KHÔI VŨ- MẸ HAY ÔSIN

Bài viết của BCT trên trang web của NXB Văn hóa-Văn nghệ Tp HCM

mẸ hay Ôsin

MẸ HAY ÔSIN?
Tác giả: Khôi Vũ ( Nguyễn Thái Hải)

Mẹ hay Ôsin là những câu chuyện đời thường giữa bao nhiêu vấn đề lớn lao của cuộc sống mà người ta dễ bỏ qua khi phải đối mặt với thực tại. Đó là chuyện tập thể dục buổi sáng (Giờ thiền, Thể dục nghiệp dư),chuyện xem hoa quỳnh nở ban đêm (Đêm xem hoa quỳnh nở), chuyện gia đình, con cháu tất bật suốt tuần (Mẹ hay Ôsin), chuyện người say trên xe đò (Người say),chuyện làm ăn, kinh doanh (Người mới nhập môn), chuyện một ông giám đốc đi nhận bằng khen (Nhận giải thưởng), chuyện một Phó Bí thư bị “bong võng mạc” phải nằm viện, chuyện chăm sóc các chậu kiểng (Điều quên dặn).Có cả những truyện như ghi chép sinh hoạt của một người, từ 7 giờ sáng đến 8 giờ tối: ngắm hoa, đến tòa soạn nhận tiền nhuận bút, mua cá vàng thả vào bể, 8 giờ tối lại vào Google, gõ: “Rùa” (Ngày không như mọi ngày), và chuyện của người chết sau 72 giờ (72 giờ sau)…

“Nhà văn là người kể chuyện”, điều này tưởng như không có gì để bàn. Nhưng không phải vậy. Cuộc sống vốn phức tạp và xô bồ, nhà văn tìm trong những hiện tượng đầy nhiễu nhương ấy để nhặt lấy những hạt châu ngọc kể cho mọi người và gửi trong đó những thông điệp.

Nhà văn Khôi Vũ không chỉ có tài kể truyện hay mà còn tạo ra thế giới nghệ thuật của riêng mình, thế giới của “cái đẹp”. Anh nhìn con người, sự việc với cái nhìn minh triết và tấm lòng nhân hậu, vì thế những chuyện xô bồ, những chuyện đau lòng, những chuyện mà nếu nhìn khác đi, người đọc sẽ cảm nhận dư vị chát đắng, rất dễ rơi vào bi quan.

Truyện Mẹ hay Ôsin chẳng hạn. Nhìn bằng con mắt của “cái đẹp” thì những việc mẹ làm cho con cháu là những biểu hiện ấm áp của tình yêu thương. Trái lại, con mắt thực dụng sẽ nhìn thấy người mẹ ấy chính là Ôsin của con cháu. Truyện Nỗi buồn dưa hấu là nỗi khổ tâm của bà Tám bán dưa hấu những ngày cận Tết. Bị ông trưởng khu phố và chú dân phòng làm khó, bà phải “biếu” mỗi người một cặp dưa. Nhưng nỗi lo vẫn còn đấy. Không biết có bán được hết 100 cặp dưa trước giao thừa, sau đó dọn dẹp vỉa hè như đã hứa với ông trưởng khu phố hay không. Nhà văn đã kết thúc truyện bằng sự “may mắn”cho người “ở hiền gặp lành”. Trưa hăm chín, một chiếc xe chở công nhân đâu như đi dự liên hoan về, bị hư máy dừng đúng trước sạp dưa của dì Tám. Hơn hai chục cô công nhân mặc áo đồng phục màu xanh lá mạ, trong lúc chờ bác tài sửa xe, đã rủ nhau mua hết số dưa còn lại của dì Tám.

Cái nhìn minh triết trong truyện ngắn Khôi Vũ đã soi thấu những vấn đề mà lương tâm trong sáng không thể chấp nhận. Trong truyện Nhận giải thưởng,một ông giám đốc mù mờ về tin học, lại ép cô phó phòng ghi tên mình vào công trình khoa học của phòng

thÁi hẢi 2018

(Chân dung nhà văn Khôi Vũ 2018)

Kỹ thuật, để rồi sau đó được mời đi nhận giải thưởng. Khôi Vũ sáng tạo ra chi tiết ông làm rơi chiếc khánh và khung ảnh giấy khen, rất may không có tổn thất gì. Chỉ “dòng chữ họ tên được dát vàng của ông dưới dòng chữ “Giải A sáng tạo khoa học” bị bong ra khỏi vị trí của nó”. Vâng, chỉ một chi tiết rất nhỏ ấy đã toát lên ý nghĩa: Cái khánh và bằng khen không thuộc về ông, dù ông có đang cầm nó trên tay.

Trong truyện Giờ thiền, những con người cùng đi tập thể dục buổi sáng, xuôi hay ngược, chỉ nhìn nhau im lặng. Không cả cái gật đầu chào nhau. Họ như những người đang thiền. Có một chút khôi hài trong cách đặt tên truyện để giấu cái tâm trạng chán ngán cái cuộc sống mà con người trở nên hoàn toàn xa lạ với nhau. Những truyện ”Không đề” cũng là những truyện khôi hài che giấu bên dưới những nỗi thất vọng về giới cầm bút. Người ta tranh giải trong “Cái ao làng”, “viết dở thế mà sao họ cũng in nhỉ?”. “Năm nào mình cũng có thơ in trên báo văn nghệ của Hội địa phương mà vẫn không được kết nạp làm hội viên?”… Nhưng có lẽ ý nghĩa minh triết thể hiện rõ nhất trong việc tra hỏi ý nghĩa đời người.

Truyện 72 giờ sau khi chết của một người. Anh ta tự kiểm điểm rằng mình đã hoàn thành tốt đẹp một đời người. Mọi người cũng công nhận: Thế là sướng rồi! Anh học hành vào loại khá từ bậc tiểu học, trung học đến đại học.

Trở thành công chức mẫn cán, làm việc đúng ngành nghề được đào tạo. Cứ ba năm lên một bậc lương. Rồi cưới vợ, rồi có con, một trai một gái, đúng chỉ tiêu. Vợ là cô giáo dạy một trường khá nổi tiếng ở địa phương, là vợ đảm, mẹ hiền, dâu thảo. Cuối tuần, mọi người thấy vợ chồng con cái họ chở nhau trên hai chiếc xe máy đi ăn sáng ở đâu đó. Thỉnh thoảng cả nhà dẫn nhau đi siêu thị, đi nhà sách. Thế nhưng ngay sau 72 giờ chẳng còn ai nhắc đến anh nữa. Bởi vì cuộc đời anh chẳng có gì để nhắc, trừ chuyện anh bị chiếc xe tải nhỏ không chịu dừng đèn đỏ tông chết. Vâng, người đời chỉ nhắc đến những ai đã làm được những gì có ích cho cộng đồng.

Viết những truyện ngắn (khoảng trên dưới 1.000 chữ), nhà văn tự đặt mình vào trong nhiều cái khó. Phải là một truyện có cấu trúc hoàn chỉnh, phải gây được ấn tượng ngay từ đầu đối với người đọc, và phải chọn cách thể hiện thích hợp. Sẽ có rất ít chữ để miêu tả không gian, thời gian, và sự vận động tâm lý nhân vật. Và càng rất khó để miêu tả cho được số phận nhân vật chứa đựng tư tưởng – thẩm mỹ. Nhà văn Khôi Vũ đã kiến tạo những truyện ngắn như thế nào để đạt được những giá trị tư tưởng, nghệ thuật?

Mỗi truyện Ngắn của Khôi Vũ đều có một cái “tứ ” làm cốt lõi. Từ cái “tứ” này, Khôi Vũ tạo dựng không gian, thời gian, nhân vật và các tình huống. Cốt truyện là hoàn toàn sáng tạo. Nhà văn Khôi Vũ dùng chất liệu hiện thực đắp vào tứ truyện tạo hồn cốt câu truyện. Mỗi truyện đều bắt đầu bằng một tình huống dẫn vào đề, rồi triển khai những tình huống có vấn đề và kết thúc bằng một tình huống thể hiện cái nhìn nhân hậu. Chủ đề thường bật ra từ những tình huống bất ngờ ở cuối truyện. Thí dụ, truyện Nhận giải thưởng,chi tiết “dòng chữ họ tên được dát vàng của ông dưới dòng chữ “Giải A sáng tạo khoa học” bị bong ra khỏi vị trí của nó” làm hiển lộ chủ đề nằm ngoài văn bản.

Mẹ hay Ôsin là những câu chuyện thú vị. Nhưng thú vị nhất là nhà văn đã gợi mở những con đường tư tưởng vì “những con đường trong cuộc sống thì chẳng bao giờ có sẵn”(Huệ)…

BÙI CÔNG THUẤN

Advertisements

TRUYỆN TUỔI HOA CỦA NGUYỄN THÁI HẢI (KHÔI VŨ)

TRUYỆN TUỔI HOA CỦA NGUYỄN THÁI HẢI

 Bùi Công Thuấn

nth pic jpeg

 Truyện nhi đồng Tuổi Hoa phát hành ở Sài Gòn, số đầu tiên vào tháng 06-1962 và phát hành mỗi tháng 1 kỳ (nguyệt san). Sau 8 số thì đổi tên thành Tạp chí thiếu nhi Tuổi Hoa (nguyệt san). Từ số 36 trở đi phát hành ½ tháng một kỳ (Bán nguyệt san). Đến số 74 thì chính thức đổi tên thành Bán nguyệt san Tuổi Hoa. Những truyện dài đăng trên Bán nguyên san Tuổi Hoa được nhà xuất bản Tuổi Hoa in thành sách gọi là tủ sách Tuổi Hoa (1969). Tủ sách Tuổi Hoa gồm: Hoa Đỏ (trinh thám – phiêu lưu mạo hiểm), Hoa Xanh (tình cảm gia đình bè bạn), Hoa Tím (tình cảm nam nữ trong sáng tuổi mới lớn)[1].

Nhà văn Nguyễn Thái Hải xuất hiện trên Tuổi Hoa từ tháng 6/1968 với truyện ngắn nhi đồng “Nốt ruồi”. “Màu xanh học trò” (1969) là truyện thứ 12 và là truyện đầu tiên của Nguyễn Thái Hải được in liên tiếp 5 kỳ trên báo Tuổi Hoa. Nguyễn Thái Hải có 8 cuốn sách in trong tủ sách Tuổi Hoa và 50 truyện ngắn in 1 kỳ hoặc nhiều kỳ trên báo Tuổi Hoa.

Sau 1975, ông lấy bút danh Khôi Vũ khi viết cho người lớn. Đến nay (2018) ông đã in khoảng 60 tác phẩm thuộc đủ các thể loại. Riêng sách viết cho thiếu nhi, ông in 31 cuốn (tính đến năm 2019) [2].

Tháng 7.2017 NXB Phương Đông và Phương Nam Books đã tái bản 8 cuốn sách của tủ sách Tuổi Hoa trong đó có Chiếc lá thuộc bài của Nguyễn Thái Hải, điều ấy khẳng định giá trị sách của tác giả Nguyễn Thái Hải trẻ với bạn đọc hôm nay.

Tôi tự hỏi điều gì làm nên những giá trị những cuốn sách ấy sau gần 50 năm với bao biến đổi lớn lao của lịch sử và thời đại?

NHỮNG TRUYỆN HOA XANH

 Những truyện trong tủ sách Tuổi Hoa và truyện in trên báo Tuổi Hoa của Nguyễn Thái Hải hầu hết thuộc loại “Hoa xanh”, tức là những truyện viết về tình cảm gia đình, bè bạn, thầy cô. Những tình cảm ấy đến nay, dù cuộc sống đã thay đổi rất nhiều, nhất là trong giao lưu toàn cầu hóa, thì tình cảm cha con, mẹ con, bạn bè, thầy cô trong tâm thức Việt Nam vẫn nguyên vẹn. Và tác phẩm của Nguyễn Thái Hải đến nay vẫn còn giá trị chính là ở ngòi bút của nhà văn đã khắc tạc được những tình cảm có truyền thống dân tộc. Tuy hình thức sinh hoạt của ngày xưa ấy có khác hôm nay, nhưng những điều căn cốt nhất của tâm thức Việt vẫn nguyên vẹn trong tác phẩm của Nguyễn Thái Hải.

Màu xanh học trò là tình thầy trò thắm thiết của học trò lớp Lục 2 sau một năm học với những kỷ niệm không phai. Lớp Lục 2 được thầy Tuyên hướng dẫn học tập, chơi bóng đá, giải quyết nhưng bất hòa học trò các lớp. Khi đã xa học trò, thầy Tuyên viết cho các em: “các học trò của thầy ơi, các em có biết tuổi học trò của các em là đẹp và sung sướng nhất không?” 

Tiếng hát vành khuyên là sự ganh đua học tập và phát triển tài năng của các bạn lớp Tám. Đó là Vành Khuyên (Nguyễn Thị Hương Trầm) và Hạnh Trang. Hai cô bé do những hoàn cảnh riêng đã ganh đua trong cuộc thi “Tiếng hát Vành Khuyên” và danh hiệu “học sinh xuất sắc trong tháng”. Sau những hiểu lầm và căng thẳng quyết liệt, cuộc đua tranh có một kết quả tốt đẹp: thầy cô Ban giám khảo của trường đã trao giải nhất cho Trang và trao cúp danh hiệu Vành Khuyên mãi mãi cho Vành Khuyên. Tình bạn của hai cô học trò sau những thử thách quyết liệt đã trở nên thắm thiết hơn bao giờ.

Những dòng mực tím là những dòng yêu thương ấm áp tình thầy trò trong lá thư học trò gửi cho cô khi cô đã xa trường.  Đó là một ngôi trường ở một vùng hẻo lánh, nơi học sinh chỉ có thể học hết lớp Ba rồi nghỉ học, vì không có lớp trên.  Học trò kể lại những trò nghịch ngợm của bọn con trai với các bạn gái vì cô có vẻ bênh vực các bạn ấy. Chúng đoàn kết học tập và cũng “đoàn kết” bày trò hành hạ bọn con gái. Chúng bắt kiến bỏ hộc bàn buộc bọn con gái bỏ chỗ ngồi. Chúng đem chuột con vào lớp nhát bọn con gái, và đặc biệt là, “nghệ thuật” nói dối, chúng không chỉ nói dối bạn mà còn nói dối cả cô để lấy tiền. Khi cô đã đi xa, chúng hứa: “Nhất định chúng em phải chăm học để khỏi phụ lòng cô. Vì nhờ cô tình nguyện xuống vùng hẻo lánh này dạy chúng em năm lớp Nhì mà chúng em khỏi phải học trễ một năm”…Người thầy thời nào cũng dấn thân vì học sinh và được học sinh yêu mến là vì vậy.

Tuổi học trò còn quý giá ở tâm hồn ngây thơ trong sáng. Nguyễn Thái Hải miêu tả rất tinh tế và xúc động tuổi hồn nhiên ấy trong truyện Cô nhỏ Trúc quan âm. Cô nhỏ tiểu học ấy thích hoa. Cô đã xin hoa bên vườn nhà báo Dũng Tâm, báo Hồn Nhiên về trồng. Nhưng cô không biết rằng Trúc quan âm không thể trồng bằng nhánh mà phải trồng bằng củ, vì thế những cành trúc Quan Âm cô lén cắt đem về trồng luôn bị héo rũ. Nhà báo Dũng Tâm đã không trách cô bé ăn cắp hoa, mà còn coi cô như người bạn vong niên. Kết truyện, ngày 27 tết, trước khi về quê, nhà báo Dũng Tâm đã sang gia đình kế cận, tặng chủ nhân hai chậu bông duyên cúc đủ màu để chưng tết, và tặng cô học trò tiểu học giỏ trúc anh đã ươm mầm. Lúc này anh mới biết cô nhỏ tên là Trúc. Đây là tâm trạng của Dũng Tâm, và cũng là tiếng lòng yêu thương trẻ thơ của tác giả: “Tôi tưởng như mình nhỏ lại. Ơi! Ngày xưa ngây thơ sao đẹp quá. Cô nhỏ Trúc quan âm của tôi ơi, cô nhỏ có biết là tôi đang thèm được thơ ngây trồng trúc bằng cách cắm nhánh như cô nhỏ không?

Trong những nhân vật tuổi thơ, Nguyễn Thái Hải còn dành tình yêu thương đặc biệt cho những thân phận bất hạnh. Dung Chi (Truyện Hoa tầm gởi) là một nạn nhân chiến tranh. Cha mẹ em chết vì đạn lạc giao tranh. Từ trại tạm cư chiến tranh Chi được các sư cô nhận về trai cô nhi. Rồi em được một gia đình khá giả nhận làm con nuôi. Chi mơ ước một mái ấm gia đình, nhưng không ngờ nhiều người trong gia đình lại đố kỵ, Chi đã bỏ nhà đi và bị bọn xấu bắt cóc bán cho mụ Hai. Mụ cho Chi đi ở đợ để lấy tiền. Sau một năm ở đợ, Chi trốn thoát…

Lá tủi thân là tình cảnh của cô học sinh tên Lá. Nhà chỉ có hai cha con. Cha bị mù vì một tai nạn. Lá phải dẫn ba đi ăn xin. Ba đánh đàn, Lá hát. Một lần vô tình cô giáo Tiên gặp Lá ở bến xe. Lá vội vã dẫn cha về và nghỉ học những ngày sau đó. Cô giáo Tiên đã đến nhà thăm người cha mù và an ủi, chia sẻ động viên Lá đi học trở lại. Cô nói: Nghèo đâu phải xấu em. Biết giúp cha mẹ trong việc sinh nhai là quý lắm, sao em lại mắc cỡ”, “…Em biết giúp đỡ ba để kiếm sống là tốt lắm. Ai biết chuyện cũng phải khen em hết…”, “Ngày mai đi học nghe Lá,…”

Mùa sương mù là tình cảnh của Hòa, một đứa trẻ vô tình rơi vào tay người mẹ nuôi, mà người này cũng vì hoàn cảnh trở thành kẻ chăn dắt những đứa trẻ bị bắt cóc đem bán cho mụ. Mụ dạy chúng đánh giày, bán báo, bán bánh kẹo, móc túi… rồi xuất vốn cho chúng, thu về số tiền lời chúng kiếm được, thu tất cả. Quá trình người mẹ ruột đi tìm con hết sức gay cấn. Kết thúc truyện. Hòa tìm được mẹ ruột. Người mẹ nuôi hoàn lương và về ở chung với mẹ ruột của Hòa. Tình yêu thương đã hóa giải mọi hận thù. Mùa sương mù đã hết, nắng lên thật sớm và ấm.

Sài Gòn những năm 1970 đầy biến động. Tình hình xã hội cũng vô cùng xô bồ, phức tạp. Nhưng đọc những truyện của Nguyễn Thái Hải, người đọc thấy một thế giới trong veo, thanh khiết và hồn nhiên. Tôi nghĩ đó là một giá trị, cũng là bản lĩnh của một ngòi viết trẻ. Anh biết chọn cái đẹp của dân tộc để miêu tả, anh muốn đem tình yêu thương vào những hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh. Tình yêu thương của anh với trẻ chảy tràn trên trang văn, mà đến tận hôm nay, những trang văn vẫn tỏa hương sắc thơm ngát. Tất nhiên nền tảng của ngòi bút ấy là một lý tưởng đẹp, nhưng trong hoàn cảnh lịch sử của Sài Gòn lúc bấy giờ, anh không dễ gọi tên, bởi ở Sài Gòn lúc ấy, cuộc đấu tranh tư tưởng giữa nhiều khuynh hướng diễn ra rất quyết liệt. Nhà văn có ý thức về trách nhiệm ngòi bút của mình biết tìm con đường để đi. Con đường ấy, lý tưởng ấy, và khát vọng nữa, Nguyễn Thái Hải gửi trong hai truyện Nhóm lửaCon dốc cổng trường.

Các nhân vật trong Nhóm lửaCon dốc cổng trường không còn ở tuổi học trò tiểu học hay tuổi lớp Bảy, lớp Tám, mà là sinh viên đại học. Ngoài việc cố gắng học tập, làm việc, họ còn nỗ lực hoạt động xã hội. Họ tổ chức các buổi sinh hoạt cộng đồng với trẻ em xóm lao động, cùng mở lớp dạy tiểu học miễn phí cho học sinh nghèo, họ gửi gắm khát vọng: “dựng được một lớp học, nơi trau dồi khả năng, đồng thời, hướng tâm hồn học trò về một hướng đẹp: dân tộc! 

