45 NĂM VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM-phần II

45 NĂM VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM-Một góc ghi nhận

Bùi Công Thuấn

***

PHẦN II: GHI NHẬN MỘT VÀI HIỆN TƯỢNG

a 4 jpeg

45 năm qua còn lưu lại dấu vết  nhiều hiện tượng văn học .

  1. Đáng kể là việc tổ chức Ngày thơ Việt Nam hàng năm vào ngày Nguyên tiêu. Hoạt động này đã trở thành một nét văn hóa có ý nghĩa. Tuy vậy, việc tổ chức Ngày Thơ Việt Nam trong cả nước đang nhạt dần. Công chúng ngày càng xa rời thơ. Người ta không tìm thấy thơ hay, mà đa phần là thơ phong trào. Thơ không nói được tiếng nói của công chúng, thơ không là nhịp đập trái tim của nhân dân. Đó là chưa nói đến trào lưu “thơ khó hiều” làm nản lòng công chúng. Ngày thơ Việt Nam được tổ chức như một ngày hội với nhiều hình thức sinh hoạt, và được Hội Nhà văn mở rộng các hình thức giao lưu quốc tế.
  2. Sau gần 50 năm, các tác giả trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm đã được phục hồi danh dự và được trao giải thưởng Nhà Nước: Nhà thơ Quang Dũng(năm 2000), Lê ĐạtTrần DầnPhùng QuánYến Lanvà Hoàng Cầm được Chủ tịch nước Việt Nam ký quyết định tặng thưởng Giải thưởng Nhà nước tháng 2 năm 2007
  3. Đã có lúc tình trạng “loạn” diễn ra trên các diễn đàn. Nhất là trong Đại hội Nhà văn lần thứ VIII (2-5/8/2010): “Cả hội trường như một lò lửa! Đại hội căng lên như một dây đàn. Và Tô Nhuận Vỹ đăng đàn. Trong chốc lát đã có người lên cướp diễn đàn của ổng! Ôi! Khủng khiếp!”(28)

Khi rộ lên phong trào lập trang web, phong trào viết blog, nhiều người mang “mặt nạ”, quăng lên mạng đủ mọi thứ ngôn từ làm cho việc phê bình văn chương trở nên hỗn loạn, nhất là loạn tiêu chí đánh giá tác phẩm. Từ đây dẫn đến tình trạng “thiếu văn hóa” trong phê bình văn chương. Môi trường văn chương bị ô nhiễm trầm trọng, mất hẳn tính nhân văn học thuật trong đời sống văn học. Đến độ, Phó Giáo Sư-Tiến Sĩ Phạm Quang Trung đã phải tuyên bố ngưng cuộc tranh luận về giải thưởng văn chương của Hội Nhà văn Việt Nam 2010:” Suốt một tháng trời nay, tôi thức khuya dậy sớm, mong góp những tiếng nói kịp thời theo diễn biến nhanh chóng không phải chỉ từng ngày mà từng giờ chung quanh cuộc tranh luận chủ yếu trên diễn đàn trannhuong.com về giải thưởng văn chương của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010. Đến lúc này, tôi ý thức rõ rệt là bản thân cần nói lời giã từ mặc dầu không phải không thấy lưu luyến và tiếc nuối…” (29)

Thực ra không chỉ cuốn Hội thề của Nguyễn Quang Thân đạt giải thưởng tiểu thuyết (2006-2009) của Hội Nhà văn Việt Nam 2010 gây ra những luồng ý kiến trái chiều, mà nhiều giải thưởng văn chương khác cũng khiến người ta đặt vấn đề về việc trao giải.” Vì lẽ, qua mấy mùa trao giải gần nhất, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam luôn xảy ra sự cố: Nào là có nhà thơ từ chối nhận tặng thưởng, sếp trong Hội từ chối nhận giải, vô số tác phẩm bị chê là không xứng đáng được vinh danh… Kể cũng khổ cho Hội, điều quan trọng nhất để đánh giá cái được và chưa được của giải thưởng là chất lượng tác phẩm, thì người ta lại bỏ quên để chú ý chuyện đâu đâu”.(30)

  1. Trình trạng “đạo thơ” xảy ra quá nhiều làm nhức nhối lương tâm những người cầm bút chân chính. Nhà văn từ xưa đến nay là ánh sáng lương tri cho nhân loại. Trong thế giới của “cái đẹp”, của sự sáng tạo, không có chỗ cho kẻ cắp. Ngậm ngùi và bẽ bàng hết sức!
  2. Bốn mươi năm tuy dài, nhưng có những vấn đề của lịch sử để lại còn cần thêm thời gian. Vấn đề văn chương miền Nam (1954-1975) và vấn đề “hợp lưu” dòng văn chương của người Việt hải ngoại sau 1975.

Đã có những đòi hòi và nỗ lực ở trong nước và ngoài nước đánh giá về Văn học miền Nam (1954-1975).

Thật ngạc nhiên, đã 45 năm trôi qua, tại hội nghị giao ban của Hội đồng lý luận phê bình văn học, nghệ thuật TP.HCM ngày 10/11/ 2019, nhạc sĩ Trần Long Ẩn, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TPHCM phát biểu: “Chúng tôi đề xuất phải hết sức thận trọng với trang sử đen tối của miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ là bị xâm lược. Văn học, nghệ thuật độc hại của nó xuyên tạc đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ở miền Nam và hiện nay không thể tẩy xóa. Vậy mà đồng thời, phong trào cách mạng ở miền Nam trong văn học, nghệ thuật rất dữ dội, rất lớn thì không biểu dương, không tôn vinh, không học tập, không nhân rộng mà lại đòi xóa nhòa không còn khái niệm âm nhạc cũ trước giải phóng nữa”.

            Ý kiến này của Trần Long Ẩn đã bị công luận phản đối dữ dội, bởi nó đi ngược với quan điểm hòa hợp hòa giải dân tộc, và thể hiện một cái nhìn hẹp hòi thiếu tính lịch sử khoa học và dân tộc. (https://www.phunuonline.com.vn/van-hoa-giai-tri/truyen-thong-dinh-huong-thi-truong-dang-tao-ra-gam-mau-toi-cho-doi-song-van-hoa-68957/?fbclid=IwAR3ZaLYuK4wDm6H9Cs2qdHfIJ3R9TvWtyKuvelSxK_4vuNteODjFwtvAGso)

Trong nước, cuốn Văn học thực dân mới Mỹ ở miền Nam những năm 1954-1975 của Trần Trọng Đăng Đàn.(Nxb Sự Thật, Hà Nội 1988) là cuốn sách chứa đựng những quan điểm vẫn còn tồn tại đến hôm nay. Cuốn này sau đổi tên là Văn-hóa Văn nghệ Nam Việt Nam, 1954-1975(Nxb Văn-hóa Thông tin, Hà Nội, 2000). Xin trích:

Trần Trọng Đăng Đàn nói về nhiệm vụ chính trị trong cuộc đấu tranh chống văn hóa thực dân mới Mỹ ở miền Nam sau 1975:

…Những văn kiện của Đảng và Nhà nước, đặc biệt các văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, V, VI đã xem nhiệm vụ nghiên cứu và phê phán chủ nghĩa thực dân mới trên lĩnh vực văn hóa văn nghệ là một bộ phận hữu cơ của toàn bộ nhiệm vụ khắc phục những hậu quả của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam trước đây và là một việc làm có ý nghĩa quan trọng góp phần đẩy mạnh cuộc cách mạng tư tưởng và văn hóa đang diễn ra ở nước ta.

Để đạt mục tiêu ấy, chúng ta phải có phương pháp nghiên cứu thích hợp, đồng thời phải xác định đúng vị trí, đánh giá đúng tác hại của “văn học” thực dân mới. Do nhận định sai về vị trí và tác hại của “văn học” thực dân mới Mỹ, xem nó như một giai đoạn kế tục của nền văn học Việt Nam truyền thống, mà nhiều người làm công tác nghiên cứu giảng dạy văn học thời Mỹ đã vận dụng phương pháp lịch sử để trình bày diễn tiến của “giai đoạn văn học “này và gán ghép nó vào lịch sử văn học dân tộc.

Theo chúng tôi, với mục đích nghiên cứu “văn học” thực dân mới để vạch trần những độc hại của nó, để thanh toán những tàn tích của nó, qua đó, góp phần xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, thì việc sử dụng phương pháp lịch sử là không thích hợp, là khiên cưỡng và có dụng ý bóp méo lịch sử.

Ở đây, cái thích hợp nhất đối với chúng ta là phương pháp nghiên cứu logic, nhằm phân tích và phê phán “văn học” thực dân mới qua 4 khâu: xã hội, nhà văn, tác phẩm và người đọc”.(tr.42)

Nhận xét về nội dung văn học miền Nam 1954-1975, Trần Trọng Đăng Đàn viết:

Có ba khuynh hướng: “văn học” phản động về chính trị, “văn học” đồi truỵ hóa con người và “văn học” chạy theo những thị hiếu thấp kém của xã hội tiêu thụ gọi tắt là “văn chương tiêu thụ”. (tr.23)

Nhận xét về hình thức vận động của văn học:

Nhằm tận dụng “văn hóa” và “văn nghệ” làm công cụ chiến tranh tâm lý, trong những năm thống trị ở miền Nam, địch đã kết hợp cả hai hình thức: ”văn hóa, văn nghệ chỉ huy” và “văn hóa văn nghệ tự phát”

“Chỉ huy là loại “văn hóa”, “văn nghệ” do các cơ quan, các tổ chức, các cá nhân trong bộ máy chính quyền và quân đội Sài Gòn công khai nắm…phục vụ trực tiếp cho những yêu cầu chính trị, quân sự, kinh tế của chúng. (tr.17)

Gọi là “văn hóa”, “văn nghệ tự phát” là vì nhìn bề ngoài thì y như nó không chịu sự điều khiển, chỉ huy của chính quyền, y như nó được hoàn toàn tự do, tự phát. Ở đây, “văn hóa”, “văn nghệ” giống như một khu vực chợ trời: ai muốn in sách cứ in, ai muốn ra báo cứ ra, ai muốn lập nhà xuất bản, lập các hội, các đoàn, các nhóm, các phái… cứ việc lập; có tiền anh cứ xây nhà hát, dựng rạp chiếu bóng, lập phim trường…Chính quyền cũ… cho du nhập đủ các trường phái văn học, các xu hướng triết học, mỹ học, và trong đó, chúng vờ làm như là cho tha hồ viết, tha hồ nói…kể cả chửi Mỹ, chỉ trích tổng thống… Thực chất là có chỉ huy, mà trước hết là nó chỉ huy cái cơ bản: muốn nói gì thì nói, viết gì thì viết, nhưng phải là không nói, không viết cái gì có lợi cho cách mạng, không viết “theo sự chỉ đạo của cộng sản”…và “mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ”…

Tuy nhiên, đường lối “văn hóa, văn nghệ tự phát’ lại có các mặt bất lợi cho địch…Chính đây là kẽ hở mà cách mạng có thể lợi dụng để khơi những dòng trong giữa những dòng đục và quật lại chúng những đòn thấm thía trên mặt trận đấu tranh văn hóa- tư tưởng.(tr. 26)

Qua trích dẫn trên, Trần Trọng Đăng Đàn không coi văn học miền Nam là văn học. Ông để chữ “văn học” trong ngoặc kép (“ “). Theo ông, văn học miền Nam phải hoàn toàn bị vứt bỏ vì nó là nền “văn học” phản động về chính trị, đồi truỵ hóa con người và chạy theo những thị hiếu thấp kém của xã hội tiêu thụ“. Nó không thể được coi là một bộ phận của nền văn học dân tộc vì nó chỉ có tác hại. Nghiên cứu văn học miền Nam bằng phương pháp lịch sử là sai lầm. Nhưng ông phải thừa nhận, ngoài bộ phận “văn học chỉ huy”, ở miền Nam còn có một bộ phận “văn hóa văn nghệ tự phát”, “hoàn toàn tự do”.” Chính quyền cũ… cho du nhập đủ các trường phái văn học, các xu hướng triết học, mỹ học”.

Ngày nay nhìn lại, đánh giá của Trần Trọng Đăng Đàn về văn học miền Nam 1954-1975 hoàn toàn là đánh giá chính trị, một cái nhìn phủ định sạch trơn. Văn học chịu sự quy định của bối cảnh chính trị-xã hội, nhưng văn học cũng có giá trị tự thân và vận động theo quy luật riêng của nó trong lịch sử văn học. Bối cảnh chính trị xã hội 2020 đã hoàn toàn khác với bối cảnh chính trị-xã hội trước 1975. Văn học miền Nam 1954-1975 nay đã trở thành một thực tại lịch sử. Nó phải được đặt trong dòng chảy của lịch sử văn học dân tộc và được nghiên cứu bằng các phương pháp khoa học và phương pháp lịch sử. (Giống như sau 40 năm, từ 1986 trở đi, người ta đã đánh giá lại văn học 1930-1945, đánh giá lại Tự Lực văn đoàn, Vũ Trọng Phụng, Thơ Mới…; hoặc 50 năm nữa hay những thế kỷ sau, khi nhìn về văn học miền Nam 1954-1975, các thế hệ con cháu sẽ chỉ chú ý đến những giá trị mà nền văn học này đóng góp cho lịch sử văn học dân tộc.).

Cho đến nay đã có một vài tín hiệu mở ra hướng tiếp cận những vấn đề còn nhiều cách biệt về chính trị. Đã có những đề xuất cần phải nhận thức lại văn học miền Nam, chẳng hạn: Nguyễn Thị Thu Trang: Vài nét về văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975 (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 5/2007), Trần Hoài Anh: Lý luận – Phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954-1975, (Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2009, Nguyễn Thị Việt Nga: Một bộ phận văn học dân tộc cần được tiếp tục nghiên cứu.

Nguyễn Thị Việt Nga đặt vấn đề: ”…phải thừa nhận có một thực tế là sau giải phóng miền Nam 1975, do cách nhìn thành kiến, đố kỵ và sự ấu trĩ trong quan điểm tiếp cận, hoặc bị chi phối bởi các yếu tố ngoài văn học và các yếu tố tâm lý xã hội thiếu cởi mở, nên các nhà nghiên cứu, phê bình văn học (ở cả miền Nam và miền Bắc) có biểu hiện né tránh, ngại đi vào lĩnh vực có vẻ còn nhiều “chông gai” bởi đã và vẫn đang tồn tại nhiều quan điểm trái chiều này. Hơn nữa, qua thời gian đã nửa thế kỷ, nhiều tác phẩm văn học không những không được tái bản mà còn không được quan tâm lưu trữ. Do vậy, nguồn tư liệu, theo thời gian đang là trở ngại cho giới nghiên cứu. Văn học đô thị miền Nam dù thế nào đi nữa, nó là một bộ phận của văn học dân tộc, có quá trình phát triển hơn 20 năm, không thể bỏ qua. Đã đến lúc (tuy rằng đã muộn) phải tiến hành nghiên cứu đầy đủ văn học đô thị miền Nam, từ đó đưa ra những đánh giá khách quan, khoa học để những gì có giá trị thực sự, đóng góp vào thành tựu chung của cộng đồng, dân tộc cần ghi nhận, tiếp thu.”(31)

Tiến sĩ Trần Hoài Anh viết:“Việc xác định giá trị của lý luận – phê bình văn học ở đô thị miền Nam trong hệ thống giá trị của lý luận – phê bình văn học dân tộc là điều có ý nghĩa, không chỉ về mặt học thuật mà còn về mặt tư tưởng xã hội của một đất nước thống nhất, một dân tộc thống nhất./ Mặt khác, sự hiện hữu của lý luận – phê bình văn học ở đô thị miền Nam là một thực thể, một thực tế lịch sử, không thể phủ nhận. Sự hiện hữu đó làm cho di sản lý luận – phê bình văn học dân tộc phong phú hơn, giàu có hơn, tiệm cận hơn với nền lý luận – phê bình hiện đại của thế giới mà chúng ta đang hướng tới trong xu thế mở cửa, hội nhập với quốc tế hôm nay” (sđd. tr.260).

Trên  các diễn đàn (báo in và báo mạng), Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Du Tử Lê, Dương Nghiễm Mậu đã được nói đến. Riêng việc tái bản các tập truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu đã có những ý kiến phản đối quyết liệt. (bài viết “Đâu là tiêu chí của người xuất bản” của Vũ Hạnh đăng trên trang nhà Sài Gòn Giải Phóng ngày 22 tháng 4 năm 2007). Nhà thơ Du Tử Lê đã có lúc bị phản đối mạnh mẽ (xin đọc bài: Bộ mặt ngạo mạn của Du Tử Lê– báo công an tpHCM 18/8/05), nay cái nhìn về ông đã có vẻ thân thiện hơn. Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng (Canada) xuất hiện nhiều trong các sinh hoạt văn chương trong nước, ông cũng đã in tác phẩm ở trong nước. Tác phẩm Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, “Phê bình văn học thế kỷ XX” của Thụy Khuê… cũng đã được in trong nước…

Ở nước ngoài cũng đã có những tác giả viết về văn học miền Nam. Đáng kể là Tổng quan văn học miền Nam của Võ Phiến. Cuốn này được viết dưới nhãn quan “chống Cộng”, tuy vậy nó có giá trị về mặt tư liệu đối với người làm công việc nghiên cứu. Nhà phê bình Đặng Tiến đánh giá:”trong bộ Văn học miền Nam, cuốn I Tổng quan là một trước tác công phu, một ký sự văn học và xã hội học phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của một quần chúng đông đảo dưới một chế độ xã hội đã đi qua. Một tác phẩm giàu tâm tình và tâm huyết, với nhiều nhận định sắc bén, qua giọng văn trò chuyện tự nhiên, thân mật, dí dỏm. Trong một đề tài rộng rãi và phức tạp như thế, dĩ nhiên là có điểm cần bàn lại, có chỗ cần bổ sung hay sửa sai, nhưng nói chung, Tổng Quan là một biên khảo thành tâm, đứng đắn, ngay thẳng, đáng tin cậy.”.(32)

Cũng phải kể đến bài viết Văn học miền Nam của Thụy Khuê (33), và đặc biệt là Hội thảo 20 Năm Văn Học Miền Nam 1954-1975 ngày 6 & 7/12/2014 tại hội trường nhật báo Việt Báo, Westminster (34). Trong hội thảo này, đã có 16 tham luận về văn học miền Nam 1954-1975. Hội thảo vẫn nằm trong ý thức chính trị “chống Cộng” của một bộ phận người cầm bút hải ngoại, song cũng đã có những góc nhìn xem xét văn học miền Nam trong tiến trình văn học dân tộc. Chẳng hạn, tham luận của Bùi Vĩnh Phúc: Hai mươi năm văn học miền Nam (1954 – 1975): Phẩm Tính và Ý Nghĩa, của Du Tử Lê: ”Vài khía cạnh đặc thù của 20 năm văn học miền Nam”,…

Thiết nghĩ, sau 45 năm, chúng ta đã có thể nghiên cứu văn chương miền Nam (1955-1975) theo quan điểm khoa học và lịch sử một cách khách quan hơn. Những tác phẩm nào phản ánh được đời sống, tâm tư, nguyện vọng của dân tộc; những gì đóng góp vào sự phát triển của văn chương dân tộc thì cần phải được trân trọng giữ gìn.

  1. Văn chương của người Việt ở nước ngoài.

Sau năm 1975, với ý thức bảo tồn văn hóa dân tộc, nhiều tác giả nước ngoài nghiên cứu và đánh giá văn chương Việt hải ngoại. Về văn chương miền Nam trước 1975, Võ Phiến viết “Văn học miền Nam 1954-1975”. Thụy Khuê viết:Thử tìm một lối tiếp cận Văn học sử về Hai mươi lăm năm Văn học Việt Nam hải ngoại 1975-2000”, Nguyễn Mộng Giác viết “Sơ thảo về các giai đoạn thành hình và phát triển của dòng văn xuôi ở hải ngoại từ 1975 đến nay”. Về văn chương hải ngoại sau 1975, Du Tử Lê có công trình 700 trang:” Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật (1975-2015)”, Nguyễn Đức Tùng có một chuyên luận công phu về ”40 năm thơ hải ngoại” (35).

Một bài viết súc tích là bài: ”Văn học Việt Nam ở hải ngoại, những vấn đề của sự phát triển hiện nay.” của A.A. Sokolov, Phó giáo sư tiến sĩ sử họcViện Phương Đông Viện Hàn lâm khoa học Nga: Lê Sơn dịch đăng trên Văn hóa Nghệ An (36). Đây là bài có cái nhìn khá bao quát về diện mạo văn học Việt Nam hải ngoại và định hướng phát triển. Tác giả có góc nhìn rộng và đối chiếu với theo quan điểm của nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

Qua những công trình biên khảo trên, bạn đọc trong nước sơ bộ có thể nhìn thấy đông đảo các nhà văn hải ngoại thuộc nhiều thế hệ , những vấn đề họ quan tâm, và khuynh hướng phát triển của dòng văn học này. Nhìn chung các tác giả vẫn nhận định về giá trị của văn chương hải ngoại theo chuẩn “phản ánh hiện thực”. Đó là “văn chương lưu vong”, chủ yếu viết về những kỷ niệm quê hương, tình cảm với cố quốc; về di tản, kiếm sống và hội nhập. Nhiều nhà văn hải ngoại thấm thía gánh nặng của “tự do” và bi quan về văn chương hải ngoại khi thế hệ các nhà văn miền Nam qua đi, thế hệ hội nhập không còn viết bằng tiếng Việt, thì văn chương Việt hải ngoại chưa biết sẽ thế nào. Bởi thế hệ hội nhập đa số không viết bằng tiếng Việt mà viết bằng tiếng bản ngữ hướng về cộng đồng bạn đọc nơi họ sinh sống.

Có sự khác biệt cả về cách viết và những vấn đề quan tậm giữa hai thế hệ, những nhà văn miền Nam ra nước ngoài sau 1975 và những nhà văn thuộc thế hệ thứ hai, hai rưỡi lớn lên ở hải ngoại.

Tôi nhận ra điều này, các nhà văn Việt Nam ở nước ngoài; hết sức tự do và đầy đủ phương tiện, lại tiếp cận với văn chương thế giới đương đại, lẽ ra họ phải viết được những tác phẩm lớn (tôi ghi nhận tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, dày 2000 trang in ở Việt Nam năm 2017), những tác phẩm có giá trị nghệ thuật và tư tưởng; lẽ ra họ phải viết bằng những bút pháp hiện đại đổi mới hẳn văn chương Việt Nam, nhờ đó các nhà văn trong nước có thể học hỏi kinh nghiệm đưa văn chương trong nước hội nhập văn chương thế giới. Tuy nhiên, trong thực tiễn văn học, mọi đổi mới nghệ thuật văn chương đều xuất phát từ các nhà văn trong nước, đặc biệt những nhà văn dấn thân quyết liệt trên con đường sáng tạo. Và có một sự thật (đáng buồn) là sự mai một của nhiều cây bút tài năng một thời ở miền Nam trước 1975 như Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn, Phạm Công Thiện, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Sa, Nguyễn Tất Nhiên,…

Nói vậy không có nghĩa là không có sự giao lưu văn học trong và ngoài nước. Những nhà văn trẻ trong nước viết bằng thủ pháp hậu hiện đại hoặc làm thơ tân hình thức chắc chắn có kinh nghiệm của nhà văn hải ngoại. Thời mà các trang báo điện tử trong nước chưa có nhiều, rất nhiều nhà văn trong nước đã đăng bài ở các trang mạng nước ngoài như Hợp Lưu, Talawas, damau.org, Tiền vệ,…Những trang này quy tụ nhiều người viết cả trong và ngoài nước. Những cuộc tranh luận thường diễn ra do sự khác biệt chính trị. Những người viết không thể đăng bài trong nước thường đăng ở các trang này, ngược lại những tác giả nước người Việt nước ngoài gây ảnh hưởng với người cầm bút trẻ trong nước cũng qua những trang này.

Tuy nhiên, phải công bằng mà nói, những “cách tân” của “Thơ trẻ” đầu thế kỷ XXI ở trong nước bắt nguồn từ thơ hải ngoại. Đặc biệt là những nhà thơ trẻ tự nguyện đứng “bên lề” của dòng văn chương chính thống trong nước (như nhóm Mở Miệng)…, họ học theo Đinh Linh, Đỗ Kh., Lê Thị Thấm Vân, Lưu Diệu Vân…. Vào thư mục tác giả, tác phẩm của các trang Hợp Lưu, Talawas, damau.org, Tiền vệ, người đọc bắt gặp sự hiện diện của họ. Khế Yêm có nhiều nỗ lực làm và giới thiệu thơ Tân Hình thức ở Mỹ, song ở trong nước thơ Tân Hình thức không có ảnh hưởng lan tỏa.

Cùng lúc, các trào lưu lý luận phê bình văn chương cũng được giới thiệu vào Việt Nam qua các trang này. Nguyễn Hưng Quốc trên Tiền Vệ và Thụy Khuê trên trang cá nhân  (thuykhue.free.fr) là hai tác giả có uy tín. Riêng Thụy Khuê đã giới thiệu khá đầy đủ các lý thuyết phê bình văn học phương Tây, và in thành sách ở trong nước (cuốn Phê bình văn học thế kỷ XX, Nxb Hội Nhà văn, 2018).

Cho đến 2020, nhiều trang web văn chương hải ngoại đã tàn lụi hoặc sống lay lắt (Hợp Lưu, Talawas, Tiền Vệ…), và ở trong nước, nhiều trang web văn chương đã ra đời và đứng được như trang của Hội Nhà văn (vanvn.net ra đời 2009), tạp chí sông Hương, Văn hóa Nghệ An, vanchuongviet.org… Các trang này dần dần thu hút được nhiều người cầm bút hải ngoại đăng bài (xem trang vanchuongviet.org; trannhuong.net…)

Cuộc gặp mặt “Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc” do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức từ ngày 20 đến 24/10/2017 có sự tham dự của hơn 100 nhà văn trong nước và các nhà văn Việt Nam đang sinh sống tại 12 quốc gia trên thế giới là một khởi động có ý nghĩa. Tuy còn nhiều vấn đề khác biệt chưa giải quyết được, song cuộc “họp mặt” đã mở rộng cánh cửa để tất cả các nhà văn trong và ngoài nước gặp gỡ nhau với tinh thần “đoàn kết để sáng tạo, sáng tạo trong đoàn kết”.

  1. 7. Internet và văn chương

Yếu tố làm thay đổi sinh hoạt văn chương mạnh mẽ nhất trong những thập niên qua là sự ra đời của Internet và văn chương mạng.

Nhà văn thoải mái công bố tác phẩm và người đọc cũng thoải mái gửi lời bình (comment) khiến cho đời sống văn học có lúc sôi nổi hẳn lên. Trước kia, việc in ấn và phổ biến tác phẩm luôn là trở ngại lớn đối với người cầm bút. Thời gian đầu, khi trong nước chưa có nhiều trang văn học mạng thì các trang văn học mạng của người Việt hải ngoại chiếm ưu thế và có sức thu hút mạnh mẽ.

Giai đoạn sau đó, khi phong trào viết blog nở rộ, hầu như nhà văn nào cũng có một trang blog (ngoại trừ nhà văn không biết vi tính). Có thể coi đó là phong trào “trăm hoa đua nở”, ai muốn viết gì thì viết, muốn “lập ngôn” gì thì lập ngôn, muốn phê phán ai thì mặc sức. Và không ít người lợi dụng net cho mục đích chính trị, mục đích cá nhân ngoài văn chương. Và tình hình có lúc trở nên “loạn” phát ngôn, loạn phê bình, gây ra tình trạng “loạn” tiêu chí đánh giá văn chương. Thật hiếm có trang mạng nào chuyên về văn chương và những vấn đề văn chương mà không dây vào những vấn đề thời sự chính trị. Những trang của người Việt hải ngoại dù tuyên ngôn là “văn chương không biên giới”, là diễn đàn tự do, thì vẫn mang tư tưởng và thái độ “chống xã hội chủ nghĩa”.

Nhưng khi phong trào chơi blog “xẹp” xuống, cũng sau khi chơi blog, nhà văn nhận ra văn chương chỉ là cuộc chơi. Bởi vì bỗng dưng một ngày nào đó trang blog đăng bài đóng cửa hay biến bất thì tất cả bài vở đăng trên đó cũng mất theo (thí dụ: trang blog của Opera, Yume, phongdiep.net…). Những tưởng văn chương là chuyện lâu dài, nào ngờ đột nhiên nhà mạng ngưng cung cấp dịch vụ, thế là nhà văn trắng tay. Tác phẩm in vẫn giữ nguyên giá trị. Một trang lớn như Talawas (của nhà văn Phạm Thị Hoài ở Đức) đang phát triển, có sức thu hút như một trung tâm văn chương, cũng ngưng hoạt động mà không rõ lý do (rất may bài vở của trang này vẫn còn được lưu giữ).

Trước kia, người ta tưởng cứ tung lên mạng (blog cá nhân) thì sẽ được người đọc vồ vập, nhưng rồi không phải vậy, bởi trên không gian mạng xã hội đầy dẫy những tin giả (Fake news), vô số những kẻ “đeo mặt nạ” (và rất nhiều kẻ lợi dụng chính trị) vào comment, gây ra sự hỗn loạn, nhiều khi nặng lời xúc phạm nhau một cách “vô văn hóa”. Những người đọc chân chính, những người cầm bút lương thiện đành phải “bỏ chạy”.

Từ khi Quốc hội ban hành “Luật an ninh mạng” (số: 24/2018/ QH14, ngày 12/6/2018) thì số trang web văn chương còn sống được và có ảnh hưởng với văn đàn chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Những trang của các Hội VHNT địa phương thường là nhạt nhẽo, lười cập nhật bài (cũng có thể là không có bài, hoặc không có kinh phí) nên không tạo được ảnh hưởng nào.

Sau 15 năm đầu của thế kỷ 21, người ta tưởng sẽ hình thành “văn chương mạng”, song điều này đã không xảy ra. Chỉ một vài người viết trẻ chia sẻ trên mạng những bài viết, sau tập hợp lại in thành sách gọi là tạp văn, nhờ họ đã PR trước đó trên mạng nên có gây được sự chú ý một lúc, sau đó cũng im bặt.

Điều còn lại của internet là góp phần “hợp lưu” văn chương của người Việt hải ngoại và văn chương trong nước, góp phần dân chủ hóa đời sống, sinh hoạt văn chương, giải tỏa những ảo tưởng của nhà văn, và giúp phát triển văn nghệ quần chúng (kiểu như các câu lạc bộ thơ lục bát, câu lạc bộ thơ Đường luật, trang web của các Hội Văn học nghệ thuật địa phương…).

Internet đặc biệt hữu ích cho những người làm công tác nghiên cứu văn học trong việc tiếp cận nguồn tư liệu phong phú và nhanh chóng. Internet cũng là môi trường giao lưu, trao đổi và phổ biến thông tin văn chương có tầm vóc toàn cầu (công bố bài viết, xuất bản tác phẩm, tường thuật hội thảo, chia sẻ tư liệu…). Chưa bao giờ không gian văn chương lại gần gũi như bây giờ. Dù tác giả ở Hà nội, Sài gòn; ở Paris (France), Berlin (Germany), Toronto (Canada), hay Melbourne (Australia), chỉ cần một cái nhắp chuột computer là đã có thể kết nối. Dẫu vậy, tác phẩm in ấn vẫn có giá trị riêng về diễn ngôn và thẩm quyền tác giả mà bất cứ người cầm bút nào cũng muốn thực hiện.

  1. Tình hình văn học sau 2015
  2. Góc nhìn của Hội Nhà Văn Việt Nam

            Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa IX có 6 người: Chủ tịch là nhà thơ Hữu Thỉnh. Các Phó Chủ tịch Hội là nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà văn Nguyễn Trí Huân. Các Ủy viên là nhà văn Khuất Quang Thụy và nhà văn Nguyễn Bình Phương.

Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam tính đến 2019 có khoảng 1100 người.

Phương châm hành động của Ban Chấp hành Hội là “Tất cả cho hội viên”, “tất cả vì hội viên”. Hoạt động của Hội tập trung vào 3 lĩnh vực: Đẩy mạnh sáng tácxây dựng Hội, và quảng bá văn học Việt Nam.

            Tuy có nhiều khó khăn về nhân sự và tài chính, Ban Chấp hành cùng với các cơ quan cấp 2, các Ban văn học và các Hội đồng chuyên môn đã hết sức nỗ lực làm việc và đạt được nhiều kết quả tốt đẹp.

Để đầy mạnh sáng tác, hàng năm, Ban Chấp hành tổ chức các trại sáng tác và đi thực tế. Thí dụ, năm 2019, tổ chức trại sáng tác ở Tam Đảo, Nha Trang, Phú Quốc. Tổ chức riêng một trại sáng tác tại Bảo tàng văn học cho 8 nhà văn, thời gian một tháng, có tổ chức hội thảo tại trại. Kết thúc trại sáng tác có những bản thảo rất là công phu. Năm 2019, kỷ niệm 40 năm chiến tranh biên giới, Ban Văn học Chuyên đề tổ chức được 6 chuyến đi thực tế các vùng chiến sự ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, một chuyến đi đồng bằng sông Cửu Long.

Cũng để đầy mạnh sáng tác, Hội Nhà văn đã tổ chức nhiều cuộc thi. Cuộc thi truyện ngắn của tạp chí Nhà văn và tác phẩm; Cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ;  Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 4 (2011-2015) không có giải A. Có 3 giải B và 9 giải C; Các tác phẩm đạt giải đại diện cho các xu hướng văn xuôi đương thời, đó là hướng khai thác lịch sử, khai thác “đời thường” và thời sự chính trị – xã hội; hướng chiêm nghiệm đời sống hiện đại; hướng khai thác chủ đề đạo đức – đạo lí; hướng đi vào con người cá nhân và hướng phản tư xã hội – lịch sử.

Một hoạt động khác thúc đầy sáng tác là Hội Nhà văn tổ chức các hội nghị và hội thảo:

Hội nghị các nhà văn trẻ toàn quốc (2016) có 113 đại biểu. Chương trình có Dạ hội thơ “Bản hòa âm tháng 9” do Ban Nhà văn Trẻ tổ chức; hai tọa đàm “Văn trẻ – Nhập cuộc và sáng tạo”, “Thơ trẻ – Truyền thống và cách tân”.

Hội nghị Lý luận phê bình tại Tam Đảo (2016) với chủ đề “Văn học 30 năm đổi mới, hội nhập và phát triển 1986-2016”. Có hơn 200 nhà văn tham dự với 70 tham luận. Hội nghị đã tiến hành 4 cuộc hội thảo chuyên ngành: Lý luận – Phê bình, Thơ, Văn xuôi và Văn học dịch.

Cuộc gặp mặt lần thứ nhấtNhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc”…(20 đến 24/10/2017). Theo tường thuật của nhà thơ Mai Nam Thắng, cuộc gặp mặt có sự tham dự của hơn 100 nhà văn tiêu biểu trong nước và các nhà văn Việt Nam đang sinh sống tại 12 quốc gia trên thế giới. Tuy còn một số tồn đọng của quá khứ chưa thể giải quyết hết được trong một thời gian ngắn, nhưng Hội đã, đang và sẽ làm tất cả những gì có thể để hội tụ các tài năng văn học trong mái ấm của tình đoàn kết dân tộc. Với tinh thần “đoàn kết để sáng tạo, sáng tạo trong đoàn kết”. Tinh thần chung là tạo ra sự hợp tác thông thoáng, hiệu quả để các nhà văn ở nước ngoài có điều kiện tốt nhất tiếp cận đời sống, đẩy mạnh sáng tác, công bố tác phẩm và tổ chức các sự kiện giao lưu với bạn đọc trong nước.

Về quảng bá văn học, Ban chấp hành Hội Nhà văn đã tổ chức Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam lần thứ III (2015) với sự tham dự của hơn 500 nhà văn, nhà thơ, dịch giả Việt Nam và 151 đại biểu đến từ 43 quốc gia, vùng lãnh thổ. Sau hội nghị, nhiều dự án hợp tác đã được ký kết, triển khai. Hội nghị quảng bá văn học Việt Nam lần thứ IV và Liên hoan thơ quốc tế lần thứ III được tổ chức trong dịp Ngày thơ Việt Nam Nguyên tiêu Kỷ Hợi (2019). Có 51 quốc gia với gần 200 nhà văn tham gia. Trước kia chỉ có châu lục là Á, Phi, châu Âu. Năm 2019 có châu Mỹ La Tinh. Hội nghị được tổ chức trên một quy mô rất rộng từ Hà Nội đến Quảng Ninh, Bắc Giang. Cùng một lúc, vừa tổ chức thảo luận, hội thảo về những vấn đề mà các bạn quan tâm với văn học Việt Nam, vừa tổ chức cho các nhà thơ đi giao lưu văn hóa như đọc thơ với Đại học Sư Phạm, Đại học Văn hóa. Diện hoạt động rất rộng. Hội nghị đã có tiếng vang lớn, được dư luận trong nước và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Trong Hội nghị công tác văn học cuối năm, thay mặt Ban chấp hành Hội nhà văn, nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội luôn có sự nhận định đánh giá chung về sự phát triển văn học. Xin dõi theo một vài năm:

Năm 2011:

Giải thưởng Hội Nhà văn 2010, 2011 cho chúng ta thấy nền văn học của chúng ta tiếp tục phát triển trong sự đa dạng và luôn luôn đổi mới. Chúng ta tiếp tục khẳng định những tài năng đã được khẳng định, tiếp tục khẳng định những định hướng lớn trong nền văn học của chúng ta. Đó là trở lại lịch sử của dân tộc, trở lại 2 cuộc kháng chiến, đi sâu vào đời sống đất nước trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc… Sứ mệnh của văn học là cất cao tiếng nói, chống lại sự suy thoái của tinh thần, suy thoái đạo đức, chống lại sự vô cảm, chống lại sự nguội lạnh đối với tình yêu con người, nó phê phán mọi cái xấu, cái ác… Và giải thưởng Hội Nhà văn  2010- 2011 đã làm được điều đó. Đó cũng chính là sự phát triển lên một bước mới của văn học Việt Nam.”(37)

Năm 2016:

“…nền văn học tiếp tục phát triển mở rộng biên độ, đề tài, chủ đề sáng tác”; “số lượng sáng tác nhiều nhưng chưa xuất hiện tác phẩm tạo nên một sự kiện văn học”…

Năm 2017:

Văn học tiếp tục phát triển lành mạnh. Xu hướng dân tộc và tinh thần yêu nước vẫn tiếp tục phát huy, nhất là xu hướng trở về với cội nguồn và lịch sử dân tộc, lật xới quá khứ để tìm câu trả lời cho những vấn đề hiện tại và tương lai của đất nước…Tuy nhiên các tác phẩm văn học vẫn chưa gây được dư luận rộng rãi.”

