“HIỆN THỰC CỨU RỖI” trong văn học Công giáo đương đại

HIỆN THỰC CỨU RỖI” TRONG VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

(Chuyên luận)

Bùi Công Thuấn

***

            Để nghiên cứu tác phẩm văn học Công giáo, tôi đề xuất khái niệm “bút pháp hiện thực cứu rỗi”. Khi viết về văn chương Song Nguyễn [[1]], tôi đã dùng khái niệm này. Dù vậy, cần làm rõ những nội hàm có tính lý luận cho cách dùng “thuật ngữ” này.

Đơn giản là vì, văn học Công giáo Việt Nam chưa có một nền lý luận văn học như một khoa học có tính phương pháp luận. Và chắc chắn là, không nhà văn Công giáo nào đã sáng tác bằng những nguyên tắc nghệ thuật này. Xét trong lịch sử lý luận văn học thế tục, cũng không có một “Chủ nghĩa Hiện thực cứu rỗi”, như những trào lưu văn học khác như: Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa tự nhiên (Emile Zola), Chủ nghĩa Hiện thực Phê phán (Honoré de Balzac, Fyodor Dostoevsky), Chủ nghĩa Hiện thực Huyền ảo (Gabriel García Márquez), Chủ nghĩa Hiện thực không bờ bến (Roger Garaudy), Chủ nghĩa Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa (M. Gorky, Mikhail Sholokhov), Chủ nghĩa Hiện thực phải đạo (Hoàng Ngọc Hiến)…

HIỆN THỰC VÀ “CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC” TRONG VĂN HỌC

            Phần này không trình bày các lý thuyết văn học như là những mô hình thuần lý học thuật, cũng không xem các lý thuyết văn học là những quy chuẩn có tính chân lý bất biến. Những phạm trù, những vấn đề có tính lý luận văn học chỉ được dùng như một hệ quy chiếu tạm thời, định vị cho khái niệm “Hiện thực cứu rỗi”,  đặc trưng của văn học Công giáo.

            Phạm trù “Phương pháp sáng tác” cũng đã được bàn cãi nhiều. Ở Việt Nam,  từ 1948 đến đổi mới (1986), báo cáo “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam” đã khẳng định bút pháp tả thực xã hội chủ nghĩa như là một phương pháp chính thức, độc tôn của văn học Việt Nam. Không khí “đổi mới” cho phép các nhà lý luận nói đến hạn chế của phương pháp này và nhân đó phủ định phạm trù “phương pháp sáng tác”.

Xin không bàn đến những vấn đề mà đến nay thời đại đã vượt qua: “Tiếp tục đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của văn học, nghệ thuật về đề tài, nội dung, loại hình, phương pháp sáng tác, sự tìm tòi, thể nghiệm, nâng cao chất lượng toàn diện nền văn học, nghệ thuật nước nhà…”(NQ 23 ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị)

Nói cho đúng, các “lý thuyết văn học” được đặt ra là để làm thước đo  định vị một trào lưu, một tác giả, tác phẩm nào đó. Nó không có khả năng bao quát mọi vấn đề của đời sống văn học. Không một nhà văn nào nghĩ đến phương pháp sáng tác khi ngồi trước trang giấy trắng, trái lại, anh ta phá tung mọi trói buộc hệ lụy, mở rộng cửa tâm hồn cho sự sáng tạo. Các nhà phê bình, các nhà nghiên cứu văn học đi sau những sáng tạo của họ. Và nhiều khi cái áo “lý thuyết văn học” trước đó đã không còn phù hợp.

            I.“Phản ánh hiện thực”

Xét đến cùng, “phản ánh hiện thực” là một thuộc tính của văn học. Văn học sử dụng ngôn ngữ làm chất liệu, mà ngôn ngữ, tự bản chất, là để định danh hiện thực.

 Chữ “cái bàn” (cũng được coi là một ký hiệu) là để gọi tên một vật gồm một mặt phẳng, bằng gỗ hay nhôm, tròn hay chữ nhật, có 4 chân hay chân chéo, dùng để làm việc: bàn làm việc, bàn ăn, bàn trang điểm, bàn nước…Khi sử dụng (viết hay đọc) chữ “cái bàn”, nó gợi ra trong đầu ta hình ảnh cái bàn trong hiện thực. Đó chính là thuộc tính “phản ánh hiện thực” của ngôn ngữ. Đã có nhiều ngành khoa học nghiên cứu ngôn ngữ và các lý thuyết ngôn ngữ ra đời [[2]]. Đó là Ngôn ngữ học (Ferdinand de Saussure), Ký hiệu học (Charles Sanders Peirce), Văn bản học (textology), Truyền thông học (John Culkin), … Có cả quan niệm về quyền lực ngôn ngữ (M. Foucault) và quan niệm cho rằng ngôn ngữ sáng tạo thế giới (Martin HeideggerWilhelm von Humboldt).

            “Phản ánh hiện thực” là thuộc tính nhưng cũng có thể là một nhiệm vụ khi người ta ghi lại có chủ đích những gì đã xảy ra trong đời thực, để thông tin, để nghiên cứu, để giáo dục, để hướng đến một mục đích chính trị, tư tưởng…

Các thừa sai, các nhà truyền giáo, luôn ghi lại lịch sử, địa lý, văn hóa, tình hình chính trị Việt Nam để làm tài liệu cho những người đi sau.

Thí dụ,

1.Alexandre de Rhodes viết: Hành trình và truyền giáo (Tunchini et Cochin-chinae aliorumque regnorum …)năm 1653; Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài (Histoire du Royaume de Tunquin)năm 1650,

2.Philippe do Rosario Bỉnh viết: Sách sổ sang chép các việc (1822); Nhật trình kim thư khất chính Chúa giáo (1797)

3.Trong Thuật tích việc nước Nam, Linh mục Đặng Đức Tuấn ghi lại lịch sử truyền giáo, các biến cố liên quan đến đạo Công giáo, và sự kiện ông tham gia phái đoàn Phan Thanh Giản ký hòa ước năm 1862

4.Văn học kháng chiến Việt Nam (chống Pháp, chống Mỹ) tập trung phản ánh cuộc kháng chiến của nhân dân để giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng (Xung kích của Nguyễn Đình Thi, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Hòn Đất của Anh Đức, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê…)

II. Chủ nghĩa hiện thực

“Chủ nghĩa hiện thực”, với tư cách một trào lưu, một phương pháp, chỉ xuất hiện vào thế kỉ 19 ở các quốc gia PhápÝAnhNga, sau đó ảnh hưởng tới các nước khác. Từ “réalisme” xuất hiện lần đầu tiên ở Pháp vào năm 1826 trên tạp chí Mercure de France, do nhà phê bình Champfleury sử dụng (wiki).

Nhà văn hiện thực hướng về thực tiễn cuộc sống để khám phá, sáng tạo và lên tiếng nói. Tức là, nhà văn khám phá phần hiện thực mình quan tâm, tìm nhân vật và câu chuyện trong hiện thực ấy, phát hiện vấn đề, đặt vấn đề và diễn ngôn, có người còn nói đến khả năng cải tạo hiện thực của văn học.

Nam Cao quan sát làng Vũ Đại, nơi ấy có hai lực lượng, bọn cường hào ác bá (Bá Kiến) ra sức ức hiếp nhân dân, và người nông dân bị thống trị, đã vùng lên đấu tranh (tự phát) và thất bại. Viết truyện Chí Phèo, Nam Cao lên tiếng: Hãy cứu lấy người nông dân bị thống trị áp bức. Truyện phản ánh cái nhìn bế tắc của Nam Cao trước 1945: hiện thực vẫn thế. “Tre già măng mọc”. Bá Kiến chết, lại có Lý Cường, Chí Phèo chết thì một Chí Phèo con trong bụng Thị Nở sẽ lại được ném ra nơi cái lò gạch bỏ hoang. Mở đầu truyện là hình ảnh cái lò gạch bỏ hoang nơi người ta nhặt được Chí Phèo (cha). Kết truyện là hình ảnh cái lò gạch bỏ hoang xa xa trong mắt nhìn của Thị Nở. Truyện được cấu trúc theo kiểu vòng tròn duy tâm phong kiến, thân phận con người là định mệnh, mãi thế, không thể khác. Thời gian quay mãi 4 mùa Xuân -Hạ – Thu – Đông; kiếp nhân sinh ngàn xưa đến ngàn sau không thoát khỏi Sinh – Lão – Bệnh – Tử.

Bút pháp hiện thực miêu tả theo nguyên tắc: nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình. “Nhân vật  điển hình” là nhân vật mang bản chất giai cấp xã hội. “Hoàn cảnh điển hình” là hoàn cảnh tập trung cao độ cuộc đấu tranh giai cấp.Hiện thực vô cùng phức tạp, xô bồ, chằng chịt các mối quan hệ (quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, quan hệ văn hóa, quan hệ huyết thống…). Cái mà ta nhìn thấy chỉ là “hiện tượng”. Nhà văn hiện thực không chỉ miêu tả hiện tượng, mà phải chỉ ra bản chất đấu tranh giai cấp của hiện tượng ấy. Thí dụ, truyện cổ tích Việt Nam, dưới các mối quan hệ gia đình là những cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt (Truyện Tấm – Cám, truyện Thạch Sanh – Lý Thông, truyện Ăn khế trả vàng…)

Khi chọn bút pháp hiện thực, nhà văn buộc phải tôn trọng những quy luật khách quan của hiện thực, không được bẻ cong ngòi bút theo ý định chủ quan. Chẳng hạn, công luận đã lên tiếng gay gắt về những tiểu thuyết lịch sử Việt Nam hư cấu sai với hiện thực lịch sử khách quan Đó là các tiểu thuyết Hội Thề của Nguyễn Quang Thân, Chim ưng và chàng đan sọt của Bùi Việt Sĩ; bộ ba tác phẩm của Trần Thanh Cảnh: Trần Quốc Tuấn, Trần Thủ Độ, Trần Nguyên Hãn[[3]]. Công chúng không chấp nhận việc hư cấu, miêu tả sai những gì đã được ghi chép biên niên trong những bộ sử ký chính thức của dân tộc như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục… 

Trong thực tiễn sáng tác, nhà văn, do chủ quan, từ góc nhìn văn hóa, trình độ trí thức, và trải nghiệm (vốn sống); do khác biệt về chính kiến (nhận thức chính trị, tư tưởng triết học), sự chi phối của thế giới quan, nhân sinh quan và việc sử dụng bút pháp mà có sự khác biệt trong việc khám phá và phản ánh hiện thực.

Thí dụ, cùng một hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930-1945, tác phẩm Văn học Lãng mạn (Nhất Linh, Khái Hưng), Văn học Hiện thực phê phán (Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng), Văn học Cách mạng (Tố Hữu, văn thơ các mạng trong tù) “phản ánh hiện thực” rất khác nhau.

III. Đặc trưng của một vài kiểu bút pháp hiện thực.

Để định vị “Hiện thực cứu rỗi”, cần đặt khái niệm này bên cạnh các kiểu bút pháp hiện thực khác. Xin chú ý rằng, tên của các kiểu “bút pháp hiện thực” được đặt theo mục đích sáng tác.

1.“Hiện thực phê phán” là “phê phán hiện thực”. Nhà văn miêu tả mặt trái hiện thực xã hội (thực dân, phong kiến) để từ đó, đứng về phía nhân dân, lên tiếng phê phán xã hội ấy. Cảm thức phê phán xã hội chi phối toàn cục việc kiến tạo tác phẩm.

(Honoré de Balzac)

Thí dụ, miêu tả nạn sưu thuế trong Tắt đèn, Ngô Tất Tố phê phán chính sách sưu thuế thực dân đã bần cùng hóa nhân dân. Miêu tả phong trào Âu hóa cùng với nhiều khuôn mặt tiêu biểu, trong Số Đỏ, Vũ Trọng Phụng lột trần bản chất lưu manh, vô luân của giai cấp tư sản thành thị đầu thế kỷ XX. Nhiều truyện ngắn của Nam Cao làm hiện lên cuộc sống bi thảm của người nông dân. Họ bị bọn cường hào ác bá thống trị, bóc lột và làm tha hóa, nhưng không sao thoát ra được (Chí Phèo)

2. “Chủ nghĩa tự nhiên” miêu tả hiện tượng mà không miêu tả bản chất giai cấp xã hội. Nhà văn “tự nhiên chủ nghĩa” không hướng người đọc đến một lý tưởng nào cả. Ở Việt Nam, trước “đổi mới”(1986), tác phẩm của Vũ Trọng Phụng bị đánh giá có nhiều yếu tố “tự nhiên chủ nghĩa”. Vũ Trọng Phụng lý giải hiện tượng xã hội bằng thuyết Thiên Mệnh và thuyết tính dục. Chẳng hạn, Số đỏ (1936) tập trung vào số may mắn của Xuân Tóc Đỏ. Từ một thằng “nhặt ban quần”, “thằng ma cà bông”, nhờ may mắn và lưu manh, Xuân trở thành “quan Đốc tờ” rồi thành “vĩ nhân”. Vũ Trọng Phụng không chỉ ra bản chất xã hội đã sản sinh ra những tên lưu manh như Xuân Tóc Đỏ. Trong tiểu thuyết Làm Đĩ (1937) Vũ Trọng Phụng viết về “cái dâm” như sau: “Một thiên tiểu thuyết phụng sự cái dâm? Xin các nhà đạo đức hãy khoan buộc tội! Cái dâm tự nó không những nó không xấu, mà nó còn là cái điều cao thượng, đẹp đẽ và linh thiêng vô cùng, vì nhờ nó mà loài người không tiêu diệt, nhờ nó mà có chúng ta đây. Tác giả xin để Freud, Goethe, Schiller, Yên Đổ, Nguyễn Công Trứ, cắt nghĩa cho các ngài nghe rằng sự dâm có là điều bản thỉu không đáng nói đến chăng, tưởng cũng là đủ” (Thay lời tựa).

3. “Hiện thực Huyền ảo”.

“Hiện thực huyền ảo” (Magical Realism) tuân thủ những nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực nhưng thêm vào các yếu tố “huyền ảo“ để mở rộng hiện thực được phản ánh. Nhà văn Cuba Carpentier không sử dụng thuật ngữ “Hiện thực huyền ảo” mà gọi là “hiện thực thần kì”…

(Gabriel García Márquez)

“Đặc điểm chủ yếu của trào lưu này là sự miêu tả và kết hợp độc đáo giữa hiện thực, lịch sử và huyền thoại, truyền thuyết, ma thuật… mang đậm màu sắc và văn hoá của người dân châu Mỹ Latinh.

Các tác giả sử dụng các yếu tố huyền ảo, hoang đường để làm hiện thực trở nên mới lạ,

 tạo sức hút đối với người đọc nhưng đằng sau đó là các vấn đề hiện thực, vấn đề thời đại”[[4]].

            “…Trong sáng tác, nó kết hợp việc truy tìm hiện thực và hình tượng ảo, hoặc biến hiện thực thành thần thoại, hoặc biến hiện thực thành mộng ảo, mộng cảnh, hoặc trong cuộc sống hiện thực cấy ghép sự vật mang sắc thái mộng ảo làm tăng sức biểu hiện cho tác phẩm.

… Trên phương diện kết cấu, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo phá vỡ trật tự tự nhiên của chủ quan và khách quan làm cho không gian, thời gian xếp đặt loạn xạ, đan xen thần thoại và hiện thực, thực cảm và huyễn cảm, người và quỷ, phần lớn dùng thủ pháp nghệ thuật tượng trưng, ám thị, so sánh, thay thế…trong sắc thái mung lung, huyền ảo, thần bí bao hàm nội dung đa dạng”[[5]].

 “Trăm năm cô đơn” của G.Marquez xuất bản năm 1967 được coi là tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo,

4. “Hiện thực không bờ bến

(Roger Garaudy)

Roger Garaudy viết “Về một chủ nghĩa hiện thực không bờ bến” năm 1963). Trong công trình này, ông cho rằng chủ nghĩa hiện thực không nên bị giới hạn bởi cách hiểu truyền thống là chỉ phản ánh thế giới một cách máy móc, mà cần mở rộng để bao gồm cả những hình thức sáng tạo, mang tính huyền thoại và dự báo tương lai (AI-Hay)

Garaudy kết luận rằng “Chủ nghĩa hiện thực của thời đại chúng ta là chủ nghĩa hiện thực sáng tạo huyền thoại, chủ nghĩa hiện thực có tính chất anh hùng ca, chủ nghĩa hiện thực mang tầm vóc Prométhée“[[6]].

5.Chủ nghĩa Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa

(M. Gorky)

M. Gorki dùng thuật ngữ “Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa” năm 1934. Điều lệ Hội nhà văn Liên Xô tại đại hội I xác định Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là phương pháp sáng tác chủ đạo của văn học Xô-viết.

Nội dung của phương pháp này được xác định như là yêu cầu miêu tả cuộc sống một cách chân thật, cụ thể lịch sử, trong sự phát triển cách mạng của nó.

Ở Việt Nam, Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa trở thành phương pháp sáng tác độc tôn từ 1948 đến “đổi mới” (1986). Nền tảng của  Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa  là chủ nghĩa Mác – Lênin với nguyên lý “tính Đảng”. Văn học nghệ thuật là một bộ phận trong sự nghiệp cách mạng, phục vụ trực tiếp nhiệm vụ chính trị của Đảng. “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy”[[7]].  

5. “Chủ nghĩa thần thực” trong văn học Trung quốc đương đại[[8]

Chủ nghĩa thần thực, (có thể giải thích một cách đơn giản, tức là:) trong sáng tác vứt bỏ những quan hệ logic bề mặt mang tính chân thực đời thường vốn có, đào sâu vào một dạng chân thực “không tồn tại”, một thực tại không nhìn thấy, một hiện thực bị che lấp. Chủ nghĩa thần thực vượt xa so với bước đi của chủ nghĩa hiện thực. Quan hệ giữa nó với hiện thực không phải là nhân quả trực tiếp của đời sống, mà phần lớn dựa vào linh hồn, tinh thần của con người (sự liên hệ của con người với mối quan hệ giữa tinh thần hiện thực và nội bộ sự vật) và những suy nghĩ chủ quan đặc thù của người sáng tác trên cơ sở hiện thực. Khách quan mà nói, không phải chủ nghĩa thần thực đã đến được cầu nối giữa cái chân thực và hiện thực. Những tưởng tượng, ngụ ngôn, thần thoại, truyền thuyết, cảnh mộng, huyễn tưởng, biến ảo, cấy ghép… đều là thủ pháp và con đường mà chủ nghĩa thần thực cần thông qua để hướng đến cái chân thực và hiện thực.

Chủ nghĩa thần thực tuyệt đối không bài trừ chủ nghĩa hiện thực, mà nó nỗ lực sáng tạo ra hiện thực và vượt qua chủ nghĩa hiện thực

…Sáng tạo ra sự chân thực, là đặc sắc mới mẻ của chủ nghĩa thần thực”.

6. Chủ nghĩa Hiện thực phải đạo”

(GS Hoàng Ngọc Hiến)

GS Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết : “Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua”, đăng trên Văn nghệ số 23, ra ngày 9/6/1979, đã viết:

Nhìn chung, trong sáng tác hiện nay, sự miêu tả cái phải tồn tại lấn át sự miêu tả cái đang tồn tại. Và chúng tôi tán thành ý kiến của Nguyễn Minh Châu cho rằng sự lấn át này đương là một trở ngại “trên con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực”, đặc biệt trong thể loại tiểu thuyết. Đứng ở bình diện cái phải tồn tại, người nghệ sĩ dễ bị cuốn hút theo xu hướng miêu tả cuộc sống cho phải đạo, còn đứng ở bình diện cái đang tồn tại thì mối quan tâm hàng đầu là miêu tả sao cho chân thật. Đọc một số tác phẩm chúng tôi thấy tác giả dường như quan tâm đến sự phải đạo nhiều hơn tính chân thật. Có thể gọi loại tác phẩm này là “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”. Thực ra, ngay trong đời sống thực tại, do quy luật của sự thích nghi sinh tồn, dần dần được hình thành những kiểu người “phải đạo” với những cung cách suy nghĩ, nói năng, ứng xử được xem là “phải đạo”. Khái quát những hiện tượng hết sức thực tại này vẫn sản sinh ra “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”. Chủ nghĩa hiện thực chân chính đòi hỏi người nghệ sĩ phải biết phân biệt đâu là những hình thức “phải đạo”, và đâu là nội dung chân lý phù hợp với quy luật phát triển cách mạng của bản thân cuộc sống.”[[9]].

Quan điểm này của GS Hoàng Ngọc Hiến bị phê phán gay gắt.

***

            Như vậy, các nhà lý luận đã đặt tên cho một kiểu sáng tác nào đó căn cứ vào mục đích sáng tác. Chẳng hạn: “Hiện thực phê phán” là phê phán hiện thực. “Hiện thực không bờ bến” là mở rộng biên giới của hiện thực, không chỉ đóng khung hiện thực theo quan niệm cổ điển. “Hiện thực phải đạo” là “miêu tả cuộc sống cho phải đạo”. “…do quy luật của sự thích nghi sinh tồn, dần dần được hình thành những kiểu người “phải đạo” với những cung cách suy nghĩ, nói năng, ứng xử được xem là “phải đạo”.

“HIỆN THỰC CỨU RỖI” TRONG VĂN HỌC CÔNG GIÁO

I. “Hiện thực” trong nhãn quan Kitô giáo

            Chủ nghĩa hiện thực chỉ quan tâm đến hiện thực xã hội mà cốt lõi là quan hệ đấu tranh giai cấp. Xã hội thế tục vận ành bằng những lý tưởng xã hội, những ý thức chính trị, những phong tục tập quán, môi trường văn hóa và các chết độ chính trị. Trái lại, Hiện thức cứu rỗi, mặc dù vẫn bám chặt hiện thực xã hội, nhưng vươn lên một tầng hiện thực khác là hiện thực tâm linh. Đó là những cảm quan, ý thức và trải nghiệm về sự sống, sự chết, sự phục sinh, Thiên đàng, Hỏa ngục, các tầng trời, tính hiệp thông giữa cõi người, cõi trời và cõi luyện tội, và đặc biệt là vũ trụ quan Kitô giáo: Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ, Thiên Chúa quan phòng sự vận động của lịch sử, quan phòng mọi  biến cố trong số phận mỗi con người. Tất cả diễn ra, ngoài khả năng nhận biết của con người, trong lịch sử Cứu độ của Thiên Chúa. Sự khác biệt căn cốt của Hiện thực cứu rỗi với chủ nghĩa hiện thực thế tục tạo nên cái riêng của văn học Công giáo.

            Thí dụ. Người nghèo trong xã hội luôn là trung tâm sự chú ý của văn học. Những “dân đen, con đỏ” trong Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi khổ vì bị giặc Minh thống trị. Nguyễn Du từng khóc thương 10 kiểu người chết oan (Văn tế thập loại cúng sinh). Những “dân ấp, dân lân” trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu “Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;/ Đâu biết xác phàm vội bỏ”. Ngô Tất Tố miêu tả thảm cảnh nhà chị Dậu trong mùa sưu thuế. Chị Dậu phải bán đứa con gái lớn là cái Tí và một ổ chó để có tiền chuộc Anh Dậu đang ốm liệt vẫn bị bắt trói ngoài sân đình. Những đứa con nhỏ của chị nheo nhóc…

            Người nghèo cũng là một nhân vật trung tâm của Kinh thánh. Nhưng người nghèo trong Kinh Thánh được nhìn ở Ơn Cứu độ. Ngưới nghèo xuất hiện trong mối phúc đầu tiên của 8 Mối Phúc: “Phúc thay.ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ”(Mt 5, 3). Người nghèo  cũng xuất hiện trong dụ ngôn Ngày Cánh chung (Mt 25,31-46):

            “Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa.
            Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm”.
           Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến thăm đâu?”
           Để đáp lại, Đức Vua sẽ bảo họ rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”(Mt 25, 34-40).

            Rõ ràng Kinh Thánh miêu tả người nghèo, nhưng không theo nhãn quan đấu tranh giai cấp mà lý giải bằng ơn Cứu độ, bằng Lòng Xót Thương của Chúa: nghèo là mối phúc. Người nghèo được cứu độ vì họ biết xót thương.

            Thí dụ 2: hiện thực tâm linh chói lọi: Chúa Giêsu biến hình trên núi Taborê.

            “Sáu ngày sau, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời,và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng.
             Và kìa các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người.
             Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, hay quá! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, Ngài một cái, ông Mô-sê một cái, và ông Ê-li-a một cái”.
            Ông còn đang nói, thì kìa có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và kìa có tiếng từ đám mây phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!”
           Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất.
           Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo: “Chỗi dậy đi, đừng sợ!”
          Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi”(Mt 17, 1-8)

            Thưa các bạn, đoạn trình thuật này của thánh sử Matthêu là hiện thực hay là “huyền ảo”? Thưa: -là thực, nhưng hiện thực mở rộng sang hiện thực tâm linh, hiện thực cứu rỗi.

II. Bút pháp “Hiện thực cứu rỗi”

            Nói đến “bút pháp” là nói đến cách viết, cách trình bày câu chuyện thành một văn bản  (khác với truyện dân gian truyền khẩu). Mục đích viết chi phối cách viết. Nếu viết để “phê phán”, nhà văn sẽ chọn những cái tiêu cực, chọn mặt tối của hiện thực, phơi bày ra ánh sáng, và sự phơi bày ấy (miêu tả trần trụi, huỵch toẹt) tự nó có ý nghĩa phê phán. Người Việt có thói quen tốt đẹp thì phô ra, xấu xa thì che đậy lại. Nếu viết để giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nhà văn sẽ chọn những nhân vật an hùng, sẽ dùn bút pháp “lý tưởng hóa” văn giọng văn anh hùng ca.

BÚT PHÁP HIỆN THỰC CỨU RỖI TRONG KINH THÁNH.

  1. Chuyện người phụ nữ ngoại tình bị ném đá (Ga 8, 1-11)

“Còn Đức Giê-su thì đến núi Ô-liu.Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền Thờ. Toàn dân  đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ.

Lúc đó, các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đến trước mặt Đức Giê-su một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, rồi nói với Người: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình.Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?”
            Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giê-su cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất.

Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất.
            Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi.

Chỉ còn lại một mình Đức Giê-su, và người phụ nữ thì đứng ở giữa. Người ngẩng lên và nói: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?” Người đàn bà đáp: “Thưa ông, không có ai cả.” Đức Giê-su nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”

Nhận xét:

Đây là một truyện được viết bằng bút pháp hiện thực (thực ra, đây là một trình thuật, một “ký sự”). Bối cảnh, thời gian, nhân vật, sự việc, diễn biến sự việc diễn ra trong hiện thực. Tác giả trình thuật có xen lời bình, nhưng rất ít. Ý nghĩa của truyện toát ra từ vấn đề, từ hành động, ngôn ngữ của nhân vật; từ cách thắt nút, mở nút đầy kịch tính, giàu trí tuệ và chan chứa lòng nhân ái của truyện.

Người phụ nữ lẽ ra phải bị ném đá chết đã được cứu sống và được tha tôi. Đức Giêsu cũng không lên án chị. Truyện lay động tâm hồn chúng ta mỗi khi có ý định “ném đá” người khác. Truyện cũng nhấn mạnh đến nỗi lực tự cứu rỗi của mỗi người. Đức Giêsu khuyên chị: “Tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”

Như vậy, truyện vừa giải quyết vấn đề giữ luật Mose trong hiện thực, vừa chỉ ra con đường cứu rỗi tâm linh cho nhân loại.

  • Chuyện ông nhà giàu và anh Lazarô nghèo khó (Lc 16, 19-31)

“Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người nghèo khó tên là Lazarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta.

Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.

 “Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Áp-ra-ham ở tận đàng xa, và thấy anh Lazarô trong lòng tổ phụ. Bấy giờ ông ta kêu lên: “Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh Lazarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm !”

Ông Áp-ra-ham đáp: “Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn Lazarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, Lazarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ.Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được”.

  “Ông nhà giàu nói: “Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Lazarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này !”

 Ông Áp-ra-ham đáp: “Chúng đã có Mô-sê và các Ngôn sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó”.
            Ông nhà giàu nói: “Thưa tổ phụ Áp-ra-ham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối”.

 Ông Áp-ra-ham đáp: “Mô-sê và các Ngôn sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin”.

Nhận xét:

Đây là một dụ ngôn, nghĩa là một truyện hư cấu.

Bối cảnh là không gian nối liền Âm phủ (nơi giam giữ ông nhà giàu), trần gian (nơi người thân còn sống) và Thiên đàng, nơi Lazarô đang ngồi trong lòng tổ phụ Abraham.

Nội dung truyện là đối thoại giữa ông nhà giàu và Abraham. Ông nhà giàu xin Abraham cứu vớt khỏi hỏa ngục.

Đối thoại ấy mở ra không gian hiện thực sống động (quan niệm: ngôn ngữ tạo ra thế giới). Đó là cảnh ông nhà giàu bị thiêu đốt trong hỏa ngục. Và khi đã sao vào hỏa ngục, ông không thể được cứu. Những xoay trở tính toán của ông để cứu những người anh em còn đang sống, cũng đều không thể.

Thủ pháp tương phản tạo nên ấn tượng mạnh mẽ: tương phản giữa hoàn cảnh sống nghèo khổ của Lazarô khác so với ông nhà giàu; tương phản giữa lửa thiêu trong hỏa ngục và hạnh phúc thiên đàng, tương phản giữa Lòng Chúa Thương Xót (với Lazarô) và hình phạt cho kẻ không biết xót thương (người nhà giàu).

Cựu Ước đã nói về tổ phụ Abraham, các Ngôn sứ cũng đã xuất hiện trong thời Cựu Ước. Hình ảnh những người ăn mày, những phú ông, thì thời nào cũng có, đó là những yếu tố hiện thực. Nhưng để kể lại câu chuyện Lazarô và người nhà giàu, Đức Giêsu đã sáng tạo một cuộc đối thoại trong không gian tâm linh, không gian của các linh hồn, của đức tin, của Lời Ngôn sứ, Lời Đức Giêsu. Nơi ấy, chỉ những ai có đức tin vào ơn Cứu Rỗi mới thấm được hết ý nghĩa câu chuyện.

Thí dụ 3: Đức Giêsu và tổng trấn Philatô (Ga 18, 33-38)

“Ông Philatô trở vào dinh, cho gọi Đức Giê-su và nói với Người: “Ông có phải là vua dân Do-thái không?”
            Đức Giê-su đáp: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?”
           Ông Philatô trả lời: “Tôi là người Do-thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?”
           Đức Giê-su trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng nay Nước tôi không thuộc chốn này.”
           Ông Philatô liền hỏi: “Vậy ông là vua sao?”

Đức Giê-su đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.”
          Ông Philatô nói với Người : “Sự thật là gì?”

          Nói thế rồi, ông lại ra gặp người Do-thái và bảo họ: “Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy”.

            Nhận xét:

            Thánh Gioan thuật lại cuộc gặp gỡ, đối chất giữa Philatô và Chúa Giêsu. Một hoàn cảnh hết sức căng thẳng, quyết liệt và gấp rút. Trong hoàn cảnh ấy, không ai có thể bình tâm được. Trình thuật hoàn toàn là hiện thực. Có bối cảnh thời gian, không gian, sự việc, mở đầu và kết thúc.

            Trình thuật làm nổi bật con người lịch sử và thần tính (Thiên Chúa) của Đức Giêsu: Người bị cáo là “Vua dân Do Thái”, là tầm vóc con người lịch sử, tầm vóc lớn lao giữa dân Do Thái và đế quốc La Mã.. Thần tính Thiên Chúa của Đức Giêsu thể hiện ở lời khẳng định:  “Nước tôi không thuộc thế gian này”; “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là để làm chứng cho sự thật”. Nhưng Philatô đã không hiểu điều này, nên mới hỏi lại Chúa: “Sự thật là gì?” Nhưng Chúa không trả lời Philatô. Kết thúc văn bản là kết luận của Philatô: Ông lại ra gặp người Do-thái và bảo họ: “Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy”.

            Cả đoạn văn bản Tin Mừng (Ga 18,33-38) là để khẳng định Đức Giêsu là ai, từ đó củng cố đức tin cho người theo Chúa. Để thực hiện sự khẳng định này, Gioan chọn góc nhìn về Đức Giêsu từ Philatô (góc nhìn của kẻ đối lập), không phải góc nhìn của môn đệ (Mc 8, 27-35).

             Rất tiếc, Philatô chỉ nhìn Đức Giêsu  như một con người của lịch sử. Trái lại, các môn đệ khẳng định Đức Giêsu là Đấng Kitô:

            “Khi ấy, Chúa Giêsu cùng các môn đệ đi về phía những làng nhỏ miền Cêsarê thuộc quyền Philipphê. Dọc đường, Người hỏi các ông rằng: “Người ta bảo Thầy là ai?” Các ông đáp lại rằng: “Thưa là Gioan tẩy giả. Một số bảo là Êlia, một số khác lại cho là một trong các vị tiên tri”. Bấy giờ Người hỏi: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?” Phêrô lên tiếng đáp: “Thầy là Ðấng Kitô”. Người liền nghiêm cấm các ông không được nói về Người với ai cả”.

            Đoạn trình thuật miêu tả Đức Giêsu tại dinh quan tổng trấn Philatô, nơi Ngài có thể bị kết tội hoặc được tha. Song Đức Giêsu không hề bận tâm đến ngoại cảnh (áp lực của dân Do Thái), không băn khoăn đến hoàn cảnh oan ức của mình và không hề lo lắng gì về sự sống chết để kháng án. Đức Giêsu hoàn toàn làm chủ hoàn cảnh và vượt lên trên quyền lực của vua chúa thế gian. Philatô đã phải khẳng định: “Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy”.

            Điều ấy làm rõ hơn ý nghĩa cái chết của Đức Giêsu: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là để làm chứng cho sự thật”. “Sự thật” ấy là: Đức Giêsu từng nói, “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống”(Ga 14,6). Nói cụ thể, chính Đức Giêsu mới là “sự thật cứu rỗi”. Đức Giêsu nói với Mácta: “Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không?”(Ga 11, 26).

            Tất cả những miêu tả, trình thuật như thế là miêu tả “Hiện thực cứu rỗi”. Không hề có bóng dáng “Hiện thực phê phán” hay “Hiện thực huyền ảo”, hoặc “Hiện thực không bờ bến” hay bất cứ kiểu bút pháp hiện thực nào hướng về xã hội mà không hướng về “sự thật”.


BÚT PHÁP “HIỆN THỰC CỨU RỖI”

TRONG VĂN HỌC CÔNG GIÁO

            Xin lưu ý rằng, không có một “trào lưu văn học” sáng tác theo bút pháp “Hiện thực cứu rỗi” trong văn học Công giáo. Khi nghiên cứu Hiện thực cứu rỗi trong văn học Công giáo, tôi chỉ muốn xác định một đặc trưng của văn học Công giáo Việt Nam so với các dòng văn học thế tục khác, và coi đó là một đóng góp mới mẻ về thi pháp vào văn học dân tộc.

Văn học Việt Nam, về thi pháp, đã có nhiều nền văn học khác nhau: văn học dân gian, văn thơ trung đại chịu ảnh hưởng thi pháp Trung Quốc, thơ Thiền (từ thời Lý – Trần) và thơ văn chịu ảnh hưởng Phật giáo. Văn học chịu ảnh hưởng phương Tây từ Truyện Thầy Lazarô Phiền (1887) đến nay, và văn thơ Công giáo từ Girolamo Majorica (1591–1656, tác phẩm văn xuôi chữ Nôm), Alexandre de Rhodes (1593–1660, tác phẩm viết bằng chữ Quốc ngữ)…

Sự khác biệt căn cốt của văn học Công giáo, cũng là đóng góp mới mẻ của văn học Công giáo cho văn học dân tộc là tư tưởng thần học mà cốt lõi là Mỹ học Kitô giáo, cùng với truyền thống văn hóa phương Tây, các thể loại phương Tây, góp phần hội nhập văn hóa, thoát ly dần ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc trong văn học.

Tất nhiên, khi đã nói đến một nền văn học, thì không thể không nói đến thi pháp của nền văn học ấy, trong đó có tư tưởng Mỹ học, chất liệu sáng tác, đối tượng sáng tác, mục đích sáng tác kiểu ngôn ngữ, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, và phương pháp sáng tác…

Chẳng hạn, thi pháp ca dao có một số đặc điểm. Ca dao thường sử dụng thể thơ lục bát, điệu nói hướng ngoại. Ngôn ngữ là lời ăn tiếng nói của nhân dân, là tiếng gọi cộng đồng. Chất liệu là sự vật, sự việc ngay trong môi trường sinh hoạt (“Hôm qua tát nước đầu mình/ Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen…”). Về bút pháp, Ca dao được viết bằng ba thể: thể phú (miêu tả, bày tỏ, kể chuyện), thể tỷ (so sánh, ví von), và thể hứng (mượn sự vật gợi hứng rồi dẫn đến vấn đề. Thí dụ: “Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân…”), dùng nhiều biện pháp tu từ. Thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật là môi trường lao động, là không gian cộng đồng. Ca dao diễn tả những tình cảm cộng đồng thôn quê (“Trâu ơi ta bảo trâu này/ Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta…”). Đối tượng của ca dao là người bình dân. Ca dao được sáng tác ngay trong môi trường lao động để cổ vũ công việc lao động. Ngày nay, trong những dịp họp mặt, người ta vẫn sáng tác ca dao góp vui… “Thơ phong trào” Việt Nam đương đại, hầu hết chỉ ở dạng ca dao, rất ít có sáng tạo mới mẻ của cá nhân.

Xin đọc một vài tác giả Công giáo đương đại.

1.Thơ Công giáo của Francis Lê Đình Bảng

Thơ Lê Đình Bảng được xem là tiêu biểu nhất của thơ ca Công giáo từ sau Hàn Mạc Tử. Con đường thơ Lê Đình Bảng phát triển theo một hướng khác và đạt đến những đỉnh thi sơn mới về thơ ca. Nếu thơ Hàn Mạc Tử là thơ Siêu thực, thì thơ Lê Đình Bảng đậm đặc phẩm chất của bút pháp Hiện thực cứu rỗi. Đó là một lối tơ rất sáng Mỹ học Ki tô giáo, giàu có văn hóa Cxo6ng giáo Việt Nam, kết hợp nhuần nhiễn cảm thức Đông-Tây và đặc biệt là ngôn ngữ nhà đạo mới mẻ hòa quyện lấy ngôn ngữ ca dao truyền thống.

Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện

Hồn reo vui trong từng chữ từng lởi

Trong đất mầu đương vỡ vạc sinh sôi

Trong cây lá vươn sức dài vai rộng

         (Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện)

Và khi ấy hỡi bồ câu thiên sứ

Gõ nhịp mà ca, trẩy hội cầu mưa

Hạt xuống đồng, xanh mướt búp măng tơ

Hạt lên dốc, đẫy đà cây muôn trượng

                        (Xin trời mưa sương xuống)

     Cây Thánh giá nở hoa đào rực rỡ

                Hãy thả bồ câu bay rợp đền vàng

                Hương sáp, mật ong, quần điều áo lục

                Bên đây bờ Tân ước…

                     (Người hát rong trên đồng cỏ)

2.Truyện ngắn của Lm Micae Nguyễn Trung Tây

Linh mục Nguyễn Trung Tây sinh ra tại Sài Gòn. Năm 1984 định cư ở San Jose, Thung Lũng Hoa Vàng, Hoa Kỳ. Ngài thụ phong Linh mục dòng Ngôi Lời tại Phố Gió Chicago năm 2002. Đây là trải nghiệm của tác giả: “20 năm hít thở không khí Việt Nam! 2 năm làm người vô tổ quốc lang thang trại cấm Mã Lai và trại tỵ nạn Phi Luật Tân! 21 năm lang thang ở Mỹ! 10 năm làm việc tại Úc Châu! 5 năm quay về lại Philippines cho một giấc mơ.”[[10]]

Tác giả có trang web “Quán nước đầu làng. Nơi đây “Chủ quán Nnguyễn Trung Tây

 xin chỉ kể những câu chuyện rất tầm thường và rất Việt Nam: “Chuyện Tu Sĩ Chuyện Em,” “Chuyện Ông Tư Dì Tư,” “Chuyện Vợ Chuyện Chồng,” “Chuyện Bác Chuyện Em,” “Chuyện Mẹ Chuyện Con,” “Chuyện Peter, Michelle, Andy.”

Tác phẩm văn học đã in:

Quán rượu nửa đêm (tuyển tập truyện ngắn). 2004

Ốc mượn hồn (tuyển tập truyện ngắn). 2007

Ông giáo bán mắm (tuyển tập truyện ngắn). 2021

Chữ nghĩa tu sĩ bình bát (bút ký song ngữ Việt-Anh). 2021

Writings of  A Mendicant Monk (bút ký tiếng Anh). 2022

Quán nước đầu làng – Niềm tin Việt Nam I (2021), II (2023), III

Và nhiều tác phẩm suy tư thần học…

Truyện của linh mục Nguyễn Trung Tây ghi lại những trải nghiệm của bản thân (như tự truyện) thời gian lưu lạc ở các trại cấm Mã Lai và trại tỵ nạn Phi Luật Tân, 21 năm lang thang ở Mỹ! Tình trạng làm công dân toàn cầu, không biết mình thuộc về “tổ quốc” nào? Đó cũng là những vấn đề của người Việt hải ngoại trong quá trình hội nhập với xứ sở định cư. Truyện đầy ắp chất liệu hiện thực của một giai đoạn lịch sử đầy bão táp đối với thân phận con người, nhưng được nhìn qua lăng kính Hiện thực cứu rỗi.

Truyện “Tôi tới từ thiên đàng” là nỗi trăn trở khôn nguôi về quê hương, về ngôi nhà của mình. Không sao tìm được câu trả lời cho câu hỏi:  -“Ông bạn từ đâu tới vậy?”. Bế tắc trong đời thực (người sống tha hương, không có tổ quốc), tác giả hướng lên trời tìm câu trả lời.

Xin trích:

            -“Ông bạn từ đâu tới vậy?”

Một câu hỏi đơn giản như thế thông thường được trả lời với một câu bắt đầu với chủ từ “Tôi”, theo sau là động từ “là” (trong trường hợp này động từ “là” nằm ở thì hiện tại, ngôi thứ nhất, số ít, đọc là “từ”), cuối câu là túc từ (tên của một quốc gia nào đó). Dựa vào những nét Đông phương trên khuôn mặt, thiên hạ thông thường vẫn chờ đợi tôi sẽ điền vào chỗ trống của túc từ với một danh từ, hoặc “Thái Lan” hoặc “Cambuchia” hoặc “Trung Hoa”. Nhưng nếu tôi thành thật và ngây thơ nói,- “Hiệp Chủng Quốc…”, thiên hạ đã rất nhiều lần phản ứng ngay với giọng điệu mỉa mai,
            -“Ông thần? Ông đâu phải là Mỹ!…”

“Câu chuyện “Bạn từ đâu tới?” không chấm dứt ở đây… Bởi đã có những lần quay về Việt Nam công tác, tôi đã từng được/bị (người Việt) nhìn hoặc đối xử hoặc coi như một người ngoại quốc ngay trên vùng đất chôn nhau cắt rốn…”

            “…Vâng! 20 năm hít thở không khí Việt Nam! 2 năm làm người vô tổ quốc lang thang trại cấm Mã Lai và trại tỵ nạn Phi! 21 năm lang thang ở Mỹ! 10 năm làm việc tại Úc Châu! Và bây giờ bạn hỏi tôi, “Anh từ đâu tới?”. Và bạn chờ đợi một câu trả lời đơn giản. Nghiêm chỉnh đi ông bạn! Đừng nói chuyện bỡn!…”

            “Tôi chỉ ngón tay lên trời, bầu trời xanh xanh màu ngọc bích, khẳng đinh, “Tôi từ thiên đàng mà tới”.[[11]]

            Câu trả lời làm tôi nhớ đến Đức Giêsu. Khi đối mặt với những thách thức trần gian, câu trả lời của Chúa vừa hóa giải vấn đề, vừa hướng vào tâm linh và đem đến ơn cứu độ cho những ai có lòng tin. Chẳng hạn:

            “Ông Lê-vi làm tiệc lớn đãi Người tại nhà ông. Có đông đảo người thu thuế và những người khác cùng ăn với các ngài. Những người Pha-ri-sêu và những kinh sư thuộc nhóm của họ mới lẩm bẩm trách các môn đệ Đức Giê-su rằng: “Sao các ông lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi ?” Đức Giê-su đáp lại họ rằng: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn“(Lc 5, 29-32)

3. Truyện của Linh mục Đaminh Nguyễn Đức Thông[[12]]

Lm. Đa Minh Nguyễn Đức Thông CSsR, sinh năm 1957. Ngài chịu chức Linh mục năm 1993; là Tiến sĩ ngành Giáo dục Tôn giáo tại Đại học De la Salle, Manile. Hiện là Giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam. Giảng dạy tại: Đại Chủng viện Saigon, Học viện Công giáo.

          Tác phẩm văn học chính:

Nắng chiều tàn tạ. 7 truyện ngắn. Nxb Đồng Nai, 2003.

Rừng cao su thay lá. 5 truyện ngắn. Nxb Đồng Nai, 2005.

Hoa tươi trong vùng cát. 3 truyện ngắn. Nxb Đồng Nai, 2006.

Sỏi đá nở hoa. 3 truyện ngắn. Nxb Đồng Nai, 2011.

Trăng rằm trên phố núi. Tiểu thuyết. Nxb Hồng Đức, 2018.

***

Xin đọc ruyện Cây thánh giá giả(tóm tắt) 

Cụ Ngữ là người sáng lập Đan viện Thiên Ân. Cụ ở Tokyo muốn về Việt Nam để nghỉ dưỡng. Từ sân bay về Đan viện, cụ chứng kiến bao thứ giả: tai nạn giả, bắt tội phạm giả. Người dẫn đường nói: ở Việt Nam còn có mũi gỉa, cằm giả, ngực giả, lúm đồng tiền giả, mụt ruồi giả nữa.

Về tới Đan viện, cụ Ngữ được các cha giới thiệu cảnh quan, chỗ nào cũng giả: cột bê tông giả, hoa giả. Cha Long nói: “Thiên Chúa bây giờ chỉ là một thứ xa xỉ, nếu không muốn nói là một công cụ trong tay người ta”.

Thầy Tuyên chở cụ Ngữ đi kiểm tra nhà mồ côi. Dọc đường Cụ Ngữ còn biết thêm bằng lái xe giả, bằng Tiến sĩ giả…tiền giả rải đường (tiền âm phủ), cả những hiện tượng phản văn hóa, tiểu ngoài đường, Sư giả – và nhiều cảnh nhiễu nhương (trại heo bên cạnh tu viện).