Tác giả trực tiếp thổ lộ: “Truyện này, tôi xin được làm một ánh lửa rất nhỏ, cùng góp vào ngọn lửa xây dựng mà những người trẻ đầy thiện chí trên khắp Việt Nam…” (Nhóm lửa)

Trong Con dốc cổng trường, tác giả đặt vấn đề: đối với sinh viên, lý tưởng hay tình yêu, tha nhân hay vị kỷ? Câu trả lời là, sinh viên phải có lý tưởng sống vì tha nhân. Tình yêu đến sau. Và chính tình yêu giúp cho hoạt động lý tưởng hăng say.

Dù những điều Nguyễn Thái Hải gửi trong tác phẩm chưa thực sự hướng về một lý tưởng xã hội cụ thể, nhưng những gì anh miêu tả đã phản ánh được chí hướng của một bộ phận thanh niên thành thị miền nam những năm 1970. Giữa những xô bồ của lối sống thực dụng, giữa những giao tranh không ngừng của các tư tưởng đối nghịch (chủ nghĩa Hiện sinh chẳng hạn), giữa cuộc chiến tranh ngày càng khốc liệt, giữa những tranh giành chính trị diễn ra liên tục, miền nam lâm vào bế tắc và hoang mang tột độ. Không khí bi quan bao trùm. Không phải người trẻ miền nam nào cũng tìm được lối thoát cho mình. Lúc ấy Nguyễn Thái Hải cũng đang là sinh viên, anh viết về sinh viên, những người trẻ biết hướng về dân tộc, biết nhìn ra một dân tộc đẹp và hùng mạnh, biết dấn thân phục vụ đồng bào, sống vì tha nhân. Như thế, ngay từ những tác phẩm đầu đời, ngòi bút Nguyễn Thái Hải đã định hình những phẩm chất tốt đẹp, và nhờ thế tác phẩm của anh có khả năng vượt qua thời gian, gặp gỡ những tâm hồn trẻ thơ và đọng trong tâm thức bạn đọc những tình tự dân tộc.

KHAI PHÁ MỘT CON ĐƯỜNG NGHỆ THUẬT

Truyện Tuổi Hoa là truyện viết cho tuổi học trò nhưng Nguyễn Thái Hải đã không ngừng thể nghiệm ngòi bút của mình ở nhiều mặt kiến tạo tác phẩm. Có một nỗ lực rất rõ là anh cố gắng tiếp cận cho được đối tượng nhân vật của mình, nói tiếng nói của nhân vật, suy nghĩ bằng suy nghĩ của nhân vật. Sự đa dạng của nhân vật cũng là sự đa dạng của cách viết. Làm sao viết thật hồn nhiên như cô bé tiểu học cắt trộm trúc quan âm (Cô nhỏ trúc quan âm), làm sao viết thật tinh nghịch nhưng lại đáng yêu như các cậu trai lớp Nhì (Những dòng mực tím), làm sao hòa mình vào được Xóm nhỏ với cảnh sống chật chội, tối tăm, thiếu thốn và mưa lũ gây ra bao tai họa, không thể không lên tiếng. Tôi ngạc nhiên khi người sinh viên Nguyễn Thái Hải trẻ tuổi lại có thể lăn vào cuộc sống của các cháu cô nhi (Hoa tầm gửi), những nạn nhân chiến tranh, những đứa bé bị bắt cóc và bán đi (Mùa sương mù), để chia sẻ và dẫn chúng đi về phía yêu thương và ánh sáng.

Nhiều truyện nhân vật chính là nhân tự kể câu chuyện đời mình, nhờ thế sự việc được nhìn từ bên trong, từ góc tiếp cận khả tín (Tiếng hát Vành Khuyên, Xóm nhỏ, Mùa sương mù,..). Con dốc cổng trường như một lời độc thoại, lời đối thoại trong tâm tưởng hay một lá thư tự tình kể truyện, mỗi chương viết cho một nhân vật thân yêu. Mỗi chương như biệt lập song lại tạo nên một cốt truyện chặt chẽ, hấp dẫn. Trái lại, trong truyện Nhóm lửa, mỗi chương là lời kể của một nhân vật. Ngôi kể, góc trần thuật thay đổi liên tục, tạo nên một lối kể truyện rất lạ. Mùa sương mù là truyện có nhiều tình huống như phim trinh thám. Lối viết này Nguyễn Thái Hải còn sử dụng mãi về sau, thí dụ Ai cướp chiếc laptop (2013).

Một trong những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của truyện Tuổi Hoa của Nguyễn Thái Hải là kết nối những mạch truyện phức tạp, sáng tạo những tình huống bất ngờ, đặc biệt là tình huống kết truyện, vừa hóa giải các mâu thuẫn, cởi các nút thắt truyện, vừa tỏa sáng chủ đề, tư tưởng; tạo nên niềm vui, niềm hạnh phúc cho người đọc. Mùa sương mù, Chiếc lá thuộc bài, Hoa tầm gửi, Con dốc cổng trường, Tiếng hát Vành Khuyên… là những truyện đầy sáng tạo như thế.

Dù vậy đôi khi Nguyễn Thái Hải không tránh được những giới hạn, Hoa tầm gởi có những tình huống chưa thật thuyết phục. Trong truyện Ngoài cửa sổ, tác giả trực tiếp hiện diện để nêu chủ đề: “Đó là tất cả những chuyện xảy ra cho Túy Đoan. Thật ra, sự xuất hiện của những người trong gia đình ông Tư trong khung cảnh gia đình Túy Đoan, sự ra đi của họ, chuyện Túy Đoan gặp lại chị Hiền, chuyện Túy Đoan bỏ dở buổi tiệc để đi tặng quà cho người thiếu nữ mà cô bé thương mến, tất cả chỉ là những chuyện rất tầm thường. Nhưng có một điều không tầm thường. Đó là sự nhận thức của ba má cô bé về tình thương mà ông bà đã dành cho cô bé trước kia. Đó là sự trỗi dậy của một tình thương từ đáy tâm hồn một bậc cha mẹ đã một thời gian để vật chất làm thành tấm lưới bít kín./ Ước mong sao những cô bé gặp hoàn cảnh như Túy Đoan sẽ không còn những lúc ngồi buồn nhìn qua cửa sổ…”.Trong Mùa sương mù, giọng trần thuật của nhân vật tôi (đứa trẻ 15 tuổi) lại quá già dặn, và người mẹ nuôi, một mụ chăn dắt những đứa trẻ bị bắt cóc lại được miêu tả lương thiện. Những truyện viết về hoạt động của sinh viên (Nhóm lửa, Con dốc cổng trường) không được đặt trong bối cảnh xã hội cụ thể của miền Nam lúc bấy giờ. Tất nhiên điều này không ảnh hưởng gì đến nội dung và chủ đề câu truyện.

Năm 2017 NXB Phương Đông và Phương Nam Books tái bản Chiếc lá thuộc bài. Sự việc vừa là một niềm vui, những cũng gây ra những tổn thương cho tác giả. Những độc giả lớp những năm 60, 70 thì muốn giữ nguyên ấn bản đã in 1970, và nhà xuất bản lại in bản đã sửa chữa 1993. Cả hai cùng xuất phát từ góc nhìn của người tiếp cận. R. Barthes nói rằng “tác giả đã chết” phần nào có nguyên do, bởi vì khi một tác phẩm đã được công bố, nó thuộc về người đọc. Tác giả không thể thay đổi tác phẩm. Nhưng xin lưu ý rằng, trong trường hợp của Chiếc lá thuộc bài là ý kiến khác nhau của hai thế hệ người đọc: người đọc trước 1975 ở miền Nam và người đọc hôm nay (2017 mà nhà xuất bản là đại diện), cho nên khi nhà xuất bản in bản 1993 là đáp ứng đối tượng người đọc hôm nay. Đại diện Phương Nam Books nói: “Cái hay của tác phẩm là nội dung, các nhân vật chỉ là hư cấu. Tác giả chỉ thay đổi nghề nghiệp của nhân vật cho phù hợp và nội dung tác phẩm không hề thay đổi. Tại sao chúng ta cứ phải làm cho vấn đề trở nên nặng nề. Thiết nghĩ nên hoan nghênh tác phẩm đã được cấp phép xuất bản và phát hành một cách hợp pháp.”[3].

Tôi lại nghĩ, từ khi Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du xuất hiện đến nay, đã có không biết bao nhiêu lần in, bao nhiêu lần sửa chữa, nhưng tất cả chỉ là phục dựng từ ngữ. còn cốt truyện, tình huống, nghệ thuật truyện thơ vẫn được giữ nguyên, và vì thế dù sử dụng bản Kiều nào, người đọc vẫn tiếp cận được tác phẩm gốc của Nguyễn Du. Ý kiến của nhà xuất bản khi in Chiếc lá thuộc bài năm 1993 là chấp nhận được. Nói như thế để thấy rằng tác giả rất khó tránh những giới hạn mà bối cảnh lịch sử quy định.

CON ĐƯỜNG CỦA MỘT NHÀ VĂN

2 bct-khoivu1

(Nhà văn Khội Vũ-Nguyễn Thái Hải đọc thơ trong đêm nhạc BCT 1998)

          Đến nay, Nguyễn Thái Hải-Khôi Vũ đã thuộc lớp nhà văn “xưa nay hiếm”, bởi số lượng tác phẩm của ông thật đồ sộ, bút lực của ông thật dồi dào, năng lực sáng tạo của ông không vơi cạn. Con đường nghệ thuật của ông có nhiều thành tựu ở nhiều thể loại và nhiều kiểu bút pháp. Trước khi bước vào tuổi 70 (năm 2020), nhà văn còn đang ấp ủ những bộ tiểu thuyết lớn về hiện thực miền nam từ 1954 đến nay.

Có lẽ trước 1975 Nguyễn Thái Hải không thể hình dung được đến năm 2020 mình sẽ viết được những gì. Nhưng tôi tin rằng sự chọn lựa con đường của nhà văn Nguyễn Thái Hải ngay từ đầu đã có những yếu tố của sự thành công về sau. Đó là kiểu truyện có nhiều tình huống bất ngờ, có cấu trúc biến hóa. Đó là tư tưởng nhân văn xuyên suốt trong hành trình sáng tạo. Nhà văn yêu mến và gắn bó với người lao động, hòa mình với thế giới của trẻ và luôn suy nghĩ dưới ánh sáng của cái đẹp và lẽ thiện.

Nguyễn Thái Hải-Khôi vũ viết cẩn trọng và có ý thức sâu sắc về trách nhiệm ngòi viết. Thái độ diễn ngôn rất khôn ngoan. Ông lên tiếng trực diện về những vấn đề của thời đại. Ông cũng nỗ lực đóng góp những giá trị tốt đẹp cho văn chương, góp phần xây dựng văn hóa cộng đồng. Nguyễn Thái Hải viết: “…Để mãi mãi, tình thương ươm mầm nuôi mạch sống…. Tôi cầu chúc cho những trang văn của ông trở thành vườn ươm yêu thương cho cuộc đời này.

Tháng 12. 2018

________________________

[1] https://sites.google.com/site/tusachtuoihoa/ban-nguyet-san

[2] Sách thiếu nhi của Nguyễn Thái Hải

  1. 1. Hoa tầm gởi (Truyện vừa-1970), 2. Chiếc lá thuộc bài(Truyện vừa-1971), 3. Ngoài cửa sổ(Truyện vừa -1971), 4. Mùa sương mù (Truyện vừa -1971), 5. Tiếng hát vành khuyên (Truyện vừa -1972), 6. Xóm nhỏ (Truyện vừa -1972), 7. Nhóm lửa (Truyện vừa -1973), 8. Con dốc cổng trường (Truyện vừa -1975), 9. Bên bóng Thái sơn (Truyện vừa –1989), 10. Thằng đầu bò (Tập truyện ngắn–1989), 11. Ba chàng thám tử (Truyện vừa–1992), 12. Cha con ông Mắt Mèo (Truyện vừa–1993), 13. Những trái sao xoay (Truyện vừa–1993, 14. Những ông tướng nhà trời (Truyện vừa–2002), 15. Chú bé phiêu lưu (Tập truyện ngắn–2002), 16. Thằng heo sữa (Truyện vừa–2003), 17. Cánh chuồn kim biếc (Truyện dài 3 tập–2004), 18. Cây trứng cá gãy ngọn (Truyện vừa – 2006), 19. Sao chim không hót (Tập truyện -2011), 20. Mơ làm thủ lĩnh (Truyện vừa – 2011), 21. Một ngày hè ở biển (Tập truyện -2012)…22. Ai cướp chiếc laptop? (Tập truyện), 23. Khu vườn hạnh phúc (Truyện đồng thoại), 24.Hai con diều bay thấp (Tập truyện), 25. Những sợi tóc sâu của mẹ (Tập truyện), 26. Lớp học làng rừng (Truyện đồng thoại), 27. Mèo con đã lớn lên như thế (Truyện đồng thoại), 28. Vụ án ba trái xoài (Tập truyện), 29. Bầy nai tung tăng trên đồng cỏ (Bộ truyện thiếu nhi 4 tập).  (Đang in 2019) 30. Thám tử học trò (Bộ truyện thiếu nhi 3 tập), 31. Khí phách Biên Hùng (Truyện lịch sử)

Hiện nhà văn Nguyễn Thái Hải đang chuẩn bị in một tập truyện ngắn chọn khoảng 18 – 20 trong 50 truyện đã in trên báo Tuổi Hoa, in thành tập MỘT THUỞ TUỔI HOA. Dự kiến in năm 2019 hoặc 2020 (Nhân tác giả tròn 70 tuổi).

[3] https://motthegioi.vn/van-hoa-giai-tri-c-80/van-hoc-nghe-thuat-c-129/nha-sach-len-tieng-khi-tu-sach-tuoi-hoa-vua-tai-ban-da-gay-tranh-cai-67150.html

 

 

VĂN CHƯƠNG 2018-LẶNG LẼ ƯƠM MẦM

 

 

 

VĂN CHƯƠNG 2018 – LẶNG LẼ ƯƠM MẦM

Bùi Công Thuấn

VC 2018 nhãn

Năm 2018 thế giới đầy biến động, đời sống chính trị xã hội Việt Nam cũng đầy những“sự kiện lịch sử”, nhưng văn chương Việt Nam vẫn “lặng lẽ”, “lặng lẽ” như nhiều năm qua (ít nhất là từ 2015 đến nay) và có lẽ sẽ còn “lặng lẽ” nhiều năm nữa…

(xin ghi nhận một vài thông tin, ở góc nhìn cá nhân, không tránh được phiến diện và thiếu sót)

LẶNG LẼ ƯƠM MẦM

Khi Hội Nhà văn Hà Nội trao giải năm 2018, chỉ nhà văn Nguyễn Xuân Khánh được tôn vinh ở hạng mục thành tựu trọn đời, không có giải thơ và văn xuôi. Có ý kiến cho rằng năm 2018 mất mùa giải thưởng văn học.

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933 tại Hà Nội. Ông nổi tiếng với nhiều tác phẩm như: Rừng sâu, Miền hoang tưởng, Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Hai đứa trẻ và con chó Mèo xóm núi, Mưa quê…Ông cũng từng nhận nhiều giải thưởng. Tiểu thuyêt Hồ Quý Ly   được 3 giải: Giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam 1998-2000, Giải thưởng Thăng Long của UBND Thành phố Hà Nội 2002, Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2001. Năm 2006 tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của ông cũng được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội. Năm 2018, tiểu thuyết Chuyện ngõ nghèo của Nguyễn Xuân Khánh cũng đạt giải Sách Hay, hạng mục Tác phẩm văn học.

Những thành tựu văn chương của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh có thể gợi ra nhiều suy nghĩ về con đường sáng tác của người cầm bút.

Trong Hội nghị tổng kết công tác văn học 2018 ngày 14.12.2018 tại Hà Nội, Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà Văn đã đánh giá: “Nhìn chung bức tranh văn học 2018 phát triển toàn diện”. Tác giả Tuyên Hóa trên vanvn.net tường thuật: “năm 2018 văn học Việt Nam tiếp tục có những nét khởi sắc đáng mừng; đời sống văn học cởi mở, dân chủ hơn, có nhiều tác phẩm được công bố, trong đó tính dự báo của văn học có nhiều dấu hiệu đáng mừng. Các lĩnh vực: Văn xuôi, thơ, văn học dịch, lý luận-phê bình văn học… đều có bước phát triển rõ rệt; đặc biệt là chất lượng và số lượng của các sáng tác trẻ ở văn xuôi và sự “nở rộ” của trường ca trong lĩnh vực thơ. Thực tiễn sáng tác cho thấy sự gắn bó giữa nhà văn với đất nước, dân tộc, nhân dân được thể hiện rõ hơn, trách nhiệm hơn.”[1]

Ngày 19-12 ở Hà Nội, trong Hội thảo khoa học toàn quốc do Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương tổ chức với chủ đề “Nhìn lại quá trình xã hội hóa các hoạt động văn học, nghệ thuật ở Việt Nam từ khi ban hành chủ trương đến nay”, nhà thơ Hữu Thỉnh phát biểu: “Xã hội hóa với văn nghệ sĩ là tài năng được thừa nhận, tác phẩm được thừa nhận, tạo được tiếng vang với công chúng và có sức sống lâu dài. Xã hội hóa làm ra cả nghìn CLB thơ, nhưng tôi đọc thì không có bài thơ nào hay, có sức sống lâu dài. NXB Hội nhà văn có 1125 đầu sách được phát hành trong 1 năm nhưng chất lượng thì như thế nào? Chúng ta có cả một vườn sản phẩm được gọi là văn hóa nhưng thực chất văn hóa được bao nhiêu? Tôi hoan nghênh xã hội hóa nhưng không thể vì vài đồng tiền mà quên đi giá trị tác phẩm. Tác phẩm phải đi vào lòng người, đấy mới là xã hội hóa cao nhất”[2]

Hai ý kiến có vẻ trái ngược nhau của nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cho người đọc thông tin gì về tình hình văn học 2018?

Người đọc có thể hiểu rằng, văn học vẫn phát triển ở bề rộng các hoạt động phong trào và sáng tác (tổ chức trại sáng tác, tổ chức hội thảo, tổ chức kỷ niệm 100 năm các nhà thơ nhà văn…), song không có những tác phẩm nổi trội, sâu sắc về nội dung, tư tưởng và mới mẻ về nghệ thuật thể hiện. Thí dụ, nhà thơ Hữu Thỉnh cho biết, riêng nhà xuất bản Hội nhà văn có 1125 đầu sách được phát hành trong 1 năm. Ở giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam 2018, có tới 30 cuốn sách lý luận phê bình in năm 2018 tham dự xét giải. Đó là một con số đáng kinh ngạc.

Trong những cuốn sách Lý luận phê bình dự xét giải thưởng Hội Nhà Văn 2018, có nhiều cuốn được chú ý:  Bí mật tuổi trăng non (Thanh Tâm Nguyễn), Thăng hoa sáng tạo thẩm mỹ tiếp nhận văn chương (Nguyễn Ngọc Thiện), Văn học Nga hiện đại những vấn đề lý thuyết và lịch sử (Trần Thị Phương Phương), Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam (Luận án Tiến sĩ của Huỳnh Thu Hậu), Phê bình ký hiệu học (Lã Nguyên), Phê bình văn học và ý thức cái khác (Hoàng Thụy Anh)…Tôi cũng đặc biệt chú ý cuốn Phê bình văn học thế kỷ XX của Thụy Khuê (Nhã Nam in quý I. 2018). Cuốn này không tham gia xét giải của Hội Nhà Văn Việt Nam 2018. Chắc chắn rằng những cuốn sách tôi nêu ở trên có những đóng góp nhất định cho lý luận phê bình văn học Việt Nam, không phải chỉ trong năm 2018, mà còn có ích cho nhiều người nghiên cứu văn học sau này.

Dẫu vậy, đây đó cũng có những vấn đề người đọc thấy những cuốn sách ấy chưa thật hoàn thiện như mong đợi. Tôi xin dẫn hai thí dụ:

Bí mật tuổi trăng non của Thanh Tâm Nguyễn là một chuyên luận viết về văn học thiếu nhi. Phạm vi khảo sát của tác giả là các tác phẩm từ đầu thế kỷ XX đến 2018. Tác giả ghi rõ “Phê bình văn học dành cho lứa tuổi 13+”. Thanh Tâm Nguyễn có cách viết trẻ trung, ngôn ngữ khá mới lạ, vận dụng nhiều lý thuyết văn học như Thi pháp học, Tự sự học, phân tâm học, Tâm lý học, lý thuyết tiếp nhận về “tầm đón đợi”… để xem xét vấn đề. Quả là một chuyên luận rất đáng được mong đợi. Bởi chưa có chuyên luận nào nghiên cứu văn chương thiếu nhi bao quát một diện rộng như thế.