Năm 2019:

 “chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn vẫn là chủ đề xuyên suốt trong các tác phẩm, dẫu viết về đề tài lịch sử hay phải ánh những vấn đề bức xúc, nổi cộm của cuộc sống đương đại”… “chất lượng không tương xứng với số lượng.”(2019)

  1. Thống kê giải thưởng một thập kỷ của Hội Nhà văn:
Năm Tác phẩm Văn xuôi (20) Tác phẩm Thơ (17) Tác phẩm Lý luận phê bình (16)
2008 1.“Ngôi nhà xưa bên suối”, tập truyện ngắn của Cao Duy Sơn;

2.“Sóng chìm”, tiểu thuyết của Đình Kính và

3.“Tiếng khóc của nàng Út”, tiểu thuyết (Nguyễn Chí Trung)

KHÔNG TRAO GIẢI KHÔNG TRAO GIẢI
2009 KHÔNG TRAO GIẢI KHÔNG TRAO GIẢI 1.”Tản mạn nghiệp văn” (Đinh Quang Tốn).
2010 1.       1.“Lính trận” (TrungTrung Đỉnh)

2.       2.“Minh sư” (Thái Bá Lợi).

3.       3.“Lỏng và Tuột” (Trần Đức Tiến)

4.       4.“Giữa dòng chảy lạc

5.                (Nguyễn Danh Lam)

6.       1.“Bầu trời không mái che

7.             (Mai Văn Phấn).

8.       2.“Sóng và khoảng lặng

9.              (Từ Quốc Hoài ).

 

KHÔNG TRAO GIẢI
2011 1.‘Đội gạo lên chùa”, tiểu thuyết (Nguyễn Xuân Khánh )

2.“Huyền thoại tàu không số” Tập truyện ký (Đính Kính).

1.“Ngày linh hương nở sáng

(Đinh Thị Như Thúy).

2. “Hoan ca”

(Đỗ Doãn Phương).

 “Bàn về minh triết và minh triết Việt”, LLPB (Hoàng Ngọc Hiến).
2012 1.Thành phố đi vắng , tập truyện ngắn (Nguyễn Thị Thu Huệ).
Bằng khen:2.Trò chơi hủy diệt cảm xúc,

tiểu thuyết (Y Ban)

3.Một thế kỷ bị mất,

tiểu thuyết lịch sử (Phạm Ngọc

Cảnh Nam).

 

1. Trường ca chân đất (Thanh Thảo)

2.Màu tự do của đất, tập thơ (Trần Quang Quý)

3.Giờ thứ 25, tập thơ (Phạm Đương).
Bằng khen:

1.Hoa hoàng đàn nở muộn, Tập thơ ( Khuất Bình Nguyên)

2.Chất vấn thói quen, tập thơ (Phan Hoàng).

Đa cực và điểm đến, LLPB

(Văn Chinh).

2013 Bãi vàng, Đá quý, Trầm hương, tập truyện ngắn

(Nguyễn Trí)

 

Những lớp sóng ngôn từ, tập thơ (Mã Giang Lân) Phút giây huyền diệu, tiểu luận và bút ký (Ma Văn Kháng)

 

2014 Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75

         (Trần Mai Hạnh)

Trường ca ngắn, kịch thơ,

(Nguyễn Thụy Kha)

1.Trăm năm trong cõi (Gs Phong Lê )

2. Thơ Việt Nam hiện đại tiến trình và hình tượng (PGs Nguyễn Đăng Điệp)

2015 1.“Kỳ nhân làng Ngọc”, truyện ngắn (Trần Thanh Cảnh),

2.“Thông reo Ngàn Hống”, tiểu thuyết (Nguyễn Thế Quang).

1.Long mạch”, Trường ca

(Hoàng Trần Cương).

2.“Vườn khuya”, (Trần Hùng).

 

1.“Các lý thuyết nghiên cứu văn học ảnh hưởng và tiếp nhận từ ngày đổi mới đến nay” – Nghiên cứu Lý luận (Nguyễn Văn Dân)

2.“Âm thanh của tưởng tượng”,  LLPB (Lê Hồ Quang).

 

2016 1.Làn gió chảy qua” (Lê Minh Khuê)

2.”Mưa đỏ” tiểu thuyết (Chu Lai)

1.”Tổ Quốc nhìn từ biển“, tập thơ  (Nguyễn Việt Chiến)

2.”Vũ khúc Tày“, tập thơ song ngữ Việt-Tày (Y Phương)

1.”Giọt nước trong lá sen“, chân dung văn học, đàm luận văn chương (Khuất Bình Nguyên),

2.”Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại” (Trần Huyền Sâm)

2017 KHÔNG TRAO GIẢI KHÔNG TRAO GIẢI 1.Bóng người trong bóng núi”,

LLPB( Lê Thành Nghị)

2.“Cách tân nghệ thuật văn học phương Tây” (Phùng Văn Tửu)

2018 KHÔNG TRAO GIẢI KHÔNG TRAO GIẢI Văn học Nga hiện đại – những vấn đề lý thuyết và lịch sử” của tác giả Trần Thị Phương Phương
2019 1.“Quán thủy thần”, tập truyện ngắn (Nguyễn Hải Yến)

2.“Trụ lại”, tập ký sử (Hồ Duy Lệ)

 

1. “Bay trong mơ”, Tập thơ (Trần Quang Đạo)

2. “Nguồn”, Tập thơ (Trần Quang Quý)

 

1.“Nhận diện và lý giải các hiện tượng văn học”, LLPB (Phan Trọng Thưởng)

2.“Những sinh thể văn chương Việt”, LLPB (Lý Hoài Thu)

3.. “Tư tưởng và phong cách nhà văn những vấn đề lý luận và thực tiễn”LLPB (Trần Đăng Suyền)

 

 

Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 4 (2011-2015) không có giải A. Có 3 giải B là tác phẩm “Người thứ hai” tác giả Tô Hải Vân, “Chim ưng và chàng đan sọt” của Bùi Việt Sỹ và “Mảnh vỡ của mảnh vỡ” của Vĩnh Quyên. 9 giải Ba là: Vùng sâu của Tô Nhuận Vỹ, Thạch trụ huyết của Nguyễn Trần Bé, Hát của Trần Nhã Thụy, Dư chấn 3,5 độ richter của An Bình Minh, Gã tép riu của Nguyễn Bắc Sơn, Cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam, Seo Sơn của Vũ Quốc Khánh, Đốt trúc của Nguyễn Đắc Như.

Có vài điều cần mặc định trước khi nhìn vào bảng thống kê giải thưởng Hội Nhà văn từ 2008 đến 2020.

Mặc định rằng, việc xét giải là khoa học, công bằng và theo một tiêu chí thống nhất giữa các năm, và vì thế chất lượng giải các năm là như nhau. Thực tế không phải như vậy. Thí dụ, năm 2009 có một  Hội đồng xét giải là các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu gồm: Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Lê Văn Thảo, Trần Đăng Khoa, Mai Quốc Liên, Nguyễn Thiện, Phan Hồng Giang, Vũ Quần Phương, Nguyễn Khắc Trường, Chu Lai, Phan Thị Vàng Anh. Việc đề cử tác phẩm do các Hội đồng chuyên môn, các Ban chuyên môn, các thành viên Ban Chấp HànhBan chung khảo. Nhưng những năm gần đây  không còn Hội đồng xét giải. Chỉ có sự đề cử của các Hội đồng chuyên môn và các Ban chuyên môn. Việc chọn trao giải là do Ban Chấp hành quyết định. Nhiệm kỳ 2015-2020, Ban chấp hành chỉ có 6 người thì việc xét chọn trao giải sẽ là hết sức khó khăn, vì mỗi thành viên phải quán xuyến tất cả các tác phẩm được đề cử.

Mặc định thứ hai rằng, giải thưởng của Hội Nhà văn là cái “hàn thử biểu” có độ chính xác cao để đo nhiệt độ văn chương hàng năm, và những tác phẩm đạt giải là những tinh hoa văn chương của một năm, để từ đó người đọc có thể nhận ra sức sống của cả nền văn học. Nếu vậy, những năm không có tác phẩm được trao giải (2008, 2009, 2017, 2018) có đồng nghĩa rằng năm đó “mất mùa” văn chương không?

Và mặc định rằng, không có những eo xèo về việc trao giải (thí dụ: Hội Thề của Nguyễn Quang Thân, “Chim ưng và chàng đan sọt” của Bùi Việt Sỹ ).

Với những mặc định như vậy, nhìn vào Giải thưởng của Hội Nhà văn trong hơn một thập kỷ, ta đọc được điều gì?

Sự thật là không có tác phẩm nào nổi trội được công luận quan tâm như một hiện tượng góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn học. Về thơ, các nhà thơ Thanh Thảo, Mai Văn Phấn, Trần Quang Quý vẫn giữ được phong độ từ “đổi mới” đến nay, những khuôn mặt mới chưa gây được ấn tượng. Giải Lý luận phê bình hầu như trong tay các Giáo sư, PGS Tiến sĩ giảng dạy Đại học nắm giữ. Vấn đề là, trong những tác phẩm đạt giải, có những công trình nghiên cứu về những đề tài đã quá cũ (chẳng hạn,.“Những sinh thể văn chương Việt viết về các nhà thơ trước 1945), hoặc “Bóng người trong bóng núi” viết về các nhà thơ thời chống Mỹ). Không có một công trình văn học sử nào về 45 năm văn học Việt Nam từ 1975 đến nay (2020) trong khi lại xuất hiện “Văn học Nga hiện đại – những vấn đề lý thuyết và lịch sử” viết về lịch sử văn học Nga hiện đại.

Điều ấy có ý nghĩa gì? Có thể nhận thấy rằng, sau cao trào “đổi mới” (1986-1996) và cao trào “cách tân” đầu thế kỷ XXI (1996-2010), văn chương Việt Nam vẫn phát triển nhưng là phát triển về mặt phong trào. Bao nhiêu trại sáng tác, bao nhiêu chuyến đi thực tế đã góp phần thúc đẩy văn chương phong trào. Ngay cả 1100 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đa phần cũng là những tác giả phong trào, bởi họ sinh hoạt trong các hoạt động phong trào ở địa phương, sáng tác theo yêu cầu của phong trào. Những tác phẩm lớn, những nhà văn lớn chưa xuất hiện.

  1. Ở các Hội Văn học Nghệ thuật địa phương

   Có một sự rập khuôn Hội Nhà văn Việt Nam về các hoạt động ở Hội văn học Nghệ thuật địa phương. Xin đọc tổng kết hoạt động của Hội VHNT Đồng Nai năm 2019:

“Hội đã tổ chức 06 trại sáng tác chuyên đề, tổ chức thành công các sự kiện Ngày thơ Việt Nam lần thứ XVII và Ngày Văn nghệ sĩ Đồng Nai 2019, Ngày Nhiếp ảnh, Ngày Âm nhạc, Ngày Sân khấu Việt Nam; các chương trình biểu diễn nghệ thuật…; Đặc biệt là Hội đã tổ chức thành công Đại hội lần thứ VI (nhiệm kỳ 2019 -2024) tháng 3/2019 và kỷ niệm 40 năm thành lập Hội (1979 – 2019).

Tr​​​​​ong năm 2019, Hội đã xuất bản, công bố 06 kỳ tạp chí Văn nghệ Đồng Nai, 03 tuyển  tập văn học nghệ thuật, 19 tập sách cá nhân, 05 chương trình ca nhạc, vọng cổ, kịch ngắn; nhiều giải thưởng Ảnh nghệ thuật và Mỹ thuật; nhiều triển lãm ​chuyên đề và triển lãm của​​​ các cá nhân…” (38)

Ở Hội Nhà Văn Hả Nội và Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh còn có Giải thưởng hàng năm. Riêng giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn Hà Nội được công luận chú ý. Người ta cũng kỳ vọng ở chất lượng giải thưởng. Song trong nhiều năm qua, trong các tác phẩm được giải, không có tác phẩm nào vượt trội. Và cũng giống như giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam cũng có những tác phẩm được giải không tránh được sự hoài nghi.

  1. Góc ghi nhận

            Tình hình văn học từ 2010 trở đi nhìn chung là trầm lắng. Dòng chảy văn chương vẫn thao thiết. Số lượng đầu sách văn học được in ngày càng nhiều. Năm 2019, riêng nhà xuất bản Hội Nhà văn đã in 1650 cuốn, nhưng  chưa có tác phẩm nào tạo được hiện tượng văn học, chưa có những bước đột phá thực sự về tư tưởng và nghệ thuật, ngay cả những tác phẩm đạt giải cũng lặng lẽ trôi vào quên lãng.

Dòng văn học Cách mạng và kháng chiến (Văn chương Nhà nước) vẫn được Hội Nhà văn và các Hội VHNT địa phương tích cực thúc đẩy sáng tác. Các trại sáng tác, các chuyến đi thực tế, các hội thảo đều hướng sáng tác vào những chủ đề phục vụ chính trị. Số lượng tác phẩm của dòng văn học này là rất lớn, song chưa có một tổng kết đánh giá nào về giá trị của các tác phẩm phong trào này. Có một thực tế là, sau khi trại sáng tác kết thúc, tất cả các tác phẩm của trại viết đều được xếp vào kho để làm vốn cho đời sau (ai cần thì đọc).

Dòng văn chương dân chủ và nhân văn cũng chững lại, sau cao trào những năm sau đổi mới (1986) dường như các nhà văn đã cạn đề tài? Những vấn đề của quá khứ như Cải cách ruộng đất, hiện thực không Xã hội chủ nghĩa trước đổi mới, đã không còn hấp dẫn. Cho nên tiểu thuyết Kiến, Chuột và Ruồi của Nguyễn Quang Lập dù in ở Mỹ và được Phạm Ngọc Tiến tụng ca lên mây xanh cũng không gây được tiếng vang nào. Tiểu thuyết Mối Chúa của Đãng Khấu (Tạ Duy Anh) viết về việc thu hồi hàng trăm ha đất ruộng để làm nhà máy thép, làm sân golf. đã đẩy hàng ngàn nông dân vào tình cảnh bi đát… Cuốn sách bị Cục xuất bản thu hồi vì lý do: “Nội dung cuốn sách phản ánh những vấn đề nổi cộm trong xã hội hiện nay. Qua đó, tác giả đã vạch trần những tiêu cực và bất công trong xã hội. Tuy nhiên, phần lớn các nhân vật trong tác phẩm từ thấp đến cao đều đen tối, vô vọng, đau đớn. Qua lời kể của các nhân vật, hiện lên những thế lực hắc ám, một xã hội hầu như được chỉ huy bởi những kẻ ngu dốt, tham lam, thủ đoạn. Toàn bộ hệ thống bộ máy chính quyền bộc lộ sự tàn nhẫn, vô đạo, đàn áp nông dân, giết hại lẫn nhau, giết người chống đối chỉ vì tiền. Một số chi tiết được viết với giọng điệu giễu nhại sâu cay, miêu tả tiêu cực có phần tô đậm và có tính khái quát khiến cho hiện thực trở nên đen tối, u ám (trang 38, 43, 74, 129, 140, 141, 158, 161, 173, 198, 251…). Các trang viết về chính quyền cưỡng chế nông dân trong việc thực hiện các dự án được miêu tả một cách cường điệu, coi đó như hai lực lượng thù địch, chính quyền đàn áp như một trận đánh được chuẩn bị kỹ lưỡng từ vũ khí đến lực lượng bí mật (trang 113, 115, 124, 167, 168, 207, 209, 220, 248…) (39)

Nếu nhà văn viết về những hiện tượng xã hội như Mối Chúa, thì văn học luôn đi sau hiện thực và không có sức hấp dẫn. Những năm qua, báo chí và các trang mạng xã hội, đã khai thác triệt để những hiện tượng xã hội. Bất cứ người dân nào cũng có thể đưa tin trực tiếp bằng Live Stream trên các smartphone mà văn chương không thể cạnh tranh được. Những đại án xử những vụ tham nhũng lớn cũng đã được xử công khai, khác với thời xa xưa mọi hành vi của cán bộ Nhà nước đều không được tiết lộ, vì thế, ngay cả khi Mối Chúa được phát hành rộng rãi cũng khó gây được hiệu quả văn học nào. Cái thời của Chủ nghĩa Hiện thực phê phán đã lùi xa lắm rồi.

Văn chương thị trường, sau vụ mùa nở rộ 2014. Đến nay, cũng trở lại im ắng. Năm

2019, công chúng đọc nhiều loại sách về  kỹ năng sống như: Thoát khỏi bẫy cảm xúc hay trò lửa đảo của tâm trí (Tác giả Thiện Từ); Kế hoạch Marketing trên một-trang-giấy (Tác giả Allan Dib); LeapĐột phá tư duy trong kinh doanh (Tác giả Howard Yu), Thuật nói chuyện hàng ngày (Tác giả Hoàng Xuân Việt) (40). Sách Văn học chỉ có Làm bạn với bầu trời của Nguyễn Nhật Ánh và tản văn Hành lý hư vô của Nguyễn Ngọc Tư (41)

Thực ra khi các phương tiện nghe nhìn giải trí trở nên quá phổ thông. Chỉ cần một chiếc smartphone, người trẻ có thể xem phim, nghe nhạc, chat với bạn bè và thực hiện Live Strteam các hoạt động cá nhân. Việc đọc sách văn chương không còn là phương tiện giải trí duy nhất như ngày xưa. Hơn nữa, đọc một cuốn sách dày đặc chữ là hết sức vất vả, trong khi xem một bộ phim truyền hình nhiều tập thì hấp dẫn hơn nhiều.

Viết tác phẩm văn chương thị trường không dễ. Bởi công chúng mỗi thời mỗi khác, họ chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố truyền thông mang tính toàn cầu hóa (thí dụ phim nước ngoài, sách văn học nước ngoài, các show diễn của các sao thế giới…). Nhà văn Việt Nam không phải ai cũng có năng lực nắm bắt thị trường và có khả năng viết văn chương thị trường. Cuối năm 2019,  nhà văn Khôi Vũ đăng status trên Facebook kêu gọi các nhà xuất bản “giải cứu” bản thảo của ông. Ngày 14/1/2020, nhà văn Trần Nhã Thụy cho biết, lần đầu chi tiền túi in cuốn Ba tao bay ra ngoài cửa sổ và 9 truyện ngắn khác. ” Anh xin giấy phép in 500 cuốn, nhưng thực tế chỉ in 300 cuốn và tự mình đi bán. Trên Facebook cá nhân anh cho biết, ngày đầu bán được 100 cuốn.(42).

Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà văn, trong Hội nghị công tác văn học 2019 đã đặt vấn đề để: “Thị trường sách của chúng ta là nó có rào. Đây là một thực tế mà chúng ta cần phải suy nghĩ. Vì sao vậy? Đối với thị trường, tôi thấy là nhiều năm nay chúng ta đã đưa ra, đã thảo luận, nhưng mà thị trướng nó có quy luật của thị trường. Chúng ta phải theo thôi. Chúng ta không thương mại hóa, nhưng chúng ta cũng không thể coi nhẹ quy luật của thị trường là, cái nào hay, cái nào có tiếng thì người ta đọc”.

 NHÌN VỀ MAI SAU

a 3 jpeg

Đó là một câu hỏi viễn tưởng. Giả định rằng tình hình thế giới ổn định, hòa bình (thực tế thì luôn có những biến động bất thường). Giả định rằng tình hình an ninh chính trị, xã hội, kinh tế Việt Nam tiếp tục ổn định và phát triển. Thực tế đất nước đang đối mặt với nhiều thách thức. Chẳng hạn, việc bảo vệ chủ quyền biển đảo, vấn đề nợ công, ô nhiễm môi trường, việc thiếu năng lượng phục vụ sản xuất, những bất công xã hội và chênh lệch gìau nghèo ngày càng tăng, đạo đức xã hội và giáo dục đã xuống cấp trầm trọng… trong thế giới toàn cầu hóa chuyển động và phát triển như vũ bão hôm nay, thật khó hình dung được 40 năm sau văn chương Việt Nam sẽ như thế nào. Chắc chắn là rất khác, cũng có thể là vẫn như 40 năm qua. Vì tất cả thực lực văn chương Việt Nam đã bộc lộ hết, và các thế hệ tài năng cũng đã qua đi mà tác phẩm lớn vẫn chưa xuất hiện.

Vấn đề là, tài năng văn chương và tác phẩm lớn có xuất hiện hay không! Đã có nhiều cuộc hội thảo bàn về vấn đề này.

Chẳng hạn, ngày 27, 28/11/2013 tại Tp Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận, Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương tổ chức Hội thảo khoa học toàn quốc: “Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thực trạng và giải pháp”.  Có 220 đại biểu tham dự, 70 tham luận, 40 ý kiến phát biểu tại hội thảo. Đề dẫn là PGS-TS Nguyễn Hồng Vinh, PGS-TS Đào Duy Quát. Đáng chú ý là ý kiến của Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, GS-TS Đinh Xuân Dũng, GS Mai Quốc Liên, GS Phong Lê, GS Trần Thanh Đạm, GS Trần Trọng Đăng Đàn, GS-TS Hồ Sĩ Vịnh, TS Lê Thành Nghị; ý kiến của nhà thơ Hữu Thỉnh, Lê Quang Trang, Vũ Quần Phương; nhà văn Chu Lai, Phùng Văn Khai,  Sương Nguyệt Minh, Võ Thị Xuân Hà, Vũ Hạnh…

PGS-TS Nguyễn Hồng Vinh đề nghị các nhà khoa học cần tập trung thảo luận, làm rõ một số vấn đề cơ bản: Làm rõ nội hàm của mục tiêu của Nghị quyết 23 là: “Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học – nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao“; hệ thống tiêu chí nào để xác định, định giá tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao? Phân tích thực trạng tình hình sáng tạo văn học, nghệ thuật trong những năm gần đây, chủ yếu tập trung phân tích nguyên nhân chủ quan, khách quan của vấn đề chất lượng các tác phẩm văn học, nghệ thuật hiện nay. Từ thực tiễn đời sống sáng tạo văn học, nghệ thuật cụ thể, đề xuất những yêu cầu và hệ thống các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả sáng tác, lý luận, phê bình, trình diễn, quảng bá để có những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao…(43)

PGS-TS Đào Duy Quát đề xuất 7 chủ trương, giải pháp cơ bản là: 1/. Tiếp tục đồi mới, 2/. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, chấm dứt can dự thô bạo vào sáng tác, chống thả lỏng. 3/. Nâng cao quản lý Nhà nước. 4/. Phát triển lý luận, nâng cao tính khoa học, tiếp thu có chọn lọc. 5/. Xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ trong thời kỳ mới. 6/. Củng cố các Hội VHNT, tập họp, đoàn kết, phát huy. 7/. Tăng cường xây dựng văn nghệ quần chúng. PGS-TS Đào Duy Quát nhấn mạnh: phải kiên quyết thực hiện đồng bộ 7 giải pháp trên, đưa 7 giải pháp vào đời sống, tạo tiền đề cho thiên tài, coi trọng việc phát hiện tài năng…(nguồn: bản ghi của BCT khi tham dự hội thảo).

Và những gì Hội thảo đề ra (7 giải pháp) hình như chưa chạm vào được thực tế, Nhà thơ Hữu Thỉnh đặt vấn đề, muốn có tác phẩm lớn thì phải có nhà văn lớn, nhưng thế nào là nhà văn lớn? Vấn đề tự do sáng tác cho văn nghệ sĩ? Nhật Ký trong tù được sáng tác trong hoàn cảnh mất tự do nhưng vẫn là tác phẩm lớn!…

Từ đó đến nay, vẫn không thấy bóng dáng thiên tài và tác phẩm đỉnh cao xuất hiện.

Có lẽ các cấp quản lý văn nghệ có cái nhìn “duy ý chí” chăng? Làm sao có thể áp đặt nhà văn phải thế này, phải thế kia để cho ra một tác phẩm lớn. Thực tế cho thấy, chỉ có tài năng, và cũng chỉ trong những hoàn cảnh xã hội đặc biệt mới có thể sản sinh ra thiên tài và tác phẩm lớn. Chẳng hạn, hoàn cảnh của Nguyễn Trãi và cuộc kháng chiến 10 chống quân Minh xâm lược của Lê lợi mới làm nên Bình Ngô Đại cáo. Tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi thời đó là tư tưởng Nhân Nghĩa tiến bộ. Đó là vai trò và sức mạnh của quần chúng: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phất phới”.

Những tác phẩm lớn thường có nội dung phản ánh một bối cảnh xã hội rộng lớn, cùng với sự thể hiện những tư tưởng lớn. Văn chương Việt Nam thiếu hẳn tư tưởng, thì mong gì có tác phẩm đỉnh cao!

Ở những trại sáng tác, những hội thảo, những Hội VHNT địa phương… người sáng tác chỉ được “định hướng” vào những nhiệm vụ chính trị cụ thể; tư duy sáng tác chỉ quanh quẩn trong cái “ao làng”với một vài “công thức” (thí dụ: công thức “Ta nhất định thắng, dịch nhất định thua”, kết thúc tác phẩm phải là cái nhìn lãng mạn cách mạng…), và để an toàn, người cầm bút tránh đụng đến những vấn đề “nhạy cảm”, thì sẽ không bao giờ có tác phẩm lớn, bởi nhà văn không có khả năng đụng đến những vấn đề lớn của Con người và xã hội.

45 năm văn chương Việt Nam sau 1975 đã có 2 thế hệ, thế hệ Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… và thế hệ Nguyễn Quang Thiều, Phong Điệp, Văn Cầm Hải… 45 năm tới có thể xuất hiện “thế hệ nhà văn 5G” toàn cầu hóa. Thế hệ 5G là thế hệ mà tác phẩm của họ được trao đổi trên mạng xã hội: sáng tác, phổ biến, mua bán trên mạng và các phương tiện truyền thông. Người đọc tác phẩm bằng smartphone và các phương tiện nghe nhìn. Nhà văn thế hệ 5G hội nhập với dòng chảy văn chương thế giới. Người trẻ do làm việc trong môi trường công nghiệp, điều kiện ăn ở bị thu hẹp, không có những tủ sách. Họ sẽ đọc trên các thư viện điện tử. Toàn cầu hóa mở rộng mọi biên giới, và những khác biệt văn hóa được thu hẹp.

Đã có thể nhìn thấy trong bóng dáng những thế hệ kế tiếp của nhà văn Việt Nam trong hình ảnh thế hệ thứ hai, thứ ba nhà Việt Nam văn nước ngoài như Andrew Lam, Monich Trương, Aimee Phan, Lan Cao, Kien Nguyễn, Lê Thị Diễm Thuý, Dao Strom, Nguyễn Minh Bit, Mộng Lan v.v… Kim Lefevr và Linda Le…(dẫn theo A. A. Sokolop), Thuận, Lê Thị Thấm Vân, Lưu Diệu Vân, và gần đây nhất là Viet Thanh Nguyen – nhà văn gốc Việt từng đoạt giải Pulitzer 2016. Tác phẩm của Dương Thụy đã mở rộng biên giới không gian và biên giới văn hóa (Nhắm mắt thấy Paris; Oxford yêu thương; Bồ câu chung mái vòm; Cung đường vàng nắng; Venise và những cuộc tình gondola…)

***

Trong sự phát triển văn chương, Chủ nghĩa hiện thực vẫn giữ nguyên sức mạnh của nó bên cạnh những trào lưu khác. Về nội dung, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo tiếp tục phát triển ở những tầm vóc mới. Xu hướng dân chủ hóa trong văn học ngày càng mạnh mẽ. Một số nhà văn tự mình có thể sống và viết, tự in tác phẩm và phổ biến tác phẩm. Định hướng “xây dựng nền văn nghệ tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, có tinh thần nhân văn và dân chủ sâu sắc” là một định hướng có giá trị rất xa về phía trước. Dù vậy, văn chương Việt Nam sẽ vẫn chạy theo những trào lưu của văn chương thế giới vì chúng ta không có những nhà lý luận và những nhà văn tiên phong.

Về lý luận văn học, 45 năm qua đã có những nỗ lực vượt bậc trong việc giữ gìn những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Marx trong văn học (các nghị quyết Trung ương 5, Nghị quyết 23 của Bộ chính trị, trong cương lĩnh và kế hoạch hành động của Hội Nhà văn và các Hội VHNT địa phương…), nhưng cũng có những nỗ lực không ngừng nghỉ trong việc từ bỏ Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa trong sáng tác và lý luận; đồng thời tích cực du nhập các lý thuyết văn học mới vào Việt Nam. Khi hai cuốn Lược khảo văn học III của GS Nguyễn Văn Trung được tái bản (2019) và cuốn Phê bình văn học thế kỷ XX của Thụy Khuê được in ở Việt Nam (2019), tôi thiết nghĩ việc du nhập các học thuyết văn học nước ngoài vào Việt Nam đã khá đầy đủ.

Dẫu vậy, những lý thuyết văn học mới có ảnh hưởng rất ít đến những nhà văn viết theo quán tính của văn chương truyền thống, thậm chí họ không cần lý thuyết văn chương nào cả (thực ra đó chỉ là một cách nói). Và cũng đã đến lúc giới lý luận phê bình nhận ra lý luận văn học phương Tây được đề ra là để đánh giá văn chương phương tây, cần phải có một hệ thống lý luận văn chương Việt Nam. Nỗ lực xây dựng một nền lý luận văn học Việt Nam mới chỉ là bắt đầu và rất khó đạt một sự tổng hợp. Lý luận văn chương của cha ông chỉ là những ý kiến rời rạc du nhập từ Trung Hoa. Từ 1945 đến nay, văn chương Việt Nam được soi chiếu bởi các quan điểm của Marx và Engel. Văn chương miền Nam trước 1975 và văn chương Việt Nam từ đổi mới (1986) đến nay, tuy đã có những thể nghiệm mới từ các lý thuyết nước ngoài (Hiện sinh, Phân tâm học, Cấu trúc luận, Giải Cấu trúc,Thi pháp học, Ký hiệu học, Tự sự học, Lý thuyết trò chơi…) song việc tổng hợp tất cả những nguồn ấy để lọc ra, định vị một hệ thống lý luận văn học Việt Nam, có lẽ phải vài thế hệ nữa mới làm được. Bởi vì, những nhà lý luận văn học Việt Nam hiện nay chỉ có thể diễn giải lý thuyết văn học nước ngoài (ngay cả việc diễn giải vẫn còn hạn chế). Chúng ta chưa có những nhà lý luận thực sự, người có thể đề ra những lý thuyết mới, hoặc từ một lý thuyết cũ phát triển mở rộng những kiến giải mới (như Bakhtin, J.P.Sartre chẳng hạn).

***

Nhìn lại xu thế phát triển của văn chương Việt Nam 45 năm qua, ta có thể thấy lờ mờ con đường phía trước.

Văn chương yêu nước và cách mạng tiếp tục được đẩy mạnh sáng tác như đã được làm trong 45 năm qua. Để có được tác phẩm vượt trội là rất khó. Nhưng vẫn có thể hy vọng có những bộ sử thi kháng chiến như Núi rừng Yên Thế của Nguyên Hồng viết về người anh hùng Hoàng Hoa Thám ngày xưa. Trong nhất thời, tiểu thuyết tư liệu như Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 của Trần Mai Hạnh sẽ là một hướng phát triển. Tuy nhiên những thế hệ nhà văn sau này đứng ngoài chiến tranh sẽ nhìn về chiến tranh với những nhận thức khác. Có người vẫn viết những bản anh hùng ca bằng bút pháp lý tưởng hóa, nhưng cũng có người nhìn chiến tranh ở góc độ khác như Nỗi buồn chiến tranh, Bóng anh hùng, Quán dương cầm, Con chim Joong bay từ A tới Z… hoặc như cách các nhà văn hiện nay khai thác đề tài lịch sử xưa để nói về thời hiện tại (Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, Hội thề của Nguyễn Quang Thân, Sương mù tháng Giêng của Uông Triều. Năm 2019,  Nguyễn Thế Quang viết Đường về Thăng Long, dựng lại đời hoạt động của tướng Võ Nguyên Giáp, và Hội Nhà văn hoàn thành bộ phim Ý chí độc lập, dài 19 tập về Bác, về các đồng chì lãnh dạo tiền bối của Đảng

Trong tương lai, Hội Nhà văn và các Hội VHNT địa phương là những tổ chức “Chính trị-xã hội-nghề nghiệp” sẽ phải trở về hình thức sinh hoạt dân sự. Các Hội sẽ không còn nằm trong hệ thống hành chính Nhà nước như hiện nay. Gần đây Quốc hội và dư luận đã lên tiếng về việc chi ngân sách hoạt động cho các Hội VHNT. Tôi nghĩ rằng, đến một lúc nào đó tất cả các Hội đều phải tự lực cánh sinh, Nhà nước chỉ còn làm công tác quản lý. Thí dụ, các Hội văn nghệ đia phương sẽ giải thể để thành lập các câu lạc bộ (như kiểu câu lạc bộ thơ lục bát, câu lạc bộ thơ Đường hiện nay). Tuyên giáo tỉnh chỉ cử một hoặc hai nhân viên chuyên trách quản lý. Nhà nước không còn chi ngân sách. Người sáng tác muốn hoạt động văn học thì tự nguyện tham gia một câu lạc bộ nào đó. Và cũng sẽ có những tổ chức văn học nghệ thuật dân sự cấp quốc gia như kiểu Tự lực Văn đoàn ngày xưa hay Nhóm Sáng Tạo ở miền Nam những năm 1960…

Đến lúc ấy văn chương Cách mạng và kháng chiến sẽ bị thu hẹp lại. Chỉ những nhà văn thực sự tài năng và tâm huyết mới có thể tiếp tục viết trong dòng văn học này.

Tuy vậy, trong tình hình chính trị quân sự luôn căng thẳng (tình hình biển Đông chẳng hạn), cuộc đấu tranh tư tưởng để bảo vệ chủ nghĩa xã hội vẫn còn quyết liệt, thì văn học nghệ thuật sẽ còn phải tiếp tục nhiệm vụ bảo vệ những thành quả các mạng, phản ánh hiện thực cách mạng và góp phần vào cuộc chiến đấu chung của cả dân tộc; nhà văn sẽ vẫn tiếp tục vai trò “chiến sĩ” của Đảng trên mặt trận văn hóa tư tưởng.

Văn chương Nhân văn-Dân chủ hiện nay sẽ chuyển hướng, vì thế hệ cầm bút tương lai không có vướng mắc gì với cải cách ruộng đất, Nhân văn- Giai phẩm, cải tạo xã hội chủ nghĩa, chiến tranh phía Bắc, phía Nam (1979) hay những ngặt nghèo của thời bao cấp. Nói gọn lại, họ không sống trong hiện thực Thời của thánh thần, vì thế họ sẽ không có những bức xúc chuyển hóa thành cảm hứng sáng tác những tác phẩm kiểu như thời kỳ đổi mới (1986-1990) Những tác phẩm như Mối Chúa, Kiến chuột và ruồi sẽ không còn sức hấp dẫn người trẻ thế hệ 5G. Hơn nữa, thế hệ nhà văn coi việc viết là hành động dấn thân cho một lý tưởng cũng không còn, thành ra những nhận thức về Nhân văn-Dân chủ sẽ có nội hàm khác, có thể dễ chấp nhận hơn, kiểu như tác phẩm của Tạ Duy Anh (Bước qua lời nguyền, Giã biệt bóng tối). Dù vậy, những khuyết tật của xã hội xã hội chủ nghĩa vẫn có thể là đề tài, nguồn cảm hứng sáng tác cho những nhà văn nặng lòng với thế sự.

45 năm tới, văn chương thị trường sẽ là dòng chính, bởi thế hệ người đọc lúc đó là thế hệ sinh ra trong nền kinh tế thị trường, văn chương là của họ. Tuy vậy, văn chương thị trường sẽ không vượt lên được nếu chỉ quanh quẩn trong những chuyện tình đủ mùi vị: lãng mạn, buồn, cô đơn , bế tắc và sex…; bởi, người viết chỉ để giải tỏa những ẩn ức cá nhân, khát vọng nổi tiếng và đáp ứng thị hiếu giải trí của một bộ phận công chúng.