Tại trại mồ côi, có cả Bề trên giả, các em mồi côi giả (cha mẹ nghèo quá gửi vào), món ăn giả (món ăn để chưng cho đoàn kiểm tra thấy, trẻ không được ăn). Lại một đám cưới giả xin làm lễ, Cụ Ngữ từ chối thẳng.

Dự một lễ truyền chức long trọng, cụ phát hiện ra linh mục giả. Bị choáng, cụ ôm lấy cây thánh giá mà cụ đã dựng ngày xưa. Cụ nghĩ chỉ có cây thánh giá này là thật. Thầy Tuyên (người dẫn đường) bảo, cây thánh giá này cũng là giả, cây thánh giá thật bị nhổ đem bán rồi. Cụ Ngữ ngã xuống.

***

Truyện đầy ắp chất liệu hiện thực đời sống hôm nay. Khi mở cửa với thế giới, Việt Nam bị xâm lăng văn hóa. Bao nhiêu giá trị đạo đức bị tha hóa. Chủ nghĩa thế tục, thói thực dụng, lối sống cá nhân vị kỷ cùng với sự lừa lọc, giả trá, lưu manh lên ngôi. Đến cả “sự thánh” cũng là giả! Hiện thực ấy là quá sức chịu đựng của một lương tâm thiện lành. Cụ Ngữ ngã xuống. Đó là lời cảnh báo khẩn thiết đối với những ai còn muốn giữ lấy đức tin.

Đức Giêsu đã cảnh báo mạnh mẽ về thời đại này:

“Bấy giờ, nếu có ai bảo anh em: “Này, Đức Ki-tô ở đây” hoặc “ở đó”, anh em đừng có

 tin. Thật vậy, sẽ có những Kitô giả và ngôn sứ giả xuất hiện, đưa ra những dấu lạ lớn lao và những điềm thiêng, đến nỗi chúng lừa gạt cả những người đã được tuyển chọn, nếu có thể.
            Thầy báo trước cho anh em đấy!” (Mt 24,23-25)

            ***

            Truyện của Linh mục Nguyễn Đức Thông là một diện mạo khác của “bút pháp Hiện thực cứu rỗi”.

4.Truyện của Linh mục Giuse Cao Gia An SJ [[13]]

               Lm Giuse Cao Gia An sinh năm 1981 tại Hiệp Đức, Bình Thuận. Thụ phong linh mục năm 2014, thuộc dòng Tên. Pontificia Università Gregoriana (Đại học Giáo hoàng Gregorian). Tiến sĩ về Chú Giải Kinh Thánh. Hiện đang giảng dạy môn Ngôn sứ tại Học viện Dòng Tên Việt Nam.

 Đã xuất bản: 

Hãy học cùng Giêsu (Nxb Antôn và Đuốc Sáng, 2014).

Bạn đường Đức Giêsu (Nxb Antôn và Đuốc Sáng, 2014). Đồng tác giả với tác giả Nguyễn Mai Kha.

Hoa phượng về trời (Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2014).

Hợp Tuyển Thần học, số 50 (Nxb Tôn giáo, 2016). Đồng tác giả với tác giả Phạm Tuấn Nghĩa và nhiều tác giả khác.

Tâm sự một loài hoa trên tường đá (Nxb Tôn giáo, 2018).

Bên ngoài cổng nhà thờ (Nxb Hồng Đức, 2018).

Lạy Chúa con đây! (Nxb Đồng Nai, 2021).

Mùa cứu rỗi (Nxb Đồng Nai, 2021).

Tình thơ trên phận người (Nxb Đồng Nai, 2021).

Tay trắng Tay Đen – Nhật ký Châu Phi (Nxb Đồng Nai, 2024).

Lạy Chúa! Ngài đã quyến rũ con (Nxb Đồng Nai, 2024)…

Đọc tập truyện “Bên ngoài cổng nhà thờ”

      Bên ngoài cổng nhà thờcòn rất nhiều người nghèo thiếu cả cơm ăn áo mặc. Nghèo hơn nữa là những người nghèo chưa bao giờ được nuôi dưỡng bởi những của ăn tinh thần và đời sống tâm linh. Họ vô phương kháng cự trước vô số cám dỗ và nguy cơ của đời sống hiện đại”.

Tác giả dẫn người đọc đến thăm những cảnh đời mà lối sống đạo truyền thống của người Công giáo đã đẩy họ ra ngoài nhà thờ. Đó là những trường hợp gọi là hôn nhân “rối”, những cô gái “chửa hoang”(Bên ngoài nhà thờ, Cha xứ dở); những “cánh hoa rơi” giữa phố thị (Tầm xuân giữa phố); chia sẻ những bi thảm của những số phận bị công nghiệp hóa tước đi môi trường sống (Miền cỏ xanh dưới lòng sông), hoặc làm tha hóa những điều đạo đức tốt đẹp, làm tan vỡ những cuộc tình hồn hậu,  làm ly tán những gia đình vốn nề nếp hạnh phúc (Tiềng chuông nhà thờ; Hương ổi ngày xưa; Xóm không đêm; Một cuộc đời để sống)…

Bên ngoài cổng nhà thờ là cuộc sống phức tạp. Người Linh mục trẻ cảm thấy bất lực. ”Càng va chạm nhiều với thực tế, anh càng gặp nhiều cảnh đời đau lòng. Những cảnh đời đau lòng đặt ra cho anh nhiều câu hỏi vô phương trả lời, nếu chỉ dựa trên những gì anh đã được học, dựa trên những phương tiện anh đã được trang bị, hay dựa trên những luật lệ mà trước đây anh đã từng trân giữ và xác tín”.  

        ***     

    Tập truyện đầy ắp hiện thực xã hội về những vấn đề nhân sinh hôm nay, những vấn đề thách thức lương tâm Công giáo. Đối diện với hiện thực ấy, người môn đệ của Chúa phải hành động. Nhà văn kể chuyện là hành động (tính quyền lực của ngôn ngữ – M. Foucalt). Những bức tranh hiện thực thôi thúc lương tâm, thôi thúc những ai có đức tin. Lương tâm chúng ta phải trả lời câu hỏi này của Chúa:

            “-Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu ?”.

             Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy“. (Mt 25, 44-45).

              Phẩm chất “Hiện thực cứu rỗi” trong truyện của Cao Gia An là sự thức tỉnh lương tâm trước những vấn đề nhân sinh trong nhãn quan Kitô giáo.

5. Nữ tu Xuân Cát OP- trường ca “Ánh lửa đức tin trong đại dịch Covid” [[1]] Sr Xuân Cát OP. dòng nữ Đa Minh Gò Vấp, sinh năm 1988 tại Phú Thọ, Giáo phận Hưng Hóa, là tác giả trẻ, tài năng của văn học Công giáo đương đại. Sr đã đạt Giải VHNT Đất Mới ở nhiều thể loại. Năm 2019, truyện dài Đời làm hạt đạt giải Khuyến khích. Năm 2020, kịch thơ Món quà kỳ diệu đạt Giải Nhất. Năm 2022, trường ca Ánh lửa đức tin trong đại dịch Covid  đạt Giải Nhất. Năm 2024, đạt Giải Nhất trường ca: “Gương phúc tử đạo” và Giải Nhì kịch bản văn học: “Nắng sau lưng chiều”.

Anh lửa đức tin là một trường ca tự sự. Tác giả kể lại câu chuyện của một đứa bé trong mùa đại dịch. Dịch tràn đến, người bố đi chống dịch. Tình hình dịch rất căng thẳng. Bố chết. Người mẹ ở nhà sinh con. Chị phải phẫu thuật, nhưng chị cũng ra đi khi vừa thấy mặt con. 30 năm sau, có một linh mục già, người đã từng bồng bế đứa bé mất cha mất mẹ trong mùa đại dịch năm xưa. Cha già hỏi linh mục trẻ, khi Covid xảy ra, Chúa ở đâu:

Ngài vẫn ở bên chúng ta

Ngài cảm thấu hết những bệnh tật của ta

những ai chạy đến với Giêsu trong ánh sáng đức tin

sẽ gặp Ngài/ vì Ngài là con người và đã có kinh nghiệm về tất cả những điều này.”

Có thể thấy một sắc thái khác của “Hiện thực cứu rỗi” trong trường ca của Sr. Xuân

Cát OP. Đó là sắc thái lãng mạn mang tư tưởng của Tin Mừng. Bài giảng trên núi của Đức Giê su, “Tám Mối phúc” (Mt 5,1-12) là một bài ca tràn đầy lạc quan:

           “Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế”(Mt 5, 12)

***

6. Vinh Kiu – Đóa hồng thứ 40 [[1]]

Vinh Kiu là bút danh của tác giả Giuse Lê Ngọc Thành Vinh. Vinh Kiu sinh năm 1980 tại Hà Tĩnh. Anh hiện sống tại Hà Nội, công tác ở Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Tiểu thuyết “Đóa hồng thứ 40” của Vinh Kiu đoạt giải Nhất cuộc thi Văn hóa Nghệ thuật Đất Mới năm 2020 của Giáo phận Xuân Lộc. Anh cũng đã xuất bản tiểu thuyết “Hoa trong bão” (Nxb. Hồng Đức, 2022), tập truyện ngắn “Maria ngoại truyện” (Nxb. Hồng Đức, 2022)… và tập truyện ngắn Lấy người ngoại giáo(Nxb. Hồng Đức, 2025).

Vinh Kiu có lối viết hiện đại, trẻ trung. Anh đối mặt trực diện với những vấn đề thách thức lương tâm Công giáo trong đời sống xã hội hôm nay.

ĐÓA HỒNG THỨ 40

           Truyện dài Đóa hồng thứ 40 còn đặt ra nhiều vấn đề “nóng” của xã hội Việt Nam đương đại. Đó là: tuổi trẻ sống ảo, yêu ảo; vấn đề Formosa và sự hủy hoại môi trường; việc xuất khẩu lao động chất chứa nhiều điều phạm pháp và hiểm nguy như vay nóng, bị dụ dỗ làm việc phạm pháp (như đóng phim JAV, trồng cần sa…); vấn đề “đại kết” Công giáo và Tin Lành. Đặc biệt là tình cảnh của người trẻ ở Việt Nam. Học xong ra trường, sinh viên muốn xin được việc thì phải “chạy” tiền, hoặc phải bán thân cho giám đốc; sự phí phạm tài năng; cấu trúc gia đình bị phá vỡ khi xu thế làm mẹ đơn thân tăng lên đối với bạn gái …

            Vì tác phẩm có nhiều phẩm chất một truyện ký (ký sự, phóng sự) nên những ghi chép về một số mặt đời sống và con người khá cụ thể và sống động. 

Có một thực tế, Hiền đã nản lòng: “cô than trách Chúa, lúc con tàu của bố bị đắm thì Chúa đang ở đâu, đã bao lần Người nhắm mắt làm ngơ trước nỗi đau của gia đình cô như vậy? Người đã lấy đi em gái cô, đã lấy hết niềm vui của mẹ, biến mẹ thành một cỗ máy chỉ biết cày cuốc kiếm ăn để quên đi những nỗi đau, ấy vậy mà Người còn kéo mẹ đi sớm. Người đã để mặc cho chị gái của cô thân bại danh liệt, thằng Cò mất cha. Người thậm chí đã lấy đi cả ba chàng trai mà cô hết lòng yêu thương. Và giờ đây Người đã không cho bố cô và con cháu một cơ hội nào để được sống, thậm chí là để tồn tại như một con người có tự do và mưu cầu hạnh phúc…”(tr.123)

Đó là cách lý giải chỉ nhìn vào hiện tượng “tự nhiên chủ nghĩa”. Sau cái chết của Huyền My, bông hồng thứ 39, Thanh Hiền có nhận ra điều này: “Mùa Xuân Tuổi Trẻ của “đóa hồng thứ 40” sẽ đi về đâu, tất cả đều nằm trong sự quan phòng của Thiên Chúa”.

Như vậy, “hiện thực” trong Đóa hồng thứ 40 là hiện thực có tính thời sự, mang nhiều ý nghĩa xã hội và màu sắc chính trị. Hiện thực ấy mở rộng không gian (trong xu thế toàn cầu hóa). Tác giả cũng thâm nhập sâu hơn vào sự phức tạp của đời sống người trẻ Công giáo hôm nay, để lên tiếng nói cảnh báo xã hội và Giáo hội về đời sống đức tin của người trẻ.

Hiện thực cứu rỗi” còn ở phía trước. “Mùa Xuân Tuổi Trẻ của “đóa hồng thứ 40” sẽ đi về đâu, tất cả đều nằm trong sự quan phòng của Thiên Chúa”[[2]].

Ai sẽ “cứu rỗi” người trẻ trong tình cảnh bi đát của thế giới hôm nay?

Vâng, chúng ta cậy trông vào sự quan phòng của Thiên Chúa. “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1, 37).

Và vì thế, “Hiện thực cứu rỗi” trong “Đóa hồng thứ 40” là “hiện thực của đức tin”.

7. Văn chương Song Nguyễn và “Hiện thực cứu rỗi”[[1]]

           (Tác giả bài viết và Song Nguyễn-ĐGM Đaminh Nguyễn Chu Trinh)

Tôi đã viết hai chuyên luận (Nghiên cứu-phê bình) về văn chương Song Nguyễn:

           –Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. Nxb HNV, 2014. Tái bản năm 2019 và năm 2025.

           –Văn chương Song Nguyễn và những vấn đề lý luận văn học Công giáo (2026).

           Vì thế trong bài viết này, tôi chỉ xin nhắc lại đôi điều.

           Song Nguyễn là bút danh của Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh, Giám mục giáo phận Xuân Lộc (2004-2016). Đến nay ngài đã 90 tuổi (sinh năm 1936) nhưng vẫn còn đang đảm trách xây dựng Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Núi Cúi. Công trình được Đức cha Đaminh và giáo phận Xuân Lộc khởi công xây dựng từ năm 2014. Đức cha Đaminh cũng là người cùng với giáo phận Xuân Lộc trùng tu xây dựng Trung tâm Đức Mẹ Bãi Dâu, tượng Chúa Kitô Tao Phùng, xây dựng Trường Cao đẳng nghề Hòa Bình, xây dựng cơ sở CaritasHọc Viện Công giáo Việt Nam.

             Các tác phẩm văn học đã xuất bản:

1.Một Đời Dâng Hiến, truyện dài. Nxb Tôn Giáo. 2009

2.Đất Mới, truyện dài 3 tập. Nxb Tôn Giáo.  2009

3.Đồng Hành, truyện dài. Nxb Tôn Giáo.  2010

4.Định Hướng, truyện dài. Nxb Tôn Giáo.  2011

5.Chuyến Xe Về Trời, tập truyện ngắn 1. Nxb Tôn Giáo. 2011

6.Còn Một Niềm Tin, tập truyện ngắn 3. Nxb Tôn Giáo. 2011

7.Suối Nguồn, tập truyện ngắn 4. Nxb Tôn Giáo. 2011

8.Người Cha Hiền, tập truyện ngắn 5. Nxb Tôn Giáo.  2012

9.Mẹ Yệu của Con, tập truyện ngắn 6. Nxb Tôn Giáo.  2012

10.Chỉnh Hướng, truyện dài, Nxb Tôn Giáo, 2013

11.Đồng Cỏ Xanh, truyện dài, Nxb Phương Đông, 2013

12. Tiếng Kêu, truyện dài. Nxb Hồng Đức, 2019)

13. Đường lên Núi Cúi. Truyện dài tư liệu. Nxb Hồng Đức 2019

14. Hồi ký Song Nguyễn (3 tập):

        Tập 1. Hãy ca tụng Chúa. Tập 2. Con đường thánh giá.

        Tập 3. Đường lên Núi Cúi, đường của đức tin.

***

           Có thể nói, với 14 tác phẩm đã xuất bản (gồm truyện dài, truyện ngắn, hồi ký), Song Nguyễn là nhà văn lớn của văn học Công giáo Việt Nam đương đại.

           Tác phẩm của Song Nguyễn cũng đã được nữ tu Đặng Thị Lĩnh nghiên cứu, viết luận văn Thạc sĩ, và bảo vệ thành công tại Trường ĐHSP TP. HCM năm 2025 với đề tài: “Cảm hứng tôn giáo trong sáng tác của Song Nguyễn”.

             Nhà nghiên cứu văn học Công giáo Lê Đình Bảng nói về văn học Công giáo:

            “Bởi thực tế cho đến nay, qua các công trình văn học sử Việt Nam, chỉ thấy lác đác vài ba trường hợp được nhắc đến rất khái quát, rất nhạt nhoà, không hợp lưu thành một dòng chảy, một khuynh hướng, một trào lưu văn học mang tính Công Giáo. Chẳng hạn, Nguyễn Trọng Quản, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoàng Mưu… và nữ sỹ Thuỵ An. Thế là hết! Hèn chi, các nhà nghiên cứu, các bạn bè thơ văn ngoài đời vẫn bảo, Công Giáo các ông làm gì có tiểu thuyết và truyện ngắn, tức là thiếu hẳn một bộ phận hữu cơ của văn học”[[2]].

               Xét trong tương quan với lịch sử văn học, Song Nguyễn là tác giả viết 15 tác phẩm văn học Công giáo. Các tác giả khác chỉ một vài cuốn. Thí dụ, tác giả Phêrô Nghĩa (trên Nam Kỳ Địa Phận) có các tiểu thuyết: Cha giết con, Đôi bước lưu ly, Ô là tự do! Nhị Độ Mai

               Về nội dung, tư tưởng, văn chương Song Nguyễn phản ánh một diện rất rộng hiện thực sống đạo của người Công giáo Việt Nam suốt từ 1945 đến khi “Đổi Mới” (1986). Vì thế, hiện thực trong tác phẩm của Song Nguyễn là hiện thực mang tính sử thi, mà trước đó, chưa tác phẩm văn học Công giáo nào đạt tới được (xin phân biệt với thể loại Sử thi).

              Bằng Mỹ học Kitô giáo, tư tưởng nhân văn của Tin Mừng và bút pháp “Hiện thực cứu rỗi”, Song Nguyễn cũng giải quyết nhiều vấn đề tư tưởng lớn của thời đại. Chẳng hạn, hóa giải những định kiến lịch sử về đạo Công giáo ở Việt Nam, thực hiện chủ trương “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Hội đồng Giám mục Việt Nam (Thư chung 1980), xây dựng được hệ thống hình tượng nhân vật mới mẻ (gồm linh mục, tu sĩ, giáo dân) là người công dân sống đức tin, bên cạnh những kiểu nhân vật khác của văn học dân tộc (nhân vật trong Văn học Lãng mạn, Văn học hiện thực phê phán, Văn học Hiện thực xã hội chủ nghĩa).

            Tác phẩm của Song Nguyễn cũng đặt ra nhiều vấn đề lý luận văn học Công giáo mà các nhà nghiên cứu, các nhà văn đi sau có thể tham khảo. Bởi, cho đến nay (2026) văn học Công giáo vẫn lả một nền văn học tự phát, chưa phát triển thành một dòng văn học trong lịch sử văn học, chưa có được một lý thuyết văn học làm phương pháp luận cho nghiên cứu và sáng tác. Nghiên cứu tác phẩm của Song Nguyễn, các nhà nghiên cứu có thể hệ thống hóa những tư tưởng, những nguyên tắc sáng tác của văn học Công giáo và có thể định hình một nền lý luận.

           Trong Lời tác giả (in ở phần mở đầu tác phẩm), Song Nguyễn viết: Viết lại những mảnh đời, những số phận, những trải nghiệm, tác giả chỉ có ý rút ra cho đời mục vụ của mình những bài học từ cuộc sống. Hay nói khác đi, tác phẩm là những bài suy niệm sống qua các nhân vật. Và nếu có thể, chia sẻ với bạn bè tất cả những kinh nghiệm quý báu này…”.

          Điều này giúp người đọc hiểu mục đích sáng tác và diễn ngôn tác giả gửi trong tác phẩm: “Tác phẩm là những bài suy niệm sống qua các nhân vật”. Đối với người đọc Công giáo, đọc tác phẩm của Song Nguyễn là tiếp cận với những bài học sống đức tin trong mọi hoàn cảnh. Và tư tưởng bao trùm tác phẩm của Song Nguyễn là Thiên Chúa quan phòng mọi sự. Người Công giáo vững tin bước đi trên con đường cứu rỗi (hay con đường Thánh giá) bằng lòng tin ấy.

           Tác phẩm của Song Nguyễn đã định vị được bút pháp “Hiện thực cứu rỗi mang tính sử thi cho văn học Công giáo đương đại.

MỘT VÀI GHI NHẬN

  1.  Phản ánh hiện thực là thuộc tính văn chương, nhưng chọn lựa mảng hiện thực nào, nhìn hiện thực ấy bằng nhãn quan nào, miêu tả cụ thể hiện thực ấy ra sao, hiện thực ấy đặt ra vấn đề gì, tác giả gửi gắm trong hiện thực ấy diễn ngôn gì… tất cả những điều ấy làm nên nội dung tác phẩm và xác lập bản chất một nền văn học.

              Cho nên, nội dung Văn học Lãng mạn (1930-1945) khác với Văn học Hiện thực phê phán. Cũng vậy, Văn học Hiện thực Xã hội chủ nghĩa phủ định cách viết của Văn học Lãng mạnVăn học Hiện thực phê phán. Văn học Việt đương đại cũng rất e dè với chủ nghĩa Hậu Hiện đại, bở Hậu hiện đại viết “giải thiêng”, lật đổ những “đại tự sự”, “phi tâm”, “phân mảnh”… Về tư tưởng, Hậu Hiện đại là tư tưởng đa nguyên chính trị.

             Để kiến tạo một tác phẩm văn học Công giáo, nhà văn Công giáo nhất thiết phải hướng ngòi bút của mình về hiện thực đời sống của người Công giáo, nhìn bằng nhãn quan Mỹ học Kitô giáo và miêu tả hiện thực ấy bằng bút pháp “Hiện thực cứu rỗi” thấm nhuần tinh thần nhân văn của Tin Mừng: Con người là chi thể Đức Kitô, ở cùng với Đức Giê su và được Thiên Chúa xót thương (Ga 15, 5 & 17, 23).

2.Khi miêu tả “Hiện thực cứu rỗi” thì tính chân thực (“là đường, là sự thật và là sự  sống”) và mục đích “cứu rỗi” của văn học Công giáo phải là những phẩm chất hàng đầu. Vì thế, nhà văn không thể bẻ cong sự thật, hoặc sáng tạo những điều trái với quy luật hiện thực, cũng không thể miêu tả “tự nhiên chủ nghĩa”.

                  Song Nguyễn gợi ra một định hướng: “Tác phẩm là những bài suy niệm sống qua các nhân vật. Và nếu có thể, chia sẻ với bạn bè tất cả những kinh nghiệm quý báu này…”(Lời tác giả – đd).

3.Lướt qua một số tác giả văn học Công giáo đương đại, người đọc có thể nhận ra “Hiện thực cứu rỗi” của văn học Công giáo cũng có nhiều màu sắc thẩm mỹ.  “Hiện thực cứu rỗi” trong Kinh Thánh giàu ý nghĩa tư tưởng và tâm linh. Truyện của Linh mục Nguyễn Trung Tây, Cao Gia An đi theo hướng này.  Truyện của Lm. Nguyễn Đức Thông là “Hiện thực cứu rỗi trần trụi”. Tác giả không ngại nói thẳng ra những điều khó nói (Cây Thánh giá giả). Trường ca Ánh lửa đức tin trong đại dịch Covid của Sr. Xuân Cát OP. lả hiện thực có màu sắc lãng mạn. Đóa hồng thứ 40” của Vinh Kiu là “hiện thực đức tin”; và hiện thực trong tác phẩm của Song Nguyễn là hiện thực mang tính sử thi,…

            Phẩm chất của hiện thực được quyết định bằng sự trải nghiệm, bằng suy tư, bằng vốn văn hóa và tấm lòng đối với con người cùng với nghệ thuật sáng tạo của tác giả. Xét ở phương diện này, truyện dài Ôi tội hồng phúc của Nguyễn Phương Thảo (Canada), Giải Nhất truyện dài Đất Mới năm 2017, là một tác phẩm đặc sắc.

4.“Hiện thực cứu rỗi” có thể giúp làm rõ hơn một vài vấn đề lý luận văn học Công giáo: Thế nào là tác phẩm văn học Công giáo? Nhà văn Công giáo khác với nhà văn thế tục thế nào? Văn học Công giáo đóng góp điều gì mới mẻ cho văn học Việt?

           Và xét ở góc độ phản ánh hiện thực, nhà văn Công giáo còn một “nguồn” mênh mông có thể viết tác phẩm. Đó là lịch sử 500 năm giáo dân Việt đã sống đạo đẹp đẽ thế nào, đã đóng góp gì cho văn hóa Việt…

               Trước đây, Alexandre de Rhodes đã viết: Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài (1651), Du hành và truyền giáo (1653), Cái chết vinh hiển của André (1653); Lm Philippe do Rosario Bỉnh đã viết: Sách sổ sang chép các việc (1822), Nhật trình kim thư khất chính Chúa giáo (1793 / 1797), Truyện Anam Đàng Ngoài & Truyện Anam Đàng Trong (1822)…Linh mục Đặng Đức Tuấn đã viết “Thuật tích việc nước Nam”(1861)…

(Alexandre de Rhodes. 1593-1660)

Các tác giả Công giáo đương đại chưa ai viết những tác phẩm giàu tính hiện thực lịch sử  như cha ông đã viết, tôi nghĩ đó là một con đường mà các nhà văn trẻ Công giáo cần tiếp tục hảnh trình của cha ông.

Tháng 8/ 2026


[1] Xin đọc Bùi Công Thuấn:

          –Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn (Chuyên luận). Nxb HNV 2014, tái bản 2019 và 2025

          –Văn chương Song Nguyễn và những vấn đề lý luận văn học Công giáo (Chuyên luận) 2026.

[2] Lê Đình Bảng. Văn Học Công Giáo Việt nam-Những chặng đường. Nxb Từ điển Bách khoa. 2010. Tr. 315.


[1] Đọc thêm: Bùi Công Thuấn- Hoa trên núi thánh. Nxb Hồng Đức 2025. Tr. 406

[2]Đóa hồng thứ 40” là người thứ 40 bị chết ngạt trong thùng xe đông lạnh khi trốn sang lao động chui ở nước Anh. Ngày 23/10/2019, nhà chức trách phát hiện 39 công dân Việt Nam tử vong trong một thùng xe container đông lạnh tại hạt Essex, Anh. “Đóa hồng thứ 40” đã chết thì “sẽ đi về đâu” nữa?


[1] Xem thêm: Bùi Công Thuấn- Hoa trên núi thánh. Nxb Hồng Đức. 2025. Tr. 415


[1] Bùi Công Thuấn: Văn chương Song Nguyễn và những vấn đề lý luận văn học Công giáo Việt Nam đương đại

[2] Joseph Tân Nguyễn ofm:Các truyền thống nghiên cứu ngôn ngữ

https://hocvienofm.com/bai-viet/triet-hoc-ngon-ngu/cac-truyen-thong-nghien-cuu-ngon-ngu

[3] Nxb HNV dừng phát ành sách của Trần Thanh Cảnh

https://vnexpress.net/nxb-hoi-nha-van-dung-phat-hanh-ba-cuon-sach-ve-thoi-nha-tran-5104635.html

[4] Chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo. https://www.studocu.vn/vn/document/university-of-economics-hcmc-international-school-of-business/van-tai-va-bao-hiem/chu-nghia-hien-thuc-huyen-ao-khai-niem-va-dac-diem-chinh/132878408

[5] Về Chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo trong văn học. https://redsvn.net/ve-chu-nghia-hien-thuc-huyen-ao-trong-van-hoc2/

[6] Chủ nghĩa Hiện thực không bờ bến. AI-hay

[7] Lời của chủ tịch Hồ Chì Minh trong thư gử họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa. Thư đăng trên Báo Cứu quốc, số 1986, ngày 5-1-1952 – https://www.qdnd.vn/ho-so-su-kien/loi-bac-day-nam-xua/van-hoa-nghe-thuat-cung-la-mot-mat-tran-anh-chi-em-la-chien-si-tren-mat-tran-ay-528181

[8] Diêm Liên Khoa-Chủ nghĩa thần thực trong văn học đương đại-Nguyễn Thị Thúy Hạnh dịch

-https://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/chu-nghia-than-thuc-trong-van-hoc-duong-dai/

[9] https://trieuxuan.vn/ve-mot-dac-diem-cua-van-hoc-nghe-thuat-o-ta-trong-giai-doan-vua-qua

[10] Lê Giang Trần: Đọc chữ nghĩa tu sĩ bình bát Nguyễn Trung Tây .

https://www.vanthoconggiao.net/2022/08/doc-chu-nghia-tu-si-binh-bat-nguyen-trung-tay-tac-gia-le-giang-tran.html

[11] Bùi Công Thuấn: Văn học Công giáo Việt Nam đương đại. Nxb HNV 2022

[12] Xin đọc Bùi Công Thuấn: Lm Đaminh Nguyễn Đức Thông và Những vấn đề thời đại

[13] Bùi Công Thuấn: Cao Gia An – Bên ngoài cổng nhà thờ.

https://www.vanthoconggiao.net/2017/12/ben-ngoai-cong-nha-tho-lm-cao-gia-an.html

[14] Xem thêm: Bùi Công Thuấn- Hoa trên núi thánh. Nxb Hồng Đức. 2025. Tr. 415

[15] Đọc thêm: Bùi Công Thuấn- Hoa trên núi thánh. Nxb Hồng Đức 2025. Tr. 406

[16]Đóa hồng thứ 40” là người thứ 40 bị chết ngạt trong thùng xe đông lạnh khi trốn sang lao động chui ở nước Anh. Ngày 23/10/2019, nhà chức trách phát hiện 39 công dân Việt Nam tử vong trong một thùng xe container đông lạnh tại hạt Essex, Anh. “Đóa hồng thứ 40” đã chết thì “sẽ đi về đâu” nữa?

[17] Xin đọc Bùi Công Thuấn:

          –Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn (Chuyên luận). Nxb HNV 2014, tái bản 2019 và 2025

          –Văn chương Song Nguyễn và những vấn đề lý luận văn học Công giáo (Chuyên luận) 2026.

[18] Lê Đình Bảng. Văn Học Công Giáo Việt nam-Những chặng đường. Nxb Từ điển Bách khoa. 2010. Tr. 315.

VĂN CHƯƠNG SONG NGUYỄN và Những vấn đề Lý luận văn học Công giáo

Chuyên luận

VĂN CHƯƠNG SONG NGUYỄN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC CÔNG GIÁO

Bùi Công Thuấn

Bạn có thể tải về để đọc theo link: https://www.mediafire.com/file/c9uq77y4x5x0rqj/Chuyên+luận+Song+Nguyễn-full.rar/file

  NỘI DUNG  

Phần I: Tổng quan bồi cảnh lịch sử
-Đạo Công giáo ở Việt Nam
-Những định kiến lịch sử   
Phần II: Những vấn đề lý luận văn học Công giáo
– Vấn đề “lý luận văn học Công giáo”Cần một hệ thống lý luận Văn học Công giáo
-Quan điểm của Giáo hội – Mỹ học Ki tô giáo                   
– Mục đích sáng tác và diễn ngôn
– Nội dung                    
– Nhân vật Văn học Công giáo                   
– Bút pháp
– Thể loại.
Phần III: Văn chương Song Nguyễn và những vấn đề lý luận văn học Công giáo
– Hoàn cảnh sáng tác
– Văn học và hiện thực.
-Về Thi pháp.
Phần IV.tác phẩm của Song nguyễn và văn xuôi Công giáo “truyền thống
-Văn xuôi Công giáo “truyền thống”.
-Một vài đặc điểm của văn xuôi Công giáo “truyền thống”.
-Tác phẩm văn học Công giáo của Song Nguyễn.
Kết luận.
-Vấn đề “lý luận văn học Công giáo”                
-Giá trị của tác phẩm Song Nguyễn đối với  lý luận văn học Công giáo
               

Phần I: TỔNG QUAN VỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ

***

  1. Đạo Công giáo ở Việt Nam [[1]]

                   (Tổng hợp tư liệu)

Theo ghi chú của Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục (33, 6b), đạo Công giáo  được cho là đã truyền vào Việt Nam từ năm 1533, đời vua Lê Trang Tông. Quá trình phát triển có thể chia ra ba thời kỳ.

1. Thời bảo trợ (1533 – 1659): việc truyền giáo docác Thừa sai người nước ngoài:

Năm 1550, linh mục Gaspar Da Santa Cruz (dòng Đa Minh, người Bồ Đào Nha) đến Hà Tiên. Năm 1588  Cha Luis de Fonseca (người Bồ) và Grégoire de la Motte (người Pháp) đến Quảng Nam, và năm 1583, Cha Bartôlômêô Ruiz (người Tây Ban Nha).

Hai giáo sĩ Francesco Buzomi (người Ý), Diego Carvalho (người Bồ) và ba trợ sĩ Dòng Tên cập bến Cửa Hàn, Quảng Nam năm 1615. Tiếp nối là François de Pina (người Bồ, 1617), Christopho Bori (người Ý, 1618),  Alexandre de Rhodes (người Pháp, 1624)…

2. Thời Tông tòa (1659 – 1960): Giáo Hội Việt Nam được thiết lập

Giai đoạn này, giáo hội Việt Nam vẫn được cai quản trực tiếp bởi các Thừa sai người nước ngoài. Vì thế, ảnh hưởng văn hóa, tư tưởng và cung cách sống đạo của người Pháp, đối với giáo hội Việt Nam thật sâu đậm.

Ngày 09.09.1659, Tòa Thánh Vatican thiết lập hai giáo phận ở Việt Nam và đặt hai Đại Diện Tông Tòa:  Giáo phận Đàng Trong từ sông Gianh trở vào phía Nam, do Đức cha Lambert de la Motte (người Pháp ) phụ trách.  Giáo phận Đàng Ngoài từ sông Gianh trở ra miền Bắc, do Đức cha Phanxicô Pallu (người Pháp) phụ trách.

Giáo hội đã lớn lên trong những biến động lớn lao của lịch sử.

Những năm 1833 – 1861, Nhà Nguyễn, đặc biệt là các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đã ban hành 53 sắc dụ cấm đạo khắt khe. Đặc biệt là chỉ dụ Phân sáp (1859-1861). Ước tính có khoảng 130.000 đến 300.000 người Công giáo (gồm cả linh mục, Thừa sai ngoại quốc và giáo dân) đã thiệt mạng do các lệnh cấm đạo [[2]].

Đến năm 1862, khi ký Hiệp ước Nhâm Tuất nhượng ba tỉnh Biên Hòa, tỉnh Gia Định và tỉnh Định Tường cho Pháp, vua Tự Đức đã phải ngừng cấm đạo [[3]].

Đức Giám mục tiên khởi người Việt là Đức cha GB. Nguyễn Bá Tòng(11.06.1933).

3. Giáo hội Công Giáo Việt Nam trưởng thành

Ngày 24.11.1960, Đức Thánh Cha Gioan XXIII tuyên bố thành lập 3 giáo tỉnh tại Việt  Nam: Hà Nội, Huế và Sài Gòn, cùng bổ nhiệm các Giám mục Chính tòa nơi mỗi giáo phận (Tông hiến Venerabilium Nostrorum).

            Cả dân tộc đã chiến đấu để bảo vệ tổ quốc (chống Pháp, Mỹ), đất nước bị chia cắt bởi hiệp định Gienève năm 1954. Tình hình chính trị – xã hội hết sức phức tạp do sự can dự của các cường quốc đối với Việt Nam. Sự phát triển tôn giáo thời kỳ này cũng hết sức phức tạp.

Sau năm 1975, đất nước hòa bình thống nhất, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã đề ra đường hướng: “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” (Thư chung ngày 01/5/1980).

 Tính đến nay (2026), Giáo hội Công giáo Việt Nam hiện có 27 giáo phận (gồm 3 tổng giáo phận và 24 giáo phận) trực thuộc 3 giáo tỉnh. Cả nước có khoảng 7,57 triệu giáo dân, chiếm khoảng 6,78% dân số Việt Nam.

  1. NHỮNG ĐỊNH KIẾN LỊCH SỬ

1. Lịch sử đã có những biến động dữ dội suốt 500 năm qua.

Trên thế giới:

Sắc lệnh Inter Caetera (năm 1493) của Giáo hoàng của Alexander VI và  Hiệp ước Tordesillas (năm 1494)[[4]] đã trao cho Tây Ban Nha cùng Bồ Đào Nha những vùng lãnh thổ rộng lớn vượt xa mọi dự đoán. Đến giữa thế kỷ XVI, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã lên vị thế siêu cường toàn cầu.

            Chủ nghĩa thực dân rồi chủ nghĩa đế quốc xâm lược và thống trị, khai thác thuộc địa dẫn đến Thế chiến I, Thế chiến II, sau đó là Chiến tranh Lạnh, chiến tranh ý thức hệ.

Thuộc địa của Bồ Đào Nha ở châu Á là Ấn Độ (Goa, Daman, Diu), Trung Quốc (Ma Cao), Đông Timor. Thuộc địa của Anh là: Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Malaysia, Singapore, Myanmar, Hồng Kông và Brunei…Thuộc địa của Hà Lan là Indonesia và các trọng điểm giao thương ở Nhật, Ấn Độ Sri Lanka, Iran

Không phải vô tình mà các Thừa sai đầu tiên đến Việt Nam là người Bồ Đào Nha, như linh mục Gaspar da Santa Cruz , Luis de Fonseca, Diego Carvalho, François de Pina…  Và không phải vô tình mà Thánh bộ Truyền giáo ban hành Huấn dụ 1659 để “giải thoát Giáo Hội địa phương khỏi quyền bảo trợ Bồ Đào Nha”[[5]].

            Ở Việt Nam, từ 1533 đến nay:

Chiến tranh Lê – Mạc (1533-1593), rồi Trịnh – Nguyễn phân tranh (1627-1772), đất nước bị chia cắt thành Đàng Ngoài và Đàng Trong. Phong trào Tây Sơn (1771–1802) đánh bại quân Thanh xâm lược (1789). Nhà Nguyễn (1802) thống nhất đất nước nhưng hèn yếu và mắc sai lầm để mất nước vào tay thực dân Pháp (Hiệp ước 1862).Cả dân tộc tiến hành đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược gần 100 năm để giành lại nền độc lập (Cách mạng tháng Tám/1945). Ngay sau đó, dân tộc lại tiếp tục hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ bảo vệ tổ quốc (1946 -1975). Từ năm 1975 đến nay là thời kỳ thời kỳ hòa bình, thống nhất và Đổi mới, Việt Nam hội nhập toàn cầu hóa và tiến lên công nghiệp hóa.

Trong tiến trình lịch sử đó, người Công giáo với tư cách công dân, chắc chắn đã tham gia tích cực vào vận mệnh chung của dân tộc. Nguyễn Trường Tộ là một điển hình. Trong vòng 10 năm (1861 – 1871), ông đã gửi đến vua Tự Đức và triều đình Huế 58 bản điều trần, đề xuất việc canh tân đất nước ở nhiều lĩnh vực. Nhưng Vua Tự Đức vì nghi kỵ, đã không quan tâm đến kế sách tâm huyết của ông.

2.Những định kiến

Nhìn suốt quá trình phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam,  đã có những định kiến, mà cho đến nay, vẫn gây ra những ảnh hưởng tiêu cực.

Định kiến thứ nhất: Đạo Công giáo là “Tà đạo”, đạo nước ngoài, do người Tây Dương lén lút đem tới, dạy những điều dối trá trái với luân thường đạo lý. Người Công giáo bị coi là một bộ phận đứng bên lề dân tộc, sống tách biệt với cộng đồng, khác biệt về văn hóa, khác biệt về lối sống, sinh hoạt; là bộ phận làm suy đồi phong hóa, luật pháp và quyền lực nhà nước phong kiến.

Đây là chiếu chỉ ngày 06.1.1833 của vua Minh Mạng:

Minh Mạng Thánh tổ Hoàng đế, có lời cùng toàn thể thần dân.

Đã từ lâu người Tây Dương đem vào truyền bá đạo Datô, lừa dối ngu dân, dạy chúng về thiên đường, địa ngục. Chúng không thờ Phật, chẳng thờ tổ tiên, thiệt là quân vô đạo. Hơn thế nữa, chúng dựng nhà thờ riêng, trai gái ra vào lẫn lộn, mục đích là để quyến rũ đàn bà con gái, chúng còn móc mắt người ốm đau để làm bùa ngải. Thật là một điều trái với luân thường đạo nghĩa.”

…”Vì vậy trẫm truyền cho tất cả những ai theo tà đạo này từ quan chí dân, nếu còn biết sợ quyền uy trẫm, thì hãy thật lòng cải tà quy chính. Các quan phải kiểm soát các đạo đổ trong địa hạt mình xem chúng có tuân thượng lệnh hay không, và bắt chúng giày đạp thập tự. Các đạo đường, đạo quán phải triệt hạ hết. Sau này, còn ai theo đạo ấy thì phải nghiêm trị, vì trẫm muốn tiêu diệt tận gốc tà đạo. Đó là thánh ý của trẫm, thần dân phải nghe theo và thi hành. Ngày 12 tháng 11 âm lịch, năm thứ 13 của triều đại trẫm” (ký tên và đóng ấn son) [Nguồn: Đại Nam thực lục-phần Đệ nhị kỷ, quyển XCV]

Đây làkiến nghị thượng quan Lễ Bộ năm 1826.

Kiến nghị này bộc lộ cái nhìn, thái độ của giới trí thức phong kiến về đạo Gia-tô. Họ coi  Ki-tô giáo như một thực thể biệt lập với dân tộc, như một “quốc gia trong một quốc gia”, dựng nhà thờ riêng, “không cúng tế tổ tiên”;đặt ra luật lệ riêng, lập tòa án riêng, suy tôn một chủ tể riêng. “Đạo Giatô là một cản trở cho tất cả những canh tân…”

(Xin trích):

“Hết lòng kính sợ, chúng thần khấu đầu dâng kiến nghị này. Dám xin hoàng thượng để tâm đến việc tái lập chính đạo để dân chúng lớn bé được nhờ bởi vì tà đạo lợi dụng và lừa dối dân chúng, làm sai lạc chân đạo tự nhiên……Đạo Giatô là đạo giả dối và nghịch lại với đạo thật vì đạo khuyến dụ dân chúng, lừa dối và lạm dụng lòng đơn thành của người dân, dùng những hình phạt hỏa ngục để làm kinh sợ người yếu đuối, dùng niềm vui nước trời để thu hút người khác. Đạo còn sử dụng luật riêng, tòa án riêng xét xử các vụ rắc rối. Những người theo đạo này hội họp nhau cúng tế và thờ lạy, hàng ngàn người nối tiếp nhau vào tôn thờ như tôn thờ chủ tể của quốc gia vậy. Họ công bố con đường họ theo là thánh và tôn vinh những người bước theo đường ấy. Từ khi đạo này xâm nhập vào đất nước, trong khắp các tỉnh có hàng ngàn người tin theo. Những người đã tin theo thì cuồng nhiệt như là mất trí, chạy đi đó đây như là người điên.

Các tín đồ của đạo này không tôn kính các thần minh, cũng không cúng tế tổ tiên. Họ giảng đạo, học hỏi và hội họp như là một thói quen. Càng ngày tín đồ đạo này càng đông, họ xây thêm nhiều nhà thờ mới, những cái gai chướng này lan tràn khắp mọi nơi, không có xó xỉnh nào mà không bị tiêm nhiễm.

Chính vì lẽ đó, chúng thần ngước trông lên hoàng thượng khẩn xin ngài chữa trị các tệ đoan này. Lời của ngài như ngọn cờ triệu tập hàng hà sa số nhân dân về một mối, từ đó các phong tục và luật lệ quốc gia sẽ thống nhất, và các lời nói hành động sẽ hòa hợp với nhau, tất cả những cái hay cái phải sẽ được tuân theo, và thế hệ hiện tại cũng như mai sau sẽ tuân giữ các lề luật. Như thế những con đường sai trái được uốn nắn, sự dữ được thay thế bằng điều lành. Tất cả sẽ được thu họp về một mối, đó là đạo của vua, của thuần phong mỹ tục và khắp mọi nơi đều khuôn mình theo. Nhưng đạo Giatô là một cản trở cho tất cả những canh tân hoàn thiện, mặc dù đã cấm nhưng không tiêu diệt được. Đạo Khổng đã có từ lâu đời thế mà có nhiều người đang tâm bỏ để theo đạo Giatô là đạo cấm dân chúng theo đạo Khổng…

… Vi thế khi nghiên cứu sự việc, chúng thần xin hoàng thượng ban lệnh cấm đạo tại khắp các làng tỉnh và huyện trong nước để mọi người biết rằng các đạo trưởng và Kitô hữu Âu châu đang ở bất cứ nơi nào đều phải trở về nước của họ. Thời hạn là ba tháng, khi đáo hạn họ không được phép ở lại nữa. Còn về các nhà thờ phải triệt hạ, phải đốt các sách đạo, từ rày về sau cấm dân chúng không được học hỏi tà đạo này nữa. Sau ba tháng, nếu phát giác được người Âu châu còn trốn tránh trong nước thì: người có công tố giác sẽ được hưởng tất cả tài sản của người chứa chấp đạo trưởng Âu châu trong nhà. Ngoài ra, người chứa chấp cũng như lý trưởng sẽ bị khép vào tội đại nghịch. Nếu người Âu châu vẫn lén lút giữa dân chúng và khuyến dụ họ theo tà đạo thì sẽ áp dụng luật của người Trung Hoa. Hơn nữa nếu các quan có lỗi vì biếng nhác sẽ bị đưa ra tòa xét xử như các tội phạm để sự việc được phân minh và mọi việc được tiến hành đồng đều. Vì nếu áp dụng luật nghiêm khắc thì có hy vọng đưa được dân chúng về đường lành và chân đạo được tồn tại. Phần chúng thần là những người kém cỏi đã xét như thế có đúng hay sai, dám xin hoàng thượng cứu xét”[[6]].

Những khác biệt về chính trị, tư tưởng, văn hóa, lối sống sinh hoạt dẫn đến sự chống đối người Công giáo như một tất yếu lịch sử. Bởi vì, theo Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh: “Cho đến năm 1659, tất cả các vị thừa sai đến Á đông đều buộc phải theo khuôn khổ chế độ bảo trợ và nhận lãnh nơi các Giám mục Bồ ở Á châu (Goa, Macao)  các thẩm quyền thiêng liêng cần thiết…Chế độ bảo trợ (Patronato, Padroado) chế độ liên hiệp chặt chẽ giáo quyền với chính quyền như thế, dù có vài điểm lợi, vẫn sinh ra lắm bất tiện. Ngưởi Á châu tòng giáo đều đương nhiên thành công dân Bồ hoặc Tây Ban Nha và bó buộc phải thay đổi nếp sống”[[7]].

