phép lạ của việc cha sở tiếp máu cứu người bị tai nạn, một gia đình bên lương đã nhập đạo.

            Truyện ngắn Đất Mới 2020 cũngghi lại nhiều hoàn cảnh thách thức lương tâm Công giáo, mời gọi mọi người cùng suy nghĩ.

Truyện Lời mời gọi trưởng thành đặt vấn đề người Công giáo đồng tính, rằng họ có

thể yêu nhưng không tính dục. Điều quan trọng là nên lắng nghe ý Chúa. Truyện Coi thầy (TD29-TG077), nhân vật Công Anh, đạo gốc. Khi dọn nhà, Anh lại coi thầy phong thủy. Anh bỏ lễ Chúa nhật, chủ trương sống với đức tin tại tâm (kiểu đạo tại tâm). Trong truyện Vượt biên (TD32; TG077),    Thy kết hôn giả với Hùng là anh chồng (mới ly dị vợ) để đi Mỹ, bất chấp lời khuyên của cha sở. Ở Mỹ, theo cách người ta bày đặt, Hùng đặt tay lên Kinh Thánh thề rằng, hôn nhân trước của anh là bị ép buộc để TGM tháo gỡ hôn phối cũ. Rõ ràng là vì những lợi ích cá nhân, người ta dám chà đạp lên đức tin và luân lý của hội thánh. Truyện Chưa bao giờ hết hy vọng (TD-02) là niềm hy vọng rất mong manh của ông bà Thành có cô con gái tên Vân đi tu để được sang Úc. Sang đất Úc, cô xuất tu và lấy chồng ngoại. Ông bà Thành vô cùng tủi nhục, họ chỉ biết cầu nguyện Lòng Thương xót Chúa.

Truyện Đong tấm lòng nhắc nhở người có đạo nên cẩn trọng khi đánh giá người khác. Nếu chỉ nhìn hiện tượng, ta có thể làm tổn thương đến đức ái. Chẳng hạn, chị Liên đứng ở cổng nhà thờ nhìn vào, người ta xầm xì chị phải lòng cha xứ. Thật ra không phải vậy. Truyện Từ thiện nhắc mọi người không nên cho tiền những người ăn mày (giả), vì chỉ làm cho họ hư hỏng thêm. Truyện Đường về của con sóng lạc là tâm trạng và khát vọng được sống đời thường của người xuất tu, nhắc mọi người không nên quá định kiến với người muốn sống đời dâng hiến mà không được Chúa chọn.

Truyện Ở Phải khẳng định “có ai tin vào Chúa mà phải thất vọng bao giờ.” Nắng hạ

 trên đất Mỹ là nỗi day dứt vợ chồng già người Việt sống ở Mỹ. Họ chỉ lo đời sống đức tin của con cái bị mai một. Đức tin trọn vẹn là ước nguyện của Thăng. Học xong Sư Phạm, Thăng tình nguyện ra miền trung dạy ở những nơi nghèo khó. Trong truyện Bông hồng nhỏ, có sự cạnh tranh gay gắt giữ hai shop bán hoa cạnh nhau của bà Mai và Lỹ Linh. Là người Công giáo, Mỹ Linh đã ẩn nhẫn, nhường nhịn bà Mai trong trong việc buôn bán. Mỹ Linh đã cảm hóa được đưa con bà Mai. Nó ước bà Mai cũng nhân ái như Mỹ Linh để được gọi là mẹ thánh. Anh chạy xe ôm tên Dụng trong Đằng sau Hồng là Hạnh phúc đã cứu được cô gái điếm có ý định hủy thai, khi thai nhi đã quá lớn. Cả hai đều nhận được hạnh phúc trong tình yêu thương đưa bé. 

VỀ NGHỆ THUẬT

            Truyện ngắn Đất Mới 2020 được viết khá chắc tay. Nhiều tác giả thể hiện khả năng sáng tạo của ngòi bút chuyên nghiệp.