Nhìn vào chợ sách 2014 có thể nhận rõ những mặt hạn chế của văn chương thị trường. Đã có những tác giả mà tác phẩm tái bản nhiều lần, ấn phẩm lên đến hàng trăm ngàn bản (đơn cử: Trong ba năm qua, Hamlet Trương đã có tới 150.000 bản sách (Thời gian để yêu, Thương nhau để đó, Tay tìm tay níu tay), còn Iris Cao cũng chạm con số 100.000 bản sách được bán ra). Nhưng trên con đường văn chương vạn dặm, những  tác giả này vẫn quẩn quanh trong những chuyện tình cá nhân.

Ngoài kia, cuộc sống có bao nhiêu số phận, bao nhiêu vấn đề cần lên tiếng nhưng văn chương thị trường lại quay lưng, thì nó không thể đạt đến giá trị của nghệ thuật và tư tưởng. Từ “đổi mới” đến nay, đã có bao nhiệu sự kiện lớn lao làm thay đổi thế giới và những vận động lớn đưa đất nước hội nhập với nhân loại. Người đọc tuyệt nhiên không thể tìm thấy âm vang thời đại nào trong tác phẩm văn chương thị trường, chỉ có những chuyện tình thuần túy giải trí. Xin đọc các tác phẩm của Gào (Cho em gần anh thêm chút nữa -2009; Nhật ký son môi-2010; Tự sát- 2011; Yêu anh bởi tất cả những gì em có; mất anh bởi tất cả những thứ em cho-2012; Ký ức Northumbria- 2012; Anh sẽ yêu em mãi chứ- 2014; Hoa linh lan-2014; Chúng ta rồi sẽ ổn thôi-2015). Xin đọc Hamlet Trương (Người lớn không khóc; 12 cách yêu; Lên rừng giấu lá; Mùa chia tay; Tay tìm tay níu tay; Haletapu – Hành Tinh Hạnh Phúc;Yêu đi rồi khóc; Có một ai đó đã đổi thay; Yêu một người khó lắm; Thương nhau để đó); và đọc những chuyện tình lãng mạn kết hợp với du ký của Dương Thụy (Nhắm mắt thấy Paris; Oxford yêu thương; Bồ câu chung mái vòm; Cung đường vàng nắng; Venise và những cuộc tình gondola; Tôi nghĩ tôi thích nước Mỹ; Cáo già, gái già và tiểu thuyết diễm tình; Tắm heo và tắm tiên; Chờ em đến San Francisco; Trả lại nụ hôn)…

Tự Lực Văn Đoàn trước 1945 đã viết được nhiều chuyện tình rất hay (Nửa chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên, Đời mưa gió…). Văn chương Sài Gòn trước 1975 cũng đã khai thác chuyện tình với những yếu tố mới hơn, táo bạo hơn (Yêu của Chu Tử; Vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng; các tác phẩm của Bà Tùng Long: Một lần lầm lỡ, Duyên tình lạc bến, Đời con gái, Đường tơ đứt mối…). Sở dĩ những tác phẩm ấy còn được nhắc tới bởi tình yêu được miêu tả gắn liền với những vấn đề tư tưởng, đạo lý của xã hội đương thời, nhà văn viết văn dưới ánh sáng một lý tưởng xã hội.

Những chuyện tình của văn chương thị trường hôm nay không đáp ứng được yêu cầu tư tưởng. Tình yêu đơn thuần chỉ là bản năng, thiếu phẩm chất xã hội, vì thế văn chương trở nên nhạt nhẽo. Nếu là một dòng chảy, thì văn chương thị trường chỉ phục vụ thị trường giải trí đơn thuần.

***

Hội nhập, “hợp lưu” văn học trong và ngoài nước, văn học miền Nam trước 1975 với văn học xã hội chủ nghĩa là xu hướng mở ra dần dần.

Khi tác phẩm văn chương còn bám chặt lấy hiện thực với những ý thức chính trị khác nhau thì không thể có sự dung hòa nào cả. Người Việt nước ngoài không đọc những tác phẩm cách mạng, thì người trong nước không thể chấp nhận những tác phẩm văn chương nước ngoài viết với ý thức “chống Cộng” (nhận định của Thụy Khuê) (44). Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) và Mùa hè đỏ lửa (Phan Nhật Nam) tuy cùng viết về chiến tranh Việt Nam, nhưng không thể đứng chung được trong một môi trường văn học nghệ thuật trái ngược về chính trị và khác biệt về quan điểm văn chương.

Chỉ khi văn chương được viết dưới ánh sáng của truyền thống dân tộc (như Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác) lúc ấy văn chương người Việt hải ngoại mới có cơ may “hợp lưu” với văn chương trong nước. Điều này đã trở thành hiện thực khi thơ Thanh Tâm Tuyền, thơ Bùi Giáng, thơ Phạm Thiên Thư, thơ Du Tử Lê, truyện của Dương Nghiễm Mậu, Trần Thị Ngh, sách của Nguyễn Đức Tùng, Thụy Khuê… được in lại và giới thiệu; hoặc tác phẩm của Thuận, của Đoàn Minh Phượng được Hội Nhà Văn Việt Nam trao giải. Paris 11 tháng 8 (Thuận) được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng năm 2006; Và khi tro bụi (Đoàn Minh Phượng) được trao giải 2007.

Cuộc “gặp mặt lần thứ nhất”: “Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc”…(20 đến 24/10/2017) do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức là một tín hiệu Đáng mừng. Dù vậy vẫn còn nhiều cách biệt cần có thời gian để hiểu biết nhau hơn.

***

Lời bạt

45 năm qua, dân tộc Việt Nam đã trải qua những thăng trầm lớn lao của lịch sử để tồn tại và khẳng định mình trong cộng đồng nhân loại. Việt Nam đã “đổi mới” và hội nhập thành công vào nền kinh tế, chính trị toàn cầu; và đang có những đóng góp vào việc bảo vệ hòa bình, phát triển kinh tết và mở rộng tình hững nghị đối với mọi quốc gia trên thế giới. Nhưng Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều thách thức, kể cả những đe dọa đến độc lập chủ quyền.

Bản lĩnh Việt Nam, sức mạnh Việt Nam, văn hóa và nhân cách Việt Nam là đáng tự hào trước các dân tộc. Nhưng muốn tìm một tác phẩm văn chương nào tiêu biểu cho khuôn mặt dân tộc và mang được phẩm tính nhân loại trong giai đoạn này để giới thiệu với bạn bè thế giới, để làm gương mẫu cho các thế hệ mai sau (như Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi tiêu biểu cho tầm vóc con người và tư tưởng Việt Nam thế kỷ 15), thì văn chương Việt Nam 45 năm qua chưa đáp ứng được.

Văn chương Việt Nam chưa được thế giới biết đến nhiều bởi thiếu tính dân tộc và tính nhân loại, không đặt ra và giải quyết những vấn đề có tính thời đại và tầm vóc toàn cầu. Đó là một nền văn chương vẫn chưa thoát ra khỏi “cái ao làng” phản ánh hiện thực để trực tiếp phục vụ những nhiệm vụ chính trị. Bao giờ văn chương Việt vươn tới tác phẩm tư tưởng, trả lời cho các vấn đề của nhân loại và nói tiếng nói với muôn đời, lúc ấy văn chương Việt mới sánh vai được với những nền văn chương lớn trên thế giới.

Tháng 01 năm 2020

____________________________________________

 

Chú thích

(1) Tháng 11 năm 1987, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 05 về văn hóa- văn nghệ trong cơ chế thị trường; tháng 8 năm 1989, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 52- CT/TW về đổi mới và nâng cao chất lượng phê bình văn học- nghệ thuật; tháng 6 năm 1990, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 61- CT/TW về công tác quản lý văn học- nghệ thuật; tháng 1 năm 1993, BCHTW ra Nghị quyết Trung ương 4 về một số nhiệm vụ văn hóa- văn nghệ những năm trước mắt; Ngày 16 tháng 7 năm 1998, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII) ban hành Nghị quyết “về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.”

Ngày 16 tháng 6 năm 2008, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 23-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và

              phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”

Ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI ra Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn

hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

(2) Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII, Kỷ yếu. Nxb HNV 2012, tr.146

(3) Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 2010-2015, Tài liệu Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nhà văn Việt Nam lẩn thứ IX, nhiệm kỳ 2015-2020.

(4) (http://vanvn.net/news/1/4646-mua-gat-van-chuong.html)

(5) com.vn/…/68_130544_cong-bo-them-tai-lieu-tuyet-mat-ve-tieu-thuyet-bien-ban-chien-tranh-1-2-3-4-75)

(6) Trương Tấn Sang: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Tieu-diem/2010/3003/Nang-cao-hieu-qua-cuoc-dau-tranh-chong-Dien-bien-hoa-binh.aspx

(7) http://tapchiqptd.vn/vi/lam-that-bai-chien-luoc-dbhb/nhan-dien-thu-doan-dien-bien-hoa-binh-tren-linh-vuc-tu-tuong-van-hoa/7798.html

(8) Báo Văn Nghệ, Hà Nội, số 23, thứ bảy, 9/6/1979, tr. 2-3

(9) Văn nghệ, Hà Nội, số 49&50 (5-12-1987)

(10) Tham luậnhội thảo “Nâng cao chất lượng, hiệu quả phê bình văn học, do Hội đồng Lý luận phê bình  văn học nghệ thuật Trung ương và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Hà Nội ngày 10.4,2012

(11) https://trandinhsu.wordpress.com/2015/07/23/tiep-nhan-phuong-phap-luan-xa-hoi-hoc-mac-xit-trong-nghien-cuu-phe-binh-van-hoc-viet-nam-truoc-1986/

(12) Trường Chinh-Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam. Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1975.tr. 92

(13) Tham luận Hội thảo Lý luận văn nghệ Việt Nam đương đại – từ sự vận động của thực tiễn đến sự đổi mới của lý thuyết do Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương tổ chức ngày 4/2/2015, tại Hà Nội http://phebinhvanhoc.com.vn/ve-van-de-xay-dung-nen-li-luan-van-hoc-viet-nam-li-thuyet-va-thuc-tien/

(14) Lã Nguyên: Lý luận văn nghệ Mác-xit Việt Nam nhìn từ phiên bản gốc, 2014-

http://phebinhvanhoc.com.vn/ly-luan-van-nghe-mac-xit-viet-nam-nhin-tu-phien-ban-goc/

(15) Phan Trọng Thưởng:-Từ thực tiễn lí luận đến yêu cầu xây dựng hệ thống lí luận văn nghệ Việt Nam// Báo “Nhân dân”, Thứ Sáu, Ngày 15/8/2014.

(16) http://vanvn.net/news/35/3567-khai-mac-hoi-nghi-ly-luan-phe-binh-van-hoc-lan-thu-iii.html)

(17) http://vanvn.net/news/11/3572-ly-luan–phe-binh-truoc-thuc-te-sang-tac-van-hoc-hom-nay.html

(18) Ý kiến bế mạc: org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=10093…id

(19) viet-studies.info/NgoVinhBinh_VanChuong2006.htm

(20) (Luận chiến văn chương, quyển 3, Nxb Văn học, 2015, tr.24)

(21) trandinhsu.wordpress.com

(22) Xem thêm các chuyên đề về văn trẻ, thơ trẻ của Bùi Công Thấn trong Chút tình tri âm (Nxb HNV 2009) và Những dòng sông vẫn chảy (Nxb HNV 2011)

(23) http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/nguyen-quynh-trang-va-su-hoang-mang-cua-nguoi-tre-2248237.html

(24) http://vietbao.vn/The-gioi-giai-tri/Khuynh-huong-tinh-duc-trong-sang-tac-van-hoc-gan-day/209350316/49/

(25) http://www.nguoiduatin.vn/van-chuong-thoi-nay-khong-co-sex-khong-ban-duoc-a78849.html

(26) Sợi xích – sách sex! http://www.nld.com.vn/20100313020924767P0C1020/soi-xich-sach-sex-.htm.

(27) http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=7387&CategoryID=41

(28) xuandienhannom.blogspot.com/…/tu-lieu-bai-tuong-thuat-ai-hoi-viii-hoi

(29)(http://trannhuong.net/tin-tuc-7684/thua-nha-tho-tran-manh-hao-toi-xin-ngung-cuoc-tranh-luan.vhtm)

(30) Hàm Đan : http://maivanphan.vn/maivanphan/32/398/793/1528/tranh-luan-van-chuong/giai-thuong-hoi-nha-van-viet-nam-2010-va-2011–hoi-sinh-mot-giai-thuong-danh-gia–nhan-dinh—-ham-dan.aspx

(31) http://vannghetre.com.vn/vi/tin-tuc-moi.nd80/-van-hoc-do-thi-mien-nam-1954–1975.i3840.html

(32) http://www.xuquang.com/j15/index.php?option=com_content&task=view&id=431&Itemid=48).

(33) http://thuykhue.free.fr/stt/v/VanHocMienNam.html,

(34) Ghi chép của Đặng Phú Phong: cobaocalitodaym/…/van…/hoi-thao-20-nam-van-hoc-mien-nam-1954-1…

(35) http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=21851.

(36) http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/van-hoc-viet-nam-o-hai-ngoai,-nhung-van-de-cua-su-phat-trien-hien-nay).

(37) (http://dangcongsan.vn/van-hoc-nghe-thuat/trao-tang-giai-thuong-hoi-nha-van-viet-nam-nam-2010-va-2011-111948.html )

(38) (http://hvhnt.dongnai.gov.vn/Pages/newsdetail.aspx?NewsId=2153&CatId=79)

(39) (https://tuoitre.vn/dinh-chi-phat-hanh-tieu-thuyet-moi-chua-cua-ta-duy-anh-20170921124459155.htm)

(40) (https://waka.vn/top-nhung-cuon-sach-best-seller-2019-fjL0W.html ).

(41) https://www.nxbtre.com.vn/diem-tin/nxb-tre-12-tua-bo-sach-an-tuong-cua-nam-2019-33851.html )

(42) (https://vnexpress.net/giai-tri/tran-nha-thuy-mat-6-nam-hoan-thanh-tieu-thuyet-hat-3074419.html)

(43) (https://www.nhandan.com.vn/nation_news/item/21766702-phan-dau-sang-tao-nhieu-tac-pham-van-hoc-nghe-thuat-co-gia-tri-cao.html)

(44) Thụy Khuê: Thử tìm một lối tiếp cận văn học sử về Hai mươi nhăm năm Văn học Việt Nam hải ngoại 1975-2000. http://thuykhue.free.fr/tk99/tiepcan.html
_________________________________

45 NĂM VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM-phần I

45 NĂM VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM – Một góc ghi nhận

Bùi Công Thuấn

a 1 jpeg

Lời thưa,

 Trong khi chờ đợi những công trình nghiên cứu của Viện Văn học, của Hội Nhà văn Việt Nam, của các nhà nghiên cứu lịch sử văn học, tôi ghi lại cảm nhận chủ quan của mình những gì mà mình đã chứng kiến và dõi theo trong 45 năm văn học Việt Nam (1975-2020). Chỉ là một góc nhìn rất hẹp và không tránh được “những khác biệt” với những góc nhìn và cách tiếp cận khác. Điều ấy cũng là lẽ bình thường.

Chuyện luận này là chuyên luận “Văn chương Việt Nam-Những gì còn với mai sau” được bổ sung và mở rộng thêm tầm nhìn 45 năm (1975-2020).

NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH

            Bạn đọc hải ngoại và bạn đọc những thế hệ sau cần hiểu điều này.

            45 năm 1975-2020, Đảng và Nhà nước đã kiên định những quan điểm về văn học nghệ thuật của chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những quan điểm này ngày càng được cụ thể hóa trong các nghị quyết (1). Đáng kể nhất là Nghị quyết Trung ương 5 (1998), Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị (2008), và gần đây là Nghị quyết Trung ương 33 (2014). (Tôi xin không trích dẫn lại các Nghị quyết này).

Những quan điểm cơ bản vẫn là: Văn hóa, văn nghệ là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo, có nhiệm vụ phục vụ sự nghiệp cách mạng. Văn học phải phản ánh cho được hiện thực cách mạng, góp phần giáo dục quần chúng. Văn nghệ sĩ là chiến sĩ của Đảng trên mặt trận văn hóa tư tưởng.

Đảng lãnh đạo toàn diện văn nghệ về tư tưởng, tổ chức và hoạt động.

Hiện nay (2020), Hội Nhà văn Việt Nam có 1100 hội viên. 65 Hội VHNT địa  phương mỗi Hội cũng có hàng trăm hội viên. Những người thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa văn nghệ ở các cơ quan Nhà nước (Tuyên giáo), báo chí, các nhà xuất bản, các đài phát thanh truyền hình, các trường Đại học, các Viện…là một đội ngũ đông đảo. Như vậy, đội ngũ “chiến sĩ” của Đảng là một lực lượng rất lớn. Đội ngũ này thường xuyên được học nghị quyết của Đảng, tham gia các trại sáng tác mà đề tài, nội dung đã được xác định trong nhiệm vụ chính trị; tham gia các cuộc thi văn nghệ mà mục đích phục vụ chính trị cũng rất cụ thể. Họ cũng được hỗ trợ sáng tác, được tạo mọi điều kiện hoạt động văn nghệ và tặng giải thưởng…

Từ năm 2009 đến nay (2019), Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương đã mở nhiều lớp tập huấn về quan điểm của Đảng, về công tác quản lý văn nghệ, nhằm thống nhất lực lượng trên mặt trận tư tưởng, đấu tranh chống những quan điểm và khuynh hướng sai trái về văn học nghệ thuật. Năm 2013 mở lớp tập huấn chuyên đề “Quan điểm của Đảng về văn học, nghệ thuật và hoạt động phê bình văn học, nghệ thuật”. Năm 2014 tổ chức Hội thảo khoa học toàn quốc với chủ đề “Vấn đề đạo đức xã hội trong văn học, nghệ thuật hiện nay”. Tháng 4 năm 2015 mở tập huấn “Mấy vấn đề về lý luận và thời sự trong đời sống văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay”. Tháng 11 năm 2017 mở lớp tập huấn: “Nâng cao trình độ nhận thức lý luận và năng lực lãnh đạo, quản lý Văn học nghệ thuật trong giai đọn hiện nay”, trong đó có chuyên đề: “Quán triệt đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng trong thời kỳ đổi mới”. Tháng 9 năm 2018, Hội nghị tập huấn: “Xây dựng hệ thống lý luận văn nghệ Việt Nam”, chuyện luận về “đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng” được nhắc lại. GS Hà Minh Đức nhắc lại các “quan điểm của Marx và Engel về văn học nghệ thuật”; và một chuyên luận về “ Đấu tranh phản bác quan điểm, luận điểm sai trái trong văn học nghệ thuật”. Năm 2019, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trung ương tổ chức hội thảo khoa học toàn quốc với chủ đề “Vai trò định hướng của phê bình trong hoạt động thực tiễn và sáng tạo văn học, nghệ thuật hiện nay“…

Tất cả các hoạt động trên của Hội Nhà văn, của các Hội VHNT địa phương, của Hội đồng lý luận và phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương đều là hoạt động trong lĩnh vực tư tưởng, tổ chức của Đảng, nhằm thống nhất lực lượng, tạo ra sức mạnh chính trị to lớn trong cuộc đấu tranh tư tưởng.

Trong bối cảnh xã hội có nhiều biến động, thì sự kiên định đường lối văn nghệ ấy trở thành bản lĩnh. Giai đoạn Việt Nam lâm vào khủng hoảng (1975-1985), hoặc khi Việt Nam mở cửa hội nhập toàn cầu hóa (1986), đón nhận cái mới, cái tốt và cả cái xấu, cái không phù hợp; bao nhiêu trào lưu tư tưởng về văn hóa văn nghệ bên ngoài tràn vào làm cho không ít văn nghệ sĩ mất phương hướng, và tạo ra sự “loạn chuẩn” trong đời sống văn học, thì Đảng đã giữ cho nền văn học phát triển đúng hướng.

Đến nay, quan điểm về xây dựng một nền vǎn học – nghệ thuật thấm nhuần tinh thần nhân vǎn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người. Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính” của Nghị quyết Trung ương 5 và Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị đã mở ra thời đại mới, đưa văn học nghệ thuật Việt Nam cùng với đất nước hội nhập với nhân loại.

NHỮNG DÒNG CHẢY VĂN CHƯƠNG

a 2 jpeg

Cho đến nay, văn chương Việt Nam đã định hình rõ 3 dòng chảy: Văn học Cách mạng và kháng chiến, Văn chương Dân chủ và Nhân vănVăn chương thị trường.

Xu thế chung của các dòng chảy văn học là muốn thoát khỏi, muốn viết khác đi, hay còn gọi là cách tân, so với văn chương tả thực xã hội chủ nghĩa (1945-1975). Xu thế “cách tân” ngày càng chiếm ưu thế do có sự dung nạp những cách viết mới từ văn chương thế giới; TS. Lê Thị Bích Hồng đã có bài tổng hợp khá đầy đủ các tác phẩm văn học 30 năm đổi mới. Xin đọc “Văn học Việt Nam đồi mới trong cơ chế thị trường(http://vanvn.net/thoi-su-van-hoc-nghe-thuat/van-hoc-viet-nam-doi-moi-trong-co-che-thi-truong/456)

  1. Văn chương “Cách mạng và kháng chiến

Gọi là văn chương cách mạng và kháng chiến vì nội dung của dòng văn chương này viết về hiện thực cách mạng, viết về đời sống kháng chiến của nhân dân. Dòng văn chương này tiếp tục con đường của văn chương giai đoạn trước. Đa số tác giả là những người trực tiếp chiến đấu ở chiến trường trở về. Họ sáng tác theo mô hình “thi pháp” của văn chương kháng chiến.

Dòng văn chương này kiên trì các đề tài do Hội Nhà văn, các Hội VHNT địa phương đề ra. Đề tài lịch sử, cách mạng và kháng chiến; đề tài “học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”,  về suy thoái đạo đức; về hội nhập và phát triển, về nông thôn mới, về công nhân; viết cho thiếu nhi, viết về các dân tộc ít người, viết về các ngành nghề (thí dụ, đề tài giao thông vận tải, ngân hàng…). Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội Văn học nghệ thuật địa phương liên tục tổ chức các trại sáng tác, đưa hội viên đi thực tế; liên tục tổ chức các cuộc thi thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết; hàng năm tổ chức trao giải…

Khối lượng tác phẩm do các Hội VHNT địa phương, các trại sáng tác trong 45 năm qua là hết sức đồ sộ. Các tác phẩm văn học cách mạng và kháng chiến được đánh giá là thành tựu to lớn, góp phần vào sự nghiệp cách mạng của Đảng. Giải thưởng Hồ Chí MinhGiải thưởng Nhà nước về Văn học là sự tôn vinh những thành tựu ấy.

Xin đơn cử, chỉ riêng nhiệm kỳ 2005-2010 của Hội Nhà văn Việt Nam, ”Theo thống kê chưa đầy đủ, toàn thể hội viên của Hội đã cho xuất bản 1875 tác phẩm. Trong đó, văn xuôi: 942 tác phẩm; thơ: 611 tác phẩm; văn học dịch 83 tác phẩm; Lý luận phê bình 239 tác phẩm”(2);

Báo cáo nhiệm kỳ 2010-2015 :”trong nhiệm kỳ qua, toàn Hội đã sáng tác được 1216 tác phẩm thuộc đủ các thể loại (3)… .

Báo cáo tổng kết giải thưởng 5 năm của Bộ Quốc phòng (2009-2014): ”Chọn lựa trong 200 tác phẩm văn học, gần 500 tác phẩm mĩ thuật, gần 1000 tác phẩm nhiếp ảnh, 400 tác phẩm âm nhạc, 50 tác phẩm múa, 44 tác phẩm điện ảnh, 30 tác phẩm sân khấu… để lựa chọn ra và trao 185 giải thưởng ở cả 8 lĩnh vực. Trong đó, có 19 giải A, 35 giải B và 54 giải C và 77 giải khuyến khích.

               Trong văn học, hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ”, hình ảnh người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam cao đẹp được nhiều tác phẩm thể hiện thành công, kêu gọi lòng nhân ái và tinh thần yêu hòa bình của con người. Các tác phẩm nổi bật như: tiểu thuyết Đèn kéo quân của tác giả lão thành Lương Sĩ Cầm, tiểu thuyết Phượng Hoàng của tác giả Văn Lê, tập thơ Sương đẫm lá khộp khô của nhà thơ Ngân Vịnh, hai trường ca Tổ quốc nhìn từ biển của Nguyễn Việt Chiến và Hạ thủy những giấc mơ của Nguyễn Hữu Quý… đã cho ta thấy vẻ đẹp, ý chí quật cường, lòng dũng cảm sự hi sinh, gian khổ và lòng cao thượng của chiến sĩ Việt Nam.”(Văn nghệ quân đội online 17.10.2015). Xin đọc thêm Mùa gặt văn chương, báo cáo bế mạc trại sáng tác văn học Hội Nhà văn, Vũng Tàu 04/2014 (4).

Và đây là một thành quả:

Bản tin về tiểu thuyết Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 của Trần Mai Hạnh:

Đúng dịp kỷ niệm 39 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2014), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật giới thiệu với bạn đọc cuốn “Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75” của Trần Mai Hạnh. Đây là tác phẩm duy nhất của thể loại văn xuôi được Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam quyết định trao tặng “Giải thưởng Văn học năm 2014” với số phiếu tuyệt đối. Nhà thơ Hữu Thỉnh – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cho biết: Các nhà khoa học hàng đầu về văn chương trên thế giới đã dự báo thế kỷ XXI là thế kỷ của văn học tư liệu. Hiện nay hàng loạt hồi ký của các nhân vật chính trị, tướng lĩnh, các nhà doanh nghiệp lớn, chiếm lượng phát hành lớn, thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng. Văn học tư liệu đã đóng vai trò rất quan trọng trong tiến trình văn học hiện đại. Cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử của nhà báo Trần Mai Hạnh đã phác họa sinh động sự sụp đổ, chân dung của hầu hết tướng lĩnh quân đội và số phận những người cầm đầu chính quyền tay sai Sài Gòn trong 4 tháng cuối cùng của kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, làm nổi bật chiến thắng vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng.

               Nhà phê bình Bùi Việt Thắng nhận xét: “Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75” là một “hiện tượng” vì lần đầu tiên trong văn học tư liệu có cái nhìn “ngược sáng” về “phía bên kia”. Tác giả đã không đứng ở phía “người chiến thắng” thông thường, không lấy hình ảnh người bộ đội Cụ Hồ làm chính thể như những tác phẩm khác về chiến tranh. Cách nhìn khách quan, trung lập của tác giả đã giúp độc giả hiểu rõ hơn về nội tình của chính quyền Việt Nam Cộng hòa thời đó cũng như đi sâu tìm hiểu nguyên nhân sụp đổ của chính quyền này.(5)

Các báo cáo tổng kết của các Hội Văn học nghệ thuật luôn đầy thành tích lạc quan như vậy.

***

Nhưng nếu đánh giá thực chất theo yêu cầu của các Nghị quyết, thì có rất ít tác phẩm “phản ánh hiện thực sinh động, chân thật và sâu sắc sự nghiệp của nhân dân trong cách mạng và kháng chiến, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc…”, có rất ít tác phẩm ”thấm nhuần tinh thần nhân vǎn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người”, và chưa có tác phẩm nào được tôn vinh vềphục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Trong trường học cũng không có tác phẩm văn học Cách mạng và kháng chiến giai đoạn 1975-2020 được giảng dạy. Học sinh gần như xa lạ và không có hứng thú khi học văn học 1945-1975.

Tại sao có tình trạng này? Có thể hiểu rằng, chiến tranh đã kết thúc gần nửa thế kỷ, các thế hệ người đọc sinh ra sau chiến tranh ít nhất cũng đã 45 tuổi. Họ sống trong thời bình, trong một bối cảnh xã hội hoàn toàn khác với thế hệ cha anh. Họ nhìn ra thế giới và mơ ước cuộc sống sung túc. Cuộc sống đương đại trong sự phát triển toàn cầu hóa với những mạng 4G, 5G đặt ra những vấn đề khác. Các thế hệ 8x, 9x, 1K, 2K quan tâm đến những vấn đề của hôm nay.

Hơn nữa, những nhà văn đã trải qua chiến trường cũng đã mai một gần hết, thế hệ cầm bút sau đó viết về chiến tranh mà không có trải nghiệm, thành ra tác phẩm khó thuyết phục. Văn chương Cách mạng và kháng chiến bây giờ viết nhiều về đau thương mất mát cá nhân, cái nhìn về chiến tranh cũng khác trước nhiều (chẳng hạn cái nhìn dưới quan điểm hòa hợp hòa giải dân tộc). Vì thế, người đọc nếu đã quen với khuynh hướng sử thi của văn chương giai đọan trước, sẽ không còn tìm thấy những nhân vật anh hùng, sáng ngời lý tưởng trong tác phẩm văn chương hôm nay. Xin đọc Trong cơn lốc xoáy (2016), tiểu thuyết hơn 1000 trang của Trầm Hương viết về người cán bộ cách mạng tên Vạn. Vạn từng bị Pháp bắt đày Côn đảo 15 năm, vậy mà trong kháng chiến chống Mỹ, Vạn lại lụy vì tình và từng là người đi tìm gái cho những ông chủ Mỹ. Vạn triết lý: ”Ôi, lý tưởng, hoài bão, ước mơ vá biển lấp trời của ta rốt cuộc đều thua trước thực tế đàn bà…”. Tiểu thuyết Con chim Joong bay từ A tới Z của Đỗ Tiến Thụy (2017) viết về chiến tranh theo một cách khác hẳn trước đó.

Đánh giá từ các nghị quyết, các báo cáo, các cuộc hội thảo đều nhận định rằng:

               “Trong sáng tác, biểu diễn, truyền bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật còn không ít tác phẩm và hoạt động chưa thể hiện được tính chất tiên tiến và bản sắc dân tộc. Số lượng tác phẩm ngày càng nhiều song còn ít tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Trong một số tác phẩm, lý tưởng xã hội – thẩm mỹ không rõ nét, ý nghĩa xã hội còn hạn hẹp. Một số văn nghệ sĩ còn hạn chế trong tiếp cận và nhận thức những vấn đề mới của cuộc sống, chưa cảm nhận đầy đủ ý nghĩa, chiều sâu và tính phức tạp của quá trình chuyển biến mang tính lịch sử trong thời kỳ mới của đất nước… “(Nghị quyết 23)

  1. Văn chương “Nhân văn và Dân chủ”

                Văn chương thời kỳ đổi mới (1985-1995) và sau đổi mới đến nay chưa được tổng kết đánh giá và định vị như các giai đoạn văn học trước. Lấn cấn đó là vì nhiều lẽ.

Gọi là văn học “đổi mới” thực ra chỉ là sự quyết liệt lìa bỏ chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Văn chương chống Pháp và chống Mỹ “miêu tả hiện thực cách mạng, kết hợp với lãng mạn cách mạng thông qua điển hình hóa cao độ”. Đánh giá tác phẩm dựa trên tính Đảng, tính nhân dân và nhiệm vụ phục vụ cách mạng trong từng thời kỳ cụ thể. Khi được “cởi trói” và “đổi mới tư duy”, nhà văn nhận ra, trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, hiện thực vốn phức tạp, có phần sáng và có phần tối. Nhận ra trách nhiệm nhà văn phải lên tiếng trước những vấn đề bức xúc của đời sống, không thể cứ tụng ca lãng mạn, họ thấy cần phải đổi mới cách viết. Nhà văn muốn viết phần “sự thật” chưa được văn chương cách mạng nói tới, bởi một nửa chân lý không phải là chân lý.

Có người gọi dòng văn chương này là văn chương thức tỉnh. Tôi cho rằng cách gọi đó không đúng. Sự đổi mới nằm ở ý thức mới về tư tưởng – thẩm mỹ và phương pháp sáng tác. Tôi gọi là dòng văn chương nhân văn và dân chủ (mượn chữ của Nghị quyết Trung ương 5 và Nghị quyết 23- đã dẫn). Dòng văn học này rời bỏ hẳn chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, nhìn hiện thực từ góc nhìn nhân dân, một hiện thực đa diện, phức tạp. và được viết bằng kiểu bút pháp hiện thực trần trụi với cảm hứng phê phán. Với định kiến rằng chủ nghĩa xã hội là tốt đẹp, người ta không thể chấp nhận cái hiện thực được miêu tả trong những tác phẩm của dòng văn chương này.

Có thể kể đến Đứng trước biển (1982), Cù lao Tràm (1985- Nguyễn Mạnh Tuấn), Chiếc thuyền ngoài xa (1983-Nguyễn Minh Châu), Thời xa vắng (1984-Lê Lựu), Thiên sứ (1989-Phạm Thị Hoài) truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Tướng về hưu-1987), Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận tình yêu 1987- Giải thưởng Hội Nhà văn 1991-Bảo Ninh), Bên kia bờ ảo vọng (1987) và Những thiên đường mù (1988-Dương Thu Hương), Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990-Nguyễn Khắc Trường), Một người Hà Nội (1990-Nguyễn Khải), Chuyện kể năm 2000 (2000- theo lời tác giả, tiểu thuyết này được viết từ tháng 6 năm 1990 đến 30 tháng 11 năm 1991 thì hoàn tất. Bản thảo được xem lại lần cuối vào tháng 8 năm 1998), Cánh đồng bất tận (2005-Nguyễn Ngọc Tư), Ba người khác (2006-Tô Hoài), Thời của thánh thần (2008-Hoàng Minh Tường), Quán dương cầm (Đặng Thị Thanh Liễu- tạp chí Langbian Lâm Đồng số 75, 76 tháng 7, 8/2009), Bóng anh hùng (2009-Doãn Dũng), Mối chúa (Đãng Khấu-2017), Kiến, Chuột và Ruồi (Nguyễn Quang Lập-2019) …

Cần nhận rõ đây là dòng văn học phức tạp về tư tưởng và mục đích viết văn. Giá trị của nó tùy thuộc vào góc nhìn chính trị hay góc nhìn “nhân văn- dân chủ”. Xét đến cùng, các tác phẩm của dòng văn học này là hành động phủ định chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, nhưng chưa định hình hẳn một trào lưu nghệ thuật mới có giá trị cách tân cho một giai đọan văn học mới. Dòng văn học này vẫn chỉ là “phản ánh hiện thực”, phần hiện thực chưa được văn chương cách mạng khai phá. Thực ra, nó gây ra ồn ào vì lý do ngoài văn chương, không hẳn là do nghệ thuật văn chương, tư tưởng. Về tư tưởng, nhiều tác phẩm trình bày những cái nhìn trái ngược với quan điểm của Đảng và Nhà nước, chẳng hạn quan điểm về chiến tranh, về Cải cách ruộng đất, về những tiêu cực trong đời sống xã hội hôm nay… Vì thế đã có những tác phẩm bị dừng phát hành (thí dụ: Chuyện kể năm 2000, Mối chúa).

Trong đời sống văn học, cũng xuất hiện những cuốn sách chính trị mang dáng dấp sách văn chương, bởi nội dung và mục đích của nó là chính trị. Chẳng hạn, việc sử dụng văn chương (hậu hiện đại) để “giải thiêng”, để “hạ bệ thần tượng” nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Năm mục tiêu của sách lược “diễn biến hòa bình” là: “…xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, xóa bỏ sự lãnh đạo của đảng cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, gây mất ổn định về chính trị…(6)

Trên tạp chí Quốc phòng Toàn dân, Phạm Văn Sơn  nói cụ thể hơn:

               ”Trên lĩnh vực văn học – nghệ thuật, báo chí, xuất bản, chúng ra sức vận động thành lập “Văn đoàn độc lập”, “Hội nhà báo độc lập”, “Công đoàn độc lập”; tán phát một số cuốn sách được xuất bản ở hải ngoại, như: “Con đường Việt Nam” của Trần Huỳnh Duy Thức, “Bên thắng cuộc” của Huy Đức, “Đèn cù” của Trần Đĩnh,… nhằm “bôi nhọ” đời tư của các cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, v.v.(7)

Cần nói rõ những “tác phẩm” được Phạm Văn Sơn kể ra ở trên không phải là tác phẩm văn chương. Tuy vậy nó có gây ra tác động đến đời sống tinh thần của một bộ phận người đọc

Trở lại dòng văn chương dân chủ và Nhân văn, có lẽ sự “nhạy cảm” chính trị của những tác phẩm này đã gây khó cho các nhà viết lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1975-2015 (?). Không thể phủ định thành tựu của dòng văn chương này, nhưng nó không nằm trong quan điểm văn học của Đảng. Nó xuất hiện trong bối cảnh Đảng “đổi mới tư duy”, “nhìn thẳng vào sự thật”, mà thực tế cao hơn lý luận. Ứng xử với nó, người ta chọn  cách nhìn riêng lẻ từng tác phẩm và chỉ xét ở góc độ nhân văn và dân chủ. Điều ấy thể hiện ở việc trao giải văn học. Hội Nhà văn Việt Nam đã trao giải thưởng cho Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh năm 1991, cho Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư năm 2006.