Chẳng hạn, về tôn giáo – tín ngưỡng, ở Việt Nam có đạo Phật, đạo Nho, đạo Lão; tín ngưỡng dân gian (bên lương) thờ trời đất (thờ Thiên), thờ ông bà (đạo Hiếu), thờ các thần linh, hiện diện ở khắp cả nước (Ông Táo, ông Địa, tín ngưỡng thờ Mẫu, Thành hoàng, lễ hội nghinh Ông…). Các tôn giáo – tín ngưỡng này có những sinh hoạt lễ hội hàng năm ở khắp các địa phương, trở thành đời sống tâm linh Việt. Đạo Công giáo vào Việt Nam, đem theo những quan niệm khác biệt về Thần. Chỉ một Thiên Chúa duy nhất được thờ, các “thần” khác đều là ma quỷ, không thờ cúng ông bà; biết tổ phụ Abraham nhưng không giỗ tổ Hùng Vương ngày 10/3 al; ma chay, cưới hỏi, giỗ chạp làm khác hẳn người bên lương. Sinh hoạt trong các làng Công giáo, hoàn toàn khác biệt với làng bên lương, dẫn đến những kỳ thị.

Về chính trị, các vua nhà Nguyễn coi đạo Nho là “Chính đạo” và coi đạo Gia tô là “Tà đạo”, bởi đạo Nho là ý thức hệ xây dựng và duy trì quyền lực của các triều đại phong kiến. Ý thức ấy là: trên là Thiên Mệnh, Vua là con trời (Thiên tử), thay trời hành đạo (“tế Thiên hành đạo”). Vua là người nắm quyền lực tuyệt đối, cha truyền con nối đời đời, “vạn tuế, vạn vạn tuế”.  Vua chúa phong kiến không thể chấp nhận có một Thiên Chúa có quyền trên tất cả. Họ giữ “đạo ông bà” là để được thờ phụng mãi mãi trong các lăng miếu, đền đài (các vua nhà Nguyễn đều xây lăng tẩm cho mình). Họ coi trọng tục đa thê là để có con “nối dõi tông đường”.

Cho nên vua Gia Long thất vọng khi thấy hoàng tử Cảnh theo Giám mục Bá Đa Lộc học 6 năm ở Pháp về không chịu lạy bàn thờ tổ tiên. Còn vua Minh Mạng thì hoàn toàn hiểu sai về đạo: “đạo Datô, lừa dối ngu dân, dạy chúng về thiên đường, địa ngục. Chúng không thờ Phật, chẳng thờ tổ tiên, thiệt là quân vô đạo.”

Những định kiến ấy đi đến kết luận trong nhiều chỉ dụ cấm đạo là: Gia tô là “tà đạo”, bằng mọi giá, cần phải “tiêu diệt tận gốc”. Ngoài các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức cấm đạo, phong trào Văn Thân với khẩu hiệu “bình Tây, sát tả” cũng tàn sát người Công giáo, ước tính chỉ riêng phong trào Văn Thân đã sát hại trên dưới 60,000 giáo dân Công Giáo [[8]].

 Nguyên nhân sâu xa có thể là việc dạy giáo lý theo cách của Alexandre de Rhodes được ghi trong Phép giảng tám ngày của (xuất bản 1651). Tính đến thời Minh Mạng, đã gần 200 năm. có những nội dung sai lạc của Rhodes đã “thấm” vào xã hội Việt Nam. Rhodes xúc phạm nặng nề đến Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo (xem chương: “Ngày thứ tư: Những đạo vạy”), bôi bác tục thờ cúng cha mẹ của người Việt. Rhodes cũng có nhiều diễn giải Kinh thánh không đúng với lời dạy của giáo hội. Ông kể nhiều phép lạ như để mê hoặc giáo dân (một hình thức mê tín mới), Rhodes cổ vũ say mê cho việc chết vì đạo (một hình thức bạo động…).

Đây là lời của Rhodes nói về Phật Thích Ca: “Mà trong nhiều quỷ dạy nó, thì có hai quỷ, tên là Alala và Calala, quen làm thầy nó liên, mà nó thì ngồi giữa hai thầy quỷ ấy, mà dạy nó dầu hết chớ tin gì có Chúa trời, cùng đặt tên nó là Thích CaVậy thì ta làm cho Thích Ca, là thằng hay dối người ta, ngã xuống, thì mọi truyện dối trong đạo bụt bởi Thích Ca mà ra, có ngã với thì đã tỏ”.

Rhodes gọi Phật Thích Ca là học trò của ma quỷ thì chuyện hoàng tử Cảnh không chịu lạy “quỷ” là có thể hiểu được. Lưu ý rằng đối tượng của Phép giảng tám ngày gồm cả hai giới: tín hữu bình dân và giới Nho học.

Một nguyên nhân khác gây ngộ nhận là cách sinh hoạt của người Công giáo:

Chiếu chỉ 6.1.1833 của vua Minh Mạng ghi nhận: “chúng dựng nhà thờ riêng, trai gái ra vào lẫn lộn, mục đích là để quyến rũ đàn bà con gái, chúng còn móc mắt người ốm đau để làm bùa ngải. Thật là một điều trái với luân thường đạo nghĩa.”

Chi tiết “quyến rũ đàn bà con gái”là sự suy diễn của vua quan nhà Nguyễn khi quan sát các giáo dân nữ đến xưng tội với các linh mục. A, Rhodes kể:

“Chúng tôi làm hết các việc thông thường như dạy giáo lý, rửa tội và giải tội cho giáo dân. Lương dân cũng gây một chút xôn xao, nhất là về việc giải tội cho nữ giới. Họ không chịu để chúng tôi thừa hành trong thầm kín, mặc dầu là ở nơi công và trước mặt mọi người, và giữa họ với chúng tôi (theo tục lệ) vẫn có tấm phên ngăn cách. Có lần chúng tôi không thể ngăn cấm lính mà không làm xôn xao, chúng vào nhà thờ và tới gần tòa giải tội để nghe trong thầm kín của phép giải tội. Để tránh khó khăn, chúng tôi bàn nhau dùng hai nhà liền kề của giáo dân, trong một nhà để cho phái nữ tới xưng tội, còn chúng tôi thì ở trong một nhà thứ hai để nghe xưng tội…”( A. de Rhodes, Histoire du Royaumede Tunquin, Lyon 1651tr. 133-134)[[9]].

Định kiến thứ hai: Đạo Công giáo tiếp tay cho thực dân Pháp xâm lược.

Điều này là quy kết chính trị của những người chống Công giáo. Người ta căn cứ vào một vài hiện tượng cụ thể rồi từ đó khái quát quy kết bản chất vấn đề. Chẳng hạn:

Trường hợp thứ nhất: Thánh Cố Du (Joseph Marchand Du) [[10]] Bị vua Minh Mạng kết tội theo Lê Văn Khôi làm phản. Ngài bị xử bá đạo 30/11/1835 tại Huế.

Trường hợp thứ hai: “Sau khi các Thừa sai người Pháp bị bắt giam ở Huế năm 1843  giám mục Lefèbre bị bắt ở cửa Cần Giờ (1846) và thừa sai Duclos (Lộ) bị chết trong trại giam năm 1846, quân Pháp được lệnh bắn phá cảng Đà Nẵng ngày 15/4/1847. Lập tức vua Thiệu Trị ban hành sắc lệnh chống Công giáo ngày 03/5/1847 và người ta liên kết việc theo đạo Công giáo với việc làm tay sai cho Pháp, phản bội dân tộc. Nhiều nhà Nho đã tuyên truyền với dân chúng luận điệu này và không ít đồng bào đổi mối thiện cảm với người Công giáo trước đây thành ác cảm và hận thù kẻ phản quốc, nhất là khi người Pháp đánh chiếm các tỉnh Nam Kỳ”[[11]]

Trường hợp thứ ba: một số sử gia đã ghi nhận có những Giám mục Thừa sai người Pháp tiếp tay cho thực dân Pháp xâm lược và thống trị Việt Nam như: P. de Béhaine (Bá Đa Lộc), Lefèbvre, Pellerin, Retord, Puginier…Đó là những quan hệ cá nhân.

Trong cuốn sách Thập giá và lưỡi gươm [[12]], Lm. Trần Tam Tỉnh viết rằng, Giám mục Puginier đã ban phép lành cho linh mục Trần Lục khi  Cụ Sáu dẫn 5000 giáo dân đi tiếp viện cho quân Pháp đánh chiến khu Ba Đình của Đinh Công Tráng. Nhưng Trần Tam Tỉnh không có chứng liệu lịch sử nào đủ để khẳng định việc Giám mục Puginer tiếp tay cho thực dân Pháp.

Louis-Eugène Louvet nhận xét về Giám mục Puginer: “…tôi tin rằng ở Bắc kỳ, ảnh hưởng đạo đức của đức cha Puginier, ảnh hưởng vô biên trên các giáo dân và không thể chối cãi trên các quan lại, ngay cả với những người hiềm khích nhất đối với lý tưởng Pháp, cũng chẳng kém phần hiệu quả cho sự bình định mau mắn nơi xứ sở này, nếu người ta đã theo các lời cố vấn và chú trọng hơn đến các ý kiến vừa chắc chắn vừa vô tư của ông”[[13]].

Đó là những trường hợp riêng lẻ, không phải là chủ trương của MEP hay của Vatican. Xin lưu ý rằng, Huấn Thị năm 1659 [[14]]của Thánh bộ Truyền bá Đức tin, trước khi Pháp xâm lược Việt Nam 200 năm (1858),  đã dạy rất kỹ các thừa sai khi truyền giáo ở Việt Nam như sau:

«Chư huynh hãy hết sức lánh xa chính trị và việc nhà nước. Đừng bao giờ nhận gánh một phần vụ hành chánh nào mặc cho người ta thỉnh cầu và làm phiền toái chư huynh bằng những lời khẩn khoản thiết tha. Việc này, Thánh Bộ đã luôn luôn cực lực nghiêm cấm rõ ràng và vẫn sẽ tiếp tục cấm ngặt ; cho nên, chư huynh và các cộng sự phải rất mực thận trọng. » (Phần III, Đoạn 10).

Huấn thị cũng dạy: “Chư huynh hãy giảng dạy dân chúng vâng phục chính quyền dù họ xấu cũng mặc (1 Pr 2, 18), và vừa âm thầm vừa công khai chư huynh hãy hết lòng cầu nguyện cho họ được thịnh vượng và phần rỗi”…”Chư huynh đừng bao giờ muốn sửa đổi, đừng tìm lý lẽ nào để buộc dân chúng sửa đồi những phép xã giao, tập tục, phong hóa của họ trừ khi nó hiểu  nhiên mâu thuẫn với đạo thánh và luận lý: có gì vô lý bỉ ổi hơn  mang theo cả nước Pháp, Tây Ban Nha, nước Ý hay bất cứ nước nào khác bên trời Âu sang cho dân Á đông chăng? (bản dịch của GM Micae Hoàng Đức Oanh).

Vì thế, những quan hệ của một vài cá nhân Thừa sai vào sách lược của thực dân Pháp không thể được coi là đạo Công giáo tiếp tay cho thực dân Pháp xâm lược.

Cũng lưu ý rằng, việc Pháp xâm lược Việt Nam là xu thế thời đại của chủ nghĩa thực dân.

Thực dân Pháp xâm lược Campuchia năm 1863 và Lào năm 1893.

Thực dân Anh xâm lược Ấn Độ (1842), Trung Quốc (chiến tranh nha phiến), Malaysia (1771), Myanmar (1885); Australia và New Zealand từng là thuộc địa của Anh.

Hà Lan xâm lược Indonesia từ 1602, Đài Loan (1624), Malaysia (1641).

Trung quốc cũng từng bị 5 quốc gia xâu xé từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20: Anh (1840), Pháp (từ 1884), Đức (1897), Nga (1897), Nhật Bản (từ 1894)

Các vua chúa Nhà nguyễn dùng chính sách bế quan tỏa cảng, lại yếu kém về ngoại giao, quân sự, nên đã bán nước vào tay Pháp. Hiệp ước 1862 là một minh chứng cụ thể. Hai quốc gia Cambuchia và Lào đều là Phật giáo nhưng vẫn bị Pháp xâm lược.

Hãy nhìn Thái Lan và Nhật Bản. Chính sách ngoại giao khôn khéo, cùng với những cải cách hiện đại đã giúp Thái Lan và Nhật Bản  không bị các nước phương tây xâm lược.

Hậu quả của định kiến này còn lâu dài trong xã hội Việt Nam cho đến 1975.

Từ kháng chiến chống Pháp đến kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là ờ miền Nam giai đoạn 1954-1975, tình hình rất phức tạp. Khi chiến tranh ngày càng leo thang, quân ngoại nhập (Mỹ, Hàn, Thái Lan, Úc) đổ vào miền Nam và Mỹ ném bom tràn qua vĩ tuyến 17 đến Hà Nội…Tôn giáo bị cuốn vào vòng xoáy chính trị khốc liệt. Phật giáo đấu tranh lật đổ chế độ Đệ Nhất Cộng hòa. Người Công giáo miền  Bắc di cư vào Nam theo hiệp định Gienève bị coi là theo “Mỹ-Ngụy”.  Sắc lệnh chống chủ nghĩa cộng sản (Decree against Communism) do Giáo hoàng Pio XII phê chuẩn ngày 01/07/1949, quy định những người Công giáo tự nguyện tuyên xưng học thuyết cộng sản vô thần là bội giáo và phải chịu vạ tuyệt thông tiền kết… đẩy người Công giáo Việt Nam vào thế rất khó xử. Rất may là Công đồng Vaticano II (1962-1965) do Giáo hoàng Gioan XXIII khởi xướng đã đưa giáo hội Công giáo toàn cầu thoát khỏi những ảnh hưởng chính trị thời đại, xóa bỏ những định kiến lâu dài đối với Công giáo Việt Nam.

Năm 1980, trong Thư chung, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã đề ra đường hướng mục vụ là: “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc”, giúp giáo dân hội nhập với dân tộc trong đất nước hòa bình, thống nhất.

***

Phần II.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC CÔNG GIÁO

***

1.Vấn đề “Lý luận văn học Công giáo”.

            Cho đến nay, Lý luận văn học Công giáo chưa trở thành một bộ môn khoa học có tính học thuật được nghiên cứu. Bởi Văn học Công giáo Việt Nam là một nền văn học tự phát, ban đầu văn chương là công cụ truyền giáo. Văn học Công giáo không phải là một bộ môn nghệ thuật của giáo hội dùng trong phụng vụ như Thánh ca, Mỹ thuật thánh, Kiến trúc thánh (thí dụ các Vương cung thánh đường)…

            Một vài nhà nghiên cứu văn học Công giáo có đề cập đến những vấn đề lý luận văn học, nhưng lý luận văn học Công giáo không được xem như một nhánh của lý thuyết văn học. GS Nguyễn Văn Trung  có Lược khảo văn học I, II, III. (xuất bản 1963-1968). Nhà nghiên cứu Võ Long Tê có Lịch sử văn học Công giáo (1965). GS Thanh Lãng (Các công trình nghiên cứu văn học Việt Nam); nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Vy Khanh (Canada), có đề cập một vài vấn đề lý luận trong công trình Sơ thảo Văn học Công giáo Việt Nam (Nguyễn Publishing, Toronto 2023).

            Thời kỳ đầu, văn học Công giáo được sáng tác chỉ có mục đích loan báo Tin Mừng. Chẳng hạn, Các Thánh Truyện (1646), tác phẩm văn xuôi chữ Nôm của Majorica. Phép giảng tám ngày (1651) của A, Rhodes, hoặc Sấm Truyền Ca (1670) của Lữ Y Đoan (kể lại truyện Cựu Ước bằng thơ),… Đến Phelippe do Rosario Bỉnh mới có những sáng tác thơ văn bằng chữ Quốc ngữ ở những thể loại khác (những bài thơ trong Nhật trình kim thư khất chính Chúa giáo. 1793-1789, Truyện Annam Đàng Ngoài, 1822).

Đến đầu thế kỷ XX, văn học Công giáo mới xuất hiện truyện dài Quốc ngữ viết theo hình thức truyện phương Tây. Nhưng đó là những tiểu thuyết thế tục, có yếu tố tôn giáo. Thí dụ: Truyện Thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản, Truyện ông Gioang Ngô Kim Thạch” của Charles Ngọc Minh. Phêrô Nghĩa (Lm Lê Thiện Bá) có các tiểu thuyết: Mưa Mai nắng chiều (1928), Đôi bước lưu ly (1928), Ôi là tự do (1931), Cha giết con (1932), Nhị độ mai (1933), Biết Ai Thượng lưu (1942). J. L. v. Đ (Jacques Lê Văn Đức) có Trung và nịnh (1917), Tìm Của Báu (1925). Bùi Minh Nên có tiểu thuyết Bước đường gay hiểm (1926); Lưu Thanh có tiểu thuyết Thần Công Lý (1934)…

Từ sau Nam Kỳ Địa Phận đến đầu thế kỷ XXI, ở miền Nam Việt Nam, và sau 1975 ở hải ngoại, nhiều người Công giáo viết văn, song tác phẩm của họ là văn chương thế tục, không phải tác phẩm văn học Công giáo. Chẳng hạn: Thảo Trường (Trần Duy Hinh) có Thử lửa (1962), Chạy trốn (1965), Người đàn bà mang thai trên Kinh Đồng Tháp (1966)…; Nguyễn Việt Hà có Cơ hội của Chúa (1999), Khải huyền muộn (2010), Ba ngôi của người (2014),…

Những năm gần đây, xuất hiện một thế hệ tác giả Công giáo mới như Lm Nguyễn Đức Thông, Lm Nguyễn Trung Tây, Lm Cao Gia An, Lm Khắc Đỗ. Lm Đình Chẩn, Lm Cát Đen;  tác giả Teresa Nguyễn Phương Thảo (Canada), Vinh Kiu, Hải Miên, Nt Xuân Cát và các nhà nghiên cứu văn học Công giáo trẻ: NCS Maria Đinh Ngọc Oanh CMR, Ths Đặng Thị Lĩnh FMI, Ths Nguyễn Tấn Tài đã vận dụng các lý thuyết văn học đương đại để nghiên cứu Văn học Công giáo (nhưng cũng chỉ ở mức độ vận dụng lý thuyết văn học).

Thực ra, những vấn đề lý luận Văn học Công giáo cũng là những vấn đề chung của lý luận văn học, song cần khu biệt với lý luận văn học của các dòng văn học xây dựng trên nền tảng các hệ tư tưởng khác. Chẳng hạn, Mỹ học Kitô giáo khác với Mỹ học Thiền, Mỹ học phương Tây, Mỹ học Mác – Lênin thế nào? Hoặc, mục đích sáng tác của văn học phong kiến trung đại, văn học cách mạng, Văn học Công giáo khác nhau thế nào? Đặc biệt, Văn học Công giáo Việt Nam có thi pháp riêng không? Và Văn học Công giáo Việt Nam có đóng góp gì cho lịch sử, và văn học dân tộc?

Một vấn đề cấp thiết cho việc nghiên cứu đến nay vẫn chưa được xác lập là: Thế nào là tác phẩm văn học Công giáo? Thế nào là nhà văn Công giáo? Vì thế, các công trình nghiên cứu Văn học Công giáo cho đến nay, vẫn là những góc nhìn riêng lẻ, có tính “dò đưởng”. Các nhà nghiên cứu “thử đặt vấn đề”, để chờ có những nghiên cứu có giá trị khoa học hơn. Đây là một việc lâu dài. Ngay cả Viện Văn họcHội đồng Lý luận Văn học Nghệ thuật Trung ương đã đề ra kế hoạch nghiên cứu, đúc kết một hệ thống lý luận văn học của riêng Việt Nam, nhưng đến nay, sau nhiều chục năm, vẫn chưa thể có một công trình như mong muốn.

2. Cần có một “hệ thống lý luận văn học Công giáo”.

            Lý luận văn học đã bàn đến nhiếu vấn đề căn cốt của văn học. Đó là Mỹ học, là nghệ thuật, bản chất của văn chương? Tại sao người ta sáng tác văn chương? Quá trình sáng tạo diễn ra thế nào? Mối quan hệ giữa tác giả, tác phẩm, người đọc? Về thể loại văn học? Về chức năng của văn học? Về thi pháp. Hoặc đi sâu hơn, người ta xác lập những đặc điểm của ngôn ngữ văn chương, tư tưởng, diễn ngôn, nhân vật, bút pháp, phong cách…

Ngày nay đã có rất nhiều lý thuyết văn học và phê bình văn chương khám phá nhiều giá trị của văn học. Chẳng hạn: chủ nghĩa hình thức, phê bình mới Anh-Mỹ, Ký hiệu học, Thi pháp học, Phân tâm học, phê bình Marxist, Cấu trúc luận, Giải cấu trúc, Phê bình sinh thái, Lý thuyết trò chơi (Game Theory)…

            Lý luận văn học Công giáo tất nhiên nằm trong nền lý luận văn học chung của nhân loại từ Aristotle (384-322 TCN) với tác phẩm Nghệ thuật thi ca (tiếng Hy Lạp: Peri poietikes) đến những quan điểm của chủ nghĩa Hậu hiện đại hôm nay. Nhưng cần xác lập những đặc trưng riêng của văn học Công giáo

  1. Quan điểm của giáo hội về văn chương

Trong Thư gửi văn nghệ sĩ năm 1999, ĐứcGioan Phao lô II chia sẻ với văn nghệ sĩ nhiều điều về sứ mệnh của nghệ thuật và “ơn gọi” của người nghệ sĩ. Ngài kêu gọi:

Hỡi các nghệ sĩ trên thế giới, ước gì mọi nẻo đường khác nhau mà quý  vị đang đi đều dẫn tới đại dương mênh mông của cái đẹp…”; “ước gì nghệ thuật sẽ giúp quý vị xác nhận rằng một cái đẹp chân thật, cũng tựa như tia sáng của Thánh Thần Thiên Chúa, sẽ làm biến đổi vật chất,mở linh hồn con người cho cảm nhận được cõi đời đời”.[[15]]

Ngài nói đến nhiệm vụ của nghệ thuật:

“Để truyền đạt sứ điệp mà Đức Kitô đã giao cho mình, Giáo Hội cần đến nghệ thuật. Nghệ thuật có nhiệm vụ là làm cho thế giới tinh thần, thế giới vô hình, thế giới Thiên Chúa trở nên có thể cảm nhận được và trở nên hấp dẫn càng nhiều càng hay”

Ngài đặc biệt nhấn mạnh sức mạnh của văn chương:

“Giáo Hội đặc biệt cần đến những người có thể làm công tác ấy trong lãnh vực văn chương và tạo hình, dùng được những khả năng vô tận của các hình ảnh và sức mạnh biểu tượng của chúng. Chính Đức Kitô cũng đã sử dụng rất nhiều hình ảnh trong các bài giảng của Ngài, cho theo kịp với ước nguyện của Ngài là trở thành hình tượng của Thiên Chúa vô hình, qua mầu nhiệm Nhập Thể”.

Và “ơn gọi” của người nghệ sĩ:

“Người nghệ sĩ có một quan hệ rất đặc biệt với cái đẹp. Nói cho đúng, cái đẹp là ơn gọi Tạo Hóa đã ban cho người nghệ sĩ…”

…Những ai nhận thấy nơi mình có tia sáng thần linh ấy, tức là ơn gọi làm nghệ sĩ (làm thi sĩ, văn sĩ, nhà điêu khắc, nhà kiến trúc, nhà nhiếp ảnh, nhạc sĩ,…) cũng sẽ cảm thấy mình có bổn phận không được để hoang phítài năng ấy mà phải phát triển, để đem ra phục vụ nhân loại”.

“Giáo Hội luôn nhờ đến khả năng sáng tạo của các nghệ sĩ để giải thích sứ điệp Tin Mừng và để tìm cách áp dụng sứ điệp ấy cách chính xác vào trong đời sống cộng đoàn Kitô hữu”

Những chia sẻ của ĐứcGioan Phaolô II  gợi mở nhiều ý nghĩa mới mẻ có tính lý luận nền tảng cho sáng tác của văn học nghệ thuật Kitô giáo. Chẳng hạn, nghệ sĩ là “ơn gọi”, họ có tia sáng thần linh, vì thế có bổn phận đem tài năng phục vụ nhân loại. Nghệ thuật có nhiệm vụ “làm cho thế giới Thiên Chúa trở nên có thể cảm nhận được và trở nên hấp dẫn càng nhiều càng hay”.

Những quan điểm này chỉ ra sự khác biệt rất lớn giữa văn học Công giáo với văn học thế tục.

  • Mỹ học Kitô giáo [[16]].

Quan niệm về Cái Đẹp là tư tưởng cốt lõi cho sáng tác nghệ thuật. Kitô giáo có một kho tàng thánh ca đồ sộ lan tỏa trên toàn cầu, có một nền kiến trúc thánh hiện diện ở nhiều quốc gia trên thế giới. Mỹ thuật thánh lấy cảm hứng từ Kinh Thánh, khác hẳn với hội họa thế tục. Và bộ Kinh Thánh (gồm Cựu Ước và Tân Ước) được coi là tác phẩm văn chương vĩ đại của mọi thời.

        Tất cả những thành tựu nghệ thuật ấy đều có chung tư tưởng mỹ học. Sách Sáng thế nói rõ rằng: Thiên Chúa sáng tạo nên mọi sự, tất cả đều tốt đẹp: Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!”(St 1, 31). Và Cái Đẹp trọn hảo là Đức Giêsu. “Khi Đức Giê-su vừa chịu phép rửa xong, Người lên khỏi nước. Lúc ấy các tầng trời mở ra; Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,13).

Hạt nhân của tư tưởng Mỹ học Kitô giáo là cái nhìn về con người. “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa” (St 1,27). Con người là chi thể của Đức Kitô: “Thầy là cây nho, anh em là cành” (Ga 15,5). Và con người ở với Thiên Chúa. Đức Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha: “để tất cả nên một, như, lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta” (Ga 17, 21).

Nhà thơ Xuân Ly Băng quan niệm rằng: “Phải khẳng định rằng thơ là để nói lên cái đẹp là Thiên Chúa. Những gì thuộc về Thiên Chúa đều đẹp. Chúng ta ca tụng Thiên Chúa bằng cái đẹp thể hiện qua văn chương, qua thơ ca” [[17]] . Nhà thơ Trăng Thập Tự khám phá vẻ đẹp của Đức Giêsu trong vườn cây dầu (chùm thơ Ghetsêmani). Đó chính là ý thức sáng tạo dựa trên tư tưởng Mỹ học Kitô giáo.

Mỹ học Kitô giáo là tư tưởng cốt lõi của một tác phẩm văn học Công giáo. Điều này giúp phân biệt tác phẩm văn học Công giáo với những tác phẩm được viết bằng những tư tưởng Mỹ học khác.

Chẳng hạn Mỹ học Thiền là tư tưởng cốt lõi của tác phẩm văn học Phật giáo (Thơ Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, ca từ của nhạc Trịnh Công Sơn…).

Mỹ học của văn học phong kiến trung đại là tư tưởng Nho giáo. Ở Việt Nam là tư tưởng tam giáo đồng nguyên. Nhân vật chính là người quân tử, tư tưởng chính là thuyết Thiên mệnh, nội dung chính là đạo “Trung, Hiếu” (Nguyễn Công Trứ: “Có trung hiếu nên đứng trong trời đất/ Không công danh thà nát với cỏ cây”-Phận sự làm trai).

Hoặc, Mỹ học Mác – Lênin là phẩm chất của văn học cách mạng. Hiện thực được nhìn qua ý thức đấu tranh giai cấp. Công, nông, binh là lực lượng quần chúng cách mạng, cũng là nhân vật trung tâm (Cái Đẹp) của văn học cách mạng. Tác phẩm được viết để giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

  • Mục đích sáng tác, diễn ngôn

Mục đích sáng tác chi phối toàn bộ quá trình sáng tác, là điểm đến cuối cùng cho sáng tạo nghệ thuật. Nó trả lời câu hỏi: “Viết cho ai? Viết để làm gì?”.

Tác phẩm văn chương được kiến tạo bằng ngôn ngữ, vì thế nó có mọi chức năng của ngôn ngữ như: chức năng giao tiếp, chức năng tư duy (tư tưởng), chức năng hành động (Đức Chúa phán một lời thì có mọi tạo vật), chức năng nghệ thuật (thơ ca…), chức năng cá nhân hóa (phong cách)… Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà ngôn ngữ là quyền lực (M.Foucal). Vì thế, thông qua các diễn ngôn để hiểu rõ mục đích của tác giả là yêu cầu của người đọc tác phẩm.

Văn học phong kiến rao truyền đạo lý “Trung, hiếu” (Nguyễn Đình Chiểu: “Trai thời trung hiếu làm đầu/ Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”-Lục Vân Tiên). Thơ ca lãng mạn phô diễn Cái Tôi cá nhân vị kỷ. Văn học cách mạng giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

 Tác phẩm văn học Công giáo có mục đích và diễn ngôn theo lời dạy của giáo hội:

“Giáo Hội luôn nhờ đến khả năng sáng tạo của các nghệ sĩ để giải thích sứ điệp Tin Mừng và để tìm cách áp dụng sứ điệp ấy cách chính xác vào trong đời sống cộng đoàn Kitô hữu”(Thư gửi văn nghệ sĩ năm 1999-Đức Gioan Phaolo II, đd)

Như vậy, tác phẩm văn học Công giáo không có mục đích của văn chương thế tục (như văn học hiện thực phê phán, văn học lãng mạn, văn học cách mạng, văn chương thị trường…). Diễn ngôn của nhà văn Công giáo không được trái với chân lý của Kinh Thánh và lời dạy của Giáo hội.

4.Nội dung của văn học Công giáo

Nhà văn Công giáo viết gì?

Nội dung của tác phẩm là phần vật chất làm nên tác phẩm. Nó kết tụ vốn sống của nhà văn. Nó là phần hiện thực mà nhà văn quan tâm khám phá, nhận thức và diễn ngôn.

Nội dung chứa đựng trong nó tất cả các yếu tố của tác phẩm như cấu trúc, nhân vật, ngôn ngữ, thi pháp, phong cách và cả năng lực sáng tạo của tác giả. Rất ít nhà văn có khả năng viết những bộ sử thi, bởi nội dung sử thi đồ sộ về thời gian, không gian, sự việc, số lượng nhân vật và cấu trúc phức tạp…so với một tác phẩm chỉ có vài nhân vật trong một không gian hẹp, thời gian ngắn, dung lượng chừng 300 trang in.

Phản ánh hiện thực là một thuộc tính của văn chương, cũng có thể trở thành một nhiệm vụ. Nhờ hiện thực được miêu tả trong tác phẩm và thái độ của nhà văn khi miêu tả hiện thực ấy, người đọc có thể nhận ra khuynh hướng tư tưởng của tác giả.

Nội dung của tác phẩm văn học phong kiến là câu chuyện của tầng lớp trên. Thí dụ, Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh – Nguyễn Du) kể lại sự việc xảy ra cho gia đình Kiều, một gia đình trung lưu. Trong truyện Kiều, gia đình Hoạn Thư là một danh gia vọng tộc. Bọn quan lại đủ mặt, từ quan mặt sắt đen sì, đến trọng thần Hồ Tôn Hiến. Thượng Kinh ký sự (Lê Hữu Trác. 1783), Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Ngô Gia văn phái. Cuối thế kỷ 18) cũng miêu tả cụ thể xã hội quan lại, vua chúa  phong kiến thời bấy giờ.

Nội dung các tác phẩm văn học Công giáo thời kỳ đầu cũng hướng về hiện thực sống đạo của người Công giáo. Chẳng hạn Các thánh truyện (Majorica), Inê tử đạo vãn, Sấm Truyền Ca (Lữ Y Đoan), Thuật tích việc nước Nam (Lm. Đặng Đức Tuấn), Tuồng Cha Minh (của Marie-Antoine Louis Caspar – cố Lộc.1881) viết về thánh tử đạo Lm Philiphê Phan Văn Minh (1815-1853).

Tuy nhiên, khi tác giả là người Công giáo viết tác phẩm thế tục, thì nội dung không phải là đời sống đức tin của người Công giáo. Xin đọc: Một linh hồn (1941) của Thụy An, Người đàn bà mang thai trên Kinh Đồng Tháp (1966) của Thảo Trường; tiểu thuyết Cơ hội của Chúa (1999) của Nguyễn Việt Hà.  Cơ hội của Chúa “tái hiện bức tranh Hà Nội thời kỳ đầu đổi mới với sự biến chuyển mạnh mẽ về kinh tế thị trường, qua đó khám phá những trăn trở, suy thoái và khát vọng của giới trí thức cũng như giới tư sản mới nổi”…

Như vậy, căn cứ vào nội dung, người đọc có thể xác lập được thế nào là một tác phẩm văn học Công giáo. Nội dung tác phẩm khám phá hiện thực gì? Dưới ánh sáng tư tưởng Mỹ học nào? Thái độ miêu tả hiện thực và diễn ngôn của tác giả có phù hợp với lời dạy của giáo hội về tín lý, luân lý, nghi lễ sinh hoạt không? Viết tác phẩm, tác giả hướng đến mục đích gì (mục đích tôn giáo, mục đích chính trị, mục đích lợi nhuận)?

Bạn thử đọc tiểu thuyết Bão biển (1969) của Chu Văn, Những con chim ẩn mình chờ chết (1977) của Colleen McCullough, Mật mã Da Vinci (2003) của Dan Brown..  và xác định xem những tiểu thuyết này có phải là tác phẩm văn học Công giáo không?

  • Nhân vật văn học Công giáo

Nhân vật là yếu tố trung tâm của tác phẩm. Nhân vật thể hiện chủ đề, tư tưởng, và làm nên cốt truyện, kiến tạo nội dung tác phẩm. Sự thành bại của một tác phẩm văn học tùy thuộc vào sự thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật. Nhân vật còn là sự chọn lựa hóa thân của tác giả, nói tiếng nói (diễn ngôn) của tác giả. Hơn nữa, nhân vật định vị một trào lưu văn học (nhân vật của Tự Lực Văn Đoàn) là diện mạo của một dòng văn học (nhân vật của dòng văn học hiện thực phê phán). Những nhân vật lớn còn đại diện cho một thời kỳ văn học, một thời đại lịch sử (xin đọc bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão: “Hoành sóc giang san cáp kỷ thu/ Ta quân tỳ hổ khí thôn ngưu…”.

            Nhìn rộng ra văn học thế tục, nhân vật của văn học trung đại phong kiến là tầng lớp trung lưu, quan lại, quân tử, những điển hình cho lý tưởng “Trung, Hiếu”. Nhân vật của văn học lãng mạn 1930-1945 là ông đốc, thầy ký, ông Phán, luật sư, bác sĩ, những mẫu người Tây học, những người có danh phận trong giới tư sản (Xin đọc tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn). Nhân vật chính của văn học Hiện thực xã hội chủ nghĩa là công, nông, binh, mang phẩm chất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân vật trong các Thiền thoại là những Thiền sư, những người tu hành.

Vậy văn học Công giáo có những “nhân vật điển hình” hay không?

            Trong Tân Ước, Đức Giêsu đi khắp nơi, giao tiếp với đủ hạng người. Ngài cảm hóa họ, đem đến cho họ ơn cứu độ. Cựu Ước và Tân Ước đã để lại rất nhiều nhân vật lẫm liệt, dù có khi nhân vật ấy rất nhỏ bé. Thí dụ: “một người nghèo khó tên là La-da-rô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta” (Lc 19, 19-31).

Vì thế, nhà văn Công giáo có thể viết về đủ loại nhân vật, nhưng soi sáng trang văn bằng Mỹ học Kitô giáo, thể hiện cho được lòng yêu thương của Đức Giêsu với những con người nghèo khó, khốn khổ trong Tám mối phúc (Mt 5, 1-12), trong ngày cánh chung (Mt 25, 31-46).

Những phẩm chất tôn giáo, đức hạnh của giáo dân, Linh mục, tu sĩ đều đã được dạy trong Kinh Thánh. Vì thế, khi xây dựng nhân vật văn học Công giáo, nhà văn sẽ miêu tả hành trình sống đạo và làm chứng cho Tin Mừng của họ trong cuộc sống đời thường. Cuộc đấu tranh để trưởng thành lên trong đức tin của người Công giáo là cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ và hết sức khó khăn. Sự vấp ngã thường khó tránh khỏi. Người Công giáo luôn cầu xin ơn Chúa và cậy trông vào Lòng Chúa Xót Thương.

Trong văn học Công giáo, có nhiều nhân vật Linh mục, tu sĩ. Bởi họ là những người được Chúa chọn. Họ từ bỏ mình, sống chết vì đoàn chiên. Trong đời sống thực tiễn, Linh mục, tu sĩ sống giữa cộng đoàn giáo dân, là người dạy dỗ đức tin và là chỗ dựa tinh thần của cộng đoàn. Họ thường bị thế gian ném đá vì ganh ghét. Chính Đức Giêsu còn bị người Do Thái ném đá (Ga 8,58-59 và Ga 10,31-33) và bị đóng đinh trên thập giá.

 Cho nên, nếu tác phẩm văn học Công giáo có viết về Linh mục, tu sĩ, thì điều đó có thể hiểu. Xin tham khảo truyện về các thánh tử đạo Việt Nam, hoặc Tuồng Cha Minh. 1881, của Marie-Antoine Louis Caspar (cố Lộc)[[18]] viết về thánh linh mục Philiphe Phan Văn Minh tử đạo 1853.

Nhiều tác phẩm thế tục viết không đúng về linh mục cũng là điều có thể hiểu (Những con chim ẩn mình chờ chết (tiểu thuyết của Colleen McCullough), Bão biển của Chu Văn)…

  • Bút pháp của văn học Công giáo

Người viết văn Công giáo nên sử dụng bút pháp nào?

Ở Việt Nam, bạn đọc đã quen với bút pháp lãng mạn, bút pháp Hiện thực phê phán, bút pháp Hiện thực xã hội chủ nghĩa và từ “đổi mới”(1986) đến nay, nhiều phương pháp sáng tác khác đã du nhập vào văn học Việt Nam như Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, Tiểu thuyết mới, Chủ nghĩa hiện sinh, và chủ nghĩa Hậu hiện đại. Mỗi một bút pháp, một trào lưu đều có những nguyên tắc riêng về Mỹ học, về tư tưởng triết học, về những thủ pháp và những kiểu kiến trúc tác phẩm khác nhau.

Và dĩ nhiên, văn học Công giáo được viết với ánh sáng Mỹ học Kitô giáo với mục đích: … giải thích sứ điệp Tin Mừng và để tìm cách áp dụng sứ điệp ấy cách chính xác vào trong đời sống cộng đoàn Kitô hữu”, nói các khác là mục đích loan báo Tin Mừng, thì văn học Công giáo phải có cách viết khác.

Văn học Công giáo không thể dùng bút pháp lãng mạn“để giải thích sứ điệp Tin Mừng và để tìm cách áp dụng sứ điệp ấy cách chính xác vào trong đời sống cộng đoàn Kitô hữu”. Và vì Tin Mừng là tiếng nói của ơn Cứu độ, đem đến niềm hy vọng cho muôn dân, nhà văn Công giáo không thể viết Hiện thực phê phán. Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa miêu tả “hiện thực cách mạng” của quần chúng vô sản trong quá trình đấu tranh các mạng. Nền tảng triết học phương pháp sáng tác này là chủ nghĩa Mác – Lênin. Nếu nhà văn Công giáo viết về giáo dân, họ là những người sống đức tin, thì không thể miêu tả họ như “quần chúng cách mạng” được. Chủ nghĩa Hậu Hiện đại là trào lưu đa nguyên về tư tưởng, dùng Giải cấu trúc để giải trung tâm, lật đổ các “đại tự sự”, “giải thiêng” các tín niệm,…chắc chắn không thể được dùng chuyển tải những chân lý vĩnh cửu của Tin Mừng được.

Trình bày như vậy để thấy việc chọn lựa bút pháp của nhà văn Công giáo cũng chính là chọn lựa thái độ trong việc phản ánh hiện thực, và chọn lựa đứng về phía chân lý trong cuộc đấu tranh tư tưởng.

Hãy quan sát

Kinh Thánh ghi lại chân thực cuộc đời Đức Giêsu, không chỉ cuộc sống xã hội rao giảng Tin Mừng; mà quan trọng hơn là, khẳng định Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Người đến thế gian để cứu độ nhân loại. Ai tin điều ấy thì sẽ được cứu rỗi. Kinh Thánh giáo dục đức tin ấy cho nhân loại. Chúa Giêsu nói chuyện với người phụ nữ về nước hằng sống bên giếng Giacop (Ga 4, 5-42), Chúa Giêsu nói chuyện với chị em Macta về sự bất tử (Ga 11, 21-44), Chúa Giêsu đối thoại với Philato về “chân lý” (Ga 18,33 – 19,11), Chúa Giêsu nói về sự phản bội của Giuđa (Ga 13, 21-30), Chúa Giêsu nói với Tôma về bản chất của đức tin (Ga 20, 24-29)…là những trình thuật tuyệt vời cả về nội dung, tư tưởng và nghệ thuật.

Đức Giêsu hay dùng dụ ngôn để giảng dạy. Đó là những câu chuyện giàu ý nghĩa tư tưởng và tâm linh, rất đa dạng về “bút pháp”. Xin đọc dụ ngôn Người Samari nhân hậu (Lc 10, 29-37), dụ ngôn Lazarô và người phú hộ (Lc 16, 19-31), dụ ngôn Người cha nhân hậu (Lc 15, 11-32), dụ ngôn Người làm vườn nho (Mt 20, 1-16),.. Những dụ ngôn này đều là truyện hư cấu, nhưng có cốt truyện hiện thực, được kể khi Đức Giêsu đối thoại với hiện thực, để làm thay đổi nhận thức và tâm linh của người nghe.

Các nhà văn Công giáo đương đại cần sử “bút pháp hiện thực cứu rỗi” của Tin Mừng trong sáng tác hôm nay. Xin đọc truyện của Lm Nguyễn Trung Tây, Lm Nguyễn Đức Thông; đọc tiểu thuyết Vượt qua của Lm Cao Gia An, đọc tiểu thuyết Ôi tội hồng phúc của Nguyễn Phương Thảo (Canada), đọc trường ca Ánh lửa đức tin trong đại dịch Covid củaXuân Cát OP,..

  • Vấn đề thể loại văn học Công giáo

Trong một vài công trình nghiên cứu văn học, tôi thấy tác giả đưa vào rất nhiều thể  loại. Hình như có sự lấn cấn nào đó giữa văn chương và văn học, không xác định rõ các thể loại văn học.

            Thí dụ:

            Trong Văn học Công giáo Việt Nam, Những chặng đường,[[19]] Lê Đình Bảng đưa vào các tác giả văn xuôi, tác giả thi ca, các thể loại: Tuồng, Vãn; đưa cả Thần học, Triết học, Văn kiện, Thư chung, Thư luân lưu, Thông cáo, Tự điển, Báo chí…(Chương 4, tr.235-314)

            Nhà nghiên cứu văn học Công giáo Nguyễn Vy Khanh trong công trình Sơ thảo văn học Công giáo Việt Nam (Nguyễn Publishing, Toronto. 2023), ngoài các tác giả thơ ca, văn xuôi,  còn đưa vào công trình các nội dung về Học thuật tư tưởng (nghiên cứu Triết học, Lịch sử, Ngôn ngữ , Văn học, Chữ Quốc ngữ), Báo chí, Sinh hoạt văn học, Nhà in sách báo Công giáo, Các ấn bản Kinh Thánh

            Có thể phân biệt:

Văn chương là những sáng tạo nghệ thuật bằng ngôn ngữ: gồm Truyện, Thơ, Kịch bản văn học, Tùy bút. Những thể lọai cận văn chương là Ký, Nhật ký, Ký sự, phóng sự

Văn học là khoa học nghiên cứu văn chương. Nghiên cứu văn học cần có sự liên kết của nhiều ngành như Văn bản học, Ngôn ngữ học, Văn học sử, các Lý thuyết văn học và Phê bình văn học, Văn học so sánh, Phân tâm học, Sử học, Xã hội học…

Cho nên, việc đưa vào công trình nghiên cứu văn học Công giáo các nhà nghiên cứu ở những ngành khoa học khác, tuy cần thiết, song cần xác định đóng góp của họ với sự phát triển văn học, bởi họ không phải là các tác giả văn chương (không sáng tạo tác phẩm nghệ thuật ngôn ngữ)

Chẳng hạn, trong Sơ thảo văn học Công giáo Việt Nam , Nguyễn Vy Khanh viết về các nhà nghiên cứu:

Lm. Bửu Dưỡng (1907–1987) – Lm. Cao Văn Luận (1910-1986) – Lm. Nguyễn Phương (1921-1993) – Lm. Lê Văn Lý (1913-1992) – Lm. Thanh Lãng (1924 – 1988) – Lm. Đỗ Quang Chính(1929-2012) – Nguyễn Nam Châu (1929 – 2005) – Trần Thái Đỉnh – Trần Văn Toàn – Lê Tôn Nghiêm – Lê Thành Trị – Nguyễn Văn Trung – Lý Chánh Trung – Lm. Hoàng Sĩ Quý – Phạm Việt Tuyền (1926 – 2009) – Phạm Đình Khiêm – Hoàng Xuân Việt (1930-2014) – Võ Long Tê (1927-2017) – Đức Ông Trần Văn Hiến Minh (1919-2003) – Lm. Vinhsơn Bùi Đức Sinh (tr.182-227)

Và vì thế, nội dung các công trình nghiên cứu Văn học Công giáo tuy rất đồ sộ, song những tác giả, tác phẩm văn học Công giáo (theo chuẩn mực của giáo hội) thì không nhiều. Bởi số người Công giáo viết văn chương thế tục khá đông, lực lượng nghiên cứu đa ngành cũng hùng hậu, đặc biệt các nhà nghiên cứu Công giáo có uy tín về Chữ Quốc ngữ.

                                                   ***

   PHẦN III

   VĂN CHƯƠNG SONG NGUYỄN  Và những vấn đề lý luận văn học

I.Hoàn cảnh sáng tác.

Song Nguyễn là bút danh của Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh, Giám mục giáo phận Xuân Lộc (2004 – 2016). Đến năm 2025, Song Nguyễn đã in 15 tác phẩm, gồm truyện dài, truyện ngắn (5 tập) và hồi ký (3 tập)[[20]].