Tập truyện ngắn của tác giả (MSTG-TG077) đều là những truyện hay, cách kể sống động, giàu vốn sống, trình bày vấn đề đa diện. Ngòi bút đụng chạm đến những vấn đề làm thức tỉnh lương tri người Công giáo. Rất tiếc, truyện kể hơi dài dòng. Marina (TN01; TG002) có cách viết rất mới. Tác giả phá vỡ những yếu cố của cấu trúc truyền thống là thời gian, không gian, cốt truyện và kiểu nhân vật. Ở Phải (TN79; TG 11) có cách viết mộc mạc tự nhiên Nam bộ. Truyện Lật đá cửa mồ (TN34;TG060) có cách kể tự nhiên nhưng giữ được bí mật cốt truyện đến phút chót, từ đó lộ ra chủ đề. Tác giả sử dụng thành công các yếu tố tương phản để gây ấn tượng với người đọc.

Tuy vậy, nhiều truyện thường được viết theo một công thức, hoặc đứng trước những khó khăn bi kịch, nhân vật chỉ biết cầu nguyện, mà không lý giải sự biến đồi bên trong tâm hồn nhân vật dưới sức cảm hóa của Thánh Thần. Truyện Chuyện tình cựu hòa thượng Cambuchia và cô gái Huế, cha mẹ cô gái cầu nguyện với Chúa để cô bỏ hôn, còn cựu hòa thương người Cambuchia thi cầu Phật cho mình lấy được cô gái Huế. Cuối cùng cô gái theo anh ta về Cambuchia, người đọc sẽ nghĩ cầu Phật thì linh hơn cầu Chúa! Đó là sự non tay trong sáng tạo cốt truyện.

Những hạn chế chung của truyện ngắn Đất Mới 2020 là tác giả miêu tả một chiều, áp đặt. Chỉ cần đọc phần đầu truyện đã có thể đoán được kết truyện. Nhiều tác giả vào ngồi hẳn trong truyện mà bình luận ngoại đề. Có truyện chỉ là một cuộc đối thoại, có truyện chỉ là một mảnh tâm trạng nhân vật. Nhiều truyện chủ đề mờ nhạt, nhiều truyện thực sự lúng túng về cấu trúc 3 bước: từ hiện tại, nhân vật nhớ về quá khứ, rồi truyện quay về hiện tại. Câu truyện chính nằm trong quá khứ, câu truyện hiện tại chưa thành truyện. Có truyện chỉ là một bài phóng sự về người tốt việc tốt, thiếu hẳn tính sáng tạo văn chương. Nhiều truyện được kể tự nhiên chủ nghĩa, hoặc kể để giáo huấn.

            Lời văn cũng là một yếu tố làm nên giá trị của truyện. Nhiều tác giả rất kỹ trong việc dùng lời để tạo nên áng văn chương, nhưng có tác giả dùng ngôn ngữ nói hàng ngày chưa qua nghệ thuật hóa để kể chuyện, khiến cho truyện thiếu tính văn chương. Tác giả truyện ngắn TG048 tham gia 4 bài văn nghị luận (không phải truyện). Nắng Hạ trên đất Mỹ (TN37-TG063) chỉ là dạng một lá thư thuật lại sự việc…

NHÌN CHUNG

            Truyện ngắn Đất Mới 2020 phong phú về chủ đề, nhiều tác giả mạnh dạn nhìn thẳng vào hiện thực sống đạo của người Công giáo mà lên tiếng về những vấn đề thách thức lương tâm Công giáo. Không gian truyện mở rộng, kiểu nhân vật đa dạng, có nhiều kiểu bút pháp mới so với truyện ngắn những năm trước (10 truyện của tác giả MSTG-TG077; Marina, Ở Phải, Bầu trời đêm) xuất hiện nhiều tác giả chuyên nghiệp hơn, xuất hiện những tập truyện ngắn, nhờ thế chất lượng nghệ thuật truyện được nâng cao hơn.

            Xin chúc mừng các tác giả tham gia và chúc mừng các tác giả đoạt giải đã góp phần làm phong phú giá trị Văn hóa-Văn học của Giải VHNT Đất Mới. Kính mong các tác giả tích cực tham gia với những tác phẩm nghệ thuật giá trị, góp phần làm giàu kho tàng văn học Công giáo đương đại.