***

Sự từ bỏ chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng được nhận thức về mặt lý luận. Đầu tiên là bài của Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến – “Về một đặc điểm của văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua” (1979). Sau đó 8 năm là bài của nhà văn Nguyễn Minh Châu – “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”. (1987)

Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến nói đến một thứ “chủ nghĩa hiện thực phải đạo” chỉ phản ánh cái hiện thực phải – là, chứ không phải cái hiện thực ­đang – là: Nhìn chung trong sáng tác hiện nay, sự miêu tả cái phải tồn tại lấn át sự miêu tả cái đang tồn tại. Và chúng tôi tán thành ý kiến của Nguyễn Minh Châu cho rằng sự lấn át này đương là một cản trở “trên con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực”, đặc biệt trong thể loại tiểu thuyết. Đứng ở bình diện cái phải tồn tại, người nghệ sĩ dễ bị cuốn hút theo xu hướng miêu tả cuộc sống “cho phải đạo”, còn đứng ở bình diện cái đang tồn tại thì mối quan tâm hàng đầu là miêu tả sao cho chân thật. Đọc một số tác phẩm chúng tôi thấy tác giả dường như quan tâm đến sự phải đạo nhiều hơn tính chân thật. Có thể gọi loại tác phẩm này là “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”. Thực ra, ngay trong đời sống thực tại, do quy luật của sự thích nghi sinh tồn, dần dần được hình thành những kiểu người “phải đạo” với những cung cách suy nghĩ, nói năng, ứng xử được xem là “phải đạo”. Khái quát những hiện tượng hết sức thực tại này vẫn sản sinh ra “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”(8).

Nhà văn Nguyễn Minh Châu nói đến một giai đoạn văn nghệ minh họa:”Tôi không hề nghĩ rằng mấy chục năm qua nền văn học cách mạng – nền văn học ngày nay có được là nhờ bao nhiêu trí tuệ, mồ hôi và cả máu của bao nhiêu nhà văn – không có những cái hay, không để lại được những tác phẩm chân thực. Nhưng về một phía khác, cũng phải nói thật với nhau rằng: mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, văn học minh họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa, kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn mà chúng ta quy cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn. Nhà văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạt đường lối chính sách bằng hình tượng văn học sinh động, và do nhiều lý do từ những ngày đầu cách mạng, các nhà văn cũng tự nguyện tự giác thấy nên và cần làm như thế (thậm chí có phần nào các nhà văn mới đi theo cách mạng và kháng chiến còn coi đó là cái mới, là hoàn cảnh “lột xác”.(9)

Năm 2012 Giáo sư Trần Đình Sử đề nghị bỏ khái niệm phương pháp sáng tác: ”Tôi thấy đã đến lúc dứt khoát loại bỏ khái niệm phương pháp sáng tác nhằm hoàn thiện hệ thống lí luận văn nghệ của chúng ta. Bỏ khái niệm phương pháp sáng tác không phải là hành vi theo đuôi nước ngoài, mà là bỏ đi một thuật ngữ nguỵ tạo của lí luận văn học Xô viết, vốn không có trong lí luận mác xít, để hệ thống lí luận văn học được chặt chẽ hơn, phù hợp với tinh thần của chủ nghĩa Mác, đồng thời nội dung mà ta vẫn gọi là “phương pháp sáng tác” thì chuyển sang lí thuyết hay chủ trương về sáng tác (10). Người ta hiểu rằng Giáo sư Trần Đình Sử muốn loại bỏ phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa mà Trường Chinh đã nói đến trong báo cáo Chủ Nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam.(11)

              Năm 2015, đi xa hơn về mặt lý luận, Giáo sư Trần Đình Sử nói về tình trạng khủng hoảng lý luận ông kết luận:Tóm lại, lí luận văn học mác xít vì bản chất là xã hội học, tuy có đem lại một ít sinh khí, khí thế trong đấu tranh xã hội, nhưng nhìn chung đối với phê bình văn học nghệ thuật, một lĩnh vực thẩm mĩ, nó có rất nhiều hạn chế và khiếm khuyết. Trong điều kiện xã hội học mác xít độc tôn thì các khiếm khuyết ấy càng phát huy tác dụng tiêu cực. Chỉ đến thời Đổi mới người ta mới dám nhìn thẳng vào các tiêu cực ấy, dám phê bình nó, vượt qua nó để vươn tới phát triển nền lí luận, phê bình văn học phong phú, đa dạng, giàu sức sống.”(12)

Nói về việc xây dựng nền lý luận văn học Việt Nam, ông nói cụ thể hơn: ”…từ góc độ diễn ngôn cho phép chúng ta có thể quan niệm rằng muốn xây dựng một nền lí luận văn học Việt Nam hiện đại, xứng tầm thời đại và dân tộc như nhiều người mong muốn, vấn đề không phải là quán triệt tư tưởng này, chủ trương nọ, không phải học tập cho có hệ thống lí thuyết nước ngoài, mà then chốt là đột phá bốn yếu tố của diễn ngôn lí thuyết. Muốn thế thì xây dựng đội ngũ các nhà lí luận, nghiên cứu, tạo điều kiện cho họ được học tập, sáng tạo tự do, để  họ tự kiến tạo hệ thống của riêng mình, phương pháp của mình, đem vận dụng vào thực tế văn học mà  họ tâm đắc. Căn cứ vào các bình diện của diễn ngôn cần phải trau giồi hệ thống thuật ngữ, chuẩn hóa nội hàm. Không ngừng mở rộng khung tri thức theo các giới hạn mà lí luận thế giới đang mở ra. Dân chủ hóa, đa nguyên hóa về ý thức hệ và  hệ thống quyền lực, thì chắc chắn một nền lí luận văn học Việt Nam hiện đại sẽ xuất hiện từ trong thực tế nghiên cứu sinh động theo tinh thần sáng tạo ấy.”(13)

Lã Nguyên (2015) cũng nói đến những hạn chế của nền lý luận văn nghệ Mác xít (14): Khi công cuộc đổi mới văn nghệ được khởi động, trên các diễn đàn học thuật, người ta truy vấn, thảo luận sôi nổi về hàng loạt nguyên lí quen thuộc của mĩ học Mác –xít truyền thống. Cũng từ đây, trong các công trình nghiên cứu của giới khoa học, trong các luận văn, luận án của sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, hệ thống lí luận văn nghệ Mác xít truyền thống không còn là ưu tiên lựa chọn hàng đầu để tiếp cận đề tài. Ở các lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng không còn là ưu tiên lựa chọn của văn nghệ sĩ…Nói tóm lại, giờ đây, ai cũng nhận ra, lí luận văn nghệ và mĩ học Mác xít truyền thống không thể giữ được vị thế vốn có vì nó đã trở nên xơ cứng, bất cập trước thực tiễn khoa học và sáng tạo nghệ thuật của thời đại.” Ông dẫn lời Phan Trọng Thưởng“… Từ những năm chín mươi của thế kỷ 20 đến nay, hệ thống lý luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và cùng với nó là phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, sau hơn bảy mươi năm tồn tại và phát triển, đã không đủ sức trụ vững ngay trên mảnh đất quê hương của nó. Dường như nó đã hoàn tất sứ mệnh lịch sử của mình để nhường chỗ cho những quá trình văn học khác đang nhen nhóm và thay thế”(15)

Nhìn vào thời điểm những bài viết, người đọc thấy rõ các “nhà lý luận” đã đi sau nhà văn khá xa. Nếu tính từ những năm 1986-1990, văn chương thoát ly chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu có giá trị khẳng định thì mãi 25 năm sau (2015) các “nhà lý luận” mới dám nói đến sự việc phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa đã hoàn tất sứ mệnh lịch sử. Thực tế ở Việt Nam cho thấy lý luận văn chương luôn đi sau sáng tác, yếu kém và lạc hậu, chưa trở thành ánh sáng tiên phong cho sáng tác. Nguyên nhân do đâu, xin để các “nhà lý luận” trả lời.

***

Người ta đi tìm câu trả lời ở các Hội nghị Lý luận, phê bình văn học lần thứ I (2003), lần II (năm 2006), lần III (2013), lần thứ IV tại Tam Đảo (2016).

Khai mạc Hội nghị lần III, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà Văn cho biết: Chủ đề lần thứ I đề cập đến vấn đề đánh giá tiến trình phát triển của văn học thế kỷ 20; chủ đề lần thứ II: Phát huy vai trò, tính sáng tạo của nhà văn. Và lần thứ III mang chủ đề “Nâng cao chất lượng, hiệu quả lý luận phê bình văn học”(16).

Chủ đề của Hội nghị LLPB lần thứ IV là “Văn học-30 năm đổi mới, hội nhập và phát triển

Tiến sĩ Lê Thành Nghị trong phát biểu đề dẫn Hội nghị lần III nêu một số vấn đề cụ thể của lý luận, phê bình:” vấn đề mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, vấn đề vai trò chủ thể sáng tạo, vấn đề ngôn ngữ nghệ thuật, lý thuyết tiếp nhận, văn học và hiện thực, phương pháp sáng tác…chưa được soi sáng thấu đáo từ góc độ lý thuyết đến diễn giải những dấu hiệu của thực tế sáng tạo. Trong khi đó, nhiều vấn đề nảy sinh từ sự đời sống hiện tại của văn học chưa kịp được nghiên cứu, lý giải, hướng dẫn, tổng kết, cắt nghĩa các hiện tượng, soi sáng chúng trên bình độ lý thuyết, nhận thức và phân tích chúng bằng tư duy luận lý, từ đó chỉ ra con đường triển vọng, dự báo những khả năng hiện thực…”(17)

Đây là một vài ý kiến phát biểu nhận xét về Hội nghị II (18):

              Họ đến Hội nghị với một tinh thần nghiêm túc và nhiệt tình. Tuy nhiên, những tham luận trong Hội nghị còn có sự tản mạn về đề tài (Phạm Tiến Duật).

               Hội nghị còn khá nhiều tham luận nói đến những vấn đề quá cũ kỹ, tôi đã nghe nhiều lần. Sự lặp đi lặp lại những ý kiến, những phát hiện không mới hay chỉ là sự bày tỏ những bức xúc gì đó của cá nhân (Nguyễn Hòa).

               Vẫn cái cũ lặp lại nhiều và nếu người ta có đề nghị cái mới thì tôi cũng không nhận thấy sự cụ thể và rõ ràng. Theo tôi, hội thảo nên tập trung khai thác nhiều vấn đề mới hơn nữa trong lý luận văn học (Inrasara).

TS Chu Văn Sơn nhận xét:“Thực tế, các hội nghị về nghệ thuật thì người ta chỉ chú trọng đến những thành công bên ngoài chứ không chú trọng vào những thành công ở bên trong. Tạo dựng cho các đại biểu một địa điểm đổi gió, một nơi để anh em cùng nghề gặp nhau, qua sự giao lưu bên lề để có thể góp ý cho nhau thì hội nghị này coi như đã thành công rồi.

Nhận xét về Hội nghị Lý luận, phê bình lần III năm 2006, Ngô Vĩnh Bình viết trong bài “Văn chương 2006, rối như canh hẹ:“Điểm nóng thứ hai của văn học năm 2006 là phê bình văn học. Tốn kém cả trăm triệu đồng, kéo cả trăm người xuống Đồ Sơn để hy vọng “hắt những chảo lửa” xuống cái “ao lý luận phê bình” bấy nay đìu hiu, buồn tênh và tĩnh lặng (theo từ dùng của nhà thơ Trần Đăng Khoa) nhưng kết quả thu được là thế nào? Có thể nói rằng rất ít! Vẫn là những vấn đề, những câu hỏi mà Hội nghị Lý luận – Phê bình lần thứ nhất ở Tam Đảo đã đặt ra, những vấn đề, những câu hỏi chưa được giải đáp.”(19)

Vâng, đã có nhiều hội nghị về lý luận, phê bình văn học nhưng những vấn đề của thực tiễn văn học Việt Nam cho đến nay vẫn chưa được giải quyết. Chẳng hạn, làm thế nào để có tác phẩm văn học đỉnh cao? Đã có những ý kiến chỉ ra rằng việc tiếp thu các lý thuyết văn học phương Tây có chỗ bất cập, vì các tác giả phương Tây viết cho nền văn học của họ, vậy thì đến bao giờ mới có một nền lý luận văn học Việt Nam cho nền văn học Việt Nam? Và đây một thực tế, Ngô Vĩnh Bình viết: ”…Ở Hội An khi đến dự đêm thơ, nghe nhà thơ đọc thơ (diễn thơ), có người đã hỏi “người ta (nhà thơ) đang làm gì thế ”? Có người không tránh khỏi bất ngờ đã phải viết “thơ là vậy sao”?… Các nhà phê bình thì dường như “chạy mất dép” cả. Không ai dám bảo đó là thơ và cũng chăng ai dám nói đó không phải là thơ. Tôi chưa thấy một bài phê bình nào dám “nhìn thẳng” vào các nhà thơ trẻ, đặc biệt là các nữ thi sĩ trẻ để khen thuyết phục và chê thuyết phục.”, còn Nguyễn Thúy Hằng, người làm thơ trẻ, nhận định về giới phê bình:“đội ngũ các nhà phê bình quá ít và trình độ của họ hiện nay chỉ dừng ở mức độ khen – chê, chưa đủ sức phân tích tác phẩm trọn vẹn”. Phó giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Thái: “Bản chất của văn học là chữ, và đòi hỏi duy nhất là đọc cho “vỡ chữ”. Các nhà phê bình hiện nay đang gặp phải bi kịch: đọc không vỡ chữ.  ” (Hội nghị lần III)

Lý giải vấn đề “khủng hoảng” của lý luận, phê bình văn học, nhà văn Hoàng Quốc Hải (tham luận Hội nghị lần II- vẫn nhìn theo cách nhìn Marxist) cho rằng:Hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, Ban Văn hóa tư tưởng cũng như Hội đồng lý luận Trung ương có đề ra “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, đó là định hướng mờ nhạt. Vì rằng “định hướng xã hội chủ nghĩa” nhưng lại hoạt động theo cơ chế thị trường. Định hướng xã hội chủ nghĩa với cơ chế thị trường khắc chế nhau như nước với lửa nhưng lại song song tồn tại. Do vậy, các nhà lý luận nước ta rơi vào khủng hoảng triền miên là một sự đương nhiên.” Cách lý giải này không thuyết phục.

Một vấn đề “nóng” của thực tiễn: Ở Hội nghị lần III, từ phát biểu của nhà lý luận Nguyễn Văn Lưu về luận văn của Đỗ Thị Thoan, Giáo sư Phong Lê lên tiếng: Ai làm luận văn xúc phạm lãnh tụ, hãy truy đến tận gốc xem hội đồng thạc sĩ ai chấm, ai lập hội đồng. Không thể chấp nhận được. Cần phải lên tiếng. Nhà phê bình Nguyễn Văn Lưu đặt thẳng vấn đề với các đồng nghiệp :” Chúng tôi muốn góp ý với các đồng nghiệp là nhà văn Nguyễn Đăng Điệp-Viện trưởng Viện Văn học, và nhà văn Văn Giá- Trưởng khoa Lý luận-Phê bình Văn học Trường Đại học Văn hóa (Bộ Văn hóa), hai thành viên hội đồng chấm luận án và Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội Phạm Xuân Nguyên-người đã đọc bản thảo Những tiếng nói ngầm của Nhã Thuyên- rằng các bạn nên giữ sự trung thực cho ngòi bút của mình, nên tự trọng về nhân cách. Các bạn có thể xin ra khỏi Đảng, tự nguyện trả lại các chức danh và học vị mà thể chế này-do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập- đã phong tặng cho các bạn rồi làm một nhà văn tự do thì hay hơn là lập lờ hai mặt như vị thầy của các bạn: vẫn ca ngợi kính phục Dương Thu Hương: Người phụ nữ một mình chống lại cả một Nhà nước- nhưng mà giải thưởng, chức danh Nhà nước ấy trao cho vẫn vui vẻ nhận, lại còn thắp hương khấn vái xin cho được nữa. Cũng mong ngài Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đừng để Đại học Sư phạm Hà Nội thành ra một trung tâm hài hước như thế “ (20)

Vấn đề luận văn Đỗ Thị Thoan là vấn đề chính trị, tôi không đề cập ở đây. Tuy nhiên xung quanh vấn đề này đã có những ý kiến có tính học thuật. Luận văn của Đỗ Thị Thoan nói về “cái bên lề” về văn học ngoại biên: ”Việc Mở miệng tự xác định vị trí bên lề của mình thuộc vào một xu hướng rộng hơn, có tính chất liên quốc gia: xu hướng ngoại vi hóa (marginalization). Mảng văn chương ngoại vi này hấp dẫn cộng đồng nghệ thuật và giới trí thức trong/ngoài nước, như biểu hiện của nỗ lực trên cả hai phương diện của nghệ sĩ: đổi mới nghệ thuật và đòi hỏi tự do ngôn luận”(Luận văn).

Như một thái độ bênh vực Đỗ Thị Thoan (tuy không nói thẳng ra), Giáo sư Trần Đình Sử ca ngợi văn chương ngoại biên. Dẫn theo Bakhtin ông viết: “Như vậy văn học ngoại biên là nguyên sinh, văn học trung tâm là thứ sinh do điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa quy định. Văn học cách mạng Việt Nam trước 1945 chỉ là ngoại biên, sau Cách mạng tháng Tám liền trở thành chủ lưu, trung tâm. Trung tâm ngoại biên luôn đổi chỗ cho nhau trong thực tế,…” Quan niệm về ranh giới của Bakhtin cho ta hiểu rằng, toàn bộ sức sống văn học, nghệ thuật nằm ở đường biên. Kìm giữ văn học, nghệ thuật ở trung tâm là kìm hãm sự phát triển, sinh sôi của chúng. Quan niệm này cũng cho thấy ngoại biên hóa là quy luật khách quan của nghệ thuật và lí thuyết, phê bình.Ông cho rằng văn học Việt Nam đã ngoại biên hóa từ đầu đổi mới:Các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường, Hồ Anh Thái… thể hiện nhu cầu ngoại biên của văn học rất mạnh mẽ. Dần dần các đề tài về tình yêu, tình dục, đề tài chấn thương, thế tục, đồng tính trở nên phổ biến. Ông kết luận:”, “Ngoại biên hóa dẫn đến đa nguyên, tạp giao, đối thoại và điều đó có thể làm nảy sinh những sáng tác mới có giá trị. Ngoại biên hóa văn học ở Trung Quốc đã làm nảy sinh một Mạc Ngôn đoạt giải Nobel, lẽ nào ngoại biên hóa văn học Việt Nam chẳng đem đến niềm hi vọng?”(21)

Lý luận về văn chương ngoại biên và văn chương trung tâm còn cần phải xem xét kỹ. Trong suốt quá trình lịch sử, có bao giờ văn học dân gian Việt Nam trở thành văn học trung tâm? Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh thì văn học nào là trung tâm? Văn học Đàng Trong hay Đàng ngoài? Trước 1975, văn học Miền Bắc, văn học Miền Nam, văn học nào là ngoại biên, văn học nào là trung tâm? Và hiện tại, văn học Việt Nam trong nước và văn học Việt Nam của những người cầm bút hải ngoại, đâu là văn học trung tâm, đâu là ngoại biên? và cứ theo mạch lập luận của Giáo sư Trần Đình Sử thì một ngày nào đó, theo quy luật vận động khách quan, thì văn học Việt hải ngoại sẽ thành văn học trung tâm chăng?

Đó là những vấn đề của các Hội nghị Lý luận phê bình I, II, III.

               Hội nghị LLPB lần thứ IV tại Tam Đảo được tổ chức khá nghiêm túc. Ngày thứ nhất thảo luận riêng từng Hội đồng (Thơ, văn xuôi, Lý luận phê bình). Ngày thứ hai thảo luận chung. Dường như đến hôm nay (2016) những vấn đề nóng của Lý luận Phê bình những năm trước đã nguội (?), và những “thùng thuốc nổ” đều không dự (Trần Mạnh Hảo, Bùi Minh Quốc, Phạm Xuân Nguyên…), chỉ còn Chu Giang-Nguyễn Văn Lưu, Nguyễn Hòa và Đông La.

Tôi chú ý đánh giá tổng kết Hội nghị LLPB lần thứ IV của Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà Văn.

Ông đã chỉ ra nhiều thành tựu của Văn học trong 30 năm đổi mới:

“Vấn đề 1: Đổi mới đã giải phóng tiềm năng sáng tạo. Chẳng hạn, chưa bao giờ ta có nhiều tiểu thuyết lịch sử như bây giờ. Đề tài, chủ đề, tư tưởng trong sáng tác là phóng khoáng. Hội Nhà văn không cầm tay chỉ việc.

Điều làm thay đổi toàn bộ nền văn học là, văn học 30 năm qua nói về cái bình thường, cái tự nhiên, cái hài hòa, không lấy cái bất thường, cái phi thường như giai đoạn trước. Nền văn học 30 năm đổi mới phát triển hài hòa, vì thế ta có điều kiện quan sát con người trong nhiều bình diện. Vai trò cá nhân nhà văn, cá tính sáng tạo được tôn trọng. Thí dụ, khi nhà văn gửi tác phẩm đến nhà xuất bản thì nhà xuất bản phải trả lời.

Trước kia chúng ta ca ngợi hay phê phán, ngày nay văn học hướng thiện. Không hướng thiện thì không phải là con người. Khi nhân danh lý luận, nhân danh mỹ học của cái khác, thì cái khác đó có hướng thiện hay không? Không hướng thiện thì không còn là văn chương.

Dưới góc nhìn của lý luận phê bình văn học, chúng ta thấy nhiều giá trị đã bị vượt qua. Chẳng hạn, mức độ phê phán, mức độ đấu tranh bảo vệ con người, bây giờ dữ dội vô cùng, không còn chỉ như thời Vua Lốp.

Xin báo cáo với lãnh đạo, công lao lớn nhất của Hội Nhà văn là chủ đề đạo đức xã hội. Đảng ra nghi quyết 33 nhấn mạnh việc xây dựng đạo đức con người. Nhưng cách đây mấy chục năm, văn học đã nhấn mạnh đến đạo đức con người, cái đó là tinh tường lắm!

Tôi xin tiếp ý kiến của GS Nguyễn Đăng Mạnh rằng, văn học của chúng ta không minh họa. Nhà văn nắm bắt được hồn cốt xã hội là đạo đức, là nền tảng của nền tảng, (cái đó) hay vô cùng!

Vấn đề 2: Chúng ta từng bước hiện đại hóa nền văn học.

Văn học hôm nay hiện đại hơn rất nhiều, đó là, khả năng tiếp nhận đời sống ở diện rộng. Thú dụ, chỉ vụ cá chết, hàng trăm bài thơ, bút ký xuất hiện nhanh. Đây là nhiệm vụ của nhà văn. Rất thành công.

Hiện đại là ở chỗ: Xu hướng mở, không áp đặt. Vấn đề dân chủ rất quan trọng. Văn học đổi mới thực sự là một nền văn học dân chủ. Ngay trong hội nghị này, có người nói đi, có người nói lại, dân chủ quá đi chứ! Không có chỗ nào có vách ngăn văn học với đời sống. Cách đây 30 năm, ai dám viết về đồng tính, về thế giới tâm linh. Bây giờ mỗi người có giọng riêng, cách nói riêng. Chúng ta đang thoát khỏi dàn đồng ca. Thí dụ Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện là một, tôi không bỏ qua tác phẩm nào của Nguyễn Ngọc Tư. Nền văn học dân chủ là nền văn học mỗi người có giọng điệu riêng, không phải là một dàn đồng ca.

Văn học không đánh bóng, không mạ kền. Con người hiện ra trần trụi, xù xì như nó có, vì thế văn học thực hơn, gần sự thật hơn.

Đổi mới là nhu cầu nội tại của văn học. Hãy đánh giá nền văn học dưới góc độ Văn hóa học. Không chỉ đánh giá giá trị phản ánh mà phải đặt văn học trên hệ giá trị văn hóa. Nhà văn là đội quân văn hóa. Lực lượng sản xuất những giá trị tinh thần cho xã hội. Đây là đội quân rất đáng quý (dù ăn mặc còn xộc xệch).

Nhiều vấn đề chúng ta đã vượt một chặng đường dài. Tiểu thuyết Dòng sông mía (Đào Thắng) viết sinh động, gai góc, nhưng tâm nhà văn trong sáng. Nguyễn Khắc Phê viết về Cải cách ruộng đất, ông nói muốn “nắn gân Hội Nhà văn”, chúng tôi trao giải. Nếu như sợ sệt, thiếu trách nhiệm thì tác phẩm Biết đâu địa ngục thiên đàng sẽ bị bỏ qua. Viết gai góc, nhưng cái nhìn của nhà văn trong sáng, chúng tôi trao giải. Đó là cái mới. Trước kia không dám trao giải. Sách của Tô Hải Vân đặt vấn đề ngồi nhầm chỗ làm đảo lộn hệ giá trị. Tiểu thuyết Mảnh vỡ (Vĩnh Quyền), Ban chấp hành thảo luận lên thảo luận xuống. Trao giảo là ở cái tâm của nhà văn.”

Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng nhắc tới tác phẩm của các nhà văn: Xuân Đức, Lê Minh Khuê (Chân trời của Hạ), Trầm Hương (Sài gòn đêm không ngủ), Bích Ngân (Thế giới xô lệch), Nguyễn Bình Phương…

“Vấn đề 3: Hội Nhà văn đã khôi phục những giá trị một thời, như phục hồi danh dự nhà văn cho Trần Dần, Hoàng Cầm. Lan Khai, Vũ Trọng Phụng… Có Giáo Sư vi phạm đã không bị tước danh hiệu, không truất giải thưởng Nhà nước.

Vấn đề 4: Đã xuất hiện một lực lượng trẻ.

Vấn đề thứ 5: Lý luận phê bình có những bước tiến mới. Nhiều trào lưu được giới thiệu, cái nhìn cởi mở hơn. Trường hợp GS Hoàng Ngọc Hiến, cuối đời ông nghiên cứu Hồ Chí Minh, tôi kính trọng vô cùng!

Lý luận Phê bình có nhược điểm là tầm bao quát chưa hết, chưa sâu. Lý luận Phê bình phải bao quát được tình hình văn học. Nhà Lý luận Phê bình phải đọc tác phầm.

Vấn đế thứ 6: Một số vấn đề cần trao đổi:

Trong hội nghị này còn có những vấn đề phải trao đổi thêm. Đó là vấn đề phân kỳ văn học đổi mới chưa thống nhất.

Đổi mới văn học là vì sinh mệnh của chính nó. Không phải nó chỉ đổi mới vài năm rồi dừng lại (1986-1991). Trường hợp của Nguyễn Ngọc Tư thế nào? Bảo Ninh bây giờ khác với Bảo Ninh 1991. Nguyễn Quang Thiều đạt giải 1993, trường hợp của Nguyễn Xuân Khánh…

Đổi mới văn học là dòng chảy của nhiều thế hệ, sức lực của cả đội ngũ. Không nên quy kết đổi mới chỉ ở lớp trẻ. Đổi mới nhưng không đoạn tuyệt với quá khứ. Nhà văn phải học lẫn nhau. Không có nhà văn nào trở thành lĩnh xướng mà không hút mật thời đại.

Vấn đề nhân vật trung tâm hay vấn đề trung tâm của văn học, cái nào là chính? Nhân vật nào gánh vác hai nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng tổ quốc thì nhân vật ấy là nhân vật trung tâm. Vấn đề trung tâm mới là vấn đề quan trọng. Văn học phải vì con người, tiếp sức cho con người. Vấn đề trung tâm là: xây dựng cho con người tới đâu?” (Nguồn: bản ghi trực tiếp tại hội nghị của BCT)

Người viết những dòng này xin lưu ý rằng, ngay từ năm 1998, Nghị quyết Trung ương 5 đã mở đường:”Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người. Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính.”. Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị (2008) cũng khẳng định:”Tiếp tục đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của văn học, nghệ thuật về đề tài, nội dung, loại hình, phương pháp sáng tác, sự tìm tòi, thể nghiệm, nâng cao chất lượng toàn diện nền văn học, nghệ thuật nước nhà…”

***

Trở lại dòng “Văn chương Nhân văn và Dân chủ”, phải đến lớp nhà văn trẻ đầu thế kỷ XXI dòng văn học nhân văn-dân chủ mới có những cách tân thực sự. Do không còn vướng mắc về phương pháp sáng tác, họ mạnh dạn thể nghiệm những cách viết hiện đại. Văn chương không đặt ra mục đích phản ánh hiện thực mà miêu tả và suy nghiệm về hiện thực. Văn chương từ phương thức kể chuyện chuyển sang kiểu tác phẩm tư tưởng. Nhà văn rời bỏ cách nhìn theo chủ nghĩa Marx (nhìn hiện thực theo quan điểm đấu tranh giai cấp) chuyển sang khám phá hiện sinh. Có người trở về với tư tưởng phương Đông. Nhà văn vận dụng nhiều kiểu bút pháp, cả siêu thựchiện thực huyền ảo hậu hiện đại. Có thể nói, 10 năm đầu thế kỷ XXI, một lớp nhà văn trẻ đã làm thay đổi hẳn bộ mặt văn chương Việt Nam hiện đại. Do được tiếp cận với văn chương thế giới, họ hơn hẳn thế hệ trước về trình độ. Do không vướng mắc vào quá khứ, họ không phải e dè ngòi bút, và do được “cởi trói” bởi Nghị quyết Trung ương 5 và Nghị quyết 23, họ mạnh dạn thể nghiệm những gì mình tâm đắc.

Xin kể một vài tên tuổi các nhà văn, nhà thơ: Nguyễn Bình Phương (Những đứa trẻ chết già. 1994- Thoạt kỳ thủy. 2004-Ngồi. 2006,…), Đỗ Tiến Thụy (Màu rừng ruộng. 2006), Phong Điệp (Blogger. 2009), Nguyễn Danh Lam (Giữa dòng chảy lạc-Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2010), Nguyễn Ngọc Tư (Khói trời lộng lẫy. 2010), Uông Triều (Sương mù tháng Giêng. 2015)…, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Vĩnh Tài, Văn Cầm Hải, Nguyễn Thúy Hằng,…(22).

 Sau những thành công ban đầu, lớp nhà thơ, nhà văn này đã chững lại, và phía sau họ, lớp nhà văn trẻ từ 2010 đến nay chưa có khả năng vượt lên phía trước, tiếp tục con đường đưa văn chương Việt Nam hội nhập văn chương thế giới.

  1. Văn chương thị trường

                Cho đến nay (2019) sau hơn 30 năm đổi mới và hội nhập, chúng ta đã có thể nhận dạng được nền kinh tế thị trường và những hệ quả của nó với xã hội Việt Nam. Kinh tế thị trường làm thay đổi mọi yếu tố xã hội, từ tư tưởng đến văn hóa, lối sống, các mối quan hệ giữa người với người, đặc biệt là sự suy thoái đạo đức xã hội. Kinh tế phát triển đem đến đời sống ấm no hơn nhưng cũng làm sụp đổ những giá trị văn hóa truyền thống và gây ra bao nhiêu tệ nạn xã hội. Kinh tế thị trường biến mọi thứ thành hàng hóa và vận động theo quy luật của đồng tiền. Ngay cả giáo dục là ngành độc quyền của Nhà nước cũng trở thành thị trường béo bở cho nhiều “nhóm lợi ích” giành giật. Văn học nghệ thuật, tuy chủ trương không thương mại hóa, song những ngành kinh doanh văn nghệ mang đến những món tiền khổng lồ. Năm 2019, mỗi 30 giây quảng cáo trong giờ chiếu phim Về nhà đi con là 120 triệu đồng. Một xuất chiếu trên VTV 1, qủang cáo 10 phút, thu về 2,4 tỷ. Lúc đầu phim dự định có 40 tập sau kéo thành 80 tập.

Sự thất bại của nền giáo dục đã đưa vào đời một lớp người trẻ hoàn toàn khác với lớp trẻ cha anh. Họ không có lý tưởng, chẳng có gốc rễ gì với cách mạng và kháng chiến. Chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, lối sống hưởng thụ và triết lý thực dụng trở thành bản chất xã hội của họ. Họ quay quắt kiếm tiền, rồi đắm mình trong thế giới ảo. Không có tình yêu, chỉ có tình qua đêm. Không còn niềm tin, chỉ có sự trống rỗng. Không có con đường cho tương lai, chỉ có quanh quẩn bế tắc trong cái tôi. Không tìm thấy giá trị thật trong đời sống, chỉ có hàng nhái, hàng giả.

Tối 18/10/2012 tại Hà Nội, trong tọa đàm mang tên “Nhiều cách sống của những tuổi trẻ bất thường” về bộ ba tiểu thuyết “1981″, “Nhiều cách sống” “Mất ký ức“, tác giả Nguyễn Quỳnh Trang thú nhận: “Từ khi sinh ra tôi đã luôn tự hỏi mình là ai, mình từ đâu đến, mình sẽ đi về đâu trong cuộc đời này… Tuổi trẻ của chúng tôi hoang mang, lo lắng quẩn quanh, càng đi sâu vào những thú vui vật chất lại càng thấy rệu rã. Với Mất ký ức tôi muốn đi tìm tôi, để biết cách vượt qua những hoang mang bấn loạn”(23).

              Văn chương thị trường là dòng tác phẩm đáp ứng thị hiếu một lớp độc giả trẻ. Lớp độc giả này chịu ảnh hưởng văn chương thị trường nước ngoài. Họ là “nguồn thu”, là “nạn nhân” của công nghệ PR. Văn chương thị trường chủ yếu là văn chương giải trí và phô diễn cái tôi của thế hệ  “A còng”(@). Các tác giả viết cho đối tượng độc giả phải hiều biết tâm lý và thị hiếu công chúng, phải làm chủ công nghệ PR (văn chương, show diễn, ca nhạc, phim ảnh và mạng xã hội…). Nhiều nhà văn muốn viết văn chương thị trường nhưng không thể, vì họ đã định khuôn trong cách sản xuất tác phẩm của những “trại sáng tác”, được định hướng bởi những nhiệm vụ chính trị và không biết gì về công nghệ PR.

Trong thực tế hôm nay, nhà văn nào khi viết tác phẩm cũng hướng về công chúng thị trường và đối mặt với thách thức. Thí dụ những tập thơ in ra chỉ dành để tặng vì không ai mua. Nhà văn Nguyễn Đình Tú đưa ra nhận xét:

              “Thứ nhất: Không thể phủ nhận được sự tác động của văn học nước ngoài khi vào Việt Nam đã ít nhiều tạo động lực cho những tác phẩm thuộc khuynh hướng này ra đời. Với Hạt cơ bản của Michel Houellebecq, Báu vật của đời của Mạc Ngôn, Cô gái chơi dương cầm của Jelinek, Rừng Na uy, Kapka bên bờ biển của Murakami, Những kẻ thiện tâm của Jonathan Littell, Huynh đệ của Dư Hoa, các tác phẩm của Vệ Tuệ, Thiết Ngưng, Sơn Táp, Xuân Thụ… Thứ hai: Sex từng là vùng cấm kỵ trong văn chương nước ta, vì thế nó luôn tạo sự háo hức cho người đọc và người viết. Chỉ khi nào bạn đọc chán nó thì các tác phẩm viết về nó mới dừng lại… Sự “cởi trói” cho một vùng cấm kỵ cùng với thị hiếu bạn đọc (có vẻ như mong chờ) ít nhiều là nguồn cảm hứng cho các nhà văn cầm bút lên và viết về…sex!…

               … Với sự nở rộ những tác giả tác phẩm thuộc khuynh hướng này trong thời gian gần đây, cho thấy, dòng văn học này sẽ còn tiếp tục phát triển trong thời gian tới.

               Bài viết này không bàn tới cái được và cái chưa được cũng như những ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực của những tác phẩm mang đậm yếu tố sex. Nếu nhìn nó đơn giản chỉ là một khuynh hướng sáng tác thì cũng hãy đơn giản mà nhìn nhận rằng: Cũng giống như nhiều khuynh hướng (hay trào lưu) sáng tác khác, khuynh hướng tính dục cũng sẽ phát triển lên đến cao trào rồi thoái trào.”(24)

 ***

Đã có những “mặt nạ” được dựng lên để che đậy thực chất việc miêu tả sex trần trụi nhằm câu khách, nhằm gây scandal để nổi tiếng của một số người cầm bút. Người ta mượn hơi hướng của văn chương nữ quyền, người ta dùng văn chương để giải phóng người phụ nữ khỏi sự thống trị của nam giới; rằng văn chương không có vùng cấm, rằng văn chương sex đã có trong mọi thời đại, trong mọi nền văn chương của nhân loại…Có thể nhắc đến, Đỗ Hoàng Diệu với Bóng đè; Y Ban với I am đàn bà, Thủy Anna với Điếm trai; Keng với Dị bản; Nguyễn Đình Tú với Nháp,…Đồng thời với đề tài sex là đề tài tình dục đồng tính: tiểu thuyết Một thế giới không có đàn bà của Bùi Anh Tấn,  Song song của Vũ Đình Giang…Nhưng không hẳn chỉ có vậy. Trong một cuộc tập huấn lý luận phê bình văn học nghệ thuật, Giáo sư Mai Quốc Liên cho biết, Bóng đè lúc đầu chỉ là một truyện sex gây sốc bằng sự miêu tả trần trụi bản năng, nhưng khi một nhà văn nước ngoài mông má lại, nó trở thành một mặt nạ để bộc lộ chủ đề chính trị.