Song Nguyễn viết tác phẩm vào những năm 1980, thời gian ngài làm cha sở giáo xứ Chính Tòa Xuân Lộc. Công việc mục vụ chưa nhiều. Lúc ấy, Việt Nam vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh vệ quốc kéo dài 30 năm. Đất nước vừa hòa bình thống nhất, đang đứng trước muôn vàn khó khăn do hậu quả của chiến tranh và những biến động chính trị thế giới. Tình hình xã hội còn nhiều phức tạp. Lúc ấy chưa có Luật Tôn giáo – Tín ngưỡng. Các giáo hội ở Việt Nam chỉ sinh hoạt theo các Nghị định của Chính phủ [[21]]. Mãi đến ngày 18/11/2016, Luật Tôn giáo – tín ngưỡng đầu tiên của Việt Nam mới được Quốc hội khóa XIV thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.

Trong giai đoạn ấy, Thư chung ngày 01/5/1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam mở ra đường hướng mục vụ chung của giáo hội.

Thư chung khẳng định: “… Nhưng dựa vào tình thương của Chúa Cha, dựa vào Lời ban sự sống của Chúa Giêsu Kitô và sức mạnh của Chúa Thánh Thần, chúng ta hãy mạnh dạn nhìn vào hiện tại và tin tưởng ở tương lai”.

Hội đồng Giám mục xác định hai nhiệm vụ:

– Tích cực góp phần cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc.

– Xây dựng trong Hội Thánh một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc.

Và kêu gọi các linh mục thực hiện:

            “Anh em cũng hãy làm cho Chúa Giêsu Kitô hiện diện thật sự giữa đoàn chiên, khi anh em phục vụ các tín hữu cách tận tâm và khiêm tốn (LM 15). Nhất là được nhìn nhận như là người đại diện chính thức của Hội Thánh tại địa phương, anh em hãy trở nên hình ảnh của Chúa Cứu Thế, vị Mục Tử hiền lành và khiêm nhường, để cống hiến ơn cứu độ cho mọi người. Xin anh em hãy cùng với chúng tôi đưa Hội Thánh ở Việt Nam đi vào con đường đã lựa chọn: là sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”.

            Đường hướng mục vụ này có thể là những chỉ dẫn để đọc hiểu tác phẩm của Song Nguyễn.

Tác giả nói về mục đích sáng tác của mình trong Lời ngỏ mở đầu tác phẩm:

Viết lại những mảnh đời, những số phận , những trải nghiệm, tác giả chỉ có ý rút ra cho đời mục vụ của mình những bài học từ cuộc sống. Hay nói khác đi, tác phẩm là những bài suy niệm sống qua các nhân vật. Và nếu có thể, chia sẻ với bạn bè tất cả những kinh nghiệm quý báu này. Mục đích chỉ đơn giản như vậy…”

Ở chỗ riêng tư, tác giả còn cho biết, các tác phẩm được viết là để hướng đến “Năm Linh mục” của Giáo hội [[22]], hướng Linh mục hôm nay sống theo mẫu gương của Thánh Gioan Maria Vianney. Các tác phẩm này được đặt trong tủ sách “Đời dâng hiến”. Song Nguyễn tập trung viết về hành trình mục vụ của các Linh mục, nữ tu. Có một tâm nguyện riêng, Song Nguyễn thổ lộ rằng, các tác phẩm văn học thế tục viết về Linh mục, nữ tu, hầu hết không đúng với thực tiễn đời sống và phẩm hạnh của những người đã dâng hiến đời mình cho Chúa (Bão Biển của Chu Văn, Cha, Con và… của Nguyễn Khải, Những con chim ẩn mình chờ chết của Colleen McCullough, người Úc ). Vì thế, Song Nguyễn muốn khắc họa lại chân dung thật của các Linh mục giữa đời thường, trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước. Những câu chuyện Song Nguyễn kể là chuyện thật do các linh mục ở nhiều nơi khác nhau chia sẻ với ngài. Tác giả đã xây dựng lại thành tác phẩm văn học.

Viết tác phẩm văn học Công giáo cùng với việc tổ chức Giải Văn hóa Nghệ thuật Đất Mới cho giáo phận Xuân Lộc, Song Nguyễn muốn góp phần làm giàu kho tàng văn học Công giáo và thực hiện mục vụ văn hóa của Giáo hội. Song Nguyễn chia sẻ, Tự Lực Văn Đoàn chỉ có 7 nhà văn, nhưng họ đã có những đóng góp giá trị vào sự phát triển của văn học dân tộc những năm 1930-1945, trong khi văn học Công giáo, đã có một truyền thống 400 năm, nhưng do hoàn cảnh xã hội, đã  bị đứt gãy nhiều chục năm (1975-2010).

Thực ra, viết tác phẩm văn học Công giáo ở những năm 1980, Song Nguyễn phải đối mặt với nhiều vấn đề tư tưởng.

Nặng nề nhất là những định kiến lịch sử (đã nói ở trên) đã tồn tại hàng trăm năm.

Vấn đề thứ hai là, người Công giáo miền Nam hội nhập với chế độ mới như thế nào dù năm 1965, Công đồng Vaticano II đã mở ra thời kỳ mới cho giáo hội là “canh tân” (aggiornamento) và “mở cửa” để Giáo hội thích ứng với thế giới hiện đại…

Vấn đề thứ ba là, hiện thực lịch sử xã hội Việt Nam 1945-1980 là vô cùng phức tạp, người viết văn Công giáo phải đứng ở góc độ nào để viết tác phẩm (khác với văn học miền Nam trước 1975 và văn học cách mạng)?

Vấn đề thứ tư, người Công giáo sẽ thực hiện thế nào những nhiệm vụ mà Thư chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam đề ra năm 1980 trong khi cuộc sống đang muôn vàn khó khăn (tình trạng “ngăn sông cấm chợ”, nền kinh tế bao cấp còn ràng buộc nhiều mặt đời sống?

Và, thứ năm, vấn đề thi pháp, người sáng tác văn học Công giáo theo những nguyên tắc sáng tạo nào, trong khi chưa có một nền lý luận văn học Công giáo?

II.Văn học và hiện thực

Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực bao hàm nhiều lĩnh vực cùa lý luận văn học.

Nhà văn chọn lựa phần hiện thực nào để đưa vào tác phẩm? Nhà văn tìm kiếm kiểu nhân vật nào trong hiện thực? Thế giới quan, nhân sinh quan của nhà văn thể hiện qua góc nhìn và thái độ trần thuật như thế nào? Tác giả chọn lựa bút pháp nào trong miêu tả hiện thực để lên tiếng nói (diễn ngôn)? Điều này có thể thấy rõ trong Văn học lãng mạn 1930-1945, Văn học hiện thực phê phán (1930-1945) và Văn học Hiện thực xã hội chủ nghĩa sau 1945).

            Trong tác phẩm của Song Nguyễn, người đọc có thể nhìn thấy những bức tranh đời sống đức tin, những sinh hoạt “nhà đạo” của người Công giáo trong bối cảnh lịch sử từ những năm 1945 đến thời kỳ “đổi mới”. Cuộc sống ấy được miêu tả chân thực trong ý thức về sự quan phòng của Chúa, mà không miêu tả qua nhãn quan chính trị xã hội. Đó là sự khác biệt tư tưởng của tác phẩm Song Nguyễn với văn học Việt Nam đương đại.

Thực ra, người Công giáo nhìn hiện thực bằng sự quan phòng của Thiên Chúa. Đó là một tín niệm nền tảng đức tin (Mt 6, 25-34). Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ. Lịch sử, dù biến động thế nào, cũng là lịch sử Cứu độ của Thiên Chúa. Mỗi phận người đều đã được Chúa trao cho sứ mệnh làm chứng nhân Tin Mừng trong chương trình của Thiên Chúa. Vì thế, người Công giáo bước đi trong hành trình đức tin với niềm tin kiên vững vào ơn Chúa, dù bất cứ hoàn cảnh thế nào (nhìn vào lịch sử giáo hội Việt Nam từ 1533 đến nay thì thấy rõ). “Nhưng Người quả quyết với tôi: ‘Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.’ Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Ki-tô ở mãi trong tôi”(thư 2 Corinto 12, 9).

Khi miêu tả hiện thực như thế, Song Nguyễn vượt qua được những khác biệt chính trị trong xã hội, vượt qua những định kiến lịch sử, xử lý được những tình huống khó khăn đời thường và tìm thấy niềm hạnh phúc trong Chúa, ngay trong những hoàn cảnh mà người ngoải Kitô giáo không thể hiểu được.

            Hiện thực ấy là sinh hoạt của một gia đình thôn quê, sống đạo hàng này [[23]].

            Hoặc số phận người phụ nữ giáo dân trong trường kỳ lịch sử. “Tập truyện Mẹ yêu của con kể về số phận những người mẹ từ những năm trước 1945 (Người Mẹ Công Nhân, Người Mẹ Nông Dân), những năm chiến tranh, đến những năm xã hội chuyển sang nền kinh tế thị trường hiện nay (Người Mẹ Thương Gia). Có người mẹ trong Nam, có người mẹ ngoài Bắc, có người ở Pháp, ở Mỹ, ở Úc. Tác giả cũng nói đến nỗi thống khổ của người phụ nữ trong ách thống trị thực dân ở hình ảnh người mẹ công nhân ba đời cạo mủ cao su cho đồn điền Tây. Song Nguyễn cũng đã có những trang viết  đẫm máu và nước mắt miêu tả  chân thực nỗi thống khổ của người phụ nữ trong chiến tranh, bom đạn đau thương, tang tóc, nát tan. Đó là nhân vật người chị của Trần Vũ (truyện dài Định Hướng) đã sinh con trong rừng, dưới mưa bom bão đạn và lạc mất gia đình. Hoặc hình ảnh dì Agnès Nguyễn Phương Tâm và dì Năm (truyện dài Đồng Hành) ở vùng sâu Đồng Tháp Mười trong cơn lốc chiến tranh những năm 1960, một thân một mình, cùng với các cháu nhỏ, cận kề cái chết. Trong một trận càn, Dì năm đã chết rất thảm bên bờ ruộng”[[24]]

            Đọc truyện dài Vì sao sáng, chúng ta theo chân Linh mục Trung Tín vào vùng căn cứ cách mạng, gặp gỡ các cán bộ (trước 1975). Trên đường đi Đà Lạt nghỉ hè, đến khu vực quận Định Quán, cha Trung Tín bị quân Giải phóng chặn xe, bắt vào rừng cùng với một số khách trên xe. Cha đã trải qua những chặng đường gian khổ, sống những giờ phút chiến tranh trong căn cứ, gặp gỡ dân quân vùng giải phóng, và bị thẩm vấn nhiều lần bởi các cán bộ từ thấp đến cao (đặc biệt là chương 15, 16). Sau cùng ngài được trả về. Tác phẩm vừa phản ánh hiện thực vùng giải phóng, vừa ghi lại cuộc đấu tranh tư tưởng về sự chọn lựa phục vụ một lý tưởng của người linh mục và người cán bộ, vừa miêu tả hành trình đức tin và lòng cậy trông vào ơn Chúa quan phòng của cha Trung Tín. Bằng đức tin và lý tưởng “đời dâng hiến”, ngài vượt qua những kỳ thị, những quy kết, những khác biệt ý thức hệ, và thuyết phục được người cán bộ về niềm tin chân lý mà ngài đang thực hiện.

            Truyện dài Đồng cỏ xanhkhông miêu tả trực diện chiến tranh, mà miêu tả những nạn nhân bị kẹt giữa hai lằn đạn của cuộc giao tranh. Trước những tang thương và mất mát quá sức chịu đựng của con dân, cha Phương Tín phải tìm con đường bảo toàn an ninh tính mạng cho đoàn chiên. Dấn thân vào chốn hiểm nguy, Cha tiếp xúc nơi này, nơi kia, người này, người kia của cả hai phía, để tìm sự giúp đỡ và bảo vệ an toàn tính mạng cho con dân. Ngài cũng chia sẻ tất cả cho mọi người, những đồng bào địa phương và đồng bào mới đến lánh nạn theo đề nghị của anh Ba, người của “cơ sở”(chương 6)[[25]].

           Truyện dài Định hướng viết về một xứ đạo ngay trước và sau ngày Miền Nam hoàn toàn Giải phóng năm  1975. Chiến tranh ác liệt tàn phá tất cả. Nhà thờ không còn, cha sở bị bắt đi. Đoàn chiên tan tác vì bom đạn và sợ hãi, sinh hoạt tôn giáo tan rã. Kinh tế cực kỳ khó khăn. Trong hoàn cảnh ấy, một thầy tu dở dang đã sống ơn gọi giữa “đoàn chiên”. Thầy Trần Vũ cũng là một người dân chạy loạn, nhiều lần kề cận cái chết vì bom chụp trên đầu. Thầy đã chứng kiến những hoàn cảnh thê thảm của người thân, nhiều lần rơi lệ trước cái chết cuả người thương yêu mình. Chiến tranh kết thúc, chàng trở thành một “thầy tu trơn” ở nơi không có linh mục. Do yêu cầu của giáo dân, chàng đã nhận lấy trách nhiệm cùng với mọi người lao động kiếm sống, xây dựng lại nhà nguyện, làm thuỷ lợi để người dân xóm ấp có điều kiện nâng cao sản xuất. Chàng cũng góp phần khôi phục các sinh hoạt tôn giáo, tổ chức lễ Noel trang trọng, lễ Phục Sinh lành thánh”[[26]].

            Bộ truyện dài Đất mới (3 tập) miêu tả hiện thực miền Nam vừa giải phóng, linh mục Phương Toàn dẫn giáo dân đi xây dựng kinh tế mới, vượt qua bao nhiêu khó khăn cả về phía giáo dân và những sinh hoạt trong chế độ mới. Tác phẩm đặc biệt miêu tả sự chuyển đổi của lòng người để vượt qua các rào cản ý thức hệ, xóa đi những định kiến lịch sử, thay đổi thái độ phân biệt đối xử, và chuyển hóa tâm linh cả những người đã từng có thành kiến tôn giáo. Đất mới xây dựng được một vùng đất yêu thương của lòng người, thực hiện chủ trương của giáo hội là “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, “xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc”(Thư chung. Đd).

            Ngòi bút Song Nguyễn bám rất sát hiện thực, miêu tả cụ thể những biến cố của đời sống xã hội của giáo dân, đặc biệt là đời sống đức tin. Chiến tranh có tàn khốc, gây bao đau khổ, nhưng chiến tranh không được miêu tả với lòng thù hận, chia sẽ, quy kết. Những ngày tháng khó khăn trước “đổi mới” (trong Đất Mới), cũng được ghi nhận qua nhiều góc nhìn (của giáo dân, của linh mục, của cán bộ Nhà nước), nhưng đó không phải là “hiện thực phê phán” mà là cái nhìn hiểu biết thực tại đất nước sau chiến tranh, không phải là sự thất vọng như cái nhìn của những người bỏ nước ra đi (Chị em Mỹ Linh trong Đất Mới). Người Công giáo trong Đất Mới đã xây dựng vùng kinh tế mới tốt đẹp, đồng thời trợ giúp đồng bào nơi khác đến sau, điều ấy khẳng định đức tin và sự chọn lựa lý tưởng của Linh mục Phương Toàn là đúng, đường hướng mục vụ “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của giáo hội là con đường sống đạo của người giáo dân. Sống gắn bó với dân tộc. Dưới ánh sáng Phúc âm, người Công giáo làm mọi việc để góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc

            Miêu tả hiện thực dưới nhãn quan “Thiên Chúa quan phòng” của Kitô giáo. Song Nguyễn đã đem đến cho văn học Việt Nam những điều mới mẻ khác hẳn với văn chương thế tục đương đại.

            Có ý kiến cho rằng, truyện dài của Song Nguyễn kế thừa và mở rộng mô hình truyện giáo huấn của văn học Công giáo đầu thế kỷ XX [[27]]: “Qua việc đối chiếu truyện dài của Song Nguyễn với mô hình tự sự giáo huấn được hình thành trong truyện Công giáo Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, bài viết cho thấy sự kế thừa giữa hai giai đoạn chủ yếu biểu hiện ở cấp độ thi pháp”.

Thực ra, hiện thực lịch sử xã hội Việt Nam từ năm 1945 đến “đổi mới” (bối cảnh truyện Song Nguyễn) làm cho sáng tác văn chương của Song Nguyễn hoàn toàn khác biệt với truyện “giáo huấn” của văn học Công giáo đầu thế kỷ XX.

Song Nguyễn không viết tác phẩm để “giáo huấn” đạo đức công dân như kiểu tác phẩm văn học trung đại phong kiến. Tác giả nói rõ: “Tác phẩm là những bài suy niệm sống qua các nhân vật. Và nếu có thể, chia sẻ với bạn bè tất cả những kinh nghiệm quý báu này”. Mục đích chủ quan của tác giả là vậy, nhưng tác phẩm có tiếng nói riêng. Song Nguyễn miêu tả hiện thực để hóa giải nhiều định kiến lịch sử xã hội, và trên nền hiện thực ấy, Song Nguyễn trình bày những tư tưởng Kitô giáo (chẳng hạn tư tưởng vể Chúa quan phòng) để giải quyết những xung đột của hiện thực (, tư tưởng về chiến tranh, về nững kỳ thị và đường hướng mục vụ người Công giáo “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc”)

Nói như vậy để thấy rằng, dưới ánh sáng tư tưởng Mỹ học Kitô giáo, và bút pháp “Hiện thực cứu rỗi” ngòi bút của Song Nguyễn đã chạm được đến những vấn đề lớn của thời đại với góc nhìn và cách lý giải riêng, khác hẳn với văn chương có yếu tố Công giáo đầu thế kỷ XX và văn chương thế tục do nhà văn người Công giáo viết.

III.Về thi pháp

Luận văn “Cảm hứng tôn giáo trong sáng tác của Song Nguyễn” của Ths. Đặng Thị Lĩnh(Trường ĐHSP TP. HCM 2025)và bài nghiên cứu “Truyện dài của Song Nguyễn trong tương quan với mô hình tự sự giáo huấn Công giáo nửa đầu thế kỷ xx”của NCS. Đinh Ngọc Oanh đã phân tích sâu sắc và có nhiều khám phá về thi pháp của truyện dài Song Nguyễn.

Tôi xin không nhắc lại.

Trong bài viết này, tôi thử tìm hiểu xem sự chọn lựa cách viết của Song Nguyễn tạo ra khác biệt gì với văn chương đương đại và văn học Công giáo truyền thống.

Song Nguyễn sử dụng cách viết truyền thống mà không có những cách tân thi pháp như tiểu thuyết Việt đương đại. Người đọc sẽ không tìm thấy trong truyện dài của Song Nguyễn dấu vết những thủ pháp nghệ thuật của những trào lưu phương Tây như tiểu thuyết Hiện sinh, tiểu thuyết Hiện thực huyền ảo, tiểu thuyết Hậu hiện đại … Trái lại, đọc truyện của Song Nguyễn, ta có cảm giác rất quen thuộc.

Bút pháp tả thực

Bút pháp chính của Song Nguyễn là bút pháp tả thực: nhà văn hướng về hiện thực cuộc sống để khám phá vấn đề, tìm nhân vật, phát hiện câu chuyện, và thể hiện tư tưởng.

Bút pháp tả thực của Song Nguyễn có nền tảng từ Kinh Thánh. Tôi gọi đó là “Hiện thực cứu rỗi”. Bởi vì Kinh Thánh kể chuyện cuộc đời Đức Giêsu (đời thực) để đem đến ơn cứu rỗi cho những ai có lòng tin (“Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con”. Mc 5, 34).

Điều này hoàn toàn khác với Chủ nghĩa hiện thực (“miêu tả nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình”), mổ xẻ hiện thực để đặt vấn đề cải tạo xã hội.

Song Nguyễn nói rõ phẩm chất hiện thực trang văn của mình: “Tác phẩm là những bài suy niệm sống qua các nhân vật. Và nếu có thể, chia sẻ với bạn bè tất cả những kinh nghiệm quý báu này”. Tức là, tác giả kể những câu chuyện sống đạo để người đọc giáo dân, Linh mục cùng “suy niệm”.

Đối với người Công giáo, sau mỗi bài đọc Kinh Thánh, đều có “suy niệm”, tức là rút ra bài học đức tin, bài học sống đạo. Trong cuộc sống tại thế, đức tin của người Công giáo là tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ trần gian. Thiên Chúa quan phòng mọi sự. Niềm tin ấy giúp người Công giáo nhìn hiện thực khác với người không có đức tin (như đã nói ở trên).

Chẳng hạn, trong lịch sử, các vua chúa nhà Nguyễn đã cấm đạo nghiêm ngặt, sau đó là phong trào Văn Thân “bình Tây sát tả”, gây ra bao nhiêu đau khổ cho giáo dân. Nhưng người Công giáo không oán thù, không trả thù, không tuyệt vọng, mà nhìn những đau khổ ấy, trong ý định của Thiên Chúa, là hạt giống làm nên những mùa gặt đức tin sum suê (118 vị tử đạo đã được phong thánh, đó là niềm tự hào của giáo hội Việt Nam).

Cho nên những “suy niệm” trong truyện của Song Nguyễn chính là “suy niệm” về ý Thiên Chúa quan phòng trong hành trình đức tin giữa đời thường. Tư tưởng đó đem đến sự cứu rỗi cho nhân vật và cho bạn đọc.

Một thí dụ nhỏ: cuộc sống ở vùng kinh tế mới (truyện dài Đất Mới) khó khăn mọi bề, nhưng Song Nguyễn đã miêu tả cái chết khổ của bà Tương Ấn với một nét đẹp kỳ lạ: “khuôn mặt gầy gò xanh mét dần dần trở nên đầy đặn hồng hào, với một vẻ bình an lạ lùng” (tập 2, tr.45). Miêu tả như thế, giúp người đọc hiểu rằng, bà được chết lành và được Chúa cứu rỗi.

Với những vấn đề tư tưởng lớn hơn, tác phẩm cũng đem đến những giải pháp tích cực. Đó là những định kiến lịch sử dẫn đến những phản kháng của Trưởng Tuất với chế độ mới, là thái độ phân biệt đối xử của cán bộ Nhà nước (cán bô Y tế) với Linh Mục Phương Toàn khi ngài bịnh phải nằm viện. Vấn đề bỏ nước ra đi để tìm hạnh phúc riêng (Mỹ Linh cố lôi kéo cha Phương Tòan). Vấn đề làm chuyển hóa lòng người để xây dựng một miền “đất mới” (Minh Nguyệt), miền đất của những con người hiểu biết nhau, thương yêu nhau, cùng chung ý nguyện xây dựng quê hương, đem lại hạnh phúc cho dân.

Bút pháp “Hiện thực cứu rỗi” của Song Nguyễn là một đóng góp mới mẻ cho văn học Việt đương đại, cũng là yếu tố thi pháp phân biệt tác phẩm của Song Nguyễn với truyện dài thế tục viết về linh mục, tu sĩ, giáo dân Công giáo.

Nhân vật của văn chương Song Nguyễn

Như đã trình bày ở phần trên, nhân vật là yếu tố trung tâm của văn học. Nhân vật thực hiện chủ đề, tư tưởng, diễn ngôn của tác phẩm. Nhân vật vừa là yếu tố hình thức vừa là yếu tố nội dung. Sự chọn lựa kiểu nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả bộc lộ thái độ của nhà văn đối với hiện thực.

Thí dụ:

Nhân vật chính của tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn (Đoạn Tuyệt, Nửa chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên, Đời mưa gió, giai đoạn 1932-1945…) là những trí thức tiểu tư sản. Những nhân vật ấy phản ánh sự thua cuộc của giới trí thức lúc bấy giờ, khi cả Phan Chu Trinh (mất năm 2026), Phan Bội Châu (bị Pháp kết án chung thân năm 1925) và Nguyễn Thái Học (khởi nghĩa năm 1930) đều thất bại.

Nhân vật trong tiểu thuyết Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng là những khuôn mặt đại diện cho giới tư sản thành thị (Ông Typn, vợ chồng Văn Minh, Bác sĩ Trực Ngôn, Phán Mọc Sừng, Mụ Phó Đoan, Xuân Tóc Đỏ…). Vũ Trọng Phụng tố cáo bộ mặt lưu manh đồi trụy của xã hội tư sản đầu thế kỷ XX.

Nhân vật trong tiểu thuyết Hòn Đất của Anh Đức có 2 kiểu loại: quần chúng cách mạng đấu tranh kiên cường, hy sinh dũng cảm (Ba Thép, Chị Sứ, Ngạn, Quyên, Má Sáu), và bọn ác ôn bị đánh bại (thằng Sâm, lính Sài gòn thực hiện các trận càn…)

Nhân vật trong Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp là ông Tướng về hưu 70 tuổi. Các con là (nhân vật Tôi) Kỹ sư ở Viện Vật lý, vợ là Thủy, Bác sĩ. Gia đình “có học thức, sống theo lối mới”. Họ có 2 con gái (12 và 14 tuổi) và người giúp việc là ông Cơ và cô con gái. Ông Cơ bị cháy nhà, mất nghiệp. Truyện miêu tả cuộc đấu tranh “cũ – mới” diễn ra giữa ông Tướng về hưu với các con. Ông tướng dù về hưu nhưng vẫn suy nghĩ và sống theo truyền thống. Vợ chồng Thủy, sống theo “lối mới”. Không chịu đựng được lối sống thực dụng “vô đạo đức” của con, ông Tướng trở lại đơn vị và hy sinh khi làm nhiệm vụ. Diễn ngôn của Nguyễn Huy Thiệp rất rõ ràng. Thời bây giờ là thời của “lối sống mới” thực dụng. Thế hệ cha ông chiến đấu và hy sinh đã là quá khứ.

Tôi đơn cử 4 thí dụ để làm rõ vai trò của nhân vật và sự chọn lựa nhân vật của nhà văn, qua đó thể hiện diễn ngôn.

Nhân vật trong truyện của Song Nguyễn là ai?

Trong các tập Mẹ yêu của conNgười cha hiền là: Người mẹ lao công, Người mẹ bán vé số, Người mẹ bán xôi, Người mẹ bán bún, Người mẹ công nhân, Người mẹ nông dân, Người mẹ bại liệt, Người mẹ thương gia, Người mẹ giáo viên, Người mẹ mù, Người mẹ nuôi, Người mẹ làng cùi, Người mẹ dâng con. Một người cha  bán ve chai, bị trái nổ làm câm điếc. Vợ bỏ đi. Một người cha tài xế, một người cha đại gia không lo dạy dỗ con phải nhận hậu quả. Một ngưởi cha khuyết tật, bị tại nạn xe, vợ chết, thân mình thành tàn phế, nhưng ông vẫn cậy trông vào ơn Chúa. Người cha trong truyện Cái Tráp Gia Bảo để lại cho con gia sản Lời Chúa lưu truyền nhiều đời qua những cuốn sách chữ Hán, chữ Nôm. Người cha công nhân (truyện Tình Chúa Quan Phòng )

Nhân vật trung tâm trong truyện dài của Song Nguyễn là các linh mục, nữ tu và giáo dân. Một đời dâng hiến kể lại cuộc đời cuả nữ tu Antony Nhẫn, người duy nhất ở lại trại cùi Quy Hoà chăm sóc hàng trăm bịnh nhân trong những hoàn cảnh ngặt nghèo ngay sau 1975. Ở Đồng hành, Song Nguyễn đã viết những trang suy nghiệm sâu sắc về cuộc sống, về đời tu, về ý nghiã cuộc sống về giá trị làm người qua nhân vật nữ tu Agnès Nguyễn Phương Tâm sống trong mù lòa. Truyện dài Định hướng là đường trở về của thầy Trần Vũ. Ngay sau 1975, là một người chạy loạn, thầy về sống với giáo dân, cùng làm thủy lợi, cùng xây dựng giáo xứ. Đất mới là hành trình của linh mục Phương Toàn, một giáo sư Đại Chủng viện, từ bỏ việc đi nước ngoài để cùng giáo dân đi kinh tế mới. Chỉnh hướng là những bài học của linh mục trẻ Phương Trung rút ra từ quá trình mục vụ. Dù rất nhiệt tình và hăng say trong sứ vụ, nhưng vì chủ quan, ngài không tránh được những vấp váp. Trước và 30/4/1975, Linh mục Phương Trung đã chọn lựa sự ở lại với giáo dân, chấp nhận những nghi oan về thân phận mình để sống chết với đoàn chiên, và học cách tiếp cận với chính quyền mới.  Linh mục Trung Tín trong Vì Sao Sáng là một thầy giáo. Ngài từng đối mặt với khách ngoại quốc khi họ chọc ghẹo thô tục các học sinh nữ trong một dịp đi chơi xa. Ngài cũng bị quân Giải phóng bắt vào rừng, bị cán bộ cách mạng thẩm vấn, sau đó được trả về. Linh mục Phương Tín trong Đồng cỏ xanh, giống như Mose ngày xưa, đã dẫn giáo dân tìm đến nơi an toàn giữa lằn đạn chiến tranh của cả hai phía…

Sự chọn lựa miêu tả một hệ thống nhân vật như thế của Song Nguyễn có ý nghĩa gì?

Nói thật gọn, nhân vật của Song Nguyễn là linh mục, nữ tu và giáo dân Công giáo gồm đủ mọi thành phần, nhưng đa số là người lao động nghèo khổ, và nhiều người bất hạnh.

Nhưng họ không được miêu tả qua mắt nhìn giai cấp (của văn học Hiện thực phê phán, thí dụ, truyện Chí Phèo, hay Tắt Đèn), hay học thuyết “đấu tranh giai cấp” (văn học cách mạng, thí dụ: Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi hay Hòn đất của Anh Đức).

Họ là giáo dân nên có phẩm chất của người theo Chúa. Họ sống đức tin với lòng cậy trông vào sự quan phòng của Chúa và yêu mến tha nhân.  Họ nhìn đau khổ là thánh giá để nên ơn ích cho linh hồn. Những hoàn cảnh họ gặp phải, dù ngặt nghèo, cũng nằm trong ý định cứu rỗi của Thiên Chúa. Họ biết rõ sự yếu đuối, hạn chế của chính mình mà xin ơn kiên trung bền đỗ trong đức tin.

 Song Nguyễn không miêu tả nhân vật anh hùng bằng bút pháp lý tưởng hóa (trong văn học cách mạng), cũng không né tránh miêu tả nhân vật xấu, nhưng văn Song Nguyễn không có nhân vật gian ác (như kiểu Bá Kiến trong Chí Phèo hay thằng Xăm trong Hòn Đất của Anh Đức). Ngay cả miêu tả “nhân vật phía bên kia” (quân Giải phóng, cán bộ cách mạng trong Vì Sao Sáng), ông vẫn dành cho họ sự tôn trọng khách quan (khác với những tuyên truyền chính trị)

Hệ thống nhân vật này đủ giúp Song Nguyễn xóa đi những định kiến lịch sử (đã nói ở trên), giải tỏa những ngộ nhận chính trị (đối thoại giữa Lm Trung Tín và cán bộ các mạng trong Vì sao sáng) và những thái độ phân biệt đối xử đối với người Công giáo (trong Đất Mới) mà do hoàn cảnh xã hội gây ra.

Hệ thống nhân vật này cũng thể hiện được tư tưởng Mỹ học Kitô giáo, đồng thời khẳng định vẻ đẹp nhân văn Thiên Chúa giáo, và làm sáng tỏ đường hướng mục vụ của giáo hội trong Thư chung 1980.

Đây là đóng góp của Song Nguyễn có ý nghĩa cả về tư tưởng và thi pháp về kiểu nhân vật quần chúng, bên cạnh kiểu nhân vật quần chúng trong văn học Hiện thực phê phánvăn học cách mạng.

Ở góc nhìn tâm linh, hệ thống nhân vật này là những “bài học suy niệm” mà tác giả muốn gửi đến bạn đọc Công giáo làm kinh nghiệm quý báu cho hành trình đức tin của mình.

***

PHẦN IV

TÁC PHẨM CỦA SONG NGUYỄN VÀ VĂN XUÔI CÔNG GIÁO “TRUYỀN THỐNG”

***

I.VĂN XUÔI CÔNG GIÁO “TRUYỀN THỐNG”

Xin lướt qua một số tác phẩm văn xuôi để có ý niệm về “truyền thống” văn xuôi  Công giáo. Thực ra, chữ “truyền thống” chỉ được dùng tạm thời trong bài viết này, bởi đa số tác phẩm “văn xuôi Công giáo” đầu thế kỷ XX chỉ có yếu tố Công giáo, không phải là “tác phẩm văn học Công giáo”.

1.Girolamo Majorica (1591-1656)-Thánh Tume truyện

Về văn xuôi, Majorica có bộ Các Thánh Truyện (1646) chữ Nôm, được coi là tiêu biểu cho văn xuôi Công giáo thế kỷ 17. Truyện kể lại cuộc đời, đạo hạnh của các thánh Công giáo.

Thánh Tume truyện kể lại cuộc đời Thánh Tôma Tông đồ. Tác giả cho biết nguồn tư liệu: “Phần thì ở trong sách Đức Chúa Giêsu, phần thì ở miệng kẻ còn ở nước Thiên Trúc, ”(tức là, truyện được ghép từ hai phần: một phần truyện viết lại trình thuật trong Tân Ước, một phần là những giai thoại truyền miệng ở Ấn Độ)

Đây là đoạn kể lại theo Tân Ước (Ga 20, 24-29), có xen lời bình (xin lưu ý: đây là tiếng Việt thế kỷ 17)

“Đến khi Đức Chúa Giêsu đã chịu chết mà sống lại tốt lành, hiện đến cùng các đầy tớ  họp lại làm một. Phải khi ông Thánh Tume chẳng có ở nhà, khi người về các bạn bảo tin lành ấy cho được mừng. Song le, người hồ nghi mà rằng: tôi chẳng thấy dấu tay Người, cùng lấy ngón tay này xỏ vào đấy, cùng bàn tay tra vào nương long thì chẳng tin. Ấy là đá đến mình Người thì mới tin Thầy tôi sống lại.

            Khi ấy người cũng lỗi, vì chẳng tin Đức Chúa Giêsu đã phán ngày trước. Song le Thầy đã chọn người đi sứ các nước thiên hạ, được lên thiên đàng, thì chẳng để cho đầy tớ hồ nghi cho lâu.

Khỏi tám ngày, Đức Chúa Giêsu hiện đến mà gọi ông Thánh Tume rằng: hãy lấy ngón tay mày mà xỏ vào dấu tay Tao, cùng bàn tay tra vào nương long mà tin thật, chớ hồ nghi nữa. Bấy giờ, người vâng lời Đức Chúa Giêsu liền kêu rằng: này là Chúa tôi cùng Dêu tôi thật. Lời ấy xưng ra tỏ tường hai tính Đức Chúa Giêsu, một tính là Đức Chúa Trời, hai là tính người thật…”

Đây là truyền thuyết về cái chết của Tôma tại Ấn Độ: “

“ …Các sãi thấy Đạo Đức Chúa Trời một ngày một thịnh, mà Thích già truyền một ngày một kém, thì toan giết người, kẻo mình mất ăn. Vậy khi người quỳ xuống nguyện ngoài thành này, trước Câu rút đá người tạc, thì một sãi lấy giáo đâm người chết…”, …

Từ Đức Chúa Giêsu ra đời đến ông thánh này chết khỏi 75 năm”. [[28]]

Majorica kể chuyện “người thật việc thật” nhưng không ghi rõ nguồn các truyền thuyết về thánh Tôma tại Ấn Độ, cũng không lý giải thánh Tôma có liên can gì với thời Gia Tĩnh (1522-1566) ở Trung Quốc và thời kỳ Nam Bắc triều (Lê – Mạc), Nguyễn sơ ở Việt Nam.

2.Nguyễn Trọng Quản – Truyện thầy Lazarô Phiền (1887).

Truyện có cấu trúc kép: kể chuyện trong chuyện, có 10 chương. Các chương được đánh số, không có nhan đề chương.

Trên chuyến tàu đi Bà Rịa ngày 12 janvier 1884, Tôi (tác giả) gặp thầy Lazaro Phiền cùng đi. Hai người ở cùng phòng. Thầy Phiền kể lại chuyện đời mình cho tôi (tác giả) nghe. Thầy kể (nhân vật xưng Tôi):

Mười năm nay tôi đã giấu mọi người, tôi làm cho ai nấy tưởng tôi là người nhơn đức, song tôi là đứa tội lỗi là ngần nào”…Tôi sinh năm 1847, thời Tự Đức. Từ lúc 3 tuổi, tôi đã chịu cực khổ và chứng kiến cảnh bắt đạo. Cha tôi 46 tuổi. Nhiều lần ông đem tôi lên rừng mà trốn. Năm 1860, tôi được 13 tuổi, Tây lấy thành Gia Định, quan An Nam cho đốt nhà dân. Lúc tôi 15 tuổi, quan sai bắt dân có đạo cầm tù hết và khắc chữ “Biên Hòa tả đạo” trên hai mép tai. Năm 1862 thì nghe đồn quân Pháp đánh lấy Bà Rịa… quan sai đốt ngục. 300 người khi ấy còn sót lại 10 người, Ông già tôi chết trong ngục.

            Ra tù tôi không biết đi đâu. Quan ba Tây nhận tôi làm con nuôi. Khi quan về nước thì  giao tôi lại cho Giám mục Lefèbvre. Tôi vào học trường La tinh, kết nghĩa với Verô Liểu, sau đó đi Sài Gòn làm việc tại dinh quan Thượng thơ. Đặng 6 tháng, tôi lấy vợ, con gái dì thầy Liễu. Tôi đi làm, hay vào đồn Tây giao du. Có vợ quan Tây, người An Nam, thường quyến rũ, nhưng tôi cố xa lánh.

            Nhận được thư báo vợ tôi ngoại tình với thầy Verô Liểu, tôi quyết báo thù. Nhân dịp quan sai tôi đi bắt cướp trên sông, lính của tôi đã bắn chết Liễu.  Tôi ân hận, nhưng không quên việc Liễu ngoại tình với vợ tôi. Tôi đã dùng cỏ tím độc bỏ vào ấm thuốc ho của vợ. 11 tháng sau, trước khi chết, vợ nói: Tôi biết vì làm sao mà tôi phải chết, song tôi cũng xin Chúa thứ tha cho thầy.

               Sau khi chôn cất vợ, tôi lên Sài Gòn tu ở nhà dòng Tân Định. Được 6 năm, chịu chức thầy. Đến năm 1882, thì tôi mắc bịnh nầy.            

 Tàu cập bến, chúng tôi chia tay. Tôi (tác giả) khuyên thầy Phiền xưng tội. Thầy nói sẽ xưng tội với cha sở Bà Rịa. Thầy còn dặn, khi nào tôi (tác giả) ghé Bà Rịa thì đọc một kinh nơi mồ thầy.

              Tôi (Tác giả) nhận được thư thầy Lazaro Phiền. Thầy nhờ thuật lại truyện của mình cho mọi người biết. Và một lá thư của người đàn bà lăng loàn gửi, không ký tên. Ả thú nhận mình đã hại thầy Lazaro Phiền làm chết hai người vô tội. Ả xin thầy Phiền tha tội.

              Năm 1885, tôi (tác giả) trở lại Bà Rịa, gặp cha sở, ngài dẫn đi thăm mộ thầy Phiền. Tôi quỳ xuống đọc cho thầy một kinh cầu hồn.(hết truyện)

            Nhận xét: truyện kể về một đời người (dung lượng của một tiểu thuyết), có những chi tiết năm tháng, tên người, sự việc, địa danh thật, như kiểu truyện ký. Nội dung phản ánh hiện thực bắt đạo thời Tự Đức ở Biên Hòa, đồng thời phơi bày nỗi thống khổ của một tâm hồn tội lỗi cho mọi người biết. Cuối truyện, kẻ thủ ác bí mật được phanh phui.

Truyện giống như kiểu truyện vụ án. Tuy là bi kịch, song đây là văn chương thị trường.  Khai thác nhiều tình huống éo le, gay cấn; khai thác sự hiếu kỳ của độc giả về chuyện tội lỗi của một thầy tu mà trong thực tế chỉ là hư cấu. Trong đời thường, thầy tu luôn là người được coi là thánh thiện.

Lương tâm Công giáo không cho phép thầy tu làm ác (Thầy Phiền cố ý giết 2 người thân). Luật giáo hội không cho phép phơi bày tội lỗi của người khác, chỉ mình cha sở được biết để thực hiện Bí tích Hòa giải cho hối nhân.

Đặc sắc của truyện là sự chân thành trong lời kể, nghệ thuật phân tích tâm lý, và những “tin tức” lịch sử cấm đạo ở Biên Hòa, Bà Rịa thời vua Tự Đức. Người đọc có thể tin là thật.

3.Charles Ngọc MinhTruyện ông Gioăng Ngô Kim Thạch (1917)

            “Kể chuyện cấm đạo bên Trung Hoa. Gia đình ông Gioang Ngô Kim Thạch phải trốn lên núi, rồi lạc nhau. Nhưng chính những người bị vua quan bách hại vì nghi ngờ lòng trung lại là những người trung quân ái quốc. Khi biết chuyện, vua đã phong tặng người có đạo và ban sắc chỉ khen, “cho phép mọi người giữ đạo và phép đạo mặc ý mình“. Con ông Ngô Kim Thạch là Kim Luông giúp vua đánh diệt giặc, được vua quan phong lãnh ấn Nhị Lộ Nguyên Soái. Vua đón Kim Luông hồi triều, lại đứng ra làm chủ hôn: “Vua đứng làm mai và cho phép làm theo lễ phép hôn nhân có đạo.

“Nội dung là chuyện luân lý, kết hợp giữa tam cương ngũ thường của đạo Nho với mười điều răn (thập giới) của Thiên Chúa Giáo, giữa nhân ái của Khổng giáo với bác ái của đạo Chúa, với đức tin vào Thiên Chúa là cha trên trời chí công và chí nhân”.[[29]]

4. Cung Giũ Nguyên (1909-2008) Một người vô dụng”(1930)

Tiểu thuyết tâm lý Một Người Vô Dụng như một bản tự thú của một người tự xét có lỗi với người thân và xã hội,

“ …Làm trai như tôi thật là quá đê mạt. Nếu đem trước tòa án lương  tâm của tôi mà xử, lấy luân lý hiện thời làm gốc, thì tội tôi biết mấy mà kể cho vừa. (…).[29 đd]

Truyện có khuynh hướng tư tưởng nhưng không có yếu tố tôn giáo

4.Lê Văn Đức- “Tìm Của Báu (1925)

Tìm Của Báu (1925) là truyện về xã hội và đời sống giáo dân ở miền Nam thời Nam tiến, tranh tối tranh sáng .

Vì cấm đạo, Anh em ông Ngự phải từ Bắc vào Nam. Họ kiếm sống bằng nghề nông. Tình cờ, họ đào được cái chum vàng và trang sức của người Chăm hoặc Miên từng đóng kinh đô ở nơi đó.

Rủi là khi ông bán cho “bọn Hoa-kiều” thì chúng cho người theo dõi. Bọn cướp của Đầu Khấu lợi dụng đang có loạn Thiên địa hội để bày cướp bóc nhà người có Đạo.

Trung là đầy tớ thân tín của ông Ngự, bị bọn ác giết nhưng thoát chết “Chúa để tôi sống mà sửa phạt đứa sát nhơn”. Nó dụng mưu lấy lại được của quí.

Kết truyện: khi ơn đền oán trả, của quí tìm lại thì không ai chịu nhận. Thay vì bán cho Hoa-kiều thì họ đồng lòng giao cho cha sở gởi qua Pháp bán “cúng lập nhà trường nuôi kẻ ở học hầu sau chịu chức Thầy cả, cùng giúp mở đạo trong nước Annam. Chớ chi đạo thánh Chúa càng ngày càng thạnh”[29 đd].

Nhận xét: kiểu chuyện vụ án, văn chương thị trường, có yếu tố Công giáo.                

5. Phêrô Nghĩa-Cha giết con”.1932

  Bùi Xuân là một đứa trẻ dễ thương, thông minh và hết mực ngoan đạo, con của ông bà Phó Hội – gia đình có đạo. Cậu được cha mẹ gởi vào học trong nhà cha sở.  Đến tuổi thiếu niên, cậu Xuân có ý muốn đi tu, nhưng cha mẹ phản đối vì cậu là con nối dõi tông đường. Lúc đầu họ khuyên răn, cấm cậu Xuân đi tu. Nhưng, cậu cãi lời, bỏ chạy khỏi nhà,…

   Ông bà Phó Hội cho Bùi Xuân nghỉ học ở nhà để học nghề thuốc của gia đình, rồi tạo điều kiện cho Bùi Xuân ăn chơi, tiếp xúc với những cảnh xa hoa, trụy lạc để Xuân quên việc đi tu. Ông bà dọn nhà lên thành phố Huế để con tiếp tục “vui chơi”.

   Bùi Xuân lúc đầu còn lạ lẫm, nhưng chẳng bao lâu, cậu “hội nhập” rất nhanh, trở thành một tay ăn chơi chính hiệu. Cậu dan díu với Ba Huệ – một cô gái lẳng lơ đã có chồng. Bùi Xuân ăn cắp một khoản tiền lớn của gia đình rồi cao chạy xa bay với Ba Huệ sau khi ả ngầm bỏ thuốc cho chồng chết. Chẳng được bao lâu, Ba Huệ lại dan díu với một người trong giới giang hồ và cuối cùng chính tay cô đã đâm chết Bùi Xuân. Nhìn xác con nằm giữa vũng máu, ông Phó Hội đã thét lên: “Trời ơi, cha giết con, con ôi!” [[30]]

Nhận xét: kiểu truyện văn chương thị trường, khai thác một mâu thuẫn không có thực. Đó là: trong hành trình sống đạo, gia đình Công giáo nào cũng mong con đi tu, vì đó là ân phúc rất trọng. Không ai lại đẩy con vào chốn ăn chơi trụy để rồi bị đâm chết?

7.Phêrô Nghĩa- Đôi bước lưu ly”.1928

           Đôi bước lưu ly là câu chuyện 14 năm lưu lạc gian nan của đôi vợ chồng trẻ thời vua Tự Đức bách đạo .

           Ngô Văn Giáo “chịu phép Rửa tội” sau đó kết hôn Mai Thị Khiêm chưa được bao lâu thì bị bắt đạo. Giáo từ Thanh Hóa vào Quảng Nam tìm chú Phác để lánh nạn cho gia đình. Chú sắp cho Giáo ở nhà một người quen và hứa sẽ đưa mẹ và vợ cậu Giáo xuống đó để ẩn náu.

           Chuyến tàu chở mẹ và vợ Giáo gặp kẻ xấu. Mẹ Giáo bị giết, còn Khiêm thì lưu lạc.

Cô từng rơi vào tay tên cướp. Có khi ốm đau, Khiêm phải xin ăn qua ngày. Từng suýt mất mạng dưới tay lũ cướp ở Đèo Ngang, bị đắm tàu… và lọt “mắt xanh” của một người quyền thế là em một vị ân nhân khác đã cứu mạng cô.