Ban Văn Hóa GPXL

tháng 10/ 2020

Bìa tuyển tập tác phẩm đạit giải VHNT Đất Mới 2020

10 NĂM “GIẢI VHNT ĐẤT MỚI” CỦA GIÁO PHẬN XUÂN LỘC

10 NĂM GIẢI VĂN HÓA NGHỆ THUẬT ĐẤT MỚI

Giáo phận Xuân Lộc 2010-2020

***

Bùi Công Thuấn

Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh, người sáng lập Giải VHNT Đất Mới

        Giải Văn hóa Nghệ thuật Đất Mới được Ban Văn hóa kết hợp với Ban Truyền thông Giáo phận Xuân Lộc tổ chức trao giải lần thứ nhất năm 2011, đến nay là lần trao giải thứ 10 (năm 2020). Sự duy trì một giải Văn hóa nghệ thuật trong thời gian dài là một nỗ lực rất lớn về Mục vụ văn hóa của giáo phận Xuân Lộc. Trong tình hình hoạt động văn học nghệ thuật ở các giáo phận trong cả nước còn trầm lắng, Văn chương thị trường “…chiều theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận công chúng, hạ thấp chức năng giáo dục, nhấn mạnh một chiều chức năng giải trí…truyền bá các tác phẩm độc hại, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân và đất nước… “ (Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị ngày 16/6/2008), thì Giải Văn hóa nghệ thuật Đất Mới với “ước muốn xây dựng những giá trị văn hoá nghệ thuật Công giáo nơi cộng đồng dân Chúa” là một hoạt động giàu ý nghĩa và thật đáng trân trọng.

Đón các tác giả

MỤC ĐÍCH TỔ CHỨC GIẢI

Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á (ECCLESIA IN ASIA của ĐGH J.Paul II) dạy rằng: “…Con đường của những nhà rao giảng Tin Mừng là làm cho đức tin Kitô giáo trở nên một thành phần của di sản văn hoá của dân tộc.

Giải Văn hóa-Nghệ thuật Đất Mới là một hoạt động nằm trong chương trình Mục vụ Văn hóa của giáo phận Xuân Lộc, đáp lại lời dạy của Giáo hội.

Thông báo đầu tiên của giáo phận Xuân Lộc nói rõ về mục đích của Giải:

 “Các văn kiện của Giáo hội về Mục vụ văn hoá và các tác phẩm của Đức cha Đa Minh Nguyễn Chu Trinh, nhất là bộ truyện dài “Đất Mới”, đã khơi gợi ước muốn xây dựng những giá trị văn hoá nghệ thuật Công giáo nơi cộng đồng dân Chúa…Vì thế Ban Văn Hoá giáo phận Xuân Lộc tổ chức giải Văn Hoá Nghệ Thuật Đất Mới.

Thông báo tiếp theo, Giáo phận nói rõ hơn về tầm quan trọng của Văn hóa- nghệ thuật:

“Văn học nghệ thuật là lãnh vực quan trọng của văn hoá góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị tinh thần của con người. Trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá, việc gìn giữ những giá trị văn hoá dân tộc, chống lại ảnh hưởng xấu cuả văn hoá thực dụng, ngoại lại, phi nhân, trở nên cấp bách và cần thiết hơn bao giờ, đặc biệt trong việc gìn giữ và giáo dục đức tin đối với người trẻ, trong gia đình, giáo xứ và các môi trường  xã hội. Để góp phần vào công cuộc xây dựng văn hoá Công Giáo trong Giáo Phận, Ban Văn Hoá giáo phận Xuân Lộc tổ chức cuộc thi sáng tác VHNT Đất Mới”.

THỐNG KÊ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM CÁC NĂM

 2011201220132014201520162017201820192020
Tác giả223645606192103125155124
Thể loạiThơTruyện ngắnTruyện dàiKịch BảnCa khúcPhim ngắnẢnh đẹp Công giáo
Số tác phẩm (10 năm)6815 bài (103 tập thơ)5413966  660  04577 ảnh đơn + 56 bộ ảnh

Các tác giả tham gia giải ngày càng mở rộng ra các giáo phận trong cả nước: Tổng GP Sài Gòn, Tổng GP Huế, Tổng GP Hà Nội, giáo phận Hưng Hóa, Giáo phận Long Xuyên, giáo phận Quy Nhơn…và nhiều tác giả ngoài Công giáo.

Năm 2020 có 124 tác giả:

Tác giảHà NộiHuếSài GònCông giáoKhông Công giáoĐại Chủng việnDòng tuĐan việnHội Nhà văn
TS211588111130418065

Giải cũng mở rộng thêm các bộ môn. Lúc đầu chỉ có bộ môn Thơ, Truyện ngắn, Truyện dài, Ca khúc và Kịch bản văn học. Năm 2017 có thêm bộ môn Ảnh nghệ thuật “nét đẹp Công giáo” và năm 2020 có thêm giải Phim ngắn với chủ đề: “Sống đạo”, mở rộng khả năng phản ánh hiện thực đời sống Công giáo và làm phong phú sắc màu nghệ thuật của giải.

CÁC GIÁ TRỊ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC

  1. Nhìn trong tiến trình lịch sử văn học

Trong thực tế, văn chương Công Giáo tại Việt Nam còn rất khiêm tốn bên cạnh lịch sử văn chương dân tộc. Kể từ khi đạo Công giáo truyền vào Việt Nam đến nay, đã có khá nhiều các nhà văn hóa Công giáo ở nhiều lĩnh vực, song trong lĩnh vực sáng tác văn chương, định vị được với lịch sử văn học dân tộc chỉ có một số tên tuổi. Đáng kể là Felippe do Rosario Bỉnh (1759-1833), Đặng Đức Tuấn (1806-1874), Nguyễn Trường Tộ (1827-1871), Huỳnh Tịnh Paulus Của (1834-1907), Trương Vĩ Ký (1837-1898), P.J.B Nguyễn Trọng Quản (865-1911), nhà thơ Hàn Mạc Tử (1912-1940), Lm Kim Định (1915-1997), Lm Thanh Lãng (1924-1978), nhà thơ Xuân Ly Băng (1926-2017), GS Nguyễn Văn Trung, Đức Giám mục J.B Bùi Tuần, Song Nguyễn (Đức Giám mục Daminh Nguyễn Chu Trinh), Lm Trăng Thập Tự, nhà thơ Lê Đình Bảng… Về thể loại, các tác phẩm văn học Công giáo hầu hết là thơ. Những thể loại khác như truyện ngắn, truyện dài, kịch là rất ít.

Nguyên nhân là do lịch sử truyền giáo ở Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn, Giáo hội mới chỉ chăm lo xây dựng những nền tảng Hội Thánh. Chẳng hạn, xây dựng nhà thờ, đào tạo chủng sinh, thành lập các giáo phận, giáo xứ, in ấn kinh sách, Việt hóa các nghi lễ phụng vụ, tổ chức các nề nếp sinh hoạt Mục vụ, cử hành các Bí tích; đồng thời tập trung vào việc rao giảng Tin Mừng thông qua cử hành Phụng vụ. Hơn nữa văn học nghệ thuật là một lĩnh vực đòi hỏi tài năng, tâm huyết và lòng nhiệt thành, lại phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh xã hội, vì thế văn chương Công giáo chưa trở thành một bộ phận có những đóng góp giá trị vào sự phát triển chung của văn học dân tộc. Điều này thể hiểu.

Giải Văn hóa-Nghệ thuật Đất Mới là một hoạt động Mục vụ của giáo phận Xuân Lộc trong nỗ lực “làm cho đức tin Kitô giáo trở nên một thành phần của di sản văn hoá dân tộc” như lời dạy của Giáo hội. Còn cần nhiều thời gian những giá trị của Giải mới có thể lan tỏa.

Tuy vậy, sự phát triển của Giải thật đáng mừng. Giải đã quy tụ được nhiều tác giả Công giáo và ngoài Công giáo, trong đó các cây bút chuyên nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều. Mỗi năm, Ban Văn hóa giáo phận đều in được một tuyển tập các tác phẩm đoạt giải. Đó là một niềm hy vọng. Với 541 truyện ngắn và 39 truyện dài, Giải đã có được một số vốn kha khá so với số tác phẩm tiểu thuyết Công giáo tính từ Truyện Thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản đến nay. Và điều đáng mừng hơn là Giải VHNT Đất Mới đã trở thành một hoạt động văn hóa của giáo phận có sức thu hút ngày càng rộng trong mọi thành phần dân Chúa để cùng nghĩ suy, cùng sáng tạo, cùng khẳng định những giá trị của Tin Mừng.