Trong bài viết có nhan đề: Văn chương thời nay: Không có sex, không bán được?, tác giả Nhung Đinh, báo Người đưa tin cho biết, theo nhận định của các công ty sách Alpha, Nhã Nam thì: ”…trong khi thị trường văn chương trong nước đang ế ẩm mới thấy rằng “văn học sex” đang trở thành cứu cánh số 1 cho các nhà xuất bản. Chưa cần biết cốt truyện là gì, nhân vật ra sao, ý nghĩa xã hội như thế nào; chỉ cần quảng cáo có “sex” là các đơn vị xuất bản đã có thể yên tâm về số lượng phát hành.”(25)

Khi nhà văn viết sex mà “không bàn đến…những ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực”, và chỉ “nhìn đơn giản” văn chương sex như một trào lưu rồi sẽ qua, tôi e rằng nhà văn đã chỉ viết theo bản năng mà không viết dưới ánh sáng những quan niệm tư tưởng tiến bộ. Trong số những người viết về “sex bẩn”, có người đã nói thẳng ra mục đích cầu danh cầu lợi, không che giấu (26).

Sau trào lưu văn chương sex, văn chương thị trường lại rộ lên những truyện ngôn tình, mà phần lớn chịu ảnh hưởng ngôn tình Trung Quốc. Chuyện tình yêu được xào nấu đủ kiểu và hẳn nhiên không thể thiếu sex. Nhan đề sách đủ gợi ra nội dung những gì tác giả muốn nói. Xin điểm qua nhan đề các tác phẩm ngôn tình trong năm 2014: Trước khi chết phải biết tình yêu là gì; Bùa yêu; Yêu đi thôi, muộn lắm rồi”; Tất cả em cần là tình yêu; Đến lượt em tỏ tình; ai yêu em như anh; Ai cho em nằm trên? Yêu anh bằng tất cả những gì em có; Im lặng để yêu; Yêu trên từng ngón tay; Yêu không hối tiếc; Chỉ là yêu thôi mà, Tin em đi, rồi anh sẽ lại yêu. Ai rồi cũng phải học cách quên đi một người. Anh ngủ thêm đi anh, em phải dậy lấy chng. Người yêu cũ có người yêu mới, Yêu người yêu người ta; Yêu lại nhau, như thể lần đầu; Ngoại tình; Tình yêu là không ai muốn bỏ đi; Trung tâm phục hồi cảm xúc hậu thất tình; Yêu nhau để cưới; Đừng chết vì yêu

Xin lắng nghe tâm trạng của tác giả Anh Khang:

”… không chỉ bạn bè tôi, đầy rẫy ngoài kia vẫn đang có nhiều lắm những cặp tình nhân gạch đầu dòng. Yêu cho qua ngày, cặp kè cho có tụ. Thấy người này hội tụ đủ những điều mình cần cho một mối quan hệ thì… cứ yêu. Rồi nếu thấy một vài người khác nữa cũng có những chỉ tiêu vừa khít với những gạch đầu dòng mình đề ra, thì lại… yêu tiếp. Cứ thế, họ đi yêu những gạch đầu dòng – chứ không phải yêu một tấm lòng…(Buồn làm sao buông).

Xu hướng chung của văn chương thị trường là  giải trí. Xu hướng này đang lấn át trên thị trường và có một lượng fan (người ái mộ) đáng kể. Và trong danh mục sách best-seller năm 2014, những sách đứng đầu top ten lại là văn chương thị trường. Xin đọc những lời quảng cáo này: ”Tác phẩm mới ra mắt đã cháy hàng tại Hội sách tại Tp.HCMinh thời gian qua; sách nằm trong top 12 cuốn sách Việt Nam bán chạy nhất năm; Tập tản văn đầu tay… với lượng tái bản lên tới 20.000 bản, tác giả tiếp tục trình làng tập truyện ngắn thứ hai. Cuốn này khi mới nằm ở dạng bản thảo đã trở thành sách best-seller vì có đơn đặt hàng trước gần chục nghìn bản; tập sách như những cuốn cẩm nang dành cho lứa tuổi ô mai ngốc nghếch; tác giả là một blogger đình đám và được cộng đồng mạng phong danh là “nhà văn hotgirl”. Trước khi tiểu thuyết phát hành, 6 chương đầu được tung lên mạng đã thu hút hơn 2 triệu lượt view chỉ trong vòng 1 tháng.”, Tiến sĩ Quách Thu Nguyệt, nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Trẻ, thành viên sáng lập giải Sách Hay thì chia sẻ riêng với Sài Gòn Tiếp Thị rằng: “Khi người đọc đa số là người trẻ thì có nghĩa là thị trường sẽ rộng hơn, mức chi tiêu cho sách sẽ mạnh hơn. Tôi thấy hiện nay nhiều công ty sách, đặc biệt là phía tư nhân đã bắt mạch tính chất thị trường rất tốt. Họ tìm những tác giả trẻ có tiếng nói trẻ có thể chạm vào cảm xúc, suy nghĩ, tạo ra sự đồng cảm với người đọc trẻ. Nhưng thách thức đặt ra là thị trường sách đang cần tính đa dạng, không nên chỉ tập trung ở mảng sách giải trí thuần túy…”(27)

Có tác giả đã in 7 đầu sách nói rằng:”Văn chương không phải là công việc của tôi. Nó chỉ là sở thích. Có cũng được, không có cũng hơi buồn chán, nhưng mà chẳng sao”. Một tác giả khác đã in 3 đầu sách cũng có cùng một ý:”Tôi không nghĩ nhiều đến chuyện có trở thành một nhà văn thực sự hay không? Chỉ đơn giản là thích viết, luôn viết…”.

Trong cái xô bồ của việc buôn bán chữ, của việc cầu danh cầu lợi, của những toan tính cá nhân, thì dòng văn chương thị trường cũng có những tác giả tài năng. Sách của họ vừa đáp ứng thị trường, vừa có phẩm chất văn chương. Xin đơn cử Nguyễn Nhật Ánh, Dương Thụy, Phan Hồn Nhiên… Sách của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã thành thương hiệu. Sách mới in của ông thường vượt qua con số 10.000 bản. Dương Thụy nổi tiếng với tác phẩm “Oxford thương yêu”  tái bản trong hai năm là 14 lần, với tổng đầu sách là 55.000 bản. Phan Hồn Nhiên chuyên tâm với thể loại sci-fi (Mắt bão, Cảm xúc nguy hiểm, Máu hiếm, Ngựa thép…).

Thực ra không có sự phân định rạch ròi một nhà văn thuộc dòng văn chương thị trường văn chương nhân văn và dân chủ. Nguyễn Ngọc Tư là một thí dụ. Nữ tác giả này có sách best-seller trên thị trường, nhưng cô cũng là nhà văn đụng chạm đến những vấn đề nóng của hiện thực. Cánh đồng bất tận đã đem đến vinh quang cho cô nhưng cũng gây ra không ít khó khăn cho tác giả khi nó mới xuất hiện.

Nhà văn viết tác phẩm muốn được đông đảo độc giả biết đến, họ buộc phải hướng đến thị trường. Nhưng chỉ những nhà văn tài năng, có tâm huyết mới có thể viết được một tác phẩm vừa đáp ứng những đòi hỏi của thị trường vừa có phẩm chất văn chương. Thành công như Nguyễn Nhật Ánh vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Và vì thế, dòng văn chương thị trường, tuy có lúc ồn ào do quảng cáo, nó sẽ qua đi rất mau, hết đợt sóng này đến đợt sóng khác, tùy thuộc vào những cơn sóng thị trường có ảnh hưởng toàn cầu.

Sau cao trào 2014 đến nay, văn chương thị trường trở về sự im ắng. Rất nhiều người viết đã bỏ cuộc chơi. Tài năng vẫn là của hiếm. Những nhà văn “truyền thống” viết cho thị trường đến nay không có mấy người thành công. Tác phẩm văn chương nước ngoài được dịch ra tiếng Việt vẫn đang chiếm lĩnh thị trường sách văn chương.

               Văn chương thị trường tuy đã định hình và có thành tựu, song chưa có đóng góp gì nhiều vào sự phát triển chung của văn chương Việt Nam, có chăng là sự hiện diện của chính nó như một thực tại được công nhận trong thị trường. Nó cũng đặt ra nhiều vấn đề để các nhà quản lý, các nhà giáo dục, các nhà lý luận suy nghĩ. Chẳng hạn, cần phải có những mối quan hệ thế nào giữa giải trí với tư tưởng, lối sống, khi người trẻ tiếp nhận văn chương thị trường? Làm thế nào để cân bằng văn chương thị trường với văn chương cách mạng và kháng chiến, văn chương Nhân văn và Dân Chủ?…

***

(XEM TIẾP PHẦN II: NHỮNG HIỆN TƯỢNG VĂN CHƯƠNG 1975-2020)

( Chú thích nằm ở cuối phần II)

CÔNG TÁC VĂN HỌC 2019-HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

HÔI NGHỊ CÔNG TÁC VĂN HỌC 2019

PHÁT BIỂU CỦA NHÀ THƠ HỮU THỈNH

Chủ tịch Hội Nhà văn Việt nam

Sáng 28/12/2019, tại Viện bảo tàng Văn học Hà Nội

(Time: 01:11:43)

Văn chương 2019

Kính thưa hội nghị,

Trước hết tôi xin thay mặt Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, nhiệt liệt chào mừng các vị khách quý, các anh các chị, các Hội đồng (chuyên mộn) và các Ban văn học, từ mọi miền đật nước về dự Hội nghị công tác văn học 2019 của chúng ta.

CHƯƠNG TRÌNH LÀM VIỆC CỦA HỘI NGHỊ

Chương trình làm việc của chúng ta như Chánh văn phòng vừa nói. Buổi sáng hôm nay, chúng ta sẽ nghe báo cáo và thảo luận tổng kết công tác năm 2019 và phương hướng năm 2020. Buổi chiều, các Ban và các Hội đồng họp rút kinh nghiệm công tác năm 2019 và bàn về phương hướng hoạt động năm 2020 theo hướng dẫn của Ban Chấp hành.

Việc quan trọng nhất đối với các Hội đồng chuyên môn và các Ban Văn học chiều hôm nay là xem xét, thảo luận, bỏ phiếu giới thiệu kết nạp hội viên mới. Nếu các Ban có việc cần bàn thêm thì chúng ta tiến hành cả sáng ngày mai. Về cơ bản, hội nghị kết thúc vào buổi chiều hôm nay.

TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC 2019

Kính thưa các anh các chị,

Năm 2019, đất nước phát triển tương đối tốt. Kinh tế phát triển, an ninh chính trị, đối ngoại nhân dân, quốc phòng được giữ vững. Trong 12 chỉ tiêu của chính phủ Quốc hội đã thông qua đều vượt và đạt. Tăng trưởng kinh các anh chị biết là 6,8% (BCT: Báo đăng: 7,02%). Sự phát triển kinh tế có ảnh hưởng đến tâm lý xã hội đời sống nhân dân và tâm trạng, cảm hứng sáng tạo của nhà văn.

Đối với Hội Nhà văn Việt Nam, cũng như các hội VHNT địa phương, năm nay chúng ta có cuộc vận động lớn, 2 kết luận lớn, đó là Trung ương tổ chức rút kinh nghiệm sơ kết 5 năm nghị quyết 33 của Trung ương khóa 11 “Xây dựng văn hóa Việt Nam, xây dựng con người góp phần phát triển bền vững đất nước”. Đây là họat động tổng kết rất lớn, tiến hành từ trung ương đến các địa phương. Cuộc vận động thứ hai, hoạt động thứ hai là Trung ương tổ chức rút kinh nghiệm 5 năm thực hiện kết luận của Bộ Chính Trị về tổ chức hội. Điều thứ hai có tác động rất lớn đối với giới VHNT của chúng ta là Chỉ thị 31 của Ban Bí thư về “Tổ chức đại hội nhiệm kỳ các hội chuyên ngành VHNT và Liên hiệp Các Hội VHNT Việt Nam” trực tiếp tác động lên giới VHNT của chúng ta, trong đó có Hội Nhà Văn Việt Nam.

Quảng bá-khai mạc 2

(Khai mạc Hội nghị quảng bá văn học 2019)

TẬP TRUNG NHỮNG ĐIỂM CHÍNH

Ban Chấp hành luôn luôn đặt nhiệm vụ đẩy mạnh sáng tác là nhiệm vụ hàng đầu, xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động của Hội chúng ta.

1.Trước hết là mở các trại sáng tác. Năm nay, được sự hỗ trợ của Bộ VH-TT, chúng ta tổ chức 2 trại sáng tác ở Tam Đảo, ở Nha Trang, Phú Quốc, hơn 30 nhà văn đến làm việc. Các trại sáng tác tổ chức ở hai đầu đất nước nên Ban Chấp hành tổ chức đi chéo vùng, tức là các nhà văn phía Bắc thì đi phía Nam, các nhà văn phía Nam thì đi phía Bắc. Như vậy, chúng ta vừa có điều kiện tham dự trại sáng tác, vừa có kết hợp đi thực tế.

Ngoài ra có một cái cải tiến của năm 2019 là Ban Chấp hành tổ chức một trại sáng tác riêng tại tại bảo tàng cho 8 nhà văn đã có dự kiến, dự án, đề cương viết tiểu thuyết dài hạn. Có thể nói đây là một cái cải tiến khác với nhiều năm là chúng ta tập trung về thể loại tiểu thuyết và giúp các anh các chị có đề cương chi tiết đã hoàn thành. Lần đầu tiên chúng ta có một tổ chức như vậy và trại kéo dài đến một tháng trời. Đồng thời với viết, có tổ chức hội thảo tại trại. Các anh các chị kết thúc trại sáng tác đều đã hoàn thành cái đề cương của mình, có bản thảo, những bản thảo rất là công phu.

2.Tổ chức đi thực tế. Chúng ta thấy là, hầu hết các nhà văn của chúng ta đều tập trung ở khu đô thị lớn, khu trung tâm hành chính do đó đi sáng tác, đi thực tế trở thành cái nhiệm vụ thường xuyên của Hội. Nhiệm vụ này  Ban Văn học Chuyên đề được Ban Chấp hành  giao nhiệm vụ tổ chức được 6 chuyến đi thực tế. Chủ yếu năm nay là đi thực tế các vùng chiến sự ở biên giớ phía bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai thu hút cả nhà văn phía Bắc và cả nhà văn phía Nam. Năm nay kỷ niệm 40 năm cuộc chiến tranh biên giới cho nên nhà văn đi thực tế các tỉnh phía Bắc rất nhiều và đi về là có tác phẩm tốt. Ngoài ra chúng ta tổ chức một chuyến đi đồng bằng sông Cửu Long. Chuyến đi này có kết quả. Chúng ta đã tiếp cận một cái vùng sôi động của đất nước, có thể nói là cái vựa thóc của đất nước, nhưng cũng đầy khó khăn. Trước hết là biến đổi khí hậu. Vấn đề biến đổi khí hậu tác động chung cả nước, nhưng  tập trung nhất vể đồng bằng sông Cửu Long. Các nhà văn chúng ta đã có mặt.

3.Vấn đề đầu tư thứ 3 là đẩy mạnh sáng tác để có tác phẩm kết tinh. Ở đây có tác phẩm kết tinh có tính chất tổng kết một đời văn. Năm nay Hội Nhà văn tiếp tục hoạt động của các năm trước là không tập trung không đầu tư dàn trải, nhưng tập trung cho những tác giả đã có đề cương sáng tác cơ bản và có từng trải có ý nghĩa tổng kết. Đấy là một bước chuyển. Như vậy, chúng ta vừa chú ý đội hình chung của cả nước nhưng đồng thời chú ý các tác giả tiêu biểu để chúng ta sớm có những tác phẩm kết tinh một giai đoạn. Công tác này triển khai trong tất cả các hoạt động.

Về đầu tư, có thể nói rằng, chúng ta vẫn giữ chế độ đầu tư thường xuyên của Nhà nước. Hy vọng sử dụng cái đầu tư như thế nào thì có thể báo cáo với các anh chị đầu tư của chúng ta được đúng nghị trình: Có đề cương, có chuẩn bị. Nói chung, tất cả đều có bàn thảo hoàn thành được (cái) chương trình của mình, có lượng tiểu thuyết, các công trình lý luận phê bình khá cao, công phu. Ngoài các tổ chức đầu tư trực tiếp cho các nhà văn, thì Hội chúng ta, có lẽ là một Hội duy nhất đưa được nhiều nhà văn lên Liên hiệp (các Hội VHNT Việt Nam) hỗ trợ. Các Hội khác, kinh phí họ ít hơn ta nhưng mà cũng rất ít văn nghệ sĩ được đưa lên Liên hiệp. Hội Nhà văn Việt Nam có thuận lợi là tôi cũng làm việc ở đây nhiều cho nên chúng ta đã gưi gần 100 nhà văn lên Liên hiệp để đầu tư. Như thế, cái vốn hỗ trợ của ta vừa ở Hội, vừa xin giúp đỡ của Hiệp hội.

Lượng sách xuất bản của chúng ta năm nay giữ được cái mức như năm ngoái. Công bố tác phẩm, riêng ở Nhà xuất bản Hội Nhà văn  là 1650 cuốn. Các anh hãy tưởng tượng, một nhà xuất bản của chúng ta thôi mà đã hơn 1650 cuốn thì phải nói là số lượng lớn. Còn các nhà xuất bản khác, địa phương và trung ương. Như vậy, đánh giá được cái nhịp độ sáng tác, tốc độ sáng tác, khối lượng sáng tác của chúng ta là rất dồi dào. Vấn đề đặt ra trong các tác phẩm ấy như thế nào, dòng chảy chung cùa văn học chúng ta như thế nào thì có thể nói một cách tóm tắt như thế này: văn học của chúng ta tiếp tục cái dòng chảy xuyên suốt đó là chủ nghĩa yêu nước, dân tộc, nhân văn, dân chủ, tích cực hội nhập. Trong đó rất đáng mừng là chúng ta có rất nhiều tiểu thuyết đi về đề tài lịch sử, đi về đề tài chiến tranh và tập trung đi vào các vấn đề đạo đức xã hội đang rất gay gắt đặt ra. Nhiều nhà văn rất dũng cảm đi vào vấn đề trung tâm của đời sống ngày nay. Đó là vấn đề xây dựng và kiến tạo con người, xây dựng và kiến tạo đạo đức xã hội, trong đó có rất nhiều cái xung đột. Đó là những trận địa, nhiều tác phẩm đã đi vào cái này. Không phải những nhà văn chuyên nghiệp, hội viên đâu mà các khu vực, các địa phương cũng đi vào vấn đề này, nhiều tác giả khai thác.

Tiếp tục cái việc thúc đẩy văn học, ở các Hội đồng, theo sự chỉ đạo của Hội Nhà văn Việt Nam. Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm sau khi kết thúc cuộc thi thơ thì các anh đã tiếp tục cuộc thi truyện ngắn. Tôi đọc các truyện ngắn của Nhà văn và tác phẩm, có nhiều truyện ngắn rất hứa hẹn. Cuộc thi còn đang tiếp tục nhưng mà tôi đã thấy những tác phẩm rất khá. Tôi làm thơ nhưng rất thích đọc truyện ngắn, đọc văn xuôi. Tôi thấy cuộc thi đang có nhiều hứa hẹn. Cuộc thi thứ hai cũng đầy hy vọng, đó là cuộc thi thơ của báo Văn nghệ mới phát động cách đây được hai, ba tháng thôi, thì nó cũng chưa báo hiệu cái gì là hứa hẹn lắm đâu, nhưng có cái mới là nhiều tên tuổi, cây bút mới tham gia.

Về giải thưởng, cũng là một biện pháp để thúc đẩy sáng tác, nhiệm vụ trung tâm của chúng ta, thì hiện nay chúng tôi đang tập trung xét giải thưởng của tiểu thuyết 5 năm của chúng ta. Năm nay, về số lượng, có lẽ là một trong những cuộc thi có số lượng nhiều nhất là 176 tác phẩm. Trong đó có những tác phẩm 5 tập hơn 2500 trang, 4 tập, 3 tập, 2 tập. Như vậy là có rất nhiều tác phẩm có quy mô lớn, do đó cho nên chúng tôi phải tổ chức một cái thời gian và ban giám khảo làm việc bước sơ khảo đang làm việc rất tích cực. Chúng ta phải làm một cách rất là nghiêm túc, đúng luật, đúng quy chế. Không để sót tài năng, do đó chúng tôi muốn trao giải thưởng và kết thúc cuộc thi tiểu thuyết này vào giữa quý I năm 2020. Mới đọc thôi, chưa kết thúc vòng 1, chúng tôi thấy là năm nay có tác phẩm hay để trao.

Giải thưởng hàng năm, các Hội đồng kết thúc bước sơ khảo, và trong tuần tới Ban Chấp hành sẽ chung khảo và quyết định trao giải thưởng cho những tác phẩm đã được các hội đồng đưa lên. Tôi thấy năm nay tình hình tốt hơn năm ngoái, có nghĩa là lĩnh vực nào, thể loại nào cũng có tác phẩm được trao giải thưởng. Các Hội đồng (chuyên môn) làm việc rất tích cực, chọn lọc rất là khắt khe, mà tôi thấy là những chọn lọc như vậy nó phản ánh được cách làm việc của các Hội đồng, trách nhiệm của các Hội đồng và đánh giá đúng chất lượng đời sống văn học của chúng ta.

Đấy là về sáng tác, có mấy họat động như vậy.

Về lý luận phê bình, năm nay Hội đồng LLPB cùng với sự chỉ đạo của Hội Nhà văn Việt Nam, chúng ta tổ chức rất nhiều cuộc hội thảo. Không đi vào vấn đề chung. Nhiều cuộc hội thảo đã đánh giá tình hình chung rồi. Đầu năm, trong “Ngày thơ Việt Nam” có hội thảo vấn đề tiểu thuyết. BCH luôn có ý thức rằng coi trọng tiểu thuyết như đó là một thể loại bản lề, một thể loại nòng cốt của văn học, nên chúng ta tổ chức một cuộc hội thảo về tiểu thuyết chung. Sau đó rất nhiều cuộc hội thảo về từng tác giả nhân kỷ niệm 100 năm, như Hội thảo về Ngô Tất Tố, cuộc hội thảo về Nguyễn Bính, cuộc Hội thảo về nhà thơ Huy Cận, về nhà văn Bùi Hiển và cuộc kỷ niệm 50 năm, nhưng thực chất là cuộc hội thảo về Dương Thị Xuân Quý, cuộc ra mắt sách của nhà thơ Thanh Tùng cũng mang dáng vóc của một cuộc hội thảo khoa học và có chất lượng tốt. Đấy là cái hoạt động rất là sôi nổi của Hội đồng LLPB.

Ngoài ra, chúng ta hết sức chú ý đến trang LLPB trên tạp chí và các báo. Ở đây có 3 cơ quan, mỗi cơ quan đều hoạt động tốt. Tạp chí Nhà văn & Tác phẩm, báo Văn nghệ, tạp chí Hồn Việt, tạp chí Thơ chúng ta đều chú ý quan tâm đến mảng LLPB trên các cơ quan này.

Về công tác xây dựng Hội, năm nay chúng ta tiến hành một bước sắp xếp, quy hoạch tinh giản bộ máy. Thật ra bộ máy của chúng ta cũng không phải quá cồng kềnh vì biên chế của Hội xưa nay cũng chỉ có hơn 30 người thôi, bao gồm cả Hội Nhà văn, các cơ quan Hội Nhà văn, văn phòng HNV và Bảo tàng này. Chúng ta chỉ có 33 người thôi. Biên chế này là xít xao. Nếu bây giờ biên chế như vậy thì là quy hoạch, sắp xếp lại cho hợp lý hơn. Bộ phận nào mà hoạt động êm, hiệu quả thì chúng ta để lại, còn bộ phận nào hoạt động ít hiệu quả thì chúng ta tổ chức sắp xếp bố trí lại cán bộ, nhân sự để hoạt động tốt hơn. Đương nhiên, sắp xếp lại bộ máy thì ở cơ quan nào cũng khó khăn đó là nó đụng chạm đến con người cụ thể, làm thế nào sắp xếp được nhưng mà vui vẻ, đầm ấm, cái ấy mới là khó. Làm được cái việc này, chúng ta vừa thực hiện được nghị quyết của trên, cơ quan của chúng ta vẫn sắp xếp được. Đấy là cái điều đáng mừng.

Ngoài ra thì phải nói rằng một công tác xây dựng Hội đầu năm nay và nhiều năm là thực hiện chính sách đối với các nhà văn, là thăm hỏ, đau ốm, tang lễ các nhà văn qua đời v.v.thì có thể nói mảng này chúng ta làm rất tốt. Tôi ở Liên hiệp, tôi theo dõi có lẽ Hội Nhà văn Việt Nam là một trong cái Hội thực hiện rất tốt cái công tác hội viên, nhất là chăm sóc khi ốm đau, khi tang lễ, kể cả nhà văn và kể cả gia đình. Có nhà văn ở rất xa, anh em văn phòng cũng đến viếng, thăm hỏi, làm rất tận tình. Công việc này rất thầm lặng, nhưng nó thể hiện cái tình nghĩa của những người đồng nghiệp đối với nhau, gắn bó Hội với hội viên và hội viên đối với Hội.

          Về giao lưu văn học, đối với nước ngoài và quảng bá văn học Việt Nam. Năm 2019 là một năm hoạt động sôi nổi vào loại nhất trong nhiều năm, rất có ấn tượng, rất có hiệu quả. Chúng ta tổ chức Hội nghị quảng bá văn học lần thứ 4 và Liên hoan thơ quốc tế lần thứ 3, lần này số lượng là cao nhất. 51 quốc gia tham gia, gần 200 nhà văn. Trước kia chỉ có châu lục là Á, Phi, châu Âu. Năm nay có châu Mỹ La Tinh. Cùng một lúc tổ chức trên một quy mô rất rộng, rất lớn: Hà Nội-Quảng Ninh-Bắc Giang. Cùng một lúc, chúng ta vừa thảo luận, hội thảo về những vấn đề mà các bạn quan tâm với văn học Việt Nam, vừa tổ chức cho các nhà thơ đi giao lưu văn hóa: Đọc thơ với Đại học Sư Phạm, Đại học Văn hóa. Diện hoạt động rất rộng. Nhiều sự kiện, nhiều cuộc tiếp xúc cùng một lúc đón tiếp một khối lượng rất lớn các bạn bè quốc tế. Chúng ta có cải tiến. Thứ nhất: Mọi lần đến quảng bá văn học Việt Nam, chúng ta đều tặng các bạn sách tiếng Việt thôi. Lần này, chúng tôi, trong thời gian rất ngắn chỉ có 2 tháng chuẩn bị. Sự kiện lớn này phải xin phép Ban Bí thư. Trong khoảng thời gian 2 tháng, chúng ta đã dịch 3 tác phẩm: (một là) Khái quát 10 thế kỷ văn học Việt Nam. (2 là) Tuyển tập truyện ngắn và (3 là) tuyển tập thơ bằng tiếng Anh. Các đại biểu ra về đều có sản phẩm dịch văn học Việt Nam bằng tiếng Anh rồi. Cái cải tiến rất lớn. Ngay sau khi kết thúc Hội nghị, thì nhiều nước, bằng tác phẩm của chúng ta, đã dịch ngay ra cái tiếng của họ. Hàn quốc, Đài Loan, Ý, Hunggary đều giới thiệu tập thơ của Việt Nam. Đặc biệt là một số giáo sư, một số nhà văn ở Thái Lan, Indonesia, Philippines v.v, bằng cái tài liệu của chúng ta, họ đưa luôn vào giáo trình giảng dạy văn học của nước họ về lịch sử 10 thế kỷ phát triển văn học ở Việt Nam. Cái hiệu quả của năm nay là rất tốt. Sắp tới chúng ta duy trì cái hiệu quả này, cho nên cái nhịp độ chưa bao giờ chúng ta đón các khách nước ngoài và tham gia các sự kiện văn hóa, tham gia các sự kiện vào quốc tế được như năm nay. Có thể nói tháng nào cũng có đoàn ra, tháng nảo cũng có đoàn vào. Nhiều đoàn ngoài dự kiến. Nhiều người ta nghe thấy vậy, các đại biểu đi dự hội nghị về quảng bá cho nên người ta đến ngoài dự kiến. Cho nên liên tục phải báo cáo cấp trên để đón tiếp. Chúng ta mở rộng được cái đội hình tiếp xúc hội nhập tốt như thế.

Một trong những nhiệm vụ quảng bá nữa là, chúng ta cử các nhà văn đi tham gia sự kiện quốc tế. Năm nay Trung Quốc có 2 hội nghị. Một cái hội nghị thứ nhất, họ tổ chức rất lớn tại Bắc Kinh. Thực chất của cuộc hội thảo này là họ triển khai chiến lược “vành đai và con đường”. Chúng ta đã cử đại diện, đồng chí Nguyễn Trí Huân Phó chủ tịch sang dự. Một hội nghị thứ hai là cuộc đối thoại văn học giữa Trung Quốc và khối sông Mê Kông, tổ chức tại Côn Minh. Chúng ta cũng cử nhà văn Tô Nhuận Vĩ tham gia. Ờ Trung Quốc chúng ta cử hai đoàn. Có một (cái) đoàn ở một nước rất xa, rất khó đi lại, đó là Kazakhstan. Kazakhstan năm nay họ tổ chức một (cái) hội nghị gọi là “Những người được giải thưởng cao nhất của các quốc gia”, ngòai những người đã được giới thiệu giải thưởng Nobel, ứng cử giải thưởng Nobel. Họ làm rất lớn. Họ muốn kéo trung tâm về phía Trung Á. Chúng ta cũng đã cử nhà văn tham gia. Chúng ta đã cử các nhà văn, lâu lắm rồi, cũng không phải lâu lắm, nhưng đến cái vùng rất ít chúng ta có điều kiện tham dự , đó là Pakistan. Anh Bùi Việt Thắng đã tham dự hội nghị này. Cái hội nghị này bây giớ nó không còn là tổ chức văn học Á Phi nữa, mà là văn học Á-Phi và Mỹ La tinh. Họ rất là cảm động phía Việt Nam đã tham gia hội nghị này. Sắp tới (thì) nhiều nước biết đến (cái) “Ngày Thơ Việt Nam”. Họ đăng ký vào (cái) “Ngày Thơ Việt Nam” rất đông. Tất nhiên là khả năng đón của chúng ta rất có hạn. Cái ấy sang năm 2020 để tôi báo cáo sau.

Các cơ quan của Hội hoạt động trên 3 phương diện: một là đẩy mạnh sáng tác, hai là xây dựng Hội, ba là quảng bá văn học Việt Nam. Việc nào văn phòng cũng phải làm việc. Văn phòng cùa chúng ta không đông đâu. Việc nào, người nào làm việc cũng rất tích cực, bô phận nào cũng hoàn thành nhiệm vụ âm thầm. Ngoài ra, chúng tôi xác định văn phòng là cái bộ mặt của Ban Chấp hành, đón tiếp các nhà văn, làm việc với các nhà văn niềm nở đúng mực, trân trọng, tình cảm đầm ấm. Văn phòng đã hoàn thành rất là xuất sắc.

Các Hội đồng của chúng ta đều có nhiều cải tiến. Cải tiến là chúng ta thay thế cái nhiệm kỳ của Hội đồng 5 năm bằng cái nhiệm kỳ 2 năm. Tinh thần của cái thay đổi này là muốn cho hội đồng năng động thêm. Không nên có một cái hội đồng ngồi cả 5 năm, sau khi bàn bạc, nó có một cái lối mòn nào đó chăng do đó cho nên chúng tôi quyết định là hội đồng là 2 năm. Tổ chức 2 năm có cái hay của nó là việc đổi mới nhân sự ở các Hội đồng. Vậy cái khả năng tiếp nhận nhiều kênh, nhiều phong cách sáng tạo của văn nghệ sĩ tốt hơn. Tuy vậy, 2 năm cũng có cái mặt khó khăn của nó. Khó khăn vì có 2 năm thôi, làm thế nào để có thể bao quát được cả nước, bao quát được tình hình văn học ở các khu vực mà mỗi hội viên ở Hội đồng thì ở một chỗ địa phương thôi, làm thế nào để có một Hội đồng quan sát được, nắm được cái tình hình chung, thì đấy là một vấn đề đòi hỏi phải cung cấp thông tin, cả về con người và tác phẩm. Hội đồng chúng ta mới thay đổi, ê kíp mới năm nay là năm vào đầu tiên. Tuy mới thành lập nhưng các anh các chị thích nghi, tiếp cận công việc rất nhanh, làm việc rất là tốt.

Về các cơ quan báo chí của hội,

Trước hết là báo Văn Nghệ. Tình hình là, báo Văn nghệ hiện nay là có khó khăn. Báo viết nói chung là khó khăn. Hoạt động của Ban Chấp hành năm nay tiến hành quy hoạch lại đội hình báo chí của Hội theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Mô hình báo chí của chúng ta bây giờ là như thế này. Một Hội là có cái nhà xuất bản. Chúng ta có rồi. Có một tạp chí, đó là tạp chí Nhà văn và Tác phẩm, chỉ có một cơ quan báo chí thôi. Tôi chọn cơ quan báo chí của chúng ta là báo Văn Nghệ, vì truyền thống là hơn 70 năm rồi. Tờ báo chính của chúng ta là tờ báo Văn Nghệ. 2 ấn phẩm kèm theo là tạp chí Thơ và tạp chí Hồn Việt. Trước kia, tạp chí Thơ và tạp chí Hồn Việt hoạt động như một tạp chí riêng, nhưng bây giờ nó trở thành ấn phẩm của báo Văn Nghệ, theo quyết định của trên như vậy. chúng ta duy trì 2 tạp chí này nhưng với tư cách nó là ấn phẩm của báo Văn Nghệ. Thế thì cái cách làm việc khi mà ghép vào đội hình như vậy như thế nào? Hôm nay trên hội nghị này chúng tôi cũng nói thêm là khi chúng ta đã đưa các tạp chí về ấn phẩm của báo Văn Nghệ, thì Ban Chấp hành sẽ thành lập một cái Hội đồng Biên tập. Hội đồng Biên tập phân công các thành viên của Hội đồng, người thì làm Tổng biên tập, người thì làm tạp chí Thơ, người thì làm tạp chí Hồn Việt. Chủ tịch chỉ đạo chung của cơ quan chủ quản đảm nhiệm công việc chủ tịch Hội đồng Biên tập. Cái này chúng ta kiên quyết làm trong tháng 12 cho nó xong. Như vậy có thay đổi gì không? (thì) thưa các anh các chị (là) không có gì thay đổi cả. Mà cũng thưa nói thật với các anh chị là, phải làm việc rất kỹ với lãnh đạo Bộ Thông tin-Truyền thông. Các cơ quan khác (thì) đội hình thu hẹp lại chỉ có mỗi tạp chí nghề nghiệp thôi. Chúng tôi trình bày với các đồng chí lãnh đạo, cơ quan của Hội Văn nghệ ở Hội Nhà văn Việt Nam chỉ có chữ thôi. Công bố tác phẩm của mình bằng báo và nhà xuất bản. Nếu bây giờ co hẹp, không có tạp chí Thơ nữa, không có tạp chí Hồn Việt, việc công bố tác phẩm của chúng ta sẽ rất khó khăn. Do đó cho nên là, trên suy tính nhiều lần chấp nhận để chúng ta tồn tại tạp chí Hồn Việt và tạp chí Thơ dưới cái dạng đó là ấn phẩm của báo Văn Nghệ.

Báo Văn Nghệ cũng có những lúc rất khó khăn, khó khăn lắm, nhất là vào cuối mùa hè đầu mùa thu năm vừa qua. Khó khăn nhất của báo Văn Nghệ về 2 phương diện: Một là tài chính, hai là nhân sự. Đội ngũ biên tập còn rất mỏng. Do đó cho nên Ban chấp hành phải tập trung chỉ đạo giúp báo Văn Nghệ khắc phục khó khăn. Thành lập một Ban chỉ đạo. Thực chất của Ban Chỉ đạo là tăng cường đội quân biên tập cho báo Văn Nghệ. Cho nên từ cái lúc cuối mùa hè thì cái tirage (lượng phát hành) xuống cái mức thấp nhất. Sau khi có cái Ban chỉ đạo 28 rồi, sắp xếp lại các chương mục, người phụ trách phân công đi vào những vấn đề cụ thể nên báo Văn nghệ lấy lại được cái đà của nó. Tirage tăng lên. Cái sự hỗ trợ báo Văn nghệ của Ban Chấp hành là như vậy.

Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm, sau khi kết thúc cuộc thi thơ năm ngoái, năm nay các anh tổ chức cuộc thi tryện ngắn. Tôi hy vọng sẽ phát hiện nhiều cây bút mới và nhiều tác phẩm hay. Về trình bày, tổ chức đã có tiến bộ hơn so với nhiều năm trước.

Tạp chí Thơ cũng có nhiều cải tiến. Nó giữ được cái mực thước, cái đẳng cấp của một tờ tạp chí. Công bằng mà nói rằng, thơ ở trên tạp chí Thơ có chất lượng hơn so với thơ ở trên các báo, phải nói thật như vậy, vì các anh có điều kiện, thời gian, để chọn bài kỹ lưỡng hơn vì 2 tháng mới có một tờ tạp chí. Mà chúng tôi cũng muốn có một tờ tạp chí nó có đẳng cấp như vậy. Người rất ít. Không ai là người trong biên chế cả, không có biên chế nào, chỉ có ba, bốn người thôi. Đứng đầu là anh Ngô Thế Oanh làm việc rất tốt.