            Nghe tin chẳng lành về vợ và mẹ, Giáo từ Quảng Nam trở lại Quảng Trị rồi trở ra Thanh Hóa, từng bị lạc trong rừng và rơi vào động cướp. Nhiều lần cậu gặp họa trên đường đi. Là người tử tế, Giáo cũng được nhiều người yêu quí, muốn gắn bó.

         Kết truyện, khi Ngô Văn Giáo trở thành thầy Thông lại – một chức quan đáng kể dưới thời các vua triều Nguyễn. Trong một lần đi khám án, Giáo gặp lại vợ bị người ta nhấn nước. Từ đây họ sống hạnh phúc, đạo hạnh và thường xuyên thuật lại với nhau về quãng đời lưu li của mỗi người [30 đd].

                Nhận xét: kiểu truyện có cấu trúc 3 đoạn: gặp gỡ – phân ly- đoàn tụ. Tác giả hư cấu nhiều tình huống éo le, gay cấn, gợi sự thương cảm. Kiều văn chương thị trường có yếu tố tôn giáo.

8.Phêrô Nghĩa-“Ôi là tự do!”. 1931[[31]]

            Trong bệnh viện, nhân vật Tôi (bệnh nhân) kể cho Tôi (tác giả) về cái nỗi đoạn trường  tự mình gây ra mà làm gương cho kẻ hậu lai. :

            Tôi sinh trưởng trong gia đình danh giá ở Hà Tĩnh, cha là Cai Tổng. Cha mẹ mất sớm, chị tôi ở vậy nuôi em. Tôi được ăn học nhưng bỏ học đi chơi. Lúc tôi 20, Tôi lấy vợ và xử tệ với chị.

           Một lần tôi bỏ nhà đi chơi ba ngày, gây với chị và đánh chị. Chị xin làng chia gia tài cho tôi. Từ đây tôi ở riêng, và không cho chị ở chung nhà nữa.

            Khi ra riêng, tôi tiếp tục “những dập dìu đêm ba ngày bốn, bè bạn cùng những tay phong phú ăn chơi,”. Con vợ tôi trở về đường cũ, “trong dâu trên bộc, bạn bè cùng mấy ả bình khang, vầy đoàn cùng bọn buôn son bán phấn”. …chỉ trong vòng có ba năm chưa đầy mà tôi đã phải bán cầm hầu hết”.

            Sau khi vợ bỏ đi, tôi theo bọn cướp và lần lần tôi đã thành một tay trộm bợm.

           Trong một vụ trộm, bọn tôi bị bắt, tôi bị 3 tháng tù. Mãn hạn tù, tôi đi biệt xứ để kiếm việc làm ăn. Có lúc phải xin ăn, có lúc trở thành nô lệ. Có lúc theo thầy Xu-vai-giăng đi Bồng Sơn làm việc cho một đồn điền Tây nơi rừng sâu nước độc. Chưa được 3 tháng tôi đã ngã bịnh. Sốt rét cách nhật, ho, thổ huyết. Họ thải tôi ra ngoài sở.

          Tôi biết đi đâu? Một ngày kia, xin ăn ở một xóm đạo, tôi được một ông cố (Linh mục) giúp đỡ đưa đến nhà thương Huế. Tôi ở đây đã hơn 4 tháng trời, chỉ đợi chết vì nhà thương đã chê. Tôi nằm suy nghĩ cái kiếp khốn nạn của tôi mà tủi thân ảo não.

            Nghe câu chuyện của chàng thanh niên bất hạnh, tôi (tác giả) quyết cứu lấy linh hồn chàng, sao cho chàng được chịu Phép rửa tội trước giờ chết. Hôm sau, lúc 10 giờ tôi đi tìm chàng. Bịnh nhân ở đó nói, chàng chết lúc 9 giờ đêm qua.

            “Than ôi! Con đường tự do phóng túng là con đường sâu độc hiểm ác dường bao!…

          “Ai ơi kíp hãy lo xa /  Hãy ghi mấy chữ: Ôi là tự do!

            Nhận xét: kiểu truyện đạo lý răn đời, có nhân có quả. Có yếu tố tôn giáo: Kẻ xấu thì không được cứu rỗi.

9.Bùi Minh Nên – Bước đường gay hiểm. 1926 [31 đd]

Truyện có 14 chương.

              Huỳnh Kim Long bị kết án oan tội giết người, cướp của, phải tù 20 năm, đày Côn Nôn. Tù được 10 năm, Long vượt ngục trở về, đổi tên là Phan Sỹ Thường, cưới vợ. Đang đám cưới, bị phát hiện, Long dẫn con trốn về Sài gòn.

             Con đường lẩn trốn gian nan vô cùng. Long lọt vào tay bọn xã hội đen (Bọn Kéo đỏi), chúng ép Long phải làm việc cho chúng. Sau cùng tất cả đều bị bắt.

           Ra tòa, Long được một linh mục đưa bằng chứng anh vô tội. Tòa tha bổng. Anh gặp lại mẹ. Con anh, bây giờ có bà nội và mẹ mới.

            Nhận xét: Truyện vụ án, kiểu truyện của văn chương thị trường. Tác giả hư cấu nhiều tình huống éo le, bất ngờ, gay cấn, nguy hiểm để tạo cảm xúc cho người đọc. Truyện có yếu tố tôn giáo.

9.Lưu Thanh-Thần Công Lý [31 đd]

          Truyện kể lại cuộc đời chìm nổi của Khôi, con quan Thị Lang bộ Hình Phùng Tuấn Hạnh ở Huế, triều Tự Đức, từ sau khi cha mẹ chết.

Năm Khôi 20 tuổi, cha đột ngột qua đời, Khôi phải bỏ dở việc học. Bà Khuê Tú, mẹ ghẻ Khôi chiếm hết gia sản và đuổi Khôi ra khỏi nhà. Khôi tìm đến cậu ruột là ông Bạch Tôn ở Cồn Cỏ để nương thân. Ở bến đò Lai, Khôi cứu được Tuyết Nga, cô gái định trầm mình vì bị cha mẹ ép gả. Không muốn nặng gánh cho cậu, Khôi vào Nam. Thuyền của Khôi bị bão, Khôi được cứu. Không nơi nương tựa, Khôi phải sống lang thang, xin ăn từ làng này sang làng khác. Có khi bị chó cắn phải ngồi ngoài đường, tối vào ngủ hốc cây. Khôi lên tỉnh tìm việc, lại bị bắt oan vì tội ăn cướp, bị giải lên quan.

Khi biết Khôi bị oan, và hỏi ra, biết Khôi là con quan Phùng Tuấn Hạnh, bạn đồng liêu, quan Trần Lân Ái cho Khôi ở lại nhà và gom học trò cho Khôi dạy, rồi ngài liệu phục hồi cái quyền lợi lại cho Khôi.

Ở nhà Trần Lân Ái, một lần đi săn ở trong rừng, Khôi bị lạc, tạt vào am nhỏ của sư bà. Ở đây Khôi gặp lại Tuyết Nga, con quan Ngô Bình Lương. Từ đó Nga và Khôi kết giao, tình trong sáng. Vụ án của Khôi được Ngô Bình Lương giúp đưa ra xét xử. Khôi nhận lại được ngót 3 phần sự nghiệp của cha.

Năm sau, Khôi đậu Cử nhơn, lấy Tuyết Nga. Khôi đưa vợ về quê vinh quy bái tổ, xây mộ cho cha mẹ. Sau đó Khôi nhận giấy bổ Tri huyện trong Bồng Sơn. có 2 gái 4 trai.

         Bà Khuê Tú phải bán sạch tài sản để chạy án, rồi cháy nhà. Bà bỏ về Thừa Thiên, từ đó không ai biết tin.

Cho hay thiên đạo chí công/  Đòn cân tạo hóa vốn không sai lầm

            Nhận xét: kiểu truyện dạy đạo lý, luật nhân quả: ở hiền gặp lành, có duyên thì nên duyên. Không có yếu tố tôn giáo.

10.Nguyễn Văn Hưng ThạnhCó tên mà không có họ (1934),

Có tên mà không có họ kể chuyện đời gian truân côi cút nhưng cuối truyện được ơn phước và thành đôi của Đào Kim Mạnh tức Bonaventure Mạnh / Tư Mạnh và cô Maria Têrêsa Huỳnh Thị Tân. Hai người sau đó đã ra tay cứu giúp cô Mai Thị Loan cơ nhỡ, bệnh nặng mà không xu dính túi, biết sắp chết nên giao con cho cô Tân nhận làm con nuôi.[29 đd]

12.Thụy An – Một linh hồn [[32]]

Một linh hồn là chuyện tình yêu của Vân và Di. Một chuyện tình đẹp nhưng đầy đau khổ. Nàng đã quá yêu Di hơn cả yêu Chúa.

4 năm trước Vân gặp Di ở Cap-Saint Jacque, Di mới tốt nghiệp Cử nhân Luật ở Pháp về.

Vân là con của Bảy Thanh và Châu. 20 năm trước, Thanh và Châu yêu nhau nhưng gia đình không đồng ý. Châu có đạo, Thanh thì không. Gia đình hai bên chênh lệch. Hai người trốn vào Sài Gòn. Năm ấy cậu 23 còn cô 18. Thanh đã có thai. Họ được cha Robert giúp. Sau đó Châu bỏ Thanh, lấy vợ và du học. Thanh sinh Vân. Sau một thời gian sống với Vĩnh, Thanh gừi con cho cha Robert rồi bỏ đi. Cha Robert gửi Vân cho các Dì nuôi. Thanh trở thành ả giang hồ nổi tiếng.

Thanh đi đón Vân ở nhà ga Hà Nội. Ả tổ chức tiệc mừng để thực hiện âm mưu bán Vân cho cho Phủ tịch, người tình giang hồ, để có tiền trả nợ. Thanh buộc Phủ Tịch phải đưa cho ả bản địa đồ và giấy nhà. Ả quyết phá nát gia sản của Phủ Tịch. Vân quyết liệt không chịu vì biết Tịch đã có vợ 3 con.

Di dẫn chị dâu lên nhà Thanh xin bàn chuyện hôn nhân. Người chị dâu phát hiện ra Bảy Thanh là người đã hại chồng mình mất chức và đi tù. Di không ngờ mẹ của Vân là một ả điếm đã hại anh mình. Di chia tay Vân

Sợ mẹ nợ nần mà đi tù, Vân đồng ý lấy Tịch. Khi đám cưới diễn ra thì vợ Tịch đến. Tịch đánh vợ một trận dã man. Vân xin lỗi thị và hứa không lấy Tịch nữa.

Không có tiền trả nợ, Nhà cửa của Thanh bị tịch biên. Hai mẹ con tìm đến chùa gửi đồ và tá túc vài ngày, rồi thuê một căn nhà ở chỗ vắng, làm việc vặt sinh nhai qua ngày.

Vân bị sốt và trở bịnh nặng. Thanh tìm đến vài mối cũ để mượn tiền nhưng không được, còn bị sỉ nhục, bèn trở lại nghề cũ. Ả đến chỗ hẹn với khách chơi ở bên sông, Vân đi theo. Không ngờ mẹ hẹn đi khách với Di. Nhận ra mẹ Vân, Di bỏ chạy.

Sau cùng, Thanh đến gặp và xin Di đến an ủi Vân. Ả nói Vân sắp chết và rất yêu Di.

Vân chết. Di nhận lỗi với Linh mục và yêu cầu vị linh mục giải thích tại sao một người con gái tốt như Vân lạ suốt đời khổ. Linh mục trả lời. Di hãy nhìn lên Câu Rút (Thánh giá) và học theo nàng. Mọi việc hy sinh tốt đẹp của nàng đều theo ý cầu nguyện: “Lạy trời, xin theo ý trời định”. Di gục đầu khóc tấm tức: “Xin theo ý trời!”.

            Nhận xét: Một linh hồn là một chuyện tình yêu dang dở vì người mẹ là một ả điếm ngăn cản. Tác giả hư cấu nhiều hoàn cảnh éo le và cố ý đẩy nhân vật vào ngõ cụt để tạo ra bi kịch nhằm thu hút sự thương cảm cùa người đọc.

Đây là văn chương thị trường, không phải văn học Công giáo. Yếu tố tôn giáo được sử dụng để tạo ý nghĩa tư tưởng (?). Nhưng thực chất là phản lại đức tin và luân lý Công giáo. Vì không có đạo nên Thanh bị Châu bỏ. Biết Phủ Tịch có vợ nhưng Bảy Thanh vẫn bán Vân cho hắn, còn định làm đám cưới trong nhà thờ. Đạo lý nào cho phép Bảy Thanh đi khách với người yêu của con gái là Di? Di đã tốt nghiệp Luật ở Pháp về, Vân cũng đã trưởng thành, sao hai người không tìm việc, không tự cứu mình  mà cam chịu chết? Vị Linh mục lý giải số phận khốn khổ của Vân là vì đức vâng lời và hy sinh như Chúa Giêsu trên Thánh giá: “Lạy trời, xin theo ý trời định”. Đó là một giải thích phi logic và trái với tín lý Công giáo. Bởi vì, Vân không lường được những thủ đoạn độc ác nham hiểm của mẹ nên nàng mới bị lừa (đặc biệt là những đòn tâm lý Bảy Thanh đánh vào lòng hiếu thảo của Vân về “công ơn” làm mẹ của Bảy Thanh), đâu phải Vân vâng theo ý Chúa. Chẳng lẽ “Ý Chúa” là những mưu đồ của Bảy Thanh? Chẳng lẽ Chúa lại lừa dối Vân để nàng phải đau khổ? Sao Chúa nhân từ không cho nàng con đường cứu rỗi mà phải chết trong oan nghiệt?

Những điều ấy chỉ ra rằng, yếu tố Công giáo trong Một linh hồn không được trình bày để loan báo Tin Mừng, mà chỉ để làm phông tư tưởng. Thí dụ, những tác phẩm viết theo tư tường Phật giáo, tác giả dùng lý thuyết nhân quả, nghiệp báo, luân hồi để lý giải kiếp khổ của một nhân vật (Truyện Kiều: “Đã mang lấy nghiệp vào thân”),thì Thụy An mượn “Ý Chúa” để lý giải cho chủ đề câu truyện, viết khác đi so với truyện mượn bối cảnh Phật giáo của tác giả trước đó (Tắt lửa lòng, Hồn bướm mơ tiên…)

II. Một vài đặc điểm của văn xuôi Công giáo “truyền thống”

1. Ngoại trừ truyện của Majorica, truyện dài của các tác giả Công giáo đầu thế kỷ XX đều là kiểu truyện của văn chương thị trường có yếu tố Công giáo.

Văn chương thị trường hướng về công chúng thị trường, khai thác thị hiếu bản năng của người đọc, và mục đích chỉ là giải trí. Người viết, nhà xuất bản chỉ có mục đích bán được nhiều để có lợi nhiều.

2. Truyện hư cấu nhiều tình huống éo le, gay cấn, thường lồng trong vụ án, hoặc phiêu lưu (lưu lạc). Nhân vật lâm vào những nghịch cảnh, không nơi bám víu, bị áp bức bất công, bị bắt làm nô lệ (mục đích khơi gợi cảm xúc của người đọc). Sau cùng thì được cứu giải.

Có truyện hư cấu những mâu thuẫn phi lý. Trong truyện Cha giết con, gia đình Công giáo lại cổ vũ cho việc giáo dục con ăn chơi, để con quên khát vọng đi tu, sau cùng bị giết. Hoặc Truyện Thầy Lazaro Phiền, một thầy tu, có ý thức sâu sắc về đức hạnh và tội, lại trực tiếp giết hai người thân yêu là vợ và bạn chỉ vì thầm ghen tuông mơ hồ. Trong khi kẻ chủ mưu là một ả lăng loàn lại không bị xử phạt. Lương tâm Công giáo không bao giờ để nhân vật hành xử như thế. Truyện Một linh hồn có quá nhiều sự việc nghịch với đức tin và luân lý Công giáo.

3.Truyện luân lý thì viết theo công thức, thường theo cấu trúc luật nhân quả, ở hiền gặp lành, kẻ ác bị báo ứng. Tác giả ca ngợi tình nghĩa, thủy chung, đạo làm người (ke61`t hợp luân lý Nho giáo với điều răn Công giáo)…

d. Yếu tố Công giáo mờ nhạt. Có khi nhân vật chỉ là người có đạo, có biết nghĩ đến Chúa, biết sự phúc sự tội, như một thứ luân lý (thay cho luân lý phong kiến), không phải là sống đức tin. Không truyện nào được viết dưới ánh sáng Mỹ học Kitô giáo, được viết để loan báo Tin Mừng. Truyện Ôi là tự do!, nhân vật chết trước khi được rửa tội (kẻ xấu thì không được cứu rỗi). Thầy tu Lazarô Phiền lại phạm trọng tội là cố ý giết người chỉ vì ghen tuông mơ hồ. Truyện Một linh hồn có nhiều yếu tố phản lại đức tin và luân lý Công giáo. Truyện Một người vô dụng, Thần Công lý không có yếu tố tôn giáo.

e. Nhiều truyện có yếu tố hiện thực như tên người, địa danh, biến cố lịch sử, đời sống xã hội  như: Truyện thầy Lazarô Phiền, Thần Công lý, Đôi bước lưu ly, Tìm của báu,…nhưng truyện không thuộc ý thức sáng tác của Chủ nghĩa hiện thực (miêu tả nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình). Yếu tố hiện thực chỉ có vai trò là chi tiết truyện, tạo lòng tin cho người đọc rằng đây là truyện thực. Truyện không khám phá hiện thực để cải tạo hiện thực.

III. Tác phẩm văn học Công giáo của Song Nguyễn

 Tác phẩm của Song Nguyễn kế thừa cách kể chuyện của Magiorica và cách viết của các linh mục trong lịch sử truyền giáo: Alexandre de Rhodes (1593-1660), linh mục Lữ Y Đoan (1613-1678), linh mục Philipphê do Rosario Bỉnh (1759-1833), linh mục Đặng Đức Tuấn (1806-1874), thánh linh mục Philipphê Phan Văn Minh (1815-1853). Giám mục GB Hồ Ngọc Cẩn (1876–1948), Giám mục Micae Nguyễn Khắc Ngữ (1909–2009), Giám mục GB Bùi Tuần (1927–2024), Đức Hồng y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận (1928–2002), Giám mục Phaxicô Xavie Nguyễn Văn Sang (1931–2017)…

Nội dung văn chương Song Nguyễn là hiện thực đời sống của linh mục, tu sĩ và giáo dân Công giáo trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của xã hội Việt Nam từ năm 1945 đến khi “đổi mới”. Văn xuôi đầu thế kỷ XX là văn chương hư cấu viết cho công chúng thị trường chỉ để giải trí, không có giá trị hiện thực.

Văn chương Song Nguyễn viết dưới ánh sáng Mỹ học Ki tô giáo, đề xuất những giải pháp cho những vấn đề tư tưởng lớn của thời đại (đã phân tích ở trên). Trái lại, văn xuôi “truyền thống” có yếu tố Công giáo đầu thế kỷ XX, tuy có đề cập đến vài sự kiện thời đại như việc cấm đạo ở Biên hòa, ở Bắc kỳ, ở Trung quốc, song đó chỉ là miêu tả hiện tượng, không đề xuất được những giải pháp tư tưởng như  Song Nguyễn. Truyện Một Linh hồn còn phản lại luân lý và đức tin Kitô giáo.

Nhiều truyện của văn xuôi “truyền thống” có yếu tố Công giáo đầu thế kỷ XX hư cấu những tình huống éo le, gay cấn, cấu trúc hết sức rắc rối và nhiều khi phi lý (Cha giết con, Đôi bước lưu ly, Ôi là tự do!, Bước đường gay hiểm…). Trái lại, Văn chương Song Nguyễn là văn chương hiện thực. Nhân vật, nội dung, tình huống, sự việc, biến cố diễn ra trong đời thực, có tính lịch sử cụ thể, vì thế đem đến nhiều giá trị cho người đọc. Đọc tác phẩm của Song Nguyễn, người đọc có thể hiểu người Công giáo Việt Nam đã sốn đức tin thế nào trong bối cảnh lịch sử từ 1945 đến khi “đổi mới” (1986)

Đặc sắc của văn chương Song Nguyễn là những “bài suy niệm” rút ra từ những câu chuyện được kể mà tác giả muốn chia sẻ kinh nghiệm với bạn bè. Không tác phẩm nào của văn xuôi “truyền thống” có yếu tố Công giáo đầu thế kỷ XX  có được những “bài suy niệm” như thế.

KẾT LUẬN

1.Cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào về Lý luận văn học Công giáo.  Bởi, nói cho đúng, văn học Công giáo Việt Nam là nền văn học tự phát, còn đang trên đường khai mở những con đường, thành ra, chưa thể có một nền lý luận văn học như các nền văn học khác. Và vì thế, việc nghiên cứu, từ thực tiễn sáng tác đến những lời dạy của Giáo hội, để hình thành một nền lý luận văn học Công giáo là điều rất cần thiết.

2.Thư của Đức Giáo hoàng Gioan – Phalo II gửi văn nghệ sĩ năm 1999 và Thư của Đức Giáo hoàng Phanxicô về vai trò của văn chương trong đào tạo linh mục (ngày 17/7/2024) là hai văn kiện chính thức của Giáo hội, đặt nền móng cho nhiều vấn đề lý luận Văn học Nghệ thuật. Các nhà nghiên cứu văn học có thể vận dụng, để từ đó, so sánh với những nền lý luận văn học khác, mà làm rõ cái riêng của văn học Công giáo đóng góp cho văn học nhân loại

3.Văn học Công giáo đương đại có khả năng hội tụ để tiếp nối truyền thống văn học Công giáo đã có từ 400 năm nay.

Về thơ, có các nhà thơ Lê Đình Bảng, Đức Ông Xuân Ly Băng, Lm Trăng Thập Tự, Lm Sơn Ca Linh, Lm  Cát Đen, Lm Hồng Phúc, nhà thơ Mai Văn Phấn, giới trẻ có Lm Khắc Đỗ, Đoàn Trung Hậu, Nt Xuân Cát…

Về văn xuôi, có Song Nguyễn (Đức Giám mục Đaminh Nguyễn Chu Trinh), Lm Nguyễn Trung Tây, Lm Cao Gia An, Lm Nguyễn Đức Thông, các tác giả trẻ có Nguyễn Phương Thảo, nhà văn Nguyễn Thị Khánh Liên, Nt Vinh Sơn Chung, Hải Miên, Chung Thanh Huy…(tôi xin không nêu tên các nhà văn người Công giáo viết văn chương thế tục)

Và về nghiên cứu văn học Công giáo, có Ths Nt Đặng Thị Lĩnh, NCS Nt Đinh Ngọc Oanh, Ths Nguyễn Tấn Tài…

4.Trên nền bối cảnh lịch sử xã hội, và trong ánh sáng của Tin Mừng, khi so sánh với lý luận văn học của những nền văn học khác, tác phẩm của Song Nguyễn đã có những đóng góp giá trị vào lý luận văn học Công giáo đương đại.

            Đó là sự thể hiện ánh sáng tư tưởng Mỹ học Kitô giáo, kết hợp với vẻ đẹp Lòng Chúa Thương Xót trong “chủ nghĩa nhân văn của Tin Mừng”, được diễn tả bằng bút pháp “Hiện thực cứu rỗi”. Những chuẩn mực này xác định được: thế nào là tác phẩm văn học Công giáo, thế nào là nhà văn Công giáo, nội dung của văn học Công giáo viết về những gì, nhân vật của văn học Công giáo là ai, mục đích sáng tác của văn học Công giáo khác với mục đích văn chương thế tục như thế nào? Những yếu tố thi pháp của văn học Công giáo có đặc trưng gì? Và làm thế nào để văn học Công giáo hội nhập được với văn học dân tộc, trở thành muối men cho đời.

            Tác phẩm của Song Nguyễn, bằng hình tượng nghệ thuật, đã hóa giải được những định kiến về đạo Công giáo, đã xóa đi những đố lỵ lương – giáo trong sinh hoạt, đã góp phần hội nhập văn hóa Công giáo với văn hóa dân tộc, và xây dựng được một hệ thống hình tượng nhân vật gồm các Linh mục, nữ tu và giáo dân Công giáo đồng hành với dân tộc. Có thể thấy rất rõ những tư tưởng này trong bộ truyện dài Đất Mới (3 tập)

            Rồi đây, những giá trị lý luận ấy của tác phẩm Song Nguyễn sẽ được nghiên cứu chuyên sâu hơn và sẽ được chia sẻ trong sáng tác của những người viết trẻ Công giáo.

Thế hệ nhà văn Công giáo thế kỷ XXI không bị vướng mắc trong những định kiến lịch sử, lại tiếp cận với văn học toàn cầu, sẽ góp thêm những thành tựu mới cho văn học Công giáo.

 Tháng 7/ 2026


[1]Tham khảo: Lm. Phanxicô Đào Trung Hiệu, OP- Những mốc lịch sử quan trọng của Giáo hội Công giáo Việt Nam

https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/nhung-moc-lich-su-quan-trong-cua-ghcgvn-31228

[2] Vinc Trần Ngọc Thụ: Giáo Hội Việt Nam Những thời kỳ bị bách hại và những sắc chỉ cấm đạo. https://vntaiwan.catholic.org.tw/ghvienam/tudaovn4.htm

[3] Khoản 2: Thần dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha được hành đạo Gia Tô ở nước Đại Nam, và bất luận người nước Đại Nam ai muốn theo đạo Gia Tô, đều sẽ được tự do theo, nhưng những người không muốn theo đạo Gia Tô thì không được ép họ theo.

[4] Stephen R. Brown-Treaty of Tordesillas: The 1494 Decision Still Influencing Today’s World: “the pope had given to Spain and Portugal far more territory than anyone could have imagined…”

[5] Đào Quang Toản: Huấn thị 1659 trong lịch sử giáo hội.http://daoquangtoan.free.fr/articlesPJD/HuanThi1659B.pdf

[6] Dẫn theo Lm Mai Đức Vinh: Các văn kiện cấm đạo (3), trích Dòng Máu Anh Hùng, của Lm Giuse Vũ Thành, xuất bản 1987, bản in năm 2020, tr. 192. https://www.nguoitinhuu.org/martyrs/danhsach.html

[7] Hoàng Đức Oanh: bản dịch Huấn dụ Thánh bộ Truyền giáo cho các vị Đại diện Tông tòa sắp sang Trung Hoa và Việt Nam năm 1659. Dịch năm 1965, Huế .https://gpkontum.wordpress.com/wp-content/uploads/2014/08/doi-thu-kntb-01a2.pdf

[8] Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ-Vụ án phong thánh. 1987.https://vntaiwan.catholic.org.tw/ghvienam/tudaovn4.htm

[9] Dẫn theo Lm Vinh Sơn Trần Minh Thực: Vài ghi nhận về thái độ của vua chúa đối với đạo công giáo. https://www.nguoitinhuu.org/chiase/linhtinh/XuBac/ch2-4.html

[10] Lm Vũ Thành: Dòng máu anh hùng. Ấn bản năm 2020. Tr. 220

[11] Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn-Cuộc hội nhập văn hóa của Giáo hội Công Giáo Việt Nam (1533-2019https://tgpsaigon.net/bai-viet/cuoc-hoi-nhap-van-hoa-cua-giao-hoi-cong-giao-viet-nam-1533-2019-58836

[12] Trần Tam Tỉnh: Thập giá và lưỡi gươm. Nxb Trẻ 1988. Tr 45

[13] Louis-Eugène Louvet: Vie de MGR Puginier– bản dịch của Nguyễn Tiến Văn. Nxb Hà Nội 2019. Tr. 557

[14] Huấn dụ Thánh bộ Truyền giáo cho các vị Đại diện Tông tòa sắp sang Trung Hoa và Việt Nam năm 1659. GM Micae Hoàng Đức Oanh 2004.Sarcedos-Linh mục nguyệt san số 43, tháng 7. 1965

[15] thư của Đức giáo hoàng Gioan Phao lô II gửi nghệ sĩ năm 1999.

[16] Xem thêm: Bùi Công Thuấn: Tư tưởng Mỹ học Ki tô giáo. Nguồn: Những Mùa vàng văn học Công giáo. Nxb HNV 2020. https://vanhoadatmoi.net/chuyen-de/tu-tuong-my-hoc-kito-giao-va-van-hoc-nghe-thuat-cong-giao-bui-cong-thuan.html

[17] Xuân Ly Băng trả lời Trăng Thập Tự ngày 25/8/1988:

https://www.tgpsaigon.net/bai-viet/xuan-ly-bang-hon-tho-va-tam-long-muc-tu-48041

[18] Xin đọc Võ Văn Nhơn: Tuồng Cha Minh, vở kịch quốc ngữ hiện đại đầu tiên của Việt Nam . Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 3 (601) tháng 3 – 2022, tr. 33 – 41. https://hcmussh.edu.vn/tin-tuc/vo-kich-quoc-ngu-hien-dai-dau-tien-cua-viet-nam

[19] Lê Đình Bảng: Văn học Công giáo Việt Nam, Những chặng đường.Nxb Tự điển bách khoa.2010

[20] Xin đọc chuyên luận: Bùi Công Thuấn-Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. Nxb HNV 2014. Tái bản 2019, 2025. Tải về đọc theo link: https://www.mediafire.com/file/ber5y0wagbwk2ym/6_TI%25E1%25BA%25BEP_C%25E1%25BA%25ACN_SN-NXB_V%25C4%2583n_h%25E1%25BB%258Dc-2025.pdf/file

[21] Nghị quyết số 297-NQ/CP năm 1977 của Hội đồng Chính phủ

Nghị định số 26/1999/NĐ-CP

Nghị định 22/2005/NĐ-CP và thay thế bằng Nghị định 92/2012/NĐ-CP

Nghị định 162/2017/NĐ-CP (và được cập nhật theo Nghị định 95/2023/NĐ-CP)

[22] Năm Linh mục được cử hành đặc biệt trên toàn cầu từ ngày 19/6/2009 đến ngày 19/6/2010. Năm này do Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI công bố, nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày qua đời của Thánh Gioan Maria Vianney – bổn mạng của các linh mục.

[23] Song Nguyễn: Hãy ca tụng Chúa-Hồi ký tập 1, chương II: Gia thế-

    Truyện Cái tráp gia bảo, tập truyện ngắn: Người cha hiền.

[24] Bùi Công Thuấn – Bài giới thiệu tập truyện Mẹ yêu của con. Nguồn: Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. Nxb HNV 2014, tái bản 2019 và 2025

[25] Bài giới thiệu Đồng cỏ xanh. Nguồn: Bùi Công Thuấn-Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. Nxb HNV 2014, tái bản 2019 và 2025.

[26] Bùi Công Thuấn – Bài giới thiệu truyện dài Định hướng của Song Nguyễn. Nguồn: Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. Nxb HNV 2014, tái bản 2019 và 2025.

[27] NCS Đinh Ngọc Oanh-Truyện dài của Song Nguyễn trong tương quan với mô hình tự sự giáo huấn Công giáo nửa đầu thế kỷ xx”. (Văn bản nghiên cứu của tác giả)

[28] Nguồn: Nhóm Nghiên cứu – Dịch thuật Hán Nôm Công giáo: GS Thanh Lãng, Lm. Vinc. Nguyễn Hưng, học giả Vũ Văn Kính chuyển sang chữ Quốc ngữ 2003)

[29] Nguyễn Vy Khanh-Sơ thảo văn học Công giáo Việt Nam. Nguyễn Publishing, Toronto 2023

[30] Đinh Ngọc Oanh: Giới thiệu tác phẩm tiểu thuyết Công giáo của cha Phêrô Nghĩa đăng trên tuần báo Nam Kỳ Địa phận. https://dongtrinhvuongsaigon.org/vi/news/sach-hay/tac-pham-tieu-thuyet-cong-giao-cua-cha-phero-nghia-932.html

[31] (Nguồn: Bùi Công Thuấn- Hoa trên núi thánh: Tiểu thuyết trên Nam Kỳ Địa Phận– Nxb Hồng Đức 2025)

[32] Nguồn: Bùi Công Thuấn-Văn học Công giáo Việt Nam đương đại. Nxb HNV 2022

NGUYỄN NHẬT ÁNH & Văn chương thị trường

BẠN CÓ THỂ TẢI VỀ ĐỌC THEO LINK: https://www.mediafire.com/file/rr7dwb918f0ofcj/NGUYỄN+NHẬT+ÁNH+&VĂN+CHƯƠNG+THỊ+TRƯỜNG.pdf/file

NGUYỄN NHẬT ÁNH & VĂN CHƯƠNG THỊ TRƯỜNG

(Đọc: Bồ câu không đưa thưCho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn Nhật Ánh)

Bùi Công Thuấn

***

Ở Việt Nam, cho đến nay, đã hình thành 3 dòng văn học: Văn học cách mạng và kháng chiến, Văn học Nhân văn-Dân chủ và Văn chương thị trường. Giai đoạn văn học 1975 – 2025 đã qua đi. Văn chương thị trường sẽ tiếp tục phát triển trong bối cảnh kinh tế thị trường toàn cầu hóa. Nguyễn Nhật Ánh là một nhà văn thành công trong sáng tác cho độc giả thị trường. Bài viết này chỉ lả những ghi nhận bước đầu.

***

Vài ghi chú về

BỒ CÂU KHÔNG ĐƯA THƯ (1993)

Nguyễn Nhật Ánh

***

1.NGUYỄN NHẬT ÁNH (tổng hợp tư liệu)

Nguyễn Nhật Ánh sinh ngày 7/5/1955 tại làng Đo Đo, xã Bình Quế, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Từ những năm 1970, ông đã tham gia vào các hoạt động văn nghệ tại Sài Gòn và viết những tác phẩm đầu tay.

Từ năm 1973, ông chuyển vào sống tại Sài Gòn, theo học ngành Sư phạm. Ông đã từng tham gia Thanh niên xung phong, dạy học môn Văn tại trường THCS Bình Tây (Quận 6 – 1983 – 1985).

Ông phụ trách mục tiểu phẩm, trang thiếu nhi và bình luận thể thao trên báo Sài Gòn Giải Phóng số chủ nhật với các bút danh Chu Đình Ngạn, Đông Phương Sóc, Sóc Phương Đông. Ông cũng phụ trách mục Vườn Hồng của nhật báo Thanh Niên, giải đáp các thắc mắc về tình yêu, dưới bút danh Anh Bồ Câu.

Những năm từ 1990 đến 2000, Nguyễn Nhật Ánh nổi bật với nhiều tác phẩm như “Chú bé rắc rối”, “Kính Vạn Hoa” và “Mắt biếc”.

Ông đã xuất bản hơn 100 tác phẩm, đạt giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật (1999), Giải thưởng Văn học Đông Nam Á (ASEAN) năm 2010 với tác phẩm “Cho tôi xin một vé về tuổi thơ”.

Truyện Nguyễn Nhật Ánh viết về tuổi thơ, tuổi học trò, tình bạn, tình yêu, và tâm tư của thế hệ trẻ.

2. TÓM TĂT TÁC PHẨM

            Bồ câu không đưa thư xoay quanh việc truy tìm tác giả những lá thư làm quen của một người ký tên Phong Khê gửi cho Thục. Nhóm bạn gồm có Thục, Xuyến, Cúc Hương. Tham gia vào câu chuyện còn có Hoàng Hòa (lớp trưởng) và Phán Củi (người được nhóm bạn nhờ làm thơ). Cả Hoàng Hòa và Phán Củi đều có tình riêng với Thục, nhưng giấu kín trong lòng.

Thục nhận được thư “Cho mình làm quen với” của Phong Khê ở trong hộc bàn học.  Thục hỏi ý kiến Xuyến và Cúc Hương, về việc có nên trả lời thư hay không. Xuyến giúp Thục hồi âm thư  “dạy dỗ” cho “thằng bé” dám trêu chọc Thục.

Phong Khê hồi âm. Hắn tiếp tục xin làm quen, đồng thời gửi trái ổi. Cả bọn nhờ lớp trưởng Hoàng Hòa xử, anh chàng này hàng ngày có để ý Thục. Hòa đề nghị trả lại “quà” của Phong Khê, hoặc nhờ cô chủ nhiệm ngăn chặn, nhưng cả bọn không chịu.

Vì thư của Phong Khê là thơ nên cả bọn bèn nhờ Phán Củi  làm thơ trả lời. Phán làm thơ theo ý 3 bạn gái, lần này đòi thêm 3 trái xoài. Phán được cả bọn mời đi ăn chè, nhưng Phán phải trả tiền. Phán biết mình hớ.

Phong Khê lại gửi thơ, ỡm ờ hẹn gặp. Cả bọn lại nhờ Phán làm thơ song thất lục bát đáp trả. Lần này Phong Khê im lặng. Phán bị Xuyến và Hương truy sát vì đăng thơ trên Mực Tím khen Thục. Cả bọn ép Phán phải làm thơ dụ Phong Khê trở lại.

Phong Khê tiếp tục im lặng. Ba cô gái cuống lên, viết thư (làm thơ) xin lỗi Phong Khê. Hắn hẹn thi HK2 xong sẽ trở lại. Vì sắp ra trường, cả bọn lên kế hoạch tìm xem Phong Khê là ai. Riêng Thục cảm thấy bối rối.

Nhóm bạn đình chiến để ôn thi. Kết quả thi tốt. Lại tiếp tục kế hoạch. Cúc Hương được cử đi do thám lớp học của Phong Khê. Nó theo cô chủ nhiệm Tường Anh vào trường buổi sáng để làm điểm, rồi xin phép ra ngoài, lẻn đến phòng lớp 11A3. Nó há hốc mồm khi nhìn vào chỗ Phong Khê ngồi. Ở chỗ ngồi ấy là một bạn gái. Hóa ra Phong Khê là con gái. Hương đi điều tra lại, lớp 11A3 không có ai tên Phong Khê. Bàn của Thục ngồi còn có 2 cô gái nữa.

Hoàng Hòa gửi thư mời Thục đi xem vở kịch “Tình nghệ sĩ” ở nhà hát Hòa Bình. Xuyến và Cúc Hương bảo Thục nhận lời. Hai đứa ngầm đi theo Thục để hỗ trợ. Vì cả bọn biết Hoàng Hòa có tình riêng với Thục.

Tiếp tục truy lùng Phong Khê, cả bọn đi theo ba đứa con gái 11A3 ngồi cùng bàn Phong Khê. Xuyến đi theo con nhỏ mà nó tin chắc là đứa đóng vai Phong Khê. Con nhỏ vào nhà. Rồi trong nhà có người dắt xe đi ra. Nó vô cùng ngạc nhiên.

Người đi ra là Hoàng Hòa.Xuyến khám phá ra bí mật này: thì ra, cô gái đóng vai Phong Khê là em Hoàng Hòa, học lớp 11A3. Hòa nhờ em chuyển thư cho Thục. Sau phát hiện này, Xuyến, Hương, Thục bàn kế hoạch lật mặt Hoàng Hòa trong buổi tối đi xem kịch. Cả bọn rủ Phán Củi  cùng đi nhưng Phán có tin bố mất, phải về quê chịu tang, không đi theo 3 cô gái được. Thục nhìn Phán đi, mắt cay cay.

Cả bọn đón Hoàng Hòa ở quán nước trước cổng nhà hát Hòa Bình. Bị tra vấn về Phong Khê, Hoàng Hòa phủ nhận tất cả sự việc đã xảy ra. Anh nói không biết Phong Khê là ai. Cãi không lại Xuyến, Hòa bỏ về. Hòa nói, sẽ hỏi lại Hoàng Hoa là em gái học 11A3.

Phán củi trở lại trường. Xuyến kể cho Phán nghe chuyện điều tra Phong Khê. Phán góp ý, cả bọn hãy viết thư hẹn gặp Phong Khê. Thục tin rằng Hoàng Hòa là Phong Khê. Hòa sẽ không đến. Nhưng cả bọn lại nhận được thư Phong Khê hẹn “Mình sẽ đến”.

Chiều hôm ấy Phán đạp xe theo ba cô gái đến hồ Con Rùa. Cả bọn tấp xe vào quán Dạ Lan. Mặc cho hai cô gái “tấn công”, Phán chỉ ngồi cười cười. Hoàng Hòa xuất hiện. Anh chạy chiếc Cup 82. Lượn vòng cung quanh bờ hồ, hướng về phía quán Dạ Lan. Anh thản nhiên lướt qua mặt bọn Xuyến, đảo một vòng rồi chui tọt vào đường Võ Văn Tần, mất hút. Ba cô gái chỉ biết giương mắt ngơ ngác nhìn theo. Cả bạn đổ lỗi cho Phán Củi. Có lẽ Hòa thấy Phán nên bỏ chạy.

Xuyến tuyên bố:- Kể từ giờ phút này, tao tuyên bố “khai tử” nhân vật Phong Khê. Tụi mình đừng bao giờ nhắc đến hắn nữa. Rồi Xuyến quyết định bàn giao Thục cho Phán: “từ ngày mai trở đi, bạn được quyền đi chơi chung với tụi này, được quyền làm thơ tặng con Thục tha hồ, mỗi ngày mười bài cũng được, rồi mỗi khi tụi này đi ăn đi uống, bạn lại được quyền trả tiền thoải mái”.

Phán nói, ngày mai Phán sẽ về quê luôn để chăm sóc mẹ, không lên nữa, không thi tốt nghiệp, không thi Đại học. “Phán ngạc nhiên khi thấy mắt Thục đỏ hoe. Một nỗi xúc động dạt dào dâng lên trong lòng khiến Phán mừng mừng tủi tủi. Anh sẽ không làm thơ cho ai, ngoài Thục. Anh muốn nói với Thục bao nhiêu là chuyện.

Cả bọn ghi địa chỉ cho Phán. “Cho đến lúc ấy, Thục vẫn không hiểu nỗi xúc động rưng rưng của mình xuất xứ từ lòng cảm thương số phận không may của một người bạn hay đó chính là nỗi niềm vương vấn lúc chia tay”.

Lớp tổ chức liên hoan cuối năm. Cả bọn hỏi tội Hoàng Hòa. Anh đưa lá thư của Phong Khê cho cả bọn đọc. Hóa ra, Phong Khê là Phán Củi (đã về quê không dự liên hoan). Cả bọn ngậm ngùi nhớ lại. Nhưng họ mau chóng bỏ qua để nhập vào buổi liên hoan.

Ngày mai, khi bước ra khỏi mùa hè rực rỡ và hiu quạnh đang đợi chờ, Thục sẽ vĩnh viễn bỏ lại sau lưng mình quãng đời học trò áo trắng. Và trên chặng đường thênh thang sắp tới, mãi mãi sẽ trống vắng một bóng người lặng thầm đi bên cạnh Thục…”

3. GHI NHẬN

            1. Truyện của Nguyễn Nhật Anh hấp dẫn. Ông sử dụng nhiều yếu tố kỹ thuật để dựng truyện: Lời văn dung dị, Truyện được kể bằng những đoạn đối thoại như trong phim kịch, nhờ thế trang văn trở nên sinh động. Trong đối thoại, nhân vật chen vào một số khẩu ngữ đương đại, đem truyện trở về với đời thực.

 Cốt truyện được cấu trúc hợp lý, kín nhẽ. Mạch truyện luôn có biến cố bất ngờ. Chất trinh thám điều tra (tạo sự tò mò), kết hợp với kiểu chuyện tình học trò lãng mạn (khơi gợi tâm lý nam nữ) cùng với những trò nghịch ngợm trẻ con (thách đố trí tuệ sáng tạo), làm thay đổi liên tục cảm xúc của bạn đọc.

            Truyện tạo ra không khi vui tươi, sự thú vị ngạc nhiên và cảm xúc lãng mạn, một chút buồn man mác, mau qua, như những cảm xúc của nhóm bạn Thục, Xuyến, Hương, đối với hoàn cảnh đáng buồn của Phán Củi.

            2. Nội dung truyện, đọc chỉ để giải trí, không đề xuất được vấn đề tư tưởng hay những quan tâm về thực trạng xã hội nào. Nguyễn Nhật Ánh chỉ kể lại trò nghịch ngợm của tuổi học trò, thoáng qua, không hướng đến những vấn đề nhân sinh.

Đời sống của các bạn trẻ lớp 12 phong phú biết bao nhiêu đã không được nhà văn khám phá. Gia đình, nhà trường, xã hội nặng lòng với con em mình về bao vấn đề: thi tốt nghiệp, thi vào đại học, hoặc học nghề, chọn con đường vào đời, tiền bạc đâu để ăn học; tình trạng cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp, bạn trẻ đi sau sẽ vượt lên cách nào; chuyện tình cảm, quan hệ nam nữ, chuyện hôn nhân… và bao nhiêu điều lo lắng khác, đặc biệt là ảnh hưởng của cuộc xâm lăng văn hóa từ bên ngoài đang làm sụp đổ nhiều giá trị truyền thống… những điều như thế không tìm thấy sự chia sẻ trong Bồ câu không đưa thư!

            3. Bồ câu không đưa thư không miêu tả nhân vật trong bối cảnh xã hội. “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Thiếu những phẩm chất xã hội, nhân vật trở thành siêu hình.

Điều này không phải Nguyễn Nhật Ánh không biết, nhưng vì mục đích viết truyện giải trí, chạy theo thị hiếu thị trường, nhà văn đã bỏ qua những nguyên tắc kiến tạo tác phẩm.

Các nhân vật không có chân dung, không có nhân thân, không có gia cảnh, không hiện lên với những quan hệ xã hội cùng với đời sống tâm hồn phức tạp của một con người trong đời thực. Nhân vật trong Bồ câu không đưa thư chỉ là hình bóng những cô cậu học trò, thấp thoáng trong sân trường, với những trái ổi, trái xoài, ngồi ở quán nước, tụ tập chỗ này, chỗ kia (Nhà hát, Hồ Con Rùa) để “tám” rồi hoạch định những trò nghịch ngợm trẻ con.

Môi trường sinh hoạt của nhân vật cũng không được định vị. Thục, Xuyến, Hương, Hòa, Phán, học ở một ngôi trường có quy mô thế nào, cảnh quan ra sao, nề nếp sinh hoạt, học tập có gì đặc biệt? Hồ Con Rùa và đường Võ Văn Tần là hai chi tiết hiện thực rất hiếm hoi. Tất cả sự vận động của các nhân vật đều không được đặt trong không gian, thời gian và bối cảnh thời đại cụ thể. Đó là Sài Gòn những năm tháng nào? Lưu ý rằng, nữ sinh Sài Gòn trước 1975 rất khác với nữ sinh TP Hồ Chí Minh những năm 1990 (tác phẩm này xuất bản 1993).