            2. Giá trị của “Văn hóa nghệ thuật Đất Mới

Đặc sắc các tác phẩm của Giải không chỉ phản ánh đời sống Công giáo trong một không gian, thời gian rộng, không chỉ đặt ra những vấn đề thách thức lương tâm Công giáo trước thời đại, mà còn thể hiện phong phú vẻ đẹp của tư tưởng Nhân văn dưới ánh sáng Mỹ học Kitô giáo.

  Mỹ học Kitô giáo khám phá cái đẹp của Con người trong hình ảnh Thiên Chúa: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa” (Stk 1, 27). Tư tưởng Nhân văn Kitô giáo là tư tưởng về tình yêu thương Con người, giải thoát Con người khỏi đau khổ, tội lỗi và sự chết. Đó chính là tình yêu Thiên Chúa dành cho con người qua Đức Kitô: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình (Ga 15, 13 ).

Tư tưởng này rất gần gũi với tư tưởng Nhân văn của dân tộc. Người Việt nhìn bản chất Người là Đẹp: “Người ta là hoa đất”, coi trọng giá trị Con người (“Một mặt người hơn mười mặt ruộng”), và lấy thái độ sống “Thương người như thể thương thân” làm phẩm hạnh hàng đầu.

Con người ở đây chính là những “người thân cận” (Mt 22, 39) với mình trong mọi hoàn cảnh của đời sống.

Các tác phẩm VHNT Đất Mới nhìn Con người với một niềm tin yêu, trong sáng và hy vọng, rất khác với cái nhìn bi quan, cái nhìn hạ thấp phẩm giá con người, coi “tha nhân ấy là địa ngục” (J.P.Sartre), trong nhiều tác phẩm văn chương đương đại khai thác thị hiếu bản năng, cổ vũ lối sống thực dụng, vị kỷ, vô luân…

Bạn đọc có thể tiếp cận được những giá trị của tư tưởng Nhân văn Công giáo trong các tác phẩm của Giải (xin đọc Tuyển tập 10 năm).

            3. Khẳng định những giá trị văn hóa Công giáo

            Đã có những lúc, do hoàn cảnh nhất định, trong văn chương Việt Nam xuất hiện những tác phẩm miêu tả sai lệch về đời sống người Công giáo, chẳng hạn Bão Biển của Chu Văn, Cha con và của Nguyễn Khải…

Các tác phẩm của Giải VHNT Đất Mới khắc họa thành công hình ảnh các Linh mục, nữ tu sống “Đời dâng hiến” là những người hết lòng vì đoàn chiên, dù phải đối mặt với những hoàn cảnh khốc liệt, phải hy sinh mạng sống; đồng thời phản ánh được thực tại sống “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc” của người Công giáo Việt Nam ở khắp nơi trên quê hương đất nước. Không gian nghệ thuật mở rộng từ vùng sông nước miền Tây Nam bộ đến núi rừng Tây Nguyên, Tây Bắc; từ Việt Nam đến các giáo hội ở Châu Phi trong khoảng thời gian từ trước 1945 đến nay với nhiều biến động lịch sử.

Các tác phẩm VHNT Đất Mới cũng lên tiếng mạnh mẽ trong việc bảo vệ sự sống, bảo vệ thai nhi, bảo vệ gia đình là cái nôi của mọi giá trị văn hóa truyền thống và đời sống tâm linh. Những vấn đề về môi trường sống, môi trường thiên nhiên, môi trường văn hóa cũng được nhiều tác giả quan tâm, đặc biệt khi đất nước hội nhập toàn cầu hóa và các làn sóng xâm lăng văn hóa đang làm băng hoại con người hôm nay…

Các tác phẩm VHNT Đất Mới cũng đề cập nhiều đến những vấn đề của người trẻ, đó là sống đức tin trong một môi trường xã hội có một nền văn hóa khác biệt với văn hóa Kitô giáo, hay trong một bối cảnh xã hội khắc nghiệt (Truyện dài Đóa hồng thứ 40); vấn đề tình yêu và tình dục, vấn đề hôn nhân khác tôn giáo, vấn đề hạnh phúc…

            Với những gì đã đạt được, Giải VHNT Đất Mới hy vọng sẽ góp phần làm phong phú văn chương nghệ thuât Công giáo và ngày càng có nhiều tác phẩm giá trị về tư tưởng và nghệ thuật làm nở hoa Mục vụ văn hóa của Giáo hội.

            4. Định hình nghệ thuật Công giáo

            Nghệ thuật Công giáo có đặc điểm gì? Đó là nền nghệ thuật lấy tư tưởng Mỹ học Kitô giáo làm lý tưởng thẩm mỹ, lấy chủ nghĩa Nhân văn Kitô giáo làm nội dung. Nền nghệ thuật ấy có cội nguồn là Kinh thánh (cả Cựu Ước và Tân Ước). Điều này có thể nhìn thấy rõ trong hội họa, âm nhạc, kiến trúc…phương Tây.

Các tác phẩm tham gia Giải VHNT Đất Mới kế thừa các truyền thống nghệ thuật của Giáo hội và của dân tộc và dần dành định hình nét riêng trong việc chọn đề tài, trong cách kiến tạo tác phẩm, xây dựng nhân vật, kiểu bút pháp và cách thể hiện. Ngày càng có sự phong phú về màu sắc thẩm mỹ của nhiều phong cách nghệ thuật, ngày càng có sự công phu trong tìm tòi sáng tạo. Từ một giải địa phương, các tác phẩm của Giải đã có thể sánh ngang với nhiều giải thưởng văn học trong nước về phẩm chất để tự khẳng định sự đóng góp những giá trị mới của văn học Công giáo vào dòng chảy văn học đương đại. Tất nhiên, sự đóng góp này còn khiêm tốn, nhưng đã là những tín hiệu vui.

Thí dụ, các tác phẩm Diễn ca Kinh thánh đều có dấu tích thể loại Diễn ca của dân tộc; Giải VHNT Đất Mới đã có những công trình lớn thi hóa Kinh thánh bằng các thể thơ, Phú dân tộc như: Châm Ngôn Kinh thánh diễn thơ (Trần Trung Hậu), Sách Tôbia & Sách Giu-đi-tha (Bùi Văn Nghiệp), Sách Sáng Thế, Sách Étte, Sách Tông Đồ Công Vụ, Sách Xuất Hành; Lịch sử cứu độ (1000 khúc thơ-Nguyễn Tiến Mỹ), Dệt thơ Lời Chúa năm A-B-C, trường ca về các thánh tử đạo (Nguyễn Hữu Tâm, Cao Danh Viện). Tác giả Nguyễn Thị Như Hà có hai tập thơ hơn 900 bài Haiku, trích 440 câu trong các sách Huấn ca, Châm ngôn, Is, Ai ca, Diễm ca; Giêrêmia; A-mốt; Ê-phê-xô; Mt; Ga; Lc; 2Côrintô; Mikha; Gióp; Tv; 2Samuel, Đệ nhị luật. Đó là một công trình đồ sộ.

  Các ca khúc Đất Mới tiếp tục nền thánh ca của Giáo hội kết hợp với bản sắc âm nhạc Việt. Giải VHNT Đất Mới còn góp thêm những sáng tác mới về Đức Mẹ Núi Cúi.        

Truyện dài Đất Mới là một thành công đặc biệt. Bởi truyện dài là một thể loại khó đòi hỏi tài năng và tâm huyết. Những năm đầu của Giải có rất ít truyện dài. Đến nay, sau 10 năm Giải đã có 39 truyện dài, trong đó đã có những tác phẩm thực sự giá trị về nội dung tư tưởng và nghệ thuật. Thí dụ truyện dài Những nốt nhạc nên đời (2013), Bé Hai, Huỳnh Đệ Vàng (2014), Hương Thạch Thảo (Phạm Thị Lành 2018 ). Nổi trội hơn cả là: Ôi tội hồng phúc (Nguyễn Phương Thảo-Canada. 2017) và Đóa hồng thứ 40 (2020)…

Từ truyện vừa (đoản thiên tiểu thuyết) Thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản đến thơ Hàn Mạc Tử là một chặng đường tìm tòi sáng tạo, văn học Công giáo đã ghi được dấu ấn với lịch sử văn học dân tộc. Thế hệ kế tiếp là các nhà thơ Xuân Ly Băng, Trăng Thập Tự, Lê Đình Bảng, nhà văn Song Nguyễn, Cao Gia An…

Gần đây, các công trình Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam (Võ Long Tê, 1965), Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường (Lê Đình Bảng-2009), các bộ sách 6 cuốn Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam (Lê Đình Bảng sưu tâp 2009) và bộ sách 5 cuốn Có một vườn thơ đạo (Trăng Thập Tự chủ biên 2012) đã khẳng định được có một nền văn học Công giáo Việt Nam khá phong phú. Tạp chí Nghiên cứu văn học của Viện Văn học số tháng 7/2020 đã thực hiện chuyên san: “Văn hóa, Văn học Công giáo Việt Nam-Diện mạo và đặc sắc”như là  sự khẳng định sự tồn tại của văn học Việt Nam trong dòng chảy văn học dân tộc.

Thực ra, Kinh thánh (Cựu Ước và Tân Ước) là một kho tàng hết sức đồ sộ mà các nhà văn Công giáo có thể học tập và sáng tạo. Kinh Thánh kể rất nhiều câu chuyện. Đặc biệt là những dụ ngôn Đức Giêsu trực tiếp kể. Đó là những truyện ngắn sâu sắc về tư tưởng, phong phú về nghệ thuật và đặc biệt là có khả năng khai mở tâm linh người nghe, đem đến cho người nghe Ơn Cứu Độ. Xin đọc đoạn Kinh Thánh kể về người đàn bà ngoại tình bị ném đá (Ga 8, 2-11), cuộc đối thoại của Đức Giêsu với chị em Mac-ta (Ga 11, 1-45), Đức Giêsu đối thoại với Philatô (Ga 18, 28-38), Đức Giêsu kể dụ ngôn người Sanari nhân hậu (Lc 10, 29-37), dụ ngôn Người cha nhân hậu (Lc 15, 11-32), dụ ngôn ông nhà giàu và anh La-da-rô nghèo khó (Lc 16, 19-31)…Những câu chuyện ấy đã trở thành tâm thức của nhân loại suốt hơn 2000 năm qua.

            Gần đây, tác phẩm thơ Dưới cái cây ánh sáng của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, hiện là Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, khai thác rất hay ý tưởng về Thánh giá và cuộc khổ nạn của Đức Giêsu.

Nhìn lại như thế để các tác giả tham gia Giải VHNT Đất Mới tự hào về những gì cha ông đã làm được, và nỗ lực hơn nữa sáng tạo những tác phẩm giá trị đóng góp cho văn học dân tộc.

VỀ VIỆC TỔ CHỨC GIẢI

            1. Nỗ lực của toàn giáo phận.

            Sự thành công của Giải về tổ chức là nỗ lực của toàn giáo phận. Trước hết là của các Đức cha giáo phận. Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh là người khởi xướng tổ chức Giải, Đức cha Giuse Đinh Đức Đạo, người tiếp tục mở rộng mục vụ Văn hóa. Các Ban Truyền thông, Ban Văn hóa, Ban Thánh nhạc và Ban Giáo dân phối hợp tổ chức mọi mặt, từ trang trí sân khấu, tổ chức hội trường, chuẩn bị tài chính, chuẩn bị giải thưởng, in ấn tác phẩm, khách mời, tổ chức họp mặt tác giả, chuẩn bị các tiết mục công diễn phụ họa (Múa của các dòng Tu như Hội dòng Mến Thánh Giá, Hội dòng Nữ Tỳ Chúa Giêsu Linh Mục, hội dòng Thánh Gioan Thiên Chúa, các thầy Đại Chủng viện thánh Giuse Xuân Lộc, ca đoàn Sao Mai, ca đoàn và các đoàn thể giáo xứ Russeykeo; Giới Hiền mẫu và Gia trưởng của Giáo xứ Chính Tòa v.v…Tất cả tạo nên một chương trình trao giải hoành tráng và hiện đại. Ngày trao Giải VHNT Đất Mới trở thành một sự kiện văn hóa đặc thù của giáo phận.

            2. Sự nhiệt tình tham gia của các tác giả.

            Một giải thưởng văn nghệ chỉ thực sự thành công khi có nhiều tác giả tham gia.      Giải VHNT Đất Mới có nhiều tác giả tham gia nhiều năm, tham gia ở nhiều thể loại, cả thơ, văn, truyện và kịch. Các tác giả đều nỗ lực vượt lên chính mình so với lần trao giải trước.

 Xin đơn cử, Thầy Petrus Dương Kim Quới tham gia giải từ ngày đầu. Thầy đạt giải thưởng cả ở bộ môn thơ, truyện ngắn và ca khúc. Nhóm Sao Mai gồm các nhạc sĩ Nguyên Nhung, Đoàn Văn Sửu, Viết Phương, Hồng Việt, Ngọc Tuyên có tác phẩm đạt giải hầu như ở khắp các năm; nhiều nữ tu viết truyện dài, đạt giài nhiều lấn như: nữ tu Maria Hà Thị Thúy Diễm (đạt giải truyện dài Con Hoang. 2011, Những nốt nhạc nên đời. 2013, Xương bánh Đúc. 2015, truyện ngắn Khóc Muộn. 2018). Nữ tu Maria Vinc Nguyễn Thị Chung (đạt giải các truyện dài Đâu là hạnh phúc thật. 2015; Thử chết một lần. 2016; Khi trái tim lên tiếng. 2018; Chàng xe ôm. 2019). Maria Phạm Thị Lành (truyện dài Huỳnh Đệ vàng.2014; Phía sau hố thẳm tội lỗi 2016, Hương Thạch Thảo. 2018) Tác giả thơ Catarina Nguyễn Thị Lam (Song Lam) đạt giải các năm 2012, 2013, 2015, 2016, 2017, 2018, 2019); tác giả trẻ Lê Quang Trạng (Long xuyên) đạt giải truyện ngắn và Kịch các năm 2015, 2016, 2017, 2018)…

            Có thể nhận thấy chính sự tham gia nhiệt tình và nỗ lực sáng tạo không ngừng của các tác giả làm nên thành công của Giải. Đó là sự thành công của sự quy tụ gặp gỡ nhiều cây bút Công giáo và ngoài Công giáo, thành công ở sự phong phú thể loại và bút pháp, thành công ở phạm vi rất rộng của việc phản ánh hiện thực đời sống Công giáo và sự thể hiện giàu có vẻ đẹp tư tưởng Nhân văn Kitô giáo.

HY VỌNG NHỮNG MÙA VÀNG

            10 năm Giải VHNT Đất Mới là một niềm hy vọng. Tuy chưa có nhiều tác giả tác phẩm nổi trội song giải đã quy tụ được một đội ngũ người sáng tác Công giáo đông đảo có tiềm năng, trong đó có nhiều người trẻ; khơi gợi và phát huy niềm say mê văn chương Công giáo ở họ, mở ra nhiều ngả đường sáng tạo. Sau 10 năm Giải VHNT Đất Mới cũng đã có những đóng góp nhất định vào nền văn học Công giáo đương đại, và biết đâu những gieo mầm hôm nay sẻ đem đến mùa vàng sum suê trong tương lai. Cánh đồng Mục vụ văn hóa đã mở ra mênh mông những mùa gặt.

***

VÀI HÌNH ẢNH

Trao giải thơ
Giải ca khúc
Hợp xướng ca khúc đoạt giải
Múa minh họa
Tuyển tập tác phẩm đạt giải VHNT Đất Mới 2018-2019
Bìa tuyển tập 10 năm giải VHNT Đất Mới
Bìa tuyển tập tác phẩm đạt giải VHNT Đất Mới 2020