Về Trung tâm Quốc học và tạp chí Hồn Việt, phải nói rằng, nhiều lần, nếu  chúng ta có một (cái) cuộc triển lãm, sách và những công trình nghiên cứu của Trung tâm Quốc học thì chúng ta sẽ vô cùng ngạc nhiên  là với một số người rất ít, hình như chỉ có mình Giáo sư Mai Quốc Liên, nhưng bằng nhiều hình thức, anh đã liên kết với các chuyên gia hàng đầu cả trong nước và nước ngoài, thì cái khối lượng sau 10 năm, 20 năm trở về Hội Nhà văn, lượng sách nghiên cứu đồ sộ, phải nói như vậy. Đặc biệt là sách về vốn văn hóa cổ của Việt Nam. Tạp chí Hồn Việt cũng ra đều có số rất hấp dẫn, nó mang tính báo chí, đặc biệt là những trang tư liệu. Tạp chí Hồn Việt và Trung tâm Quốc học rất cố gắng.

Về Bảo tàng Văn học Việt Nam, chỗ chúng ta đang ngồi đây, năm vừa qua đã có những cái cải tiến là đã xây quần thể tượng (như các anh các chị đã biết). Bao nhiêu năm chuẩn bị, chúng ta mới tranh thủ một cái dự án bước một đã hoàn thành. Đó là dựng tượng danh nhân văn học 10 thế kỷ. 20 vị. Hai mươi vị này ai xứng đáng dựng tượng. Thưa các anh các chị, chúng tôi phải đón các chuyên gia văn học hàng đầu, các vị giáo sư hàng đầu, làm việc rất cản thận nhiều năm chuẩn bị rồi mới chốt được 20 vị. Từ đó mới triển khai, bây giờ làm thế nào để dựng tượng được? Lúc đầu chính phủ duyệt cho phương án dựng tượng bán thân thôi. Nhưng mà nếu dựng tượng 20 vị toàn tượng bán thân, thì giống nhau lắm và trông nó rất buồn tẻ. Cho nên chúng tôi mạnh dạn báo cáo Thủ tướng xin phép dựng tượng toàn thân. Dựng tượng toàn thân tức là khối lượng tăng gấp đôi, thậm chí hơn gấp đôi về lượng đồng, về công, về đủ mọi thứ, nhưng mà Chính phủ không cho thêm một đồng vốn nào. Dựng tượng bán thân từng ấy tiền, bây giờ anh toàn thân cũng chỉ có từng ấy vốn thôi. Không tăng thêm, không đội vốn gì hết. Anh em phải tiến hành xã hội hóa và chúng ta có 10 tượng thế này. Bộ Văn hóa Thể thao-Du lịch đã đi nghiệm thu nhiều vườn tượng và được đánh giá là vườn tượng danh nhân ở Bảo tàng Văn học Việt Nam là một trong những vườn tượng đẹp nhất trong nước của chúng ta. Đấy là giai đoạn 1. Còn giai đoạn 2 là dựng tượng tiếp các danh nhân văn hóa thế kỷ thứ XX. Đây cũng là vấn đề rất cần thiết để tôn vinh giá trị của quá khứ, anh em đang tiếp tục.

Về Trung tâm Bồi dưỡng Viết văn Nguyễn Du của anh Phan Trọng Thưởng, anh Phan Trọng Thưởng vừa là Phó chủ tịch thường trực của Hội đồng LLPB VHNT Trung ương, vừa là Chủ tịch Hội đồng LLPB của ta, vừa là Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng Viết văn Nguyễn Du của ta. Trung tâm đã mở đến khóa thứ 13, mùa hè vừa rồi, lên đến 170 người dự lớp. Lãnh đạo (cái) khóa từ nam chí bắc người ta cất công đi học rất là tốt. Phải thấy là Trung tâm hoạt động có kết quả cho nên (cái) người đăng ký tham dự ngày càng đông. Năm nay có chất lượng giảng dạy tốt hơn. Chọn được những người đến giảng bài, đặc biệt là cái khâu trả bài học viên nó cụ thể hơn dưới sự hướng dẫn của các thầy giáo.

Về Hãng phim của Nhà Văn Việt Nam, sau nhiều năm làm dự án, báo cáo với cấp trên, hãng phim đã hoàn thành bộ phim dài nhiều tập về Bác, về các đồng chì lãnh dạo tiền bối của Đảng với một cái tên chung là Ý chí độc lập, dài 19 tập. Mới quay xong, đang thời gian hậu kỳ tiếp tục sửa chữa.

Các Ban, các Hội đồng, như tôi đã nói, các Hội đồng hoạt động rất tốt. Tuy chúng ta có đổi mới nhân sự nhưng các anh các chị tiếp cận công việc sớm và hoạt động có hiệu quả, thực sự là cánh tay nối dài của Ban Chấp hành, giúp đỡ Ban Chấp hành triển khai công việc, phải nói rằng Ban Văn học Chuyên đề (Ông Mậu) tổ chức đi thực tế, hội thảo, thì Ban Văn học Chuyên đề làm rất nhiều việc. Ban Nhà văn nữ có rất nhiều sáng kiến. Có lẽ trong các Ban, chỉ Ban Nhà văn nữ hoạt động sôi nổi. Hai ngày: ngày 08/3 và ngày 26/10 năm nào cũng có hoạt động. Các chị hội thảo ở Hà Nội. Nhưng mà 2 năm nay cả hai đầu Nam-Bắc đều có hoạt động rất tốt. Ở phía Namj hoạt động cũng sôi nổi, cũng tốt, có hiệu quả. Ở miền Bắc cũng như vậy. Ban Nhà văn nữ hoạt động rất tốt, rất cám ơn. Ban Văn học Công nhân, sau khi đại hội chi hội xong thì chúng tôi đã làm việc và đã triển khai cuộc hội thảo về văn học công nhân trong giai đoạn mới, và tiến tới giải thưởng văn học công nhân với sự phối hợp của Hội Nhà văn và Tổng Công đoàn.

Cần phải nói đến một (cái) hoạt động hàng năm rất là hay, đó là Câu lạc bộ Văn chương do nhà thơ Vũ Quần Phương làm Chủ tịch. Anh Vũ Quần Phương làm rất dân chủ . Thật ra Câu lạc bộ này là chỉ định thôi, nhân sự là chỉ định, chứ không phải bầu. Nhưng anh Vũ Quần Phương là muốn đổi mới. Cho nên tại hội trường anh tổ chức đại hội, rồi bầu Chủ nhiệm, bầu các Phó chủ nhiệm, như là Đại hội Nhà văn. Anh làm rất là tốt, anh em rất vui. Người ta cảm thấy đến Hội Nhà văn không phải chỉ là mời khách mà họ tham gia vào đội hình của chúng ta. Có rất nhiều hoạt động, tháng nào cũng có hoạt động. Câu lạc bộ thơ của nhà thơ Vũ Quần Phương thực sự là một nhịp cầu nối giữa Hội Nhà văn Việt Nam với công chúng văn học thủ đô. Tôi nói thủ đô thôi, vì các nơi khác việc đi lại có khó khăn.

Về tham gia vào các họat động của Hội, (về nội bộ) tôi cũng xin nói để chia sẻ. Có những cuộc kỷ niệm  các nhà văn lớn tuổi, giấy mời rất là đông, nhưng mà hội viên đến rất ít. Nếu mà không có Câu lạc bộ của anh Vũ Quần phương thì rất trống vắng. (Cho nên là,) Câu lạc bộ hoạt động có hiệu quả. Không chỉ tham gia vào Ngày Thơ Việt Nam đâu, mà là một Câu lạc bộ thường xuyên do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Có chuyên môn, đi vào những vấn đề nghề nghiệp.

Các tổ chức khác như Ban Nhà văn trẻ do anh Nguyễn Bình Phương phụ trách, có sự kết hợp giữa Văn nghệ Quân đội và Hội Nhà văn Việt Nam, tổ chức trại sáng tác ở phía nam, phát hiện lực lượng viết trẻ của toàn quân và của cả nước nữa. Năm nay các anh ấy rất cố gắng. các anh tham gia tổ chức sân thơ trẻ có nhiều sáng tạo. Ban chấp hành đặt vấn đề là để cho Ban Nhà văn trẻ thí nghiệm giới thiệu các cây bút trẻ, chúng ta mở thêm một cái kênh nữa là Ban Nhà văn trẻ được phép giới thiệu các cây bút mới để kết nạp hội viên. Đương nhiên là những cây bút mới ấy phải được có ý kiến của các Hội đồng. Nhà thơ trẻ, nhà văn trẻ được giới thiệu các Hội đồng phải có ý kiến, không phải Ban Nhà văn trẻ đưa thẳng lên Ban Chấp hành.

Các Ban tài chính hội viên làm việc rất âm thầm. Ban sáng tác làm việc rất âm thầm, thực sự đã hoàn thành nhiệm vụ là một trung tâm tác nghiệp của Hội Nhà Văn Việt Nam. Ban Công tác Hội viên, Ban sáng tác , Ban tài chính hoạt động, các anh các chị có thể tưởng tượng, có ngày có người 12 giờ đêm còn đến Hội để còn làm nốt công việc. Có người âm thầm 12 giờ đêm mới rời nhiệm sở. (thì cái) Hoạt động của các Ban rất tốt.

Đặc biệt là Ban đối ngoại, năm nay có đổi mới nhân sự. Ban Đối ngoại năm 2019 (là) đáng khen. Bởi vì cái tốc độ đón, đưa đoàn đi rất bận rộn, nhưng mà hoạt động rất là tốt , rất có hiệu quả và được các bạn đánh giá rất thiện cảm đối với công tác đối ngoại của chúng ta, được Ban Đối ngoại Trung ương tặng bằng khen.

Ở trên tôi nói đến những ưu điểm của hoạt động sáng tác, bây giờ tôi nói hai cái hạn chế, cũng là hai cái khó khăn.

NHỮNG HẠN CHẾ

            Cái hạn chế thứ nhất, chúng ta phải công bằng mà nói rằng số lượng tác phẩm của chúng ta ngày càng nhiều, số lượng hàng năm tăng. Nguyên một nhà xuất bản đã 1650 đầu sách, chưa kể các nhà xuất bản khác. Nếu chúng ta thống kê, sắp tới chúng ta thống kê 5 năm, thì phải nói số lượng sách khổng lồ. Thế nhưng mà chất lượng không tương xứng hay là chưa tương xứng với số lượng. Đáng lẽ trên một khối lượng sách lớn như vậy, thì thế nào cũng phải có nhiều sách hay. Nhưng mà sách năm nay, các anh các chị có ở đây, là cuốn tiểu thuyết hay nhất thì người ta lại đầu tư gửi vào cuộc thi tiểu thuyết, do đó đến xét giải thưởng hàng năm nó lại mỏng đi, ít đi. Năm nay Hội đồng văn xuôi làm việc rất là nghiêm túc cố gắng, nhưng mà chọn được có một cuốn sách vào chung khảo ở văn xuôi. Cái tầm bao quát của Hội đồng tuy rất là tốt, nhưng cũng đánh giá là số lượng thì rất đông, số lượng rất lớn, nhưng mà những cuốn sách thực sự có dư luận thì chưa tương xứng.

Cái ý thứ hai tôi muốn nói, cái khó khăn của chúng ta là đầu sách thì nhiều nhưng mà số lượng in thì ít. Bây giờ cuốn tiểu thuyết nào in 1000 cuốn đã là nhiều. Thơ thì tôi chưa thấy ái nói, ít người in đến 1000 tập thơ. 500 cuốn là nhiều. và một điều là, tất cả chúng ta ở đây đều phải suy nghĩ, thực sự đáng suy nghĩ là sách của chúng ta lưu hành chủ yếu trong những người sáng tác. Thơ in là tặng nhau là chính. Lưu hành ra thị trường thì hạn chế . Có nhiều nguyên nhân. Thị trường sách của chúng ta là nó có rào. Đây là một (cái) thực tế mà chúng ta cần phải suy nghĩ. Vì sao vậy? Đối với thị trường (thì) tôi thấy là nhiều năm nay chúng ta đã đưa ra, đã thảo luận, nhưng mà thị trướng nó có (cái) quy luật của thị trường. Chúng ta phải theo thôi. Chúng ta không thương mại hóa, nhưng chúng ta cũng không thể coi nhẹ cái quy luật của thị trường là, cái nào hay, cái nào có tiếng thì người ta đọc. Thí dụ, tôi thấy có một cuốn tiểu thuyết 2 tập của Trần Thùy Mai, Từ Dụ Thái hậu. Thì chỉ ra tháng trước, tháng sau là người ta phải tái bản rồi. Tìm mua tặng bạn bè không có. Có những cuốn sách lại ăn khách như thế, một cuốn sách nghiêm túc, cuốn sách viết về lịch sử rất hay, theo tôi. Bán được, mà 2 tập.

Nhưng mà nói chung, những cuốn sách như vậy không nhiều. Đấy là một vấn đề tôi xin nêu để các anh các chị cùng suy nghĩ. Có 2 cái ý mà chúng tôi muốn nói như vậy.

Về cải tiến, tôi nói một ý thôi là, làm thế nào Hội Nhà văn của chúng ta có tầm bao quát toàn diện hơn nữa. Chúng ta nắm được tình hình văn học, nắm được lực lượng, nắm được xu hướng, khuynh hướng. Không để sót một tài năng nào, dù họ mới tham gia vào đời sống văn học. Cái tầm bao quát ấy trông vào đâu? Trông vào các chi Hội, trông vào các Hội đồng, xin nói thật với các anh các chị, các Ban như vậy.

Tôi muốn nói một cái Ban mà chúng ta mới khôi phục, nhưng mà hoạt động nó tốt, đó là Ban Văn học Thiếu nhi. Văn học thiếu nhi vận động năm ngoái năm kia đấy, chúng ta đã làm một việc là truy tầm giải thưởng sự nghiệp cho nhà văn Vũ Hùng. Đây là cái cải tiến, và cũng do đề xuất của Ban Văn học Thiếu nhi , chúng ta đã khôi phục lại danh hiệu cho nhà văn Vũ Hùng, anh có công trình 22 đầu sách do nhà xuất bản Kim Đồng, anh rất xứng đáng. Nhưng mà cái kết nạp hội viên đối với các hội viên mảng văn học thiếu nhi còn ít quá. Đó có phải là tầm bao quát của chúng ta còn thiếu sót hay không? Trong hội nghị hôm nay chúng tôi đề nghị Ban Văn học Thiếu nhi sinh hoạt riêng. Chiều hôm nay, các anh giới thiệu kết nạp, vì tôi thấy có rất nhiều người 10 đầu sách 12 đầu sách, 20 đầu sách không có kết nạp gì cả. Tôi thấy rất thiệt thòi. Cái mảng văn học thiếu nhi chúng ta đã xác định là mảng văn học rất quan trọng đối với việc kiến tạo đạo đức cho con người. Tôi đề nghị hôm nay là 4 Hội đồng chiều hôm nay họp kết nạp, Ban Văn học Thiếu nhi, Ban Nhà văn trẻ họp và giới thiệu để kết nạp đợt này. Tôi xin có một kinh nghiệm như vậy.

Hai cái khó khăn và một cái cải tiến.

PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ NĂM 2020

            Chúng ta tiếp tực thực hiện nghị quyết Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 9 tức là: “Tất cả cho hội viên”. Khẩu hiệu “Tất cả cho hội viên” là phương châm hành động của Đại Hội nhà văn lần thứ 9. Năm nay là năm cuối nhiệm kỳ, sang năm 2020, chúng ta phải cải tiến hơn nữa. Mọi hoạt động của chúng ta đến tay hội viên, nhằm vào hội viên, “tất cả vì hội viên”. Cả văn phòng, tất cả các cơ quan, đều thực hiện như vậy; từ cơ chế chính sách, từ mọi điều kiện để đẩy mạnh sáng tác, bởi vì sáng tác là từ từng hội viên. Chúng ta có Chi Hội, có Liên Chi, nhưng mà người tác nghiệp chủ yếu đó là từng nhà văn một. Liên Chi với Chi Hội chỉ là cầu nối giữa Ban Chấp hành với hội viên thôi. Chúng ta phải coi trọng từng hội viên một. Tôi thấy đây là một phương châm tác nghiệp của chúng ta. Năm 2020, chúng ta tiếp tục phương châm ”Tất cả vì hội viên”.

Triển khai một số hoạt động sau đây:

Chúng ta vẫn phải mở 2 trại sáng tác, chúng ta vẫn xét giải thưởng và kết nạp hội viên như mọi năm. Nhưng ngoài ra có một số việc khác. Chúng tôi xin nêu trọng tâm như sau:

          Tổ chức Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 18. Năm nay ít nhất có 10 đoàn nước ngoài xin đăng ký dự Ngày Thơ Việt Nam , trong đó riêng Hàn Quốc đã có 2  đoàn. Chúng ta phải tố chức hình ảnh Ngày Thơ Việt Nam , là truyền thống thơ ca của chúng ta giới thiệu với nước ngòai. Cách tổ chức như thế nào, anh em chúng tôi đã bàn. Trước hết chúng ta sẽ tổ chức tập trung mọi cố gắng của Hội để tổ chức Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 18 thành công tốt đẹp trên một quy mô và không gian rộng: Từ Hà Nội đến Thừa Thiên-Huế, đến Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An. Chúng tôi muốn tạo một cái không gian như vậy để các nhà văn quốc tế tham dự cùng với chúng ta, có một dịp để tìm hiểu đất nước, con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam.

Việc thứ 2, ngay trong quý 1 như tôi vừa nói (54:48) là tổng kết trao giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết. Chúng tôi đang chủ trì ban sơ khảo đọc thật kỹ. Tất cả mọi tác phẩm đến đều có người đọc, đều có giám định, đều có đánh giá. Chính vì thế cho nên, các anh tưởng tượng, hội đồng có từ 9 đến 11 người, mỗi người đều phải biết đến 176 tác phẩm, thì công tác đọc, tổ chức đọc như thế nào. Thưa các anh các chị, thù lao của chúng ta rất ít. Các anh Hội đồng cũng thế thôi. Làm việc vì trách nhiệm xây dựng Hội, còn sự đãi ngộ thì không có bao nhiêu. Dù khó khăn mấy, chúng ta cũng phải trao giải thưởng vào mùa xuân năm 2020. Tôi đánh giá rằng cuộc thi này có khởi sắc.

Việc thứ ba, năm nay chúng ta phải xét rất nhiều giải thưởng. Giải thưởng thứ nhất: là giải thưởng hàng năm của chúng ta, giải thưởng tiểu thuyết là đương nhiên rồi. Nhưng chúng ta phải xét giải thưởng Asean năm 2020. Việc xét giải thưởng rất khó khăn, ai cũng mong đợi, đó là Giải thưởng Nhà nướcGiải thưởng Hồ Chí Minh. Năm nay các hội đồng cơ sở Quốc hội đã phải làm rồi. Ban Giám khảo tổ chức như thế nào, thông báo đến hội viên như thế nào. Các Hội đồng cơ sở năm nay phải xong để sang năm tổ chức sự việc. Như vậy năm nay chúng ta phải tham gia cả giải thưởng quốc tế khu vực và xét giải thưởng này. Công tác quan trọng nhất đó là Ban giám khảo. Chọn người có đủ năng lực, có đủ trình độ, có đủ sự công bằng để đánh giá, cân nhắc chọn chính xác những tác phẩm. Bởi vì, tác phẩm là sản phẩm của nhà văn, nhưng giải thưởng lại là sản phẩm của Ban giám khảo. Một Ban giám khảo này, làm việc tốt như thế này thì có thể có sản phẩm như thế này. Một Ban giám khảo khác có một sản phẩm khác. Chúng ta chỉ có một Ban giám khảo duy nhất của Hội Nhà văn, thế thì ai vào Giám khảo? cái sự cầm cân nảy mực nó như thế nào để thực hiện được sự công bằng, chính xác, đấy là một (cái) điều khó khăn.  Ban Chấp hành sẽ cùng làm, và rất mong các anh các chị được mời tham gia thì cố gắng giúp Ban Chấp hành để làm cái trọng trách và sự gửi gắm của hội viên đối với Hội. Không có gì mong mỏi một nhà văn trông đợi Hội đấy là sự đánh giá tác phẩm của mình như thế nào. Tâm trạng chung là như vậy. Thế thì, tôn trọng hội viên, tất cả vì hội viên, chính là cái Ban giám khảo ấy đáp ứng sự đóng góp của từng người một. Trọng trách là như vậy.

Chúng ta có mấy (cái) cuộc kỷ niệm cũng lớn: Kỷ niệm 100 năm Tố Hữu, 100 năm Chế Lan Viên, 100 năm Nguyễn Xuân Sanh và một số nhà văn khác. Chúng ta cũng xuất bản hai cuốn: Một là cuốn Biên niên sử (Hội Nhà Văn). Biên niên sử thì cơ bản đã hoàn thành. Cuốn thứ 2 là “Các Nhà văn hội viên Hội Nhà văn Việt Nam”. Quyển sách rất dày, phải gần 1500 trang. Đây là một (cái) công trình tập thể, để chúng ta đến Đại hội nhà văn, chúng ta tặng cuốn sách này. Chúng ta hãy hình dung ra 70 năm Hội Nhà văn Việt Nam, đấy là tập sách lớn, cố gắng hoàn thành cái cuốn chính sử của Hội Nhà văn Việt Nam. Các Hội khác, 50 năm, 60 năm người ta có lịch sử phát triển Hội: Lịch sử phát triển mỹ thuật, lịch sử phát triển Âm nhạc Việt Nam, vì sao như vậy? Là vì người ta ít vấn đề, ít có vấn đề gai góc khó khăn như là Hội Nhà văn. Viết một cuốn sử Hội Nhà văn Việt Nam khó lắm các anh chị, khó vô cùng. Khó ở chỗ này: có nhiều sự kiện diễn ra trong quá khứ bây giờ nhìn lại như thế nào với tinh thần đổi mới, đánh giá như thế nào. Đấy là điều khó. Một tổ chức như chúng ta không thể không có một cuốn sử. Mà cuốn sử ấy chúng ta có quá nhiều các sự kiện phải được nhìn lại, phải được đánh giá một cách công bằng, chính xác, khoa học. Đấy là một cuốn sách cũng rất là công phu.

Việc lớn, việc rất lớn của năm nay là tổ chức Đại hội Hội Nhà văn lần thứ 10. Trung ương, Ban Bí thư đã có chỉ thị 31 về “Tổ chức đại hội các Hội VHNT chuyên ngành trung ương và Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam”. Chúng ta có 2 hội đã hoàn thành đó là Hội Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam và Hội Mỹ thuật Việt Nam. Cố gắng từ giờ đến tết có từ 1 đến 2 đại hội khác là Hội Sân khấu Việt Nam và Hội Nhiếp ảnh Việt Nam. Còn 6 hội khác thì sang năm 2020, trong đó có Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 10.

Phương hướng tổ chức đại hội như thế này là, Đảng đoàn sẽ họp vào tuần tới, Ban Chấp hành sẽ họp và quán triệt đầy đủ Chỉ thị 31của Ban Bí thư về tổ chức đại hội các Hội chuyên ngành và Liên hiệp, quán triệt (cái) “hướng dẫn” của Ban Tuyên giáo Trung ương, quán triệt (cái chỉ) thị, (cái) kết luận của Ban Bí thư. Ba cái văn bản đó ta phải làm. Xây dựng một cái lộ trình chi tiết để tiến tới Đại hội Nhà văn lần thứ 10.

Tinh thần là như thế này là, Đại hội Nhà văn Việt Nam nhiệm kỳ có 2 cấp. Cấp thứ nhất là cấp cơ sở, để thống nhất trong đội hình của cả nước là Đại hội cơ sởĐại hội đại biểu toàn quốc. Chúng ta đã có con số hơn 1000 hội viên thì không thể tiến hành đại hội toàn thể. Chúng ta phải chấp hành cái chỉ thị chung thôi. Đại hội cơ sở sẽ được tiến hành cho đến hết quý 2. Chúng ta có 8 khu vực và khu vực Liên chi, ta tổ chức Đại hội khu vực.

Đại hội khu vực làm mấy cái nhiệm vụ sau đây:

  1. Thảo luận các văn kiện, báo cáo trình Đại hội lần thứ 10 do Ban tổ chức gửi xuống

thảo luận. Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ, Phương hướng phát triển văn học nhiệm kỳ mới, Báo cáo của Ban Chấp hành, Báo cáo của Ban Kiểm tra, Báo cáo  về mọi hoạt động lớn trong Hội.

  1. Cử đại biểu đi dự đại hội cấp trên.
  2. Kiện toàn Chi hội. Nhiệm kỳ Chi hội cùng nhiệm kỳ với Ban Chấp hành, bầu Chi

hội nhân sự mới.

  1. Góp ý kiến, bỏ phiếu giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành mới.

Đại hội cơ sở chúng ta làm 4 nhiệm vụ như vậy.

Còn Đại hội toàn quốc thì chỉ có dộ 500 đại biểu thôi. Nếu năm nay mà chúng ta kết nạp thêm nữa thì số lượng hội viên của hội ta xấp xỉ 1100 hội viên. Năm 2019 chúng ta mất 30 nhà văn. Năm nay kết nạp nhiều nhất cũng chỉ trên/ dưới 40. Kết nạp nhiều quá thì e có ảnh hưởng đến chất lượng. Như vậy, cộng với số còn lại, chúng ta có khoảng một nghìn mốt. Một nghìn mốt mà đại biểu là 500 thì tương đương 2 chọn 1. Xấp xỉ 2 chọn 1. Thế thì ai đi? Cái đó chúng tôi có tiêu chuẩn, có hướng dẫn đến các Đại hội cơ sở.

Thời gian, dự kiến như thế này: cuối tháng 9 đầu tháng 10  cho nó mát mẻ một chút. Tháng 7 tháng 8 nóng lắm. Mà các nhà văn đang ngồi thế này ra ngoài sốc cái nguy hiểm lắm. Cuối mùa thu anh em chúng ta gặp nhau. Ban Chấp hành trong tuần tới chúng tôi sẽ họp  để thông qua rất nhiều công việc, trong đó có việc tổ chức Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 10.

 

***

Sau đây xin các anh các chị cho ý kiến đánh giá về hoạt động của Hội năm 2019, năm 2020.

 

***

Về buổi chiều, kết nạp. Trong kết nạp hội viên, có tiêu chuẩn rồi. Phân công: đồng chí Thỉnh sẽ họp với Hội đồng văn xuôi. Đồng chí Trần Đăng Khoa sẽ họp với Hội đồng Thơ. Đồng chí Nguyễn Trí Huân sẽ họp với Hội đồng Lý luận phê bình. Đồng chí Nguyễn Quang Thiều sẽ họp với Hội đồng văn học dịch. Nhà văn Nguyễn Bình phương chủ trì cuộc họp với Ban Nhà văn trẻ. Anh Trần Văn Tuấn họp với các nhà văn nữ vì số nhà văn nữ rất đông.

Tôi nhắc lại nội dung là, rút kinh nghiệm năm 2019, phương hướng năm 2020, sau đó mới bầu kết nạp bằng bỏ phiếu kín. Ban Chấp hành đã cử các tổ thư ký xuống giúp việc các anh các chị rồi.

Trong kết nạp, tôi muốn xin ý kiến các anh các chị về một số trường hợp mà gọi là “truy nạp”, hay là phong tặng danh hiệu. Về Hội đồng Thơ, chúng tôi có đề nghị xem xét 02 trường hợp:

  1. Ông Trần Quang Long, hy sinh trong chống Mỹ, một nhà thơ rất nổi tiếng trong chiến tranh
  2. Ông Phan Duy Nhân, anh Phan Duy Nhân là một cán bộ địch vận, hết sức năng

nổ, một trí thức tiêu biểu của phong trào yêu nước ở Huề và Đà Nẵng, đặc biệt là ở Đà Nẵng. Cách đây 5 năm, trước khi anh mất, tôi có trị trì một cuộc hội thảo về thơ Phan Duy Nhân. Thơ đầy tâm huyết. Một cán bộ dân vận, trí thức vận Thành ủy Đà Nẵng, đồng thời là một nhà thơ. Ảnh hưởng của Phan Duy Nhân đối với trí thức rất lớn trong những năm chống Mỹ. Hội đồng xem xét hai trường hợp truy tặng danh hiệu Nhà văn Việt Nam với anh Trần Quang Long và anh Phan Duy Nhân. Xin ý kiến hội đồng.

Về trường hợp văn xuôi, tôi muốn nêu một trường hợp đề nghị các anh cũng xem xét cho. Đó là trường hợp anh Đặng Quang Tình. Đặng Quang Tình có đến 40 đầu sách, được giải nhất các cuộc thi của báo Văn nghệ, nhiều năm công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam, và vừa rồi, trước khi mất, anh có một quyển sách rất hay về một kíp tình báo hoạt động trên 3 nước ở Việt Nam, Lào, Cambuchia rất hay. Chúng tôi phân vân vì chưa có một (cái) chỉ thị kỷ niệm 40 năm chiến thắng biên giới, cho nên cái tác phẩm của anh Đặng Quang Tình nó đụng đến cái vấn đề tế nhị, đành phải để lại chiếu cố đến tình hình đối ngoại cách đây ba, bốn năm. Lúc bấy giờ có ý mở ra rồi. Cho nên tôi đề nghị Hội đồng văn xuôi suy nghĩ và truy tặng danh hiệu Nhà văn cho anh Đặng Quang Tình. Có tình có nghĩa. Anh ấy mất rồi, nhưng mà gia đình chắc sẽ cảm động cám ơn Hội Nhà văn, cám ơn chúng ta ở đây nếu nhận được quyết định truy nạp danh hiệu hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đối với anh Đặng Quang Tình. Chúng ta đã từng làm cái việc đó rồi với nhiều nhà văn. Thí dụ, đó là nhà băn Vũ Bằng . Chúng ta đã tuy tặng danh hiệu nhà văn Vũ Bằng. Sau chúng ta còn truy tặng Giải thưởng Nhà nước.

Mấy trường hợp nêu vừa qua về kết nạp xin các anh các chị ủng hộ cái sáng kiến của Ban Chấp hành. Chúng ta, nhân danh một tổ chức nghề nghiệp rất hiểu người hiểu đời và đầy tình nghĩa. Nếu các anh, các Hội đồng chấp nhận cho thì chúng tôi rất là cám ơn.

***

Xin thay mặt Ban Chấp hành trình bày báo cáo tổng kết năm 2019 và phương hướng hoạy động của năm 2020. Sau đây, xin hội nghị, các anh chị cho ý kiến bổ sung. Rất cám ơn.

 

Bùi Công Thuấn

Ghi theo nguồn: Live Stream trên FB của nhà thơ Nguyễn Hữu Nhân (Đồng Tháp)

https://www.facebook.com/huunhan.nguyen.169?__tn__=%2CdlC-R-R&eid=ARCZ3_5FGHo0PtilIWv1txE7ypJZqgviNeLcIrrPnJKX55PMRLosRFp8kokHfIBuk_5z-7r2XdMypi3T&hc_ref=ARRRcWVNFQ3CdEE4E49YoLu-GEMhvJG9qWnPWl7rc40nKKBt7ujrIs6y1oWrjLz7Rk0

Quần thể tượng

Tượng tổng hợp-1

Tượng tổng hợp-2

tượng-quần thể

VĂN CHƯƠNG 2019-PHẢI KIÊN NHẪN CHỜ…

 

VĂN CHƯƠNG 2019

PHẢI KIÊN NHẪN CHỜ…

Bùi Công Thuấn

 

Vc 2019 2

 

 

Tôi viết những dòng này, như một chén trà, trò chuyện với bạn văn những ngày cuối năm. Ước mong được chia sẻ đôi điều trước thềm năm mới 2020. Dẫu biết rằng với góc nhìn hẹp của cá nhân người viết thì mọi nhận thức là rất chủ quan. Tôi lại nghĩ, biết đâu trong một giọt nước có thể chứa cả đại dương. Năm 2018: “Văn chương 2018-Lặng lẽ ươm mầm”(1). Năm 2019, các hạt mầm vẫn chưa vươn dậy. Nhưng tôi vẫn nhìn thấy tiềm lực của văn chương rất dồi dào. Hy vọng sẽ nở rộ những mùa vàng như thời “đổi mới” (1986-1996) và thời văn chương trẻ đầu thế kỷ XXI (1996-2005).

THƠ 2019

             Các trang web, các tạp chí, và các tuần báo của các Hội Văn học Nghệ thuật địa phương giới thiệu rất nhiều thơ. Đa phần là thơ phong trào để phục vụ nhiệm vụ chính trị. Tôi chọn thơ nghệ thuật được giới thiệu thơ trên vanvn.net để định vị thơ 2019. Bởi đây là trang của Hội Nhà văn Việt Nam (thơ đã được chọn kỹ). Hai nhà thơ Nguyễn Việt Chiến và Mai Nam Thắng là những người thẩm định thơ có uy tín. Tôi cũng chọn thơ ở một vài trang khác để có cái nhìn bao quát hơn.

Đa số các tác giả thơ được giới thiệu đều có bút lực dồi dào. Thơ nói những điều tâm huyết. Đó là trường ca “Những đám mây ký ức” viết về đất nước Chùa Tháp của Lê Mạnh Tuấn; Tập thơ “Xanh mãi”  của Nguyễn Hồng Vinh, hồi ức thời sơ tán chống Mỹ,…Tập thơ “Ký ức Hà Nội” của nhà thơ Lê Huy Quang; tập thơ “ Một mai gió chở tôi về” của nhà thơ Hoàng Vũ Thuật, tập thơ Biên bản thặng dư của Phùng Hiệu, trường ca Phồn Sinh của Nguyễn Linh Khiếu. Riêng trường ca này được nhà phê bình Văn Giá đánh giá cao.

Xin đọc một đoạn ngắn:

chỉ nghe con đực khấp khởi gọi con cái

chỉ nghe con cái khấp khởi gọi con đực

 

chỉ có con đực hân hoan gọi con cái

chỉ nghe con cái hân hoan gọi con đực

 

chỉ nghe con đực hổn hển gọi con cái

chỉ nghe con cái hổn hển gọi con đực

 

chỉ nghe con đực ời ợi gọi con cái

chỉ nghe con cái ời ợi gọi con được

 

chỉ nghe con đực nỉ non gọi con cái

chỉ nghe con cái nỉ non gọi con đực

 

chỉ nghe con đực rền rĩ gọi con cái

chỉ nghe con cái rền rĩ gọi con đực

 

chỉ nghe con đực réo rắt gọi con cái

chỉ nghe con cái réo rắt gọi con đực

 

chỉ nghe con đực thống thiết gọi con cái

chỉ nghe con cái thống thiết gọi con đực

 

chỉ nghe con đực gào thét gọi con cái

chỉ nghe con cái gào thét gọi con đực

 

chỉ nghe con đực tuyệt vọng gọi con cái

chỉ nghe con cái tuyệt vọng gọi con đực…”

Đọan thơ thể hiện cách viết chủ đạo trong trường ca Phồn Sinh: có chữ mà không có tư tưởng. Kỹ thuật lấn át nghệ thuật. Chỉ có một kiểu tu từ trùng điệp đơn điệu, thấp thoáng cách chơi chữ như Bùi Giáng trong kiểu thơ văn xuôi trước 1975. Cảm hứng chính là tụng ca cảm tính và chủ quan. Quan hệ “Con đực- con cái” được “khám phá” như thế này: “truyền giống là hành vi bất tử/ truyền giống là hành vi vĩnh hằng/ truyền giống là hành vi của mọi hành vi/  trên thế giới này không có hành vi nào vĩ đại bằng hành vi truyền giống…” Đó là những câu văn nghị luận, không phải thơ. “Khám phá” ấy không đem đến bất cứ ý tưởng mới nào. Bởi vì Phồn thực là bản năng của mọi sinh vật có từ khai thiên lập địa. Ở Việt Nam, văn hóa phồn thực đã có trên trống đồng. Người Chămpa thờ Linga – Yony là hiện thân của thần Siva, thần của sinh sôi, phát triển. Người Nhật có lễ hội Dương vật thép ở Kawasaki, người Việt có lễ hội ”Linh tinh tình phộc” ở Phú Thọ: trong đêm hội, người ta làm nghi thức giao hoan dương vật và âm vật để cầu cho cuộc sống sung túc. Các nhà thơ trẻ đầu thế kỷ XXI cũng đã viết lại đề tài này cùng với văn chương sex tràn lan những năm trước đây. Nghĩa là, vấn đề Phồn sinh đã rất xưa cũ… Dù sao, Phồn Sinh chỉ là một tác phẩm đơn lẻ, chưa thấy âm vang.

Mặt bằng chung của thơ hiện nay đã được nâng lên đáng kể. Hầu hết thơ đăng báo đều “đọc được”, nghĩa là có ý, có tình, có tứ, và nghệ thuật nằm trong “thơ truyền thống”. Người làm thơ có “tay nghề” điêu luyện. Nhưng nếu nhìn ở góc độ khám phá sáng tạo cái mới, cái độc đáo thì thơ 2019 khá cũ. Cũ về ý, tứ, về lời. Cũ về cách thể hiện.

Người trẻ làm thơ thì bắt chước một cách vụng về “thơ trẻ” đầu thế kỷ XXI, viết những câu thơ liệt kê ý tưởng, trộn lẫn những từ không cùng trường nghĩa và dùng nhiều ẩn dụ, khiến cho thơ vừa rời rạc, vừa ngô nghê, chỉ có vỏ chữ, không nội dung. Đó là một thứ hàng giả, hàng nhái.