Truyện chỉ có đối thoại suông. Các nhân vật gặp nhau, nói “chuyện tào lao”, phân tích những lá thư nhận được để tìm hiểu “địch-ta” rồi đề ra kế hoạch đánh địch. Hành động truyện rất đơn điệu. Chỉ có vài hành động: Hương đến trường rình mò Phong Khê ở phòng học lớp 11A3; cả bọn chặn Hoàng Hà ở quán nước trước nhà hát Hòa Bình; cả bọn ngồi chờ gặp Phong Khê ở Hồ con Rùa theo thư hẹn. Mạch truyện trôi đi theo kiểu truyện trinh thám, các nhân vật đi tìm kẻ lạ mặt. May nhờ có những tình huống bất ngờ và cốt truyện biến hóa nên giữ được sự hấp dẫn đối với bạn đọc

            4. Chính vì Nguyễn Nhật Ánh không đặt truyện trên nền bối cảnh xã hội, không miêu tả con người xã hội, không đặt được những vấn đề hiện thực của người trẻ (lớp 12 sắp ra trường), nên Bồ câu không đưa thư chỉ là truyện giải trí.     

Người đọc tự hỏi lý tưởng, tương lai và con đường vào đời của bạn trẻ là gì; họ không hề có ý niệm gì về quê hương, đất nước, thời đại và sứ mệnh tuổi trẻ của mình. Nhà văn không miêu tả thế giới tâm hồn của họ, không khám phá xem họ nghĩ gì về số phận, họ sẽ thiết kế cuộc đời họ thế nào trong hoàn cảnh toàn cầu hóa? Ngay cả tình bạn và tình yêu của người trẻ cũng không được khám phá và chia sẻ. Những rung độn trong tâm hồn Thục rất mơ hồ và thoáng qua nhanh, không rõ là rung động gì. Và như thế, những trò nghịch của nhóm bạn này có giá trị gì?

Hơn thế, Nguyễn Nhật Ánh bỏ mặc Phán Củi tự lặn ngụp trong thảm cảnh của anh ta. Bố Phán chết. Phán phải bỏ thi tốt nghiệp, bỏ thi vào đại học, để về quê chăm sóc mẹ. Và phải tự tìm một nghề gì đó để kiếm sống. Cả nhóm bạn không ai đặt ra phương án nào đó để giúp Phán. Họ quên Phán ngay khi tiếng pháo liên hoan lớp nổ vang.  

Đó là sự vô cảm, một nhát chém lạnh lẽo cắt đứt tất cả. Tư tưởng thực dụng lên ngôi.

Điều này làm hỏng toàn bộ giá trị ngòi bút của Nguyễn Nhật Ánh.

5. Công bằng mà nói, Bồ câu không đưa thư còn giữ được sự “sạch sẽ” nhất định nếu so với nhiều tác phẩm khác của văn chương thị trường.

Văn chương thị trường Việt Nam đầy dẫy sex vô luân, đầy dẫy những yếu tố đồi trụy, đấy dẫy những tư tưởng độc hại. Chẳng hạn: sự cổ vũ cho chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa thế tục; sự lợi dụng những tiêu cực của chủ nghĩa Hậu hiện đại để “giải thiêng” những tín niệm của dân tộc, và phơi bày một lối sống vô văn hóa (xin đọc Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu, Nháp của Nguyễn Đình Tú…)

Nói gọn một câu:

 Hiện thực đời sống của bạn trẻ lớp 12 rất phong phú, phức tạp, nhưng Nguyễn Nhật Ánh chỉ nhặt lấy một trò nghịch ngợm để viết thành tiểu thuyết giải trí kiểu tình cảm-trinh thám.

Văn học có nhiều chức năng xã hội, có nhiều giá trị quan trọng đối với đời sống tinh thần của cộng đồng. Đó là giá trị hiện thực, giá trị văn hóa, giá trị tư tưởng, giá trị nhận thức, giá trị giáo dục, giá trị thẩm mỹ, … Nguyễn Nhật Ánh gạt bỏ tất cả các giá trị ấy, chỉ còn giữ lại một chút giá trị giải trí.

Điều này có thể lý giải tại sao các nhà nghiên cứu văn học không quan tâm đến văn chương thị trường, bởi vì văn chương thị trường chỉ là văn chương giải trí. Trước 1945, Lê Văn Trương đã viết hơn 200 tác phẩm. Nhưng văn học Việt Nam, trong tiến trình lịch sử, đã định vị Nam Cao ở một vị trí quan trọng hơn Lê Văn Trương rất nhiều.

 ***

Bồ câu không đưa thư có thể đáp ứng nhu cầu giải trí của một bộ phận bạn đọc, song nó không giúp ích gì cho ngưởi trẻ vào đời, và không có chỗ đứng trong sự phát triển của văn học Việt Nam đương đại

Tháng 6/ 2026

_______________________

CHO TÔI MỘT VÉ ĐI TUỔI THƠVà những “bài học làm người lớn” của Nguyễn Nhật Ánh

Bùi Công Thuấn

***

              “…để sống tốt hơn đôi khi chúng ta phải học làm trẻ con trước khi học làm người lớn “

(Nguyễn Nhật Ánh)                                                                                                                        

   ***                                                                                                                                            

                                                                                                                                              

            Tôi ghi lại vài cảm nhận khi đọc “Cho tôi một vé đi tuổi thơ” của Nguyễn Nhật Ánh [[1]]. Tác phẩm này đạt Giải thưởng Văn học ASEAN năm 2010.

Dẫu vậy, theo tôi, tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh thuộc “văn chương thị trường”. (Những chữ in nghiêng là trích dẫn từ tác phẩm).

1. TRUYỆN CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ 8 TUỔI

 Nhân vật Tôi (tôi viết hoa tên nhân vật), tên gọi ở nhà là Mùi, trên 40 tuổi, thành đạt, kể lại việc viết một cuốn sách về những trò nghịch của mình lúc 8 tuổi và nhóm bạn là Hải cò, Tý sún và Tủn (tác giả không ghi năm tháng cụ thể).

Tôi cho biết:

cuốn sách này đã được viết ra. Nó đã được bắt đầu vào một ngày 8 tuổi tôi thấy cuộc sống sao mà tẻ nhạt và kết thúc vào một ngày 8 tuổi khác tôi khám phá ra cuộc sống không còn tẻ nhạt nữa, nhưng sao mà buồn quá (chương 11)…

Tôi cùng Hải cò, con Tủn và con Tí sún nghĩ ra hết trò này đến trò khác để thu xếp cuộc sống theo ý mình, trong đó lắm trò ngu ngốc nhưng cũng không ít trò thông thái”.

 “Đó là những gì tôi nghiền ngẫm và đúc kết vào lúc tôi 40 tuổi hay hơn một chút, tức là lúc tôi đã đủ trưởng thành” (chương 4)…

Tôi đã kể lại: (theo thứ tự chương của cuốn sách) cảm giác tẻ nhạt trong mọi sinh hoạt hàng ngày. Đó là nguyên nhân Tôi muốn sống khác đi. Tôi cùng các bạn: Hải Cò, Tý Sún, Tủn, chơi nhiều trò nghịch ngợm, gây ra những hậu quả tai hại: trò chơi vợ chồng; trò chơi đặt tên khác cho sự vật để định nghĩa lại thế giới; trò chơi hò hẹn tình yêu của người lớn -có cả hẹn lên giường; Tôi lý giải chuyện trẻ con trở chứng là chúng muốn làm người hùng; trò chơi tìm kho báu – nhóm bạn không ra đảo hoang, không lên rừng, mà đào bới phá nát khu vườn nhà Hải Cò. Vì thế, chúng Tôi bị gọi là lũ giết người (chương 8).… Chúng Tôi còn“tiếp tục bày ra hàng mớ những trò quái chiêu khác, như nhúng đầu vào lu nước, chạy như điên trong đêm , ngửa tấm kiếng soi mặt trong đáy thau để xem cầu vồng hiện lên khi mặt trăng chiếu vào… Trò thú vị nhất là nuôi chó hoang”…

“…Tôi còn bày cho Hải cò nhiều chuyện lạ khác nữa. Hết uống, tôi chuyển sang ăn. Tôi không thèm bới cơm vô chén như trước nay…tôi đổ cơm và thức ăn vào chiếc thau nhôm, trộn lên như một món thập cẩm. Rồi bưng cái thau ra ngoài hè, tôi ngồi xổm nhìn ra đường vừa lấy muỗng xúc cơm tọng vô miệng, cảm thấy cuộc sống vô cùng tươi đẹp” (Chương 6).

Kể lại những chuyện đó, Tôi, ở tuổi 40, so sánh thế giới tâm hồn trẻ con với người lớn, từ đó đề xuất với các bậc cha mẹ, phụ huynh những ý kiến của Tôi về tuổi thơ và yêu cầu giáo dục trẻ.

Trẻ con tuy nghịch ngợm, phá phách, nhưng “Trẻ con cũng yêu ba mẹ, cũng biết ba mẹ yêu mình nhưng đón nhận sự chăm sóc đó một cách hồn nhiên, chả nghĩ ngợi gì. Lòng hiếu thảo đối với ba mẹ, chỉ người lớn mới cảm nhận đầy đủ. Đặc biệt khi người lớn đó sinh con, nuôi con và vất vả vì con thì sự cảm nhận đó càng sâu sắc hơn nữa. Vì vậy mà các bậc làm cha làm mẹ không nên lo lắng thái quá ( khi tôi khẳng định rằng mọi đứa trẻ trên thế giới này đều từng oán trách ba mẹ) vì những đứa con oán trách ba mẹ nhiều nhất sau này sẽ là những đứa con biết ơn ba mẹ nhiều nhất, trong đó có cả lý do là hồi nhỏ đã trót oán trách ba mẹ nhiều quá.” (chương 12)

Vì thế: “để sống tốt hơn đôi khi chúng ta phải học làm trẻ con trước khi học làm người lớn, tôi đã nghĩ như vậy khi ngồi cặm cụi gõ cuốn sách này” (chương 12-kết truyện)

Đây là một lý giãi:

Chẳng qua so với người lớn, trẻ con sống trong một bầu khí quyển khác và dưới một thứ ánh sáng khác. Ở đó, bọn trẻ tiếp cận thế giới theo cách của chúng, nghĩa là chúng không nhìn mọi thứ chung quanh dưới khía cạnh sử dụng. Đó là điểm khác biệt căn bản giữa trẻ con và người lớn.”(chương 6.)

Đây là bài học Tôi rút ra:

Sau này khi đã là một ông bố, tôi luôn thận trọng khi quở trách con cái để tránh xảy ra những vụ án oan. Nhưng thú thật, xóa nhòa được lằn ranh giữa trẻ con và người lớn cũng khó ngang với việc xóa bỏ ranh giới giàu nghèo trong xã hội. Về tâm lý, người lớn luôn cho mình đứng về phía chân lý, nếu xảy ra một sai lầm nào đó thì phần lỗi đương nhiên thuộc về trẻ con” (Chương 9).

2. THAM LUẬN HAY TIỂU THUYẾT

            Nói thật đúng, về thể loại, “Cho tôi một vé đi tuổi thơ” là một “tự truyện” của nhân vật Tôi.

Tôi kể về những trò nghịch ngợm ở tuổi lên 8, kể lại quá trình viết cuốn sách này và đối thoại với bạn đọc về những “bài học” ở đời, rút ra trải nghiệm tuổi lên 8 của mình.

 Tôi khẳng định đây là một tham luận.

            “…Sẵn đây, tôi tiết lộ luôn: thực ra cái tôi đang viết không phải là một cuốn tiểu thuyết.

Thực tế đây là một bản tham luận mà tôi định sẽ trình bày trong cuộc hội thảo Trẻ em như một thế giới do Ủy ban UNESCO tại Việt Nam phối hợp với Bộ giáo dục tổ chức, với sự góp mặt của các nhà nghiên cứu giáo dục, các chuyên gia tư vấn tâm lý, các nhà báo phụ trách mảng học đường và giáo dục gia đình, cuối cùng là các nhà văn viết cho trẻ em.

Tất nhiên đây là bản tham luận sẽ không bao giờ được đọc trên diễn đàn, thậm chí không được gửi tới cuộc hội thảo theo đúng kế hoạch trước đó”…(Chương 5)

…”bây giờ thì những gì tôi viết ra không phải để trình bày trong cuộc hội thảo Trẻ em như một thế giới nữa. Con Tí sún đã bày cách cho tôi: Tham luận trong một hội thảo khoa học đương nhiên buộc phải đề cao tính xác thực, đó sẽ là lý do để Hải cò và con Tủn phản đối thậm chí kiện cáo về những gì tôi mô tả về tụi nó, nhưng nếu đây là một cuốn tiểu thuyết thì quyền hư cấu của tác giả sẽ đảm bảo cho tôi tránh xa những kiện tụng lằng nhằng. Thậm chí nếu cần tôi sẽ đế một dòng chữ ngay trang đầu cuốn sách” Tất cả những nhân vật và tình tiết trong cuốn sách này đều do tác giả tưởng tượng ra, nếu có sự trùng hợp ngẫu nhiên thì đó là chuyện ngoài ý muốn, tác giả không chịu trách nhiệm”. Tôi đã từng thấy những cuốn sách ghi như thế, và thật mừng là con Tí sún đã ân cần nhắc cho tôi nhớ điều đó”(Chương 10).

Vậy, Cho tôi một vé đi tuổi thơ  là Tham luận hay Tiểu thuyết?

Hẳn nhiên bạn đọc sẽ nghĩ, Giải thưởng ASEAN dành cho cuốn sách là những miêu tả, những khám phá, và những ý kiến của Nguyễn Nhật Ánh về giáo dục trẻ. Và vì thế Cho tôi một vé đi tuổi thơ là một tham luận. Nhân vật Tôi trình bày ý kiến “nghiên cứu” trẻ con của mình, rồi kể chuyện của chính mình để khẳng định tính chân lý của những bài học giáo dục ấy.

Trong tác phẩm, Tôi trình bày rất nhiều nhận thức cá nhân ở dạng VĂN NGHỊ LUẬN. Những ý kiến này mang dáng vẻ những “triết lý”, những chân lý “sống trên đời” (bài học kinh nghiệm) về nhiều lĩnh vực.

            Con Tí sún hỏi tôi “tại sao“, “- một câu hỏi mang mầm mống triết học. Để nỗ lực trả lời một câu hỏi mang mầm mống triết học, bất cứ ai cũng có thể trở thành triết gia, cho dù người đó không cố ý và chỉ mới có tám tuổi” (chương 3).

            Đây là những câu hỏi:

Tại sao khi mưa trời lại có sấm sét?

Tại sao tóc chỉ mọc ở trên đầu?

Tại sao chúng ta lại ăn Tết?

Tại sao đường lại ngọt còn muối thì mặn?

Tại sao máu có màu đỏ?

Tại sao con cò khi ngủ lại co một chân?

Tại sao đàn ông có vú?

Tại sao trái đất quay quanh mặt trời?

…Nhưng đến những câu hỏi kiểu như “Tại sao chúng ta được sinh ra?”, “Tại sao chúng ta phải sống?”, “Tại sao chúng ta phải chết?”, thì các nhà khoa học cũng bó tay. Những thắc mắc lúc này đã trở nên siêu hình và bắt đầu đặt chân vào lãnh vực của triết học. Thái tử Tất Đạt Đa từng đi tìm lời giải đáp cho vấn nạn cơ bản này – nhằm giải mã ý nghĩa của sự tồn tại, để cuối cùng trở thành một nhà khai sáng thuộc loại vĩ đại bậc nhất thế giới dưới cái tên Thích Ca Mâu Ni.”

Tôi “Luận” về ngủ trưa:

“Nhưng nếu bạn sống trên đời mới có tám năm thì bạn không có lý do chính đáng để coi trọng giấc ngủ trưa. Với những dân tộc không có thói quen ngủ trưa, như dân Mỹ chẳng hạn, trẻ con càng không tìm thấy chút xíu ý nghĩa nào trong việc phải leo lên giường sau giờ cơm trưa.

Hồi tôi tám tuổi dĩ nhiên tôi không có được cái nhìn thông thái như thế. Nhưng tôi cũng lờ mờ nhận ra khi ba tôi đi ngủ thì Tôi buộc phải đi ngủ, giống như một con cừu còn thức thì người chăn cừu không yên tâm chợp mắt vậy” (Chương 1).

            Tôi “Luận” về tình yêu

             “Rồi bạn hãy ngẫm tiếp: Có phải khi yêu nhau chàng vẫn thích dẫn nàng đi ăn ở ngoài? Nhiều tiền thì vào nhà hàng sang trọng hoặc khu ăn uống ở các plaza, ít tiền thì vào các quán ăn bình dân, ít tiền hơn cả ít tiền thì ra ngoài lề đường ngồi lai rai nghêu sò ốc hến. Còn hôm nào rỗng túi thì chàng quyết nằm bẹp ở nhà, với lý do hết sức cao cả “Hôm nay anh bận việc cơ quan”. Chẳng chàng trai nào nghĩ đến chuyện rủ người đẹp về nhà bắt nàng nấu cho mình ăn” (Chương 4).

            “Tất nhiên, bây giờ thì tôi hiểu. Bây giờ, sau nhiều lần yêu, tôi nhận ra rằng không phải một cô Dung nào đó thay thế một cô Tủn nào đó trong trái tim một chàng cu Mùi nào đó sẽ làm hỏng định nghĩa về tình yêu mà vấn đề là khi một cuộc tình vừa đổ vỡ thì ngay sau đó người ta không thể nào hào hứng bắt đầu một cuộc tình mới nếu vết thương lòng chưa kịp lành miệng. Cũng như người ta không thể tiến hành tốt một cuộc chiến tranh trên đống đổ nát của cuộc chiến tranh trước đó nếu không có thời gian để hồi phục (Chương 7.)

            Tôi “Luận” về nấu nướng và hạnh phúc:

            “Một thời gian sau nữa, tức là vào lúc tôi viết cuốn sách này, tôi trưởng thành thêm một bậc khi phát hiện ra những gì tôi nói huyên thuyên nãy giờ về mối quan hệ keo sơn giữa nấu nướng và hạnh phúc, giữa phòng ăn và phòng ngủ thực ra chẳng có gì nghiêm trọng hết.”(Chương 4).

            Tôi “luận” về tiểu thuyết tình yêu:

            “Từ trước đến nay, có hàng ngàn cuốn tiểu thuyết Đông Tây kim cổ viết về đề tài tình yêu, nhưng chẳng có cuốn nào đề cập đến một mối tình trong đó chàng yêu nàng vì tài làm bếp hoặc chàng bỏ rơi nàng vì món súp nàng nấu quá mặn cả. Romeo bất chấp sự hiềm khích giữa hai dòng họ để đeo đuổi Juliet chắc chắn không phải vì món chả cá của cô ta. Điều đó chẳng có gì sai, vì các nhà văn viết chuyện ái tình chứ đâu có viết chuyện hôn nhân. Do đó tôi vẫn tin rằng mối tình Romeo và Juliet sở dĩ trở nên tuyệt đẹp bởi cả hai đã chết trước khi họ kịp lấy nhau và nàng Juliet chưa có dịp nấu mì gói cho Romeo.

Bạn ngẫm mà xem: Có phải trên thực tế, cho đến khi rước được người đẹp về nhà các chàng trai gần như không có lấy mảy may cơ hội để đánh giá tài bếp núc của người bạn đời tương lai?” (Chương 4).

            Tôi “Luận” việc trẻ con thay đổi thói quen ăn uống và chiến tranh Israel và Palestin:

            “Tôi và Hải cò thay đổi thói quen ăn uốngthì đâu có ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới. Không phải vì bọn tôi không thích uống nước trong ly mà hết ông tổng thống này đến bà thủ tướng nọ bị ám sát. Cũng như thế, người Israel và người Palestine nã pháo vào nhau chắc chắn không bắt nguồn từ việc bọn tôi thay chén bằng thau.

Nhưng dưới mắt các ông bố bà mẹ, việc một đứa con bỗng nhiên thích ăn uống theo kiểu trái khoáy là cái gì đó hết sức nghiêm trọng, có thể không liên quan đến chiến tranh nhưng rất có khả năng dính dáng đến sự điên rồ”(Chương 6).

            Tôi “Luận” về trẻ con trở chứng:

            “Những ngày ngồi cặm cụi gõ những con chữ này tôi còn nghiệm ra rằng những đứa trẻ thích trở chứng là những đứa trẻ muốn thể hiện cái tôi, tất nhiên thể hiện theo kiểu trẻ con. Quay ngược cái nón lưỡi trai ra phía sau, đứa trẻ muốn khẳng định rằng ta khác với phần còn lại của thế giới, thực ra cũng khó mà khác được vì trên thế giới bao la này có rất nhiều đứa trẻ đội nón kiểu oái oăm như vậy, nhưng ít ra cũng khác với thằng bạn đi bên cạnh”.

            Tất nhiên không phải đứa trẻ nào cũng thế. Cũng có những đứa trẻ thích giống nhau, bên cạnh những đứa trẻ thích khác nhau” (Chương 6).

            Tôi “Luận “ về khuyết điểm ở đời:

            “Thực tế thì sống trên đời ai mà chẳng có khuyết điểm: Trong khi bọn trẻ con cố che giấu khuyết điểm của mình trong mắt người lớn thì người lớn cũng tìm mọi cách giấu giếm khuyết điểm của mình trước mắt trẻ con.

            Nếu làm một cuộc so sánh thì rõ ràng trẻ con làm điều đó tốt hơn và khéo léo hơn, đơn giản là trẻ con sợ bị phạt. Người lớn che giấu khuyết điểm kém hơn, không phải vì vụng về hơn, mà do họ bất chấp. Trẻ con không thể phạt họ và điều đó gieo vào đầu họ cái ý nghĩ tai hại rằng phạm khuyết điểm là đặc quyền của người lớn. Một đứa trẻ vô tình đánh một phát trung tiện giữa bàn ăn sẽ bị người lớn bợp tai ngay tức khắc nhưng nếu một người lớn cũng làm như vậy thì đứa trẻ (và những người chung quanh) chỉ biết cười xòa, trong khi thực ra cả hai đều đáng phê phán”(Chương 9).

            Tôi “Luận” về nỗi buồn:

            “ Sau này tôi mới biêt bọn con gái khi buồn khổ thường ăn nhiều. Có đứa nhờ thất tình mà mập lên. Có vẻ như khi không còn dịp nói những lời yêu thương, cái miệng đã hồn nhiên quay lại với chức năng nhai và nuốt. Nhiều cô bạn vừa ly hôn nói với tôi: Ăn vậy thôi, chẳng thấy ngon lành gì, nhưng cơ thể cứ đòi hỏi phải ăn. Hay thức ăn là thứ có thể lấp đầy nỗi buồn chăng?(Chương 10).

            Tôi “Luận” về thịt chó:

            “Nhiều người bảo thịt chó rất ngon. Thậm chí có người bảo bên Hàn Quốc, có cả một ngành công nghệ chế biến thịt chó. Vì thịt chó là món ăn khoái khẩu của người Hàn.

Người phương Tây ghê sợ điều đó. Người phương Tây rất yêu quý vật nuôi, đến mức có người bảo rằng ở phương Tây các đối tượng mà xã hội quan tâm được xếp theo thứ tự: trẻ em, phụ nữ, chó mèo, cuối cùng mới đến đàn ông. Đó là lý do vì sao rất nhiều nhân vật nổi tiếng ở phương Tây kịch liệt phản đối khi Hàn Quốc được Liên đoàn bóng đá thế giới chọn là một trong hai quốc gia tổ chức World Cup 2002” (Chương 12).

“Luận” về các món ăn ngon:

“Thực ra, các món ăn ngon nhất luôn luôn vẫn là các thức ăn quen thuộc: các loại thịt heo, bò,gà…Trước khi heo, bò, gà trở thành gia súc, chắc chắn loài người đã có hàng ngàn năm dùng răng và lưỡi sang lọc các loại thịt trên trái đất. Tổ tiên chúng ta dĩ nhiên đã thử nếm qua các thứ thịt nai, chồn , rắn, tê tê, nhím, thằn lằn núi, đà điểu và vô số các động vật khác( bây giờ gọi là đặc sản) lẫn chó, ngựa, mèo, heo, bò, gà ( lúc đó còn gọi là chó rừng, ngựa rừng, mèo rừng, heo rừng, bò rừng, gà rừng) và cuối cùng đã đi đến kết luận: các loại thịt heo, bò, gà là tuyệt nhất. Từ phán quyết đó, heo rừng, bò rừng, gà rừng đã được nuôi dưỡng và thuần hóa để trở thành nguồn cung cấp thực phẩm vĩnh viễn cho con người. Đó là một lựa chọn vô cùng sáng suốt và có giá trị ở mọi không gian và thời gian: cho đến nay ba loại thịt trên nghiễm nhiên chiếm một vị trí không thể thay thế trên bàn ăn của mọi gia đình từ Đông sang Tây.”(chương 12)

“Luận về sự bịa đặt”:

Đôi khi vì một lý do nào đó mà chúng ta buộc phải bịa chuyện. Chúng ta cứ lặp lại mãi câu chuyện bịa đó cho đến một ngày chúng ta không nhớ có thật là chúng ta bịa nó ra hay không, rồi sau đó một thời gian nữa nếu cứ tiếp tục lặp lại câu chuyện đó nhiều lần thì chúng ta sẽ tin là nó có thật. Thậm chí còn hơn cả niềm tin thông thường, đó là niềm tin vô điều kiện, gần như là sự xác tín. Như các nhà toán học tin vào định đề Euclide hay các tín đồ Thiên Chúa tin vào sự sống lại của Jesus.”(Chương 1)

Phải chăng Tôi (Nguyễn Nhật Ánh) gọi niềm tin của tín đồ Thiên Chúa giáo là niềm tin bịa đặt? Nếu vậy, ông đã xúc phạm một cách mù quáng vào một trong những tín điều quan trọng bậc nhất của Kitô giáo! Thật đáng thương hại cho nhận thức ấu trĩ và vô trách nhiệm như vậy!

            Ở chương 8, Tôi “luận” về tự do làm những gì mình thích, “luận” về tôn giáo, pháp luật, đạo đức. Và sau một đoạn dài huyên thuyên “luận giải” vấn đề,  nhân vật Tôi la lên: “Ôi, tôi lại nói lăng nhăng những gì thế này, nghĩa là Tôi tự phủ định giá trị những chân lý, triết lý mà tôi vừa “trình làng” là “lăng nhăng”.

            (Ghi chú: không thể trích dẫn hết những đoạn Văn Nghị luận mà Tôi “luận” như thế)

            Vâng những đoạn dài Tôi “luận” về đủ thứ vấn đề “sống trên đời” như thế, nói bằng ngôn ngữ bình dân, là “nói lăng nhăng”, những chuyện tào lao, vô bổ, nhảm nhí! Làm gì có chuyện “bọn con gái khi buồn khổ thường ăn nhiều. Có đứa nhờ thất tình mà mập lên”; làm gì có chuyện những đứa trẻ thay đổi thói quen ăn uống lại liên quan đến chiến tranh “người Israel và người Palestine nã pháo vào nhau”; Chuyện thịt chó ở Hàn Quốc và chuyện Liên đoàn bóng đá thế giới trong Worl Cup 2002 liên quan gì đến bọn trẻ 8 tuổi ở Việt Nam? Đúng là chuyện khôi hài, để đọc cho vui. Không có “vấn đề” nào là nghiêm túc. Chẳng lẽ Giải ASEAN trao cho “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” vì giá trị “Tham luận” này?

            Nếu đây không phải là một “Tham luận” nghiêm túc thì giá trị còn lại của “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” là giá trị của một tiểu thuyết.

            “-Như tôi đã nói, có rất nhiều lý do khiến bản tham luận mà các bạn đang đọc sẽ không bao giờ được trình bày trên diễn đàn, thậm chí không được gửi tới cuộc hội thảo theo đúng kế hoạch … bản tham luận đáng lẽ đến nơi lý ra nó phải đến là cuộc hội thảo do UNESCO tổ chức thì cuối cùng nó lại rẽ ngoặt đến nhà xuất bản”(Chương 8).

            Vậy Tôi viết sách để làm gì? Tác giả nói đùa y như thật.

            “Chắc chắn các bậc làm cha làm mẹ không biết lũ con cái đã giở những trò gì sau lưng họ, mặc dù có thể chính là những trò mà các bậc làm cha làm mẹ khi còn bé cũng đã từng làm sau lưng các bậc làm ông làm bà đó thôi.

        Thực lòng mà nói, khi tôi quyết định phanh phui những chuyện này ra, những người mà tôi sợ nhất không hẳn là Hải cò và con Tủn, mà chính là ba mẹ tôi, cũng như ba mẹ tụi bạn tôi.

       Trong mắt các bậc làm cha làm mẹ khả kính đó, xưa nay chúng tôi vẫn là những đứa con ngoan, nhưng bây giờ khi đọc cuốn sách này họ chợt nhận ra chúng tôi không ngoan như họ tưởng, mặc dù rốt cuộc những đứa con không ngoan đó vẫn thành đạt trong xã hội, vẫn thành ông giám đốc này, bà hiệu trưởng kia, ông nhà văn nọ…

        Và tôi không chỉ sợ ba mẹ tôi, ba mẹ thằng Hải cò, ba mẹ con Tủn và ba con Tí sún. Mà sợ tất cả các bậc làm cha làm mẹ khác trên đời. Đọc xong cuốn sách này, họ sẽ giật nẩy mình, từ đó bắt đầu nhìn con cái bằng ánh mắt khắt khe hơn và dĩ nhiên là nhiều ngờ vực hơn cứ như thể đã là con cái thì thế nào cũng sắp sửa làm điều gì dó hết sức bậy bạ” (Chương 10).

3. NHỮNG “THỦ THUẬT” NGHỀ NGHIỆP

a. Chuyện của nhân vật Tôi

Nhân vật Tôi (tên là Mùi) là người kể chuyện, người phát ngôn, người đối thoại với bạn đọc. Nhiều lần Tôi nói chuyện trực tiếp với bạn đọc: “Bạn đọc thân mến của tôi, khi các bạn đọc tới dòng chữ này thì thú thật tôi vẫn còn nuôi trong lòng một bí mật. Chắc các bạn cũng thấy cuốn sách mà tôi đang viết và các bạn đang đọc không hề giống bất cứ cuốn sách nào tôi đã từng viết và các bạn đã từng đọc trước đây.”…(chương 5). Những đối thoại như thế này làm cho bạn đọc lầm tưởng những gì tác giả viết và mình đang đọc là thật, không phải hư cấu, mà là chuyện thật. Đó là một “thủ thuật” viết lách. Nhà văn làm cho người đọc tin rằng mình kể chuyện thật, có vậy mới thuyết phục, rằng chính tác giả là người trong cuộc, là một nhân chứng sống.

Trong “Cho tôi một vé đi tuổi thơ”, Tôi kể hai câu chuyện lồng trong nhau: thứ nhất là chuyện bọn trẻ nghịch ngợm lúc 8 tuổi, và thứ hai là truyện Mùi viết cuốn sách này.

Nhóm bạn gồm có Hải cò, Tý sún và Tủn. Khi trưởng thành, họ là những người đã thành đạt trong xã hội. Người là giám đốc, người là bà hiệu trưởng, người là ông nhà văn…

Tôi tên là Mùi, cha mẹ đặt tên như thế vì Tôi sinh năm Mùi, ở một thị trấn buồn tẻ (chương 11). Tôi thi trượt ở tuổi 15, thất tình ở tuổi 24, thất nghiệp ở tuổi 33 và gặt hái mọi thành công ở tuổi 40. Khi tôi được 9 tuổi thì mẹ tôi sinh em bé. Khi tôi 17 tuổi thì em gái tôi lên tám. Tôi cùng Hải cò, con Tủn và con Tí sún nghĩ ra hết trò này đến trò khác để thu xếp cuộc sống theo ý mình, trong đó lắm trò ngu ngốc nhưng cũng không ít trò thông thái.

Mùi kể: Tôi thích con Tủn. Sau đó, con Tủn chuyển nhà đi nơi khác. Ba nó tìm được một công việc ngon lành ở thành phố, thế là cả nhà theo chân ba nó…(chương 10). Mười năm sau, tôi gặp lại con Tủn khi tôi lên thành phố học đại học (Thằng Hải Cò lên trước một năm. Năm sau tới lượt Tôi và con Tí sún).

Trong nhiều năm liền, bốn đứa tôi đã cặp kè với nhau vui vẻ như những ngày thơ ấu. Tôi đã tíu tít với con Tủn bao nhiêu là chuyện, trừ chuyện ngày xưa tôi thích nó. 10 năm sau nữa, tức là vào lúc hai đứa tôi đã 28 tuổi và con Tủn chuẩn bị lên xe hoa, tôi mới thú thật với nó những gì tôi nghĩ về nó 20 năm trước.

b. Nội dung mang tính truyện.

Tôi thuật lại những trò nghịch ngợm của lũ trẻ 8 tuổi, “- những chuyện vụn vặt của tụi mình hồi nhỏ..”(đã nói ở trên). Những trò này tuy có thực một phần trong đời sống trẻ, nhưng khi được tái hiện, Tôi đã hư cấu, làm méo mó và thổi phồng lên rất nhiều (để gây sốc, câu view).

Chẳng hạn, tâm trạng buồn chán của Tôi. Tôi được miêu tả như một một người lớn trầm cảm hiện sinh. Hoặc, làm sao trẻ con 8 tuổi đã có ý thức “tập tành làm nhà cách mạng bé con, chán nản khi không thay đổi được thế giới, đã thế còn làm vạ lây cho người khác”(chương 2) và bằng trò chơi đổi tên sự vật, bọn trẻ muốn “làm cho thế giới mới mẻ, tinh khôi như được sinh ra lần nữa”(chương 3); chuyện hẹn hò lên giường, chuyện nuôi chó hoang trong nhà để rồi con Tí sún phát hiện đàn chó vơi dần và tình cờ bắt gặp ba nó đang chén chú chén anh với ba thằng Hải Cò trong quán rượu lão Ba Đực, trước mặt là một mâm thịt được tô điểm bởi lá mơ và củ riềng…

Những chuyện như thếlà hư cấu, vì trẻ con 8 tuổi chưa thể có tâm trạng và suy nghĩ như vậy. Chúng chưa thể có tư tưởng muốn làm “nhà cách mạng” để “định nghĩa lại thế giới”. Đơn giản, chúng chưa biết cuộc đời này là gì thì sao muốn thay đổi! Chúng sống hồn nhiên, quấn lấy cha mẹ, và trong tí não trẻ, chúng vẫn tư duy bằng thế giới thần thoại.

Vấn đề là, Tác giả viết “Cho tôi một vé đi tuổi thơ” cho lớp độc giả nào? Cho tuổi thơ hay cho người lớn, cho các bậc cha mẹ hay cho các nhà giáo dục? Và, viết để làm gì?

Mục đích viết chi phối toàn cụ quá trình kiến tạo tác phẩm.

c. Nhân vật Tôi chính là tác giả.

Đây là câu văn nói rõ điều ấy: “Chắc các bạn cũng thấy cuốn sách mà tôi đang viết và các bạn đang đọc không hề giống bất cứ cuốn sách nào tôi đã từng viết và các bạn đã từng đọc trước đây.”…(Chương 5). Đó chính là cuốn “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ”.

Người viết cuốn sách này chính là tác giả Nguyễn Nhật Ánh, cũng là cuốn sách chúng ta đang đọc. Nguyễn Nhật Ánh đã viết nhiều tác phẩm trước cuốn sách này. Ông thổ lộ: “Những ngày ngồi cặm cụi gõ những con chữ này tôi còn nghiệm ra rằng…”

Trong truyện này, Nguyễn Nhật Ánh phơi bày nhiều “thủ thuật” viết lách khi bị Hải cò và con Tủn phản đối việc kể lại những trò hư hỏng lúc nhỏ. Hải cò trên dưới 50 tuổi, là giám đốc một công ty lớn, còn Tủn là Hiệu trưởng một ngôi trường lớn, “không thể nhận một tin nhắn kiểu như “Chiều nay chúng ta lên giường một chút chăng?” hồi tám tuổi. Học sinh và phụ huynh học sinh sẽ nghĩ sao về em, đúng không?”(chương 5), Tôi phải nhượng bộ bằng cách đổi tên nhân vật.

Việc tác giả đồng nhất với nhân vật, trở thành nhân vật, ngồi giữa trang sách, kể chuyện, bình luận, phô diễn mọi suy nghĩ cảm xúc cá nhân… là cách viết của tiểu thuyết thời Hồ Biểu Chánh (1885-1958). Nếu là cách viết hiện đại, tác giả chỉ kể chuyện trẻ con, không để nhân vật Tôi “luận” những thứ “lăng nhăng” không can dự đến sự phát triển của cốt truyện. Nhưng Nguyễn Nhật Ánh đã đưa vào tác phẩm nhiều đoạn Văn Nghị luận dài, nói những chuyện “con cà con kê, lăng nhăng”, làm mất tính văn chương của tiểu thuyết và làm nặng nề trang văn viết cho trẻ con, viết về trẻ con. Cho nên, nếu độc giả là trẻ con, chúng sẽ không thích những đoạn nghị luận về người lớn. Còn nếu độc giả là người lớn, sẽ chẳng ai quan tâm đến những lời bàn  “lạc đề” của Tôi.

Nhìn ở phía nào, tác phẩm cũng mất đi rất nhiều vẻ đẹp văn chương.

d. “Văn chương thị trường”

Tất cả các nhân vật đều không được miêu tả nhân thân, không được đặt vào bối cảnh sinh sống và các mối quan hệ xã hội. Người đọc chỉ thấp thoáng biết Tôi ở một thị trấn buồn tẻ, rồi lên thành phố học. Hiện tại, Tôi trên 40 tuổi, là nhà văn. Hải trên 50 tuổi là giám đốc công ty lớn, Tủn là hiệu trưởng một trường lớn, tất cả có gia đình, nhiều năm họ quan hệ bạn bè với nhau.

Người đọc không thể tìm thấy một chi tiết hiện thực nào về xã hội Việt Nam từ khi Tôi 8 tuổi đến khi Tôi trên 40 tuổi. Chẳng lẽ trong 32 năm ấy (lấy năm xuất bản 2008 làm mốc, nghĩa là từ 1976 đến khi sách xuất bản) không có một biến cố xã hội nào được ghi nhận? Cũng tuyệt nhiên không có sự vận động số phận và sự phát triển tính cách, tư tưởng của các nhân vật được khám phá. Nhân vật không có số phận, không có tính cách. Không hoạt động trong không gian, thời gian hiện thực.

Tuy tác giả chỉ kể các sự việc khi nhóm bạn 8 tuổi, nhưng việc viết cuốn sách này lại là một chặng đường dài, từ khi 8 tuổi đến khi nhóm bạn đã thành đạt (giả định là 32 năm). Từ những yếu tố ấy, người đọc có thể khẳng định, những chuyện được kể và những nhân vật trong Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ là hoàn toàn hư cấu. Tác giả bịa ra các trò nghịch và gán cho nhân vật rồi dẫn dắt người đọc bằng những suy nghĩ trực tiếp của mình.

Tác giả biết rõ điều này: “Bây giờ, tức là lúc ngồi viết lại câu chuyện này, dĩ nhiên tôi thừa biết hồi đó chính yếu tố tâm lý đã tác động đến khẩu vị của bọn tôi. Sự thay đổi của hoàn cảnh đã dẫn đến sự thay đổi của cảm xúc”, nghĩa là, hoàn cảnh có thể tác động làm thay đổi số phận nhân vật. Sở dĩ người lớn nhận thức, suy nghĩ, hành động khác trẻ con vì người lớn đã trải nghiệm nhiều hoàn cảnh sống.

Vậy mà, tác giả lại không miêu tả bối cảnh hiện thực để lý giải sự vận động, biến đổi số phận và tính cách nhân vật. Có thể đó là sự né tránh vì 32 năm từ 1976 đến 2008 (giả định vậy) hiện thực Việt Nam có những chuyển biến lớn: sau 1975 là 10 năm khó khăn, sau đó  là “đổi mới” (1986), xóa bỏ nền kinh tế bao cấp, chuyển sang kinh tế thị trường hội nhập toàn cầu hóa. Xã hội Việt Nam có những biến chuyển lớn lao…Cũng có thể, tác giả không miêu tả hiện thực để tác phẩm viết về trẻ con được nhẹ nhàng?

Dù vậy, nhưng tôi vẫn thấy dấu vết những ám ảnh của hiện thực:

-“Người lớn bảo trẻ con chúng tôi tri thức mới là kho báu thực sự, nhưng nhiều người trong số họ không hề muốn chinh phục tri thức mà chỉ thích săn tìm bằng cấp. Người lớn cũng nói như vậy về tình yêu và đối xử với tình yêu cũng với cách thức thô bạo như họ đã đối xử với tri thức (chương 10).

-“Lúc tôi đang ngồi viết lại câu chuyện này, trong vòng bán kính một cây số tính từ chỗ tôi ngồi có ít nhất năm nhà hàng đặc sản, ở đó người ta quảng cáo và bày bán không thiếu một món ăn lạ lẫm nào: nai, chồn, rắn, tê tê, nhím, thằn lằn núi, đà điểu…”

4. ĐÔI ĐIỀU PHÂN VÂN

Rõ ràng, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ là một tác phẩm hư cấu, mang nhiều đặc điểm của văn chương thị trường.

 Tác giả trực tiếp trở thành nhân vật, “huyên thuyên” “luận” về những vấn đề “lăng nhăng”, “những lời con cà con kê “ ở trên đời” (như luận về thịt chó, về món ăn, về tình yêu, về sự bịa đặt, vợ như cái tivi hỏng volumn…) nhưng lại không có vấn đề cụ thể nào của xã hội Việt Nam. Chính Hải cò đề nghị: “…dẹp quách cái bản tham luận vớ vẩn của cậu đi”. Và nhiều lần, “Luận” xong rồi Tôi kêu lên: “Ôi, tôi lại lạc đề mất rồi.”(chương 7). Có nghĩa là, những đoạn “luận”như thế không phải là văn bản nghệ thuật, không nằm trong mạch truyện kể về những kỷ niệm của bọn trẻ lúc 8 tuổi, nó là sự lắp ghép cố ý để tác giả trực tiếp trình bày diễn ngôn, và hoàn toàn có thể bỏ đi mà không ảnh hưởng đến truyện của những đứa trẻ  8 tuổi.

Một chức năng quan trọng của ngôn ngữ là sự “lên tiếng nói” (diễn ngôn) của chủ thể phát ngôn. Tác phẩm văn chương là một văn bản ngôn ngữ, tức là diễn ngôn của tác giả thông qua ngôn ngữ nghệ thuật. Dù tác giả có “đeo mặt nạ”, có ẩn danh trong nhân vật, thì tác phẩm luôn là diễn ngôn của tác giả. Nguyễn Nhật Ánh đã “tham luận đủ thứ “những lời con cà con kê; lăng nhăng” trong tác phẩm, đó là diễn ngôn của chính tác giả. Như đã nói ở trên, những diễn ngôn ấy không có một chút giá trị hiện thực nào, ngoại trừ chỉ để mua một cái nhếch mép cười của người đọc. Nếu Nguyễn Nhật Ánh bàn luận nghiêm túc về các lý thuyết giáo dục, đặt vấn đề có trách nhiệm với hiện thực “đổi mới” ở Việt Nam, và trình bày những triết thuyết có ý nghĩa tích cực cho đời sống, tất cả, thông qua hình tượng văn học, thì “diễn ngôn” của Nguyễn Nhật Ánh sẽ đem đến nhiều giá trị cho tác phẩm. Nhưng Nguyễn Nhật Ánh đã không có khả năng xây dựng hình tượng nhân vật  tư tưởng như thế.

Tác giả đặt một trục đối lập trẻ con – người lớn. Khi ca ngợi bọn trẻ “làm cách mạng”, thì cả tác phẩm là một cáo trạng những điều xấu xa của người lớn, cả cha mẹ bọn trẻ. Điển hình là, tòa án mà bọn trẻ xét xử cha mẹ chúng. Và khi phải “xử lý” những trò hư của bọn trẻ, tác giả phải đứng về phía cha mẹ, nhà trường, thì biện pháp giáo dục là cha mẹ đánh đòn và la mắng trẻ (giáo dục hiện đại tuyệt đối cấm bạo hành trẻ. Phương pháp chính là giáo dục thuyết phục, không phải là “hay chữ dữ đòn” như Tôi kể lại). Một cấu trúc như thế có ý nghĩa gì về giáo dục?

Tác phẩm, tuyệt nhiên không đặt vấn đề giáo dục đạo đức truyền thống, cũng tuyệt nhiên không nhắc gì đến những quan điểm giáo dục Việt Nam hiện tại (mối quan hệ gia đình-nhà trường-xã hội), mà chủ yếu trình bày “tham luận “ của cá nhân Tôi (tác giả), theo một cái nhìn hết sức lệch lạc.

Nguyễn Nhật Ánh coi sự chăm sóc (bữa ăn, giấc ngủ, học hành) và giáo dục nghiêm nhặt của cha mẹ ở gia đình là tù hãm, là tẻ nhạt, buồn chán; trái lại, ca ngợi những trò nghịch ngợm, làm khác đi, lật đổ, phá phách, vượt ra ngoài những chuẩn mục đạo đức, giáo dục mới là khám phá, là niềm vui, mới là sự “kỷ niệm hồn nhiên” của trẻ (lật đổ ý nghĩa sự vật truyền thống, đặt nghĩa mới, làm xáo trộn mọi sinh hoạt đời sống; phá sạch vườn cây nhà Hải cò; dựng tòa án xét tội cha mẹ,…). Sợ làm mất lòng các bậc cha mẹ, Nguyễn Nhật Ánh phải vuốt ve: “các bậc làm cha làm mẹ không nên lo lắng thái quá …”(chương 12).

Tất cả những trò nghịch của bọn trẻ 8 tuổi không có ý nghĩa tích cực nào về giáo dục, nhưng với Nguyễn Nhật Ánh, thì những đứa trẻ ấy, lớn lên vẫn trở thành giám đốc một công ty lớn, trở thành hiệu trưởng một trường lớn, thành nhà văn…

Một quan điểm giáo dục như thế hoàn toàn là phản giáo dục. Và với thái độ diễn ngôn như vậy, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh lộ ra điều gì trước mắt người đọc? (Xin đừng ngụy biện rằng đó là quan điểm của nhân vật Tôi, tức là Mùi, trong tác phẩm. Ở phần trên của bài viết này, tôi đã nói nhân vật Tôi chính là tác giả).