Nhưng đọc chuyên luận, tôi thấy nghi ngại và cảm thấy chưa thuyết phục. Sách viết “dành cho lứa tuổi 13+”, nhưng tuổi 13+ không thể đọc được cuốn sách dày đặc lý thuyết này. Vấn đề là, ngay từ viên đá đầu tiên xây dựng chuyên luận, “Thế nào là văn học thiếu nhi?”, tác giả đã không xác định được đúng đối tượng nên mới đưa Vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng và Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư vào khảo sát. Có lẽ tác giả nên hỏi xem hai nhà văn này có viết tác phẩm của họ cho thiếu nhi không?

Về phạm vi khảo sát, tác giả minh định rõ “Tôi giới hạn phạm vi khảo sát ở những tác phẩm thuộc thể loại văn xuôi ra đời từ đầu thế kỷ XX đến nay (2018)” (tr.11), vậy mà khi triển khai nghiên cứu, tác giả bỏ sót nhà văn Nguyễn Thái Hải. Nguyễn Thái Hải xuất hiện ở Sài Gòn 1969. Đến nay (2018), ông đã viết 31 tác phẩm văn học dành cho thiêu nhi. Ông đã từng đạt giải thưởng của Hội Nhà văn. Chuyên luận chỉ nhắc tên ông hai lần (lần thứ nhất ghi sai là Nguyễn Thác Hải-tr.29), và chỉ nhắc tên một cuốn sách của ông: Con dốc cổng trường. Nghĩa là chuyên luận chưa bao quát đủ đối tượng khảo sát.

Về nội dung, có sự sự bất nhất khi triển khai đề tài. Tác giả xác lập rõ nội dung chuyên luận viết về: ”xúc cảm giới tính chứ không phải là tình yêu đôi lứa” (tr. 12), nhưng trong suốt chuyên luận lại tập chú vào “chuyện tình trẻ con”, và đặt vấn đề “giáo dục giới tính cho trẻ”. Có lẽ còn cần nhiều thời gian nữa thì trình độ nghiên cứu của Thanh Tâm Nguyễn mới đạt độ chín?

Tôi đã đọc Phê Bình Ký hiệu học của Lã Nguyên (Nxb Phụ nữ 2018) [3] và kỳ vọng đôi điều. Trong Lời bạt, GS Trần Đình Sử nhận định rằng: Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định Ký hiệu học sẽ là khuynh hướng của phê bình văn học thế kỷ XXI…”(tr.404); “Bằng những bài nghiên cứu táo bạo, công phu, Lã Nguyên đã trình làng một hướng phê bình mới, phê bình Ký hiệu học. Chúng tôi vui mừng tin tưởng rằng khuynh hướng này sẽ nhanh chóng được bắt rễ, lan tỏa trong nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam…”(tr.405).

Nhưng tôi thất vọng, bởi đây không phải là một chuyên luận được viết với một nội dung và cấu trúc thống nhất nghiên cứu và áp dụng Ký Hiệu học vào phê bình văn học, mà chỉ là tập họp các bài tác giả viết rải rác và sắp xếp lộn xộn từ năm 1987 (Mấy cách tân nghệ thuật của truyện ngắn Nam cao) đến 2015 (Tôi đọc Miền Hoang của Sương Nguyệt Minh). Chính tác giả cũng đưa ra tự đánh giá: Dĩ nhiên, đi theo con đường ấy, mọi nhận xét, kết luận trong cuốn sách về loại hình diễn ngôn và ngôn ngữ nghệ thuật chỉ có thể được đưa ra dưới dạng những giả định khoa học với hi vọng tìm được sự đồng thuận của bạn đọc.(tr.10).

Theo tôi, phê bình Cấu trúc luận (structuralism) và Giải cấu trúc (Deconstruction)  mới có khả năng đọc tác phẩm đương đại. Ký hiệu ngôn ngữ chỉ là vỏ hình thức, nghĩa của những ký hiệu ấy đã được xác định trong tự điển. Cấu trúc mới tạo nên tác phẩm, và nghĩa của tác phẩm là nghĩa do cấu trúc tạo nên. Diễn giải là vô tận bởi ý nghĩa tác phẩm còn là do “cộng đồng diễn giải”(Stanley Fish) gán cho, cũng là “tầm kỳ vọng” (Hans Robert Jauss ) của người đọc.

GS Trần Đình Sử đã nhận xét rất đúng rằng “Phê bình Ký hiệu học của Lã Nguyên là sự mở rộng của Thi pháp học…Lã Nguyên chỉ đặt lại trên bình diện khác”(tr.403). Có nhận xét như vậy vì, thí dụ, GS Trần Đình Sử đã viết Thi pháp thơ Tố Hữu, và Lã Nguyên viết lại về thơ Tố Hữu, nhưng xoay sở ở một góc khác của chữ với tư cách là ký hiệu. Lã Nguyên cho rằng: “Tố Hữu là nhà thơ Việt Nam đầu tiên đã chọn truyền thuyết làm chiến lược diễn ngôn cho văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa”, nhưng Lã Nguyên lại không giới thuyết “truyền thuyết” là gì, mà chỉ mặc định: “Mục đích giao tiếp của truyền thuyết là truyền đạt những tri thức khả tín (bất kiểm chứng)”(tr.189) Ô hay  nhỉ, “khả tín” nhưng lại “bất kiểm chứng”! Chẳng lẽ Lã Nguyên dẫn người đọc vào con đường mù quáng hay sao?. Tôi nghĩ nhận xét ấy đúng là một “giả định” hàm hồ khó đồng thuận. Bởi đọc xong bài Lã Nguyên viết rất dài về thơ Tố Hữu, tôi không thấy có một khẳng định nào về giá trị thơ Tố Hữu, rằng bài thơ nào của Tố Hữu là bài thơ hay, để có thể đối thoại được với những ý kiến đặt ra về thơ Tố Hữu? thí dụ, ý kiến của Trần Dần 1955?[4]

Viết về Nguyễn Tuân, Lã Nguyên khẳng định rằng: ”Mọi sáng tác của ông đều được kiến tạo theo cấu trúc tùy bút, ngay cả khi nó là tác phẩm truyện” (tr.170), hình như điều này đã được nói đến từ lâu lắm rồi. Thế có nghĩa Lã Nguyễn chỉ nói lại những điều đã cũ, dù ông đã xoay vần đủ trò những con chữ của Nguyên Tuân. Lã Nguyên đã bỏ qua hoàn cảnh sống và cá tính con người Nguyễn Tuân, đã siêu hình hóa Nguyễn Tuân trước và sau cách mạng tháng Tám 1945. Điều ấy làm cho phê bình ký hiệu học trở nên “khả tín nhưng bất kiểm chứng” là vậy!

Một thí dụ khác, Lã Nguyên cho rằng “Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn của những câu chuyện về cái vô nghĩa của thế sự nhân sinh, thì Phạm Thị Hoài là cây bút của những bức tranh về một nhân loại vô hồn.(tr.331), và cho rằng hai nhà văn này thấm đẫm “tâm trạng hoài nghi tồn tại”, và đó là “cảm quan hậu hiện đại” (tr.337), từ đó cho rằng văn chương Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài có dấu hiệu Hậu hiện đại. Tôi nghĩ rằng Lã Nguyên nên đọc lại Jean-François Lyotard khi vận dụng cái gọi là “tâm thức hậu hiện đại”.

Xét đến cùng, Phê bình Thi pháp học, phê bình Ký hiệu học cũng chỉ là phương pháp công cụ, nghiêng về nghiên cứu vỏ chữ của tác phẩm. Vấn đề là nhà phê bình biết dùng công cụ nào (trong các phương pháp phê bình) thích hợp để có thể khám phá được chân lý của vấn đề. Dùng Thi pháp học, Ký hiệu học để chẻ sợi tóc ngôn ngữ làm tư, làm tám, thì mãi mãi cũng không thể tìm thấy giá trị của văn chương. Tuyệt đối hóa một công cụ không phải là giải pháp khoa học.

Tôi dẫn 2 cuốn sách đáng quan tâm để thấy rằng năm 2018 nhận định của nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam dù là một cách diễn ngôn có ý nghĩa chính trị, song không phải là không khả tín: “Nhìn chung bức tranh văn học 2018 phát triển toàn diện”; “Chúng ta có cả một vườn sản phẩm được gọi là văn hóa nhưng thực chất văn hóa được bao nhiêu?

VẪN CHƯA HẾT CHUYỆN LÙM XÙM 

Chuyện lùm xùm là ở Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh sau khi công bố kết quả Giải thuởng Văn học năm 2017.

Ngày 18-1-2018, Ban Chấp hành Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh đã họp đột xuất để xem xét xử lý vụ việc phát sinh.  Hội đồng chung khảo nhận sai sót khi xét giải hai tác phẩm: Thơ trắng và Nghi lễ của ánh sáng mà không thông qua Hội đồng Thơ (mặc dù sau đó có họp lại với Hội đồng Thơ). Về nghi án đạo thơ, bài thơ Khúc dịu dàng nắng gió cao nguyên (không có trong tập Những ký âm ngân) của Nguyễn Thị Thanh Long có nhiều câu thơ, đoạn thơ giống hệt bài Khúc thiếu phụ của Thy Minh. Ban Chấp hành kết luận: Đây là việc làm sai trái, nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Long cần rút kinh nghiệm nghiêm khắc. Ban Chấp hành chấp thuận đơn xin rút khỏi tặng thưởng của 2 tác giả: La Mai Thi Gia và Nguyễn Thị Thanh Long.

Hóa ra cả Nguyễn Thị Thanh Long và Thy Minh đều sử dụng bài thơ “Người đàn bà thơ” của nhà thơ Nguyễn Vĩnh, hội viên hội Liên hiệp VHNT tỉnh Phú Thọ. Ông đã tặng bản quyền “toàn quyền sử dụng” bài thơ cho cả hai người! Và hai “nhà thơ” Nguyễn Thị Thanh Long và Thy Minh đã chiếm làm thơ của mình [5]. Thật đáng buồn khi một hội văn chương lại dung nạp những cây bút kém cỏi cả về tài năng và nhân cách như vậy. Bởi nhà văn là người đại diện cho trí tuệ, tài năng và nhân cách.

Vào đầu tháng 4. 2018, nhà thơ Phan Hoàng, Phó chủ tịch thường trực Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh khóa 7 (2015 – 2020), Chủ tịch Hội đồng Thơ, đã viết trên trang Facebook cá nhân, bài “Ngộ độc thơ”. Bài viết bị cộng đống mạng phản ứng dữ dội. Họ cho rằng nhà thơ Phan Hoàng đã xúc phạm những người làm thơ trên Facebook. Ngày 23/4/2018, Ban Chấp hành Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh đã có cuộc họp khẩn và ra quyết định đồng ý để ông Phan Hoàng từ nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng Thơ, và rút khỏi Hội đồng Thơ. Ông Phan Hoàng cũng nhận ra sai sót đồng thời có lời xin lỗi cộng đồng mạng. Tôi nghĩ, coi thường công chúng thì nhất định sẽ bị trừng phạt! Bởi vì “sự nghiệp cách mạng là của quần chúng”.

Trong số 50 báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) ra ngày 16-12-2017, ban Biên tập đã cho đăng truyện ngắn Bắt đầu và kết thúc của tác giả Trần Quỳnh Nga. Sau khi báo phát hành, có nhiều ý kiến bình luận gay gắt về nội dung truyện ngắn này. Ngày 19-01-2018, Ban Sáng tác Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức một buổi thảo luận để lắng nghe ý kiến của các nhà văn, nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học về truyện ngắn này. Buổi thảo luận Có sự hiện diện của GS-TS Trần Đình Sử, PGS-TS Trịnh Bá Đĩnh, nhà văn Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Văn Thọ, Lê Minh Khuê, Văn Chinh, Trần Bảo Hưng, Khuất Quang Thụy, cùng các Ủy viên Ban Chấp hành: nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều PCT, nhà thơ Trần Đăng Khoa, PCT, trưởng Ban sáng tác…

Đây là ý kiến của nhà văn Hoàng Quốc Hải: Một người tiếp tay cho giặc, làm nguy thế nước như vậy, sao lại gọi là có công được.Trên thực tế vấn đề nhân vật lịch sử Trần Ích Tắc đã được lịch sử liệt hạng phản quốc một cách ổn định, không còn gì ẩn khuất mà phải giải mã. Cũng không có ai tôn vinh nhân vật này hoặc đưa y vào điện thần mà phải giải thiêng, giải ảo. Vậy tại sao truyện lại viết Trần Ích Tắc như một người có công với nước vậy?”[6]

Đây là “Lời cáo lỗi” của báo Văn nghệ: “Ban Biên tập báo Văn nghệ đã tiếp thu ý kiến của cuộc thảo luận một cách cầu thị, chân thành và nhận thấy rằng: Việc cho in truyện ngắn này là một khuyết điểm gây ra những bất lợi về nhiều mặt. Nguyên nhân chủ yếu của sự cố đáng tiếc này là do nhận thức và trình độ của biên tập viên còn bất cập, cách làm việc vội vã, cân nhắc thiếu thận trọng, thiếu nhạy bén, để lại những hậu quả ngoài mong muốn. Sự phê bình, nhắc nhở của dư luận là cần thiết không những cho công tác biên tập mà cả cho tác giả. Chúng tôi sẽ nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm tập thể, cá nhân và xem xét lại quy trình làm báo để tránh những sai sót đáng tiếc lặp lại trong tương lai… Thay mặt Ban Biên tập, Tổng Biên tập báo Văn nghệ xin chân thành xin lỗi bạn đọc vì đã cho in truyện ngắn này và xin hứa nâng cao hơn nữa trách nhiệm của mình, tập trung mọi cố gắng nâng cao chất lượng của tờ báo, phục vụ bạn đọc ngày càng tốt hơn.”[7] Tôi nghĩ việc xử lý như vậy là phải lẽ.

Tiểu thuyết lịch sử Chim ưng và chàng đan sọt của Bùi Việt Sỹ, tác phẩm đoạt giải C Sách hay giải thưởng Sách quốc gia bị mạng xã hội chê là có nhiều chi tiết tả cảnh sex của nhân vật Trần Khánh Dư khá thô tục. Nhà văn Bùi Việt Sỹ, 72 tuổi thì cho rằng: “Có một chiến dịch bôi nhọ tôi vì tôi được giải. Tôi được giải của Hội Nhà văn, giờ lại còn được giải thưởng sách quốc gia nữa nên nó mới đánh”. Nhà văn Nguyễn Phan Hách, trưởng tiểu ban sách văn học thuộc hội đồng giám khảo Giải thưởng sách hay quốc gia 2018 bày tỏ: “Tôi biết có những ý kiến nói rằng sách có trang tả sex thô tục của Trần Khánh Dư. Nhưng ông Trần Khánh Dư ngoài đời cũng rất phóng túng, không theo khuôn phép. Nếu văn học mà khuôn phép quá, xét nét quá thì sẽ tự ràng buộc mình, khiến tiểu thuyết không còn hấp dẫn, sinh động. Tuy nhiên đúng là dù ông Trần Khánh Dư có phóng túng đến đâu, nhưng viết về các anh hùng lịch sử mà có những chi tiết sex quá cũng không thích hợp. Dù vậy cũng không nên vì những chi tiết đó mà ảnh hưởng đến toàn cuốn sách”; Bây giờ sự việc đã xảy ra, tôi thấy rất khó nói, nếu bênh vực thì không được, còn nếu nói không có vấn đề gì thì vô trách nhiệm… Cuốn sách này không có chi tiết nào sai chính trị cả. Những chi tiết sex này phải chăng có thể bỏ quá được không?[8]

Đã có quá nhiều sách văn học miêu tả “sex bẩn”(miêu tả sex bản năng nhằm mục đích khiêu dâm) trên văn chương thị trường bị công chúng phản đối quyết liệt. Phải chăng nhà văn miêu tả sex bẩn là để cầu danh? Và nếu có chút danh, thì cũng là “danh bẩn”. Không thể nói như ông Nguyễn Phan Hách rằng: “Cuốn sách này không có chi tiết nào sai chính trị cả. Những chi tiết sex này phải chăng có thể bỏ quá được không?” Ông chẳng hiểu gì về mối quan hệ giữa văn chương và văn hóa cả!

CÓ NHỮNG NIỀM VUI

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều được trao Giải thưởng văn học quốc tế Hàn Quốc (Changwon KC international literary Prize) năm 2018. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều là người giúp quảng bá và đưa văn học Hàn Quốc đến Việt Nam. Ông đã giới thiệu 5 tác giả Hàn Quốc tại Việt Nam và góp phần đưa 2 nền văn học có dịp giao lưu, học hỏi lẫn nhau trên nhiều phương diện. Giải thưởng văn học Hàn Quốc Changwon  chỉ được trao cho những nhà văn có độ tuổi 50 – 65 với những cống hiến, đóng góp sáng tạo văn học nghệ thuật không chỉ trong nước mà còn ngoài nước. Ngoài tác phẩm được dịch sang tiếng Hàn thì tác giả dự giải cũng phải có tác phẩm được dịch sang tiếng Anh. Tôi nghĩ giải thưởng này có ý nghĩa chính trị, ngoại giao nhiều hơn là sự tôn vinh giá trị nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều.

Phiên bản tiếng Đức tác phẩm “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư đã vượt qua nhiều tác phẩm của 8 tác giả nữ quốc tế để chiến thắng giải Literaturpreis 2018. Cánh đồng bất tận do giáo sư Gunter Giesenfeld, nhà giáo Marianne Ngo chuyển ngữ sang tiếng Đức. Cánh đồng bất tận (Endlose Felder) của Nguyễn Ngọc Tư đã vượt qua những tác phẩm của các ứng viên sáng giá khác như Han Kang (Hàn Quốc), Ayelet Gundar-Goshen (Israel), Nona Fernández (Chile), Shumona Sinha (Ấn Độ)…Đây là giải thưởng do Litprom, Hiệp hội quảng bá văn học châu Á, châu Phi và Mỹ Latin ở Frankfurt (Đức), bình chọn. Giải thưởng Literaturpreis dành cho các tác giả nữ đến từ châu Á, Phi, Mỹ Latin, Thế giới Ả Rập và vùng Caribe. Giải thưởng đã được hình thành từ 30 năm qua. [9] Năm 2018, Nguyễn Ngọc Tư cũng in tập truyện ngắn “Cố định một đám mây” gồm 10 truyện mới. Nói về giải thưởng, Nguyễn Ngọc Tư cho rằng: Giải thưởng nào cũng là của ngày hôm qua. Ngày mai tôi là một kẻ tay trắng, nếu không viết thứ gì mới”; Trả lời câu hỏi “điều đáng sợ nhất của một người cầm bút là gì? Nguyễn Ngọc Tư nói: Lười, ngủ quên với vinh quang (đôi lúc vinh quang ấy là ảo tưởng của con ếch ngồi trong giếng). Tôi cũng sợ những nhà văn tự hào về những thứ không thuộc về văn chương”. Tôi nghĩ, Nguyễn Ngọc Tư đã đi rất xa sau Cánh đồng bất tận rồi, Nguyễn Ngọc Tư xác nhận: “Tôi nghĩ mình đã đi ngay ấy chứ, từ Gió lẻ.”Quả là niềm vui khi một nhà văn luôn băng mình về phía trước trên con đường sáng tạo. Có vậy, văn chương Việt mới có hy vọng.

Lâu nay người ta lo ngại về lực lượng viết phê bình. Nhà thơ Vũ Quần Phương lại kể chuyện vui: Về phê bình lý luận thơ. Chuyện này cũng nhiều lý thú. Các thày ở trường bồi dưỡng viết văn thường có nhận xét nghe vui, nhưng không biết có là thật không: Năm đầu vào học nhiều em chọn bộ môn thơ. Năm thứ hai một số chuyển sang văn xuôi. Năm cuối xem chừng gần hết cả lớp đều muốn trở thành nhà phê bình. Không biết có phải vì tâm lý ấy mà các nhà phê bình thơ và các bài phê bình thơ cứ phát triển đều đặn. Giọng điệu phê bình chung là biểu dương, ca ngợi, có khi ca ngợi đến hêt lời. Thi hữu thi huynh đôi bên đều vui chỉ có bạn đọc là hoang mang, rồi nghi ngờ, rồi tự bảo vệ mình là không đọc nữa. Thế là cả phê bình thơ lẫn thơ đều mất khách”(Thơ, những vấn đề hôm nay)[10].

Nhà thơ Vũ Quần Phương nói vui về một câu chuyện buồn, còn nhà phê bình Hoàng Thụy Anh lại điểm danh được nhiều nhà phê bình trẻ các tỉnh phía bắc trung bộ. Và văn chương Việt có quyền hy vọng. Thanh Hóa có: Hoàng Tuấn Phổ, Nguyễn Xuân Dương, Lưu Đức Hạnh, Nguyễn Mạnh Hùng, Hỏa Diệu Thúy, Hoàng Tuấn Công, Thy Lan và Nguyễn Thanh Tâm… Ở Nghệ An có Đặng Lưu, Phan Huy Dũng, Đinh Trí Dũng, Phạm Tuấn Vũ,  Lê Hồ Quang, Nguyễn Duy Bình, Lê Thanh Nga. Hà Tĩnh có Nguyễn Thị Nguyệt và Nguyễn Thanh Truyền. Quảng Bình có Mai Thị Liên Giang, Dương Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Nga, Hoàng Đăng Khoa, Hoàng Thụy Anh, Lê Hương. Quảng Trị có Bùi Như Hải và Nguyễn Thái Hoàng. có thể kể đến Nguyễn Thị Tịnh Thy, Trần Huyền Sâm, Hoàng Thị Huế, Nguyễn Văn Thuấn, Thái Phan Vàng Anh, Nguyễn Văn Hùng, Phan Trọng Hoàng Linh, Phan Tuấn Anh, Lê Thị Diễm Hằng, Thanh Tâm A…[11] Quả là một lực lượng đông đảo.

Mới chỉ các tỉnh phía bắc Trung bộ đã có 35 nhà phê bình trẻ được điểm danh, và trong số họ, đã có nhiều người tự khẳng định tên tuổi. Tôi thấy những khuôn mặt sáng giá như Hoàng Thụy Anh, Trần Huyền Sâm (TS, Đại học Huế), Hoàng Đăng Khoa, Thanh Tâm Nguyễn (TS, Đại học Huế), Nguyễn Thanh Tâm (TS, Viện Văn học), cùng với những người viết phê bình trẻ trước đây như Trần Ngọc Hiếu (TS), Trần Thiện Khanh (TS), Mai Anh Tuấn, Phan Tuấn Anh, Đoàn Minh Tâm, Ngô Hương Giang,…(xin lỗi tôi đã không biết rõ chức danh xã hội của các tác giả) đã hình thành một lực lượng hùng hậu đầy triển vọng. Trước đó, Hội nghị “Những người trẻ viết về lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật” khu vực phía bắc, do Hội đồng Lý luận, phê bình VHNT T.Ư tổ chức ngày 5-8-2015 tại Hà Nội mới điểm danh có 50 đại biểu, và trong bài viết “Phê bình văn học trẻ thiếu và yếu: Tại sao?” ngày 30/12/2016 trên Quân đội nhân dân [12], TS Nguyễn Thanh Tâm đã báo động tình trạng yếu và thiếu của phê bình văn học trẻ, cả về lực lượng, phương pháp phê bình, tính chuyên nghiệp…

Vậy mà, đến năm 2018, những khuôn mặt trẻ đả tỏa sáng nhiều, hẳn nhiên đó là một niềm vui.

Thực ra đó là niềm vui không trọn vẹn, vì yếu tố trung tâm của văn học là tác phẩm văn chương. Năm 2018 không có tác phẩm nào gây được ấn tượng. Giải thưởng Văn học tuổi 20 (lần thứ 6) không có giải Nhất. 2 tác phẩm đoạt giả nhì là “Wittgenstein của Thiên đường đen”  của Maik Cây, “Người lạ” của  Mai Thảo Yên. Tôi chưa rõ giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam sẽ vinh danh những tác giả nào, nhưng tình hình chung trên văn đàn năm qua khá yên ắng. Tiểu thuyết “Tuổi 20 yêu dấu” của Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp được in trong nước không tạo được cơn sốt, dù rằng cuốn sách này đã được in ở Pháp trước đó 13 năm. Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn được yêu mến, nhưng cuốn Cố định một đám mây Nguyễn Ngọc Tư in 2018 cũng không gây ra một hiện tượng phát hành nào trong năm. Tôi suy gẫm điều này, ngoài Nguyễn Nhật Ánh vẫn giữ được phong độ (cuốn Cám ơn người lớn in  150.000 bản), hình như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư và nhiều nhà văn nổi tiếng một thời… đã thành những thần tượng cũ để chiêm ngắm. Công chúng cần những thần tượng mới để xốc văn học Việt Nam đi về phía trước.

Văn chương 2018 – lặng lẽ ươm mầm.

Tháng 12.2018

__________

[1] http://vanvn.net/tin-tuc/hoi-nghi-cong-tac-van-hoc-nam-2018/2043

[2]http://vanvn.net/thoi-su-van-hoc-nghe-thuat/hoi-thao-khoa-hoc-toan-quoc-%E2%80%9Cnhin-lai-qua-trinh-xa-hoi-hoa-cac-hoat-dong-vhnt-o-viet-nam-tu-khi-ban-hanh-chu-truong-den-nay%E2%80%9D/2051

[3] Bản in Phê bình ký hiệu họcĐọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ (Nxb Phụ nữ 2018) có 14 tiểu luận. Bản công bố trên vandoanviet.blogspot.com có 22 tiểu luận…

[4] http://vanhoanghean.com.vn/component/k2/thao-luan-1955-ve-tap-tho-viet-bac-phan-vii

[5] http://nld.com.vn/van-nghe/bi-hai-kich-nghi-an-dao-tho-20180118160702329.htm

[6] http://trannhuong.net/tin-tuc-53141/ve-truyen-%E2%80%9Cbat-dau-va-ket-thuc%E2%80%9D.vhtm

[7] http://xuandienhannom.blogspot.com/2018/01/bao-van-nghe-xin-loi-ve-viec-in-truyen.html

[8] https://tuoitre.vn/chim-ung-va-chang-dan-sot-co-nhieu-chi-tiet-sex-tho-tuc-20180423173113284.htm

[9] http://phunuvietnam.vn/giai-tri/nha-van-nguyen-ngoc-tu-nha-tho-nguyen-quang-thieu-doat-giai-van-hoc-quoc-te-post45650.html

[10] http://vanvn.net/tac-pham-chon-loc/thonhung-van-de-hom-nay-/1539

[11] http://vanvn.net/ong-kinh-phe-binh/phe-binh-van-hoc-tre-bac-mien-trung-tren-nen-phe-binh-ca-nuoc-hien-nay-/1737

[12] http://www.qdnd.vn/van-hoa-giao-duc/van-hoc-nghe-thuat/phe-binh-van-hoc-tre-thieu-va-yeu-tai-sao-496289

 

 

 

 

HỘI NGHỊ CÔNG TÁC VĂN HỌC 2018

 

 

 

HỘI NGHỊ CÔNG TÁC VĂN HỌC 2018

Ghi nhanh

Bùi Công Thuấn

56013abe29a8caf693b9

(Từ trái qua: Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà văn. Hai PCT là nhà văn Nguyễn Trí Huân và nhà thơ Nguyễn Quang Thiều)

Sáng 14-12-2018, tại Bảo tàng Văn học Việt Nam (Hà Nội), Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Hội nghị công tác văn học năm 2018.

Có đông đủ các nhà thơ nhà văn Ban Chấp hành và thành viên các Hội đồng chuyên môn của Hội Nhà văn tham dự (Hội đồng lý luận phê bình, Hội đồng thơ, hội đồng văn xuôi, hội đồng văn học dịch và các Ban chuyên đề, cùng đại biểu các Chi hội, Liên Chi hội trực thuộc Hội Nhà văn Việt Nam).

Hội nghị bàn hai nội dung: Kiểm điểm công tác văn học 2018 và kế hoạch công tác văn học 2019-2020. Nhà thơ Hữu Thỉnh chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam trình bày vấn đề.

1. Năm 2018 có đặc điểm rất lớn, rất vui. Nghị quyết ĐH XII được đưa vào cuộc sống có nhiều thành tựu. 12/12 chỉ tiêu hoàn thành. Việc xây dựng Đảng được đầy mạnh và quyết liệt, đạt hiệu quả hơn bao giờ. Công cuộc chống tiêu cực đạt kết quả tốt. Tổ chức thành công APEC 2017 đã nâng tầm quốc tế của Việt nam…Tất cả những mặt tiến bộ ấy đã tạo cảm hứng sáng tạo cho văn học.

Nhiệm vụ chính trị của Hội Nhà văn là đoàn kết để sáng tạo. Năm 2018 Ban Chấp hành HNV tập trung vào hai vấn đề: tập trung chiều sâu và nâng cao tính chuyên nghiệp. Tập trung đầu tư để có tác phẩm xứng đáng.

Văn học đã dự báo khá sớm vấn đề đạo đức xã hội. Cái xấu, cái ác đã cản trở sự nghiệp đổi mới. Văn học đã đi trước 10 năm, tiên phong góp phần dự báo. Đó là sự cống hiến quan trọng. Nhà văn gắn bó sâu sắc với đất nước, đặc biệt là góp phần xây dựng đạo đức xã hội.

Đã hình thành 5 thế hệ cầm bút. Mỗi thế hệ có đặc điểm riêng và cộng hưởng lẫn nhau.

Năm 2018 có nhiều tác phẩm viết về lịch sử, đặc biệt có những tác giả rất trẻ lại viết được những tác phẩm dày dặn.

Văn học cũng trở lại đề tài kháng chiến. Chẳng hạn, tác giả Trúc Phương, dù mắc bịnh ung thư nhưng vẫn viết được trường ca về mẹ gần 2000 trang và tiểu thuyết Nắng không phải chỉ có mặt trời gần 2000 trang về miền Nam sau tổng công kích Mậu Thân. Nghị lực sáng tạo thật đáng kính trọng.

Truyện ngắn cũng khởi sắc nhiều giọng điệu trẻ.

Thơ ngắn và trường ca xuất hiện nhiều. Có thể coi đây là mùa gặt thứ hai của trường ca với nhiều hướng tìm tòi sáng tạo.

Về lý luận phê bình, có tới hơn 30 tác phẩm tham dự giải thưởng HNV, nhiều nghiên cứu chuyên sâu, đó là biểu hiện phát triển.

Hội Nhà văn đã tổ chức nhiều hội thảo, chẳng hạn Hội thảo “Tác phẩm hay, giải pháp và đích đến” tổ chức ở Thái Nguyên. HNV có ba cuộc họp với Bộ Giáo dục-Đào tạo về  dạy văn trong nhà trường. Đây là sự vào cuộc đầy trách nhiệm. Chương trình mới hầu như vắng bóng các tác phẩm của giai đoạn kháng chiến. Nếu không có những cuộc hội thảo về soạn chương trình và sách giáo khoa thì tình hình không sáng sủa như bây giờ. Ngày 22.12 tới sẽ có hội nghị nữa. Vấn đề đặt ra như thế nào? Không phải chỉ có dạy văn, thi cử, mà còn cấu trúc nhiều vấn đề. Việc dạy văn là trung tâm xây dựng con người. Tương lai là ở đó. Đất nước phát triển là ở đó.

Hội Nhà văn cũng đã tổ chức kỷ niệm 100 năm Nguyễn Bính, 100 năm Nguyên Hồng, Lưu Quang Vũ..

Văn học dịch vẫn giữ được nhịp độ giao lưu với văn học thế giới.

Nhìn chung, bức tranh văn học phát triển khá toàn diện.

2.Về công tác xây dựng Hội Nhà văn. Nhìn chung tư tưởng của nhà văn ổn định. Tất cả tập trung vào nhiệm vụ nâng cao chất lượng sáng tác. Sự gắn bó của nhà văn với đất nước đầy trách nhiệm.

Về xây dựng Hội, tiếp tục xác định Hội Nhà văn Việt Nam là một tổ chức chính trị-xã hội- nghề nghiệp. Tiếp tục tổ chức các chi hội. Gỉai quyết nhà ở cho nhà văn khó khăn.

Ban Chấp hành họp thường kỳ 6 tháng. Thường trực BCH sinh hoạt thường xuyên, công khai, tập thể bàn bạc quyết định.

Hội đã tổ chức thành công Ngày Thơ Việt Nam. Tổ chức thành công giải thưởng văn học sông Mê Kông. Công tác đối ngoại tốt đẹp.

3.Các hoạt động của cơ quan cấp hai của Hội cũng đạt những thành tựu. Tạp chí Thơ, tạp chí Nhà văn và tác phẩm, tạp chí Hồn Việt đã đề cập đến những vấn đề chuyên sâu. Trung tâm đào tạo Nguyễn Du phát triển tốt. Năm nay có lớp quy tụ 150 học viên trong cả nước về học. Các ban chuyên ngành của Hội cũng họat động tích cực…

c1965aa648b0abeef2a1

(Đoàn các nhà văn phía nam: Vũ Hồng (Bến Tre), Thạch Thảo (Phú yên), Đặng Nguyệt Anh, Nguyễn Minh Ngọc (Sài Gòn), Lê Thanh My (An Giang), Nguyễn Vũ Tiềm (Sài Gòn), BCT và Nguyễn Hữu Nhơn (Đồng Tháp)

4.Những mặt còn yếu kém. Thị trường văn học ngày càng thu hẹp. Nhiều nhà văn in sách chỉ để tặng. Chất lượng các cơ quan báo chí, nhà xuất bản của Hội còn hạn chế về cán bộ biên tập, đội ngũ lao động. Việc xã hội hóa nhà văn, việc dịch và giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài chưa làm được nhiều…

5.Những công việc của năm 2019-2020 chuẩn bị cho Đại hội X Hội Nhà văn Việt Nam.

Tư tưởng chủ đạo là nâng cao chất lượng sáng tác ở các khâu: sáng tác, quảng bá và xét tặng giải thưởng. Hoàn thành cuộc thi tiểu thuyết. Đến nay đã có 150 cuốn tiểu thuyết tham gia. Tổ chức các hội nghị quảng bá tác phẩm, để gặp gỡ “cái mình cần và cái họ thích”. Tổ chức bộ máy tinh gọn. Và chuẩn bị cho Đại hội X.

6.Về xét kết nạp hội viên. Bảo lưu các trường hợp năm ngoái đã được các hội đồng chuyên môn đề xuất. Xét kết nạp khoảng 20 đến 25 hội viên mới theo hướng nâng cao chất lượng (hiện có khoảng 700 hồ sơ xin vào Hội Nhà văn).

Buổi sáng có phái đòan nhà văn Rumani đến thăm hội nghị.

7.Buổi chiều, các Hội đồng chuyên môn làm việc. Ban Chấp hành Hội Nhà Văn cử các ủy viên cùng với ủy viên Ban Thanh tra của Hội tham gia họp với các hội đồng. Tinh thần làm việc dân chủ và nghiêm túc.

22af4ee55cf3bfade6e2

Đoàn nhà văn Rumani ghé thăm. (Nhà văn Phạm Viết Đào phiên dịch)

___________

 

 

VĂN CHƯƠNG ĐỒNG NAI

 

 

Sách 5

NGƯỜI CHỢ KỆ & CÁ TÍNH SÁNG TẠO

(Đọc Người Chợ Kệ, tập truyện ngắn của Dương Đức Khánh. Nxb HNV 2018)

 

Bùi Công Thuấn

 

Truyện ngắn của Dương Đức Khách cuốn hút người đọc ở cá tính sáng tạo độc đáo, điều này không phải nhà văn nào cũng có được ngay từ tác phẩm đầu tiên. Tập truyện Người Chợ Kệ chứa đựng đầy đủ những nét riêng của ngòi bút Dương Đức Khánh. Vì thế, đọc truyện ngắn Dương Đức Khánh vừa có cái thú của những câu chuyện hay, vừa có cái khoái cảm khám phá con đường sáng tạo của nhà văn.

NGƯỜI CHỢ KỆ

Sông Bồ là một con sông nhỏ phía bắc thành phố Huế, một phụ lưu của sông Hương. Chợ Kệ là tên người ta đặt cho một cái chợ ở làng Thanh, một ngôi làng ven sông Bồ. Bối cảnh truyện là những năm chiến tranh: từ những năm 1969-1970 (truyện Võ Thần) đến năm 1973, rồi di tản và Giải phóng 1975 (Hoa mai bảy cánh) và những năm sau đó… Đó là những câu chuyện ở một vùng quê có tới “70% gia đình xếp loại ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” (tr.25), “Rất nhiều nhà có người tham gia cả hai bên”(tr.24). “ban ngày lính tráng đầy đường nhưng đêm nào Việt Cộng cũng về làng như đi chợ” (tr.55). Cái thời mà “người làng chết bom chết đạn không kể hết” (Một ngày tao loạn-tr.87).

Người Chợ Kệ là những con người có “bản chất xuề xòa, nhân hậu của những lớp người quê bao đời nghèo khó” (tr.8). Các nhân vật đều là những người quen, người thân, người trong gia đình của tác giả. Đó là những người bạn thời trẻ con như: Cu Đen, Cu Lãng. Những người trong gia tộc: “Nội tôi có ba người con trai. Bác Trực đi tập kết từ hồi năm tư. Cha tôi theo du kích được mấy tháng thì hy sinh ngay tại làng. Chú Cương con út nên mệ nội coi như cục vàng”(tr.53). Cậu Tôn Thất Triêm là em kế mạ tôi, và dì Khuê. Dân làng có Mụ Thợ Rèn, Chú Tùy Say, Chú Đún “chủ soái” môn võ phái Thần Quyền”, thương binh Trần Khỉ, Ông Bùi Còm thợ may, bác Bốn Cụt thợ gò thiếc, Chú Lặn thợ cắt tóc, anh Ích thợ chụp ảnh; Chú Sanh xóm Hói, theo Việt Cộng bị sát hại phơi xác ở ngã ba đường (tr. 94) Anh Bảy Đòn Gánh là Phó trưởng ấp Rạch Tre kiêm công an những năm 1979-1980…

Dương Đức Khánh không ca ngợi kỳ tích của chủ nghĩa anh hùng cách mạng như truyện thời kháng chiến, mà chọn những con người có cá tính, có hành động khác người, có những số phận góc cạnh. Không miêu tả những trận đánh long trời lở đất hay những mất mát hy sinh núi xương sông máu mà chọn những chuyệt “tào lao xit bộp” (tr. 19), những chuyện “trạng” (tr.23) trong nhân dân, những chuyện khi “Tản cư tản cối giặc giã sống rày chết mai, vậy mà nhớ nhiều chuyện vui đáo để” (tr.71), cả chuyện “cười nôn ruột” khi lính Mỹ đi càn, cầm lựu đạn dứ dứ trên miệng hầm (tr.90).

Nhân vật Trần Khỉ, thương binh chiến trường K, có nhiều“trò khỉ”. “Từ hồi nhỏ anh ta đã loi choi như ‘khỉ mắc phong’, lí lắc, phá phách cả nhà kêu trời. Càng lớn lên càng ‘khỉ’, nghich ngợm, lém lỉnh đủ trò. Tới lớn tồng ngồng tật khỉ vẫn không bỏ. Năm 18 tuổi Trần Khỉ đăng ký đi nghĩa vụ, trước khi lên đường, anh Khỉ bày ‘trò khỉ’ cho đám con nít…”(tr.37). Nhưng Trần Khỉ cũng đầy tình nghĩa với đồng đội. Anh xin tía anh đất làm lán trại, và đưa đồng đội thương binh về sản xuất tranh kiếm sống, tình thân như ruột thịt. Nhân vật Cu Lãng (Một ngày tao loạn), năm tám tuổi chết hụt bởi một loạt tiếng nổ “trời giáng”, từ đó mắc chứng “lãng tai”.”Suốt tuổi thơ …đầy dẫy những trận hú hồn hú vía, những điều kỳ lạ…”. Chú Cương (Người thợ mã), đẹp trai tốt tướng, mặt mũi tướng mạo phải là quan hàng tá hàng tướng (tr. 53) Vậy mà chú rớt Tú Tài, mệ gửi chú vô lực lượng nghĩa quân, rồi sang lực lượng xây dựng để khỏi bị bắt quân dịch. Cuộc đời chú lăn đi giữa giòng chảy cuồn cuộn của thời cuộc với những tình huống vừa quyệt liệt vừa không nhịn được cười. Ngày Giải phóng sắp đến, người ta bỏ chạy, chú cũng di tản. Bọn lính rã ngũ tưởng chú là trung úy, chúng thoi cho mấy cái rồi bỏ đi. Giải phóng về, nhìn tướng chú hàng tướng tá, người ta cho chú đi cải tạo theo diện sĩ quan. Bác Trực đi tập kết về, hỏi thằng Cương đâu. Khi đi qua chỗ tiệm ảnh, nơi ấy còn chưng ảnh chân dung của chú được phóng ra để quảng cáo, người lính cận vệ nói: đồng chí ấy phải làm cấp “trung ương”. Nghe vậy bác Trực có vẻ giận dữ… Thế nghĩa là, cả hai phía đều coi chú là thành phần sĩ quan, tướng tá, tức là đối tượng quan trọng đứng về phía kẻ thù. Với cái nhìn ấy, người ta đã hành khổ chú, trong khi chú chỉ là người dân “xuề xòa, nhân hậu”.Thật là một số phận hài hước giữa thời cuộc của chiến tranh khốc liệt.

Nơi làng quê của Dương Đức Khánh, “nhân vật hài” có cả trẻ con, phụ nữ và lính Mỹ. Dương Đức Khánh tạo được một thế giới những chuyện cười giàu màu sắc thẩm mỹ. Mụ Thợ Rèn (Người Chợ Kệ) là một tính cách mạnh mẽ độc đáo. Mụ đỡ đẻ cho người đàn bà làng Hạ sinh con giữa chợ, bất chấp người đời ác mồm ác miệng. Làm nghề thợ rèn, mụ ngồi trên sạp tre cao nghệu, lừng lững như một nữ tướng, hai cánh tay phì phụt hai ống bễ đen xì như hai nòng đại bác. Khi miếng sắt chín đỏ, mụ nhảy xuống thủ búa tạ, giáng huỳnh huỵch mấy chục búa rung rinh, đàn ông sức vóc cũng phải ngán. Mụ có máu mê coi đua ghe. “Bận nọ ở bến Lở làng Hạ Lang, mụ say sưa hò hát, khum lên khum xuống một hồi, cái quần lĩnh lưng vận sũng nước, tuột luốt! Mụ mặc kệ! Nước sông Bồ thì trong leo lẻo. Đàn ông đứng trên bờ vừa la vừa cười hô hố! Mụ cứ tát, cứ hô cho tới khi ghe làng qua khỏi, mụ quăng theo luôn cái nón móp méo tơi tả rồi mới thủng thẳng, kéo quần lên!...”(tr.10)

Chuyện của Cu Đen, thiếu niên dũng cảm, cũng nhiều tình huống buồn cười. Thời còn là những đứa trẻ nghịch ngợm, có lần tác giả và Cu Đen xuống hầm rác Mỹ lượm đồ ăn. Hai đứa đang say sưa với những kẹo bánh, thuốc lá, xúc xích… thì đất ở đâu ập xuống. Chết rồi! Người ta lấp hầm rác. Trên miệng hầm là hai thằng lính Mỹ. Chúng la lên: Vi-xi, Vi-xi!…Cu Đen phóc lên cái vụt như con sóc dong hai tay: “No, no, nô Vi-xi, nô Vi-xi…lượm bánh lượm kẹo! Ô-kê ô kê!”” (tr.104). Khi hiểu ra không phải Vi-xi, những kẻ ở dưới hầm rác kia chỉ là hai đứa trẻ, tên lính Mỹ làm dấu hiệu bảo đừng lượm rác. May mà hai tên lính không mang súng. Nếu chúng có súng thì cả hai thằng nhóc đi chầu ông bà rồi! Đó là một tình huống chết người. Tình huống ấy bất ngờ lại chuyển thành một tình huống hài. Một lần khác tác giả và Cu Đen đêm khuya leo rào qua vườn mụ Cửu (tr. 109), định ăn cắp cam quýt. Có tiếng róc róc như tiếng lên quy lát súng lục. Mệ Cửu có con là Chú Đương, trung úy cảnh sát dã chiến đóng ngoài Phò Trạch. Hình như chú Đương đang ở trong nhà. Hai đứa nghĩ, phen này sẽ chấm dứt mọi ước mơ vì chú Đương là một tay thiện xạ. Chúng nằm im. Khi gà gáy giục trời sáng, có tiếng xe Gobel của Chú Đương rời nhà đi. Hai đứa thoát nạn. Bốn chục năm sau (tr.112) gặp lại Chú Đương, nghe kể chuyện, chú mới té ngửa là đêm ấy không phải Việt Cộng rình nhà chú mà là hai thằng “lục lăng trái ấu” trộm vặt. Cũng lại là một tình huống “chết người” trở thành tình huống hài.

Đêm trên cứ Ti-bon núi Mệ bị pháo quân giải phóng tấn công. Cả trái núi đỏ lựng như hòn than khổng lồ. Mờ sáng…một tốp lính Mỹ te tua sơ mướp bị đẩy xuống từ một chiếc trực thăng, chúng kéo nhau vô náu ở một nhà thờ hoang (tr.13). Có một thằng Mỹ say, tên là To-ny-Phớt, mặt mũi lơ láo, thường lang thang dọc đường làng, nghêu ngao những bài hát tiếng Việt. Bọn trẻ quen mặt và Chú Tùy Say cũng quen với hắn, vì cả hai đều là bợm rượu. Phớt được chú Tùy giới thiệu là dân Chợ Kệ vì biết uống rượu Hương Cần, biết hò giã gạo, và được Mụ Lé thưởng bánh tét. Và cứ chiều nào chú Tùy gặp thằng Phớt là bọn trẻ lại được xem một chương trình hò vè tạp lục khỏi mua vé. Có lần chú dạy nó hát:” Hò hô…Đáo tới nơi đây/ đất nước lạ lùng / nghe con chim kêu tui cũng sợ/ gặp con cá vẫy vùng run ví cũng… ờ run”. Nghe thằng Phới hò cả chợ cười cái rần. Chú còn rủ thằng Phớt chơi đua ghe. Phớt cặp đôi với chú Tùy. Đến vòng thứ nhì thì hắn đuối. Rồi ghe lật, thằng Phớt bị chìm, nó bị bỏ lại. Lát sau nó bơi vào bờ. Tác giả kết truyện: “Thằng Phớt bỏ cuộc, tất nhiên! Nhưng chú Tùy lại thành công thêm một mẻ gây cười cho cả làng” (tr.19)

Miêu tả những tình huống “gây cười” như thế là một nét đặc sắc ngòi bút của Dương Đức Khánh. Tuy chỉ để gây cười, và câu chuyện của thằng Phớt được kể như đùa, nhưng lại chứa đựng những ý nghĩa sâu xa, thú vị.

Bên dưới những chuyện “tào lao xịt bộp” của người Chợ Kệ, người đọc nhận ra những phẩm chất rất đẹp của một dân tộc. Nơi đây có người hy sinh cho cách mạng, có người tập kết từ 1954 (Cha và bác Trực, người thân của tác giả), người dân bao lần phải chịu những trận càn của cả giặc Pháp, giặc Mỹ khốn đốn trăm chiều. Trần Khỉ làm nhiều “trò khỉ” nhưng lối sống nghĩa tình của Trần Khỉ (Họa sĩ làng) lại là tấm gương rất đáng ngưỡng mộ.  Người Chợ Kệ dù đứng bên này hay theo bên kia (Hình nhân thế mạng) đều coi nhau như ruột thịt và hết sức giữ gìn để không ai bị tổn thương. Đó là tình làng nghĩa xóm bao đời của cha ông. Trong những lúc tao loạn, người Chợ Kệ vẫn rạch ròi đúng sai và hành xử chuẩn mực. Ấy là, sau giải phóng, cậu Triêm về trình diện chính quyền Cách mạng (Hoa mai bảy cánh). Chú Bơi xã đội trưởng nói: “Anh là sĩ quan, từng là phó chi khu! Răng tới chừ mới ra trình diện”. Cậu đưa tờ báo đăng tội trạng “chống Mỹ” của cậu và giấy xác nhận tham gia đội chiếu bóng phục vụ cách mạng, Chú Bơi gật gù  rồi vỗ vai cậu: “Thôi, anh cứ yên tâm về nhà cho bác mừng. Sáng mai ra trình diện, chúng tôi sẽ giải quyết sau” (tr.126). Người Chợ kệ còn có sinh hoạt cộng đồng sôi nổi trong các cuộc đua ghe, trong các lễ hội. Và dù vui chơi, người Chợ Kệ luôn có ý thức chính trị rất cao. Chú Tùy Say tuy nát rượu nhưng biết dạy thằng Mỹ Phớt bài học thua cuộc trong một bài hát và cả trong cuộc đua ghe.  Chuyện Chú Cương, trong ngày trẩy hội Điện Hòn Bát, cho nổ tung “một cái tháp màu đỏ xen trắng như tháp đài truyền hình. Bốn chân đế màu đỏ tươi. Và bốn phía được gắn các chữ số màu vàng: 981” (tr. 69). Đó là một biểu thị tình yêu nước rất mạnh mẽ. Và nếu cần nói thêm, thì dù cuộc sống đầỳ khó khăn, bất trắc, con gái Chợ Kệ luôn là những cô gái xinh đẹp.

MỘT CÁCH MIÊU TẢ CHIẾN TRANH

            “Mấy đêm sau, chừng nửa đêm bỗng nghe từng loạt AK nổ giòn phía cầu. Tiếp theo là tiếng AR15, lựu đạn, M79 ùng oàng. Cả làng thót tim. Nhứt là xóm nhà tranh xung quanh cầu. Lần này chắc đụng độ thiệt, không phải ‘xung phong cục sắt’ nữa rồi! Bác Sung, chú Nốn, bác Hốt…mấy cây nói trạng mọi khi lại khều nhau uống trà thì thào, đêm tối như mực chẳng dám thắp đèn. “Chắc chắn máu đổ thiệt rồi, không ‘ba lơn’ được nữa! Cả tiểu đội nghĩa quân nằm phục kích dưới cầu! Mô Phật!…Lúc chạng vạng tôi thấy tụi hắn thắp hương đỏ rực, van vái ‘tượng thằng lính’. Nếu xáp lá cà là bỏ mạng không ít. Rồi không chừng anh em bắn nhau cũng nên. Có khi thằng Chạy lại bắn thằng Đua, thằng Sau có thể ‘cắc bụp thằng Chót…Súng đạn có lựa ai, mà cả làng này không ruột thịt cũng bà con…Trong cái lành lạnh về sáng như có mùi tử khí, có cái rờn rợn của máu me chết chóc. Hai lan can cầu màu đen hiện rõ dần. “Cái chi rứa?!!”. Một thân người vắt ngang thanh chéo lan can, tay chân buông thõng! Quẩn áo lính nghĩa quân, mang giày vải lính đế cao su. Lại một thân người nằm sõng soài cách cái ‘thằng lính’ da sắt mình đồng chừng mấy bước. Hai mạng người tiêu vong! Mô Phật! Còn ai nữa. Một tiểu đội lận mà, răng êm ru rứa!…”(tr.34-35).

            Đó là một trận đánh “thót tim” dân làng giữa một bên là lính nghĩa quân và một bên là Việt Cộng. Đến sáng ra, kiểm điểm lại vẫn còn đủ 12 lính nghĩa quân, họ phóng ra khỏi lô cốt giậm chân vỗ tay cười dậy cả khúc sông. Hóa ra là một trận “giả”. Hai ‘người lính’ tử thương chỉ là hai thằng người bù nhìn làm bằng rơm. Súng đạn nổ ùng oàng chỉ là bắn xuống sông làm cá chết nổi trắng bên mấy bụi lau lách. Một cái kết đầy hài hước: Mặt trời lên, tiếng loa tuyên truyền của “bên ta” cũng vang lên: “Bằng chiến thuật ‘hình nhân thế mạng’, lực lượng nghĩa quân đã đánh lừa được đối phương vào ổ phục kích. Giao tranh xảy ra ác liệt. Với hỏa lực mạnh, bên ta đã uy hiếp, bẻ gãy và làm tê liệt cuộc tấn công của địch. Đối phương thảm bại hoàn toàn và rút khỏi trận địa”. Tác giả kết truyện: Đó cũng là trận súng nổ cuối cùng ở làng tôi, cái trận ‘lính rơm’ mà người làng vẫn nhắc tới, vẫn cười chảy nước mắt mỗi lần kể chuyện hồi chiến tranh”(tr.36)

Đọc đoạn miêu tả “đụng độ” giữa lính nghĩa quân và Việt Cộng ở trên, người đọc có thể nhận ra nhiều đặc điểm của ngòi bút Dương Đức Khánh trong việc miêu tả chiến tranh. Ở một vùng quê có tới “70% gia đình xếp loại ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” (tr.25), và “Đàn ông trai tráng lớp thoát ly, lớp bị bắt quân dịch. Quá tuổi quân dịch nhưng còn 60 trở xuống cũng phải cầm súng vô lực lượng dân quân tự vệ. Rất nhiều nhà có người tham gia cả hai bên là chuyện thường. Như trường hợp nhà bác Nậy, anh Chạy theo du kích, anh Đua mang súng nghĩa quân, còn bác Nạy phải vô dân vệ”(tr.24” “ban ngày lính tráng đầy đường nhưng đêm nào Việt Cộng cũng về làng như đi chợ” (tr.55).Trong một hoàn cảnh như thế, không thể để anh em bắn nhau, bởi cả làng này “không ruột thịt cũng bà con”. Tác giả chọn cách miêu tả “trận giả với ‘lính rơm’ là giải pháp bảo toàn được dân làng, tránh gây ra những đau thương. Dù vậy cái cười vẫn hàm ý châm biếm là dành cho chế độ Sài Gòn.

Người lính Sài Gòn không hề chiến đấu cũng chẳng chiến thắng (đơn giản vì họ là con em nhân dân vào nghĩa quân để trốn quân dịch), nhưng cái loa tuyên truyền vẫn vang lên hùng hồn. Chú Cương (Thợ đồ giấy) bật mí: “…thỉnh thoảng cũng phải mần vài trận giả, nổ súng kịch liệt, liệng lựu đạn, hô xung phong rầm trời y như thiệt rồi gọi bên chi khu nã về mấy trái pháo 105 giữa đồng lúa sắp gặt, báo hại bà con kêu trời không thấu. Gần sáng trung đội phó truyền tin ôm máy PRC25 ò e rè rè: A lô! Se sẻ gọi Chim Ưng, Se sẻ gọi Chim Ưng nghe rõ không…Se sẻ xin báo cáo tình hình chiến sự đêm qua…Vào 23 giờ 45 phút, khoảng hai tiểu đội Cộng quân xuất phát từ hướng núi Thanh Khê đã lọt vào ổ phục kích!…A lô, Chim Ưng nghe rõ không?!…Với tư thế chủ động, anh em đã bình tĩnh giệt ngay tên mang B40 và lập tức nổ súng bao vậy đội hình địch!…Hơn một giờ giao tranh ác liệt địch thất bại hoàn toàn! Số bị thương, chết được đồng bọn mang đi!…Bên ta hoàn toàn vô sự! Báo cáo bên ta hoàn toàn vô sự!…Se sẽ cắt máy!…”(tr. 55)

Ngay cả với lính Mỹ, tác giả cũng miêu tả với thái độ “thân thiện” vì chúng là những kẻ bại trận, chúng không còn khả năng gây tội ác với nhân dân. Đó là thằng lính say Tony Phớt đã thua trận lại phải nhận thua trong cuộc đua ghe cho nên nó biết sợ dân này; hay hai thằng lính Mỹ lấp hầm rác, chúng không bắn Cu Đen mà còn ra hiệu đừng lượm rác. Hai thằng lính Mỹ khui hầm, lùa dân về tập trung tại sân vười mụ Chót bên xóm Ngang (tr. 91) được miêu tả có vẻ ác. Tiếng kêu của dân thê thiết quá. Thằng Mỹ đen lao tới lôi O Mực ra khỏi đám đông dân làng định làm nhục, vậy mà ở cái phút cái chết “ngàn cân treo sợ tóc” ấy, tác giả đã cứu O Mực. Bọn Mỹ có lệnh rút đi.

Trong cả tập truyện, Dương Đức Khánh không miêu tả trực tiếp chiến tranh. Không có chút bóng dáng nào Huế những tháng ngày Mậu Thân 1968, không có dấu tích gì của trận đánh ác liệt ở cổ thành Quảng trị 1972, và càng không có một dòng nào miêu tả những ngày giải phóng, lúc quân Cách mạng tiến như thế chẻ tre, dù có nhắc tới dòng người di tản. Trần Khỉ là thương binh trở về từ chiến trường K chỉ nhắc rất xa xôi về Pol pot, và đồng đội rất nhiều người là thương binh. Tất nhiên đây là thái độ chọn lựa của nhà văn. Khi đã chọn bối cảnh truyện là một làng quê “rất nhiều nhà có người tham gia cả hai bên”thì không thể miêu tả sự căm thù, sắt máu, chết chóc bi thương, trái lại Dương Đức Khánh tô đậm sự “hòa hợp hòa giải”. Truyện Võ thần (Thần quyền) kể rằng, chiến tranh đến, “mấy anh đi hết rồi, phần bị bắt lính, phần nhiều theo du kích. Anh Chèo theo bên du kích…”, Chú Đún vô ngành cảnh sát công lộ. Có lần giỗ họ bên nội chú mặc nguyên đồ cảnh sát về dự. Uống rượu vào, chú nói trạng: ”Tau thách Việt cộng mô dám bắn tau” (tr. 79) Khi chú vừa đi thì mấy anh du kích vô ăn giỗ: Hóa ra nãy giờ họ ở vòng ngoài bảo vệ chú. Anh Khôi, anh Đà, anh Chít, anh Chèo đều là đồ đệ của chú, họ bảo vệ thầy, lỡ gặp bọn lính dù, hắc báo đi trận về gây khó cho thầy. Tết năm đó ngưng bắn 7 ngày, du kích và địa phương quân cùng chen vai vui chơi. Mùng ba tết môn sinh du kích và lính địa phương quân cùng đến chúc tết chú Đún. Mùng Bảy cúng đầu năm, có đua ghe, chú Đún được bầu làm trọng tài. Chú dùng còi cảnh sát thổi roét roét. Hơn trăm tay chèo du kích và địa phương quân ganh đua. Họ ôm nhau giữa sân đình trào nước mắt (tr.82). Với lính Mỹ, Anh Chạy dùng trâu giúp lính Mỹ tránh lụt (Cu Đen).

Ở góc nhìn trần thuật, hầu hết những câu chuyện trong thời chiến tranh được kể lại là lúc tác giả còn là một đứa trẻ “đầu chưa sạch cứt trâu” trong đám trẻ nghịch ngợm của cái Chợ Kệ ngày ấy.(tr. 19). Truyện Võ thần kể chuyện chú Đún hồi 1969-1970 (lúc ấy tác giả mới 9-10 tuổi). Truyện Thợ đồ giấy kể chuyện chú Cương, là lúc tác giả mới học lớp Tư (tr.58), đến truyện Bông Mai bảy cánh, tác giả mới học lớp Bảy, 15 tuổi (tr.119). Ở tuổi trẻ con như vậy, tác giả chưa thể có ý thức chính trị, càng không thể có tầm nhìn nào về bối cảnh lịch sử, xã hội thời đang sống. Hơn nữa, sinh ra và lớn lên trong một làng “chúa nói trạng(tr. 23), tác giả cũng ướp trong ngòi bút của mình “nghệ thuật nói trạng”. Cuối truyện Người Chợ Kệ, tác giả đã nói trạng với chú Tùy Say sau hơn 30 năm gặp lại. “Thấy chú tin như đinh đóng cột, sẵn trớn tôi phịa luôn. Tôi kể chuyện thằng Phớt đi tìm chú. Chú lại “tào lao xịt bộp” nói rằng sẽ qua Mỹ để tìm thằng Phớt…(tr.20)

YẾU TỐ HÀI TRONG BÚT PHÁP

Tập truyện ngắn Người Chợ Kệ có nhiều yếu tố của một tập truyện ký. Câu truyện là những hổi ức của tác giả với nhân vật nhân trong một dịp viếng thăm nào đó. Sau hơn 30 năm mỗi người mỗi ngả, tác giả gặp lại với chú Tùy Say ở Đồng Nai (Người Chợ Kệ). Gần nửa làng tác giả vô lập nghiệp ở vùng núi Tây Nguyên. Về thăm làng, người đầu tiên tác giả gặp là chú Đún và “nhớ một thời mấy phen làng nước loạn ly” những năm 69-70 (Võ Thần). Thợ đồ giấy là truyện về chú Cương khi tác giả về thăm chú. Đầu chú lúc này đã hói nhiều. Trong khi trò chuyện, tác giả nhắc lại vụ Hoàng Sa 40 năm trước. Cu Đen ngày xưa là bạn cùng đi tìm đồ ăn trong hố rác Mỹ, giờ hắn đã là Thượng tá. Tác giả gọi điện hỏi thăm và nhắc lại chuyện xưa. Cu Đen cũng gọi cho tác giả để ôn chuyện cũ…

Dù tên các địa danh đã được tác giả đổi khác để tạo ra chất truyện (thí dụ: thành phố N-tr.122), song người đọc vẫn dễ nhận ra những sự việc, những nhân vật là ở vùng quê của tác giả: ven sông Bồ, xứ Huế. Cửa Thuận An đổi là cửa Thuận (tr.118), điện Hòn Chén đổi là điện Hòn Bát, cầu Tràng Tiền đổi thành cầu Tràng Bạc (tr.68), giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc, đã được tác giả nói tránh đi là “Một cái tháp màu đỏ xen trắng như tháp đài truyền hình. Bốn chân đế màu đỏ tươi. Và bốn phía được gắn các chữ số nổi màu vàng: 981. Mấy con số mà tại thời điểm này, trên giải đất chữ S này, từ ông tướng đến anh bán kẹo kéo đều có chung thái độ như nhau” (tr.69).

Chất ký trói chặt ngòi bút tác giả vào hiện thực cho nên những câu chuyện được kể là những chuyện “thật” trong dân gian. Truyện nào tác giả ghi được nguyên vẹn tiếng nói, sắc vóc, thần thái, khi chất con người dân gian (thí dụ: Người Chợ Kệ), thì truyện ấy có nhiều yếu tố để thành công. Cách kể chuyện đậm chất dân gian này Nguyễn Thi đã thành công trong Người Mẹ cầm súng (1965) và trong những ghi chép in trong Năm tháng chưa xa (1972).

Dương Đức Khánh có khả năng viết những trang bi tráng, những trang trữ tình, kể những câu chuyện tâm linh (yểm bùa, thần chú trong truyện Võ thần, vía chú Sanh dẫn đường tìm xác trong Những ngày tao loạn), nhưng điểm nổi bật trong bút pháp của Dương Đức Khánh là chất hài dân gian.

Để tạo ra chất hài, Dương Đức Khánh chọn kể những câu chuyện có sự mâu thuẫn giữa hiện tượng và nội dung. Tiếng cười bật ra khi người đọc khám phá tính hai mặt của vấn đề. Thí dụ, Trong truyện Thợ đồ giấy, Hình nhân thế mạng, lính nghĩa quân đánh trận giả mà báo cáo thật. Chú Cương chỉ là anh lính nghĩa quân trốn quân dịch nhưng đi đâu cũng được người ta đối xử như con nhà quan hàng tướng tá. Hoặc chú Đún (Võ thần) là cảnh sát công lộ đi ăn giỗ lại được Anh Khôi, anh Đà, anh Chít, anh Chèo…là du kích bảo vệ.

Dương Đức Khánh cũng khai thác những “trò khỉ” của Trần Khỉ (Họa sĩ làng), những trò nghịch ngợm trẻ con (Cu Đen), những cái “ngây ngô” (Cu Đen mặc cái áo xanh đỏ bị máy bay Mỹ bắn rocket suýt mất mạng. Cu Đen không biết áo mình đang mặc có màu giống với cờ Mặt Trận Giải Phóng nửa đỏ nửa xanh). Dương Đức Khánh cũng sử dụng “cái tục” để gây cười như trong nhiều truyện dân gian (Mụ Thợ Rèn cổ vũ đua ghe bị tụt quần-Người chợ Kệ). Những chuyện “tào lao” và cách nói cường điệu dân gian cũng tạo nên tiếng cười. Khi tác giả về thăm chú Tùy Say, hỏi thăm cuộc sống, chú xua tay, giọng tưng tửng: “Ui dào, khỏi hỏi!…Tiền bạc tau chừ…lâu lâu phải kêu thím mi…chất ra sân, phơi! Để mối mọt ăn hết! (tr.20)

Cái Hài trong bút pháp của Dương Đức Khách là cái cười dân gian khôi hài, là cười vui. Có khi “cả làng cười một mẻ”(tr.19), “bò ra cười”, “cười nôn ruột”(tr. 89), có khi “cười chảy nước mắt” (tr. 36). Đó không phải là cái cưới châm biếm của Số Đỏ (Vũ Trọng Phụng). Người dân quê cười vui để vượt lên cái vất vả gian khổ, làm nhẹ đi cái bi thương, và trong sâu xa, cái cười dân gian còn chứa đựng bản lĩnh dân tộc khi phải đối mặt với những vấn đề sinh tử (chuyện đánh trận giả nhưng báo cáo thật của nghĩa quân để che mắt cấp trên). Trong văn chương hôm nay có rất ít nhà văn khai thác được kiểu bút pháp này, và vì thế, nếu Dương Đức Khách gửi truyện dự thi ở bất cứ cuộc thi nào, truyện của anh rất dễ đạt giải.

Nếu “bút pháp hài” đem đến cho truyện ngắn của của Dương Đức Khánh những nét độc đáo, thì cũng chính bút pháp ấy lại làm hạn chế những năng lực khác của ngòi bút Dương Đức Khánh. Trong Mỹ học, người ta nói đến phạm trù của “cái cao cả”, “cái bi”, “cái hài”, “cái đẹp”. Nếu nhà văn đi đến tận cùng trong việc chọn lựa miêu tả một phạm trù nào đó, anh ta sẽ đạt được những giá trị độc đáo. Nguyễn Tuân là nhà văn của “cái đẹp”. Nam Cao khai thác cái “bi kịch”, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan khám phá những “hài kịch”. Văn học kháng chiến miêu tả “cái cao cả”, “cái hào hùng” có chất sử thi. Nguyễn Thi kết hợp “cái hài” với “cái cao cả phi thường” trong Người mẹ cầm súng. Tất cả lảm nên một nền văn chương phong phú sắc màu nghệ thuật. Văn chương đương đại có nhiều khuynh hướng sáng tác: văn chương Hiện sinh (J.P.Sartre), chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo (García Márquez), Tiểu thuyết mới (Alain Robbe-Grillet), văn chương Hậu hiện đại (Barthelme)…Như vậy, nếu Dương Đức Khánh chỉ sử dụng một kiểu hài dân gian, ngòi bút của anh sẽ không tránh được những hạn chế.

Chuyện “Tào lao” là chuyện không có nội dung gì đứng đắn, chỉ nói ra cho có chuyện, cho vui [1] Những chuyện “tào lao xịt bộp” kiểu như, Chú Tùy nói rằng, về tiền bạc, lâu lâu chú phải bảo thím đem ra phơi không để mối mọt ăn. Nghĩa là tiền nhiều lắm, chất trong kho không xài đến, phải đem phơi. Một nông dân nghèo mà nói như thế, người ta sẽ bảo Chú Tùy “nổ văng miểng”, hay chú “quăng lựu đạn” tá lả. Vâng, ai cũng hiểu đó là cách nói để cho vui. Với một tác phẩm văn chương, thì Những chuyện “tào lao xịt bộp”, kể vui, để có những mẻ cười, sẽ làm hạn chế giá trị phản ánh hiện thực của tác phẩm. Nói “trạng” và hài hước hóa chuyện chiến tranh, sẽ làm mất tính tư tưởng của tác phẩm, bởi cái giá xương máu 30 năm chiến tranh của dân tộc này là rất lớn. Thí dụ, khi người dân quê nói nhầm chữ Ô ke thì bị lính Mỹ bắn ngay. Đó là cái chết oan, (Một ngày tao loạn, tr.87). Cu Đen sống sót nhờ biết nói “Nô, nô Vi-xi, nô Vi-xi, lượm bánh lượm kẹo ô kê ô ke!”(Cu Đen, tr.104), đem những chuyện này kể để cười, tôi thấy xót xa đến tận ruột gan! Những sự tích anh hùng, những đau thương thống khổ, những thân phận bi kịch, những đổ vỡ mất mát của dân tộc này nhiều không sao tính được. Và dân tộc này rút ra được bài học gì, cái tư tưởng nền tảng và sức mạnh của dân tộc này là gì cần phải được khám phá cho đời sau. Những vấn đề lớn lao đó “bút pháp hài” không đáp ứng được trong việc phản ánh hiện thực. Cho nên người đọc, sau khi gấp trang văn của Dương Đức Khánh lại, cũng là lúc nụ cười tắt trên môi thì thường tự hỏi, tác giả kể chuyện này để nói điều gì? Truyện chứa đựng tư tưởng gì?

Và người đọc nhận ra rằng, truyện để lại những khoảng trống tư tưởng.

Không phải vậy, tôi lại nghĩ, bên dưới những “chuyện tào lao”, và dù chỉ là một tập truyện ngắn, ngòi bút Dương Đức Khánh cũng đã chạm được đến những vấn đề lớn của thời đại với một cách tiếp cận mới.

NHỮNG GÌ CÒN LẠI…

             Tôi thích “cái hài” dân gian trong truyện của Dương Đức Khánh vì nó khỏe mạnh, phóng khoáng và chứa đựng những gía trị minh triết (nụ cười của thằng Bờm chẳng hạn). Và thật quý trọng những trang văn giàu chất hài, bởi viết văn chương hài không phải nhà văn nào cũng viết được. Vì thế Vũ Trọng Phụng, Aziz Nesin (nhà văn Thỏ Nhĩ Kỳ) trở thành thiên tài văn chương trong thời đại chúng ta.

Trong dòng chảy văn chương viết về chiến tranh đương đại, có rất ít tác phẩm viết về sự hòa hợp hòa giải hay và thuyết phục như những trang văn của Dương Đức Khánh. Những truyện Hình nhân thế mạng (tr. 34), Võ thần (tr. 80), để lại những ấn tượng và những suy nghĩ sâu sắc về tinh thần hòa hợp hòa giải. Khi người lính bên này và bên kia ôm nhau giữa sân đình cười trào nước mắt (tr.82), trang văn của Dương Đức Khánh trở nên sáng trong, hân hoan đến lạ lùng. Nhà văn đã nói thay tâm nguyện của cả dân tộc này. Nhà văn cũng làm sáng lên cái bản lĩnh, cái sức mạnh ngàn năm của dân tộc, ấy là vượt qua chiến tranh, gìn giữ những truyền thống nghĩa tình; những cách ứng xử khôn ngoan trong những tình huống tử sinh để bảo toàn những giá trị làm người.

Tôi đọc Một ngày tao loạn mà lòng rưng rưng khôn xiết. Sự bi thương không bút mực nào tả được trong những tiếng kêu ai oán của một dân tộc. Lính Mỹ lôi những người dân quê từ hầm lên và lùa đến xóm sân vườn mụ Chót ở xóm Ngang (tr.92), rồi chúng tách các o trẻ ra. Bà con sợ các o bị chúng làm nhục, bèn la lên: “Mấy ôông…B…bb…ắ…n! B…ắn chết hết đi!!! Đừng…mần …rứa”. Khi O Mực bị thằng lính Mỹ đen lôi ra, giọng mụ Nghé riết róng: “Cứ ôm con cho chặt! Mực ơi!  Chết thì chết!…Đừng chịu nhục, con ơi…”. Khi nghe tiếng súng nổ, Mấy mụ lại kêu trời van vái: “Súng đạn mô…bắn vô đây dùm với! Cho chết hết một lần đi! Trời ơi!!…”. Trên cõi đời này, có xứ sở nào người dân lại cầu cho súng đạn bắn dùm cho chết hết một lần như người dân xứ này không?! Thà chết chứ không chịu nhục! Dù là một cá nhân bị nhục thì đó cũng là cái nhục của cả cộng đồng. Cả cộng đồng nguyện lấy cái chết để bảo vệ nhân phẩm của một con người. Khó ờ đâu trên thế gian này có được phẩm chất và bản lĩnh như thế. Viết được những trang văn như vậy nhà văn phải sống sâu sắc lắm với dân mình, với đất nước mình. Có cả tài năng và tâm huyết nữa.

Con đường văn chương của nhà văn Dương Đức Khánh đả sáng rõ một cá tính sáng tạo có những phẩm chất độc đáo. Tôi cầu chúc anh gặt hái được nhiều thành công trên con đường anh đã chọn.

Tháng 10/ 2018

 

______________

[1] Tự điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ, Nxb Khoa học xã hội-Trung tâm từ điển Việt Nam, 1995, tr.859

TRAO GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2018

TRAO GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2018-GIÁO PHẬN XUÂN LỘC

2 Cha Phong 2

Sáng ngày Chúa nhật 11.11.2018 Giáo phận Xuân Lộc tổ chức lễ trao giải VHNT Đất Mới 2018

Tham dự giải có 4 truyện dài, 6 truyện vừa, 55 truyện ngắn, 17 kịch bản, 412 bài thơ và 6 trường ca (riêng trường ca Lịch sử cứu độ có 1000 khúc thơ), 52 ca khúc và 160 ảnh nghệ thuật

TÁC PHẨM ĐẠT GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2018

  1. GIẢI THƠ

Có 31 tác giả tham gia Thơ Đất Mới 2018.

Giải nhất: Sách Giu-đi-tha– Bùi Văn Nghiệp-Sài gòn

Giải nhì: Chùm Thơ: DÂNG – Nguyễn Vũ Hồng Kha- Quy Nhơn

Giải ba: Vườn thơ (82 bài)- Têrêsa Mai Thị Ngợi-Xuân Lộc

Khuyến khích 1: Truyện thơ kinh thánh – Phaolô Trần Trung Hậu –Sài Gòn

Khuyến khích 2: Những ngày Chúa nhật (Tập thơ)- Phêrô Dương Kim Quới-Xuân Lộc

Khuyến khích 3: Lịch sử cứu độ (1000 khúc thơ)- Giuse Nguyễn Tiến Mỹ-Sài Gòn

Khuyến khích 4: Tập thơ Lắng trong sương,- Catarina Nguyễn Thị Lam-Xuân Lộc

  1. GIẢI TRUYỆN NGẮN

Có 55 truyện ngắn của 35 tác giả.

Hạng I: Tình người- Phêrô Nguyễn Văn Học-Hà Nội

Hạng II: Xin lỗi và cám ơn- Nguyễn Hữu Tài-Cần Thơ

Hạng III: Khóc Muộn- Maria Hà Thị Thuý Diễm-Xuân Lộc

Khuyến khích 1: Một mai thức giấc-Hồ Phương Anh

Khuyến khích 2: Thư gửi người họa sĩ tương lai- Lê Quang Trạng-Long Xuyên

Khuyến khích 3: Trái tim làng cùi– Phaolô Nguyễn Bá Định

  1. GIẢI TRUYỆN DÀI

            Số lượng tác phẩm: 4 truyện dài và 6 truyện vừa.

Giải I: Hương Thạch Thảo- Maria Phạm Thị Lành-Xuân Lộc

Giải II: Vòng xoáy yêu thương- Maria Goretti Nguyễn Thị Xuân-Xuân Lộc

Giải III: Gia đình hãy là dấu chỉ lòng thương xót của Chúa- Fx. Dương Cao Cảnh –

Cần Thơ

Khuyến khích 1: Đôi bờ xa cách- Phêrô Trần Thế Huy-Xuân Lộc

Khuyến khích 2: Khi trái tim lên tiếng- Maria Vinc Nguyễn Thị Chung–Xuân Lộc

  1. GIẢI KỊCH

Số kịch bản dự giải: 17 kịch bản của 15 tác giả.

Giải I: Hành quyết song hùng: Kịch thơ – Bùi Văn Nghiệp-Sài Gòn

Giải II: Giếng ngọc-(diễn nguyện): Giuse Nguyễn Đức Tuyến-Sài Gòn

Giải III: Cha như là một vì sao-Kịch thơ- Têrêsa Phạm Thị Thanh Lan-Đà Lạt

Khuyến khích 1: Chúa không bỏ con- Têrêsa Nguyễn Thị Thu Thuỷ-Xuân Lộc

Khuyến khích 2: Hành trình tử đạo của thánh Anê Lê Thị Thành – Hồ Phương Anh

Khuyến khích 3: Đứa con lưu lạc của Chúa trở về- Phêrô Lê Thanh Xuân-Sài Gòn

  1. GIẢI CA KHÚC

Các tác giả đạt giải ca khúc đều thuộc giáo phận Xuân Lộc

Giải I  : Tình Chúa yêu con-Hồ Quốc Vinh

Giải II : Như hạt mưa rơi-Phạm Văn Bình

Giải III: Được thương xót và tuyển chọn-Nguyễn Hữu Nhân

Khuyến khích 1: Tình mẹ cha 1-Lữ Văn Trường

Khuyến khích 2: Trở về– Nguyễn Bảo Thiên Phú

Khuyến khích 3: Dấu lặng trầm– Nguyễn Thị Thu Thỷ

Khuyến khích 4: Thắp mãi niềm tin-Nguyễn Hữu Tuyền

 

  1. GIẢI ẢNH NGHỆ THUẬT 

Giải I  : Khát khao-Lò Văn Hợp-Xuân Lộc

Giải II : Thánh Lễ-Bùi Viết Hưng-Phú Cường

Niềm vui đời dâng hiến-Lê Hữu Thiết-Xuân Lộc

Giải III: Chiều Chúa Nhật-Vũ Đức Phương-Phát Diệm

Trích diễn ngày thứ Sáu tuần thánh-Phạm Quốc Hưng-Xuân Lộc

Dìu bước-Lò Văn Hợp-Xuân Lộc

Khuyến khích 1: Kính mừng Maria –Đỗ Văn Cư-Xuân Lộc

Khuyến khích 2: Chúa là gia nghiệp đời con-Anna Nguyễn Thị Tình-Xuân Lộc

Khuyến khích 3: Ông tiên-Maria Phùng Thị Bích Loan-Xuân Lộc

Khuyến khích 4: Khi tháng năm về-Lê Hữu Thiết-Xuân Lộc

Khuyến khích 5: Nhà thờ chính tòa Phú Cường-Huỳnh Mỹ Thuận-Sài Gòn

01 toàn cảnh

Toàn cảnh

3 Đc Trinh người sáng lập

Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh, Giám mục giáo phận Xuân Lộc (2004-2016), người sáng lập giải VHNT Đất Mới. Đức cha Đaminh phát biểu khai mạc

4 Đc Đạo

Đức cha Jos Đinh Đức Đạo, giám mục giáo phận Xuân Lộc dự lễ trao giải

5 GIẢI CA KHÚC

Trao giải ca khúc

6 GIẢI TRUYỆN NGẮN

Trao giải truyện ngắn

7 Giải truyện dài +

Trao giải truyện dài

Hợp xướng ca khúc đạt giải II

Hợp xướng +

Múa minh họa

Múa phụ họa đơn ca

Kịch lịch sử về thánh Hạnh

Kịch 6-Quan tra khảo Hạnh

BCT và các nhạc sĩ Nguyên Nhung, Ngọc Tuyên, Hồng Việt, Lm phó ban thánh nhạc Xuân Lộc

BCT 3

TỰ TRUYỆN VÀ TIỂU THUYẾT

 

 

 

BÀI CA VỀ QUYỀN ĐƯỢC LÀM NGƯỜI

Đọc tiểu thuyết Khúc quanh định mệnh của Phạm Ngọc Chiểu. Nxb Văn học 2014

Bùi Công Thuấn

KHÚC QUANH ĐỊNH MỆNH

 

 

 

Khúc quanh định mệnh có những chỉ dấu của một tiểu thuyết tự truyện. Là một tiểu thuyết, tác phẩm có sinh mệnh riêng. Nhân vật trong truyện là nhân vật tiểu thuyết, tức là nhân vật hư cấu. Nhân vật gánh vác sứ mệnh thể hiện chủ đề, tư tưởng. Nhân vật là con người của một thời gian, không gian cụ thể, có tương quan với xã hội đương thời. Là một tự truyện, tác phẩm chỉ ghi lại những biến cố của cuộc đời tác giả, và những nghĩ suy của riêng mình. Cái đời riêng, cái gia đình riêng, số phận riêng là cái riêng tư của cá nhân, thường thì ngưới đọc không nên soi vào. Và khi viết về mình, ngòi bút của tác giả khó có thể giữ được sự bình tĩnh khách quan. Sự thái quá có thể gây ra phản cảm nơi người đọc. Phạm Ngọc Chiểu giải quyết cái chung và cái riêng như thế nào trong tác phẩm này?

BÀI CA VỀ QUYỀN ĐƯỢC LÀM NGỪỜI

             Mở đầu truyện, tác giả kể câu chuyện thương tâm của một gia đình: Người làng Minh Khánh, tính đến (2014) không mấy người quên những tai họa liên tiếp giáng xuống nhà bà Tầm. Thằng con út của bà đột ngột bịnh năng, may được cứu. Sau đó, có ba người lạ mặt đến nhà bắt ông Đan, chồng bà, đem đi giết. Anh Cả Án tử nạn vì bom Napal của Pháp trên đường công tác ở Ninh Bình. Bà ở vậy tảo tần nuôi hai con trai còn nhỏ là Ngọc và Hùng với quyết tâm cho hai con ăn học nên người. Bà qua đời ở tuổi 84.

Từ đây truyện mở ra số phận 38 năm bầm dập (1963-2001) của Ngọc (Phần I), và những bước thăng trầm 23 năm  của Hùng, em Ngọc (phần II). Phần III miêu tả sự đạt thành những ước mơ của hai anh em Ngọc. Vỹ thanh là phần khẳng định lòng trung thành với Đảng.

Bối cảnh của truyện trải từ 1945 đến 2014. Nhân vật Trọng Hà theo Đảng dẫn dân đi cướp chính quyền 1945, anh Cả Án chết trên đường công tác trong kháng chiến chống Pháp. Ông Đan bị giết trong chiến dịch “Diệt Tề”. Bà Tầm và các con phải trải qua những ngày tháng nhục nhã ê chề trong Cải cách ruộng đất, bị tịch thu nhà. Sau được xét vào tầng lớp trung nông lớp dưới, bà mới được trả lại nhà. Đến đời Ngọc, con đường càng đi càng gian truân: Học xong cấp 3, đáng lẽ Ngọc được sang học trường Lô-mô-nô-xốp về Vật lý nguyên tử, nhưng anh bị chặn lại, ở nhà làm ruộng 4 năm, rồi tình nguyện đi Thanh Niên Xung Phong 3 năm, rồi làm công nhân mở đường 6 năm. Từ 1.10.1975 Ngọc chuyển về làm Biên tập viên 7 năm. Cuối 1982 được triệu tập đi học Đại Học Viết văn (tr. 292). Anh tốt nghiệp Đại học khi đã 42 tuổi, có vợ và ba đứa con, con út đã 5 tuổi. (tr. 294). Hùng, em Ngọc, 8 lần tình nguyện vào chiến trường đánh Mỹ đều bị trả về. Hai lần xin vào biên chế, bị loại. Xin đi lao động ở Lào cũng bị trả về, xin đi học lái xe, rồi phụ lái xe cả năm trời cũng không được cấp bằng lái. Mãi sau này nhờ quen Thiếu tá Lê Tâm, trưởng phòng Công an, và nhờ Lê Tâm giúp, Hùng mới được cấp bằng lái và chính tức được hành nghề lái xe.

          Truyện miêu tả cụ thể những gian truân của Ngọc và Hùng trong quá trình phấn đấu để được công nhận quyền làm một người bình thường như mọi người trong xã hội. Họ nỗ lực sống như mọi người, ăn ở cẩn thận giữ gìn mọi nhẽ hơn cả mọi người. Họ dấn thân nhận lấy những công việc vất vả, nguy hiểm đòi hỏi hy sinh, họ tìm mọi con đường, mọi hướng đi, mọi ngã rẽ chỉ để thoát khỏi sự ám ảnh về lý lịch:  Ngọc “Muốn vào khu 4 mở đường, giữ đường dưới bom đạn bời bời của giặc Mỹ để tỏ cái chí trai thời loan-‘Chết xanh cỏ sống đỏ ngực’ với thiên hạ, và gột rửa cái tiếng oan ‘lý lịch rất xấu’ đã thành bút tích trong bản khai lý lịch” (tr.41).

Và đây là nguyện vọng của Hùng: “…, nhưng cái chính là em thành Cán bộ Nhà nước, công tác thoát ly, không còn phải bán mặt cho đất bán lưng cho trời quanh năm suốt tháng mà vẫn dài mồm ăn cơm độn khoai với rau già luộc chấm nước mắm cua mắm cáy nấu lại; quan trọng hơn là lúc đó cả anh và em coi như vùng thoát được sự kìm kẹp, ghẻ lạnh của người đời để họ thấy rằng, hai thằng con ông Đan-bà Tầm đâu có phải loại xoàng, vây bọc đến mấy thì rổi cũng chẳng ngăn chặn được anh em nó vượt lên làm lại cuộc đời, có chăng chỉ làm được mỗi việc là bắt chúng đi vòng trên đường đời mà thơi” (tr.64).

Cả hai nhiểu lần điều chỉnh mục tiêu của đời mình. Ngọc đặt ra mục tiêu cụ thể: “HỌC XONG ĐẠI HỌC, CÔNG TÁC ỔN ĐỊNH, LẤY VỢ SINH CON” (tr.139). Sau nhiều lần thất bại, Ngọc điều chỉnh: “LẬP GIA ĐÌNH, ỔN ĐỊNH CUỘC SỐNG, HỌC XONG ĐẠI HỌC” (tr.150). Và phải mất 38 năm anh mới về đến đích. Nguyên nhân chỉ vì bút phê của ông Nhân khi Ngọc làm hồ sơ đi học trường Lô-mô-nô-xốp: Trường hợp này lý lịch rất xấu không được đi học bất cứ trường nào (tr.151).

Thiếu tá Lê Tâm nói với Hùng: “Việc quản lý con người thì có riêng bộ phận nghiệp vụ của Công san người ta làm. Qua đường dây nội bộ, người ta thông báo cho nhau từng đối tượng để quản lý rất chặt chẽ. Người ta phân ra ba loại đối tượng. Đối tượng loại ba gồm những người làm việc cho đế quốc thực dân, có người nhà đi Nam năm 1954, người nhà liên quan đến thực dân đế quốc, là đối tượng phải theo dõi quản lý chặt.. Qua những gì cậu kể thì cậu bị xếp vào đối tượng loại ba rồi. Đã bị xếp loại ba thì dù cậu ở đâu người ta cũng tìm ra ngay lai lịch của cậu để theo dõi, quản lý”. Hùng bàng hoàng, thất vọng nói với Tâm: “Nói như anh thì bệnh của em hết phương cứu chữa rồi? (tr.262)

Người đọc hôm nay không thể tưởng tượng nổi sự nhục nhã đớn đau của Hùng và Ngọc mỗi lần muốn vươn lên thì mỗi lần lại bị sỉ nhục dìm xuống. Ở Thanh niên xung phong, Ngọc được mọi người tín nhiệm đề cử bầu vào vị trí Phó Ban chỉ huy Đại đội C1. Khả năng đắc cử của Ngọc rất cao, vì anh được cả đại đội yêu mến. Thấy vậy, Trưởng Ban tổ chức Tổng đội Vũ Thế Bản đã làm việc riêng với Ngọc. Ông ta yêu cầu anh rút tên khỏi danh sách bầu. Nếu không, dù anh có được bầu, thì ngay tức khắc, anh sẽ được điều sang B5 làm nhiệm vụ nổ mìn lấy đá. Lão Bản răn đe: “anh tự biến mình đang là nhà giáo thành người dục đá bắn mìn, thành người suốt năm suốt tháng bốc đá lên thùng ben xe Zin khơ” (tr. 130). Ngọc kêu lên: “Trời ơi! Khốn nạn, đúng là sự khốn nạn đến không tưởng tượng nổi!” (tr.62). Khi Hùng  muốn cưới Nhàn làm vợ, gia đình Nhàn đòi buộc Hùng phải trình cho họ bản lý lịch để họ duyệt trước khi có đồng ý hay không, và chính anh trai Nhàn, nắm trong tay lý lịch của Hùng, đã không cho em gái kết hôn với Hùng (tr.109). Khi Ngọc muốn cưới Minh, vấn đề lý lịch lại được đặt ra. Bí thư Chi bộ Đinh Văn Xuân nói thẳng với Minh về “vết đen lý lịch” của Ngọc: Bố Ngọc là người xỏ nhầm giày, là người làm việc cho Pháp.(tr.183) và khuyên Minh nên suy nghĩ chin chắn trước khi kết hôn. Minh trả lời Xuân dứt khoát, với Minh, chồng con là quan trọng nhất. Cô yêu và lấy Ngọc nếu Ngọc cũng yêu cô. Có lẽ chưa bao giờ mà hạnh phúc con người và quyền làm người bình thường bị chà đạp đến như thế!

Nhưng “cái lý lịch rất xấu” của Ngọc và Hùng là gì thì hai người không bao giờ biết được. Lý lịch của Hùng được được Ủy Ban xã xác nhận như sau: “Bản lý lịch của anh Hùng khai trên là đúng. Gia đình anh Hùng là gia đình liệt sĩ, có anh trai hy sinh trong kháng chiến chống Pháp”(tr. 197; 263). Nhiều lần Ngọc Hỏi mẹ, bà Tầm chỉ nói: “Bố là người tốt con à!” (tr.96). Còn Hùng nói với mẹ: “Mẹ ơi, lý lịch nhà ta thế nào, mà con đi đâu, vào đâu cũng bị đuổi về? Bà Tầm nói: “ Bao năm nay nhìn anh Ngọc và con chịu những o ép, thiệt thòi oan ức, mẹ đau lòng lắm chứ, nhưng chưa thể nói hết mọi chuyện với anh em con, vì sợ các con nông nổi, làm những việc không có lợi, rồi ảnh hưởng tai hại đến cuộc đời các con”(tr. 167). Sau đó bà kể cho Hùng nghe câu chuyện đau lòng bà đã chôn chặt trong tâm khảm suốt mấy chục năm trời (tr.168).

Chuyện “lý lịch xấu” của Ngọc và Hùng chỉ được Trọng Hà kể lại ở cuối truyện: “Khi Pháp xây dựng vùng Tề, ta cử người xâm nhập chính quyền Pháp. “Chúng tôi quyết định tìm ông cụ nhà chú…”đánh” ông cụ ra làm Lý trưởng trong bộ máy Tề-Ngụy của Pháp thì rất tốt…Chúng tôi có trao đổi với anh Án là người lãnh đạo cao nhất của Minh Khánh. Anh Án đồng ý…Nhập vai Lý tưởng, ông cụ giúp cho Minh Khánh được nhiều việc…Việc đang suôn sẻ thì tôi nhận được lệnh chuyển vùng, không kịp tổ chức thực hiện chủ trương “Diệt tề” ở huyện chú nữa, phải giao lại cho đồng chí khác. Vì vậy việc ông cụ bị giết oan trong chiến dịch ‘Diệt Tề’ năm ấy tôi hoàn toàn không biết gì” (tr.340-341)

Bố của Ngọc bị giết vì làm Lý Trưởng trong chính quyền Tề-Nguy. Và điều ấy được ghi mãi vào trong lý lịch Ngọc và Hùng như “một vết đen”, một bản án chung thân. Người ta có biết đâu ông Đan được Cách mạng mời “nhập vai” Lý tưởng trong chính quyền Tề-Ngụy là để làm việc cách mạng. Thành ra cái chết của ông là chết oan, vào bao nhiêu oan khiên Ngọc và Hùng phải chịu cũng từ cái chết ấy. Nhưng ai là người phải chị trách nhiệm về việc này? Bí thư Thị ủy Trọng Hà là người biết rõ ngọn nguồn, nhưng chính ông ta lại phủi trách nhiệm. Ông nói: “việc ông cụ bị giết oan trong chiến dịch ‘Diệt Tề’ năm ấy tôi hoàn toàn không biết gì”. Cho đến kết truyện, cái chết của ông Đan và lý lịch của Ngọc và Hùng cũng chưa được minh oan. Quả thật để được làm người bình thường, với những ước vọng hạnh phúc bình thường, sao khó khăn, đau đớn, oan ức, tủi nhục đến vậy?!

Nhưng anh em Ngọc, nhờ sự giúp đỡ của những người tốt trong cuộc đời, đã thoát được vòng kiềm tỏa, và đạt được những ước vọng đời mình, sống làm người bình thường, có ích cho xã hội như mọi công dân Việt Nam khác. Cuộc đời của anh em Ngọc và Hùng chính là bài ca về quyền được làm người trong một giai đoạn bi tráng nhất của lịch sử dân tộc đương đại. Bởi không chỉ có anh em Ngọc và Hùng phải chịu sự oan khiên, mà còn nhiều người khác. Thiếu tá Lê Tâm nói với Hùng: “Anh chỉ làm cái việc sửa chữa những ứng xử cứng nhắc, thái quá, vơ đũa cả nắm của một quan niệm…Cuộc đời này chắc còn nhiều trường hợp bị đối xử như chú. Biết thế, nhưng đành chịu chú ạ…”(tr. 283). Họ không oán trời, không trách người, chỉ một nỗ lực phấn đấu để vươn lên, chỉ một niềm tin vững chắc rằng gia đình mình là một gia đình tốt, và chỉ một niềm tin rằng, những gian truân do con người gây ra ấy là do trời thử thách. Hùng nói với anh: “Có phải ông trời muốn thử thách em lần cuối này nữa, xem cái chí của em đến đâu, rồi mới cho em được hưởng niềm vui hạnh phúc bình thường của mỗi con người?”(tr.254). Và tin ở lẽ thiện: “Sống ác, phạm tội ác thì chạy đâu được? Lưới trời lồng lộng” (tr.331).

Tác phẩm còn để lại những ấn tượng có sức gây ám ảnh về khát vọng sống làm người bình thường, được hưởng hạnh phúc ở hai nhân vật nữ là Phương và Kim. C trưởng Đinh Văn Xuân kể cho Ngọc nghe câu chuyện lạ lùng này. Nửa đêm có cô gái tên Phương vào nằm với anh. Xuân không biết phải ứng xử thế nào vì chế độ Thanh Niên Xung Phong nghiêm cấm quan hệ nam nữ. Cô gái nói rằng cô sẽ nhận tất cả trách nhiệm về mình. Phương xinh đẹp, bị ép lấy chồng khi chưa tròn 16 tuổi. Chồng cô là thằng bé chăn trâu còn thò lò mũi, kém cô 4 tuổi. Cô đến ở nhà chồng để mẹ cô được xóa nợ. Nhà cô nghèo quá. Bố mẹ cô ăn nợ nhà ông Chánh trương nhiều quá rồi, không thể trả được. Cô lặng lẽ sống cái số phận con ở suốt 5 năm trời, cho đến khi cô nghe được lời kêu gọi của các tuyến đường ra trận, cô mới quyết vùng thoát cái số phận oan nghiệt kia (tr. 28). Cô đã mạnh dạn nói yêu Xuân, nhưng Xuân không yêu cô, dù rất thương cảm cho hoàn cảnh của Phương. Để tránh vướng mắc, Xuân đề nghị với Tổng đội chuyển Phương đi nơi khác. Khi cầm tờ quyết định cử đi học, Phương gặp Xuân trách: “Anh hèn lắm, hèn lắm! Tôi không ngờ anh là người hèn mạt đến nước này! Thật phí niềm tin yêu của tôi” (tr.35). Nói xong Phương ngoắt đi. Một tuần sau Phương vẫn khoác ba lô lên đường. Thương quá một khát vọng sống mãnh liệt, một bản lĩnh sống vươn lên giữa những đớn hèn trói buộc nghiệt ngã.

Chuyện tình của Tính và Kim lại là một bi kịch mang màu sắc khác. Kim hơn Tính 2 tuổi, làm lụng giỏi. Cô chăm lo công việc gia đình cho chồng ăn học. Khi Tính có giấy gọi đi học sư phạm, Kim có thai. Tính từ chối đứa con vì mình còn là sinh viên. Kim mơ thấy sinh con rồi con bỏ đi. Đúng như giấc mơ. Kinh sinh con trai, được ba tháng thì con bị sốt và chết. Khi Tính được gọi đi Hải Quân đóng ở Hải Phòng thì tình cảm vợ chồng càng phai lạt (tr.137). Ở đội Thanh niên xung phong, phòng của Ngọc cách phòng của chị Kim một bức vách liếp nứa, nên Ngọc biết rõ mối quan hệ của chị Kim với ông Trưởng Ban Tổ chức Vũ Thế Bản. Và Ngọc đã xót thương cho chị Kim khi đọc thư của chị: “Ngọc em! Chị đi đây. Chị không thể ở đây được nữa, vì nỗi đau bị chồng phụ bạc, chị khát khao hạnh phúc lứa đôi, khát khao làm mẹ. Và chị đã mắc sai lầm. Không, chị không ân hận vì đã làm theo tiếng gọi làm mẹ. Chỉ chỉ ân hận vì mất trí khôn trao thân cho cái con người thường ngày chị không ưa tẹo nào, thậm chí chị ác cảm với ông ta nữa…Bây giờ trong lòng chị có giọt máu của ông ta rồi…Chị buộc phải trốn chạy theo lão vì không còn mặt mũi nào…Đừng ghét bỏ chị em nhé! (tr. 140). Đọc thư của chị Kim, người đọc hiểu tác giả đã dành sự cảm thông sâu sắc  cho khát vọng hạnh phúc của Kim xiết bao. Không rõ khi chạy trốn theo lão Bản, số phận chị sẽ thế nào!

BÀI CA VỀ LÒNG TRUNG THÀNH VỚI ĐẢNG

Tập tiểu thuyết kết lại bằng câu thơ của cán bộ Trọng Hà:

Đã nguyền theo Đảng trọn đời

                  Thì dù giông bão tơi bời vẫn theo…” (tr.345).

Điều này nói rõ mục đích viết tiểu thuyết tự truyện của tác giả. Dù cuộc đời Ngọc và Hùng có lao đao đến đâu, thì tác giả (qua nhân vật Ngọc và Trọng Hà) cũng vẫn một lòng theo Đảng. Bằng chứng là chính Ngọc đã phấn đấu và được kết nạp vào Đảng (tr. 335).

Trong truyện, nhà văn đã miêu tả rõ sự lãnh đạo của Đảng làm nên những thắng lợi trong các phong trào vận động quần chúng lao động xây dựng Chủ nghĩa xã hội như Thanh Niên Xung Phong mở đường; đã phản ánh được cái khát vọng cháy bỏng của các thế hệ thanh niên muốn được đứng vào đội ngũ của Đảng, trường hợp của Phương (tr. 32), Thao (tr. 116) và của Minh (tr. 173) chẳng hạn. Và không ít người đã hy sinh ngay trong khi công tác. Anh Sáu ở C3 đã hy sinh trong một vụ nổ mìn (tr.44), 12 người khác (tr. 279) cũng tử nạn trong vụ nổ mình ở đội 375. Họ là những chiến sĩ đã góp phần xây dựng đất nước bằng chính xương máu của mình.

Nhưng rõ nhất là trường hợp Bí thư Trọng Hà. Khi Đảng bắt đầu công cuộc đổi mới từ 1986 (Đại hội Đảng lần thứ VI). Đã có những đấu tranh gay gắt giữa nhiều khuynh hướng đổi mới (tr. 307), và không phải là không có những đấu đá chính trị đã xảy ra (tr.324, 337). Trọng Hà trở thành nạn nhân. Đang là Bí thư được tin dung, bỗng bị cách tuột về làm dân. Mãi sau mới được phục hồi lương. Ông nói với anh em Ngọc: “Chưa đầy 17 tuổi tôi đã dẫn mọi người đi cướp chính quyền trong tay Pháp, Nhật để lập Chính quyền Cách mạng, chính thức theo Đảng từ tháng 8 năm 1945, được kết nạp Đảng khi chưa tròn 18 tuổi… Từ bấy đến nay tôi chưa một phú giây chểnh mảng công việc Đảng giao, một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin vào thắng lợi của CM…tin vào lý tưởng cao đẹp của Đảng…Sau mấy chục năm theo Đảng vào sinh ra tử, kiên tâm, kiên định lý tưởng của Đảng, tôi trở về đúng cái vị thế trước ngày tôi dẫn mọi người quê tôi đi cướp chính quyền! Nói theo ngôn ngữ bây giờ tôi trở về số MO”(tr.344). Trong giọng nói của Trọng Hà có nỗi buồn, song sự trung thành với lý tưởng cao đẹp của Đảng, sự tin tưởng vào thắng lợi của Cách mạng vẫn ngời sáng. Thực tế đất nước từ “đổi mới” (1986) đến nay đã khẳng định niềm tin của Trọng Hà, cũng là niềm tin của tác giả. Nhìn vào sâu xa, niềm tin của tác giả có căn gốc sâu vững. Anh Cả Án của Ngọc là liệt sĩ chống Pháp. Ông Đan, cha của Ngọc vì Cách mạng mà chết oan, nói một cách khác, đó là sự hy sinh gấp nhiều lần so với sự hy sinh khác, bởi vợ ông là bà Tầm mấy chục năm chôn kín vào tâm khảm nổi đau của gia đình và đến đời con của ông Đan (là Ngọc và Hùng) đều chịu hy sinh ngay trong đời thường gần hết thân phận làm người. May mà có “khúc quanh định mệnh”.

            Khúc quanh định mệnh ấy là gì? Là sự may mắn chăng, là cơ duyên cho Hùng gặp được Thiếu tá Lê Tâm, người nhận ra Hùng là người tốt và giúp Hùng được cấp bằng láí xe là vì tình người (tr. 262); hay là hạnh ngộ giữa Ngọc và anh Quách Thiên, một tác giả thơ ở Hòa Bình. Rồi Thiên giới thiệu Ngọc với các anh Thúy, Kỳ ở phòng Sáng tác-Xuất bản. Họ mời Ngọc về làm biên tập viên. Từ đây Ngọc theo nghiệp văn chương, anh đi học Đại học Viết văn, sau cùng anh được kết nạp Đảng.

Thử nhìn vào những “người tốt” đã giúp đỡ Ngọc và Hùng, họ là ai? Họ cũng là các cán bộ lãnh đạo ở các cơ quan, và chắc chắn họ là Đảng viên. Thế nên trong bộ phận lãnh đạo mà Ngọc và Hùng gặp có những kẻ xấu như ông Nhân, Vũ Thế Bản,… còn có nhiều người khác tốt, họ hiểu biết quần chúng, họ giúp đỡ quấn chúng và phát huy sức mạnh quẩn chúng cho sự nghiệp Cách mạng. Ở tầm nhìn rộng hơn, sự thành công của Đảng trong sự nghiệp lãnh đạo nhân dân làm cách mạng suốt  từ 1930 đến nay chính là có đường lối đúng đắn và phát huy được sức mạnh cách mạng của quần chúng. Cuộc đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa những con ngưởi tiên tiến và sự lạc hậu, trì trệ luôn là cuộc đấu tranh quyết liệt, nhờ thế đất nước vẫn vượt lên. Niềm tin của Trọng Hà là một lòng tin như thế

Đã nguyền theo Đảng trọn đời

                                     Thì dù giông bão tơi bời vẫn theo…”

TỰ TRUYỆN VÀ TIỂU THUYẾT

           Chỉ cần lướt qua tiểu sử tác giả và nội dung truyện, người đọc sẽ nhận ra ngay Khúc quanh định mệnh là một tự truyện. Điều này có ý nghĩa gì? Viết tự truyện là để ghi lại những biến cố của đời mình, những nghĩ suy về cuộc đời và để lại những bài học ở đời cho con cháu. Vì thế giá trị của tự truyện chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình, vì đó là chuyện riêng tư của cá nhân, và là chuyện có khi cần giấu kín trong tâm khảm của cả giòng tộc như bà Tầm đã giữ cẩn mật “lý lịch” của anh em Ngọc và Hùng. Những người đã biết về tác giả sẽ đọc tác phẩm với hai góc nhìn: tác giả viết có trung thực với đời thực không? Và thái độ diễn ngôn của tác giả là thế nào trước thực tại mà lúc xảy ra những biến cố tác giả chưa có điều kiện để tỏ bày.

Chẳng hạn, thái độ đòi trả thù của Hùng đối với những người đã hại gia đình mình, và chính Hùng đã mang súng đi truy lùng kẻ thù. Anh đã gặp người thứ ba còn sống sót. Hắn sợ hãi và van lạy Hùng như tế sao (tr.330). Cả bà Tầm và Hùng đều coi những người này là kẻ ác, đã gây ra tội ác với gia đình bà và theo luật nhân quả, chúng đã bị trời phạt. Bà Tầm đã theo dõi họ và biết họ chạy đi đâu và đã sống và chết thế nào (tr. 168). Có lẽ tác giả cần phải đi đến ngọn nguồn. Ai đã ra lệnh cho những người đã giết ông Đan? Không có câu trả lời trong tác phẩm. Đó là chỗ “non tay” của tác giả tự truyện. Việc bà Tầm dõi theo kẻ ác và Hùng xách súng đi tìm trả thù không phải là giải pháp có thể giải oan cho ông Đan, hơn thế nó ảnh hưởng đến tư tưởng nhân ái của tác phẩm và che lấp đi vẻ đẹp của một gia đình liệt sĩ.

Chuyện vợ Hùng có ý  muốn ăn riêng, Hùng cho rằng cô ta bất hiếu, anh tát liền ba cái tát vào mặt vợ và đuổi vợ đi (tr.208), sau đó Hùng sang nhà vợ, nói thẳng vào mặt bố mẹ vợ rằng, anh không chấp nhận sự giúp đỡ của họ để vợ chồng anh ra ở riêng. Hôm sau vợ Hùng về, Hùng lại túm tay vợ lôi ra, đuổi vợ về nhà bố mẹ (tr. 210). Tôi nghĩ, nếu đây là một chuyện có thật của một tự truyện, có lẽ tác giả muốn dạy con cháu về đạo hiếu. Chữ hiếu phải trên chữ tình; nhưng với một tác phẩm văn chương, hẳn người đọc sẽ không đồng tình với cách xử lý thô bạo của Hùng. Cô vợ ấy sẽ sống thế nào được với một ông chồng như thế, và không rõ tác giả quan niệm thế nào về hạnh phúc gia đình?

Có lẽ tác giả tập trung ghi lại những biến cố cuộc đời của hai nhân vật Ngọc và Hùng theo mục đích của một tự truyện mà không miêu tả bối cảnh lịch sử và thời đại mà hai nhân vật ấy sống. Đành rằng tác giả có quyền chọn lưa cách viết như vậy, nhưng tôi có cảm giác các nhân vật thiếu hẳn phẩm chất của một nhân vật hiện thực chân thực. Bối cảnh truyện diễn ra từ kháng chiến chống Pháp đến những năm đầu đổi mới (1986). Lịch sử Việt Nam trải qua bao biến động hết sức lớn lao có tầm vóc lịch sử và thời đại. Kháng chiến chống Pháp thành công kết thúc với chiến dịch Điện Biên Phủ lẫy lừng, anh Cả Án hy sinh, nhưng tác phẩm không có dòng nào viết về giai đoạn lịch sử vẻ vang này. Về giai đoạn Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc, dù Đảng đã kiểm điểm và sửa sai, nhưng đến nay vẫn còn để lại dư chấn. Tác giả chỉ nhắc rất sơ lược vài việc qua ký ức của một đứa trẻ 15 tuổi. Ngọc nhớ lại việc mình bị tước quyền đánh trống, việc nhà được chia ba sào ruộng (Phần I, đoạn 14, tr.100-103). Tác giả không hề miêu tả cụ thể gia đình đã bị “đấu” như thế nào, bị tịch thu nhà ra sao, lúc đó mỗi con người trong gia đình ấy cảm nghĩ gì, sống thế nào, và sau đó được xét vào tầng lớp trung nông lớp dưới ra sao? Khi miền Bắc bước vào kháng chiến chống Mỹ từ 1965 đến 1975 thống nhất đất nước. Tác phẩm cũng không có dòng nào phản ánh cuộc chiến đấu kiên cường của nhân dân miền Bắc và Điện Biên Phủ trên không 12 ngày đêm ở Hà Nội, không ghi nhận bất cứ điều gì về niềm hạnh phúc lớn lao của một dân tộc vừa toàn thắng, vừa được hưởng những phút giây hòa bình và thống nhất tổ quốc. Mười năm sau đó, đất nước lâm vào khủng hoảng, chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam tổ quốc, vận mệnh dân tộc lại một lần nữa bị thử thách quyết liệt, nhưng nhà văn không phản ánh bất cứ điều gì về hiện thực này, Tác giả chỉ miêu tả Hùng chạy chỗ này chỗ kia xin bằng lái, xin chỗ làm; kể lại việc Ngọc lập gia đình. Anh lên kế hoạch để Hùng sống gần anh, và lo cho vợ con Hùng ra ở thị xã (Phần III, đoạn 3, 7, 9, 10).

Tôi lấy làm tiếc vì tác giả đã bỏ qua cơ hội để nâng tầm vóc nhân vật của mình lên ngang với tầm vóc thời đại, nâng giá trị tư tưởng của tác phẩm lên hòa chung vào văn chương của một thời “xứng đáng đứng vào đội ngũ tiên phong những nền văn học chống đế quốc trên thế giới”. Nếu đặt Khúc quanh định mệnh bên cạnh Vào lửa (1966) và Mặt trận trên cao (1967) của Nguyễn Đình Thi, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi của Nguyễn Tuân (1972), Bầu trời mặt đất (1981), Sóng bạc đầu (1982) của Hoàng Văn Bổn…, thì tiểu thuyết tự truyện không sánh được về giá trị. Những nhà văn lớn luôn phản ánh được thời đại trong tác phẩm của mình.

Văn học Việt Nam từ đổi mới đến nay đã chuyển việc miêu tả cái chung sang cái riêng, đã khai thác những vấn đề của cá nhân thay vì cuộc sống của cộng đồng, đã soi vào những bi kịch của đời thường thay vì viết những anh hùng ca chiến trận… Khúc quanh định mệnh nằm trong dòng chảy này. Vì thế không nên đòi hỏi Khúc quanh định mệnh phải phản ánh thời đại và lịch sử. Nhưng vẫn có điều làm tôi băn khoăn. Khi nhà văn chọn viết tác phẩm bằng bút pháp hiện thực, thì mọi vấn đề của cốt truyện cũng phải được giải quyết trong hiện thực. Ngược lại, vấn đề xuyên suốt tác phẩm là “lý lịch” của Ngọc và Hùng lại được giải quyết bằng giấc mơ báo mộng. Hồn anh Cả Án hai lần hiện về với Ngọc trong giấc ngủ mơ (tr. 67, 322), báo với Ngọc về tương lai sẽ có một người giúp giải oan cho gia đình, và dặn anh em Ngọc tìm giúp đỡ người ấy. Người ấy chính là Bí Thư Trọng Hà, đã kể lại sự việc dẫn đến cái chết của Cụ Đan, bố của Ngọc. Tôi không rõ cái “lý lịch” Trọng Hà kể có giống cái “lý lịch” bà Tầm, Mẹ Ngọc kể (tr. 167) cho con nghe không. Nếu điều bí mật mà bà Tầm cất giấu mấy chục năm đúng như Trọng Hà kể thì truyện đâu cần anh Cả Án báo mộng. Trong tác phẩmTrọng Hà cũng không giúp anh em Ngọc “giải oan” cái “vết đen lý lịch”, cũng không giúp đòi lại công bằng cho gia đình Ngọc. Trọng Hà chỉ kể lại sự việc cho Ngọc và Hùng nghe trong một bữa rựơu mừng. Cái “lý lịch” ấy vẫn còn nằm nguyên trong ngăn tủ các cơ quan quản lý con người. Như thế có nghĩa là cấu trúc truyện không tuân thủ bút pháp và không giải quyết vấn để theo yêu cầu của bút pháp, thành ra truyện kém thuyết phục. Những gì anh em Ngọc và Hùng đạt được là do nỗ lực của hai người kết hợp với vận may và cơ duyên, không phải do Trọng Hà.

Nói đến vận may và cơ duyên của Ngọc và Hùng, tôi lại nghĩ đến tư tưởng của tác phẩm. Tác giả đã giải quyết những hoạn nạn của nhân vật bằng nỗ lực của chính bản thân nhân vật kết hợp với thời vận, những cơ may, gặp gỡ người tốt và được giúp đỡ, cách xử lý ấy bảo đảm tính chân thực hiện thực. Nhưng tác giả lại xử lý những kẻ đã hại gia đình mình bằng tư tưởng “ác giả ác báo” theo luật nhân quả, trên cơ sở niềm tin dân gian, tin vào trời: “Lưới trời lồng lộng”, “Trời cao có mắt”. Ba kẻ đã hại gia đình Ngọc đều nhận kết quả thê thảm. Bà Tầm nói với các con: ”Đứa chạy xuống biển thì bị rắn biển cắn chết rồi. Ba đứa dẫn vợ con chui vào rừng sâu làm ăn không sao khấm khá lên được, vẫn nhai sắn trừ bữa, chui ra chui vào cái nhà tranh vách nứa bé hơn cái bếp nhà ta kia. Sống thế coi như chết rồi đâu con. Coi như ông giời đã phạt tụi nó…”(tr.168).

Đọc tác phẩm, người đọc thấy cái “lý lịch có vết đen” của Ngọc vẫn còn đó. Luật nhân quả đâu có giải quyết được vấn đề. Tác phẩm thiếu hẳn một tư tưởng về Con Người làm nền tảng, cho nên chỉ ghi lại được cái hiện tượng, mà chưa vươn tới tác phẩm tư tưởng. Văn chương thế giới lại tập trung khám phá về Con Người. E. Hemingway viết Ông già và biển cả và M. Sô lô khốp viết Số phận con người với tư tưởng về Con Người rất mới và rất đẹp.  Cả hai nhà văn đều đã nhận ra Con Người là Con Người kỳ vĩ. Bằng sức mạnh của chính mình, Con Người có thể chiến thắng mọi trở ngại, đạt đến ước mơ cao đẹp.

VĂN CHƯƠNG PHẠM NGỌC CHIỀU

           Những chia sẻ ở trên là tôi đặt trong những điều kiện giả định. Tiểu thuyết tự truyện buộc phải tôn trong sự thật như nó đã diễn ra. Phạm Ngọc Chiểu sử dụng kiểu bút pháp “hiện thực rậm rạp” quen thuộc của văn chương Hiện thực Xã hội chủ nghĩa. Từ cốt truyện chính, tác giả dẫn người đọc len lỏi vào các ngõ ngách, gặp gỡ những nhân vật phụ, ghé vào những chỗ dừng chân, và chứng kiến nhiều tình huống của đời sống. Nhiều chương, nhiều đoạn, tác giả viết như bút ký. Sự việc được ghi lại cẩn thận về thời gian, địa điểm, con người; có khi ghi rất chi tiết. Chẳng hạn, việc Hùng đạp xe 270 cây số (tr. 197) để lo chứng lý lịch (Phần II, đoạn 5). Công việc mở đường cũng được ghi chép tỉ mỉ như một bài tổng kết (Phần II, đoạn 14, tr.276 đến 279). Có cả việc ghi chép chi tiết về món nước mắm cáy (tr.80), một cối gạo giã (tr. 164-165), và có rất nhiều nhân vật phụ chỉ thoáng qua, chưa trở thành nhân vật tiểu thuyết.Đây là một tư liệu cụ thể. Tác giả ghi rõ tên các giảng viên ở Đại học Viết văn khi ông theo học: “Học các thầy: Hoàng Ngọc Hiến, Trần Quốc Vượng, Từ Chi, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đình Chú, Hà Văn tấn, Trần Đình Hượu, Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh, Đặng Nghiêm Vạn, và các nhà văn: Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Xuân Diệu, Lê Minh, Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiên, Anh Đức…(tr.293).

Nhà văn là người kể truyện. Tài năng của Phạm Ngọc Chiểu là kể truyện rất hấp dẫn. Anh đổi ngôi kể từ nhân vật này sang nhân vật khác tạo ra sự phong phú của góc nhìn trần thuật. Tác phẩm không chỉ có giọng kể của tác giả. Ở mỗi chương đoạn, nhà văn chọn một tình huống có vấn đề để kể và đầy tình huống lên mâu thuẫn cao độ, gay cấn, tạo ra sự hấp dẫn. Văn của Phạm Ngọc Chiểu có duyên, có sức hút người đọc. Ngôn ngữ giàu thông tin tạo nên những trang văn đầy ắp chất liệu hiện thực. Thí dụ. Phần I, đoạn 3, câu chuyện do C trưởng Đinh Văn Xuân kể, Phạm Ngọc Chiểu đã tách hẳn ra thành truyện ngắn Chạy trốn khỏi mình. Truyện ngắn này được in trong Tuyển tập văn xuôi thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước của Hội Nhà Văn. Đọc Phần I, đoạn 3 này, người đọc sẽ khám phá được cách kể truyện có duyên của Phạm Ngọc Cảnh.

Cách kể truyện có duyên ấy còn thể hiện ở nhiều yếu tố khác. Phạm Ngọc Chiểu xây dựng được nhân vật Vũ Thế Bản nói chính trị rất “ác”(tr.55), đúng bài bản không chê vào đâu được, và cái “hiểm” của anh ta dùng lý luận ý thức hệ để “đánh” Ngọc, có cả cái tài “chỉ đạo” bầu cử, tài răn đe Ngọc (tr. 62), và sau cùng lật tẩy Bản chỉ là một kẻ cơ hội chủ nghĩa lòng lang dạ sói, hại cả đời Kim (tr.140). Dạng người này ta gặp nhiều trong xã hội.

Sức hấp dẫn của trang văn Phạm Ngọc Chiểu còn toát ra từ sự nhập thân của tác giả vào nhân vật. Ông trải lòng mình vui buồn cùng nhân vật. Dường như cả bầu trời uất lên khi Ngọc bị lão Bản răn đe. Không gian mênh mông dội lên niềm vui hân hoan khi Hùng được cấp bằng lái. Từng con chữ nóng lên khi Hùng xách súng đi tìm kẻ thù để trả mối hận mấy chục năm (tr. 331). Cuộc “đấu” trí của Minh với Bí thư chi bộ Đinh Văn Xuân về sự chọn lựa một bên là lấy chồng và một bên là đi học lớp đối tượng Đảng. Đây là một chương được viết rất hay. Ngòi bút Phạm Ngọc Chiểu làm lộ ra nhiều ý nghĩa về quyền con người, về hạnh phúc cá nhân và về mối tương quan con người và xã hội, giữa một bên tình yêu và một bên là “lý lịch”(Phần II, đoạn 4). Có cả một chương miêu tả “kinh điển” về bầu chọn Ban chỉ huy theo chỉ đạo của ông Bản (Phần I, đoạn 7). Tôi gọi là “kinh điển”, vì cho đến tận ngày nay, việc bầu cử ở đâu trên đất nước này vẫn thế. Quần chúng dù có năng lực, được yêu mến đề cử vẫn bị chỉ đạo gạt ra. Bởi vì quần chúng chỉ là dãy số không vô giá trị (tr.60).

Một yếu tố khác có sức hút người đọc từ đầu đến cuối tác phẩm là cái “lý lich có vết đen” của Ngọc. Ai đã kinh qua giai đoạn trước “đổi mới” thì hiểu rõ sự vùi dập “khủng khiếp” đối với những người bị quản lý bằng lý lịch như thế nào. Đúng như Thiếu tá Lê Tâm nói với Hùng, khi đã bị xếp vào lý lịch loại ba, thì coi như hết thuốc chữa. Cuộc đời bị tước đoạt hoàn toàn quyền làm người như một người bình thường, dù anh ta là người tốt. Ngọc và Hùng là người tốt, cả hai đều nỗ lực phấn đấu không ngừng, cả hai chẳng có tội gì phạm pháp, vậy mà chỉ vì lý lịch mà bầm dập mấy chục năm. “Lý lịch” của Ngọc và Hùng được giữ bí mật đến cuối tác phẩm mới được Trọng Hà hé lộ. Những nút thắt của câu truyện được mở ra nhẹ nhõm, bình an. Người đọc mừng cho Ngọc và Hùng. Đó là một cách tạo hấp dẫn, bởi ngay cả khi bà Tầm nói lý lịch gia đình cho các con nghe, tác giả cũng không thuật lại lý lịch này (tr. 167).

          Khúc quanh định mệnh không chỉ là tự truyện của một gia đình trong hoàn cảnh khắc nghiệt của thời đại, mà là bức tranh về thân phận con người nói chung ở những tình huống cụ thể như tình huống ông Đan bị chết oan, và Hai con ông chịu hàm oan. Nói như Thiếu tá Lê Tâm: “Cuộc đời này chắc còn nhiều trường hợp bị đối xử như chú. Biết thế, nhưng đành chịu chú ạ…”(tr. 283). Nói “đành chịu” là không thể làm gì được để giải oan cho những thân phận như ông Đan, Ngọc, Hùng…Điều ấy buộc người đọc hôm nay phải suy nghĩ nhiều hơn về thực tại và nỗ lực làm việc để cuộc sống trở nên tốt đẹp như Ngọc và Hùng đã trải qua.

Tôi nghĩ, tiếng nói thầm lặng của bà Tầm, tiếng đáp trả quyết liệt của Phương, tiếng kêu tuyệt vọng của chị Kim, tiếng thương tâm của Thiếu tá Lê Tâm, và giọng buồn rất trầm của Bí thư Trọng Hà mới là thông điệp đích thực nhà văn muốn gửi đến người đọc hôm nay.

Tháng 10. 2018