“Cuồn cuộn đổ về

máu đại ngàn tức tưởi

xác nguyên sinh nghẹn lối chúng sinh

những cái chết qua mặt thám tử

 

cuồn cuộn đổ về

gã khổng lồ phùng mang trợn mắt

những đôi môi thao thác tổ chim

những bọt bèo sinh linh ngơ ngác

không vuốt mặt

cái chết ruột thắt chiêm tinh…”

                  (Lũ-Đỗ Thành Đông

Cả bài thơ chỉ diễn tả một ý này là: Lũ-cuồn cuộn đổ về, gieo kinh hoàng chết chóc, nhưng ngưởi làm thơ nói mãi không ra thơ. Chỉ có vỏ chữ. Không có bóng dáng hiện thực, chỉ có hình ảnh so sánh. Những từ ngoài trường nghĩa, không diễn tả điều gì. Thơ thành ra sáo rỗng. Có thể viết thành văn xuôi như thế này: Lũ-“Cuồn cuộn đổ về/ (như/ là) máu đại ngàn tức tưởi/ (lũ kéo theo) xác nguyên sinh (làm )nghẹn lối chúng sinh/ (gây ra) những cái chết  (không rõ nguyên do) qua mặt thám tử. Lũ-  cuồn cuộn đổ về/ (như) gã khổng lồ phùng mang trợn mắt/ (làm cho) chim trong tổ thao thác đôi môi/ (làm cho) những sinh linh như bọt bèo ngơ ngác/ cái chết đến nhanh không kịp vuốt mặt làm ruột đau thắt. (“ruột thắt chiêm tinh” là tử vô nghĩa). Khi thơ xa rời đời sống của nhân dân, nó trở nên “sinh linh bọt bèo” như vậy.

Người làm thơ nhiều năm, đã quen một cách viết, thì viết theo quán tính “ăn mày quá khứ”. Họ khai thác cái nghèo, cái lam lũ của ngày xưa; khai thác những ký ức chiến tranh, và đưa cả những cái lặt vặt vào thơ. Người làm thơ dường như không khám phá được gì từ đời sống hiện nay. Lưu ý rằng, thơ chống Pháp, chống Mỹ đã khai thác cạn kiệt những gì đã khai thác được và đã đạt những đỉnh cao. Người làm thơ hôm nay nếu lặp lại, sẽ không sánh được.

  À ơi… cánh đồng quê tôi

Thánh thót mồ hôi trưa – mẹ

Bầm dập bước chân đêm – cha

Rạ rơm đan mùa xào xạc

                           (thơ Trần Thị Ngọc Mai)

Kiếp nghèo vẫn chẳng buông tha

Đến khi ra bãi tha ma vẫn nghèo

                         (Lê Văn Vỵ Kính viếng hương hồn thầy Đỗ Niệm)

Chân đạp đá, đi tìm hạt thóc

hạt thóc mong manh nặng hơn hạt ngô

                                      (thơ Vũ Từ Trang)

Cha ơi !

Con châm đóm rồi

Con mời cha hút

Mong cha đừng quá say

Điếu thuốc lào đầu tiên  trong ngày

Cha thả khói con cay cay mắt   (Tô Thị Vân-Buổi sớm)

Chuyện con châm đóm cho cha hút thuốc lào, rồi cha phà khói vào mặt con làm con cay mắt cũng thành thơ, tôi không biết phải bình thế nào? Đất nước đang có bao nhiêu vấn đề nóng bỏng liên quan đến sự tồn vong của cả dân tộc; đất nước cũng đang mở ra bao triển vọng lớn lao hết sức tốt đẹp về tương lai, không biết người làm thơ có suy nghĩ gì về những điều ấy khi viết về việc “con châm đóm cho cha hút thuốc lào”?

Mừng rằng Vanvn.net cũng giới thiệu được những khuôn mặt thơ đã ánh lên chút khí sắc riêng và tôi hy vọng họ có thể tỏa sáng: Nguyễn Tuấn, Nguyễn Hồng Công, Khương Hà (tập thơ Những rời và rạc); Đỗ Anh Vũ…

Tôi đặc biệt chú ý thơ Lữ Thị Mai, thơ Nguyễn Bình Phương (nhà văn). Họ thể hiện phẩm chất thi sĩ mà những người làm thơ phong trào không có được. Họ có những tứ thơ mới, giàu cảm xúc và lắng sâu tư tưởng. Họ tiếp tục được dòng “thơ trẻ” đầu thế kỷ XXI, dù thơ họ vẫn nằm trong trường thơ “truyền thống”, nói cách khác, họ đang làm mới “thơ truyền thống”. Xin đọc

Hồng xiêm chín hình như là tháng một

nếu không hái quả rụng xuống tháng hai

chẳng ai biết bao lâu thì chạm đất

 

Có người tựa vào gốc cây đường mật

nhờ ngọn chuyển lời xin lỗi tới mùa đông

vì đã hẹn mà chưa lạnh được

 

Có người nhờ rễ nhắn theo mạch nước

những nẻo tối tăm kia sẽ rực sáng có ngày

hãy kiên nhẫn giữ lòng trong trẻo

 

Có người tin trong quả nâu nhạt treo

giấu hoan lạc của lời giã biệt

như chân lí rối bời giấu bên làn mưa bạc

làm ngẩn ngơ những vết da khô

 

Này, ngọn gió sau lưng, ngươi có nhớ

hồng xiêm chín hình như là tháng một

nếu không hái quả rụng mãi tới ai?

                  (Hồng Xiêm rụng chín-Nguyễn Bình Phương)

Ngày 13/12/2019 tại Hà Nội, nhà thơ-nhà viết kịch Nguyễn Thế Kỷ 89 tuổi, ra mắt trường ca  “Một người – thơ – tên gọi” dài hơn 12.000 câu lục bát, viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tác giả viết trong 10 năm. Tôi chưa được đọc trường ca này nên chưa thể nói điều gì, nhưng ghi nhận đó là một sự kiện Thơ năm 2019.

vc 2019 3

VĂN 2019

            Năm 2019, số lượng tác phẩm văn xuôi được in khá nhiều. Không kể sách được đặt hàng, được tài trợ, còn lại, các tác giả in sách đều phải dụng công PR cho cuốn sách mới của mình. Có những cách làm linh hoạt:  giới thiệu trên Facebook, tổ chức tọa đàm, tổ chức buổi ra mắt và phát hành, tặng sách… Thời kinh tế thị trường, muốn hay không, người viết cũng phải hướng đến công chúng thị trường. Tuy vậy, những cuốn sách gây được sự chú ý trên văn đàn thì không nhiều.

Kỷ niệm 40 năm chiến tranh biên giới có các tác phẩm: Mùa xa nhà của Nguyễn Thành Nhân, Mùa chinh chiến ấy, Mùa linh cảm và 100 ngày trước tuổi 20 của Đoàn Tuấn, Rừng khộp mùa thay lá của Nguyễn Vũ Điền, Những mùa xuân con không về (nhiều tác giả). Có ý kiến nhận xét rằng, đó là những ký ức chân thực của người lính đã trải qua cuộc chiến. Các tác phẩm cũng là kho tư liệu quý về chiến tranh biên giới.

Đề tài chiến tranh cách mạng tiếp tục được khai thác: Lính Hà của Nguyễn Ngọc Tiến, Mùa chinh chiến ấy của Đoàn Tuấn, Cánh cung đỏ của nhà văn Hà Lâm Kỳ…

Đề tài lịch sử có tiểu thuyết Từ Dụ Thái hậu của Trần Thùy Mai kể về 3 đời vua Minh Mạng, Thiệu trị, Tự Đức với chất giọng Huế. Nhà văn Văn Chinh đánh giá cao tác phẩm này; cuốn Đường về Thăng Long của Nguyễn Thế Quang, viết về đại tướng Võ Nguyên Giáp. Thú thực là tôi hơi nghi ngại về loại tiểu thuyết này, bởi cũng chỉ là một dạng khác của văn chương “ăn mày quá khứ”. Muốn hiểu lịch sử, tôi đọc chính sử (Đại việt sử ký toàn thư, chẳng hạn). Những chuyện nhà văn hư cấu (bịa đặt) là không thể tin được! Và cách viết mượn chuyện xưa để nói chuyện nay là cách của văn chương cổ, không phải văn chương hiện đại. Tại sao nhà văn không viết về những chuyện “thâm cung bí sử” hiện nay? Những ý kiến ồn ào về tiểu thuyết lịch sử Hội Thề của Nguyễn Quang Thân ngày nào (2011), chính là ở những chỗ nhà văn bịa đặt sai với chính sử nhằm thực hiện ý tưởng riêng của mình.[2]

Tiểu thuyết Kiến, Chuột và Ruồi của Nguyễn Quang Lập viết về Cải cách ruộng đất, được in ở Mỹ. Phạm Ngọc Tiến tụng ca lên mây xanh. Có rất ít phản hồi của bạn đọc. Có lẽ đến nay, đề tài này cũng đã là quá vãng.

Có một hiện tượng cũng đáng được lưu ý là các cuốn sách do tác giả ngoài nước viết. Cuốn Phố Nhà thờ” do Marko Nikolic (người Serbia) viết bằng tiếng Việt, kể cuộc sống người nước ngoài ở Hà Nội, lồng ghép chuyện tình yêu; và .”Kẻ ly hương” do Viet Thanh Nguyen – nhà văn gốc Việt từng đoạt giải Pulitzer 2016 – chủ biên, tập hợp 17 bài tiểu luận của 17 tác giả xuất thân là người tị nạn từ khắp nơi trên thế giới, trong đó có 2 tác giả gốc Việt là Bùi Thi và Trần Vũ.

Sách best seller nhắc đến Hành lý hư vô, tản văn của Nguyễn Ngọc Tư và Làm bạn với bầu trời, tác phẩm thứ 45 của Nguyễn Nhật Ánh.

Tôi đặc biệt chú ý đến “Thư gửi Mina” của nhà văn Thuận, tiểu thuyết gồm 30 bức thư, vẽ ra bức tranh khủng hoảng kinh tế, chính trị và di dân; và tiểu thuyết Cô Độc của Uông Triều, một tác phẩm tư tưởng (thấp thoáng bóng dáng văn chương hiện sinh). Uông Triều thử nghiệm cách viết hai cốt truyện song song tạo nên một thứ “mã” ngôn ngữ không dễ đọc. Tôi cũng chú ý đến cuốn Đường đến cây cô đơn của Bích Ngân, một tác phẩm vừa có khuynh hướng tác phẩm tư tưởng, vừa là tiếng nói quyết liệt của nhà văn trước hiện tình đất nước. Phải chăng những thử nghiệm văn chương của Thuận, của Uông Triều, Bích Ngân là những tín hiệu tích cực của văn chương Việt 2019 đang chuyển mình?.

NHỮNG SỰ KIỆN

Một vài sự kiện có thể được lưu tâm.

Đó là sự qua đời của hai nhà thơ hải ngoại Tô Thùy Yên và Du Tử Lê. Đây là hai nhà thơ nổi tiếng ở miền Nam trước 1975. Truyền thông trong nước đã đưa tin với thái độ dè dặt. Dù vậy, đây đó vẫn có tiếng nói thiếu tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc, thiếu thái độ nhân văn vốn có của người cầm bú.

Trí nhớ suy tàn của Nguyễn Bình Phương được dịch sang tiếng Pháp và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh phát hành bản tiếng Trung. Những năm gần đây, văn chương Việt Nam từng bước được giới thiều ra nước ngoài, hy vọng sẽ có được những âm vang.

Viết và Đọc” đã phát hành số thứ 5, chuyên đề mùa thu. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều chia sẻ: Viết và Đọcdựng lên một ngôi nhà nhỏ cho những người kể chuyện của thế gian bước vào, nhóm lên ngọn lửa và cất tiếng. Mỗi một nhà văn, nhà thơ, mỗi một họa sỹ, mỗi một nhà nghiên cứu, mỗi một người giảng dạy trong nhà trường… và mỗi một bạn đọc chính là một người kể chuyện của thế gian này”. Đây là một nỗ lực thúc đẩy sự tiến bộ của văn chương theo khuynh hướng hoạt động thị trường khi mà tình trạng trì trệ có thể đã làm nản lòng sự mong chờ của người đọc.

Ở hải ngoại, những người làm văn chương Việt cũng có những nỗ lực như thế. Đáng kể đến là bộ sách “44 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-2019)” do Khánh Trường, Nguyễn Vy Khanh và Luân Hoán thực hiện và tạp chí Văn Học Mới có 41 tác giả viết bài (có cả tác giả trong nước)

Một sự kiện khác đáng quan tâm là ngày 9/3/2019, lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam thành lập Ban chỉ đạo kiện toàn, củng cố, nâng cao chất lượng toàn diện báo Văn nghệ. “Mục tiêu là Trí tuệ, Đẳng cấp và Sang trọng. Nguyên tắc chung là đổi mới tờ báo dựa trên cơ sở giữ vững và phát huy những thế mạnh đã có; chỉ cải tiến, đổi mới những trang-mục không phù hợp hoặc chất lượng còn thấp; lấy lý luận-phê bình làm khâu đột phá; tăng cường thông tin về đời sống văn học và những vấn đề nổ cộm của đời sống văn học; mở rộng trao đổi, tranh luận… trên mặt báo”… Tuy nhiên, đến hết năm 2019, Văn nghệ (HNV) vẫn chưa có cải tiến gì nổi bật. Nhưng chúng ta có quyền hy vọng.

Năm 2019 cũng có nhiều gặp gỡ, tọa đàm, hội thảo. Có nhiều vấn đề đáng chú ý. Đó là: Tọa đàm “Nhận diện văn học trẻ Thủ đô 10 năm gần đây” do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức; Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội tổ chức hội thảo “Định hướng sáng tác các tác phẩm văn học, nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới”. Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Hội thảo “Thơ và Văn xuôi đồng bằng sông Cửu Long 45 năm”,  Hội thảo thơ Thanh Tùng… Hội thơ Đường luật Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Thơ Đường luật đời Lý”. Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trung ương tổ chức hội thảo khoa học toàn quốc với chủ đề “Vai trò định hướng của phê bình trong hoạt động thực tiễn và sáng tạo văn học, nghệ thuật hiện nay“…

Nhiều nhà văn dị ứng với tiêu đề “Định hướng sáng tác”, bởi sáng tạo là cái tuyệt đối cá nhân, chỉ nhà văn mới tự định hướng cho mình. Nhà văn Trần Đức Tiến viết stt trên FB cá nhân ngày 06/12/2019: Này các ông lý luận phê bình văn học: nhà văn là nhà văn, còn các ông, nói cho cùng, cũng chỉ là bạn đọc thôi nhé! Ai khiến các ông định hướng? Vai trò nhận vơ.”! Phê bình luôn đi sau sáng tác. Vì thế phê bình không thể “định hướng” cho sáng tác được. Từ sau 1975 đến nay đã có bao nhiêu “định hướng sáng tác” cho văn chương phong trào, nhưng chưa ai tổng kết được những “định hướng” ấy đã đem đến những kết quả thế nào (?)

Tư duy nghệ thuật mới” cùng với “ý thức sáng tạo và tài năng” của cá nhân nhà văn mới quyết định con đường của nhà văn. Trong thực tiễn, 10 “tôn chỉ” của Tự Lực Văn Đoàn (1930-1940) làm nên những giá trị văn chương của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam. Cũng vậy Báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (Trường Chinh) thực sự mở ra một khuynh hướng sáng tác mới cho văn chương kháng chiến Việt Nam sau 1945.

Và NHỮNG VẤN ĐỀ

            Từ Tọa đàm “Nhận diện văn học trẻ Thủ đô 10 năm gần đây” đến Hội thảo “Thơ và Văn xuôi đồng bằng sông Cửu Long 45 năm” đều vang lên nốt nhạc trầm này là, Văn học trẻ – Kiên nhẫn đón đợi và kỳ vọng. Rằng: “10 năm qua thơ trẻ Hà Nội vẫn chưa có tên tuổi nào bứt phá hẳn lên để tạo thành điểm nhấn trên văn đàn”.

Vâng, đúng là đã có rất nhiều tác giả trẻ xuất hiện. Đây là một thông tin về các tác giả trẻ: Đức Anh (Tường lửa và Thiên thần mù sương); Huỳnh Trọng Khang (ra mắt tiểu thuyết đầu tay Mộ phần tuổi trẻ); Meggie Phạm (Tôi và em, Giám đốc và em, Hoàng tử và em, Người xa lạ và em). Thái Cường (Những mảnh mắt nhìn, 2017), Gam lam không thực, 2018 và Người chết thuê, 2019). Hoàng Yến (Săn mộ – Thông thiên la thành); Nguyễn Hoàng Mai (Đung đưa trên những đám mây); Phạm Anh Tuấn (Đánh đổi); Hiền Trang (Bức tranh cô gái khỏa thân và cây vĩ cầm đỏ);  Nhật Phi (Người ngủ thuê); cuộc thi “Văn học tuổi 20” lần 6 khi xuất hiện  Phạm Thúy Quỳnh (Trăng trong cõi); Đặng Hằng (Nhân gian nằm nghiêng); Mai Thảo Yên (Người lạ); Phạm Thu Hà (Sau những ngày mưa); Bạch Đằng (Những đứa con cổ tích)

Tôi tự hỏi ai trong những tác giả này trụ được trên văn đàn như là người khai sinh ra một thời đại văn học mới? Hay sau những ào ạt phong trào, tất cả lại trở về lặng yên.

Tác giả Minh Tú trong bài viết Người trẻ Việt đọc sách: Đằng sau những best-seller cho biết: “Mỗi năm, có gần 400 triệu bản sách được in với 300 triệu bản là sách giáo khoa. Trong 100 triệu còn lại là các sách mới. Tuy nhiên, ngoài số lượng sách hay, số sách mang nội dung làng nhàng, vô bổ cũng chiếm số lượng không hề nhỏ.”(3)

Nhà thơ Inrasara đặt vấn đề Thơ Việt khủng hoảng: Còn ai đọc thơ, hôm nay?Nhà phê bình được cho là người đọc cao cấp, hiện nay họ đang đâu? Vẫn cứ là “không theo kịp sáng tác”; công chúng thơ mãi dị ứng với cái mới, lạ. Nhưng cần hơn cả là sự cô đơn, cô đơn sáng tạo . Cô đơn là tự do, là sáng tạo.(4) Tôi nghĩ khác, hiện nay thơ Việt vẫn đang chảy thao thiết, không hề “khủng hoảng”. Chỉ là, sau cao trào cách tân thời đổi mới (1986-19969) và phong trào “thơ trẻ” đầu thế kỷ XXI, thơ Việt đang định thần lại, tìm một hướng đổi mới khác. Đó là hướng đổi mới thơ truyền thống, có dung nạp thêm các yếu tố mới của thơ đương đại thế giới (không phải là thơ Hậu hiện đại)

Nhà phê bình Bình Nguyễn Trang đặt vấn đề: Người nông dân đang vắng bóng trong văn chương Việt.(5)”những đầu sách văn học viết về đề tài nông dân, nông thôn trong hơn chục năm trở lại đây, số lượng quá ít. Không chỉ số lượng ít, mà những tác phẩm thực sự vẽ cho ra chân dung của người nông dân hôm nay cũng hiếm hoi vô cùng”; “Nguy cơ hình ảnh người nông dân đang mất dần trong văn học là  có thật”.

            Ở hội thảo khoa học toàn quốc “Vai trò định hướng của phê bình trong hoạt động thực tiễn và sáng tạo văn học, nghệ thuật hiện nay”, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng phát biểu: “…nhìn vào thực trạng công tác phê bình văn học, nghệ thuật thời gian qua, chúng ta cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng, so với thực tiễn sáng tác rất sôi động, đa dạng, phong phú, thậm chí phức tạp hiện nay, phê bình đang tỏ ra trầm lắng, chưa phát huy hết vai trò và sức mạnh của mình. Sự thiếu hụt về đội ngũ, nhất là ở các lĩnh vực nghệ thuật như Âm nhạc, Múa, Điện ảnh, Mỹ thuật, Nhiếp ảnh,… diễn ra từ nhiều năm qua, đã được chỉ ra nhưng các giải pháp khắc phục chưa thực sự hiệu quả. Ở một số diễn đàn, đã xuất hiện không ít những bài viết cảm tính, thiếu cơ sở khoa học, khen chê dễ dãi, thậm chí chịu tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, không những không định hướng được sáng tác và tiếp nhận mà còn làm tăng nguy cơ loạn chuẩn, loạn giá trị trong đời sống văn nghệ” (6).

Tại buổi họp báo chiều muộn ngày 4/12/19, Ông Phan Đình Tân – phó chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trung ương-  nói rằng: “”Hiện nay, những người tâm huyết, các nhà chuyên môn phải đặt câu hỏi rằng các nhà phê bình đang ở đâu trong nền văn học nghệ thuật nước nhà?” (7).

Nói cho đúng thì cả thơ, văn, phê bình hiện nay đang “trầm lắng”. Không có tác phẩm văn chương hay, có tính đột phá tư tưởng và nghệ thuật thì không thể có phê bình chuyên nghiệp. Các nhà phê bình phong trào chỉ động bút theo phong trào. Bao nhiêu năm nay, đâu có trường nào đào tạo các nhà phê bình văn học chuyên nghiệp (?), cũng chẳng ai sống được bằng viết bài phê bình. Thế nên xin đừng hỏi các nhà phê bình đang ở đâu?

Sau những “định hướng” không thể có ngay một nền văn chương đỉnh cao được. Vì đã hàng chục năm nay, nhiều hội thảo về tác phẩm văn chương đỉnh cao cũng không giải quyết được gì. Phải kiên nhẫn chờ thôi! Nói một cách khác, văn chương Việt Nam vẫn phải chờ những tác phẩm lớn (không phải tác phẩm phong trào hoặc tác phẩm văn chương thị trường chất lượng làng nhàng).

LỜI TIỄN NĂM CŨ

Văn chương Việt Nam có nhiều tài năng, nhưng những tài năng của tương lai thì chưa bừng nở. Tôi tin vậy, vì cần có nhiều điều kiện (xin đơn cử, tài năng trẻ đang nằm ở trường Phổ Thông, nhưng chương trình Văn ở Phổ Thông đang giết chết mọi cảm xúc văn chương của trẻ; và bây giờ là thời của truyền thông đa phương tiện, giới trẻ có mấy người đam mê viết văn). Dân tộc Việt Nam là dân tộc có tài đánh giặc, cả thế giới phải thừa nhận và kẻ thù phải kính phục. Tự hào như thế cũng đủ.

Còn văn chương thì…

Tháng 18/12/2019

________________

 

 

 

 

30 NĂM HỘI VIÊN HỘI VHNT

40 NĂM HỘI VHNT ĐỒNG NAI

PHỤ LỤC

Hoạt động nghệ thuật của cá nhân

Bùi Công Thuấn

2b Điều khiển hợp xướng

5a Toàn cảnh +

(Đêm nhạc Bùi Công Thuấn

Tôi được kết nạp Hội VHNT Đồng Nai năm 1988, hội viên Ban Âm nhạc. Tôi cũng sinh hoạt với Ban Văn học. Năm 2015 được kết nạp Hội Nhà văn Việt Nam.

Được giải thưởng Trịnh Hoài Đức (Đồng Nai) 4 lần (2 lần Âm nhạc, 2 lần Văn học)

Cuốn sách “Những dòng sông vẫn chảy” được giải thưởng Văn học Nghệ thuật 2011 của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam.

Được giao nhiệm vụ Trưởng Ban Lý luận phê bình của Hội VHNT Đồng Nai Khóa IV(2 năm); và được cử làm ủy viên của Hội đồng Lý luận Phê bình Hội Nhà văn Việt Nam (2016-2018)

Hoạt động âm nhạc

Tham gia nhiều hoạt động phong trào của Hội VHNT Đồng Nai như: dự trại sáng tác

Trong nhiều năm: Trại sáng tác Chiến khu D, trại sáng tác Phú Yên, trại sáng tác Đà Lạt, trại

sáng tác Vũng Tàu…

Tham gia các buổi công bố tác phẩm mới của Ban Âm nhạc –Hội VHNT Đồng Nai.

Nhiều tác phẩm được trình diễn trên Truyền hình Đồng Nai.

Ca khúc Về Đồng Nai được giải khuyến khích dịp kỷ niệm 10 năm giải phóng Biên Hòa.

Tối ngày 15.11.1998 tại Nhà hát Nhân dân Long Khánh.tổ chức Đêm nhạc Bùi Công Thuấn. Hàng ngàn khán giả tham dự. Báo Lao động Đồng Nai và báo Thanh Niên đưa tin. Buổi công diễn này được sự giúp đỡ của Phòng VHTT Long Khánh (ông Phạm Văn Hoàng) và Hội đồng Quản trị trường THPT Văn Hiến, Long Khánh.

Dịp mừng thị xã Long Khánh lên Đô thị năm 2015, phòng VHTT mời tôi tham gia

sáng tác và điều khiển hợp xướng tại sân vận động Long Khánh.

Hoạt động văn học

Dự Đại hội lần thứ IX Hội Nhà Văn Việt Nam, tại Hà Nội năm 2015.

Dự Hội nghị Lý luận phê bình Tam Đảo do Hội Nhà văn Tổ chức 2016.

Tham dự nhiều lần các đợt « tập huấn công tác lý luận phê bình » do  Hội dồng

Lý luận Phê bình VHNT trung ương tổ chức tại Cần Thơ (2009), Tp HCM, Đồng Nai…  Đà Lạt,

Dự các cuộc hội thảo về cố nhà văn Hoàng Văn Bổn, Lý Văn Sâm do Hội VHNT

Đồng Nai tổ chức.

Tham gia thẩm định tác phẩm của các trại sáng tác văn học do Hội VHNT Đồng Nai tổ chức…

Tham gia nhiều buổi trò chuyện trong chương trình giới thiệu thơ trên đài PTTH Đồng Nai do Hạ Thy thực hiện. Nói chuyện về Nguyễn Du trong Trại sáng tác tuổi học trò Đồng Nai do Nhà Văn hóa Thiếu nhi tỉnh Đồng Nai tổ chức.

Tham gia nói chuyện chuyên đề về lý luận văn học tại Hội VHNT Trà Vinh 2017

Nhiều bài viết đăng trên Văn nghệ Đồng Nai, báo Văn nghệ HNV, trên các tạp chí Thơ (HNV), tạp chí Nhà văn & tác phẩm (HNV), trên các trang mạng xã hội như vanvn.net. vanchuongviet.org. vanchuongphuongnam.net. trannhuong.com. damau.org. viet-studies.com…

Tác phẩm

Đã thực hiện 03 CD ca khúc:

Em yêu (ca khúc hát dưới mái trường). 2005

Mùa xuân em về (Tình ca).  2005

Tình ca quê hương. 2012.

Đăng ký bản quyền âm nhạc 60 ca khúc chọn lọc trong tổng số hơn 100 ca khúc đã phổ biến.

Đã xuất bản.

Việt Nam mãi mãi yêu người, tập ca khúc. 1998.

Hạnh. Tập truyện ngắn. Nxb HNV. 2005.

Chút tình tri âm. LLPB. Nxb HNV. 2009.

   Những tìm tòi nghệ thuật của Anh Đức. LLPB. Nxb Đồng Nai 2009.

   Những dòng sông vẫn chảy. LLPB. Nxb HNV. 2011.

   Hoa đỏ bên sông. LLPB. Nxb HNV 2014.

   Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. LLPB. Nxb HNV. 2014.

   Văn chương Việt Nam, những gì còn với mai sau. LLPB. Nxb HNV. 2016.

   Nhà văn Đồng Nai. LLPB. Nxb HNV. 2018.

Trong những tác phẩm đã in, tôi tâm đắc các bài viết về Nguyễn Du, thơ Thiền, thơ Bùi Giáng, thơ Thanh Tâm Tuyền, thơ Nguyễn Quang Thiều, thơ Trần Quang Quý, thơ Lê Thanh Xuân, thơ Lê Thành Nghị, 10 khuôn mặt thơ trẻ đầu Thế kỷ XXI; các bài viết về Hoàng Văn Bổn, Lý Văn Sâm, Khôi Vũ, Trần Thu Hằng, Nguyễn Một, Bích Ngân, Trầm Hương, Đỗ Tiến Thụy, Uông Triều, Phong Điệp và chuyên đề 40 năm văn chương Việt Nam.

Cuốn Lý luận phê bình-Diện mạo của một thời (2017) đến nay vẫn chưa in được.

***

2a Hợp xướng

Điều khiển hợp xướng 2015

Giải Trịnh Hoài Đức III

Giảu thưởng Trịnh Hoài Đức

1 BCT kết nạp+++

1 BCT 3

(Gặp gỡ Hà Nội: Nhà văn Trần Nhã Thụy, Nguyễn Thọ, Vũ Hồng)

6f pHÚ yÊN

Dự trại Phú Yên

Tamđảo 1

Dự Hội nghị LLPB Tam Đảo 2016

3 cafe Đà Lạt

Dự Tập huấn LLPB ở Đà Lạt (Đoàn Đồng Nai)

VỚI 40 NĂM VĂN NGHỆ ĐỒNG NAI

40 NĂM VỚI VĂN NGHỆ ĐỒNG NAI

Bùi Công Thuấn

 

2 hoang-van-bon

(Cố nhà văn Hoàng Văn Bổn)

Tôi được kết nạp vào Hội VHNT Đồng Nai năm 1988, đến nay đã là hội viên thuộc diện “cổ lai hy” của Hội (*). Nhưng trong tôi vẫn dào dạt những cảm xúc ngày đầu của một hội viên tuổi “thanh xuân”. Nhìn lại hành trình của mình, từ Hội VHNT Đồng Nai, tôi đã trở thành Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, đã in được 8 cuốn sách trong đó có 2 cuốn viết riêng về nhà văn Đồng Nai là Hoa đỏ bên sông (2014) và Nhà văn Đồng Nai (2018). Tôi cũng đã được giải thưởng Trịnh Hoài Đức 4 lần, hai lần giải âm nhạc, 2 lần giải văn chương. Nói vậy để các hội viên trẻ hôm nay có thể nhận ra rằng Hội VHNT Đồng Nai là cái nôi rất thân thương, từ đó mỗi hội viên đều có cơ hội thăng tiến tài năng của mình đóng góp vào đời sống văn hóa của Đồng Nai.

5 Các lão nghệ sĩ

Các lão nghệ sĩ: nhà văn-anh hùng Nguyễn Bá Ước, Họa sĩ Nguyễn Nam Ngữ, nhà văn Huyền Tùng…)

NGÔI NHÀ ẤM ÁP NGHĨA TÌNH

Tôi gọi Hội VHNT Đồng Nai là ngôi nhà ấm áp nghĩa tình, bởi ngôi nhà ấy mở rộng vòng tay đón vào lòng mình mọi cây bút có ý thức và nhiệt tình sáng tạo nghệ thuật để làm giàu đẹp Đồng Nai.

Nơi đây quy tụ nhiều thế hệ nhà thơ nhà văn từ nhiều miền đất nước. Những nhà văn lão thành như Xuân Bảo (1935), Phan Huyền Tùng (1936), Trần Thúc Hà (1937), các nhà văn trẻ như Trần Thu Hằng (1975), Phạm Thị Thanh Vân (1980), Nguyễn Huyền Quy (1986)…Nhiều nhà văn bước ra từ khỏi lửa cuộc kháng chiến chống Mỹ tiếp tục cảm hứng sáng tác về văn học cách mạng và kháng chiến. Nhiều nhà văn trăn trở vật lộn với thời bao cấp và sự xuống cấp đạo đức giao thời kinh tế thị trường (Nhà văn Hoàng Văn Bổn viết tập truyện ngắn Người điên kể chuyện người điên và tiểu thuyết Tình đời đen bạc…). Nhưng những ngòi bút chủ lực của văn nghệ Đồng Nai lại khai phá những chân trời mới của văn chương (Khôi Vũ, Nguyễn Một, Trần Thu Hằng, Nguyễn Trí…). Những nhà văn trẻ hôm nay có ưu thế của thời 4G và họ không vướng mắc gì với những vấn đề mà nhà văn thế hệ trước gặp phải. Mỗi thế hệ đều có ưu thế riêng, có bầu trời sáng tạo riêng.

Những lần hội họp, những lần hội thảo, những trại sáng tác luôn là dịp để hội viên cọ sát ngòi bút và hâm nóng cảm hứng sáng tác. Ban chấp hành các khóa đều làm việc cật lực và phải đối mặt với sóng gió và không ít gai góc (Chuyện lùm xùm về bài thơ Lời cây dầu cổ thụ ở trụ sở Ủy ban nhân dân  của Đàm Chu Văn (2012) và trang web Văn Biên Hòa dùng những lời lẽ vô văn hóa mạt sát tất cả hội viên hội VHNT Đồng Nai).  Dù vậy, các hoạt động của hội luôn sôi nổi, văn chương Đồng Nai sum suê giải thưởng. Việc tổ chức thường xuyên các trại sáng tác là một nỗ lực mang đến nhiều giá trị cho hội viên.

Tôi đã đi trại sáng tác Chiến khu Đ và ở lại đêm sinh hoạt với anh chị em địa phương, lúc ấy tôi gặp được cố nhạc sĩ Nguyễn Bính, một người nhiệt tình và rất thương người trẻ. Tôi đã dự trại sáng tác Đà Lạt, viết liền mạch 4 ca khúc. Dịp này tôi được nghe nhạc sĩ Nguyễn Thọ kể rất nhiều chuyện cười lên cơn ghiền. Tôi lấy làm tiếc sao nhạc sĩ Nguyễn Thọ không viết văn, vì ông kể chuyện rất hấp dẫn và có duyên. Trại sáng tác Phú Yên tôi có nhiều kỷ niệm của một lần đi xa. Trại sáng tác Vũng Tàu, tôi viết được một bài tâm huyết về nhà văn Hoàng Văn Bổn, thấy nhẹ lòng vì lời đã hứa với ông. Chỉ tiếc là tôi không tham dự được nhiều trại sáng tác của Hội, đơn giản ở mảng lý luận phê bình văn chương, khó viết ở trại sáng tác…Nhưng nhờ được đọc nhiều bài ở các trại sáng tác, tôi gần gũi với đồng nghiệp hơn, hiểu văn chương Đồng Nai hơn.

Tôi gọi Hội VHNT Đồng Nai là ngôi nhà ấm áp nghĩa tình, bởi ngôi nhà ấy ươm mầm những giấc mơ văn chương.

Có lẽ cái khát vọng mãnh liệt của hội viên viết văn địa phương là trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Nhiều người phải  hàng chục năm “rèn luyện” ngòi bút chờ đợi. Bởi mỗi năm Hội Nhà văn Việt Nam chỉ kết nạp khoảng  trên dưới 20 người, mà trong cả nước có tới mấy trăm hồ sơ xếp hàng, trừ khi tác phẩm của mình gây được ấn tượng với công luận. Bản thân tôi được nhiều nhà văn Đồng Nai hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đi trước quan tâm động viên, được Chi hội Hội Nhà văn miền Đông đồng thuận giới thiệu, được nhà thơ Lê Thanh Xuân giúp làm hồ sơ và được nhà thơ Lê Quang Trang (Sài Gòn) và nhà văn-TS Phạm Quang Trung (Đại học Đà Lạt) bảo trợ. Đơn tôi gửi từ 2009 và đến 2015 mới được Hội Nhà văn VN kết nạp. Đấy là khoảng thời gian tôi phải chứng tỏ được năng lực viết của mình có đạt chuẩn một người viết chuyên nghiệp không. Thực ra trứớc hay sau khi trở thành Hội viên Hội Nhà văn, tôi vẫn viết như mình đã từng say mê viết, và điều quan trọng là được Văn nghệ Đồng Nai cưu mang nên có thêm động lực để “chờ”. Và cũng nhờ thế tôi đã viết được hai cuốn sách về văn chương Đồng Nai.

Văn chương Đồng Nai hôm nay có nhiều nhà văn nhà thơ viết hay và chuyên nghiệp Đó là các nhà văn nhà thơ  Hoàng Ngọc Điệp, Đào Sỹ Quang, Dương Đức Khánh, Hạnh Vân…và tôi nghĩ rằng, các bạn cần khẳng định mình bằng tác phẩm trước công luận, điều đó mới quan trọng.

12 ĐH 5

KHUÔN MẶT VĂN CHƯƠNG ĐỒNG NAI

Trong 40 năm qua, nhiều nhà văn nhà thơ của Văn nghệ Đồng Nai để lại trong tôi những cảm tình sâu sắc và ảnh hưởng nhiều đến suy nghĩ và sáng tác của tôi.

Sinh thời, có lần nhà văn Hoàng Văn Bổn nói với tôi, lúc nào cần tư liệu để viết, Thuấn cứ đến nhà tôi, tôi có thể giúp. Lúc ấy tôi đã hứa với ông là sẽ viết về sự nghiệp văn chương của ông. Lời hứa ấy làm tôi nặng lòng mãi, đến nay vẫn chưa thực hiện được trọn vẹn. Nét trầm tư trên khuôn mặt ông theo tôi mãi. Nhà văn Hoàng Văn Bổn cho tôi bài học về sự cần cù sáng tạo, bài học về mối quan hệ với nhân dân, với đất nước và con người quê hương, và đặc biệt là bài học về mục đích viết văn. Ở Đồng Nai chưa có nhà văn trẻ nào theo được bước chân sáng tạo của Hoàng Văn Bổn.

Tôi đã đọc được nhiều tác phẩm của nhà văn Lý Văn Sâm và định viết một công trình về văn chương của ông, nhưng đến nay công trình ấy vẫn chưa thực hiện được, thành ra những ấp ủ vẫn canh cánh bên lòng. Lý Văn Sâm là nhà văn tài hoa với đúng nghĩa của từ này, dù ông là chiến sĩ cách mạng hoạt động trong lằn tên mũi đạn của kẻ thù. Tôi cũng chưa gặp được chất tài hoa Lý Văn Sâm ở những cây bút trẻ văn chương Đồng Nai hiện nay.

Nhà văn Khôi Vũ năm nay đã bước vào tuổi 70, vào Hội VHNT Đồng Nai 1983. Ông đã in hơn 60 cuốn và vẫn đang nỗ lực viết những tác phẩm tâm huyết của đời mình (*). Đàn Ống Tre Bên Kia Sông (2013) và Khí Phách Biên Hùng (2019) của Khôi Vũ là những cuốn sách đặc sắc viết về con người Đồng Nai. Thực ra, bối cảnh, nhân vật và chất liệu văn chương của Khôi Vũ là đất nước, con người Đồng Nai đương đại. Khôi Vũ là nhà văn thời sự, và thế sự, ông bám sát hiện thực đời sống sau 1975. Khôi Vũ cũng hoạt động văn học sôi nổi. Ông từng thực hiện tập san Dưới mái trường, tự mình đến từng trường học giới thiệu, và có lúc in đến 10 ngàn bản mỗi số. Ông cũng gắn bó với các Trại sáng tác Thơ Văn Tuổi học trò do Nhà Thiếu nhi Đồng Nai tổ chức. Ông tỏ ra rất hạnh phúc trước mỗi nụ hoa văn thơ tuổi học trò chớm nở, niềm hạnh phúc ấy tiếp thêm lửa cho ông, và tôi có cảm giác ông vẫn đang viết rất sung sức.

Nhà thơ Lê Thanh Xuân cũng đã vào tuổi 72. Ông vào Hội VHNT Đồng Nai năm 1982 và đã in nhiều tập thơ. Thơ của ông đặc sắc ở tứ thơ mới lạ, phóng khoáng và giàu sáng tạo, dù rằng ông vẫn làm thơ “truyền thống”. Ông bộc trực, thẳng thắn và sống nghĩa tình (nhưng không tránh được những va chạm, có khi gay gắt). Ông có một tập thơ riêng viết về người thân và bạn bè, nhiều bài có những tứ thơ rất đẹp và rất sâu sắc. Nói chuyện với Lê Thanh Xuân, tôi kinh ngạc về sự tinh tế trong cách đọc văn chương của ông và vốn hiểu biết rất sâu rộng về đời sống văn chương Việt đương đại. Nói về một tác giả nào đó, dù chỉ nói ngắn gọn, nhưng ông nắm được cái hồn cốt và thực lực ngòi bút của người ấy. Có lúc tôi lấy làm tiếc sao ông không viết cái “vốn sống” văn chương của ông để làm tư liệu cho đời sau?

Những nhà văn lão thành khác như Trần Thúc Hà, Huyền Tùng, Trương Thanh Phận…đều để lại trong tôi nhiều thiện cảm văn chương bởi sự say mê và nỗ lực không ngừng trong hoạt động sáng tạo âm thầm. Năm 2018, truyện ngắn Người cận vệ của vua Hàm Nghi của Trần Thúc Hà được chọn trong 10 truyện ngắn hay của báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam. Điều ấy là một điểm son của văn chương Đồng Nai. Văn chương Đồng Nai đã có nhiều điểm son như thế, đó là những tác phẩm đạt giải của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, đạt giải của Hội Nhà Văn Việt Nam.

Một điểm son khác là trong những năm gần đây, nhà văn Đồng Nai in tác phẩm liên tục. Văn chương Đồng Nai vẫn đang hồi sung sức. Sôi nổi ra sách là các nhà văn Khôi Vũ, Nguyễn Trí, Hoàng Ngọc Điệp, Phạm Thanh Quang, Bùi Quang Tú, Dương Đức Khánh, Đào sỹ Quang, Hoàng Đình Nguyễn, Dương Thị Thu Hường, Trâm Oanh, các nhà thơ Lê Thanh Xuân, Đàm Chu Văn, Nguyễn Đức Phước, Đỗ Minh Dương, Đào Trọng Thử, Minh Hạ, …

Giải Trịnh Hoài Đức III

NHỮNG NỖI LO VẪN CÒN ĐÓ

Nỗi lo lớn nhất của văn chương Đồng Nai vẫn là thiếu một đội ngũ kế thừa vừa tâm huyết, vừa tài năng. Những khuôn mặt trẻ đã xuất hiện song họ chưa tự định vị được một cá tính sáng tạo giàu chất thẩm mỹ trước công chúng văn chương.  Ngòi bút của họ chưa vượt qua được sân chơi của văn chương phong trào. Và như thế, còn lâu nữa văn chương Đồng Nai mới lại có một mùa hoa trái như những mùa vàng đã qua.

Và có lẽ điều nặng lòng với mỗi nhà văn là làm sao viết được tác phẩm đỉnh cao về tư tưởng và nghệ thuật. Sau những tác phẩm sử thi đồ sộ của cố nhà văn Hoàng Văn Bổn, chưa tác giả đồng Nai nào dồn hết tâm sức mình cho những tác phẩm lớn như thế (như thể M. Sôlôkhốp viết Sông Đông êm đềm). Điều này là nỗi thao thức chung của cả nền văn học. Và người ta thường tự an ủi rằng, trong lãnh vực sáng tạo, tài năng là của hiếm. Rằng còn cần phải kiên nhẫn chờ. Vì rằng, đã qua thời của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, cũng đã qua thời của Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường…Những cây bút trẻ nay đã không còn trẻ nữa (Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp, Dương Thụy, Nguyễn Một, Trần Thu Hằng…). Cũng đã qua thời quyết liệt cách tân thơ Việt đầu thế kỳ XXI (Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều, Vũ Trọng Quang, Trần Quang Quý, Văn Cầm Hải, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Hữu Hồng Minh…). Tìm ra được con đường mới cho văn chương, khám phá ra được một kiểu tư duy nghệ thuật mới để cách tân văn chương là điều không dễ dàng. Có lẽ có một quy luật này, chỉ trong những hoàn cảnh khốc liệt của cuộc sống, tài năng mới được khẳng định (?).

Hội VHNT đã có rất nhiều nỗ lực chăm lo thế hệ trẻ, đã tạo nhiều điều kiện (trong khả năng) để nhà văn Đồng Nai phát huy tài năng, và Ủy ban Nhân dân Tỉnh Đồng Nai đã trao giải Trịnh Hoài Đức để vinh danh văn nghệ sĩ Đồng Nai,…điều còn lại là nỗ lực sáng tạo của người cầm bút. Tương lai của văn chương Đồng Nai thế nào? Câu hỏi ấy do chính nhà văn Đồng Nai tự trả lời. Khi nhiệt tình và tâm huyết với văn chương vẫn sung sức như nhà văn Đồng Nai hôm nay, chúng ta có quyền hy vọng.

Tháng 11. 2019

____________________

(*) Ghi chú:

Nhà văn Khôi Vũ-Nguyễn Thái Hải cho biết: Ngoài tập Đàn ống tre bên kia sông, tôi đã in Bên kia dãy điệp vàng gồm các truyện về công nhân ĐN, Nhớ Biên Hòa là hồi ức vế BH. Gần đây là Theo dòng chảy Đồng Nai hơn 400 trang, Bầy nai tung tăng trên đồng cỏ (Thiếu nhi 4 tập), Khí phách Biên Hùng (vừa xong). Hiện nay tôi còn bộ Sông Luộc ở phương Nam 900 trang đang chờ in, một tập truyện về công nhân cũng đang chờ in. Tôi đã viết được nửa quyển TT về nhà văn Lý Văn Sâm. Nửa quyển tiểu thuyết về người Chơ Ro

 

TIỂU THUYẾT CÔ ĐỘC THÁCH THỨC ĐỘC GIẢ VĂN CHƯƠNG

TIỀU THUYẾT CÔ ĐỘC

THÁCH THỨC ĐỘC GIẢ VĂN CHƯƠNG

(Đọc tiểu thuyết Cô Độc của Uông Triều. Nxb HNV 2019)

Bùi Công Thuấn

Cô độc+

 

          Tôi đã đọc với niềm say mê và thích thú Đôi mắt Đông Hoàng, Tưởng tượng và dấu vết, Sương mù tháng Giêng của Uông Triều. Ấn tượng sâu đậm để lại trong tôi về ngòi bút Uông Triều là sự giàu có tri thức về những tầng vỉa văn hóa lịch sử và đời sống, cùng với năng lực sáng tạo dồi dào và thái độ viết hết sức cẩn trọng đối với văn chương của tác giả. Cô Độc để lại cho tôi một ấn tượng khác, bởi Uông Triều có những thể nghiệm mới trong cách viết, vì thế nó thách thức người đọc vượt qua thói quen mòn cũ trong việc tiếp cận tác phẩm. Trong tình cảnh ấy, Cô Độc lại càng trở nên cô độc trong dòng chảy văn chương thị trường hiện nay.

1.NHỮNG THỂ NGHIỆM MỚI & NHỮNG THÁCH THỨC

          Tiểu thuyết Cô Độc có 60 chương, các chương lẻ (1,3,5…) viết về nhân bật Ba. Các chương chẵn (2,5,6…) kể chuyện nhân vật B. Hai cốt truyện song song, vì thế không thể tóm tắt nội dung truyện như một cấu trúc thống nhất.

Bước vào thế giới Cô Độc, người đọc phải đối mặt với nhiều vấn đề, mà nếu không vượt qua được thì không thể tiếp cận tác phẩm. Tôi gọi đó là những thách thức.

Những trang văn cứ ẩn hiện một hiện thực rất cụ thể, nhưng lại nhòe mờ với vấn đề tư tưởng có tầm vóc lớn lao hơn nhiều. Đó là hiện thực ở một nhà xuất bản có quá nhiều bản thảo nhạt nhẽo, có những con người bí mật mưu đồ lật đổ tranh quyền đoạt lợi, có nhưng ưu tiên đẳng cấp cho người này người kia, có những bí mật giấu kín. Ý nghĩa hiện thực này là chính hay ý nghĩa tư tưởng là chính? Vì khi hiện thưc ấy được nhìn sâu hơn thì trang văn lại trỗi dậy mãnh liệt tư tưởng về quyền sống tự do, quyền được là chính mình, quyền làm chủ số phận mình. Ba “sẵn sàng cảm thấy có tội để được là chính mình” (tr.51). Ba cãi lời bố là vì “muốn được tự do” (tr. 212). Còn B, trước khi dùng dao cắt đứt động mạch cổ tay để kết liễu cuộc đời mình, anh đã tự đánh giá: “Anh đã sống trọn vẹn với đam mê, hiến dâng và nhiệt thành, phản bội cái cũ để cái mới được ra đời” (tr.286 ). Anh đã không thể sống khác.”

Trong thế giới của Cô Độc, thật khó phân biệt thực và ảo. Nhân vật đang hoạt động trong đời thực, bỗng trở thành ảo ảnh. Là thực nhưng tác giả không miêu tả bối cảnh xã hội cụ thể, thành ra người đọc không thể biết câu chuyện xảy ra ở đâu, vào những năm tháng nào của lịch sử; là ảo nhưng lại là những hồi quang của hiện thực đã qua hoặc là ước mơ của hiện thực không thể đạt tới. B nhiều lần chìm vào ảo ảnh ngay trong hiện thực.  B đi theo cô gái váy đen đến quán café. Anh quyết xem mặt cô để biết cô ta là ai. Nhưng lại không chạm vào cô được. Hiệu là tay Phó Giám đốc mới, đến gặp B để thương lượng. Hiệu ngồi trước mặt B. Đang nói chuyện với Hiệu, B thấy ông ta “phình to ra như một con quái vật. Anh ta căng phồng và nở ra như một con voi” (tr.165). B vào nhà kho của nhà xuất bản và nói chuyện với ông Giám đốc trong ảnh cũng là một ảo giác (đoạn 26, tr. 125). Trước khi tan vào tro bụi, trong cơn sốt, Ba “cảm thấy một bàn tay phụ nữ đang đặt trên trán anh và một đứa con gái nhỏ giống anh như hệt đang đứng ở cuối giường âu yêm nhìn cha. Đứa bé có đôi mắt của Cầm” (tr.285). Đó là ước mơ suốt đời Ba kiếm tìm nhưng không thấy. Tất cả những ảo giác của nhân vật đều chứa đựng thông điệp tác giả muốn nói về hiện thực?

Quá khứ trộn với hiện tại, tuyến tính thời gian thường được dùng để phát triển cốt truyện bị xóa mờ. Những câu chuyện của mấy chục năm, của một đời người được xếp chồng lên nhau. Nhà văn chỉ viết: “có lần”, “ có lúc”, “vào một ngày”, “một chiều”, “một buổi tối”, “một buổi sáng”, “khi còn là học sinh”, “nhiều năm sau”,nhiều năm về sau”. Không có một cột mốc thời gian cụ thể để người đọc bám víu vào mà hình dung ra con người thực của nhân vật. Không gian thực làm bối cảnh cho tiểu thuyết cũng được cắt gọt đến cái lõi chỉ còn lại tư tưởng để người đọc không được quyền liên hệ đến nhà xuất bản này hay ông giám đốc kia trong đời thực.  Nhà văn Uông Triều đã bạch hóa vấn đề trên trang Facebook của mình rằng: những người đọc đầu tiên bảo, định nổi loạn hả, anh có phải là nhân vật B không? Định chống lại nhà số 4 à? Những người khác bảo, nó phức tạp đấy, sex hơi nhiều và có những biểu tượng rất nguy hiểm.” Tôi thì nghĩ, những bạn đọc ấy chưa vượt qua được bức tường nghệ thuật để thâm nhập được vào thế giới tư tưởng của tác phẩm.

Một thách thức trực tiếp đối với người đọc là nhân vật Ba và B. Hai nhân vật này là hai hay là một? Cuộc đời họ được kể song song trong tác phẩm như hai câu chuyện tách biệt. Hai nhân vật này không có quan hệ gì với nhau, không có dây nhợ gì trong cốt truyện cột buộc họ. Ba có cha mẹ, chị gái và những ký ức vùng quê, ký ức tuổi thơ, B không được miêu tả nhân thân. B khẳng định với cô gái váy đen anh không phải là Ba (tr.146). Kết thúc truyện, hai nhân vật này có cái chết khác nhau. Ba bị bịnh, lên cơn sốt rồi chết. Trái lại, B rất tỉnh táo. Anh chui vào lò thiêu bản thảo trong phòng, cắt đứt tất cả động mạch ở cổ tay tự tử. Nếu Ba và B là một người thì cả hai phải cùng chết trong một hoàn cảnh cụ thể. Người đọc thì tin rằng B và Ba là một người, vì họ có những điểm giống nhau. Cả hai đều là biên tập viên, đều đi tìm một bản thảo vĩ đại (Ba, tr.198; B : tr. 205). Cả hai đều thích cuộc sống cô độc, không quan tâm đến ngưới khác, không thích đám đông, nhưng quan hệ với nhiều người đàn bà. Họ làm bạn với rượu và sex. Chỉ khi giải mã được bản chất nghệ thuật và tư tưởng của hai nhân vật này, người đọc mới có cơ may đọc được thông điệp của tác phẩm.

Cô Độc dựng lên một thế giới ngột ngạt chật chội. Không gian của B chỉ là cơ quan nhà xuất bản, nhà kho, con đường và quán café. Không gian của Ba chỉ là những ký ức. Các nhân vật trong Cô Độc cuộn xoáy trong những vòng lặp của ảo giác, của ký ức, và những ẩn dụ. Những cánh bướm rất to theo với Ba, con sóc đực trên cành cây bám lấy B và nhìn anh chế giễu. Cẩm là đối tượng truy tìm của Ba từ đầu đến cuối tác phẩm. Cô gái váy đen cứ ẩn hiện trong cuộc rượt đuổi của B. Ba không xuất bản được cuốn sách của Cầm, B cố ý ngăn cản việc in cuốn sách của Mạo. Hình ảnh người bảo vệ đào đất để thông “cổng địa ngục” ám ảnh B, tương đồng với sự ám ảnh của ông già đánh cá (tr. 90) chở Ba trên hồ khi anh đi tìm đứa con hoang của mình. Trong đêm trăng ngày 15  giữa tháng, “kẽ nứt ở góc sân” (tr.173) mở ra dẫn B xuống một hang rộng  có những hình nhân đứng bất động… Thế giới ngột ngạt ấy có ý nghĩa gì?

  1. THỬ VƯỢT QUA THÁCH THỨC

Chìa khóa để mở cửa bước vào thê giới nghệ thuật của Cô Độc là sự xác lập xem Cô Độc là tiểu thuyết hư cấu (fiction) hay phi hư cấu (non-Fiction).

Khi người đọc đặt vấn đề với tác giả rằng: “định nổi loạn hả, anh có phải là nhân vật B không? Định chống lại nhà số 4 à? Những người khác bảo, nó phức tạp đấy, sex hơi nhiều và có những biểu tượng rất nguy hiểm.” tức là coi Cô Độc là một tác phẩm hiện thực (non-fiction). Căn cứ vào cấu trúc tác phẩm, Cô Độc là một tác phẩm hư cấu (fiction), nghĩa là nhân vật, bối cảnh, sự việc, con người, cốt truyện đều do tác giả tưởng tượng ra, không có thật. Tác giả không lấy nguyên mẫu từ đời thực để đặt vấn đề về nhà xuất bản nơi nhà văn công tác, để phê phán những người ở nhà xuất bản ấy. Nơi ấy cũng chẳng có ai như Ba và B, chẳng quan tâm đến ai, chỉ có rượu và gái. Nơi ấy cũng chẳng có ai tâm thần tự cắt tai như Ngụy hay tự tử bằng thuốc ngủ như Mạo, hay tự cắt động mạch tay chết như B.

Dấu chỉ nào giúp người đọc nhận ra Cô Độc là tác phẩm hư cấu (fiction)?

Trước hết, tác giả tước bỏ hết bối cảnh xã hội của câu truyện. Không có một chi tiết nào để người đọc có thể suy đoán ra sự việc, con người, câu chuyện đang diễn ra ở nơi nào trong không gian thực, diễn ra trong khoảng thời gian nào của xã hội Việt Nam. “Ba xin phép nghỉ dài ngày để đi tìm kiếm…anh đi về những vùng núi, vùng hồ… Ba đến một khu hồ lớn, anh thuê khách sạn rồi đi lang thang trong vùng” (tr.88). Người đọc không thể định vị khu hồ lớn ấy ở đâu, đời sống xã hội nơi đây thế nào.

Và trong Cô Độc, tác giả đưa vào rất nhiều chuyện giả tưởng (fiction). Đó là những chuyện hoang tưởng, ảo giác của B, và cả của Ba. Chẳng hạn, “một hôm trong rừng lang thang, Ba gặp đàn bướm khổng lồ ở cái thác nước ngày nào. Chúng bay rợp trên đầu anh, tạo một cảnh vô cùng kỳ thú…Đúng lúc ấy anh nhìn thấy Cẩm đang ở trước mặt…đôi chân anh guồng nhanh và anh thấy mình bay trên mặt đất. Lũ bướm… cô gái… Tất cả bay theo anh” (tr.202). Chuyện thầy chủ nhiệm nói với Ba về một cuốn sách nguy hiểm, nhưng thầy không cho ai biết. Bọn trộm và Ba đã tìm cách đánh cắp chiếc cặp nghi có cuốn sách bí ẩn đó. Nhưng mở cặp ra “chỉ vài cuốn sách giáo khoa và giáo án, ba cái bút mực và một đôi bít tất màu xanh đã thủng lỗ…” (tr.192). Khi Ba đã trưởng thành, trở thành biên tập viên, anh về thăm thầy. “Nhưng vào đúng cái ngày anh trở về trường, thầy chủ nhiệm đã treo cổ trong nhà” để giữ bí mật về một cuốn sách lớn. Tất nhiên, ai lại tin đây là chuyện thật, bởi trên đời này chẳng có ông thầy chủ nhiệm nào như thế.

Cô Độc là một tiểu thuyết hư cấu (fiction) vì thế không nên áp đặt cái nhìn “phản ánh hiện thực”(phản ánh luận) để đọc và đánh giá tác phẩm. Cô Độc có khuynh hướng một tiểu thuyết tư tưởng. Tất cả chuyện kể là để trình bày những vấn đề tư tưởng. Những vấn đề này cao và rộng hơn nhiều cái “hiện thực” mà người đọc nhìn thấy.

Xin hãy ngẫm nghĩ về tư tưởng này: “Phản bội cái cũ để cái mới được ra đời” (tr.286). Đây là tư tưởng B đã đấu tranh quyết liệt và đánh đổi bằng cả sinh mệnh của mình để khẳng định. Anh đã bị bao nhiêu thế lực kết án. Anh nói với ông cựu giám đốc nhà xuất bản: “Tôi chấp nhận bị sỉ nhục và coi đó là sự trừng phạt đích đáng với mình”…”; “Tôi đã làm thứ tôi cho là cần thiết, không có mưu cầu riêng gì ở đây.” (tr.288)

Trong ý nghĩa tư tưởng thì người đọc sẽ tra vấn “Phản bội cái cũ để cái mới được ra đời” là để nói đến vấn đề gì?

Trong đời sống, sự phản bội luôn là hành vi xấu xa cần phải lên án. Nhà văn cũng đã để cho nhiều nhân vật lên án sự phản bội của B, nhưng B vẫn quyết liệt khẳng định mình là kẻ phản bội (tr. 272, 278, 287), anh chấp nhận tất cả để “cái mới được ra đời”. Những ý tưởng ấy của B gợi cho tôi (theo cách đọc liên văn bản) về “Giã biệt bóng tối (Tạ Duy Anh), “Ăn mày dĩ vãng” (Chu Lai), đến “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh). Và nghĩ đến kẻ phản bội của thời đại là của Gorbachev. Năm 1987 Gorbachev đã phản bội cách mạng Xô-viết để cho ra đời nước Nga ngày nay. Ở Việt Nam, các nhà văn thời kỳ đổi mới (1986-1996) có thể được coi là những người đã “phản bội” lại chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa để thực hiện cho được sự đổi mới văn chương. Và nếu cứ suy gẫm miên man về “Phản bội cái cũ để cái mới được ra đời” thì  Cô Độc trờ thành “một cuốn sách nguy hiểm” (tr.188) như cuốn sách nguy hiểm mà thầy giáo chủ nhiệm của Ba đã đánh đổi mạng sống của mình để giấu kỹ!

Tuy nhiên cần lưu ý rằng Tác giả không khẳng định “cái mới” mà B đánh đổi sinh mệnh có tốt hơn cái cũ hay không. Người ta chưa biết tay Phó Giám đốc nhà xuất bản mới lên thay này có thể cứu nhà xuất bản khỏi phá sản hay không, nhưng biết rõ rằng chính ông ta đã làm áp lực với B để B đứng về phía ông ta. Ông ta đe dọa tố cáo B quan hệ bất chính với đàn bà và tội thiêu hủy bản thảo (tr. 243). Và nhắc B về quyền lực của bóng tối (tr.244) ngầm răn đe B sẽ phải chịu những hậu quả nặng nề. Cứ theo cái cách hành xử của tay Phó Giám đốc mới thì “cái mới” cũng chẳng tốt đẹp gì hơn “cái cũ”. Quyết định của B đứng về phía giám đốc mới trở thành ảo tưởng. Cái chết của B là sự trả giá cho “quyền lực của bóng tối”. Tư tưởng “Phản bội cái cũ để cái mới được ra đời” có thể là một lời cảnh báo?

Một tư tưởng khác dội lên rất mạnh mẽ trong tác phẩm là khẳng định sự tồn tại của cá nhân. Cả Ba và B đều kiên định trước tất cả những áp lực để giữ cho được là chính mình, làm cho được điều mình thích cũng như tự chọn lựa con đường của số phận mình. Ba đã chống đối quyết liệt người cha để trở thành biên tập viên. Cha anh luôn “kỳ vọng anh làm được những điều lớn lao, nhưng anh né tránh những thứ kỳ vĩ…Anh muốn thế giới của riêng mình, xa lánh hấu hết…” (tr.70). Giám đốc nhà xuất bản mời B nói chuyện, có ý thuyết phục anh, “Mong anh vẫn luôn là anh”. B nói: “Tôi chưa bao giờ là người khác” (tr.175). Trong cuộc bỏ phiếu bầu Giám đốc mới, người ta tin chắc B đứng về phía bảo thủ, nhưng là người cuối cùng quyết định cuộc bầu cử, B lại đứng về phía “cái mới” là  bầu cho Phó Giám đốc. Đó là việc làm anh cho là cần thiết, không chịu áp lực của bất cứ ai (tr. 288).

Tư tưởng khẳng định sự tồn tại cá nhân được nhà văn giải quyết thế nào?

Ba trở thành biên tập viên. Anh tìm thấy ý nghĩa của việc biên tập là: “…tìm kiếm một bản thảo vĩ đại làm lừng danh cho sự nghiệp của anh và lưu danh trong nền văn chương thế giới” (tr.198). Việc anh chọn nghề biên tập là trái với ý của bố. Có lần Ba mơ thấy mình nói chuyện với bố. Bố buồn vì anh bất hiếu. Anh vô sinh không có con nối dõi. Chống đối bố nên Ba đi làm và ít về nhà. Anh sống theo ý thích của mình. Lần gặp gỡ Cẩm ở bên thác và đêm ngủ lại ở nhà trọ để lại dấu ấn trong anh suốt đời. Vì thế mà anh li dị với vợ (Hà). Từ đó, anh luôn tìm kiếm Cẩm, đồng thời quan hệ và ngủ với nhiều cô gái khác. Cô gái chèo đò, cô gái tên Yên, cô gái ở quán massage… Hầu hết những cô gái đi qua đời anh đều có những phẩm chất giống mẹ anh. Với họ, “Anh chỉ là một kẻ lãng du, một kẻ qua đường lãng mạn và say đắm” (tr.283). Ba thương chị gái, vì chị thất nghiệp, chồng con chẳng ra gì. Nhưng kỷ niệm với gia đình làm anh nhói lòng. Ba nghĩ mình có lỗi trong cái chết của thầy chủ nhiệm. Khi Ba bị viêm phổi, trong cơn đau miên man, hồi ức của anh cứ trở lại. Có lần anh gặp lại vợ cũ ở biển. Hà đi với người đàn ông trung niên giàu có. Ba thấy anh mắt Hà xa lạ, dửng dưng, quên lãng. Trước khi bị bạo bệnh, Ba về thăm nhà bố mẹ, ăn bữa cơm ngon (tr.274). Đứng trước cái tủ bố cất những cuốn sách Ba đã biên tập và in, Ba nhận ra mình sai (tr.276). Khi thăm mộ cha mẹ,  “Anh đứng trước mộ bố mẹ và cúi đầu xuống như đứa trẻ biết lỗi” (tr.277). Khi cơn bệnh đã trầm trọng, Ba nghĩ đến những đứa con. Nếu có con, nếu đứa trẻ giống anh, nó sẽ luôn đau khổ, đời nó sẽ không bình thường như những người khác (tr.284). Anh quyết định phần lớn tài sản gửi vào các trại trẻ mồ côi. Cơn sốt lại ập đến, anh mơ hồ cảm nhận một bàn tay phụ nữ và một đứa trẻ có đôi mắt giống Cầm đang đứng ở cuối giường. “Anh thấy mình chơi vơi giữa một đám bướm khổng lồ và tan biến như tro bụi” (tr.285).

Tự chọn cuộc sống của riêng mình, cuối cùng Ba đã nhận ra sai lầm. Dù mặt nổi của Ba là cuộc đời của một người lập dị, thích cô độc, nhưng trong sâu thẳm tâm hồn Ba vẫn nặng tình với những người thân yêu. Và phút cuối đời mình, anh vẫn mơ hồ có được niềm an ủi khi có Cầm và đứa con đứng bên cạnh.

Nếu Ba là con người ký ức thì B là con người hiện tại. B làm biên tập viên đã 20 năm, thích sự yên bình, phụ nữ và rượu ngon (tr.187). “Phòng của anh là một không gian u uất” (tr.9) Anh sống cô độc trong sự bủa vây của bóng tối. “Anh muốn sờ chạm, hít ngửi sự cô độc và hoang lạnh của bóng tối. Anh biết rằng có rất nhiều linh hồn đang di chuyển” (tr.249). Anh đã đốt rất nhiều bản thảo mà anh cho là nhạt nhẽo. B luôn lo sợ và bất an. Anh sợ “những trang viết chạm đúng tim đen của anh, khơi ra những tội lỗi, mong muốn thầm kín của anh, sỉ vả và buộc tội khiến anh phải dằn vặt rất lâu sau đó” (tr. 103). B sợ cả những bản thảo mình biên tập, sợ những thứ ghê gớm mà chúng chất chứa. “anh sợ toàn bộ con người, tính cách, thói quen và sở thích của anh sẽ bị phơi bày” (tr.94).

B bị ám ảnh bởi tiếng lóc bóc trong phòng mà anh không sao tìm ra nguyên nhân. Anh bị đồng nghiệp là Mạo và Ngụy rình rập, theo dõi và gây áp lực. Cả những người đã chết mà anh tìm thấy ảnh trong nhà kho, và những hình nhân trong cái hang dưới kẽ nứt ở góc sân cũng gây cho anh nỗi bất an. Cái chết của một ông già có bản thảo bị anh đốt làm anh day dứt. Anh bị mọi người kết án là “kẻ kiêu ngạo, bảo thủ và không biết điều” (tr.262); “là thằng khốn kiếp và ích kỷ, một kẻ độc ác và tàn nhẫn, vô lương tâm và bạc bẽo, vô đạo đức, trụy lạc dâm dật (tr.263) “…anh giống như một quái vật, một nhân vật không thể dung hòa, không thể lại gần, như một kẻ lập dị đầy bí hiểm” (tr.113). Anh lâm vào tình trạng bị ảo giác thường xuyên. Ảo giác về cô gái váy đen. Sau nhiều lần truy đuổi, B gặp được cô gái. Anh và cô gái vào khách sạn ở tầng cao nhất. B chiếm hữu cô gái. Sau đó cô ta mọc ra đôi cánh như loài bướm và bay hút vào không gian của đêm (tr.209). Mạo đã tự tử chết vì thuốc ngủ nhưng nhiều lần B vẫn nghe tiếng Mạo cười trong quán cà phê, nghe tiếng khóc của bản thảo bị đốt rụi (tr.217). B như người mộng du (tr.218). Có khi anh lại cho chính mình đang theo dõi mình (tr.226). Có lần anh nói với Ngọc rằng anh muốn giết người vì chán nản (tr.117), và tự thấy mình là kẻ sát nhân (tr.167). Nhiều lần anh đã hãm hiếp Ngọc một cách dữ dội và điên cuồng (tr.58, 87). Anh đã nghĩ đến sự biến mất (tr.114), và cả sự hủy diệt (tr.115)…Và sau cùng B đã tự sát trong chính cái lò anh thiêu bản thảo.

Những biểu hiện tinh thần của B có thể giải thích bằng y khoa. B bị chứng “tâm thần phân liệt”, nhưng bản thân B không biết. Có lẽ do áp lực quá lớn của môi trường làm việc. Trước đó, người tiền nhiệm ở trong phòng của B cũng tự sát vì trầm uất (tr.56). Người bạn đồng nghiệp lả Mạo cũng đã uống thuốc ngủ tự tử, bạn đồng nghiệp thay Mạo là Ngụy thì tự cắt tai minh. Và B cũng không tránh khỏi chứng trầm uất. Anh vừa cứng đầu vừa sợ hãi bất an; vừa kiêu ngạo, độc ác vô lương tâm vừa “nổi gai ốc” trước sự đe dọa trừng phạt của bóng tối (tr.244). Cuối cùng B cũng tự sát như một người có y thức rất sâu về chính mình.

Nhà văn đã chỉ ra hậu quả thảm khốc của tư tưởng cá nhân muốn được là chính mình, khẳng định sự tồn tại của cái tôi:“Tôi có bản thân mình”, khẳng định ý chí và tự do: “không muốn làm theo ý muốn của người khác “(tr.210). Tác phẩm miêu tả sự tồn tại cái cá nhân cực đoan chống lại tất cả, sẵn sàng phản bội cái cũ (truyền thống) để cái mới ra đời; sự đề cao một lối sống chỉ cho riêng mình, tự do tuyệt đối (như con sóc, tr.112, 225), rượu và đàn bà, chống lại tất cả như B, chống lại bố như Ba, đều là sai lầm và đưa đến hậu quả thê thảm.

Ba và B trở thành sự đề xuất của tác giả về giải pháp vượt qua sự thê thảm. Sau cùng, khi trở về nhà và ra thăm mộ cha mẹ, Ba biết mình sai. Ba hiểu ra tình thương yêu của bố, ba nhận ra tất cả những người đàn bà đi qua đời anh đều có nét giống mẹ. Anh giã từ cuộc đời trong ước mơ hạnh phúc với người phụ nữ và đứa con gái nhỏ có đôi mắt giống Cẩm, người anh tìm kiếm suốt đời.

Ba và B  là một bản gốc, nhưng là hai phiên bản (version) khác nhau. Tác giả đề xuất với người đọc như một tác phẩm mở (The open work – Umberto Eco), từ đó gợi mở với người đọc về nhiều vấn đề tư tưởng. Có thể chứng tâm thần phân liệt của B là một cái cớ để nhà văn rạch những đường phẫu thuật rất sâu vào thực tại, về “quyền lực của bóng tối” (tr. 244), thân phận con người (Ba, B, Mạo, Ngụy, người tiền nhiệm của B) và sự băng họai của xã hội như sự đổ vỡ gia đình (gia đình Ba), tình trạng các cô gái nổi loạn (tr. 229), nơi làm việc, cơ quan trở thành địa ngục (tr.259).

Những giấc mơ, những ảo giác, những hoang tưởng của B và của Ba, trước hết là những biểu hiện của bệnh tâm thần của nhân vật, nhưng có sự giao thoa rất tinh tế với những ẩn dụ nghệ thuật mà người đọc không thể bỏ qua (vì không hiểu, hay chỉ coi đó là triệu chứng của căn bệnh). Tiếng lóc bóc trong phòng của B, theo với B suốt tác phẩm có thể chỉ là một âm thanh ảo của chứng tâm thần (vì mọi người không nghe thấy), nhưng về nghệ thuật đó là âm thanh của sự đe dọa, gần như một sự khủng bố. B vào nhà kho nói chuyện với các bức ảnh và xuống hang qua kẽ nứt ở góc sân nói chuyện với những hình nhân, cả bức ảnh treo trong phòng phó Giám đốc quắc mắt nhìn B (tr. 234) không chỉ là sự hoang tưởng tâm thần, nhưng còn là ẩn dụ về thế giới của bóng tối, là sức mạnh của bóng tối, điều ai cũng có thể nhận thấy trong xã hội hôm nay. Con sóc đực xuất hiện nhiều lần cũng là một ẩn dụ, và thật ngỡ ngàng khi B lại đập chết con sóc ấy (tr. 245).

Nói như vậy để thấy rằng, tác giả đã làm cho ngôn ngữ có cả xác và hồn. Và việc nắm được hồn cốt của tác phẩm mới là điều người đọc cần hướng tới.

DƯ ÂM

Thú thực rằng tác phẩm không dễ đọc và có lúc tôi đã định bỏ cuộc. Chỉ khi tìm ra chìa khóa cấu trúc tác phẩm tôi mới tìm thấy lối đi vào thế giới mênh mông của tư tưởng và nghệ thuật. Đôi khi tôi bị xô giạt bởi những ý nghĩ Cô Độc là một tác phẩm văn chương hiện sinh mà Ba và B thể hiện khá rõ. Đó là sự cô độc, là tự do tuyệt đối, trong ý thức “Tha nhân ấy là địa ngục” (J. P. Sartre). Sống là đi về cái chết. Hiện sinh quy tử, con người trong cuộc sống bị dồn đuổi đến chết. B chuẩn bị và đi đến cái chết một cách bình thản như một Con Người, nhẹ nhàng mà lẫm liệt: “Bổn phận của mi là lên đường đi đến hố thẳm, một cách im lặng, một cách rộng lượng và không hy vọng”. (Nikos Kazantzakis, Ascèse-dẫn theo Phạm Công Thiện). Những ngẫm nghĩ ấy đem đến cho tôi sự thú vị, bởi văn chương Việt Nam, với Cô Độc, đã vượt qua giới hạn của sự “phản ánh hiện thực” mà tiếp cận đến kiểu văn chương tư tưởng. Rất tiếc là ngòi bút của Uông Triều chưa tiếp cận được cách miêu tả dòng chảy ý thức của nhân vật tư tưởng trong văn chương Hiện sinh. Hư cấu sáng tạo khá phong phú nhưng màu sắc thẩm mỹ của các chương đoạn chưa thật ấn tượng, điều này dễ làm đuối sức người đọc.

Dẫu thế nào, Cô Độc vẫn đang thách thức các nhà phê bình văn học. Và tôi nghĩ, cuốn sách rất xứng đáng với công sức viết suốt 3 năm của tác giả. Tác giả bộc bạch  điều này: “CÔ ĐỘC đến với đời thật cô độc nhưng rồi nó sẽ không cô độc khi có những người hiểu và tri âm với nó”. Đó là lời mời gọi tri âm.

 

Tháng 11 năm 2019

_____________________