Nguyễn Nhật Ánh viết: “…để sống tốt hơn đôi khi chúng ta phải học làm trẻ con trước khi học làm người lớn”, vậy người đọc là người lớn, sẽ học bọn trẻ 8 tuổi của Nguyễn Nhật Ánh những gì? Học “làm cách mạng” như trẻ con chăng? Học cách “định nghĩa lại thế giới” chăng? Học cách hồn nhiên mời bạn lên giường chiều nay chăng, hay học nuôi chó hoang để cho bố có mổi nhậu, và đặc biệt là, học phá phách và học cách lôi cha mẹ ra tòa mà “đấu tố”? Tất nhiên Nguyễn Nhật Ánh sẽ trả lời khác, nhưng diễn ngôn của ông và hình tượng nhân vật sẽ nói thế!                                                     

Nguyễn Nhật Ánh hư cấu nhiều sự việc trái với quy luật tâm lý lứa tuổi. Thí dụ:  cho cho trẻ 8 tuổi buồn chán như một người 50 tuổi, suốt ngày suy tư về hiện sinh, rồi từ đó muốn làm “nhà cách mạng” để “định nghĩa lại thế giới”, trong khi chúng chưa thể hiểu ý niệm cách mạng là gì; Tám tuổi sao có thể mở phiên tòa kết án bố mẹ; tám tuổi không thể có khả năng mở trang trại nuôi chó hoang…lưu ý rằng đây là những đứa nhỏ ở một thị trấn buồn tẻ, chúng mới chỉ học lớp 2, chưa từng có trải nghiệm xã hội (tòa án, trang trại,…). Dù cuối tác phẩm, tác giả có nói vớt vát rằng: “tám tuổi, vẫn là trong trẻo lắm, vẫn khát khao cuộc sống …” thì tự thân hình tượng nhân vật trong tác phẩm đã phủ nhận điều ấy.

Tác giả đặt nhan đề, và nhiều phát ngôn “quái gở” gây “phản cảm”. Thí dụ: chương 8, “Chúng tôi trở thành lũ giết người như thế nào”; chuyện “tôi đã xúi cả bọn phá tanh bành khu vườn nhà nó” (chương 8), hoặc so sánh vợ “đại khái giống như một chiếc tivi bị hỏng volume” (chương 4). Hoặc “phiên tòa vô tiền khoáng hậu: trẻ con xử người lớn!” để bọn trẻ lôi cha mẹ ra tòa, chúng đập bàn, xử tội: “ba say rượu, ủi xe vô gốc cây, phải đưa đi cấp cứu, ba hổng nhớ hả?-Nhớ sao ba còn tiếp tục say rượu? Rủi ba có mệnh hệ gì thì vợ con bỏ cho ai nuôi? Việc con “xử” cha mẹ như bọn trẻ làm là hoàn toàn trái với đạo đức truyền thống Việt Nam, chẳng khác gì những màn “đấu tố” trong Cải cách ruộng đất ngày xưa! 

Sự ỡm ờ về thể loại văn bản: “tham luận” hay “tiểu thuyết”, giúp tác giả đánh tráo vai trò nhân vật trong nghệ thuật tiểu thuyết. Lẽ ra những thông điệp, những diễn ngôn giáo dục của tác giả phải được chuyển tải bằng hình tượng nghệ thuật, tức là chính hình tượng nghệ thuật toát ra ý nghĩa tư tưởng. Trái lại, trong Cho tôi một vé đi tuổi thơ, hình tượng những đứa trẻ 8 tuổi không toát ra ý nghĩa gì, đó chỉ là những hình ảnh “tự nhiên chủ nghĩa”. Tác giả phải giảng giải, phải “luận” “con cà con kê”, phải “huyên thuyên” gán cho câu chuyện những ý nghiã chủ quan của mình. Cái cách mà Tôi chỉ ra sự sai trái trong các hành động của trẻ là gượng gạo, không thuyết phục. Bởi, trong mạch văn, Tôi kể chuyện hào hứng, cổ vũ cho những ý tưởng “cách mạng”  của trẻ, nhưng rồi sau đó, Tôi buộc phài công nhận người lớn đúng, còn trẻ con thì bị bố mẹ cho ăn đòn…

Và đặc biệt là việc không khắc họa tính cách, số phận nhân vật, không đặt nhân vật trong “tổng hòa  các mối quan hệ xã hội”, không miêu tả sự vận động trong dòng chảy cuộc đời ảnh hưởng thế nào đến quá trình phát triển tính cách nhân vật. Không thực hiện trách nhiệm của văn chương trong việc xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Vì thế Nguyễn Nhật Ánh không kiến tạo được một tác phẩm có giá trị thực, không có được những nhân vật tư tưởng tích cực, kiểu như Hamlet (của Shakespeare), Jean Valjean (của V. Hugo), Chị Dậu (Ngô Tất Tố), Chí Phèo (Nam Cao), Dế Mèn (Tô Hoài) , Chị Sứ (Anh Đức)…

Xét ở những yếu tố thi pháp ấy, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, dù có tham vọng góp tiếng nói giáo dục, song vẫn chỉ là một tác phẩm giải trí, đem đến vài phút vui cho người đọc. Và nếu tỉnh táo, người đọc sẽ phát hiện ra những “thủ thuật” viết lách của văn chương thị trường. Nếu ngày xưa Duyên Anh viết “Ngựa chứng trong sân trường”(1971) thì ngày nay, Nguyễn Nhật Ánh viết “trẻ con trở chứng trong sân nhà”. Không có gì mới về kiểu sáng tác lấy việc đáp ứng thị hiếu của người đọc làm mục đích.

Xin đừng lấy Giải thưởng ASEAN làm bình phong quảng cáo! (Chuyện giải thưởng văn chương ở Việt Nam có thể viết thành một cuốn sách về những điểu làm buồn lòng người đọc.)

Tháng 6/ 2026

[1] Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ là cuốn sách được phát hành nhiều nhất năm 2008. Đến nay sách đã được tái bản lần thứ 65. Cuốn sách này bán chạy hơn 500.000 quyển. Tác phẩm giành giải Sách hay của Hội Xuất bản Việt Nam và Giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2009. Năm 2010, Nguyễn Nhật Ánh được đề cử và nhận được Giải thưởng Văn học Đông Nam Á với tác phẩm này.Wiki

KHÚC GIAO MÙA – Bùi Công Thuấn

Bạn có thể đọc bài viết của Bùi Công Thuấn trên trang: buicongthuan.com

KHÚC GIAO MÙA-Bùi Công Thuấn

Hàng 1: Doãn Quốc Sỹ, Du Tử Lê, Tô Thùy Yên – Hàng 2: Lê Lựu, Nguyễn Xuân Khánh, Phạm Thiên Thư – Hàng 3: Đặng Tiến, Nguyễn Huy Thiệp, Vũ Hạnh

***

Những năm gần đây, nhiều nhà văn, nhà thơ Việt Nam trên văn đàn đã trở thành “những người muôn năm cũ”(chữ của Vũ Đình Liên): những khuôn mặt lừng lẫy một thời: Doãn Quốc Sỹ (1923 – 2025), Vũ Hạnh (1926-2021), Dương Tường (1932-2023), Nguyễn Xuân Khánh (19332021), Nguyễn Đình Toàn (1936-2023); Tô Thùy Yên (1938-2019), Lê Lựu (1938-2022), Túy Hồng (1938-2020), Đặng Tiến (1940-2023); Phạm Thiên Thư (1940 – 2026), Du Tử Lê (1942-2019), Mường Mán (1947–2026), Nguyễn Đức Mậu (1948 – 2026), Nguyễn Huy Thiệp (1950-2021), Khôi Vũ – Nguyễn Thái Hải (1950–2026)…

Tôi hiểu một thời đã qua đi vĩnh viễn và một “kỷ nguyên mới” của văn học Việt Nam sẽ bắt đầu. Nhưng chưa thể hình dung được diện mạo, hình hài của nền văn học sau 2025 là như thế nào. Trong tôi, âm vang một khúc giao mùa.

Tôi đã viết về thành tựu của “40 năm Văn chương Việt Nam – Những gì còn lại với mai sau”(2016), “50 năm văn học Việt Nam, phác thảo một hướng nhìn”(2025), thành tựu của “45 năm văn học Đồng Nai”(2024), thành tựu của “Văn học Công giáo Việt Nam đương đại”(2020)…. Đó là những chuyên luận có tính nghiên cứu. Từ những tác giả, tác phẩm cụ thể tôi thử quan sát một tiến trình văn học sử, khách quan, dưới góc nhìn của những tiêu chí khoa học [[1]].

 Ở đây, tôi ghi lại nghĩ suy của mình, rất cảm tính, chủ quan và mơ hồ, về một tương lai mà mình chưa thể hình dung được. Tôi gọi những cảm thức này là “Khúc giao mùa”.

1. KẾT LUẬN CỦA BỘ CHÍNH TRỊ

            Ngày 05/01/2026, Bộ Chính trị, Ban Bí thư có Kết luận số 230-KL/TW “Về đề án sắp xếp, tinh gọn các Hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ…”, nội dung cụ thể (xin trích):

            “…các hội hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự trang trải về kinh phí, không vì mục tiêu lợi nhuận; tuân thủ pháp luật, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, và hướng dẫn, điều phối thống nhất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…”

            “7. Các cấp Ủy địa phương căn cứ nhu cầu, đặc điểm tình hình thực tiễn để quyết định danh sách các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ trên địa bàn, ưu tiên các hội trong danh sách các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở trung ương”.

            Căn cứ vào Kết luận này, từ nay, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vu, sẽ vận hành theo nguyên tắc: “tự nguyện, tự quản, tự trang trải về kinh phí, không vì mục tiêu lợi nhuận…”.

 Nói thẳng ra là: vì là hội quần chúng, hội viên phải tự lo mọi việc. Nhà nước quản lý Hội theo luật pháp. Hội quần chúng là của quần chúng. Ai muốn tham gia thì phải đóng góp.

Kết luận của Bộ Chính Trị đã đặt các Hội Văn học Nghệ thuật vào hoàn cảnh không biết sẽ xoay trở thế nào. Lúc trước, Nhà nước cấp nhà làm trụ sở Hội, cấp biên chế và trả lương cho nhân sự lãnh đạo Hội, cấp tiền in tạp chí hàng tháng, in đặc san, in tác phẩm đặt hàng. Cấp kinh phí tổ chức hội nghị, tọa đàm, tổ chức biểu diễn, triển lãm, tổ chức Ngày Thơ, tổ chức trại sáng tác, tổ chức các cuộc thi, khen thưởng, thăm viếng hội viên đau yếu, qua đời…

Tất cả những hoạt động ấy là để Hội thực hiện nhiệm vụ chính trị Đảng và Nhà nước giao. Bây giờ không được cấp kinh phí, Hội sẽ tồn tại trong hệ thống chính trị thế nào? Câu trả lời là: “Các cấp Ủy địa phương căn cứ nhu cầu, đặc điểm tình hình thực tiễn để quyết định”. Nghĩa là, nếu cấp Ủy địa phương thấy không có nhu cầu thì sẽ “quyết” bỏ qua các Hội quần chúng của địa phương.

            Trước đây, tôi tự hỏi, tại sao nhiều người xin vào Hội, và ghi nhận thiện ý này: tham gia Hội để phát huy tài năng. Sự thật là, nhiều người đã “trưởng thành” lên từ Hội. Nhưng tôi cũng hoài nghi rằng, có người nghỉ hưu, không biết làm gì, nên “tham gia cho vui”, thực chất là để cầu danh cầu lợi. Bởi vì: đăng một bài thơ 4 câu, không cần đặc sắc, làng nhàng cũng được, miễn là có vần có điệu, là có nhuận bút, rất hoan hỉ. Dự hội nghị thì có liên hoan, tay bắt mặt mừng hoan hỉ. Đi dự trại sáng tác 10 ngày, nửa tháng (mỗi năm 2 kỳ trại), được Hội lo chỗ ăn chỗ nghỉ (khách sạn), lo phương tiện đi lại (đi xa, có máy bay, có người lo hậu cần), được đi thực tế (tham quan) nhiều danh lam thắng cảnh đất nước, giao lưu với các hội văn nghệ địa phương: Hạ Long, Tam Đảo, Thanh Hóa, Đà Nẵng, Đà Lạt, Vũng Tàu, Phú Quốc…tình yêu quê hương đất nước dạt dào trong sáng tác của trại viên.

Lý do chính là, được đi chơi nhưng hội viên không phải góp đồng nào, thế là hoan hỉ. Còn chất lượng tác phẩm dự trại, không ai bận tâm. Sau tổng kết trại, Ban Tổ chức cất vào kho, xong! Hoàn thành tốt kế hoạch của năm.

 Cả nước 64 tỉnh (lúc chưa sát nhập), có 64 Hội Văn học Nghệ thuật, mỗi Hội có hàng trăm hội viên, số hội viên nhiều vô kể. Ra đường, đâu cũng chạm mặt “nhà thơ”! Thí dụ: Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP.HCM có hơn 5.400 hội viên, Hà Nội có khoảng 4.361 hội viên, Hội Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai có hơn 600 hội viên…Bạn thử nhân lên, 64 Hội trong cả nước thì sẽ thấy lực lượng “quần chúng” làm văn nghệ đông đảo thế nào. Tác phẩm của Hội quần chúng phải cao thành núi.

Tiếc là, 50 năm qua, chưa có tác phẩm nào viết ở trại sáng tác thuộc các Hội Văn học Nghệ thuật địa phương lọt vào top 50 tác phẩm xuất sắc được bộ Văn hóa vinh danh. Nhưng 50 năm, Nhà nước, đã phải chi ra bao nhiêu tỷ đồng tiền thuế của dân để “nuôi” lực lượng này!

Từ giờ trở đi, phải góp tiền túi cho mọi sinh hoạt hội, chưa rõ hội viên sẽ tham gia thế nào!

            Một vài sự việc cụ thể:

   1.Ngày 10/04/2026, Ban Nhà văn nữ (Hội Nhà văn Việt Nam) tổ chức tại Hà Nội chương trình giao lưu “Nhà văn nữ Việt Nam: Sống và Viết”. Văn phòng Hội Nhà văn gửi thư mời hội viên cả nước. Thư mời ghi chú: “Hội viên tham dự tự túc việc đi lại”. Nhận thư mời, hội viên ở xa đành không thể tham gia, vì vé máy bay bây giờ rất mắc.

Hội Nhà văn cũng thông báo tạm ngưng việc gửi Báo Văn nghệ, tạp chí Viết & Đọc; Nhà văn và Cuộc sống cho hội viên vì chưa có kinh phí.

Và đến nay, Đại hội đại biểu Hội Nhà văn  nhiệm kỳ 2026-2030 vẫn chưa tổ chức được.

2.Ban biên tập tạp chí Văn nghệ Đồng Nai thông báo: từ số Xuân năm 2026, nhuận bút giảm 40%, mong cô bác thông cảm.

3.Chi Hội Nhà văn Đồng Nai báo cáo ngày 21/01/2026:

Kế hoạch hành động năm 2026 của Chi Hội Nhà văn Đồng Nai là:

Dự kiến 02 chương trình đi thực tế sáng tác trên địa bàn tỉnh theo phương thức tự đóng góp tham gia; thực hiện tập san Văn học Đồng Nai số 1 (kinh phí: tự đóng góp); tham gia, phát hiện bồi dưỡng lực lượng trẻ…

“Về kinh phí: Các hội viên của Chi hội đóng góp cho các chương trình hoạt động chung; các hoạt động riêng (hoặc nhóm) thì mỗi người đóng góp phần tham gia của mình trên cơ sở tự nguyện. Ngoài ra, các thành viên có thể đóng góp thêm hoặc kêu gọi xã hội hóa từ các nguồn khác theo khả năng của mình”.

Đây là kế hoạch trại:

Thực hiện kế hoạch của Chi hội Nhà văn TP. Đồng Nai, và được sự thống nhất của lãnh đạo xã Phú Hòa, Chi hội sẽ tổ chức chương trình thực tế sáng tác  02 ngày 01 đêm tại xã Phú Hòa (tp. Đồng Nai) từ ngày 26 đến 27/6/2026. Mời quý hội viên của Chi hội đăng ký tham gia chương trình từ nay đến 12h trưa ngày 25/6 (thứ 5) để công tác chuẩn bị được chu đáo. Kinh phí tạm thu trước 1.000.000/người (một triệu đồng). Rất mong toàn thể Chi hội tham gia để có trải nghiệm tại một xã nông thôn mới của TP. Đồng Nai, và có nhiều sáng tác mới. Trân trọng!”

Sáng ngày 26/6/2026 có 9 (tổng số 18)  nhà văn báo không dự (vì lý do riêng). Có 6 người dự trại

(Dự trại Phú Hòa-Ảnh của Phạm Văn Hoàng)

Như vậy, hoạt động của Chi Hội Nhà văn Đồng Nai đã vận hành theo chỉ đạo: “tự nguyện, tự quản, tự trang trải về kinh phí,…”.

 Chưa biết hiệu quả của phương thức hoạt động mới này thế nào.

Vâng, Kết luận 230 của Bộ Chính trị đã tạo ra một “bước ngoặt lịch sử” cho hoạt động của các hội quần chúng do Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ. “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng“, chắc chắn các Hội quần chúng sẽ vẫn hoạt động tốt thôi.

2. VĂN HỌC VIỆT NAM TRONG “KỶ NGUYÊN MỚI”?

Tôi thấy trước mặt rất nhiều khó khăn.

Làm thế nào để thực hiện nhiệm vụ chính trị?

Các Hội quần chúng là tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị trong hệ thống chính trị cả nước. Nói cụ thể, Hội là lực lượng cách mạng của quần chúng được tổ chức và lãnh đạo, chiến đấu trong mặt trận văn hóa tư tưởng. Hội quần chúng không hoạt động theo mục đích, tôn chỉ riêng của mình.

Rồi đây, không biết lãnh đạo Hội sẽ làm thế nào để thực hiện kế hoạch của Hội như: kết nạp hội viên (quy tụ quần chúng), đào tạo đội ngũ, mở các cuộc thi để tìm tài năng, tìm tác phẩm đỉnh cao; đặt hàng, đầu tư cho những công trình nghiên cứu trọng điểm, in ấn tác phẩm, tổ chức các hội nghị (tọa đàm văn học, Hội nghị Lý luận phê bình Văn học Nghệ thuật, Hội nghị công tác văn học hàng năm, Ngày Thơ Việt Nam,…). Và nếu không tổ chức các hoạt động (ở trên), thì không có lực lượng cầm bút, không có tác phẩm, không có người bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, không có người gìn giữ và bồi đắp nền văn hóa dân tộc, lấy gì để chống lại các cuộc xâm lăng văn hóa tràn từ bên ngoài vào?

Đảng đã chỉ rõ: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Văn hóa phải được đặt ngang hàng và phát triển hài hòa với kinh tế, chính trị, xã hội;… Phát huy mọi nguồn lực phát triển để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc[[2]]

            Đã đến lúc phải đánh giá lại hiệu quả thực sự của các “hội quần chúng do Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ”, phải thay đổi phương thức hoạt động để đáp ứng yêu cầu của “kỷ nguyên mới”.

Không thể có tình trạng cả nước có nhiều chục ngàn “nhà thơ, nhà văn” trong các Hội văn học nghệ thuật, tiêu tốn bao nhiêu tỷ đồng tiền thuế của dân, mà 50 năm qua, không có “tác phẩm đỉnh cao” nào được vinh danh.

Đây là mục tiêu đến năm 2030:

Hằng năm có từ 10 – 15 công trình nghiên cứu lý luận phê bình văn hóa, nghệ thuật chất lượng được công bố; có 02 tác giả đạt giải thưởng văn học ASEAN và khoảng 20 – 30 tác phẩm, công trình văn hóa, văn học nghệ thuật về lịch sử dân tộc, lịch sử đấu tranh cách mạng và công cuộc đổi mới của đất nước. Xây dựng Chương trình sáng tác, nghiên cứu về văn hóa – nghệ thuật Việt Nam trong 100 năm (1930 – 2030) dưới sự lãnh đạo của Đảng”[[3]].

Và, đây là một giải pháp:

Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật, tạo điều kiện cho sự sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ để có nhiều tác phẩm có giá trị tự tưởng và nghệ thuật, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân tộc, dân chủ, tiến bộ, phản ảnh chân thật, sinh động, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước. Đẩy mạnh sáng tác, quảng bá tác phẩm, công trình về đề tài cách mạng, kháng chiến, công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, lịch sử dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng 100 năm qua”[3, đd].

Lấy đâu ra tài năng văn học?

Hiện nay, lớp nhà văn “chuyển tiếp” còn rất mỏng. Trên văn đàn có thể kể: Tạ Duy  Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp,…(tôi xin không nêu tên các nhà văn lớn tuổi, thời của họ đã qua).

Nhiều “ngôi sao” lóe sáng đầu thế kỷ XXI, tưởng sẽ rực rỡ, nhưng đã tắt ngấm từ bao giờ. Thí dụ: Vy Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thúy Hằng, nhóm Ngựa Trời (Lynh Bacardi, Khương Hà, Nguyệt Phạm, Phương Lan, và Thanh Xuân), Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Vĩnh Tiến, Nguyễn Hữu Hồng Minh (tác giả này thân bại danh liệt vì bài thơ Lỗ thủng lịch sử)[[4]]…

Những tác giả trẻ, triển vọng của những năm 2025 chưa có nhiều, họ mới chỉ thành công bước đầu khẳng định được tên tuổi. Trong danh sách 138 đại biểu dự Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc lần X, tổ chức tại Đà Nẵng ngày 18-19.6.2022, đến nay có bao nhiêu người có tác phẩm đóng góp được vào sự phát triển của văn học Việt?[[5]]. Tôi chưa thấy tên tuổi họ như khi Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện.

Những người viết trẻ “nổi tiếng” lại thuộc dòng “Văn chương thị trường” (Dương Thụy, Gào, Hamlet Trương,  Iris Cao, Nguyễn Ngọc Thạch, Phan Ý Yên,  Anh Khang…) không hy vọng đóng góp được gì vào sự phát triển của văn chương Việt, bởi “Văn chương thị trường” có mục đích lợi nhuận. Nó tìm cách đáp ứng thị hiếu của người đọc bằng nhiều thủ thuật…

Con đường sáng tạo còn rất dài trước mặt. Ai sẽ ghi dấu chân của mình trong hành trình lịch sử văn học Việt?

            Và nếu không có một lực lượng hùng hậu nhà văn nhà thơ tài năng (như thế hệ kháng chiến chống Mỹ, thế hệ đổi mới), thì 50 năm nữa, không biết văn học Việt Nam sẽ có những thành tựu gì?

Tôi suy nghĩ mãi điều này. Văn học Việt Nam chủ yếu là “văn học phản ánh hiện thực”. Chỉ khi nhà văn sống chân thực với lịch sử, nhận thức được trách nhiệm của ngòi bút với cuộc sống, cảm nhận được tận cùng cõi nhân sinh, anh ta mới có khả năng góp tiếng nói có giá trị. Người trẻ hôm nay chỉ biết lướt web, cắm mặt trên màn hình điện thoại, sống ảo với Cái Tôi cô độc, thì lấy đâu ra “vốn sống” làm hành trang sáng tác.

 Con đường sáng tạo là rất khó khăn. Những nhà văn dấn thân tiên phong không thiếu người phải chịu cảnh “lên bờ xuống ruộng”(Chữ của Nguyễn Mạnh Tuấn – tác giả của tiểu thuyết Cù lao Tràm. 1985) Trước kia là Hoàng Cầm, Quang Dũng, Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt. Thời đổi mới là Nguyễn Mạnh Tuấn (Cù lao Chàm, Đứng trước biển), Lê Lựu (Thời xa vắng), Bùi Ngọc Tấn (Chuyện kể năm 2000), Phùng Gia Lộc (Cái đêm hôm ấy đêm gì), Trần Huy Quang (Linh nghiệm), Bảo Ninh (Nỗi buồn chiến tranh) …

Nguyễn Du (1766-1820) phải trải qua “thập tải phong trần”(1786–1796), trầm luân dâu bể thời Lê Hiển Tông, Quang Trung, Gia Long,  mới viết được những áng văn bất hủ.

Cái yếu nhất của cây bút trẻ là thiếu vốn sống.

Hiện thực kháng chiến chống Mỹ vĩ đại đã làm nên văn học văn kháng chiến. Những biến động lịch sử (1975-1985) xô đẩy Việt Nam đến bên bờ khủng hoảng khốc liệt đòi hỏi Việt Nam “đổi mới”, hiện thực ấy mới cho ra đời “văn học đổi mới” mà nhiều tác phẩm xuất sắc được Bộ Văn hóa vinh danh: (Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh); Mình và họ (Nguyễn Bình Phương); Mẫu Thượng Ngàn (Nguyễn Xuân Khánh); Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường); Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng); Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu); Con gái thuỷ thần (Nguyễn Huy Thiệp); Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư); Thời xa vắng (Lê Lựu); Bến không chồng (Dương Hướng); Đảo chìm (Trần Đăng Khoa); Những người đi tới biển (Thanh Thảo); Đường tới thành phố (Hữu Thỉnh); Tiếng hát tháng Giêng (Y Phương).

Không có hiện thực vĩ đại ấy của dân tộc (hiện thực cách mạng và kháng chiến, đổi mới), văn học Việt Nam 1975-2025 đã không thể có thành tựu.

Nhưng 50 năm tới, hiện thực Việt Nam sẽ thế nào, chưa ai hình dung được. Lịch sử luôn biến động khôn lường. Tâm thức và tư tưởng của nhân loại cũng sẽ vận động phức tạp (Hiện đại, Hậu Hiện đại và gì nữa?…). Những trào lưu nghệ thuật mới nào sẽ chiếm lĩnh văn đàn thế giới?… Tất cả chưa lộ diện. Làm sao người viết trẻ có thể lăn mình vào cuộc sống vĩ đại của nhân dân để khám phá, sáng tạo và lên tiếng nói thời đại của mình. Nếu người viết trẻ chỉ viết văn chương thị trường như Gào, Dương Thụy, Hamlet Trương…thì văn học Việt sẽ đi về đâu?

Để viết tác phẩm lớn, nhà văn Việt Nam có hội nhập được “hiện thực toàn cầu hóa” để nói tiếng nói của thời đại không? Như V. Hugo, Lev Nikolayevich Tolstoy, E. Hemingway chẳng hạn). Có xây dựng được những hình tượng có tầm vóc nhân loại (nhân vật của Shakespear, chẳng hạn), và khám phá ra những kiểu tư duy nghệ thuật mới (nguyên lý “tảng băng trôi” của Hemingway, hoặc tiểu thuyết mới của Alain Robbe-Grillet, chẳng hạn) góp phần phát triển văn học thế giới (như F. Kafka, R. Tagiore, J. P. Sartre, Gabriel García Márquez, Alain Robbe-Grillet…?

Điều quan trọng là: tìm đâu ra thế hệ tài năng như vậy, nếu người viết trẻ vẫn được đưa vào Hội để khoác lên một bộ đồng phục, để cùng đồng ca một bài, cùng cất một giọng!

Văn học của “Kỷ nguyên mới” sẽ viết thế nào?

Năm 1946, Trần Dần và nhóm Dạ Đài (Trần Mai Châu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch, và Vũ Hoàng Chương) đã đòi “chôn Thơ Mới”. Ở Sài Gòn những năm 1960, nhóm Sáng Tạo (Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Lữ Hồ…) coi đổi mới thơ ca là nhiệm vụ sống còn, phải “đốt”, phải “chôn” các thể thơ cũ. Và từ những năm 1960-1970, Lê Đạt (1929-2008) và nhóm “Dòng chữ” (Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, Hoàng Hưng) [[6]] đã có những nỗ lực cách tân thơ, họ tập trung vào chữ…

Về văn xuôi, những đòi hỏi đổi mới cũng rất mạnh mẽ. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa không còn đáp ứng việc phản ánh hiện thực mới mới sau chiến tranh. Năm 1987, Nguyễn Minh Châu viết “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”[[7]]. Năm 2006, Nguyễn Khải viết Đi tìm cái tôi đã mất [[8]]. Hoàng Ngọc Hiến cho rằng “Chủ nghĩa hiện thực phải đạo” là trở ngại của văn học Việt “trên con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực”[[9]]. Và từ khi đất nước đổi mới (1986) các nhà văn (Tô Hoài, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài…) đã tìm đến những cách viết khác.

Thực ra, Phương pháp sáng tác Hiện thực Xã hội chủ nghĩa đã tồn tại độc tôn ở Việt Nam từ những năm 1948 (Báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam của Trường Chinh). Đến  khi đất nước mở cửa hội nhập toàn cầu hóa, các trào lưu nghệ thuật – tư tưởng bên ngoài tràn vào, giới nghiên cứu học thuật buộc phải nhìn lại quá trình văn học Việt, và nhận ra Chủ nghĩa hiện thực Xã hội chủ nghĩa không còn đáp ứng yêu cầu lý luận và sáng tác trong thực tại mới. Người ta ồ ạt thử nghiệm các trào lưu mới: thơ Siêu thực, tiểu thuyết hiện sinh, Hiện thực huyền ảo, Tiểu thuyết mới, Hậu hiện đại, Cấu trúc luận, Giải Cấu trúc, Phân tâm học, Ký hiệu học, Nữ quyền luận, phê bình sinh thái…

Và rồi, sau những “thử nghiệm” tưởng là những khám phá mới (thực ra, đã rất cũ so với thế giới), người sáng tác loay hoay mãi vẫn không viết được tác phẩm nào có giá trị tư tưởng và nghệ thuật tốt hơn; nhà lý luận cũng trăn trở nhưng vẫn không đúc kết được một nền lý luận riêng của Việt Nam. Dù rằng GS Trần Đình Sử và PGS-TS Đỗ Lai Thúy có thử nghiệm, song không một nhà lý luận văn học Việt Nam nào khám phá được một lý thuyết văn học mới để sánh vai với lý luận văn học thế giới (F. Saussure, M.M.Bakhtin, J. Derrida, M. Foucault, R. Jakobson, Roland Barthes…).

Xu hướng sáng tác “truyền thống” vẫn là dòng chủ lưu. Tất cả sự “đổi mới” cũng chỉ dừng ở “sự tìm tòi, thể nghiệm”(chữ của Nghị quyết 23 Bộ Chính trị ngày 16/6/2008). Chưa có “tác phẩm đỉnh cao”, tài năng văn học Việt đã phơi bày ra hết, cũng chỉ chừng ấy tác giả, tác phẩm. Nhìn chung, dù có khác về nội dung, giọng điệu, cách thể hiện, song văn học Việt Nam trước sau cũng chỉ “phản ánh hiện thực”, chưa vượt lên trên hiện thực mà chưng cất những tác phẩm tư tưởng.

Văn học Việt chỉ “phản ánh hiện thực”, vì thế, tác phẩm mới dừng ở việc ghi chép những gì mắt thấy, tai nghe; những việc tác giả đã trải nghiệm trong đời thực (vốn sống). Nhà văn chưa sáng tạo được những tác phẩm tư tưởng, chưa chuyển tải những tư tưởng lớn của thời đại. Viết về chiến tranh cách mạng vẫn là “Ta nhất định thắng, địch nhất định thua”, viết về “hiện thực không cách mạng”, vẫn là khuynh hướng “phê phán hiện thực” như thời của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao. “Văn chương thị trường” thì xào nấu lại văn chương thị trường nước ngoài, khai thác thị hiếu của người đọc. Thế nên có lúc, thị trường sách văn học đầy dẫy sex vô luân, cổ vũ cho sự suy đồi văn hóa và lối sống thực dụng phương tây (Nháp, Bóng đè, I’m đàn bà)…

Văn đàn không có trào lưu nghệ thuật, kiểu như “trường thơ Loạn, Nhóm Dạ Đài, nhóm Sáng Tạo, nhóm “dòng chữ” của giai đọan trước, dù đôi lúc cũng lóe lên những động cựa phá phách: Thơ trình diễn, Nghệ thuật sắp đặt, Thơ Rác, Thơ Dơ, Thơ Nghĩa địa, Thơ không thơ,  nhóm Ngựa Trời…Nhưng đến nay, những “trò diễn” ấy đem đến giá trị gì cho văn chương Việt?

 Đã có lúc nhiều tác giả Việt ồn ào thử nghiệm Hậu hiện đại. Tuy nhiên, đây là trào lưu nghệ thuật đa nguyên về chính trị và tư tưởng nên công luận trong nước đã lên án gay gắt. Bởi vì, có người viết dùng Hậu Hiện đại để “giải thiêng”, lật đổ những “Đại tự sự”, những “tín niệm” thiêng liêng của truyền thống Việt. Chẳng hạn, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp 1987 [[10]], Nỗi buồn chiến tranh (1987. Bảo Ninh…). Bóng đè (2005. Đỗ Hoàng Diệu)…

50 năm qua (1975-2025), văn chương Việt đã có những nỗ lực đổi mới mạnh mẽ ý thức sáng tạo, đổi mới không ngừng nghỉ, và đã có những thành tựu. Nhưng 50 năm tới, nhà văn Việt Nam sẽ phải đổi mới ý thức sáng tạo, đổi mới thi pháp thế nào? Làm thế nào để tìm tòi một con đường riêng?

Thực tiễn văn học đã khẳng định, không có tư tưởng thẩm mỹ mới, không có kiểu tư duy nghệ thuật mới sẽ không thể có thành tựu văn học mới.

Chợt nghĩ, mình đã thuộc thời đại cũ nên nhận thức hết sức “cổ điển”(theo nếp cũ). Đất nước phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã có nhiều tỷ phú đô-la, như Phạm Nhật Vượng, Nguyễn Thị Phương Thảo (VietJet Air)…Văn học nghệ thuật cũng phải vận động theo thị trường. Hội Nhà văn chỉ còn là một thành viên nhỏ của Mặt trận tổ quốc. Các nhà văn sẽ tự vận động để trở thành những nhà văn của thị trường toàn cầu (như ca nhạc, phim ảnh Việt Nam đã vươn ra thị trường thế giới).

Đây là nhận định của Thiếu tướng Đoàn Xuân Bộ – tham luận trong hội thảo “Nhìn lại 15 năm thực hiện Nghị quyết 23 -NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới” sáng ngày 19/12/2022: “”Kinh tế thị trường còn nâng cao vị thế của VHNT, trở thành “xương sống”, là nguồn lực của các ngành công nghiệp văn hóa. Điện ảnh, âm nhạc mang lại doanh thu khổng lồ. Một số ngành khác như văn học, nghệ thuật thị giác đóng góp doanh thu trực tiếp không nhiều nhưng lại cung cấp kịch bản văn học, hình tượng, cách diễn đạt cho công nghiệp văn hóa phát triển. Ngoài ra, từ các tác phẩm VHNT tạo ra giá trị gia tăng với các sản phẩm “ăn theo” như: Phim trường, không gian trong phim trở thành điểm tham quan du lịch; các đồ lưu niệm; thương hiệu và hình ảnh; các sản phẩm hàng hóa tiêu dùng xuất hiện trong các tác phẩm VHNT… Các sản phẩm VHNT được tạo ra từ sự sáng tạo của con người, đó là tài nguyên vô tận và vô giá; đóng góp vào kinh tế quốc dân rất lớn trong khi đó lại không gây tác động lớn đến môi trường, hạn chế khai thác tài nguyên thiên nhiên. Mặt khác, sản phẩm VHNT trở thành sản phẩm công nghiệp văn hóa sẽ góp phần nâng cao vị thế quốc gia, trở thành “sức mạnh mềm” ảnh hưởng lên toàn cầu, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người, văn hóa..”[23]

III.VĂN HỌC CỦA NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI

Văn học của người Việt ở nước ngoài – gọi tắt là “Văn học hải ngoại”- đã được người Việt hải ngoại bàn bạc nhiều.

(Thụy Khuê)

Thụy Khuê có bài: “Hai mươi nhăm năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975-2000”[[11]]. Tác giả ghi nhận khá cặn kẽ quá trình phát triển, thành tựu của văn học Việt Nam hải ngoại từ 1975 đến năm 2000. Thụy Khuê xác định  “nét đặc thù của văn chương Việt ngoài nước” là “Chỉ mình với mình thôi “. Bà cũng đặt câu hỏi: “Tại sao người Việt di tản không có “tác phẩm lớn” về cuộc vượt biển? Về tù cải tạo? Về việc thành lập cộng đồng lưu vong”. Câu trả lời là: “cái “lớn lao” của người Việt không theo nghĩa thông thường: Họ đã xé nhỏ đau thương trong toàn bộ “cái viết”.

 Ngu Yên gọi văn học hải ngoại 1975-2025 là “50 Năm Văn Học Việt Nhập Cư 1975-2025”[[12]]. Vì người Việt cầm bút ở nước ngoài có nhiều thành phần xuất thân, họ nhập cư vào nước sở tại với mục đích khác nhau.

Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Vy Khanh làm tuyển tập 44 năm văn học Việt Nam hải ngoại (1975-2019) quy tụ hơn 300 tác giả. Năm 2025, ông tiếp tục xuất bản tổng tập: “Văn-học Việt Nam 50 năm hải-ngoại”[[13]]. Ngoài phần tổng quan, ông nghiên cứu riêng 162 tác giả tiêu biểu.

(Nguyễn Vy Khanh)

Ông cho biết: tổng tập “Nghiên cứu toàn bộ nền văn-học của người Việt ở hải-ngoại sau 1975 đến nay, 50 năm, qua các khía cạnh: văn-học lưu đày hình thành và biến thiên qua các giai đoạn, văn-học chính-trị hoá : những trôi nổi của một số quan điểm, thái độ, văn-học và hội nhập với những vấn-đề của người Việt, căn cước, nữ quyền, gia-đình,…/ Trong khuôn khổ một sơ thảo và tổng kết văn học sử, chúng tôi tự giới hạn trình bày những nét chính và giới thiệu những tác giả và tác phẩm tiêu biểu hoặc chúng tôi có thể biết được, với hy vọng có thể giúp bạn đọc có một cái nhìn tổng quan…”[[14]].

Tác giả Trần Doãn Nho [[15]] viết một “tùy luận, biên khảo” nhan đề: “Văn chương hải ngoại: nỗi chữ-nỗi quê” trên Damau.org, khởi đăng nhiều kỳ từ 29/4/2026. “Tùy luận, biên khảo này” sơ lược lịch sử văn học hải ngoại và nêu lên những vấn đề về giá trị và sự phát triển của nền văn học này. Ông có nhắc đến đặc điểm ngòi bút của một số tác giả tiêu biểu. Kỳ V. Văn chương hải ngoại: Nỗi chữ-Nỗi quê Đi về đâu, ông đặt vấn đề tương lai của văn học hải ngoại.

Tôi đặc biệt chú ý đến bài viết: “Văn học Việt Nam ở hải ngoại: những vấn đề của sự phát triển hiện nay[do Lê Sơn dịch từ nguồn: Jugo  – Vostochnaja Azija:  aktual’nye problemy razvitija – ideologija, istorija, kul’tura, polilika, ekonomika. Vypusk XI (2007-2008). Moskva,  Institut Vostokovedenija RAN, 2008. tr. 233-254.[[16]]. Bài viết có tính bao quát và lý giải được nhiều vấn đề văn học Việt hải ngoại.

Bạn đọc có thể tham khảo những công trình trên để có cái nhìn tổng quan về văn học của người Việt ở nước ngoài 50 năm qua. Tôi xin không nhắc lại.

Tôi nhận ra, người Việt cầm bút ở nước ngoài có khát vọng hội nhập văn học hải ngoại với văn học trong nước. Nhiều người đã mặc định văn học hải ngoại là văn học dân tộc. Điều ấy thể hiện trong nhan đề các công trình nghiên cứu: “văn học Việt Nam hải ngoại”.

Nhưng “hợp lưu” theo cái nghĩa tác giả, tác phẩm văn học hải ngoại được Nhà nước công nhận, cho in ấn phổ biến, đưa vào các công trình nghiên cứu văn học sử, đưa vào sách giáo khoa, tổ chức hội thảo, vinh danh, vv…Điều này không thể thực hiện được. Có sự khác biệt không thể vượt qua về tư tưởng, nội dung, mục đích sáng tác; và nghệ thuật của văn học Việt trong nước với văn học hải ngoại.

Văn học trong nước là “Văn học xã hội chủ nghĩa”. Đó là một nền văn học có ý thức, đặt trên nền tảng tư tưởng Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Văn học là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, là sự chọn lưa lý tưởng của người cầm bút. Nền văn học ấy được tổ chức, được lãnh đạo, có kế hoạch hành động để thực hiện nhiệm vụ chính trị. Trái lại, văn học hải ngoại là một nền “Văn học tự phát”, vận động theo những biến động xã hội. Tác giả “tự do” viết theo cảm quan riêng, mỗi người cầm bút đều có mục đích riêng. Nền văn học ấy không được tổ chức, không là sự chọn lựa lý tưởng, không hướng đến một mục đích chung là góp phần vào sự phát triển dân tộc. Nền văn học ầy biết cội nguồn của nó là dân tộc, nhưng lại không gắn bó với dân tộc. Có chăng chỉ là một chút tâm huyết với cộng đồng người Việt sở tại

Sự khác biệt ấy là không thể “hợp lưu”.

Sự khác biệt ấy là do hoàn cảnh lịch sử, do xuất thân của tác giả, do môi trường văn hóa nơi người cầm bút sinh sống. Đây là một minh chứng: Nhà văn Phan Nhật Nam (Người Lính-Viết Văn, Công Dân Mỹ gốc Việt, Washington DC, 9 Tháng 9, 2017) đã từ chối lời mời của nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam về dự họp mặt “Cuộc gặp mặt. Mùa Thu Hà Nội cùng những giá trị bền vững của tâm hồn Việt “ trong tinh thần “hòa hợp-hòa giải dân tộc”[[17]].

Thế hệ thứ nhất của văn học hải ngoại đa số là nhà văn miền Nam (1954-1975): một lớp di tản ngay sau 30/4/1975, và một lớp đoàn tụ với gia đình sau thời gian cải tạo. Tác phẩm của họ là sự nối dài của Văn học miền Nam 1954-1975. Đây là lực lượng trụ cột của văn học hải ngoại: Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Mặc Đỗ, Nhật Tiến, Bình Nguyên Lộc, Nhã Ca, Duyên Anh, Lê Tất Điều, Nguyễn Mộng Giác, Thanh Nam, Túy Hồng, Nguyễn Tường Bách, Thế Uyên, Linh Bảo Nguyễn Thị Vinh, Trần Mộng Tú, Du Tử Lê, Viên Linh, Phan Nhật Nam, Kiệt Tấn, Nguyễn Xuân Hoàng, Võ Đình, Tạ Tỵ…

Các thành phần di dân khác là: thuyền nhân vượt biên tìm đất sống, công nhân xuất khẩu lao động, học sinh du học, và thế hệ người Việt thứ hai trưởng thành ở nước ngoài.

Trong tổng tập “44 năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975-2019”, do Khánh Trường,  Luân Hoán và Nguyễn Vy Khanh thực hiện (nhà Mở Nguồn -Hoa-Kỳ xuất-bản trong tháng 3-2019), Nguyễn Vy Khanh nhận định:

“Trải qua nhiều thập niên, văn-học hải-ngoại có một đặc điểm có tính bao trùm là tính “chính trị” vừa là động cơ, là lý do tồn tại, hiện hữu, vừa là mục đích. Nếu không tranh đấu tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản và những thế lực làm kiệt quệ đất nước, làm dân tộc mất quyền tự chủ, thì là tranh đấu, vận động cho tự do dân chủ và quyền làm người. Mà nhân quyền và quyền dân sự thì phải đấu tranh mới có. Lưu vong vì đất bằng nổi sóng, vì “vua quan” thời mới độc ác, mất nhân tính, vì xã hội nhiểu nhương, khủng hoảng mà bản thân không được quyền hay không thể ra tay; lưu vong do đó là để sống còn đồng thời để thực hiện những mục đích và công tác này dưới nhiều hình thức mà văn chương là một…Tính chính trị đã bớt nồng độ ở các thế hệ nhà văn xuất hiện gần đây….”[[18]]

Lê Thị Huệ, admin của Gió – o. com phát biểu trong dịp kỷ niệm 20 năm: Văn chương hải ngoại chúng tôi tận hưởng sự thơm tho ngọt ngào của tự do sáng tác nhất. Tự do thường được gọi là một một ý thức trừu tượng nhưng với người sáng tác như tôi nó là một sinh hoạt cụ thể rất thật và rất thật. Ở đây tôi muốn viết gì thì viết. Tôi không bị các ông các bà nhà nước nào đọc và kiểm duyệt. Không ai kiểm duyệt điều tôi viết. Và tôi không tự kiểm duyệt xem thử liệu điều mình viết có đụng đến thần thánh nhà nước nào không…”[[19]].

(Lê Thị Huệ – Gio-o.com)

Thực ra, “tự do sáng tác” (“muốn viết gì thì viết”)mà Lê Thị Huệ ca ngợi không phải là yếu tố làm nên giá trị văn chương.

Vấn đề là: văn học hải ngoại có tác phẩm đạt giải văn chương Nobel không, có nhà văn người Việt nào ở Mỹ lừng lẫy trên văn đàn thế giới như E. Hemingway không? Và tác phẩm văn học hải ngoại in ra bán được bao nhiêu ấn bản trên Amazon? Tác phẩm nào là best seller? (Tôi không thấy công trình nghiên cứu văn học hải ngoại nào đề cập đến).

Hãy nhìn văn học thế giới. Nhà văn F.M.Dostoevsky (1821-1881), dù trong hoàn cảnh từng bị kết án tử hình, tù đày, nghèo túng, bệnh tật, vẫn viết những tác phẩm đồ sộ cho văn học thế giới (thí dụ Anh em nhà Karamazov. 1880)…Ở Việt Nam, trường hợp của nhà thơ Thanh Tâm Tuyền đáng suy gẫm. Ông trăn trở làm thơ ở Sài Gòn trước 1975. Sống trong trại cải tạo, ông lại làm những bài thơ mang vẻ đẹp hồn thơ dân tộc. Nhưng khi qua Mỹ, miền đất của Nữ thần Tự do, Thanh Tâm Tuyền lại giữ im lặng. Ông không viết bài thơ nào nữa[[20]]. Tại sao vậy?

Thế nên cái “tự do” “muốn viết gì thì viết” của Lê Thị Huệ (Gió – o.com) không thể làm nên tác phẩm văn chương có giá trị.

Chẳng hạn, Nguyễn Văn Lục nhận xét về văn hải ngoại: “Xu hướng tính dục là trổi bật nới một số nhà văn…dự phóng của một số nhà văn nữ hiện nay là giải phóng người phụ nữ mà trước hết, theo tôi là giải phóng âm hộgiải phóng âm hộ là giải phóng sinh lý, tự do làm tình, tự do khoái cảm…”[24]. Văn chương suy đồi đến thế là cùng!

Có thể nhận rõ điều này, 50 năm qua, mọi cách tân văn học Việt, đều do các nhà văn trong nước khởi xướng và ít nhiều có thành tựu thúc đẩy văn học Việt tiến về phía trước.

(Nguyễn Thanh Việt)

Nhà văn Nguyễn Thanh Việt (người Mỹ gốc Việt) đã đạt Giải Pulitzer  năm 2016 với tác phẩm The Sympathizer. Nhưng ông là người Việt thế hệ thứ hai. Ông sinh năm 1975 tại Buôn Ma Thuột, Việt Nam. Ông theo gia đình đến Mỹ lúc 4 tuổi (năm 1975), sống tại Pennsylvania, rồi đến California. Hiện tại, ông đang là giáo sư tại Đại học Nam California, cộng tác với các tờ báo Time, The Guardian, The Atlantic, The Los Angeles Times, The New York Times. 

Đây là xác tín của Nguyễn Thanh Việt: “Tôi sinh ra ở Việt Nam và rời đi lúc 4 tuổi. Tôi lớn lên trong cộng đồng người Việt tị nạn. Tôi nghĩ rằng việc sinh ra ở Việt Nam giúp cho tôi có sự gắn bó với đất nước này. Và bởi vì tôi lớn lên giữa cộng đồng người Việt nên tôi đã hấp thụ cảm xúc và thái độ của người Việt Nam. Tôi có rất nhiều sự đồng cảm với người Việt Nam, cả ở Việt Nam, ở Mỹ và cộng đồng người Việt hải ngoại. Tôi nghĩ rằng văn hóa và lịch sử Việt Nam là một phần của tôi. Và tôi cảm thấy mình có nghĩa vụ phải viết về điều đó. Tuy nhiên, điều rất quan trọng mà tôi cần nhấn mạnh là tôi thấy người Việt Nam có xu hướng nghĩ văn hóa Việt Nam bằng một thuật ngữ thể hiện tính xác thực (authenticity). Họ có quan niệm rất cứng nhắc về những gì tạo nên người Việt Nam, cho dù ở Việt Nam, hay trong cộng đồng người tị nạn. Tôi hoàn toàn không đồng ý với định nghĩa của họ, tôi nằm ngoài định nghĩa đó. Mặc dù tôi nói rằng tôi rất kết nối với Việt Nam, và Việt Nam rất quan trọng đối với tôi, văn hóa rất quan trọng đối với tôi nhưng tôi không phải là nhà văn Việt Nam. Tôi là nhà văn Mỹ. Tôi không biết có bao nhiêu người Việt Nam hiểu được điều đó. Khi họ thấy ai đó là người Việt Nam, họ sẽ hỏi anh là người Việt phải không? Tôi nói đúng vậy. Nhưng tôi là một nhà văn Mỹ. Và cách tôi nói về …”[[21]].

Như vậy thì đã rõ. Thế thệ người Việt thứ hai viết văn ở nước ngoài “không phải là nhà văn Việt Nam”. Nhưngmay mắn, vẫn còn có người gắn bó với văn học Việt:Nguyễn Đức Tùng, Hoàng Chính, Lê Thị Thấm Vân, Lưu Diệu Vân, Đặng Thơ Thơ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Phan Việt (ở Mỹ), Thuận (ở Paris), Đoàn Minh Phượng (ở Đức)…Nhưng ai sẽ là người kế thừa họ?

(Võ Phiến. 1925=2015)

Nhà văn Võ Phiến, trong phần mở đầu cuốn Thư gửi bạn (1976), đã nhận ra vấn đề: “Từ ngày bỏ nước ra đi, tôi đâu còn nghĩ đến chuyện nghệ thuật văn chương nữa”…“Ai lại nghĩ xây dựng một sự nghiệp văn nghệ trong vòng vài trăm ngàn người, tản mát khăp mặt địa cầu, mỗi ngày một xa lạc ngôn ngữ dân tộc, xa rời cuộc sống dân tộc.” [[22]].

Các nhà nghiên cứu văn học hải ngoại đều chỉ ra thân phận của “văn học hải ngoại” (xin đọc Trần Doãn Nho-Văn chương hải ngoại: Nỗi chữ-Nỗi quê – Kỳ V – Đi về đâu). Nếu không có tác giả, tác phẩm giá trị, được người đọc trong nước và thế giới biết đến, thì nền văn học của người Việt ở nước ngoài sẽ mỗi ngày một lụi tàn. Còn lại chăng chỉ là chứng tích của một thời, như thân phận của văn học Lãng mạn 1930-1945, của Văn học Miền Nam (1954-1975).

Bởi mỗi thời đại có những vấn đề riêng, có những mối quan tâm riêng, có ý thức tư tưởng-thẩm mỹ riêng, có tâm thế riêng, nói bằng tiếng nói riêng. Dù tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn là “sách gối đầu giường” của thế hệ 1930-1945, thì hôm nay, cũng không có người trẻ nào thuộc Gen Z tìm đọc. Bởi đó là chuyện của những chàng, những nàng, những bà phán, thầy ký trong Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân, Hồn Bướm mơ tiên… của thế kỷ trước, đã thuộc về văn học sử.

Các nhà nghiên cứu văn học hải ngoại hình như cố ý đưa tất cả các tác giả có bài viết vào tuyển tập, và gọi chung là “nhà văn”, mà không phân biệt người viết theo phong trào với nhà văn chuyên nghiệp. Tác giả phong trào viết theo quán tính bắt chước những gì học được ở phổ thông, “viết cho vui”, “muốn viết gì thì viết”, thậm chí không hiểu bản chất của văn chương là gì? Đâu là đặc trưng của các kiểu thi pháp. Người cầm bút phong trào và không hề sáng tạo Cái Thẩm mỹ mới. mà chỉ lặp lại những gì người khác đã viết. Trái lại, chỉ những nhà văn chuyên nghiệp mới làm nên một nền văn học đích thực, bởi vì họ là những người sáng tạo. Họ làm ra Cái tư tưởng – thẩm mỹ mới. Họ kiến tạo tác phẩm nghệ thuật. Họ có tư tưởng, bút pháp, phong cách riêng; tác phẩm của họ là một thế giới nghệ thuật riêng. Họ định vị như một đỉnh thi sơn tư tưởng-nghệ thuật trên con đường phát triển của lịch sử văn học Việt.

Cho nên, số lượng các tác giả trong các tuyển tập văn học, trên các diễn đàn (Talawas, Tienve.org; damau.org; Hopluu.net…) là rất đông. Gió-o có 217 tác giả (có cả ca sĩ July, và họa sĩ); Damau.org có 883 tác giả (Có cả Cao Bá Quát, Bàng Bá Lân); Hiện nay, website hopluu.net sống lây lất. Các trang Talawas, Tiềnve.org đã chết từ lâu… Nhưng tác giả nào trong số đông ấy là nhà văn có tác phẩm đứng được trong văn đàn của nước sở tại, và được công chúng trong nước biết đến? Ở trong nước, vài tác giả người Việt hải ngoại có tác phẩm xuất bản, nhưng không tạo được dấu ấn nào đối với sự phát triển văn học ở trong nước (Nguyễn Đức Tùng, Đỗ Quyên, Thuận, Linda Le, Đoàn Minh Phượng…)

Tôi nghĩ, để xác định giá trị của văn học hải ngoại, nhà nghiên cứu cần chỉ ra văn học hải ngoại đã kế tục và phát huy những giá trị văn hóa, tư tưởng, nghệ thuật của dân tộc Việt như thế nào; đã góp phần làm phong phú văn học Việt đương đại ở những lĩnh vực nào; và  thúc đẩy những cách tân (tức là đem đến tư tưởng mỹ họcthi pháp mới) ra sao. Đồng thời, nhà nghiên cứu cần khẳng định những thành tựu mới (tác giả, tác phẩm) có tầm vóc nhân loại mà văn học hải ngoại đóng góp cho văn học Việt như thế nào?

Điều này, 50 năm qua, văn học hải ngoại đã không làm được.

(PGS-TS Nguyễn Hữu Sơn)

Đây là ý kiến của PGS-TS Nguyễn Hữu Sơn, nguyên Phó Viện trưởng Viện Văn học trò chuyện với phóng viên báo Quân đội nhân dân:

            “Con đường định cư ở nước ngoài xuất phát từ nhiều nguồn: xuất khẩu lao động, du học, kết hôn, đoàn tụ gia đình… Về mặt tư tưởng, trước đây không ít người Việt Nam liên quan đến chế độ cũ, không chấp nhận, thậm chí chống phá Đảng, Nhà nước; trong khi phần đông Việt kiều vẫn gắn bó với đất nước, có nhiều hoạt động hướng về nguồn cội, ủng hộ sự nghiệp cách mạng và xu thế hòa hợp dân tộc. Chính từ sự đa dạng và phức tạp này tạo ra một đội ngũ nhà văn Việt Nam ở nước ngoài không thuần nhất, không chỉ về xuất thân mà có thể thấy rõ ở khía cạnh nội dung tư tưởng và hình thức tác phẩm. Có những người viết văn theo kiểu “hồi cố”, “kể sự”, song cũng có những người viết văn tài năng, tác phẩm có tính đổi mới, sức lan tỏa mạnh mẽ. Vì thế, việc nghiên cứu văn học Việt Nam ở nước ngoài cần đặt trong tương quan so sánh với văn chương trong nước, chỉ ra những đóng góp mới mẻ, đích đáng, làm giàu có nền văn học dân tộc”(https://vanvn.vn/van-hoc-viet-nam-o-nuoc-ngoai-hoa-vao-dong-chu-luu-van-hoc-dan-toc/)

IV. KHÚC GIAO MÙA

  1. Nhìn lại lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay (2025), ta nhận ra sự thật này:

 Con đường của lịch sử dân tộc là con đường đi lên, dù vô cùng gian khó, và triệu triệu người Việt đã phải đổ máu hy sinh. Con đường ấy đi về tương lai tươi sáng.

Văn học Việt Nam đã phản ánh hiện thực lịch sửlên tiếng nói trước thời đại. Tiếng nói ấy có âm vang của lòng yêu nước từ ngàn đời, có sức mạnh nhân nghĩa của toàn dân. Có tiếng hào hùng, có tiếng bi thiết; có khải hoàn ca, và cũng có khúc bi ca. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, người Việt vẫn không nguôi hy vọng.

Quyền lên tiếng nói” là một quyền hết sức thiêng liêng. Bởi nền văn học ấy được viết bằng máu, bằng nước mắt, bằng tâm huyết và sinh mệnh của trăm triệu con dân Việt. Sông núi nước Nam (Lý Thường Kiệt) vẫn vang lên từ ngản năm trước. Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi đem khí phách và cốt cách Việt hội nhập với dòng chảy lịch sử nhân loại. Tư tưởng “sống đánh giặc thác cũng đánh giạc” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiều) làm khiếp vía mọi kẻ thù. Đấy là sự vĩ đại của văn học Việt mà không giải Nobel Văn chương nào sánh được.

Tuy vậy, lấy nhiệm vụ “phản ánh hiện thực” làm mục đích, văn học Việt chỉ dừng lại ở việc ghi chép sự việc, thiếu những sáng tạo nghệ thuật tiên phong. Nhà văn Việt chỉ miêu tả lại những gì đã xảy ra, thuật lại những biến động chính trị xã hội, qua đó phô bày ra những cảm nhận, nghĩ suy của Cái Tôi với tư cách là người trong cuộc. Đó là sự tích góp, nhặt nhạnh những miếng, những “mảnh hiện thực” (“muốn viết gì thì viết”), theo những góc nhìn rất khác nhau. Dù có những mảnh lấp lánh. Chưa một tác giả nào viết được những bộ sử thi có tư tưởng và nghệ thuật mang tầm vóc nhân loại về dân tộc mình.

 Một thời đại văn học đã qua đi. Mọi cơ may sáng tạo đã vuột mất. Những người đi trước đã thành thiên cổ. Nhưng họ đã đặt được những cột mốc, những đỉnh thi sơn. Và những giá trị văn hóa, tư tưởng họ đã làm ra sẽ còn mãi.

“Kỷ nguyên mới” đang mời gọi. Nhà văn Việt Nam hãy kế tục truyền thống để viết những tác phẩm xứng tầm với lịch sử và cốt cách của dân tộc mình trong cộng đồng nhân loại.

Xin gửi lời chào đến mai sau!

Tháng 6/ 2026

BẠN CÓ THỂ NGHE BÀI VIẾT NÀY TRÊN YOUTUBE:

***


[1] Xin bạn tải về đọc theo link:

VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM-Những gì còn lại với mai sau:

https://www.mediafire.com/file/puzuaoaz6lga0ho/VCVN-Nh%25E1%25BB%25AFng_g%25C3%25AC_c%25C3%25B2n_v%25E1%25BB%259Bi_mai_sau_pdf.pdf/file

https://drive.google.com/file/d/1SGpsr_TP3myhAUYN3DtKiULIUjIqPTtB/view?usp=drive_link

50 NĂM VĂN HỌC VIỆT NAM:

https://www.mediafire.com/file/x56yt1btpkjbbot/3_50_N%25C4%2582M_VHVN-Nxb_HNV_2026.pdf/file

https://drive.google.com/file/d/1KyEEspO6ZWEnIqbvvnrnylcJTwnOdpE0/view?usp=drive_link

45 NĂM VĂN HỌC ĐỒNG NAI

https://drive.google.com/file/d/1-gj1tEuBaVTloT9d4yrnQPFxyRQlyOQc/view?usp=drive_link

https://www.mediafire.com/file/hxxyn9m46watadd/45_nam_VH%25C4%2590N_B%25E1%25BA%25A3n_in_ch%25C3%25ADnh_th%25E1%25BB%25A9c.pdf/file

VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

https://www.mediafire.com/file/966mrarfxwi0g6j/8_VHCGVN_duong_dai-B%25C3%25B9i_C%25C3%25B4ng_Thu%25E1%25BA%25A5n.pdf/file

-https://drive.google.com/file/d/1bwLXU_5o5_w8axwAxKcnNDLOMJMeFnNc/view?usp=drive_link

[2] Xem: Quyết định số 1909/QĐ-TTg, ngày 12-11-2021, của Thủ tướng Chính phủ, về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, Cổng thông tin điện tử Chính phủhttps://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2021/11/1909.signed_01.pdf

[3] Quyết định số 1909/QĐ-TTg, ngày 12/11/2021 “Về việc phê chuẩn chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030”.

[4] Nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh: “19 năm trước, “Lỗ thủng lịch sử” đã khiến tôi lên bờ xuống ruộng!”

https://danviet.vn/nha-van-nguyen-huu-hong-minh-khong-buon-vi-bi-loai-khoi-hoi-nha-van-ma-lo-cho-van-hoc-viet-nam-20220213154932015-d1001469.html

[5] Danh sách đại biểu Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc lần X. 2022

[6] Trần Ngọc Hiếu-Tìm hiểu một quan niệm nghệ thuật về ngôn từ trong thơ Việt đương đại

https://hieutn1979.wordpress.com/tag/le-dat

[7] Nguồn: Báo Văn nghệ, Hà Nội, số 49 & 50 (5-12-1987). https://vanviet.info/tu-lieu/hy-doc-loi-ai-dieu-cho-mot-giai-doan-van-nghe-minh-hoa/

[8] Nguyễn Khải-Đi tìm cái tôi đã mất.https://daohieuvn.wordpress.com/2000/05/26/nguyen-khai/

[9] Hoàng Ngọc Hiến-“Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua”. Nguồn: Văn nghệ số 23, ra ngày 9/6/1979.

[10] Báo Văn Nghệ in truyện Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp này ngày 20-6-1987. https://cuoituan.tuoitre.vn/nha-van-nguyen-huy-thiep-toi-viet-truyen-tuong-ve-huu-757242.htm

[11] Thụy Khuê-“Hai mươi nhăm năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975-2000”.

   http://thuykhue.free.fr/tk99/tiepcan.html

[12] Ngu Yên-“50 năm văn học Việt nhập cư 1975-2025”, Phân lý và phê bình. Nxb Hội Quán Văn Hóa Việt 2026

[13] Nguyễn Vy Khanh-Văn học Việt Nam 50 năm hải ngoại. Nxb Nguyện (Toronto) 2025.

[14] Văn-học Việt Nam 50 năm hải-ngoại của Nguyễn Vy Khanh

[15] Trần Doãn Nho tên thật là Trần Hữu Thục, sinh năm 1945 tại Huế. Ông tốt nghiệp ngành Triết tại Đại học Huế và Sài Gòn. Trước 1975 dạy Triết, viết văn, viết báo. Sau 1975, ông học tập cải tạo đến 1981. Năm 1993, định cư ở Massachusetts.

[16] Văn học Việt Nam ở hải ngoại: những vấn đề của sự phát triển hiện nay http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/ket-noi-van-hoa-viet/6567-v%C4%83n-h%E1%BB%8Dc-vi%E1%BB%87t-nam-%E1%BB%9F-h%E1%BA%A3i-ngo%E1%BA%A1i-nh%E1%BB%AFng-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-c%E1%BB%A7a-s%E1%BB%B1-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-hi%E1%BB%87n-nay.html

[17] Hai lá thư của Hữu Thỉnh và Phan Nhật Nam. 2017

[18] Nguyễn Vy Khanh-“44 năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975-2019”.

[19] Lê Thị Huệ- diễn ngôn của chủ biên mở đầu buổi sinh hoạt 20 năm Gió-O nắn Net,  Đại học UC Berkeley, California chiều Chủ Nhật 19/12/2021. https://www.gio-o.com/GioO10Nam/20LeThiHueMoDau.htm.

[20] Bùi Công Thuấn-Thanh Tâm Tuyền, thi sĩ tuyệt vọng trần truồng. https://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=7162

[21] Nhà văn Nguyễn Thanh Việt: Tôi chỉ quan tâm đến những cuốn sách vĩ đại (Đào Lê Na)

https://hcmussh.edu.vn/tin-tuc/nha-van-nguyen-thanh-viet-toi-chi-quan-tam-den-nhung-cuon-sach-vi-dai?

[22] Dẫn theo A.A.Sokolov, PGS-TS Sử học, Viện Phương Đông, Viện Hàn lâm khoa học Nga.

“Văn học Việt Nam ở hải ngoại, những vấn đề của sự phát triển hiện nay”.

[23] Nguồn:Thiếu tướng Đoàn Xuân Bộ – Tổng Biên tập Báo quân đội nhân dân, Uỷ viên Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương trong hội thảo “Nhìn lại 15 năm thực hiện Nghị quyết 23 -NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳmới” sáng ngày 19/12/2022.https://danviet.vn/kinh-te-thi-truong-tao-ra-quyen-luc-mem-khien-van-nghe-si-ao-tuong-ve-ban-than-20221219104949065-d1064259.html

[24] Nguyễn Văn Lục-Nhận diện một số nhà văn việt đầu thế kỷ 21. https://hopluu.net/p130a4015/7/nhan-dien-mot-so-nha-van-viet-dau-the-ky-21

NHÀ VĂN KHÔI VŨ-NGUYỄN THÁI HẢI & Hành trình văn chương

Bạn có thể đọc bài viết của Bùi Công Thuấn trên trang

buicongthuan.com hoặc: http://buicongthuan.vn102.space;

hoặc: vanchuongviet.org (https://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacgia&action=detail&id=743)

GIỚI THIỆU CHUYÊN LUẬN

NHÀ VĂN KHÔI VŨ – NGUYỄN THÁI HẢI VÀ HÀNH TRÌNH VĂN CHƯƠNG

(Nhà văn Khôi Vũ đọc thơ tặng-Đêm nhạc Tình Thơ của Bùi Công Thuấn ngày 15/11/1998)

Ngày 20/8/2025, nhà văn Khôi Vũ-Nguyễn Thái Hải viết trên Fb của ông: “Tôi chọn năm 2026 để dừng viết, vì vừa có đủ 60 năm sáng tác (1966-2026). Đời người 60 năm. Đời viết cũng chỉ nên chừng ấy”.

Ngày 21/8/2025, cũng trên Fb cá nhân, ông giải thích: “Đến 2026, tôi có 81 cuốn sách in riêng, vượt qua số tuổi của mình. Nên tôi dừng viết để lo in ấn số bản thảo còn lại”

***

Nhà văn Khôi Vũ đã in 80 tác phẩm và còn rất nhiều bản thảo [[1]]. Anh cho biết: những bản thảo đang chờ in là “Tiểu thuyết lịch sử Nữ Quý Tộc, tiểu thuyết Chuyện kể ở Sông Buông, tập truyện ký Lửa cháy ngoài nhà thờ Đức Bà Pa-ri (3 BT cùng với bút danh Khôi Vũ). Truyện dài thiếu nhi Tiếng ốc U quê đảo, tập truyện thiếu nhi Thầy vẫn đưa đò và bộ truyện du lịch Bước chân Trời Việt 9 tập (bút danh Nguyễn Thái Hải). Ngoài ra là những bản thảo đang viết dở dang, gồm tập ký Bên dòng chảy Đồng Nai, Khát vàng (tiểu thuyết lịch sử KV), tập truyện nhi đồng Con rắn biết thổi còi (Nguyễn Thái Hải). Cuối cùng là ý tưởng viết vài cuốn nữa…”[[2]].

Sức viết của anh thật đáng nể. Vấn đề là, muốn viết được, người cầm bút phải có vốn, có cảm hứng, có chủ đề, có câu chuyện và có cách thể hiện mới. Anh lấy đâu ra những thứ vàng ròng ấy để làm nên một khối lượng sáng tạo thật đồ sộ? Câu hỏi này dành cho các bạn viết văn trẻ trả lời. Có lần đi trại sáng tác, tôi ở chung phòng với Khôi Vũ. 3 giờ sáng tôi thức giấc, thấy anh đang xoay trần ra ngồi viết từ lúc nào. Anh bảo, sáng sớm nó tỉnh táo, dễ viết.

Nhiều khi, nhìn anh viết, tôi trăn trở. Anh viết nhiều như thế để làm gì, sao không viết một cuốn đạt giải Nobel Văn chương như ước mơ của Nam Cao ngày nào!

Anh bảo:

 “Đến tháng 7/2021 này, tôi sẽ có được 67 đầu sách đã in…Dĩ nhiên là còn thua xa cụ Tô Hoài với khoảng 150 đầu sách…

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh vừa qua đời ở tuổi 89. Tôi chưa từng gặp mặt ông ở ngoài đời. Nhưng tôi ngưỡng mộ ông từ khi đọc các quyển ‘Hồ Quý Ly’ (2000), ‘Mẫu thượng ngàn’ (2006), ‘Đội gạo lên chùa’ (2011) của ông. Khi viết những quyển sách này, tuổi ông đã cao. Năm 2000, khi ‘Hồ Quý Ly’ xuất bản, ông đã 67 tuổi…

Tôi năm nay đã 72. Nếu trời cho sống đến tuổi Nguyễn Xuân Khánh thì còn đến 17 năm nữa. (Khó lắm!). Mà có như thế, cũng chưa chắc ‘theo đuôi’ được ông trong sáng tác. Chỉ biết cố gắng để mình luôn là một người sáng tác thật sự, tự hào khi viết và in sách mà không thấy hổ thẹn…[[3]]

Vâng, Khôi Vũ là “người sáng tác thật sự” (anh không nhận mình là “nhà văn”. Anh bảo, đối với anh, hai chữ “nhà văn” là rất cao quý). Anh sống hiền lành, thẳng thắn, nhưng cẩn trọng. Anh ý thức sâu sắc trách nhiệm cầm bút của mình. Vì thế mỗi trang văn của anh, dù là tiểu thuyết, truyện cho thiếu nhi, hay sách viết về lịch sử, địa lý Đồng Nai, đều chiếm trọn niềm tin yêu của người đọc.

Trong sinh hoạt đời thường, điều nhà văn muốn nói là diễn ngôn trong tác phẩm, nhưng cũng có lúc Khôi Vũ phải lên tiếng trực tiếp về một thực tại nào đó. Chẳng hạn: Khôi Vũ đặt vấn đề về cuốn thơ Quà cho con của Nguyễn Huy Hoàng năm 2016. Ông ngạc nhiên về tiền bàn quyền của “tập thơ” này:

“Mình đọc được tin cuốn sách “Quà cho con” của một quan chức cấp Bộ, được trả bản quyền đến 550 triệu đồng [[4]].

Ngồi nhẩm, mình đã in trên 50 cuốn sách, nếu tính bình quân nhuận bút mỗi cuốn là 5 triệu thì tất cả công sức viết trong hơn 40 năm của mình cũng chỉ bằng một nửa số tiền trên!

Mà lạ là, ngoài vị thứ trưởng là thủ trưởng trực tiếp của tác giả quan chức trên, có khá đông nhà báo, nhà đài viết bài ca ngợi cuốn sách, lại cả đến một chức sắc của Hội Nhà văn Việt Nam cũng lên tiếng khen cuốn sách với tư cách một ‘tập thơ’! Mình liên hệ ngay đến chuyện ‘thơ thần’ của ông Hoàng Quang Thuận dạo nào! Không chừng ở kỳ xét kết nạp hội viên sắp tới, ông tác giả quan chức này lại trở thành… tân hội viên!

Hội Nhà văn Việt Nam có tiếng là hay tránh né các vụ việc văn chương ‘nhạy cảm’. Khóa này, Hội đã lập lại Ban Văn học Thiếu nhi. Không biết Ban này có ý kiến gì vế ‘Quà cho con’ hay không? Vì cuốn sách được dành cho trẻ em đọc và cũng vì các thành viên của Ban Văn học Thiếu nhi đều là những người có uy tín văn chương và đầy lòng khí khái!

Nếu không có tiếng nói chung thì mình vẫn đợi một vị nào đó lên tiếng! Để mình biết rằng ‘Quà cho con’ là ‘ngô’ hay ‘khoai’ ?”[[5]]

***

Hội Nhà văn Việt Nam đã trao giải trọn đời về văn học thiếu nhi cho một số tác giả, lẽ ra, Nguyễn Thái Hải phải được xướng tên. Nhưng hình như, tên anh bị bỏ quên? (có lần tôi đọc một chuyên luận về văn học thiếu nhi, cuốn sách dự giải thưởng của Hội Nhà văn. Tác giả cuốn sách chỉ nhắc sơ sài đến tên Nguyễn Thái Hải, nhưng lại viết sai tên anh). Mấy chục tác phẩm viết cho thiếu nhi của anh đều rất hấp dẫn và giàu ý nghĩa giáo dục.

Về tiểu thuyết, Khôi Vũ có đóng góp giá trị cho việc cách tân tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Lời nguyền hai trăm năm (đạt Giải thưởng Hội Nhà văn 1990) là tiểu thuyết có cấu trúc hai tuyến song song: dòng chảy lịch sử và dòng chảy hiện thực đương thời. Hai dòng chảy này cùng chảy ngược chiều rồi hội nhập với nhau, khiến cho lịch sử trở thành hiện thực hôm nay, tham gia vào giải quyết vấn đề của thực tại. Đó là một kiểu cấu trúc mới lạ mà cho đến nay tiểu thuyết Việt Nam chưa xuất hiện cách viết lịch sử mới hơn. Sông Luộc ở phương Nam (Giải thưởng Hội Nhà văn 2020) lại mở ra một bước phát triển mới về tiểu thuyết khi anh viết về mảng “hiện thực không cách mạng” ở miền Nam trước 1975. Mảng hiện thực này chưa được khám phá. Trước đây, tiểu thuyết Việt Nam, viết theo chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa, chỉ phản ánh “hiện thực cách mạng và kháng chiến”. Toàn bộ đời sống của người miền Nam chưa trở thành đối tượng của văn học. Đó là một nửa dân tộc đồng hành với lịch sử. Sông Luộc ở phương Nam tuy là một tự truyện của Khôi Vũ, nhưng bước đầu đã có những thăm dò nghệ thuật.

Truyện ngắn của anh cũng là một thế giới nghệ thuật riêng. Đó là những truyện “thời sự – thế sự”. Từ những mảnh sinh hoạt đời thường, anh sáng tạo một cốt truyện, và đặt câu chuyện vào dòng thế sự. Truyện chuyển tải được những vấn đề tư tưởng. Đọc truyện ngắn của Khôi Vũ, người đọc được sống cùng thời với mọi biến động xã hội của thời đại mình. (Xin đọc những bài tôi đã viết về tác phẩm của Khôi Vũ).

Khôi Vũ – Nguyễn Thái Hải còn có nhiều tác phẩm viết về lịch sử, văn hóa , du lịch Đồng Nai. Những tác phẩm này góp phần giá trị vào đời sống văn hóa giáo dục của Đồng Nai. Tác phẩm văn chương của anh cũng giàu phẩm chất văn hóa như vậy.

Đời viết văn của Khôi Vũ và câu hỏi “Viết nhiều để làm gì?” vẫn ám ảnh tôi. Anh bảo, “Ngưng viết khó hơn cai nghiện”. Và tôi phải tự tìm câu trả lời.

Tác phẩm văn học không chỉ là câu chuyện được kể, mà còn là hiện thực được khám phá, là những vỉa tầng văn hóa nó chứa đựng, là diễn ngôn và thái độ sống của con người đương đại cùng với những giá trị giáo dục tốt đẹp cho đời. Trên hết, viết tác phẩm là thể hiện quyền lên tiếng nói trước hiện thực.

Nhìn ở góc độ ấy, mới thấy hơn 80 tác phẩm của Khôi Vũ – Nguyễn Thái Hải đã góp phần làm giàu đời sống văn học, văn hóa ở Đồng Nai như thế nào. Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, Giải thưởng Trịnh Hoài Đức của Đồng Nai đã khẳng định những đóng góp của Khôi Vũ – Nguyễn Thái Hải. Anh xứng đáng với danh hiệu “nhà văn” như anh đã dành trọn đời “cố gắng để mình luôn là một người sáng tác thật sự, tự hào khi viết và in sách…”

Ở Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai, sau các nhà văn Lý Văn Sâm, Hoàng Văn Bổn thuộc giai đoạn kháng chiến, người kế thừa được truyền thống văn học Đồng Nai ở giai đoạn công nghiệp hóa có lẽ là Khôi Vũ – Nguyễn Thái Hải. Các nhà văn trẻ thuộc “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc’ có thể học hỏi được nhiều điều về con đường sáng tác của Khôi Vũ.

Tôi có nhiều kỷ niệm với Khôi Vũ. Ngày Nhà giáo Việt Nam năm 1998, Khôi Vũ hiện diện và đọc thơ chúc mừng trong “đêm nhạc Bùi Công Thuấn” do Phòng Văn hóa – Thông tin Long Khánh tổ chức. Thơ của Khôi Vũ giàu chất suy tưởng (nhưng anh không gọi là thơ, mà chỉ gọi là văn vần, và rất ít công bố). Khôi Vũ đã giúp tôi in hai cuốn sách là tập truyện ngắn Hạnh (Nxb HNV 2005) và Chút tình tri âm (LLPB, Nxb HNV 2009). Lúc ấy, bản thảo của tôi đầy lỗi chính tả và lỗi trình bày. Anh đã mất rất nhiều công biên tập và mất 9 tháng mới in được sách. Đọc những bài tôi viết phê bình tác phẩm văn học đương thời, anh bảo tôi: “Anh Thuấn viết phê bình văn học thế này, nhà xuất bản không bằng lòng đâu! – Vâng, cám ơn anh, để mình xem lại”. Tôi luôn nói với Khôi Vũ như vậy, và thầm cảm ơn anh về những giúp đỡ buổi đầu khi tôi mới tập tọng in sách.

Tôi vẫn nhớ như in những ngày anh vất vả và tâm huyết làm tờ báo “Dưới mái trường” dành cho thiếu nhi. Anh chạy xe gắn máy đến từng trường trong tỉnh để nói chuyện văn chương, gặp gỡ các cháu và phát hành. Nhờ thế, số lượng báo phát hành ngày càng tăng. Nhưng khi anh trao trách nhiệm lại cho Hội VHNT Đồng Nai, tờ Dưới Mái trường không còn được xuất bản. Nội dung văn học thiếu nhi được đăng trên tạp chí Văn nghệ Đồng Nai.

Văn học nghệ thuật Đồng Nai sẽ còn nhắc tới anh. Rồi đây người ta sẽ tôn vinh những đóng góp của Khôi Vũ cho miền đất này. Tôi nhận ra những đặc điểm này của nhà văn Khôi Vũ-Nguyễn Thái Hải:

  1. Khôi Vũ – Nguyễn Thái Hải là nhà văn Đồng Nai “nguyên chất”. Anh lớn lên, sống, làm việc và viết trên đất này. Anh được các nhà văn Đồng Nai Hoàng Văn Bổn, Lý Văn Sâm dẫm dắt, rèn luyện, từ đó trưởng thành lên
  2. Khôi Vũ dành cả đời cho văn chương. Anh bỏ công việc ở công ty Dược, sang Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai làm việc và sáng tác. Khi về “làm dân”, Khôi Vũ vẫn chuyên tâm sáng tác. Khối lượng tác phẩm của Khôi Vũ – Nguyễn Thái Hải là một đóng góp giá trị cho văn học, văn hóa Đồng Nai.
  3. Văn chương Khôi Vũ – Nguyễn Thái Hải là sự chưng cất những giá trị tốt đẹp của đất nước, con người Đồng Nai; cũng là tiếng nói ân nghĩa, ân tình của những con người sống chết với miền đất quê hương này, nơi mà nhà văn Hoàng Văn Bổn gọi là “Miền đất ven sông”, và khẳng định “Trên mảnh đất này”.
  4. Khôi Vũ là nhà văn có ý thức trách nhiệm rất cao đối với ngòi bút của mình. Anh tâm niệm: “Chỉ biết cố gắng để mình luôn là một người sáng tác thật sự”.
  5. Tác phẩm của Khôi Vũ đóng góp tích cực và mới mẻ vào sự cách tân tư tưởng và nghệ thuật của văn chương Việt Nam giai đoạn 50 năm sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất (1975-2025).

Bùi Công Thuấn

Ngày 23/6/2026


[1] Bài viết trên Vanvn.net viết sai tên tác phẩm của Khôi Vũ. Xin đọc: Nhà văn Khôi Vũ – Nguyễn Thái Hải qua đời ở Đồng Nai. https://vanvn.vn/nha-van-khoi-vu-nguyen-thai-hai-qua-doi-o-dong-nai/

[2] Fb Nguyễn Thái Hải ngày 01/12/2025…

[3] FB Nguyễn Thái Hải. Ngày 13.6.2021; ngày 04.7.2021

[4] Xin đọc: Tập thơ đầu tay chuyển nhượng với giá chưa từng có. Tác giả:Nguyễn Huy Hoàng đang công tác tại Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch, hiện là thư ký của Thứ trưởng Vương Duy Biên.

https://vietnamnet.vn/tap-tho-dau-tay-chuyen-nhuong-voi-gia-chua-tung-co-306767.html

Nên nhìn nhận quà cho con như thế nào?

https://daidoanket.vn/nen-nhin-nhan-qua-cho-con-nhu-the-nao-10042177.html

[5] Fb Nguyễn Thái Hải ngày 02.6/2016

BẠN TẢI VỀ ĐỌC CHUYÊN LUẬN-BẢN FULL-THEO LINK:

https://drive.google.com/file/d/1Fxc2FGqs5J2pPHIEUMUMeHgGWBn13Qm2/view?usp=drive_link

Hoặc:

https://www.mediafire.com/file/ytr1eax48n0i19p/00_KH%25C3%2594I_V%25C5%25A8-NTH_%2526_H%25C3%25A0nh_tr%25C3%25ACnh_v%25C4%2583n_ch%25C6%25B0%25C6%25A1ng-Official.pdf/file

45 NĂM VĂN HỌC ĐỒNG NAI-Giới thiệu tác phẩm

Bạn có thể đọc bài viết của Bùi Công Thuấn theo link:

buicongthuan.com hoặc: http://buicongthuan.vn102.space

GIỚI THIỆU CHUYÊN LUẬN -45 NĂM VĂN HỌC ĐỒNG NAI của Bùi Công Thuấn

Nxb HNV 2025

MỤC LỤC TỔNG QUAN

1.TỔNG QUAN 45 NĂM VĂN HỌC ĐỒNG NAI

2.THÀNH TỰU VỀ BÚT KÝ

3.THÀNH TỰU VỀ TRUYỆN NGẮN

4.THÀNH TỰU VỀ TIỂU THUYẾT

5.THÀNH TỰU VỀ THƠ

6.VĂN TRẺ ĐỒNG NAI

7.THÀNH TỰU VỀ LÝ LUẬN PHÊ BÌNH

8.TRUYỆN THIẾU NHI

9.CHI HỘI NHÀ VĂN ĐỒNG NAI

10.DƯỚI GÓC NHÌN LÝ LUẬN

***

BẠN TẢI VỀ ĐỌC THEO LINK:

https://drive.google.com/file/d/1-gj1tEuBaVTloT9d4yrnQPFxyRQlyOQc/view?usp=drive_link

HOẶC THEO LINK:

https://www.mediafire.com/file/hxxyn9m46watadd/45_nam_VH%25C4%2590N_B%25E1%25BA%25A3n_in_ch%25C3%25ADnh_th%25E1%25BB%25A9c.pdf/file

HẠNH – tập truyện ngắn của Bùi Công Thuấn

ABSTRACT

“Hanh” is a collection of 15 short stories, published by the Vietnam Writers Association in 2005. “Hanh” depicts the tragic fates of women. The author shares with readers his reflections on the human condition, seeking an answer to the lament that Nguyen Du expressed over 200 years ago.

BẠN TẢI VỀ ĐỌC THEO LINK SAU ĐÂY:

https://drive.google.com/file/d/10QYmmts2pg72oB9oQxbZdHdSzq3Twb2Z/view?usp=drive_link

https://www.mediafire.com/file/w7cdh0syubnda0m/1_H%25E1%25BA%25A0NH-word-b%25E1%25BA%25A3n_full.pdf/file

Tổng quát

Hạnh là tập truyện ngắn gồm 15 truyện, Nxb Hội Nhà văn xuất bản năm 2005. Hạnh viết về những số phận bi kịch của người phụ nữ. Tác giả chia sẻ với bạn đọc những trăn trở về những vấn đề nhân sinh của đời người, để tìm một lời giải cho điều mà Nguyễn Du đã kêu thương của Nguyễn Du hơn 200 năm qua:

            Đau đớn thay phận đàn bà

            Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

                        (Nguyễn Du-Đoạn trường tân thanh)

Hạnh còn quan tâm đến những vấn đề xã hội mà bất cứ ai có tâm huyết với cuộc sống này luôn phải trăn trở. Đó  là sự khác biệt giữa các thế hệ mà lớp trước có thể cản trở lớp sau, hoặc thế hệ sau có thể đạp đổ những nền móng mà thế hệ đi trước đã đổ xương máu xây dựng; là quyền làm người của một sinh linh, quyền sống của những con người lương thiện…

Hạnh cũng muốn gửi một thông điệp riêng đến với người trẻ vừa rời ghế nhà trường, chập chững vào đời. Những nỗi bất hạnh nào đang chờ các bạn? Hãy kiên vững trong niềm tin và bước tới. Trời sẽ nâng đỡ bước chân của bạn.

VĂN TRẺ ĐẦU THẾ KỶ XXI – Bùi Công Thuấn

VĂN TRẺ ĐẦU THẾ KỶ XXI – Bùi Công Thuấn

Giới thiệu NHỮNG DÒNG SÔNG VẪN CHẢY. LLPB. Nxb HNV 2011. Cuốn sách được Giải Văn học Nghệ thuật 2011 của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam

  MỤC LỤC  
  
Lời đề từ : Thế giới nghệ thuật và nhà phê bình     

Phần I : Văn chương trẻ            
1. Nguyễn Ngọc Tư và hành trình đã đi. 10            
2. Phong Điệp – Blogger và những cách tân nghệ thuật. 20            
3. Trần Thu Hằng – Người đàn bà lưu vong. 33            
4. Đỗ Tiến Thụy – Màu Rừng Ruộng. 38            
5. Dương Thụy – Nhắm mắt thấy Paris. 47            
6. Phan Hồn Nhiên – Mắt bão. 53            
7. Uông Triều – Đôi mắt Đông Hoàng 64                                    
Sương mù tháng Giêng. 77            
8. Nguyễn Danh Lam – Giữa dòng chảy lạc. 85            
9. Nguyễn Bình Phương – Ngồi và những thể nghiệm thất bại. 96            
10. Nguyễn Đình Tú – Nháp, sự tha hóa và vỏ bọc trí thức. 106            
11. Vũ Đình Giang – Song Song những phận người.117            
12. Keng – Dị Bản. 125            
13.Thủy Anna – Thoát y dưới trăng. 129    

 Phần II: Thời sự văn chương
1. Lê Quang Trang – Gió vẫn thổi về từ biển.137
 2.  Phạm Công Thiện, Người muốn nhảy qua cái bóng của mình.148
3. Dị Hương, Kiếm Sắc và…165  
4. Đối thoại với người trẻ viết văn – làm thơ. 168
5. Nỗi ám ảnh “Bóng đè”. 175
6. Trò chuyện với “Văn Nghệ Trẻ”  

ABSTRACT

This treatise introduces young writers of the early 21st century. By 2026, many of them had become pillars of contemporary Vietnamese literature (Nguyen Binh Phuong is currently the Vice President of the Vietnam Writers Association). They are entering the nation’s “era of resurgence.” Along the literary journey, many have fallen.

The path of creation is a glorious one. That path is reserved only for the truly talented.

BẠN TẢI VỀ ĐỂ ĐỌC THEO LINK:

https://drive.google.com/file/d/1zEM9joNcTz0fvPkzEEh5enB8ItALgCm_/view?usp=sharing

https://www.mediafire.com/file/ydhb8ktuj13lump/NHỮNG+DÒNG+SÔNG+VẪN+CHẢY-word+full.pdf/file

THƠ LÊ ĐÌNH BẢNG – Chuyên luận của Bùi Công Thuấn

Bạn có thể đọc các bài viết của Bùi Công Thuấn trên trang:

buicongthuan.com

buicongthuan.wordpress.com

THƠ LÊ ĐÌNH BẢNG – Chuyên luận của Bùi Công Thuấn

ABSTRACT

Introducing the Catholic poetry of Vietnamese poet Lê Đình Bảng. Lê Đình Bảng is a representative figure of contemporary Vietnamese Catholic poetry, following Hàn Mạc Tử (1912-1940). His poetry is a beautiful blend of Christian aesthetics with the traditional aesthetics of Vietnamese poetry, a fusion of Vietnamese culture with Western culture rooted in the Bible. Lê Đình Bảng’s poetry contributes a unique voice to enrich Vietnamese poetry today.

Mục lục

  1. LỜI NÓI ĐẦU                        tr.3
  2. QUỲ TRƯỚC ĐỀN VÀNG   5
  3. HÀNH HƯƠNG                     15
  4. THĂM CÁC MIỀN THƠ       27
  5. MỘT TẤM LÒNG                  39
  6. LỜI TỰ TÌNH                         46
  7. KINH BUỒN                          58
  8. ƠN ĐỜI MỘT CÕI MÊNH MÔNG 70
  9. NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG             86
  10. ĐỌC BÀI HÀNH HƯƠNG              97
  11. BÀI NHÃ CA THÁNG GIÊNG     104
  12. BÀI THƯƠNG KHÓ                      112
  13. CHUYỆN HOA SOAN                  126
  14. Thơ ca Công giáo đương đại           136
  15. TỰ TÌNH KHÚC                            153
  16. TRÒ CHUYỆN                               166                     
  17.  TRƯỜNG CA VỀ THƠ                 177
  18.  VÀ EM. LỄ KHẤN DÒNG           194
  19.  BẢN TANGO VỚI CHÚA             203
  20.  NGHÊU NGAO HÁT THƯƠNG HỒ 214
  21.  MẤY GHI CHÚ VỀ TRƯỜNG CA  224

BẠN TẢI VỀ ĐỂ ĐỌC THEO LINK (chọn 1 trong 2 link)

https://drive.google.com/file/d/1CRQHZ6J4gCH9f7O6UBrRFLbAIz-QCxK3/view?usp=sharing

https://www.mediafire.com/file/5n3fkm17giqn4c0/THƠ+LÊ+ĐÌNH+BẢNG-+Bùi+Công+Thuấn-chuyên+luận.pdf/file

***

LÝ LUẬN-PHÊ BÌNH VĂN HỌC, Diện mạo của một thời

BẠN TẢI VỀ ĐỌC THEO LINK:

https://www.mediafire.com/file/xto8ue90wn1r822/DIỆN+MẠO-full+Version+-+3+2026.pdf/file

https://drive.google.com/file/d/1S499PAdWy5phGhpbMKkAcs7Obrl_kYzV/view?usp=sharing

Bùi Công Thuấn

LÝ LUẬN – PHÊ BÌNH VĂN HỌC, DIỆN MẠO CỦA MỘT THỜI

(Chuyên luận)

ABSTRACT

An overview of Vietnamese literary theory and criticism (1975-2025): main trends, representative figures, and experiments in writing criticism using different methods for specific works such as folk songs, Zen poetry, Game theory, and works with Postmodern elements.

MỤC LỤC

Phần I: TỔNG QUAN

1.CHÚT TÌNH TRI ÂM.

 2. MỘT GÓC NHÌN KHÁC.

3. NHỮNG NHÀ PHÊ BÌNH CHÍNH TRỊ.21

4. NHỮNG NHÀ PHÊ BÌNH LÝ THUYẾT.31

5. NHỮNG NHÀ PHÊ BÌNH PHONG TRÀO.44

6. NHỮNG NHÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC HẢI NGOẠI.51

 Phần II: NHỮNG KHUÔN MẶT TIÊU BIỂU

7. GS-TS TRẦN ĐÌNH SỬ – Thi pháp học.71

8. ĐẶNG TIẾN – “Gu hay phương pháp”. 88

9. TS CHU VĂN SƠN – Nhà phê bình tài hoa. 100

10. NGUYỄN HÒA – “Bàn phím và cây búa”. 109

11. INRASARA – “Nhà phê bình lập biên bản”. 120

12. PGS-TS ĐỖ LAI THÚY – Nhà phê bình lai ghép. 129

13. VŨ BÌNH LỤC – Nhà phê bình phong trào. 144

14. GS TRẦN THANH ĐẠM – “Tác phẩm văn học như một đơn vị ngôn từ”. 154

Phần III: NHỮNG TRANG THỬ NGHIỆM

15. ĐỌC BÀI CA DAO THẰNG BỜM. 164

16. MỘT CÁCH TIẾP CẬN THƠ THIỀN. 171

17. THANH TÂM TUYỀN – Thi sĩ tuyệt vọng trần truồng.185

17. LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI (Game Theory) trong nghiên cứu và phê bình văn học.207

18. CHUYỆN NGÕ NGHÈO – Nguyễn Xuân Khánh (ứng dụng Lý thuyết trò chơi). 216

19. MIỀN HOANG TƯỞNG – Nguyễn Xuân Khánh (ứng dụng Lý thuyết trò chơi).230

20. “LUẬN VĂN NHÃ THUYÊN” – Sự thất bại trong việc ứng dụng lý thuyết văn học.243

_________________

TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN