BÀI VIẾT CỦA BÙI CÔNG THUẤN

BÀI VIẾT CỦA BÙI CÔNG THUẤN

Trên trang: buicongthuan.blogtiengviet.net

http://buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

***

CA KHÚC, TRUYỆN NGẮN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Bạn bấm vào đường link để đọc

NHỮNG MÙA VÀNG VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM (Sách)

Những mùa vàng văn học Công giáo Việt Nam. Bùi Công Thuấn. Lý luận phê bình. Nxb Hội Nhà Văn 2020

NỘI DUNG

Bùi Công Thuấn

NHỮNG MÙA VÀNG

VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM

Lý luận phê bình văn học

***

MỤC LỤC

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. Tư tưởng Mỹ học Ki tô giáo. tr.7

2. Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam và Những vấn đề. tr,18

3. Phân kỳ lịch sử văn học Công giáo Việt Nam. tr.44

4. Văn hóa Công giáo trong lòng văn hóa dân tộc. tr.53

NHỮNG KHUÔN MẶT TIÊU BIỂU

1. Song Nguyễn-Nhà văn Công giáo giàu sức sáng tạo. tr.72

2. Song Nguyễn và văn chương Công giáo. tr,83

3. Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. tr.99

4. Thơ Trăng Thập Tự. tr,106

5. Thơ Xuân Ly Băng. tr.124

6. Lê Đình Bảng-Quỳ trước đền vàng (Thơ). tr.147

7. Lê Đình Bảng- Hành hương (Thơ). tr.166

MÙA VÀNG VĂN CHƯƠNG

1. Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam (Tổng quan). tr.187

2. Có một vườn thơ đạo (Tổng quan). tr.114

3. Mười năm Giải VHNT Đất Mới. tr.231

4. Ôi tội hồng phúc-Nguyễn Phương Thảo. tr.244

5. Con Hoang-Hà Thị Diễm Thúy. tr.247

6. Bé Hai– Phạm Vinh Sơn. tr.254

7. Hương Thạch Thảo-Phạm Thị Lành. tr.263

8. Ngã lên cỏ thơm-Nguyễn Văn Học. tr.266

9. Những ngày còn lại-Trần Thị Sương. tr.270

10. Chàng xe ôm-Nguyễn Thị Chung. tr.274

11. Giải Viết văn đường trường 2016. tr.276

12. Giải Viết văn đường trường 2017. tr.301

13. Trò chuyện với nhà thơ Lê Đình Bảng. tr.324

***

(Bìa sau)

GHI CHÚ

Một số bài đã có trên website: vanthoconggiao.net và website: vanhoadatmoi.net, các bạn có thể tìm đọc.

Những bạn có nhu cầu nghiên cứu văn học Công giáo cần tài liệu, xin liên hệ với tác giả theo email:

buicongthuangm@gmail.com , tác giả sẽ gửi sách biêu.

Trân trọng

NÉT ĐẸP VĂN HÓA CÔNG GIÁO TRONG THƠ LÊ ĐÌNH BẢNG

NÉT ĐẸP VĂN HÓA CÔNG GIÁO

TRONG THƠ LÊ ĐÌNH BẢNG

(Đọc tập thơ Ơn đời một cõi mênh mang. 2014)

Bùi Công Thuấn

***

           

Văn hóa là một đề tài rộng. Ở Việt Nam về địa lý, có 7 vùng văn hóa với những đặc điểm khác nhau: văn hóa đồng bằng sông Hồng, văn hóa Tây Bắc, văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam bộ…; có những tiểu vùng văn hóa như văn hóa Huế, văn hóa Kh’mer Nam Bộ. Ngoài ra còn có sự giao lưu văn hóa như văn hóa Phật giáo, văn hóa Công giáo, văn hóa Pháp, văn hóa Chăm…

Những vấn đề rộng của Văn hóa xin không bàn đến trong bài viết này. Chỉ xin giới hạn trong một số thành tố văn hóa để xem xét đặc điểm thơ Lê Đình Bảng trong tập Ơn dời một cõi mênh mang.

VẺ ĐẸP NGÔN NGỮ

            Ngôn ngữ là thành tố quan trọng bậc nhất của văn hóa. Bởi có ngôn ngữ mới có tư tưởng, thi ca, nghệ thuật, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống (là những thành tố khác của văn hóa). Ngôn ngữ không chỉ là ký hiệu (Ký hiệu học), cũng không chỉ là Cái Biểu đạtCái được biểu đạt (Ferdinand de Saussure)…Ngôn ngữ chứa đựng trong nó tư tưởng, lịch sử, nghệ thuật và thế giới tinh thần (của một dân tộc, một thời đại) và nhiều thành tố văn hóa khác. Nếu chỉ dùng Ký hiệu học hay lý thuyết ngôn ngữ cùa Saussure thì không thể nào đọc được kinh vô ngôn của Phật giáo (giống như thầy trò Tam Tạng thỉnh được bộ kinh không có chữ).

            Khi Đức Giêsu nói:”Lòng tin của con đã cứu chữa con” (Mt 8, 18-26), thì câu nói ấy không chỉ có nghĩa thông tin, không chỉ là ký hiệu chữ, mà Lời của Chúa chứa đựng một tín niệm căn cốt của Kitô giáo, đó là Đức tin.

            Nguyễn Du viết: “Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”(Đoạn trường tân thanh). “Chữ tâm” không chỉ là ký hiệu chữ, mà chứa đựng toàn bộ Lý giải thoát và con đường tu tập Phật giáo, bởi “Tâm tức Phật/ Phật tức tâm/ Tức tâm tức Phật/ Thời thời như vậy”(Kệ)

Ngôn ngữ có nhiều chức năng: vừa là công cụ giao tiếp, công cụ tư duy. Ngôn ngữ còn có chức năng hành động và là phương tiện sáng tạo nghệ thuật.

Trong sáng tác thơ ca, ngôn ngữ là yếu tố quyết định giá trị thơ và năng lực thi nhân. Phong cách của một tác giả trước hết được xác lập bởi việc sử dụng lời.

            Lời thơ Lê Đình Bảng có những đặc điểm gì?

            Thơ Lê Đình Bảng có nhiều lớp ngôn ngữ. Trước hết là khẩu ngữ dân gian vùng đồng bằng Bắc bộ (Thái Bình), đan xen với vốn từ của văn chương cổ điển (điển tích trong thơ văn cổ Trung quốc). Đặc biệt là lớp từ vựng mới là những điển ngữ Kinh thánh được Việt hóa. Từ đó Lê đình Bảng sáng tạo một kho từ vựng cho riêng mình.

            Đây là ngôn ngữ cổ điển

            “Thế sự thăng trầm quân mạc vấn

Yên ba thâm xứ hữu ngư châu” (tr.30). 

      (Trong bài thơ Uống rượu tiêu sầu II của Cao Bá Quát)

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”(tr.57).

          (Đoạn trường tân thanh-Nguyễn Du)

            Xót cho những Kinh Kha chí lớn

Ở bên kia ngọn sóng tràng giang (tr.59)

                   (Điển: Năm 227 trước Công Nguyên,  Kinh Kha sang Tần hành thích Tần Thủy Hoàng nhưng bị thất bại. Xin đọc bài thơ Dịch Thủy ca của Kinh Kha và Dịch Thủy tống biệt của Lạc Tân Vương)

            Đây là ngôn ngữ dân gian kết hợp với điển ngữ Kinh Thánh:

Mẹ đã dạy con học ăn học nói

Làm dấu, dâng mình sớm tối, chiều trưa

Một chữ cắn đôi, Mẹ có đi học bao giờ

Sao, kinh sách lẽ đời, trong lời ru văng vẳng

Nào hạnh tích, sấm truyền, nào ca dao vè vãn

Lần chuỗi đưa con, nhịp võng sau hè

Con lớn dần và chợt hiểu khi nghe

Cám ơn Mẹ, mỗi sớm tinh mơ gọi con đi lễ

Quãng lội, đường mưa, lạnh cắt thịt da

Mau đến nhà thờ, kịp lúc cha ra

Hôm nay lễ kính Đức Bà dâng Con, làm phép nến

Cảm ơn Mẹ đã dạy con cầu nguyện

Phó thác đời con làm của lễ thiêng liêng

Con chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi

Rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá

                                 (Cám ơn mẹ)

Chỉ một đoạn thơ ngắn của Lê Đình Bảng cũng hội tụ nhiều lớp ngôn ngữ.

Lớp từ ngữ: “học ăn học nói”, “Một chữ cắn đôi”, “lạnh cắt thịt da” là thành ngữ dân gian. Hình ảnh mẹ dạy con lẽ đời, ru con bằng ca dao theo “nhịp võng sau hè” là những hình ảnh dân dã đậm Việt tính của mọi bà mẹ Việt Nam. Chất dân dã trong thơ Lê Đình Bảng còn bao trùm vũ trụ thơ Lê Đình Bảng ở những bài ông viết theo “thể hứng” của ca dao.

Lớp từ ngữ:“Làm dấu, dâng mình sớm tối; kinh sách, hạnh tích, sấm truyền, vãn, lần chuỗi,” lúc cha ra”,“lễ kính Đức Bà dâng Con, làm phép nến”, “Phó thác đời con làm của lễ thiêng liêng”; Con chỉ là hạt bụiRơi xuống đất “là ngôn ngữ “nhà đạo” (ngôn ngữ hàng ngày của người Công giáo).

Những từ ngữ đó gợi ra một nền giáo dục Công giáo, một nét sinh hoạt gia đình ở nhà người có đạo. Làm việc gì, người theo Chúa cũng “lần chuỗi” cầu nguyện với tâm tình “phó thác”. Ru con, thay vì kể chuyện cổ tích cho con nghe, người mẹ quê đã kể hạnh tích, sấm truyền, tức là chuyện về đời sống đạo hạnh của các vị thánh (gọi là Hạnh các thánh), và các truyện tích trong Kinh thánh (Sấm truyền). Mỗi sáng sớm, dù đường từ nhà đến nhà thờ phải qua “Quãng lội, đường mưa, lạnh cắt thịt da”, mẹ cũng gọi con dậy đi dự thánh lễ cho kịp “lúc cha ra” (không được đi trễ). Con lớn lên trong bầu khí ngôn ngữ, đạo hạnh, nề nếp sinh hoạt thánh thiện ấy.

            “Ngôn ngữ nhà đạo” chiếm một lượng lớn trong vốn từ của Lê Đình Bảng. Người đọc lần đầu tiếp cận thơ Lê Đình Bảng sẽ ngỡ ngàng về vốn từ giàu có, mới mẻ ấy. Về phương diện này, Lê Đình Bảng đã góp phần làm mới, làm giàu ngôn ngữ thi ca Việt đương đại. Điều đặc biệt là, ngôn ngữ nhà đạo, vẫn tự nhiên, nhuần nhuyễn và gần gũi với người đọc, không gây trở ngại gì cho việc tiếp nhận. Tôi cho đó là tài năng ngôn ngữ mà Lê Đình Bảng kế thừa được từ kinh nghiệm sử dụng và sáng tạo từ của dân tộc.

            Xin đọc lại tứ thơ

Con chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi

Rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá

        Về ngữ nghĩa, câu thơ này không có gí khó hiểu, người đọc bình thường có thể tiếp nhận một cách tự nhiên.

Đặc sắc sáng tạo là ở chỗ, Lê Đình Bảng kết hợp hai điển ngữ Kinh Thánh:

Thứ nhất, Sáng Thế Ký viết “Ðức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật”.”Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất.” (St 2,7 và St 3, 19).

Thứ hai: dụ ngôn Người gieo giống (Lc 8, 5-8). Đức Giê su nói với đám đông dụ ngôn này: “Người gieo giống đi ra gieo hạt giống của mình. Trong khi người ấy gieo, thì có hạt rơi xuống vệ đường, người ta giẫm lên và chim trời ăn mất. Hạt khác rơi trên đá, và khi mọc lên, lại héo đi vì thiếu ẩm ướt. Có hạt rơi vào giữa bụi gai, gai cùng mọc lên, làm nó chết nghẹt. Có hạt lại rơi nhằm đất tốt, và khi mọc lên, nó sinh hoa kết quả gấp trăm“.

Con chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi

Rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá

Câu thơ ánh lên một tư tưởng mới. Hạt bụi không trở về cát bụi mà trở thành cây xanh tốt. Trịnh Công Sơn viết: “Hạt bụi nào hóa kiếp nên tôi/ Để một mai tôi trở về cát bụi” hàm chứa cái bi đát của đời người. Trái lại, Lê Đình Bảng hướng về phía sự sống, sinh sôi tốt tươi: “Hạt bụi…rơi xuống đất để nẩy ngành xanh lá”.

Cái nhìn của người theo Chúa luôn là vậy, luôn nhìn về phía sự sống. Đức Giêsu nói: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6).

Trong thí dụ trên, Lê Đình Bảng có cách dùng diển ngữ Kinh thánh rất hay. Hai điển ngữ với ý nghĩa tương phản lại dệt được một tứ thơ tư tưởng đặc sắc, mới mẻ; đồng thời nhà thơ nói với người đọc trải nghiệm tâm linh của mình, rằng, từ những lời đạo hạnh mẹ dạy, con đã trưởng thành lên xanh tốt trong đời.

Tôi đã gặp được những từ ngữ này của nhà đạo trong thơ Lê Đình Bảng (xin chỉ nêu thí dụ): Của lễ trên bàn thánh, của lễ thiêng liêng, quê trời muôn phúc thật, dư đầy ơn thiêng, lời kinh sốt mến (tr. 28), tràn trề ân sủng (tr.97). Lời hằng sống. Giọt máu cuối cùng trên thánh giá; về Emmaus, lễ mở tay, tiến lên bàn thánh; Hoa Mân côi nở bốn bề dậy hương (tr.90), Phiên chầu lượt (tr.83); Như men, muối (tr.62); mặc áo tân nương/ tiệc cưới / về đồng cỏ / Con nguyện tin, yêu, phó thác / thông công, Hôm qua, hôm nay, mãi mãi / ở trong nhà Chúa (tr.63), hạt mầm gieo vãi (tr.107). Đỗ cụ, làm cha.(tr.66)… Hầu hết những từ này hàm nghĩa của Kinh Thánh.

Tôi đặc biệt chú ý đến lớp từ  Lê Đình Bảng sáng tạo riêng. Nó là dấu ấn phong cách của thơ ông. Lê Đình Bảng dùng nhiều hình ảnh của đồng bằng Bắc bộ. Thơ của ông ở bái nào cũng là hình ảnh thiên nhiên cao rộng khoáng đạt (trời cao xanh, núi non mây ngàn, sông nước tràng giang, trùng dương mênh mang…)

Biển trời, mây nước mênh mông

Một đi, chín nhớ, mười mong nỗi nhà

(Con là khách ở quê ra)

Đây Xóm Chiếu của bờ xôi ruộng mật

150 năm canh thức dầu đèn (tr.44)

Mau chân với, về thông công đại lễ

Cứ lung linh xiêm áo mới dầu đèn

                         (Trẩy hội lên đền)

Lạy trời, đổ xuống sương mưa

Chân mây mặt đất lưng bờ tràng giang

                 (Lạy trời đổ sương mưa)

Có lẽ nhà thơ tâm đắc hai chữ “sương mưa” và bờ xôi ruộng mật”. Ông dùng hai từ này nhiều lần ở nhiều bài thơ khác nhau.

Hai từ này được Lê Đình Bảng sáng tạo từ kho từ vựng Kinh thánh.

Sách Asaia (Is 45, 8) viết: “Trời cao hỡi, nào hãy gieo sương, mây hạy đổ mưa, mưa đức công chính; đất mở ra đi cho nẩu mầm ơn cứu độ, đồng thời chính trực sẽ vươn lên…”

Sách Xuất hành (3, 1-8) kể lại cuộc gặp gỡ của Môise với Chúa ở núi Horeb. Chúa hứa với ông: “Ta xuống giải thoát chúng (dân Do Thái khỏi tay người Ai Cập), và đưa đến miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật”.

Lê Đình Bảng là dân Thái Bình nông nghiệp, đồng chiêm, đồng trũng; đắp đập, be bờ; lúa mùa tốt tươi. Ông đem hình ảnh này tháp nhập vào “miền đất tràn trề sữa và mật” của Kinh thánh, thành một từ vừa quen, vừa mới: “bờ xôi ruộng mật”.

Bờ xôi ruộng mật” là hình ảnh một miền quê ruộng đồng màu mỡ trù phú. Lúa nếp vàng ươm, thơm tho bao nhiêu là sôi. Cánh đồng mía tốt tươi, ngọt ngào bao nhiêu là mật: “Xem mía trổ cờ, rươi chín đỏ/ Thuyền qua sông Hóa, trắng mây bay” (tr. 69); vừa là miền “đất hứa” trong Kinh Thánh.

Những sáng tạo ngôn ngữ mới lạ như vậy tạo nên phong cách nghệ thuật của thơ Lê Đình Bảng.

Lê Đình Bảng còn đưa vào thơ rất nhiều địa danh, tạo nên tính hiện thực và tính hiện đại trong thơ (điều này ca dao đã có). Đoạn thơ sau đây dày đặc những địa danh ghi dấu chân Lê Đình Bảng, cũng đồng thời bày tỏ nồng nàn một tấm lòng với quê hương của nhà thơ.

Tôi về quê mẹ-Thái Bình đây

Cờ bay hay tóc em bay, nhỉ

Thơm ngát đường thôn lúa gặt đầy

Lấn biển, quai đê, Tiền Hải đấy

Kiến Xương, Thái Thụy, Vũ Thư này

Hưng Hà nhãn tiến vua sai trái

Chén rượu Đồng Châu ai tỉnh say

Xem mía trổ cờ, rươi chín đỏ

Thuyền qua sông Hóa, trắng mây bay

Ai về An Vỹ sang Lương Đống

Làng Thọ, làng Vân tay nắm tay

                        (Thái Bình ca)

Sự pha trộn ngôn ngữ đồng bằng Bắc bộ với điển ngữ Kinh thánh đem đến một vẻ đẹp mới cho ngôn ngữ thi ca. Những nội dung, tư tưởng Kinh Thánh trở nên gần gũi quen thuộc, và ngược lại ngôn ngữ dân dã chứa đựng hàm nghĩa mới từ Kinh Thánh. Đấy chính là vẻ đẹp của ngôn ngữ thi ca Công giáo (một mặt rất quan trọng của văn hóa Công giáo) trong tiến trình hội nhập với văn hóa dân tộc.

Về hành động ngôn ngữ, với vốn từ phong phú từ Kinh thánh, Lê Đình Bảng đã dẫn người đọc rời bỏ bầu khi văn hóa cổ điển Trung quốc (những Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Vương Duy, Lạc Tân Vương…) mà tiến vào thế giới tinh thần phương Tây (Cựu Ước và Tân Ước), vào bầu trời thần học Kitô giáo, khác hẳn với vũ trụ Thiên Mệnh của Nho giáo, Đạo “vô vi” của Lão giáo và Bát chánh đạo của Phật giáo.

Cũng bằng hành động ngôn ngữ, nhà thơ đã “sống đạo”, đã “loan báo Tin Mừng” theo cách của người nghệ sĩ. Vốn điển ngữ Kinh thánh của Lê Đình Bảng giúp người đọc hiểu được lý tưởng thẩm mỹ, ý thức sáng tạo của nhà thơ. Điều này giúp định vị thơ Lê Đình Bảng, một tiếng thơ khác biệt với thơ thế tục.

NÉT ĐẸP NGƯỜI CÔNG GIÁO

            Nói văn hóa là nói đến con người.Loài vật chỉ có bản năng, không có văn hóa. Sự trỗi dậy của bản năng nơi con người chính là sự tha hóa, suy đồi. Người ta đánh giá một con người bằng những ứng xử văn hóa của người ấy.

Cho nên, nói về vẻ đẹp văn hóa Công Giáo, trước hết hãy quan sát những chân dung, những hình tượng người Công giáo trong thơ Lê Đình Bảng.

Trong thơ lê Đình Bảng, hình tượng người mẹ Công giáo khá đậm nét.

Trên bến vắng đò khuya lau lách

Tiếng đàn ai dặm khách trăng soi

Đêm nay bếp lửa ai ngồi

Hắt hiu đường vắng bóng người về thôn

Súng nổ vang phía đồn Kha-Lý

Từ Vân Am, Xá Thị, Quỳnh Côi

Đêm đêm mưa đạn tơi bời

Dưới hiên thềm đá mẹ ngồi cầu kinh

Rồi lửa ngút giặc tràn quê nội

Mẹ con mình khăn gói đi mô

“Hoạt Thành, Tiên Lãng ra tro

Thụy Anh, Vĩnh Bảo ăn no kẹo đồng”

Mẹ ơi, sao mẹ không than thở

Dù đói no, sầu khổ, buồn vui

Chúng con vẫn nhớ nụ cuời…

            (Khóc mẹ)

                        Nhớ ngày rày năm xưa

                        Mẹ ngồi lần tràng hạt

                        Đợi con dưới phương đình

                        Rưa hè vẳng lời kinh

                        Nghe ca vè Cụ Sáu

                                    (Về quê nhà Phát Diệm)

            Nhân vật người mẹ Công giáo có những phẩm chất của người mẹ Việt Nam (cần cù, chịu thương chịu khó, giàu đức hy sinh, thương chồng thương con,..), nhưng Lê Đình Bảng tô đậm hình ảnh mẹ ngồi lần tràng hạt, mẹ ngồi cầu kinh, dù trong hoàn cảnh gian khổ hay trong bom rơi đạn nổ. Hình như tất cả những gian nan hiểm nguy đối với mẹ, không gây ra sự lo sợ, thảng thốt, bi đát nào, mặc dù có những nỗi buồn được chôn kín trong lòng, và những nỗi truân chuyên không tỏ lộ. Do đâu người mẹ Công giáo có sự bình tâm ấy? Là do mẹ cầu nguyện phó thác mọi sự trong tay Chúa với một lòng tin kiên vững, dẫu có sóng gió ba đào thì Chúa luôn che chở giữ gìn. Đức Giê su nói: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” (Ga 14, 27). Như vậy vẻ đẹp văn hóa Công giáo ở người mẹ chính là vẻ đẹp đức tin trong mọi cảnh đời, sống tinh thần phó thác.

            Vẻ đẹp người công giáo cũng đậm nét trong bài thơ Những người anh em tôi

Anh em tôi

những người lên non xuống bể

Ngước nhìn trời, gối sóng mà bơi

Giữa trầm luân, giữa tục lụy phần đời

Vẫn yêu lấy chiếc áo dòng ngày xưa mẹ sắm

Anh em tôi

những người ở tận vùng sâu, xa lắm

Xứ đạo nghèo, bốn mùa cây lúa chẳng ra bông

Lũ trẻ thơ bỏ học, mò cua bắt ốc ngoài đồng

Của lễ mọn là chục trứng gà, một hai nải chuối

Có những lứa đôi yêu nhau, chẳng đủ tiền cheo cưới

Hoa mẫu đơn vẫn đỏ thắm vườn nhà

Cố quên đi những tháng ngày lầm than, cơ nhỡ

Anh em tôi

những người nông dân chân đất

Cũng lên bờ xuống ruộng như ai

Cũng tro phân, chèo chống, cấy cày

Để lời Chúa mọc lên từ biển phèn mặn chát

Họ thủy chung như tấm lòng của đất

Họ bồng bềnh như con nước, tuần trăng

Chẳng bao giờ tham đó bỏ đăng

Vui lúa mới, buồn mùa màng thất bát

Nhà thơ ghi nhận nhiều cảnh đời gian nan, vất vả, khốn khó trăm điều, “bồng bềnh như con nước” của những người anh em (cần hiểu người anh em trong Kinh thánh), song tất cả đều không thở than. Họ vẫn vui sống và bằng lòng mang lấy phận người để “Hoa mẫu đơn vẫn đỏ thắm vườn nhà”, “Để lời Chúa mọc lên từ biển phèn mặn chát”. Tất cả những người Công giáo ấy, dù là tu sĩ hay giáo dân nghèo khổ, họ đều là con dân Việt, đậm phẩm tính Việt. Nhưng họ còn có thêm vẻ đẹp mới. Họ giữ gìn phẩm hạnh và sống Lời Chúa giữa mọi người, họ bình tâm gieo trồng Lời Chúa giữa biển đời mặn chát. Họ không coi kiếp người là kiếp khổ (“Đời là bể khổ”). Họ không cho rằng những khổ lụy phải chịu là do nghiệp quả. Không oán trời, không trách người như văn thơ cổ:

Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

(Văn tế thập loại chúng sinh-Nguyễn Du)

Cả Truyện Kiều (Đọan trường tân thanh) và Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn du đều là tiếng kêu thương bi đát, bế tắc về phận người. Trái lại, Lê Đình Bảng đã ghi được vẻ đẹp văn hóa Công giáo nơi những người sống đức tin ở giữa cộng đồng. Họ vác thập giá và đi trong sự bình an của Đấng Phục sinh. Nét đẹp ấy khác hẳn những triết lý thế tục về con người trước kia.

GIA ĐÌNH, LÀNG QUÊ CÔNG GIÁO

            ThơLê Đình Bảng không phải là thơ “phản ánh hiện thực”. Hơn nữa, bút pháp của ông là bút pháp của thơ Lãng mạn (1930-1940), dùng nhiều hình ảnh tượng trưng. Thơ phát triển theo mạch cảm xúc dào dạt của tâm trạng nhà thơ; vì thế nếu muốn tìm hiểu hiện thực gia đình, làng quê Việt Nam trong thơ ông, thì đó là điều bất khả.

Lê Đình Bảng không miệu tả những cảnh sưu thuế phi nhân như trong Tắt Đèn (Ngô Tất Tố), không có những phận người chết đói và cả chết no trong nỗi nhục (truyện Nam Cao), cũng không lên tiếng về những điều chà đạp lên nhân phẩm như trong Thời xa Vắng (Lê lựu)…

            Mặc dù cũng chịu đau thương bởi chiến tranh, bởi đói nghèo nhưng Gia đình, làng quê Việt Nam trong thơ Lê Đình Bảng thấm đẫm vẻ đẹp văn hóa Công giáo. Vẻ đẹp ấy tỏa sáng từ mẫu gương Thánh gia (Chúa Giêsu – Đức Mẹ và Thánh Giuse). Trong gia đình này cả ba vị đều là đấng thánh. Gia đình Công giáo Việt Nam và sống ơn gọi nên thánh. Làng quê Việt Nam nhộn nhịp tươi vui trong mùa Nô-en, rộn ràng lễ hội 40 ngày Chay thánh và Phục Sinh. Khác hẳn với làng quê trong thơ thế tục lặng lẽ bầu khí tâm linh Phật, tiếng chuông chùa tiễn ngày tàn vào hư vô…

                        Sớm chiều ba cứ đinh ninh

Mỗi khi lần hạt, đọc kinh, nguyện cầu

Ngủ đi con, ngủ thật lâu

Đã nghe sương xuống mái đầu bạc phơ

                                                       (Ru con)

Đây, trọn vẹn một niềm thuận thảo

Làm lễ dâng, lòng đạo, đức tin

Chắp tray, miệng hát muôn kinh

Chúa thương, phù hộ, giữ gìn Mẹ luôn

                                    (Mẹ là bóng cả cây cao)

Vẫn cái gốc chân quê mình mãi mãi

Vẫn một sương hai nắng mẹ ra đồng

Vẫn thân cò lặn lội ở bờ sông

Cha cày ải trên cánh đồng chiêm trũng

Em hái đầy thuyền hoa sen hoa súng

Chở hết chiêm bao dâng trước bàn thờ

Ôi đức tin đã vàng óng chanh mơ

Và lòng đạo đã chín mùi thơm thảo

Mấy trăm năm là mấy mùa giông bão

Mỗi bước ta đi chân cứng đá mềm

Cứ mơ hoài được trong ấm ngoài êm

Vì nước mắt đã trào ra từ đấy

                        (Trên đỉnh Trường Sơn)

Xin cứ hái những nhành hương vừa ý

Bồ câu ơi, bay lên, rợp ngoài đồng

Em có về quê lúa của nhau không

Vẫn đỏ thắm hoa vông, vào vụ gặt

Từ những buổi hừng đông đi vỡ đất

Đồng trũng, đồng chiêm, mùa gạo tám thơm

Tháng Giêng này, bông trĩu hạt, vườn ươm

Rộn ràng làng quê, chiếu chèo mở hội

Những cô tấm vừa lớn khôn như thổi

Rủ nhau đi, xiêm áo mới, dầu đèn

Cứ như thuyền ra nước lớn, triều lên

Mắt sáng, môi tươi, đàn ca nhã nhạc

                        (Khi trăm họ một nhà)

Nửa thế kỷ, tôi lìa xa quê mẹ

Nay trở về, đôi mắt cứ rưng rưng

Qua những cánh đồng nhòa nhạt hơi sương

Qua những đường thôn rạ rơm sũng ướt

Về Trà Vy đúng vào phiên chầu lượt

Giăng mắc cờ hoa như chốn kinh kỳ

Hình như là ai giữ bước chân đi

Thiêng liêng quá, đất và người yêu dấu

Ở đâu đó những lũy tre, hàng dậu

Ôi dạt dào, những cảm xúc, tôi nghe…

Lời mẹ ru hay nhịp võng sau hè

Ai vẫn đợi ngoài bến sông xưa cũ

Chùm mẫu đơn nở trong vườn nhà xứ

Em kết thành đôi hoa đỏ hồng hồng

Để hôm nào, ra đầu ngõ ngóng trông

Ai cuối bãi, ai đầu ghềnh xa lắc

Đã lâu lắm, tôi xa quê bằn bặt

Nhớ ngày xưa còn cắt cỏ, chăn trâu

Đâu những bến bờ trong, đục, nông, sâu

Đâu những chân đê, bếp chiều lên khói

Tôi nghe rõ mỗi gập ghềnh trôi nổi

Mấy mươi năm dài hơn cả đời người

Nghe tiếng chuông chiều, ra ngắm mây trôi

Đứng trước hàng hiên, gửi hương cho gió

                        (Nhớ Trà Vy)

Những trích đọan thơ trên đủ vẽ ra bức tranh làng quê Công giáo đẹp, êm ả với nhiều nét đẹp văn hóa mới. Vẫn là một vùng quê nghèo, người dân lam lũ “một nắng hai sương”, vẫn những “thân cò lặn lội bờ sông”. “Mấy trăm năm là mấy mùa giông bão”, những cánh đồng nhòa sương, những đường thôn ướt sũng rơm rạ, tiếng mẹ ru võng sau hè, bếp chiều lên khói cùng với tiếng chuông chiều đưa hồn ta lên trời; nhưng nhà thơ lắng nghe được những dạt dào cảm xúc sau lũy tre, hàng dậu, trong những phiên chầu lượt, làng quê giăng mắc cờ hoa như chốn kinh kỳ…thật thiêng liêng, thật thắm thiết nghĩa tình.

Về Trà Vy đúng vào phiên chầu lượt

Giăng mắc cờ hoa như chốn kinh kỳ

Hình như là ai giữ bước chân đi

Thiêng liêng quá, đất và người yêu dấu

            Tứ thơ này thật mới lạ và quyến rũ

Em hái đầy thuyền hoa sen hoa súng

Chở hết chiêm bao dâng trước bàn thờ

Ôi đức tin đã vàng óng chanh mơ

Và lòng đạo đã chín mùi thơm thảo

            Nét đẹp văn hóa làng quê Công giáo trong thơ Lê Đình Bảng  là nét đẹp của “đức tin vàng óng chanh mơ”, là “lòng đạo thơm thảo” trong cả một “thuyền đầy hoa sen hoa súng dâng trước bàn thơ”. Một làng quê bình an, vừa sôi nổi sức sống lại vừa lắng đọng niềm tin yêu. Điều này khác hẳn với thơ hiện thực về làng quê. Có nỗi xót xa, hiu hắt.

                        Quê hương anh nước mặn đồng chua

                        Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá…

                        Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay…

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài miếng vá..

            (Đồng chí-Chính Hữu)

Tôi thấm thía cái tình làng nghĩa xóm của người nhà quê khi một người trong làng qua đời:

                        Trải qua một cuộc bể dâu

                        (Những điều trông thấy mà đau đớn lòng)

Trời mênh mông đất mênh mông

Nghìn thu cách mặt xa lòng từ đây

Hôm nay có một người nằm ngủ

Dưới tàn cây cổ thụ xanh tươi

Máu ngừng reo, tắt nụ cười

Mà xe thiên cổ đưa người về đâu

Chúng tôi xin được giã từ

Người đi đi mãi tít mù tăm hơi

Đau thương chẳng nói lên lời

Nguyện xin được hưởng quê trời, Amen

            (Nhớ ông giáo Hà Nam)

TRẨY HỘI LÊN ĐỀN”

Ở Việt Nam có nhiều lễ hội. Có những lễ hội lịch sử: Giỗ tổ Hùng Vương, Lễ Hội Gióng, Lễ hội đền Hai Bà Trung, Lễ hội Gò Đống Đa. Có lễ hội tâm linh: Trẩy hội Chùa Hương, Hội Lim, Lễ  hội Katê của người Chăm ở Ninh Thuận, Lễ hội Cầu Ngư (Huế), lễ hội Tháp Bà Ponagar ở Khánh Hòa, Lễ hội Căm Mường ở Lai Châu, Lễ hội Bà Đen, lễ hội vía Bà Chúa xứ…

Các lễ hội là dịp để con dân Việt trở về lịch sử, cội nguồn, gắn kết cộng đồng, hun đúc tính yêu quê hương đất nước. Lễ hội cũng thể hiện những khát vọng tâm linh. Người ta cầu cho quốc thái dân an…

Trong tập Ơn đời một cõi mênh mang có nhiều bài “Trẩy hội”, gắn liền với những sự kiện lớn của Giáo hội Công giáo Việt Nam: Về Sở Kiện về Thăng Long hội ngộ (Khai mạc Năm Thánh 2010), Về phương Nam trẩy hội (Đại hội Dân Chúa 2010), Về La Vang trăm họ một nhà (Bế mạc Năm Thánh 2011), Khi trăm họ một nhà, Cho trần gian được sống dồi dào (Kỷ niệm 150 năm thành lập GP Huế)…

Mặc dù cũng là “trẩy hội” song lễ hội Công giáo hoàn toàn khác với lễ hội dân gian cả về nội dung và hình thức tổ chức. Lệ hội Công giáo có phần lễ là chính. Phần này theo đúng nghi thức của Roma trong việc cử hành các phụng vụ tế lễ tôn vinh Thiên Chúa. Phần “hội” thường chỉ là dịp để muôn dân khắp bốn phương trời hội ngộ, có dịp đến thánh địa kín múc ơn thiêng. Không có các nghi thức, các “trò” như trong lễ hội dân gian.

Nhà thơ Lê Đình Bảng không viết về phần phần “Lễ” mà tập trung miêu tả tâm trạng của người dự “hội” khi được gặp mặt người anh em khắp Trung, Nam, Bắc.

Trong các tập thơ của Lê Đình Bảng, những bài thơ về lễ hội có một mạch cảm xúc đặc biệt dào dạt phơi phời, cảm xúc của người đi dự lễ hội với một tâm hồn bay bổng như cánh hồng ngàn khơi. Những tay bắt mặt mừng, những gọi nhau ơi ới, những chuyện trò miên man, những níu kéo không dứt ra được. Muôn người cùng hòa một nhịp trái tim, cùng hát một khúc hoan ca của một đức tin trào dâng như sóng muôn trùng, của lòng mến rực sáng như lửa cháy.

            Có lẽ đây là những bài thơ đúng với tầm vóc của hồn thơ Lê Đình Bảng. Một Cái Ta quảng giao, Cái Ta nhập vào cộng đoàn lễ hội, Cái Ta bay bổng non ngàn, trùng khơi khắp ba miền. Mạch thơ cuồn cuộn dào dạt cùng với đoàn người trẩy hội. Ông hay dùng từ “trẩy hội lên đền”. Từ này bao hàm nghĩa của Kinh thánh.

Ơi những liển-em liền – chị Kinh Bắc

Đã xôn xao lời biển gọi trào dâng

Từ buổi truyền tin Mẹ nói “xin vâng”

Mau chân nhé, bởi hồn đương thổn thức

Hôm nay trời và đất đã gồm thâu…

Ngày hội trùng dương tay bắt mặt mừng

Ngồi cùng bàn, góp gạo thổi cơm chung

Để chia sẻ những buồn vui, đắp đổi

Ba miền đất ba dòng sông vời vợi

Một trái tim sôi tràn lửa Đa Minh

Giữ gìn nhau bền đỗ để làm tin

Như men, muối giữa trần gian giông gió

                        (Khi trăm họ một nhà)

Nay, trăm họ một nhà, vui hội ngộ

Tiệc đoàn viên, mừng lịch sử sang trang

Cao vút mây xanh, rực rỡ đền vàng

Nhà Chúa ngự  đẫm mùi hương trầm quế

Mau chân với, về thông công đại lễ

Cứ lung linh xiêm áo mới dầu đèn

Người bên người, như lớp lớp triều lên

Chung tiếng hát lời kinh mừng năm thánh

                                        (Trẩy hội lên đền)

Tay bắt mặt mừng vui trẩy hội

Người đi như nước mấy hôm liền

Hôm nay, mở cửa Thiên Đàng đấy

Để thấy từ Tiên Tri, Sấm Truyền

Lời Chúa đã đi vào cuộc sống

Nảy ngành xanh ngọn, trái nhiều thêm

                     (Vườn Xoài ơi vỗ tay reo)

Về Trà Kiệu, về quê hương, nhà Mẹ

Ghé Hội An, ra phường phố đông ken

Trong đêm giã hoa, Ngũ Xã đỏ đèn

Cờ xí rợp trời đức tin vàng đá

            (Tháng 5 về quê Mẹ Trà Kiệu)

Mau lên nhé, rủ nhau về đi lễ

Về La Vang, để cầm trí cầm lòng

Nơi bến bờ gặp gỡ những dòng sông

Con cái Mẹ từ muôn phương hội ngộ

Đêm nay, La Vang pháo hoa rực rỡ

Mắt lệ trào dâng, òa vỡ trong mưa

Ơn nhiệm màu đẫm vào nhạc vào thơ

Sao, ngây ngất bởi lời kinh sốt mến

Mau lên nhé quỳ bên nhau cầu nguyện

Vì đêm nay, đêm nhật nguyệt ra đời

Bốn phương trời, mười phương đất xa khơi

Đêm trừm tịch, đêm bồi hồi chờ sáng

Mau lên nhé, kẻo núi mòn sông cạn

                                                (Về La Vang trăm họ một nhà)

Nét đẹp của văn hóa Công giáo trong các lễ hội là tinh thần của người đi dự lễ. Lòng chung lòng, nghiêm trang cầu nguyện. Họ đắm mình trong câu kinh tiếng hát và mở lòng ra hướng về Thiên Đàng.

Người gọi người, “mau lên nhé”.”Bốn phương trời, mười phương đất xa khơi” cùng về đây, “Tay bắt mặt mừng vui trẩy hội/ Người đi như nước mấy hôm liền”; “Người bên người, như lớp lớp triều lên/ Chung tiếng hát lời kinh mừng năm thánh”; “Mau lên nhé quỳ bên nhau cầu nguyện”; “Hôm nay, mở cửa Thiên Đàng đấy”.

Ôi thật là linh thiêng, thật là xúc động: “Mắt lệ trào dâng, òa vỡ trong mưa/ Ơn nhiệm màu đẫm vào nhạc vào thơ/ Sao, ngây ngất bởi lời kinh sốt mến”. Triệu triệu con tim, triệu triệu tấm lòng cùng cất lời ca tụng Thiên Chúa và chia sẻ niềm hân hoan như ngày xưa Phêrô được Chúa đưa lên núi thánh (Mt 17, 1-9). Mỗi cử chỉ mỗi, mỗi hành vi đều hết sức giữ gìn trang nghiêm. Tình hiệp thông, sự gắn bó khắp muôn phương chưa bao giờ đẹp như thế.

Tất cả tinh thần thánh thiện ấy, thái độ tham gia lễ hội thành tín, trang nghiêm của mỗi giáo dân chính là nét đẹp văn hóa Công giáo trong đời sống cộng đồng mà các lễ hội dân gian không có được.

Tài năng của nhà thơ Lê Đình Bảng là vừa chụp ảnh được toàn cảnh “trăm họ một nhà, vui hội ngộ”, “Ngồi cùng bàn, góp gạo thổi cơm chung/ Để chia sẻ những buồn vui, đắp đổi”; vừa ghi được ánh hào quang tinh thần của “đêm nhật nguyệt ra đời”, và kìa! “Cao vút mây xanh, rực rỡ đền vàng/ Nhà Chúa ngự đẫm mùi hương trầm quế”.

Thơ ca Việt Nam có rất ít những bài thơ về lễ hội miêu tả cái tinh thần chung của “trăm họ một nhà, vui hội ngộ”. Có chăng chỉ là những tâm tình riêng, chuyện tình riêng đôi lứ khi đi dự lễ hội. Bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp có cái hay tả cảnh, tả tình từ góc nhìn cá nhân một cô gái 15 tuổi, nhưng có cái xô bồ, trần tục của bối cảnh.

Sau núi Oản, Gà, Xôi,
Bao nhiêu là khỉ ngồi.
Tới núi con Voi phục,
Có đủ cả đầu đuôi.

Chùa lấp sau rừng cây.
(Thuyền ta đi một ngày)
Lên cửa chùa em thấy
Hơn một trăm ăn mày.

                                    (Chùa Hương-Nguyễn Nhược Pháp)

Thơ Lê Đình Bảng ghi được nét đẹp văn hóa lễ hội Công giáo. Đó là đóng góp riêng của nhà thơ vào thơ ca Việt đương đại. Mảng thơ này của Lê Đình Bảng bộc lộ rõ nhất sự tài hoa, phóng khoáng của thi nhân. Thơ mở rộng biên độ không gian, thời gian. Cái Tôi được giải phóng để hội nhập với cộng đồng. Vì thế,  dù Thơ Lê Đình Bảng nằm trong thi pháp thơ thơ Lãng mạn (1930-1945) với rất nhiều hình ảnh tượng trưng, nhưng đã có những bước phát triển mới mẻ.

CÁCH NHÌN LỊCH SỬ

            Tập thơ Ơn đời một cõi mênh mang còn có những bài thơ thể hiện cái nhìn lịch sử dân tộc và lịch sử Giáo hội Việt Nam. Nhà thơ giúp người đọc nhận ra vẻ đẹp văn hóa của một dân tộc trong tiến trình lịch sử, nhận ra vẻ đẹp của Giáo hội giữa những thăng trầm thế tục. Sự hội nhập văn hóa này xóa đi những định kiến lịch sử về đạo Công giáo ở Việt Nam một thời bị ngộ nhận.

            Lê Đình Bảng viết về Xóm Chiếu (thành lập năm1856), nhân dịp kỷ niệm 150 năm thành lập giáo xứ:

Trăm năm trước có ai về Xóm Chiếu

Ngút ngàn bên kia, kinh rạch chập chùng

Ngập mặn rừng chàm, bần đước, khe truông

Cá sấu, cọp, beo, muỗi mòng ve vắt

Và bao nỗi đau lặng thầm giấu mặt

Từ buổi hửng đông gieo vãi đức tin

Của những lưu dân từ Nghệ, Tĩnh, Bình

Quảng Trị, Thừa Thiên, Hội An, Nam Ngãi

Từ phương Bắc người tay bồng tay bế

Lại những lưu dân trốn chạy cùng đường

Ở Sài Gòn nên đồng khói đồng hương

Ở Xóm Chiếu nên đất lành chim đậu

Đây Xóm Chiếu của bờ xôi ruộng mật

150 năm canh thức dầu đèn

150 năm làm muối làm men

Một thời vỡ hoang một thời bão tố

Chúa dẫn chúng con băng qua Biển Đỏ

            (Hát bài trường ca Xóm Chiếu )

Nhà thơ nhìn những “nỗi đau lặng thầm giấu mặt/ Từ buổi hửng đông gieo vãi đức tin”của giáo dân lưu tán từ Nghệ, Tĩnh, Bình/ Quảng Trị, Thừa Thiên, Hội An, Nam Ngãi và cả những dân di cư từ miền bắc vào Xóm Chiếu bằng cái nhìn Đức tin.

Đây Xóm Chiếu của bờ xôi ruộng mật

150 năm canh thức dầu đèn

150 năm làm muối làm men

Một thời vỡ hoang một thời bão tố

Chúa dẫn chúng con băng qua Biển Đỏ

Dưới ánh sáng đức tin, người Công giáo nhìn những đau khổ, gian nan “Từ buổi hửng đông gieo vãi đức tin” (trải qua nhiều thời kì cấm đạo từ chúa Nguyễn đến thời Quang Trung, các vua nhà Nguyễn, phong trào “Bình Tây sát tả” của Văn Thân, những khó khăn trong chiến tranh, khó khăn khi đất nước bị chia cắt…). “Một thời vỡ hoang một thời bão tố” ấy là “bờ xôi ruộng mật”, là thời gian để giáo dân”canh thức dầu đèn”, “làm muối làm men” để rồi “Chúa dẫn chúng con băng qua Biển Đỏ” (Ba tứ thơ này hàm nghĩa Kinh thánh)

Một cái nhìn như thế về lịch sử, về giáo hội thể hiện nét đẹp văn hóa Công giáo, nét đẹp của sự nhận thức những chân lý lịch sử dưới ánh sáng Tin Mừng.

Và đây là nhận thức về lịch sử dân tộc:

            Đây, hoa gấm thành đô Tổ quốc

            Đây, uy linh cương vực giống nòi

            Dặm dài bờ cõi xa khơi

            Đông Sơn còn vọng tiếng người nghìn xưa

            Ai cưỡi sóng mở cờ báo tiệp

            Đuổi kình ngư, dựng nghiệp trong ngoài

            Nỗi nhà, vận nước hai vai

            Quyết đem chí lớn xây đài vinh quang

            Bạch Đằng Giang sấm vang chớp giật

            Ngập xác thù trôi dạt mênh mông

            Biển-trời-mây-nước Tây Đông

Sơn hà xã tắc con Rồng cháu Tiên

Khi quốc biến côn quyền hơn sức

Thuở binh đao thao lược đua tài

Bình Ngô Đại cáo giương oai

Thù trong mất vía, giặc ngoài khiếp run

Cha dong ruổi mài son đánh giặc

Mẹ tảo tần mài mực ru con

Hàm Rồng đứng giữa mưa bom

Trơ trơ dạ sắt, gan đồng Lam Kinh

Trước Tổ quốc anh linh tiên tổ

Chúng con nay làm giỗ lập đàn

Nguyện cầu Quốc thái dân an

Non sông mở mặt Việt Nam lẫy lừng

Lấy nhân nghĩa bao dung xử thế

Người với người, mở huệ tình thương

Lòng thành nguyện với hoa hương

Trăm muôn vạn lạy mười phương đất trời

                        Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi vinh hiển

Lạy Nữ Vương Vô Nhiễm từ bi

Khi buồn vui lúc an nguy

Công cha nghĩa mẹ phù trì, ủi an

Chúng con nguyện chắp đôi tay

Chúa ban phần phúc dư đầy, Amen

                   (Bồi hồi bên sông Mã)

Bài thơ ghi: “Kính dâng tiền nhân tiên tổ xứ Thanh”, gợi cho người đọc một bề dày lịch sử của đất Lam Kinh, Thanh Hóa (Lam Kinh được nhà Lê xây dựng năm 1433). Trước Công nguyên, vùng đất Thanh Hóa nằm gọn trong quận Cửu Chân nước Âu Lạc (năm 111 trước CN). Nơi đây từng có cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu chống quân Đông Ngô (năm 248), nơi đây Hồ Quý Ly từng xây dựng Tây Đô (Thành nhà Hồ) và đóng đô (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Sau nhà Hồ, Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Thanh Hóa và hoạt động 6 năm ở đây (1418-1424). Xứ Thanh cũng là nguồn gốc của các triều đại lớn: Họ Lê, họ Trịnh và họ Nguyễn. Nhắc lại sơ lược một vài sự kiện lịch sử để thấy Xứ Thanh có vị trí quan trong trong lịch sử Việt, nơi anh linh tổ quốc hội tụ.

Lê Đình Bảng nhắc lại thời Văn hóa Đông Sơn (Làng Đông Sơn, Thanh Hóa là nơi có di chỉ khảo cổ nổi tiếng thế giới được phát hiện năm 1924) …Nhắc tới Lam Kinh, Bình Ngô Đại cáo là ghi nhớ công ơn khởi nghĩa Lam Sơn (Lê Lợi). Hàm Rồng là khu di tích lịch sử. Nhắc tới Hàm Rồng là nhắc đến những sự tích anh hùng của dân xứ Thanh.  Núi Rồng, sông Mã, động Long Quang là nơi ghi dấu nhiều danh nhân. Năm 1972, Mỹ dùng bom đánh phá cầu Hàm Rồng. Cầu do ngưới Pháp xây dựng năm 1904…

Cái nhìn của nhà thơ Công giáo Lê Đình Bảng về lịch sử dân tộc mình là cái nhìn thế nào?

Trước Tổ quốc anh linh tiên tổ

Chúng con nay làm giỗ lập đàn

Nguyện cầu Quốc thái dân an

Non sông mở mặt Việt Nam lẫy lừng

Lấy nhân nghĩa bao dung xử thế

Người với người, mở huệ tình thương

Đấy là cái nhìn về một đất nước “Địa linh nhân kiệt” (Đất linh thiêng sinh người hào kiệt) với lòng tự hào và biết ơn. Nguyễn Trãi đã khẳng định: “Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau/ Song hào kiệt đời nào cũng có” (Bình Ngô Đại Cáo). Lê Đình Bảng nhận ra một đặc điểm ưu việt của tổ tiên là: “Lấy nhân nghĩa bao dung xử thế/ Người với người, mở huệ tình thương” nên con cháu mới được hưởng phần phúc. Là một nhà thơ Công giáo, Lê Đình Bảng không chỉ biết ơn tổ tiên mà còn nguyện xin Thiên Chúa cho “quốc thái dân an, non sông mở mặt…”. Nhà thơ đã hòa nhập vào tinh thần chung của dân tộc này.

THAY LỜI BẠT

            Bài viết đã hơi dài, tôi không dám nhiều lời hơn. Chỉ xin chia sẻ điều này. Tập thơ Ơn đời một cõi mênh mang và những tập thơ khác cùa nhà thơ Lê Đình Bảng có một giá trị đặc biệt là thể hiện những nét đẹp văn hóa Công giáo trong sự hội nhập với lịch sử văn hóa dân tộc. Ông không chỉ giúp người đọc cảm nhận vẻ đẹp thơ ca mà còn giúp người đọc nhận ra vẻ đẹp người Công giáo, vẻ đẹp một gia đình Công giáo, làng quê Công giáo, lễ hội Công giáo và vẻ đẹp lịch sử dưới ánh sáng Tin Mừng.

Nhà thơ Lê Đình Bảng, từ khuôn mặt một thi nhân tài hoa lãng tử đã hiện lên những góc cạnh của một khuôn mặt văn hóa Công giao đương đại. Chất tài hoa kết hợp với sự uyên bác cùng với lòng nhiệt thành của một trái tim đầy ân sủng, Lê Đình Bảng đã góp cho văn học Công giáo những trang thơ văn độc đáo và giá trị.

Ông hiểu tất cả những điều ấy là do Trời, do đời cho ông.

Cảm ơn, Trời vẫn sương sa

Đã cho đất nở thành hoa, thành người…

Cảm ơn đòi đọan trăm điều

Nuôi ta đẫy sức nâng niu cuộc đời

Ngày mai tàn cuộc rong chơi

Ta xin làm đóa trăng soi bên Người

                     (Ơn đời một cõi mênh mang)

Tháng 6/2021

________________________

LÊ ĐÌNH BẢNG&HÀNH TRÌNH TƯ TƯỞNG

KINH BUỒN

VÀ HÀNH TRÌNH TƯ TƯỞNG CỦA LÊ ĐÌNH BẢNG

(Đọc tập thơ Kinh buồn của Lê Đình Bảng. Tác giả xuất bản 2012)

Bùi Công Thuấn

Nhà thơ Lê Đình Bảng đã in các tập thơ: Bước chân người Giao Chỉ (Sài gòn 1967), Hành hương (2006), Quỳ trước đền vàng (2010), Lời tự tình của bến trần gian (2012), Ơn đời một cõi mênh mang (2014), Kinh buồn (2014), và các tập thơ được phổ nhạc: Đội ơn lòng Chúa bao dung (2012), Lời khấn nhỏ chiều Chúa nhật (2012), Về cõi trời mênh mang (2012). Ngoài ra Lê Đình Bảng còn là nhà nghiên cứu có uy tín về lịch sử văn học Công giáo Việt Nam. Ông đã in “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường” (2010), và bộ sách  gồm 6 cuốn “Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam” (2009) do ông sưu tầm, nghiên cứu…

Kinh buồn là tập thơ thể hiện nhiều nỗi trăn trở của Lê Đình Bảng về lẽ trầm luân, còn – mất, tử – sinh của kiếp người, về đời hư huyễn phù vân, về sự ra đi của những người thân yêu. Kinh buồn không phải thơ tư tưởng nhưng là hành trình tư tưởng của Lê Đình Bảng một hành trình vật vã nước mắt để đến được bến bình an.

NHỮNG TRẢI NGHIỆM BỂ DÂU

Đọc những tập thơ khác của Lê Đình Bảng, người đọc chỉ thấy một nhà thơ tài hoa, phóng khoáng và say mê; bay bổng với những bài ca tuyệt vời về Cái Đẹp, về cuộc sống; về tình yêu, trong khộng gian và thời gian bát ngát tươi xanh. Đọc Kinh buồn, người đọc sẽ rất ngạc nhiên khi thấy nhà thơ đầm đìa nước mắt.

Con đã khóc, từ khi tấm bé

Những mùa Đông, mất mẹ mất cha

Ì ầm tiếng súng quê xa

Bên kia phòng tuyến, nhạt nhòa mưa bay

Con đã khóc những ngày trai trẻ

Mơ kiếm cung, dọc bể, ngang trời

Thế rồi, bèo dạt hoa trôi

Thuyền ra sông lớn, bời bời lòng đau

Con những tưởng rày trông mai nhớ

Sẽ phôi pha duyên nợ trần ai

Nào ngờ, sét đánh bên tai

Người đi, đi mãi bên ngoài thời gian

Khóc là khóc, lòng chưa giải hết

Đời ai không tử biệt sinh ly

Trông ra gò đống xanh rì

Trăm năm còn thấy, thấy gì nữa đâu

              (Như hoa thơm Chúa hái về )

Bài thơ gợi ra những nét rất đậm hành trình tư tưởng của nhà thơ Lê Đình Bảng trong  đời dâu bể. Nhà thơ đã chứng kiến, đã sống tận đáy cái hiện thực cùng cực, nghiệt ngã của lịch sử xã hội Việt Nam. Lê Đình Bảng sinh năm 1942, nghĩa là ông đã chịu đói lả những năm Ất Dậu 1945. Năm ấy hơn hai triệu con dân Việt chết đói. May mà ông thoát chết. Sau đó, dân tộc phải này phải hứng chịu mưa bom bão đạn trong 30 năm chiến tranh vệ quốc. Đau khổ, tang thương, ly tán không lời nào nói hết:

         “Đêm đêm mưa đạn tơi bời

Dưới hiên thềm đá mẹ ngồi cầu kinh”;

Rồi lửa ngút giặc tràn quê nội

Mẹ con mình khăn gói đi mô”

                      (Khóc mẹ).

Ì ầm tiếng súng quê xa

Bên kia phòng tuyến, nhạt nhòa mưa bay.

Mừng rằng đất nước đã hòa bình, thống nhất và phát triển, nhưng những vấn đề  về Con người vẫn còn đó. Số phận mỗi con người trong vòng tử sinh vẫn là con thuyền trầm luân trong bể khổ: “Thế rồi, bèo dạt hoa trôi/ Thuyền ra sông lớn, bời bời lòng đau”. Nước mắt chảy mãi không nói hết lời: “Khóc là khóc, lòng chưa giãi hết/ Đời ai không tử biệt sinh ly/ Trông ra gò đống xanh rì/ Trăm năm còn thấy, thấy gì nữa đâu”.

Hiện thực trần gian vẫn còn đấy.

Chúa có thấy chuyện bây giờ thuở trước

Vẫn những thằng Bờm, vẫn những phú ông

Vẫn những chợ phiên đổi chác bán buôn…

Hai nghìn năm vẫn dấm chua, mật đắng

Ôi, những vết thương chưa thể liền da.

                        (Lòng Chúa bao dung)

Trong thơ Lê Đình Bảng, có rất ít những câu thơ phản ánh hiện thực xã hội Việt Nam. Điều này khiến ông khác hẳn những nhà thơ lấy việc “phản ánh hiện thực” làm mục đích sáng tác. Có lẽ, là một nhà thơ lãng mạn, ông chỉ quan tâm đến Cái Đẹp, tìm và thể hiện Cái đẹp (chức năng chính của người nghệ sĩ); hơn nữa, thơ không thể sánh với văn xuôi trong việc ghi lại những cảnh đời, những biến động lịch sử, những tang thương dâu bể. Ở Miền Nam trước 1975, Ca khúc Da Vàng (Trịnh Công Sơn), Mùa hè đỏ lửa (Phan Nhật Nam),… đã miêu tả cụ thể những bi kich nghiệt ngã khốc liệt của chiến tranh mà người dân miền Nam phải chịu. Lê Đình Bảng chọn lựa con đường sáng tạo của riêng mình.

Lê Đình Bảng giữ thái độ vô ngôn trước hiện thực. Tâm thức ông thăng hoa thành những bài thơ “bờ sôi ruộng mật”, những vườn ngát hương hoa trái, những đỉnh non ngàn mây trắng bay, những bờ bãi mênh mông sóng nước.

Tôi nghĩ đến Nguyễn Du (1765-1820). Nguyễn Du hoàn toàn im lặng trước hiện thực xã hội Việt Nam thời Quang Trung-Gia Long. Tác phẩm của ông hầu hết lấy đề tài lịch sử, con người Trung Quốc (Bắc hành tạp lục). Qua đó ẩn chứa tư tưởng của ông về hiện thực. Có lẽ Nguyễn Du hiểu được lẽ hưng phế, hiểu được bản chất tang thương của thế sự, hiểu được bản chất thế tục của những tranh giành quyền lực, và ông chọn thái độ im lặng. Và ông bị phê phán ở thái độ này. Điều này không quan trọng, bởi Nguyễn du để lại nghìn sau những bài thơ chứa đựng những tư tưởng lớn.

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.

                                    (Tạp thi kỳ 1-Nguyễn Du)

Dịch nghĩa

Tráng đầu bạc đầu buồn nhìn lên trời,

Hùng tâm, sinh kế cả hai đều mờ mịt.

Lạy Chúa nhiều đêm con thức trắng

Để xem ngày tháng có dài thêm

Một mình con hắt hiu chờ sáng

Tháng Bảy trời mưa ngâu suốt dêm

     (Lời kinh khuya-Lê Đình Bảng)

Câu thơ “Tháng Bảy trời mưa ngâu suốt đêm” là ẩn dụ cho đêm đầy nước mắt. Đêm cũng là ẩn dụ cho cái nhìn về cuộc tang thương (thương hải tang điền). Nhà thơ chờ mãi, trong cô đôc, hiu hắt, nhưng đêm dường như dài thêm. Nhìn ra bên ngoài, vẫn là đêm chờ sáng. Soi vào hiện hữu, nhà thơ thấy gì?

Ta nhìn ta giữa chiêm bao

Thịt da, hoa lửa, má đào, tóc tơ

Ta nhìn ta hóa cây trơ

Hắt hiu trôi giữa đôi bờ tịch liêu

Một mình ta với mưa tuôn

Xem mây réo biếc, trận cồn kêu sương

Một mình ta giữa trăm muôn

Cái hương, cái tuyết, cái hồn phiêu linh

                      (Bên bờ tịch liêu)

            Điệp khúc “Ta nhìn ta”, “một mình ta”, là thái độ tự soi vào hiện thể, soi vào tận đáy lòng mình, soi vào bản thể của Ta, vào ba ngàn thế giới chung quanh ta; là thái độ tự thức, tự giác, tự gạt bỏ tất cả những gì ngoài Ta, không thuộc về Ta, để hiểu cho thấu bản thể của Ta trong cõi nhân sinh này.  Nhà thơ thấy mình chỉ là “cây trơ” “giữa đôi bờ tịch liêu”, chỉ thấy “một mình ta” (nỗi cô đơn hiện sinh) giữa những “kêu/ réo” của mưa tuôn, của mây biếc, của cồn đầy sương, của trăm muôn hình sắc phiêu linh. Những hình ảnh ẩn dụ này chính là cuộc đời “kêu/ réo” vây quanh. Cuộc đời xô bồ, ồn ào, đa mang, nhưng nhà thơ đã hóa “cây trơ” (không phải là cây khô, cây chết), một trạng thái “không tồn tại”. Hiện sinh mà không tồn tại, đó là trạng thái bi kịch.

            Bi kịch là ở chỗ còn vướng cái duyên cái nghiệp.

Năm mươi mùa lũ trôi qua

Mẹ cha giờ đã đi xa cuối trời

Cái thân làm tội cái đời

Cái duyên, cái nghiệp của người, của ta

                         (Trầm tư)

            Lê Đình Bảng dùng tư tưởng triết học Lão – Trang và tư tưởng Thiền để lý giải. Lão Tử nói “Hoạn hữu thân”[“Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vi ngô hữu thân; Cập ngô vô thân, ngô hữu hà hoạn?”– Lão tử – Câu 13 – Đạo Đức kinh]. Vì có Thân, nên ta phải họan nạn. Và Phật nói thêm. Hiện hữu (Thân) vốn là “Khổ” (Khổ đế trong Tứ Diệu đế – Kinh Chuyển pháp luân). Cái khổ truyền từ kiếp này đến kiếp lai sinh, bởi vì Thân là do nghiệp (Đã mang lấy nghiệp vào thân-Nguyễn Du). Nghiệp ấy do ta gây ra, nhưng nghiệp ta mang lấy cũng do kiếp trước và do người khác, mà Nghiệp là sợi dây trói (dù là thiện nghiệp hay ác nghiệp) trong quan hệ “duyên “ với ta (Lý Duyên khởi). Nhà thơ đã đi qua 50 năm mùa lũ cuộc đời trong sự trói buộc của Thân-Nghiệp ấy.

Chúa biết con nghèo, con đói rách

Trôi sông lạc chợ, sống cầm hơi

Chạy ăn từng bữa, qua từng bữa

Dang nắng dang mưa với đất trởi

Chúa bảo con, đường lên núi thánh

Ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh

Là băng qua núi cao rừng thẳm

Mỗi bước chân đi mỗi gập ghềnh…

Chúa bảo con mỏng dòn dễ vỡ

Ơ hờ cơn gió thoảng chiêm bao

Làm sao con dối lòng con được

Chỉ một chênh chao giây phút đầu

Ở bến trần gian đầy cám dỗ

Ngàn vàng mua lấy thú thương đau…

               (Suối nguồn yêu thương)

            Dưới ánh sáng tư tưởng thần học Kitô giáo, Lê Đình Bảng nhìn vấn đề rõ hơn. Tất cả những “mưa lũ”, những hoạn nạn do “Thân/ Nghiệp” của kiếp người đều đã được an bài. Đó là con đường phải đi qua. Con đường Thánh giá. Thân phận con người là một thụ tạo, mỏng dòn, bị trần gian cám dỗ. Chính tội lỗi đã trói buộc con người (không phải Nghiệp). Nói theo ngôn ngữ nhà Phật, con người bị “dính mắc” cái Nghiệp do chính mình tạo ra.

Chúa biết lòng con như chỉ rối

Sợi thưa mau, ngang dọc bời rời

Làm sao con gỡ mình ra được

Thôi, ngược dòng trôi, đuối sức hơi

Chúa biết đời con luôn vướng vít

Những là rầy nhớ với mai mong

Còn chi sau mỗi mùa thu hái

Những rớt rơi, từng hạt đắng lòng

Chúa bảo con xa đàng tội lỗi

Mà sao con nhắm mắt làm ngơ

            (Lời kinh khuya)

            Đọc những dòng  tâm sự của nhà thơ với Chúa, tôi nghĩ đến những thao thức của thánh Augustino (354-430) trong cuốn Tự thuật (Confessions). Augustino là  thánh Tiến sĩ của Giáo hội. Ông từng là một thanh niên sống sôi nổi, mê đắm trong những tham vọng trần gian như mọi Con Người ở trần gian này. Bởi con người là xác thịt, là bùn đất, là bản năng (Freud). Trần gian vốn là vậy. Là dính mắc, là cay đắng, là oan khuất ngậm ngùi, là nước mắt phôi pha, là “Không”. Một mình ta phải mang lấy.

Trần gian chẳng uống giùm cay đắng

Lệ đá xanh và cây héo khô

Nỗi chết có san bằng tất cả

Ba nghìn thế giới vẫn là không

                   (Mộ khúc)

Rồi đây người chẳng bên người

Hắt hiu cồn vắng, duềnh khơi giang hà

Cầm bằng giọt lệ phôi pha

Nửa người oan khuất, nửa ta ngậm ngùi.

                   (Nghìn sau)

TRA HỎI KHÔN NGUÔI

            Trải nghiệm một hiện sinh như vậy, nhà thơ đứng trước rất nhiều vấn đề tư tưởng.

Hỏi ngàn xanh lá đương xuân

Thoắt sinh sôi, đã lụi tàn, sầu đông

Hỏi đàn chim ngói qua sông

Trong hơi rét đậm, giữa đồng vàng khô

Cái gì như thể hư vô

Sao nghe rơi rớt những xô dạt buồn

            (Lời thì thầm của bụi tro)

            Đó là câu hỏi về hiện hữu, đương xuân đấy, thoắt cái đã lụi tàn, phải chăng hiện hữu là hư vô?  Nỗi buồn xô dạt hết phận người. Nhà thơ ngắm nhìn thiên nhiên và tra vấn (tra vấn là thái độ triết học). Thiên nhiên đâu có Thân, có Nghiệp như người, sao vẫn chịu quy luật của tàn phai hư vô?

            Thiên nhiên vốn vô ngôn, nhà thơ quay lại hỏi mình.

Ta về, gẫm lại thân ta

Thoắt trông tấc bóng ngày qua xuân thì

Ta về, hỏi gã Trương Chi

Tình muôn kiếp trước yêu vì những ai

Đêm đêm, ngọn lửa trăng chài

Đâu hồn phách ở cõi ngoài, hư vô

Ta về hỏi những xa xưa

Một vầng trăng lặn đáy hồ lặng thinh

Bụi tro là của riêng mình

Ừ, thôi tan tác giữa nghìn mênh mông

                     (Hư vô)

            Vẫn là câu hỏi về “Hữu thể và thời gian” (Sein und Zeit Martin Heidegger, 1889-1976): thoắt trong tấc bóng, thân ta đã qua tuổi xuân thì. Hỏi Trương Chi, đâu là duyên của muôn kiếp trước? (Truyện Trương Chi-Mị Nương). Hỏi, ánh trăng như ngọn lửa chài đêm đêm (một tứ thơ trong Phong kiểu dạ bạc của Trương Kế) đó là hồn của những ai? Nhà thơ đặt những câu hỏi về hiện thể, về “duyên-nghiệp”, hỏi về cõi âm; tức là từ thực tại đến siêu hình, từ hiện tượng đến tâm thức, tâm linh. Không có câu trả lời. Trăng dưới đáy hồ lặng thinh (Mỹ học Thiền). Đành vậy, rồi thân ta cũng là bụi tro tan tác vào nghìn mênh mông (hư vô).

Ngầm trong những câu hỏi về Hữu thể là những “xao xuyến” (anxiety) triết học về tính bất định, bất toàn, bất túc, hữu hạn của con người. Tồn tại là tồn tại quy tử (Being toward death – M. Heidegger).

Khi đã là tro bụi, nào ai còn nhận ra tro bụi của ai. Đó là nỗi bi đát hiện sinh (cay đắng). Thân đã là tro bụi, vậy mà con người vẫn mê lầm.

Tôi ru tôi, nỗi bọt bèo

Bởi hồn tơ tóc còn nhiều đắng cay

Bụi mình, bụi của ai đây

Sông Hằng xa tít chân mây, cuối trời

Bụi nào, bụi của thân tôi

Bụi ta huyễn hoặc, bụi đời lầm mê

             (Trăm năm tro bụi)

            Nhà thơ mượn cách lý giải của Phật. Đời là hư huyễn, là Không, vạn pháp là Không. Thân ta với ngũ uẩn cũng là Không. Nhưng con người cứ mê lầm là Có, để rồi quay quắt mãi trong giả niệm Có-Không, Còn-Mất, Sinh-Tử nhị nguyên không thoát ra được (Thiền thoại con chó có Phật tính không).

            Nhưng dường như lý giải của Phật không đủ thuyết phục, nhà thơ quay sang hỏi Chúa.

Con thường hỏi rất vu vơ

Chúa ơi, biết đến bao giờ đời con

Lặng thầm như đá trên non

Trơ thân trầm tích, vô ngôn giữa đời

Con thường hỏi giữa mênh mông

Chúa ơi, ngàn biếc chen hồng mà chi?

Mai kia, cỏ lá xanh rì

Trông ra mấy vạt tà huy mịt mùng

Con thường hỏi những trăng sao

Chúa ơi, quanh quất bến nào, đường quê

Ngước nhìn lên đỉnh Canvê

Nửa khuya thao thức còn nghe tiếng gà

Ở đây nhìn thấu xương da

Trăm năm còn mất, đâu là hợp tan?

Con thường hỏi những tro than

Chúa ơi, cả những phai tàn, về đâu?

                   (Tĩnh tâm)

            Vẫn là những câu hỏi về hiện thể (“đời con”), về “còn-mất” sinh tử, về sự tàn phai của “vạn pháp”, và tiến xa hơn, nhà thơ hỏi Chúa con đường nào về bến quê (Quo vadis?).

Tất nhiên là Chúa không trả lời. Câu trả lời ở trên đỉnh Canvê. Với người Công giáo, con đường Cứu Rỗi là con đường Thánh giá. Mỗi người tự vác thập giá mình theo Chúa, như Chúa đã vác thập giá và bị đóng đinh trên đồi Can vê để Cứu rỗi nhân loại.

Con đường Canvê là con đường Đức tin. Mà đức tin lại là điều mong manh nhất. Kinh Thánh đã chỉ ra điều này từ hai ngàn năm trước. Môn đệ Phêrô được Đức Giêsu trực tiếp dạy bảo. Nhiều lần ông khẳng định lòng tin của mình với Chúa. Vậy mà, ngay đêm Đức Giêsu  bị người Do Thái bắt, Phêrô đã chối Chúa ba lần trước lúc gà gáy, mặc dù Chúa đã cảnh báo ông ngay trong bữa tiệc ly trước đó.

Nha thơ tra hỏi về đức tin của chính mình.

Vâng, lạy Chúa, thiên đường chỉ có một

Mà nẻo về thì xa lắc xa lơ…

Con lạc giữa ngã ba đường thế kỷ

Lô xô quán không, hương khói nhạt nhòa

Đã mấy dặm dài lau lách, phù hoa

Đã mấy canh khuya lạc lầm, chia cách

Chúa ở xa con xa quá đỗi

Âm dương còn cách trở đôi bờ

Chiều nay ra ngóng con thuyền bé

Bằn bặt về đâu, sóng nhấp nhô…

            (Con biết tìm Chúa nơi đâu)

Giông bão ấy làm sao con đến được

Chỉ thấy hoa rơi và lá rụng đầy

Ôi đức tin con, ngọn cỏ lắt lây

Vâng, lạy Chúa, thiên đường chỉ có một

                       (Ngước trông lên Thánh giá)

            Thiên đường xa xôi quá. Chúa cũng ở xa quá. Nhà thơ lại sống giữa đời lầm lạc, như con thuyền bé trước biển đầy giông bão, làm sao đến đuộc đất hứa. Như âm dương cách trở, làm sao nhà thơ có thể đến với Chúa được, làm sao đến được Nước Thiên Đàng là nơi Chúa hứa thưởng ban.

Tra hỏi như thế là tra hỏi về căn cốt của Đức tin, là lộ ra một sự hoài nghi về chính hiện thể của mình, về chính “tồn tại”. Vực thẳm ngay dưới chân, nếu không có Ơn Cứu Rỗi, Con người không thể vượt qua vực thẳm. “Ôi đức tin con, ngọn cỏ lắt lây”.

Những khủng hoảng đức tin như thế bất cứ người theo Chúa nào cũng trải qua. Bởi ơn Đức tin là ơn Chúa. Không phải do nỗ lực ý chí của con người. Ánh sáng mạc khải ấy chỉ mở lối cho những tâm hồn bé mọn. Đức Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.”(Lc 10, 21) [Jesus said, “I praise You, Father, Lord of heaven and earth, that You have hidden these things from the wise and prudent and revealed them to babes. Even so, Father, for so it seemed good in Your sight].

May mà nhà thơ còn chút lòng tin của hạt cải li ti (Đức Giêsu nói với môn đệ: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: “rời khỏi đây, qua bên kia!” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được” (Mt 17, 20)

Chúa ở nơi đâu, gần xa cùng khắp

Đừng bỏ rơi con lạc lõng, mồ côi

Và ước chi trong thương tích của Người

Con tìm được một bến bờ nương náu

            (Lòng Chúa bao dung)

Con biết mình khô khan yếu đuối

Nhưng hằng tin được rỗi linh hồn

Từ trong giọt máu sau cùng ấy

Đã nhú chồi xanh mưng búp non

Lạy Chúa, chiều nay chân gối mỏi

Nhọc nhằn lên dốc núi chon von

Bài ca ai hát Exsultet

Có phải là lời Chúa gọi con

                      (Hát từ ngôi mộ trống)

Trên Thập giá, Đức Giêsu đã đổ hết máu mình để Cứu Rỗi nhân lọai. Nhà thơ tin rằng, trong giọt máu cuối cùng (một tứ thơ rất hay) chảy ra từ cạnh sườn của Chúa (do lưỡi đòng của nhân loại đâm thâu qua), mình cũng sẽ được cứu rỗi. Trong niềm tin ấy, khi nghe hát bài Exsultet (Bài công bố Tin Mừng Phục sinh), nhà thơ nghe tiếng Chúa gọi mình.

TRỞ VỀ

            Thực ra hiện hữu, hiện sinh vốn vô nghĩa (không có nghĩa). Người ta gán nghĩa cho nó để bám víu vào đó mà sống, mà hành động. Sự gán nghĩa này tùy theo nhận thức (Hiện tượng luận – E. Husserl-1859-1938) về cuộc đời và mục đích mà con người muốn đạt đến.

 Ý nghĩa đích thực của hiện sinh phải trong hai chiều kích. Chiều cao, chiều hướng lên, hướng về Thiên Chúa và chiều rộng, chiều ngang, chiều hướng về tha nhân. Ý nghĩa của hiện sinh không chỉ là chiều soi vào hiện thể của cá nhân để chỉ thấy buồn nôn, phi lý, xao xuyến, hư vô, chỉ thấy sống là đi về cái chết (Being toward death). Chết không phải là hư vô mà là sự sinh sôi. Lê Đình Bảng ý thức về bản thể trong mối tương qua đa chiều như vậy thật cụ thể.

Ta còn ở với dương gian

Để yêu, yêu lấy đời dan díu này

Để gieo hết hạt trong tay

Phơi phong hết nắng của ngày đương xuân

             (Ta còn để lại gì không)

Ơn đời nặng nghĩa bao dung

Gió ơi xin cứ nuôi rừng đầy hương

Trở về, làm hạt mưa sương

Thác sinh hẹn với vô thường, nghìn sau

              (Mượn lời thác sinh)

Ta đứng co ro, mình một bóng

Dưới hiên mưa ướt lối đi này

Mà xem đá rịn mồ hôi lạnh

Để nghiệm ra khoảnh khắc một đời

Vào cõi mênh mông thiên cổ lụy

Hạt mầm hư nát mới sinh sôi

                      (Nhớ)

Hóa ra, khi mở lòng ra với đời, khi nhận ra “ơn đời nặng nghĩa bao dung”, nhận thức được tương quan với người mới là bản chất của hiện sinh, và chỉ khi nhận ra “Hạt mầm hư nát mới sinh sôi”[“Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt.” (Ga 12,24)] thì những câu hỏi siêu hình mới được hóa giải.

            Nhà thơ thấy nhẹ nhàng, thảnh thơi.

Trở về thăm cội tùng xưa

Cùng rong rêu uống sương mưa đầm đỉa

Gối đầu bên rặng lau, nghe

Trong hơi gió thở, đêm khuya thì thầm…

Trở về ăn bát cơm chay

Quán thưa, rượu cạn, bàn đầy ly không

Trở về giục giã bên sông

Nước lên, thuyền cũng lên, trông gió mùa

                   (Một cõi đi về)

            Đó là tư tưởng “Vô vi” của Lão tử. Nói theo nhà Phật, khi đã an trụ Tâm, khi đã thoát khỏi cái Tâm sai biệt [“Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”-kinh Kim Cang], đạt đến Cái Tâm Bát Nhã (Bát nhã tâm kinh) thì con người mới thoát mê lộ. Bài thơ Tĩnh tâm là một bài tuyệt hay.

Con nhủ thầm mình vừa tỉnh cơn mê

Có lưu luyến, có bồi hổi, giục giã

Nên đâu dám ngửa tay xin phép lạ

Nhưng hằng tin có Chúa ở trong mình

Dặn lòng mình, khấn nguyện một lời kinh

Hãy cố nâng niu từng ngày sống một

Hoa có rụng, hãy rụng vào đất sạch

Trái còn xanh xin ở mãi trên nhành

Bên kia Biển Hồ, nước biếc non xanh

Cứ thả lưới ở mạn thuyền bên phải

Một lòng tin nhỏ li ti hạt cải

Để thuyền neo, tôm cá chở đầy khoang…

                          (Bên kia hồ yên ả)

Một ngày được ở trong nhà Chúa

Con sẽ đàn ca lên, hát vang

                (Suối nguồn yêu thương)

Khi đã tỉnh cơn mê, nhà thơ khẳng định một lòng tin. “Một lòng tin nhỏ li ti hạt cải/

Để thuyền neo, tôm cá chở đầy khoang” như các tông đồ của Đức Giêsu xưa. Họ thả lưới suốt đêm nhưng không được con cá nào. Nghe lời Chúa, Simon thả lưới bên phải thuyền thì lưới  đầy cá. (Lc 5, 5-7). Tin vào Chúa, nhà thơ hồi sinh tâm hồn, biết “nâng niu từng ngày sống”. Không bận tâm vấn đề Tử sinh. “Một ngày được ở trong nhà Chúa/ Con sẽ đàn ca lên, hát vang”.

            Nhà thơ cám ơn đời

Cảm ơn trời đất trăm năm

Bao nhiêu ơn xuống, mưa dầm thấm lâu

Kể từ con cá, lá rau

Cây kim, sợi chỉ thưa mau, cũng là…

               (Lênh đênh phận người)

THAY LỜI KẾT

            Trong tập Kinh buồn có một mảng thơ rất hay khác là những bài thơ viết về cha, mẹ, vợ, con, về những người thân yêu đã qua đời (đặc biệt hay là những bài viết về các Giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, GS Nguyễn Đăng Thục, Đức TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình, họa sĩ Giuse Bùi Liêm, Lm Nguyễn Phúc Dân…) . Những bài thơ này vừa kế thừa được dòng thơ về tình gia đình, tình bạn trong thơ truyền thống của dân tộc, vừa góp thêm một cách viết rất mới, rất tài hoa. Nhà thơ yêu thương, tiếc xót người thân yêu nhưng không bi lụy, không sa đà vào những tư tưởng siêu hình. Riêng tôi nghĩ, chính cái chết của những người thân yêu này gợi nhiều ý nghĩa về hiện sinh cho nhà thơ, và hơn thế, giúp nhà thơ ngộ ra nhiều chân lý của Kinh Thánh trong hành trình tư tưởng của mình.

            Là người tốt nghiệp Cử nhân Giáo khoa Việt Hán Đại học Văn khoa Sàigòn trước 1975, Lê đình Bảng am tường văn chương, tư tưởng phương Đông, nên nhận thức và kiến giải những vấn đề tư tưởng của ông thấm rất sâu triết học phương Đông (Phật-Nho-Lão). Và điều mới mẻ là trong thơ của ông, những tư tưởng Phật- Nho- Lão ấy, và cả triết học phương Tây, lại được ánh sáng Kinh thánh soi chiếu, nhờ thế con đường tư tưởng của Lê Đình Bảng khác hẳn nhà thơ xưa cũng như các nhà thơ đương đại (Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Tô Thùy Yên…).

Con đường tư tưởng ấy phù hợp với những lời chỉ dạy của Giáo hội trong Tông huấn Giáo hội tại Châu Á: “Á Châu cũng là chiếc nôi của các tôn giáo lớn trên thế giới -Do Thái Giáo, Kitô Giáo, Hồi Giáo và Ấn Giáo. Đó là nơi phát sinh nhiều truyền thống thiêng liêng khác như Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo…Giáo Hội giữ một niềm kính phục sâu xa nhất đối với các truyền thống này và tìm cách chân thành đối thoại với các môn sinh của truyền thống đó. Những giá trị tôn giáo họ truyền dạy, chờ được hoàn thành viên mãn trong Đức Giêsu Kitô”. (Tông huấn Ecclesia in Asia của Đức Giáo hoàng Gioan Phao lô II. Chương I, đoạn 6)  

            Tôi hình dung thế này. Các tập thơ khác của Lê Đình Bảng (Qùy trước đền vàng, Hành hương, Lời tự tình của bến trần gian…) là những bè phối khác nhau của một đại giao hưởng, và Kinh buồn là bè trầm (Bass), rất sâu, rất dày, đầy uy lực, có sức nâng đỡ để tất cả các bè phối ở trên cùng cất cánh. Thiếu bè trầm, giao hưởng sẽ rất mong manh và chênh vênh. Nhờ thế người đọc có thể nghe được tiềng gió thoảng đầy ắp không gian của violin, tiếng ngọt ngào lãng mạn của Guitar, tiếng trầm hùng như sóng ngầm đại dương của Cello, tiếng thánh thót như giọt sương rơi trên lá cỏ của Piano và tiếng hùng tráng, ào ạt, thúc giục của dàn kèn đồng, dàn trống trong buổi xuất hành. Nói như thế để thấy màu sắc thẩm mỹ và tư tưởng của thơ Lê Đình Bảng rất phong phú. Thơ Lê Đình Bảng hay, dễ đọc nhưng cũng có những đòi hỏi khắt khe.

            Đọc Kinh buồn, bạn đọc sẽ không thấy buồn, bởi nhà thơ đã dẫn chúng ta thoát khỏi những hư huyễn của bến trần gian mà bước vào cõi hoan ca an nhiên trong ánh sáng Exsultet của Tin Mừng.

Cảm ơn trời đất trăm năm

Bao nhiêu ơn xuống, mưa dầm thấm lâu

Kể từ con cá, lá rau

Cây kim, sợi chỉ thưa mau, cũng là…

                              (Lênh đênh phận người)

***

Tháng 6/2021

“NGHỆ THUẬT GIẤU MẶT” CỦA NGUYỄN HUY THIỆP

NGHỆ THUẬT GIẤU MẶT” CỦA NGUYỄN HUY THIỆP

Bùi Công Thuấn

 (Bài này đã đăng trên Văn Nghệ TpHCM, số 200, ngày 03.05.2012 và

 in trong Luận chiến văn chương-tập 3 của Chu Giang. Nxb Văn học 2015)

Nguyễn Huy Thiệp thường xuất hiện trực tiếp trong truyện để nói về việc mình đã viết câu chuyện này thế nào. Trong những trường hợp này, Nguyễn Huy Thiệp tự cho mình vai trò nhân chứng, là người tận mắt chứng kiến và kể lại câu chuyện. Đó là thủ thuật viết lách đánh lừa, để người đọc tin những câu chuyện Thiệp kể là có thật.

Mở đầu Vàng Lửa, Nguyễn Huy Thiệp kể lại việc mình nhận được thư của ông Quách Ngọc Minh, ngụ ở Tu Lý, huyện lỵ Đà Bắc bàn về truyện Kiếm Sắc. Ông Minh mời Thiệp lên chơi và hẹn cho Thiệp xem vài tư liệu. Nguyễn Huy Thiệp kể tiếp: ”Nhận được thư tôi đã lên thăm gia đình ông Quách Ngọc Minh. Những tư liệu cổ mà ông Quách Ngọc Minh gìn giữ thật độc đáo. Về Hà Nội tôi viết truyện ngắn này. Khi viết, tôi có tự ý thay đổi một vài chi tiết phụ và sắp xếp, chỉnh lý lại các tư liệu để hợp với việc kể chuyện”.

Mở đầu truyện Phẩm Tiết, Nguyễn Huy Thiệp cũng xuất hiện trực tiếp trong truyện và kể lại sự việc như sau: ”Việc tìm ra ngôi mộ cổ ở vùng lòng hồ trong khu vự thủy điện sông Đà khiến tôi lại lên Tu Lý, huyện lỵ Đà Bắc…Hôm dời mộ từ khu vực lòng hồ lên Tu Lý, tôi đã đến xem. Mộ ở vuông đất hẹp, bằng phẳng, cách bờ sông Đà hai trăm năm mươi mét, ở độ cao mười sáu mét kể từ mặt sông. Bao nhiêu năm nay chưa bao giờ lũ sông Đà ngập đến chỗ này”.

Mở đầu truyện Tội ác và Trừng Phạt, Nguyễn Huy Thiệp cà kê: ”Đã có nhiều bạn đọc đến với tôi, họ kể lể về cuộc đời, than phiền những điều bất hạnh trong số phận, mong muốn tôi viết “một cái gì đấy” về tội ác và trừng phạt. Mong muốn của họ chân thành và cảm động…

Cô gái 16 tuổi ngồi trước mặt tôi phạm tội giết bố và ba đứa em. Cô ta giết bố bằng rìu, khi ông ngủ say..

Kết thúc truyện Trương Chi, Nguyễn Huy Thiệp bày tỏ thái độ viết: ”Tôi –  người viết truyện ngắn này- căm ghét sâu sắc cái kết thúc truyền thống ấy…còn tôi, tôi có cách kết thúc khác. Đây là bí mật của riêng tôi…

Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện trực tiếp trong truyện là một đặc điểm (điều này không mới), nhưng trong nhiều truyện của Nguyễn Huy Thiệp, người đọc nhìn rõ, nghe rõ nhân vật đang hành động, nói năng trong không gian truyện, đang lớn dần lên trong sự phát triển cốt truyện. Ấy vậy mà ta có cảm giác, không hoài nghi, rằng Nguyễn Huy Thiệp đang phát ngôn trực tiếp quan điểm của mình qua nhân vật, không lầm lẫn đi đâu được, và đành chấp nhận sự đánh tráo nghệ thuật. Và nếu bạn đọc có “muốn bắt tận tay, day tận mặt” Nguyễn Huy Thiệp (tác giả), thì ngay lập tức Nguyễn Huy Thiệp biến mất. Nhân vật đứng án ngữ trước mặt ta, cảnh cáo ta: “Này đừng có ngu ngốc và dốt nát, nhân vật là nhân vật, nhân vật không phải là tác giả”. Tôi gọi đó là nghệ thuật giấu mặt của Nguyễn Huy Thiệp.

Có thể coi nghệ thuật giấu mặt của Nguyễn Huy Thiệp là một đặc điểm thi pháp, một đặc điểm phong cách, thể hiện cái “thâm” của tác giả, cái mà người ta gọi là ”tài” văn chương của Nguyễn Huy Thiệp. Bạn đọc cần phải nắm được cái chìa khóa này mới có thể  mở toang những ẩn mật đàng sau những con chữ.

NGHỆ THUẬT GIẤU MẶT LÀ GÌ?

Trong cuộc sống, bạn đọc có thể gặp nhiều trường hợp giấu mặt. Những người hoạt động bí mật trong lòng địch (thí dụ Phạm Xuân Ẩn) thì buộc phải giấu mặt, nghĩa là không được để lộ ra bất cứ chi tiết nào về nhân thân trước mắt kẻ địch, bởi sự lộ ra này sẽ là an nguy đến tính mạng. Ẩn mặt để tự bạo vệ. Ẩn mặt để thực hiện nhiệm vụ nào đó. Hầu hết những comment trên Internet đều là của những người mang mặt nạ.

Khi khán giả thấy nghệ sĩ hài Hoài Linh xuất hiện trên sân khấu trong tấu hài thi hoa hậu ba miền, thì trước mắt khán giả là hai con người. Một nghệ sĩ Hoài Linh có nhân thân cụ thể, không lầm lẫn với bất cứ nghệ sĩ nào khác, và một Hoài Linh đang diễn vai cô gái dự thi hoa hậu. Khán giả theo dõi và thưởng thức câu chuyện, nhưng đồng thời cũng theo dõi và thán phục Hoài Linh. Tất nhiên khi xem diễn, người ta xem nhân vật cô gái đang diễn trước mắt, còn nghệ sĩ Hoài Linh, cố giấu mình đi, cố ẩn mình đi trong hóa trang, trong hóa thân vào nhân vật, làm sao để người xem không thấy sự vụng về lộ liểu của màn diễn. Ẩn mặt là một yêu cầu nghệ thuật.

Cũng vậy, trong kỹ thuật viết truyện (truyện hư cấu-xin phân biệt với thể loại Ký, Tùy Bút…), tác giả không thể nhảy vào ngồi chồm hỗm giữa trang văn mà trực tiếp thuyết lý điều này, dạy bảo điều kia. Phải đọc những truyện như thế, người đọc không sao kềm chế được sự bực mình. Trong truyện (tự sự), câu chuyện phải diễn ra tự nhiên như nó đang diễn ra trong đời thực, người kể phải tuân theo những quy luật khách quan, tác giả không được bẻ cong hiện thực.  Tác giả chỉ có thể phát ngôn qua hệ thống hình tượng, đặc biệt là nhân vật, chủ đề, tư tưởng…Ẩn mặt trở thành nguyên tắc sáng tác truyện. Ngay cả Nguyễn Khải trong Một Người Hà Nội, dù tác giả ghi rõ tên mình (đồng chí Khải), ghi rõ mình ở Sài gòn ra thăm Hà Nội, thì đồng chí Khải ấy cũng chỉ là một nhân vật, không phải tác giả. Đó cũng là một cách giấu mặt. Việc tự nêu tên mình làm nhân vật chỉ là thủ thuật của bút pháp, là cách đánh lừa độc giả rằng, đây là truyện thật, truyện của tôi, tôi là người trong cuộc kể lại, tôi là nhân chứng sống, và những gì tôi nói là đáng tin.

Trường hợp của Nguyễn Huy Thiệp không phải thế. Tác giả núp sau nhân vật, điều khiển nhân vật, và dùng miệng nhân vật trực tiếp phát ngôn quan điểm của mình. Đây là nghệ thuật giấu mặt đàng sau rất nhiều mặt nạ (có thể coi mỗi kiểu nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp là một kiểu mặt nạ). Và để nhận rõ tác giả, chỉ có một cách là gỡ bỏ những mặt nạ ấy, tức là giải mã cho được cái cách Nguyễn Huy Thiệp biến thực thành giả, biến giả thành thật, cái cách đánh tráo như trong trò ảo thuật, cái cách tạo ra sự ỡm ờ hư hư thực thực, cái cách nói nghiêm túc mà thành ra là một thủ đoạn lừa ngoạn mục.

NGUYỄN HUY THIỆP ĐÃ GIẤU MẶT NHƯ THẾ NÀO?

Nguyễn Huy Thiệp mượn chuyện xưa để nói chuyện nay.

Nguyễn Huy Thiệp kể chuyện lịch sử. Nhân vật có lại lịch tổ tiên gốc gác hẳn hoi. Tư liệu Nguyễn Huy Thiệp dùng là có xuất xứ. Câu chuyện có những mấu chốt như trong chính sử. Người đọc bị hấp dẫn bởi những chuyện ly kì mà tưởng rằng lần đầu tiên lịch sử được tiết lộ. Nhưng hỡi ôi. Tất cả là bịa. Nguyễn Huy Thiệp chỉ dùng những yếu tố có chất sử để nhào nặn câu truyện và thông qua đó phát ngôn quan điểm của mình.

Chẳng hạn, truyện Kiếm Sắc kể về Đặng Phú Lân, con Đặng Phú Bình, người gần gũi Nguyễn Ánh. Nguyễn Huy Thiệp kết thúc rất “chân thành” thế này:” Viết truyện này, tôi muốn đề tặng gia Đình ông Quách Ngọc Minh để cảm ơn thịnh tình của gia đình ông đối với riêng tôi. Tôi cũng xin cám ơn một số nhà nghiên cứu lịch sử và bạn bè quen biết đã giúp tôi sưu tầm, chỉnh lý những tư liệu cần thiết cho công việc viết văn, vốn rất nhọc nhằn phức tạp, lại buồn tẻ nữa-của tôi”.

Người đọc hẳn là tin như đinh đóng cột rằng Nguyễn Huy Thiệp kể chuyện thật. Nhưng xin nhớ rằng, đặc trưng của truyện là hư cấu. Điều này Nguyễn Huy Thiệp đã nói rõ về nhân vật Đặng Phú Lân: ”Trong số người gần gũi với thế tổ Nguyễn Phúc Ánh những năm mưu phục lại cơ đồ nhà Nguyễn có một hào kiệt mà không sử sách nào nhắc đến. Người đó là Đặng Phú Lân”. Vâng, đã là nhân vật kề cận Nguyễn Ánh, được Ánh tin dùng suốt 9 năm 100 ngày, có bọn Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành, Võ Tánh đối chứng, nhất thiết sách sử không thể bỏ sót. Điều này lộ ra, đây là nhân vật do Nguyễn Huy Thiệp bịa đặt. Và dùng ông Quách Ngọc Minh cùng các nhà nghiên cứu lịch sử làm bình phong che chắn cho Nguyễn Huy Thiệp dựng trò ảo thuật.

Và vì là chuyện bịa, tất cả những phát ngôn của nhân vật đều là của Nguyễn Huy Thiệp. Và đây là phát ngôn của Thiệp qua miệng Nguyễn Ánh về tình hình sĩ phu Bắc Hà và thân phận của họ dưới tay kẻ cai trị. Ánh bảo Lân: ”Ta chỉ ghét bọn chữ nghĩa thôi, còn ngươi là con nhà võ thì sợ gì. Chữ nghĩa chúng nó thối lắm, ngụy biện, xảo trá tinh vi. Hành tung chúng ta chẳng lo. Toàn lũ ốm o, như dòi chồ, hèn mọn cả”…” Ta không tin bọn đó theo ta. Chúng nó quen tỉ tê với chữ nghĩa thì sẽ coi ta là vô đạo, không có tâm thế. Rửa đầu óc chúng mệt lắm”. Trong mắt Nguyễn Huy Thiệp, kẻ sĩ Bắc Hà chỉ là bọn dòi chồ hèn mọn cả, còn kẻ nắm quyền lực thống trị thì vô đạo. Nguyễn Huy Thiệp nói ngày xưa hay nói về thực tại hôm nay?

Cũng vậy, kết thúc truyện Vàng Lửa, Nguyễn Huy Thiệp mới nói cho độc giả biết người Bồ Đào Nha viết nhật ký kể chuyện Phơrăngxoa Pơriê  là nhân vật không có thật và câu chuyện được kể là bịa: ”Hồi ký của người Bồ Đào Nha vô danh không viết gì thêm. Tôi, người viết chuyện này đã cất công đi tìm các thư tịch cổ và hỏi han nhiều bậc bô lão. Không có tài liệu gì và cũng không ai biết gì về thung lũng Quạ hoặc chuyện của những người châu Âu thời vua Gia Long. Mọi cố gắng của tôi trong nhiều năm nay vô hiệu”.

Như vậy Vàng Lửa là chuyện lịch sử được bịa đặt. Đã là chuyện bịa thì mọi phát ngôn của nhân vật trong Vàng Lửa đều là của tác giả. Nguyễn Huy Thiệp viết về Nguyễn Du như thế này: ”Nguyễn Du thông cảm với những đau khổ của các số phận đơn lẻ mà không hiểu nổi nỗi đau khổ lớn của dân tộc. Đặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Đây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú, vừa nhục nhã, vừa căm thù nóNguyễn Du là đứa con của cô gái đồng trinh kia, dòng máu chứa đầy điển tích của tên đàn ông khốn nạn đã cưỡng hiếp mẹ mình”.

Nguyễn Huy Thiệp đã đưa ra những ý kiến đầy khiêu khích. Công luận đã phản đối sự lệch lạc võ đoán và tự ty như thế, bởi dân tộc này có một nền văn hóa riêng mà Nguyễn Huy Thiệp không nhận ra được. Người ta hiểu rằng Nguyễn Huy Thiệp chỉ mượn Nguyễn Du để nói về thực tại Nguyễn Huy Thiệp đang sống.

Tôi nói Nguyễn Huy Thiệp lệch lạc, võ đoán và tự ty khi đưa ra nhận định: Đặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Đây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp”. Bởi Nguyễn Huy Thiệp đắp mắt che tai không học được từ lịch sử điều này, Việt Nam nằm trên giao lộ ngã tư quốc tế, chịu ảnh hưởng nhiều nền văn hóa, trong đó có Trung Hoa, Ấn Độ, sau này là phương Tây, và bây giờ là toàn cầu hóa. Hiện nay người ta đang nói đến sự xâm lăng của văn hóa Hàn Quốc, lối sống thực dụng Mỹ. Nhưng bản lĩnh của dân tộc Việt là sự tiếp thu và Việt hóa tất cả các yếu tố ngoại lai, biến chúng thành những yếu tố có lợi cho mình và làm giàu văn hóa dân tộc. Phật giáo, Nho giáo, Đạo Giáo, Chủ nghĩa Lãng Mạn, chủ nghĩa Marx vào việt Nam và được đồng hóa thành văn hóa Việt Nam, đó là những thí dụ.

Làm sao có thể nói lời của nhân vật cũng là lời của Nguyễn Huy Thiệp?

Ở trên tôi đã nói, khi câu chuyện được kể là hoàn toàn bịa, thì mọi phát ngôn trong truyện của nhân vật là của tác giả. Xét ở mức độ văn bản, văn bản có hai lớp nghĩa, nghĩa tường minh là lời của nhân vật, còn hàm nghĩa là lời của tác giả. Khi một phát ngôn vi phạm vào nguyên tắc giao tiếp (thí dụ, phát ngôn thừa hoặc thiếu thông tin) thì phát ngôn ấy tạo ra hàm nghĩa. Xin thử đọc.

“Lúc này ở Châu Âu, nền Đế chế Napôlêông Bonnapac đã sụp đổ. Châu Âu chín chắn hơn. Họ đã bắt đầu hiểu vẻ đẹp và vinh quang một dân tộc không phải do cách mạng hoặc chiến tranh mang lại, cũng không phải do các nhà tư tưởng hoặc các hoàng đế mang lại, bởi vậy họ sống đỡ căng thẳng hơn, giản dị hơn, hợp tự nhiên hơn…”(Vàng Lửa)

Đây là lời trực tiếp của Nguyễn Huy Thiệp kết truyện. Lớp nghĩa tường minh là nghĩa trong câu chuyện thời Napôlêông. Nhưng hàm nghĩa Nguyễn Huy Thiệp nói về thực tại Việt Nam: vẻ đẹp và vinh quang một dân tộc này làdo cách mạng, do hai cuộc kháng chiến  mang lại, và do tư tưởng chủ nghĩa Marx Lê-nin. Và vì thế ở VN sống căng thẳng, phức tạp và trái lẽ thường. Trong văn bản của Nguyễn Huy Thiệp có 3 lần so sánhhơn”, tạo ra tình trạng thiếu thông tin, buộc người đọc phải liên tưởng đến đối tượng được so sánh “hơn ai, hơn cái gì” (hiểu ngầm). Đối tượng ấy nhất thiết phải có sự tương đồng với cách mạng, chiến tranh và các nhà tư tưởng, từ đó người đọc hiểu rằng Nguyễn Huy Thiệp nói về thực tại Việt Nam.

Điều này được nhận thức ngay khi người đọc liên tưởng đến thực tại. Các kênh truyền thông của Nhà Nước, trong trường học, trên báo chí truyền thanh truyền hình, luôn khẳng định vinh quang của dân tộc này là thành quả cách mạng, chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam để xây dựng chủ nghĩa xã hội và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là chiến thắng có tầm vóc thời đại và lịch sử. Nguyễn Huy Thiệp đã phủ định cách mạng, kháng chiến và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bằng hai từ “không phải” liên tiếp:”. Hàm nghĩa là không có cách mạng không có kháng chiến, không có các nhà tư tưởng, chủ nghĩa này tư tưởng nọ thì dân sẽ sống đỡ căng thẳng hơn, giản dị hơn, hợp tự nhiên hơn.

Những đoạn văn bày tỏ chính kiến đứng độc lập.

Có thể nhận ra phát ngôn của Nguyễn Huy Thiệp (thông qua miệng nhân vật) ở chỗ, những phát ngôn ấy có thể đứng một mình, tách biệt với nhân vật. Ở vị trí ấy, đoạn văn chính là phát ngôn trực tiếp của tác giả. Tác giả là người chịu trách nhiệm về ý kiến của mình

Hãy nghe Nguyễn Huy Thiệp đánh giá về Nguyễn Trãi và Lê Lợi:

“Trước đây, khi dâng “Bình Ngô sách” cho Bình Định Vương Lê Lợi, Nguyễn đề xuất tư tưởng nhân nghĩa, ông coi nó là máu thịt dân tộc là nguyên tắc ứng xử giữa con người. Nguyễn đã hướng về tuyệt đối. Song chính Nguyễn đã một chiều, thậm chí không tưởng. Lê Lợi tỉnh táo hơn, nhận ra Nguyễn đã mắc bẫy bởi chính tư tưởng của mình. Lê Lợi biết tư tưởng đó chỉ là ngọn cờ khởi sự chứ không phải phương pháp. Hơn nữa ngọn cờ ấy chỉ phù hợp với tình trạng khốn cùng về vật chất của đám đông trong từng khoảng thời gian nhất thời. Lê Lợi vĩ đại vì đã thực tế hơn Nguyễn về cuộc sốngNguyễn tôn sùng đám đông nhưng Lê Lợi tin chắc chỉ có những cá nhân siêu việt mới có khả năng gây men cho lịch sử. Lê Lợi hiều rõ khả năng tạo dựng và khả năng phá bỏ của Nguyễn nhưng Nguyễn lại không có khả năng giữ nguyên tình trạng. Giữ nguyên tình trạng đòi hỏi một dự ngu xuẩn phi thường, một sự ngu xuẩn thiên tài. Bao giờ cũng vậy, giữ nguyên tình trạng đòi hỏi những con bệnh lớn”(Nguyễn Thị Lộ).

Đoạn phát ngôn trên cũng vi phạm nguyên tắc về lượng thông tin, vì thế nó lại tạo ra hàm ý (bạn đọc thử khám phá hàm ý của Nguyễn Huy Thiệp?) Xin chia sẻ điều này. Nguyễn Huy Thiệp gọi Nguyễn Trãi là Nguyễn mà không gọi là Trãi hay Ức Trai tiên sinh, trong khi Nguyễn Huy Thiệp gọi các nhân vật khác bằng tên như gọi Nguyễn Ánh là Ánh, gọi Đặng Phú Lân là Lân. Đó là một dụng ý. Đặt Nguyễn bên cạnh các chỉ dẫn khác của Nguyễn Huy Thiệp là:Nguyễn đã mắc bẫy bởi chính tư tưởng của mình, ngọn cở khởi sự, Nguyễn tôn sùng đám đông (quần chúng), bạn đọc sẽ nhận ra Nguyễn Huy Thiệp muốn nói về ai. Thời Nguyễn Trãi không nói “đám đông” mà nói “dân đen”, nói “nhân dân bốn cõi một nhà”

Trong mạch kể truyện, đoạn văn trên là suy nghĩ của Nguyễn Trãi về chính mình. Nhưng trong cách viết, Nguyễn Huy Thiệp đã để Nguyễn Trãi, Lê Lợi ở ngôi thứ ba, gọi Nguyễn Trãi là ông, là Nguyễn, và nhìn Nguyễn Trãi bằng con mắt khách quan, nhìn Nguyễn từ bên ngoài. Vì thế đoạn văn trở thành đáng giá của Nguyễn Huy Thiệp về Nguyễn Trãi. Thông qua đó đánh giá về Nguyễn, và tư tưởng của Nguyễn ở hiện tại. Đánh giá này hoàn toàn là sự suy diễn chủ quan của Nguyễn Huy Thiệp. Có thể nói, viết truyện Nguyễn Thị Lộ, Nguyễn Huy Thiệp tỏ ra rất non tay về xây dựng cốt truyện, khắc họa nhân vật, miêu tả tâm lý và lý giải những vấn đề lịch sử của Nguyễn Trãi. May ra truyện còn lắng đọng được một chút xót thương của Nguyễn Thị Lộ với nỗi cô đơn của Nguyễn Trãi (xét cô đơn như phạm trù Hiện Sinh). ”Ông cô đơn với chính đồng loại mình”..”Ông cô đơn giữa đời như một hành tinh hoặc một ngọn gió. Điều ấy khiến nàng xót xa”. Nhưng những điều ấy Nguyễn Huy Thiệp  nói về nhân vật “Nguyễn” đương thời…

Làm thế nào để nhận ra mặt thật của tác giả sau những mặt nạ?

Qua những chia sẻ ở trên, tôi nghĩ đã đủ những gợi ý để bạn đọc tiếp tục khám phá về Nguyễn Huy Thiệp. Nhưng còn một điều có thể làm bạn băn khoăn, rằng khi tác giả hóa trang kỹ quá và thay đổi nhiều mặt nạ thì làm thế nào ta nhận ra mặt thật của tác giả. Quả là một vấn đề thú vị và cần được xem xét kỹ hơn.

Trở lại phần minh họa ở trên về nghệ sĩ hài Hoài Linh. Khi Hoài linh lên sân khấu, dù anh diễn vai gì, hóa trang kiểu gì, khán giả vẫn nhận ra Hoài Linh. Vậy căn cứ vào đâu để ta nhận ra Hoài Linh con người xã hội? Ấy là vóc dáng Hoài Linh nhỏ thó và ốm. Hoài Linh có cách anh diễn xuất riêng. Giọng điệu của Hoài Linh dù nhái giọng Bắc, hay Trung đều không lẫn được. Hoài Linh cũng có những mảng đề tài sở trường riêng. Nói bằng ngôn ngữ phê bình thì đó là phong cách. Cũng vậy, dù Nguyễn Huy Thiệp có giấu mặt sau nhiều mặt nạ, người ta vẫn nhận ra tác giả qua phong cách văn chương của ông.

Rất tiếc tôi chưa có dịp tìm hiểu kỹ về phong các Nguyễn Huy Thiệp, nhưng có thể nhận thấy vài nét đặc điểm sau đây của phong cách ngòi bút NHT

Văn chương củaNguyễn Huy Thiệplà văn chương “chửi”, chửi tục, hiểu theo cả nghĩa đen và nghĩa thuật ngữ phê bình văn học, tức là văn chương phê phán, phản kháng hiện thực. Kết thúc truyện Trương Chi, Nguyễn Huy Thiệp viết: ”Tôi –  người viết truyện ngắn này- căm ghét sâu sắc cái kết thúc truyền thống ấy…còn tôi, tôi có cách kết thúc khác. Đây là bí mật của riêng tôi. Tôi biết giây phút rốt đời, Trương Chi cũng sẽ văng tục”…”. Trong suốt truyện Trương Chi, Nguyễn Huy Thiệp để cho Trương Chi nhiều lần thốt ra tiếng chửi: ”cứt”.

Chàng duỗi chân, ngả người vào lòng thuyền. Chàng nói: – Cứt…Giờ đây gặp Mỵ Nương, chàng hiểu chắc chắn rằng cuộc sống của chàng thật là cứt, là cứt chó, không sao ngửi được. Không chỉ riêng chàng mà cả bầy. Tất cả đều thối hoắc: – cứt. …Trương Chi không hát nữa. Chàng lại nói: – Cứt…Chàng ăn cá nhưng được vài miếng chàng lại nhổ đi. Chàng nói: -Cứt. Mị Nương bảo chàng hát, Trương Chi biết đó chỉ là trò cứt. Khi Trương Chi Hát, bọn hoạn quan đứng quanh nhiều lần cười ré lên: -Hát như cứt…Trương Chi lại chèo thuyền ra giữa tim sông. Chàng lại nói: – Cứt.”

Trong cách chửi, giọng văn Nguyễn Huy Thiệp bình tĩnh dẫn dụ, sau đó bất ngờ bốp chát thẳng vào mặt đối tượng. Xin đọc. “…Nhìn vào danh sách hơn 1000 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam người ta đều thấy đa số đều chỉ là những người già nua không có khả năng, sáng tạo và hầu hết đều…”vô học”, tự phát mà thành danh… Trong số này có tới hơn 80% là nhà thơ… trên thực tế cái danh nhà thơ là một thứ nhìn chung chỉ là nhăng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó: nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa. (Nguyễn Huy Thiệp – Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn.)

Xưa nay trong văn chương Việt Nam, không phải là không có văn chương “chửi”. Trần tế Xương, Vũ Trọng Phụng là những bậc thầy về văn chương chửi. Trong Số Đỏ, Vũ Trọng Phụng chửi rất nhiều hạng người, từ giới thầy thuốc, đến thầy tu, đến bọn hoạt đầu chính trị và cả anh hùng, vĩ nhân. Vũ Trọng Phụng chửi trực tiếp Phạm Quỳnh, Hội Khai Trí Tiến Đức và các phong trào bình dân nhố nhăng đầu thế kỷ XX. Nhưng xin lưu ý rằng Vũ Trọng Phụng chửi qua hình tượng nghệ thuật và chửi bằng nghệ thuật trào phúng, còn Nguyễn Huy Thiệp chửi trực tiếp bằng nghệ thuật giấu mặt đằng sau nhiều mặt nạ, bằng cách làm méo mó nhân vật (Quang Trung, Nguyễn Trãi..).  Nguyễn Huy Thiệp chửi rất mạnh miệng những cái mà Nguyễn Huy Thiệp cho là nhố nhăng ngu dốt, vô luân, bạc ác ở đời, “Chỗ nào cũng tàn ác, dâm tục, đểu giả, tham lam”(Đời Thế Mà Vui).

Chỉ tiếc là Nguyễn Huy Thiệp không có hệ tư tưởng minh triết làm nền và Nguyễn Huy Thiệp cũng chưa đạt tới một nền tảng chân lý để từ đó có thể đưa ra những đánh giá một cách thuyết phục. Nguyễn Huy Thiệp chỉ gây shock bằng những phát ngôn chọc giận thiên hạ, đi ngược lại thiên hạ, kiểu như hạ bệ Quang Trung, kiểu nói rất hồ đồ về nền văn hóa Việt Nam:” Đặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Đây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú, vừa nhục nhã, vừa căm thù nó”.

Văn chương Nguyễn Huy Thiệp là văn chương giấu mặt.

Tôi coi đây là một đặc điểm thi pháp, cũng là một đặc điểm phong cách, bởi ở bất cứ truyện nào, ở nhân vật nào, người đọc đều có thể gặp cách viết ỡm ờ, cách viết hàm nghĩa (như tôi đã phân tích ở trên). Nếu không khám phá đặc điểm nghệ thuật này của ngòi bút Nguyễn Huy Thiệp thì không thể hiểu Thiệp.

Nguyễn Huy Thiệp có giọng văn lạnh đến vô cảm, trong thẳm sâu là một nỗi buồn thấm thía, nỗi buồn của sự bất lực trước thực tại. Và Nguyễn Huy Thiệp đã thực hiện đúng quan điểm văn chương của mình là: “Văn chương phải bất chấp hết, ngập trong bùn sục tung lên, thoát thành bướm và hoa, đấy là chí thánh” (Giọt Máu VII), và văn Nguyễn Huy Thiệp thuộc loại “văn làm loạn”(Giọt Máu II).

Điều này quá rõ trong các truyện như Tướng Về Hưu, Huyền Thoại Phố Phường, Không Có Vua, Con Gái Thủy Thần, Giọt Máu, Những Người Thợ Xẻ,… Rất tiếc là Nguyễn Huy Thiệp đã hất bùn lên tất cả, bất chấp đó là ai, kể cả Như lai và Giêsu Christ. Có rất ít sự thăng hoa thành bướmhoa. Tại sao vậy, Nguyễn Huy Thiệp lý giải :” Tôi chỉ căm giận, căm giận những phù vân trong toàn bộ hoàn cảnh sống của thời đại tôi. Những giáo điều đạo đức bao giờ cũng giản dị ngây ngô, buồn cười, sơ lược, thậm chí còn đểu giả nữa. Ác nhất là những giáo điều ấy đúng. Bởi nó cần. Nó là sợi xích tròng cổ để giữ hình ảnh tương đối về mỗi chúng ta. Nếu không sẽ là hủy diệt…”(Những Người Thợ Sẻ).

Nguyễn Huy Thiệp cố gắng vượt qua cô đơn, phi lý, buồn nôn Hiện Sinh để Sang Sông đáo bỉ ngạn Thiền, nhưng chiếc đò lại quay về bến, và Nguyễn Huy Thiệp trong mặt nạ nhà sư đã không  đến bờ bên kia của giác ngộ được.

Người ta cũng nhận ra Nguyễn Huy Thiệp đặc sắc trong những truyện mượn đề tài lịch sử để viết những truyện hư cấu như Kiếm Sắc, Vàng Lửa, Phẩm Tiết. Ông kết hợp cách viết của kiểu truyện diễn nghĩa cổ điển (Tam Quốc Diễn Nghĩa) với các kể dân gian, cách nói năng dân gian và cả cách thuật cô đọng của Kinh Thánh. Có thể nói Nguyễn Huy Thiệp để lại dấu ấn ở mảng truyện này. Cũng qua mảng truyện này, Nguyễn Huy Thiệp dùng ngày xưa để nói về thời đại mình.

Có một vấn đề tôi chưa tự trả lời được, cũng không giám hỏi Nguyễn Huy Thiệp, sợ lại bị chửi, và mong được bạn đọc chia sẻ, đó là, tại sao Nguyễn Huy Thiệp lại sử dụng nghệ thuật giấu mặt, và dấu mặt để thực hiện mục đích gì?

Tháng 4 năm 2012

NGUYỄN HUY THIỆP LÀ NGƯỜI THẾ NÀO

BÙI CÔNG THUẤN

VIẾT THÊM

Văn học việt Nam thời kỳ “đổi mới” (1980-1990) có những đỏi hỏi đổi mới mạnh mẽ, đặc biệt là đòi hỏi từ bỏ Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa mà Trường Chinh đề ra từ 1948 trong Báo cáo “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam”. Trong xu thế chung, phải kể đến “Thời xa vắng” của Lê Lựu, “Thiên Sứ” của Phạm Thị Hoài, “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh… và các bài viết của GS Hoàng Ngọc Hiến về “Chủ nghĩa Hiện thực Phải đạo”(1979), và “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” (1987) của Nguyễn Minh Châu. Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn có cách viết nói “trắng phớ” ra. Nên ông tạo được dư luận.

Nhưng khi Bộ Chính trị có nghị quyết 23-NQ/TW:”Tiếp tục đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của văn học, nghệ thuật về đề tài, nội dung, loại hình, phương pháp sáng tác, sự tìm tòi, thể nghiệm, nâng cao chất lượng toàn diện nền văn học, nghệ thuật nước nhà”, thí những vấn đề “nóng” về phương pháp sáng tác Hiện thực Xã hội chủ nghĩa trở nên nhạt, và Nguyễn Huy Thiệp lui dần vào quá khứ.

Ngày nay đang có những “mưu toan” phong thánh cho Nguyễn Huy Thiệp là “Thiên tài”, là “Văn hào…”. Thực ra, ai thích Nguyễn Huy Thiệp và phong cho ông danh hiệu gì thì đó là quyền của cá nhân. Nhưng xin lưu ý rằng, “Văn hào” từ xưa tới nay là những nhà văn mà tác phẩm của họ ghi lại được một diện rộng của hiện thực và đặc biệt, họ là “nhà văn tư tưởng”, tác phẩm của họ là “tác phẩm tư tưởng”. Văn chương của họ là ánh sáng lương tri của nhân loại. Nguyễn Huy Thiệp không có tư tưởng, tác phẩm của ông cũng chỉ phản ánh cái hiện thực không “Xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam, chẳng đề cập được vấn đề gì của nhân loại. Ông chỉ là một nhà văn tiên phong như nhiều nhà văn tài năng khác của Văn học Việt Nam.

Bài viết sau đây đã đăng trên Văn nghệ TP Hồ Chí Minh. Nay đăng lại.

_______________________

NGUYỄN HUY THIỆP LÀ NGƯỜI THẾ NÀO?

Bùi Công Thuấn

Trước đây tôi đã định viết về Nguyễn Huy Thiệp (NHT) nhưng lại thôi, vì người ta đã viết quá nhiều về ông, mình không nên làm ồn thêm.

Nhưng có một sự thật là Hội Nhà Văn Việt Nam chưa hề trao cho Thiệp giải thưởng nào. Thiệp nhận được giải thưởng của nước ngoài. Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp được dịch nhiều sang tiếng Pháp (ở Pháp Thiệp có 9 đầu sách được dịch). Nguyễn Huy Thiệp được nhận giải thưởng Nonino ở Ý. Họ đọc Thiệp qua bản dịch tiếng Anh.

Nguyễn Huy Thiệp thú nhận điều này:”người đã đề cử tôi cho giải thưởng Nonino có nói với tôi đại ý rằng: “Tôi chỉ đọc ông có hai truyện nhưng tôi đã “ngửi” thấy ở ông có điều gì đấy...”. Với bản dịch Crossing the River của Dana Sachs và 10 người khác nữa ở Mỹ, Nguyễn Huy Thiệp đã bị “giết phăng”, “giết không kịp ngáp” ở trong thế giới tiếng Anh… Đấy là một thực tế mà khi trao đổi với đại diện các nhà xuất bản có tên tuổi trong chuyến đi châu Âu vừa rồi tôi (NHT) mới nhận ra.(1)

Sự nổi tiếng của Nguyễn Huy Thiệp có căn gốc từ đâu?

Trước hết Nguyễn Huy Thiệp có tài kể chuyện, những câu chuyện lạ và hấp dẫn. Chủ để truyện ẩn rất sâu, điều này bộc lộ cái “thâm” của sĩ phu Bắc Hà. Tôi ít thấy người cầm bút đương thời có cái “thâm”, cái “độc” và cái “tài” như Nguyễn Huy Thiệp. Người ta công nhận Thiệp viết hay nhưng không dám trao giải thưởng. Người ta nhận rõ Nguyễn Huy Thiệp góp phần đổi mới văn học Việt Nam nhưng không dám đưa Nguyễn Huy Thiệp vào Sách Giáo khoa (*). Có người bảo, Nguyễn Huy Thiệp là cục xương khó nuốt của Hội Nhà Văn Việt Nam.

Văn Học Việt Nam đương đại có hai người gây được những bước ngoặt quan trọng về thi pháp truyện ngắn. Đó là Nam Cao và Nguyễn Huy Thiệp. Sau Nam Cao, một thời người ta bắt chước cách viết của ông. Cũng vậy, Nguyễn Huy Thiệp đã mở ra một cách viết mới mà cho đến nay nhiều người vẫn bắt chước (truyện Dị Hương vừa đạt giải, đã bắt chước cách viết của Kiếm Sắc)

Nhưng điều gây tranh cải và làm cho Thiệp nổi tiếng là ở thái độ của Nguyễn Huy Thiệp trong tác phẩm, và cái cách Nguyễn Huy Thiệp dùng văn chương cho những mục đích ngoài văn chương của mình. Thiệp có tài viết những đoạn văn ỡm ờ, kể những câu chuyện ỡm ờ, nửa thông minh, nửa mù mịt, nửa chân thật, nửa đểu cáng, và đặc biệt là tài giấu mặt sau rất nhiều kiểu mặt nạ.

Truyện của Nguyễn Huy Thiệp lạ là ở chỗ, trước đó, nhà văn Việt Nam viết bằng phương pháp Hiện Thực XHCN. Nguyễn Huy Thiệp triệt để bác bỏ kiều bút pháp này. Nguyễn Huy Thiệp lạ ở chỗ, trước đó văn học Việt Nam chỉ viết tụng ca, anh hùng ca, thì Nguyễn Huy Thiệp lật đổ tất cả mọi thần tượng, kể cả Quang Trung (Phẩm Tiết) là người anh hùng của dân tộc. Cái thâm của Thiệp là ở chỗ, Thiệp mượn và bịa đặt ra chuyện xưa để nói về cái hiện thực hôm nay.Thiệp phủ định thực tại xã hội XHCN. Thiệp đang sống, cái thực tại mà văn chương giai đoạn trước ca ngợi hết lời (”Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi!; “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”). Thiệp phủ định chủ nghĩa Marx –Lenin là nền tảng tư tưởng Cách Mạng Việt Nam. Và gần như Thiệp phủ định tất cả.

Trong Vàng Lửa, Nguyễn Huy Thiệp viết: ”Châu Âu chín chắn hơn. Họ đã bắt đầu hiểu vẻ đẹp và vinh quang một dân tộc không phải do cách mạng hoặc chiến tranh mang lại, cũng không phải do các nhà tư tưởng …”. Đó là cách Nguyễn Huy Thiệp mượn chuyện người để phủ định cái thực tại ở ta. Cứ theo câu chữ hàm ý mà đọc, thì Thiệp cho rằng ở ta vinh quang dân tộc là do cách mạng, do hai cuộc kháng chiến và do chủ nghĩa Mác-Lênin. Những điều như thế ở Việt Nam đã trở thành đại tự sự, thành tín niệm, không tranh cãi và được rao truyền trên tất cả các kênh truyền thông hàng ngày. Thiệp phủ định những điều ấy nhưng không nói thẳng ra, và người ta hiểu ý Thiệp nhưng không bắt bẻ Thiệp được.

Đây là một đoạn diễu nhại cái nhìn theo chủ nghĩa Marx: ”Hắn bắt một con thạch sùng rồi để lên bàn. Hắn trình bày thế giới bằng cách miêu tả con thạch sùng ấy. Thượng tầng kiến trúc là đầu, hạ tầng cơ sở là chân, khúc đuôi là đạo đức. Hắn cho rằng đạo đức rụng rồi lại mọc, đạo đức có thể ngoe nguẩy một mình, còn toàn bộ sự sống chuồn mất”(Mưa)

Mượn lời Trương Chi, Thiệp chửi đời là “cứt:”…chàng hiểu chắc chắn rằng cuộc sống của chàng thật là cứt, là cứt chó, không sao ngửi được. Không chỉ riêng chàng, mà cả bầy. Tất cả đều thối hoắc.-Cứt”(Trương Chi)

Bạch thầy! Đâu đâu con cũng thấy toàn là súc vật. Mọi sự thảy súc vật hết. Cả sự chung tình cũng súc vật. Ý thức hướng thiện cũng súc vật nốt”(Sang Sông )

Nguyễn Huy Thiệp chửi cả Hội Nhà Văn thế này:

“ …Nhìn vào danh sách hơn 1000 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam người ta đều thấy đa số đều chỉ là những người già nua không có khả năng, sáng tạo và hầu hết đều… “vô học”, tự phát mà thành danh. Trong số này có tới hơn 80% là nhà thơ tức là những người chỉ dựa vào “cảm hứng” để tuỳ tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa, nhìn chung là lăng nhăng, trừ có dăm ba thi sĩ tài năng thực sự (số này đếm trên đầu ngón tay) là còn ghi được dấu ấn ở trong trí nhớ người đời còn toàn bộ có thể nói là vứt đi cả. Giai thoại có một nhà thơ nói về tình cảnh thơ ở trong bài thơ sau đây (tôi đã đưa chuyện này vào trong tiểu thuyết của tôi vì nó quá hay) khá tiêu biểu cho thực tế đó: “Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ/ Hôm qua nó bảo: Dí thơ vào l…/ Vợ tôi nửa dại nửa khôn/ Hôm nay lại bảo: Dí l… vào thơ!”, tôi cũng không phủ nhận cảm tình của nhân dân đối với thơ nhưng quả thực trên thực tế cái danh nhà thơ là một thứ nhìn chung chỉ là nhăng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó: nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa.        

Tôi biết sẽ có nhiều người phản ứng lại điều tôi nói “trắng phớ” ra như thế nhưng ở đây nó là thực tế. Tôi chỉ nói ra một thực tế “tàn nhẫn” mà mọi người vẫn tránh né hoặc “không nỡ” nói ra mà thôi. Đã đến lúc người ta phải nhìn vào thực tế để thúc đẩy văn học cũng như thúc đẩy xã hội phát triển.“ (Nguyễn Huy Thiệp–Trò Truyện Với Hoa ThủyTiên.)

Đoạn đối thoại sau đây, Thiệp biết rõ sẽ bị nhiều người chửi nhưng Thiệp tiếp tục chửi: ”Nghe tôi nói nhé: lớn lên chú đừng sa vào con đường văn chương chữ nghĩa. Thế nào chú cũng ăn đòn. Người ta sẽ nguyền rủa đấy. Chú không chống nổi sự ngu dốt của bọn có học đâu. Tôi đây này, tôi hiểu sâu sắc sự ngu dốt của bọn có học tai hại thế nào, vừa phản động, nó vừa ngụy biện, lại vừa mất dạy. Sự ngu dốt của bọn có học tởm gấp vạn lần so với người bình dân…Tôi thấy buồn vì văn học của ta ít giá trị thật. Nó thiếu tín ngưỡng và thẩm mỹ thực”(Những Bài Học Nông Thôn)

Đoạn đối thoại sau đây Thiệp tự bộc lộ sự đánh giá về chính mình:

Tôi cười bảo: Anh biết không: người cách mạng chỉ chú tâm vào mục đích cuối cùng mà thôi. Anh Bường bảo:” Đừng có bẫy tay vào chính trị tư tưởng, mày đểu lắm”…”Bản chất của mày là một thằng trí thức lưu manh chính trị. Tởm lắm! (Những Người Thợ Xẻ)

Thiệp nói về việc đi dạy học của mình: ”Lúc nãy ở trong chùa nói chuyện với sư, giật mình nghĩ lại thấy mấy chục năm nay mình đi dạy học, dạy trẻ con toàn những thứ láo khoét”(Chăn Trâu cắt Cỏ)

Vâng, như thế thì dù Nguyễn Huy Thiệp kể truyện hay, nhưng Nguyễn Huy Thiệp không có mục đích sáng tạo nghệ thuật, thì tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp không hẳn là có ích cho đời, và có ích cho văn chương (tất nhiên là có ích cho những ai muốn dùng Thiệp để phủ định Chủ nghĩa hiện thực Xã Hội Chủ Nghĩa). Nguyễn Huy Thiệp chỉ dùng văn chương làm phương tiện bộc lộ thái độ với chính kiến trước thực tại.

Truyện của Thiệp hấp dẫn là bởi Thiệp biết khai thác nhiều kỹ thuật viết khác với bút pháp của chủ nghĩa Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa, nhưng mục đích của Thiệp là dẫn dụ người đọc vào những câu truyện mà ẩn sâu bên dưới lớp vỏ ngôn từ là thái độ chính trị của Thiệp.

Thái độ chính trị của Thiệp là gì?

Rời bỏ chủ nghĩa Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa , rời bỏ chủ nghĩa Marx, Nguyễn Huy Thiệp tìm về cội nguồn tinh thần nào?

Đọc truyện của Thiệp, tôi thấy lổn nhổn, nếu không nói là bát nháo đến dở hơi (!)  những ý niệm của chủ nghĩa Hiện Sinh, của Thiền, của Đạo, của Freud, của Thiên Mệnh. Tất cả còn sống sít, chưa được tiêu hóa (có lẽ Nguyễn Huy Thiệp chưa được học đến nơi đến chốn. Thực tiễn cuộc sống của Nguyễn Huy Thiệp cũng không cho phép ông tiếp cận với những tư tưởng này khi ông đi dạy học và sống ở miền Bắc Việt Nam trước 1975)

Xin đọc:

Oái oăm ở chỗ đạo là thứ danh không phải danh, điều ấy đẻ ra những khó khăn trong xuất xử. Chính Khổng Tử cho rằng người làm quan là để thi hành điều nghĩa chứ đạo thì chẳng thi hành được”(Nguyễn Thị Lộ).

Rõ ràng Nguyễn Huy Thiệp phê phán Lão Tử về Đạo. Trong Đạo Đức Kinh, Lão Tử Viết: Đạo Khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh”. Thiệp chỉ hiểu cái nghĩa đen mặt chữ của ý niệm Đạo.

Cũng vậy, Khổng Tử coi trọng Nhân và Lễ, Mạnh Tử mới coi trong Nghĩa. Thuyết Thiên Mệnh của Khổng Tử và Đạo vô vi của LãoTử khác xa nhau. Nguyễn Huy Thiệp cho vào một rọ và quậy cho nó nháo nhào lên.  Nguyễn Huy Thiệp chưa học vỡ nghĩa sách thánh hiền (mượn chữ của Nguyễn Tuân), nhưng cứ hô hoán lên, khiến những người không biết, tưởng Thiệp nói điều chân lý, họ vừa sợ Thiệp, lại vừa chê trách thánh nhân!

Cũng trong truyện Nguyễn Thị Lộ, Nguyễn Huy Thiệp gán cho Nguyễn Trãi phạm trù “cô đơn” của Triết học Hiện Sinh. Quả thực, sự vay mượn tư tưởng này là hết sức gượng ép, bởi thời của Nguyễn Trãi chưa có triết học Hiện Sinh. Như kiểu người ta chê trách Nguyễn Du sao không cho Từ Hãi đi làm cách mạng rồi lên làm Chủ tịch Nước!!!

Thiệp nhận ra sự khiếm khuyết của văn chương Việt Nam là không có tư tưởng, và Thiệp nỗ lực bù vào chỗ khiếm khuyết ấy, nhưng tôi cho rằng Thiệp thất bại cả về tri thức, cách thể hiện tư tưởng và bút pháp.

Chẳng hạn, tư tưởng Hiện Sinh trong tác phẩm văn học phương Tây được trình bày bằng cách viết dòng ý thức thông qua miêu tả Hiện Tượng Luận. Thiệp chưa đạt tới cách viết này (Muối của Rừng). Khi chuyển sang khai thác tư tưởng Thiền (Sang Sông), Thiệp cũng không đạt được cách nói vô ngôn là đặc trưng mỹ học Thiền.

Nguyễn Huy Thiệp thất bại trong việc tìm kiếm một tư tưởng thấu đạt đến chân lý cho cuộc đời, ông trở nên bi quan.|”Chúng tôi cần gì nhiều tiền, nhiều nhà, nhiều đạo đức, nhiều anh hùng. Thoắt buổi sáng, đã trưa, đã chiều. Thoắt mùa xuân, đã thu, đã đông…Chỉ có nỗi buồn là vĩnh cửu(Con Gái Thủy Thần)

“Kìa trăm năm

Tài mệnh là gì

Chỉ thấy đớn đau

          (Kiếm Sắc)

Tôi nhặt những ánh mắt đời

Hòng dõi theo ánh mắt tôi

Dõi vào cõi ý thức

Cõi ý thức mênh mông xa vời

Dầu tôi biết vô nghĩa, vô nghĩa, vô nghĩa mà thôi”

            (Thương Nhớ Đồng Quê)

Đời người ta, ai chẳng đã từng săn đuổi bao điều phù du?”

                    (Những Ngọn Gió Tua Hát)

Không cần phải đọc kinh Phật, bạn đọc cũng hiểu Nguyễn Huy Thiệp thiên về tư tưởng Phật: đời vô nghĩa, đời vô thường, đời là bể khổ (Khổ Đế trong Tứ Diệu Đế).

 Những tưởng Nguyễn Huy Thiệp tìm thấy chân lý gì mới lạ sau khi từ bỏ Chủ nghĩa Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa, chủ nghĩa Marx, hóa ra ông lại chạy vòng vòng trở về thứ triết lí tiêu cực của Nguyễn Gia Thiều trong Cung Oán Ngân Khúc. Đó là một bứơc thụt lùi đáng thương hại!

Nghĩ thân phù thế mà đau, 
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê.

Tang thương đến cả hoa kia cỏ này. 

Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy, 
Kiếp phù sinh trông thấy mà đau. 
Trăm năm còn có gì đâu, 
Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì ! 

                (Nguyễn Gia Thiều-Cung oán ngâm khúc)

Hơn thế Nguyễn Huy Thiệp còn bộ lộc những nhận thức tư tưởng hết sứ méo mó. Qua lời nhận vật Bường, Nguyễn Huy Thiệp phỉ báng thế này:” Con ơi, thế Giêsu Crit có đểu cáng và độc ác không? Như Lai có đểu cáng và độc ác không?”(Những Người Thợ Xẻ)

Đến như thế thì người đọc không còn gì để trao đổi với Nguyễn Huy Thiệp nữa, bởi Như Lai và Giêsu Christ là hai con người truyền rao chân lý từ bi, bác ái. Hai con người ấy bằng chính đời sống tại thế của mình, đã đã chứng minh cho sự Giác ngộ và sự Cứu độ chúng sinh. Hơn 2000 năm nay, nhân loại đã tôn thờ hai con người ấy như đấng thiêng liêng, và tìm đến Phật, đến Giêsu như là người giúp mình sang sông “đáo bỉ ngạn”. Vậy mà Nguyễn Huy Thiệp coi Đấng Giác Ngộ và Đấng Cứu Rỗi ấy đều là đểu cáng và độc ác, vậy còn ai trên cõi đời này đáng được Nguyễn Huy Thiệp cho là từ bi, bác ái, lương thiện?

3. Hãy xem Nguyễn Huy Thiệp quan niệm thế nào về văn chương?

Bác ơi, chữ nghĩa nó ghê gớm lắm. Nó là ma đấy. Yếu bóng vía là nó ám mình, nó làm cho thê thảm đau đớn mới thôi”…”Văn chương có nhiều thứ lắm. Có thứ văn chương hành nghề kiếm sống. Có thứ văn chương sửa mình. Có thứ văn chương trốn đời trốn việc. Lại có thứ văn chương làm loạn”(Giọt Máu II)

Văn chương phải bất chấp hết. Ngập trong bùn, sục tung lên, thoát thành bướm và hoa, đấy là chí thánh”(Giọt Máu VII)

Văn chương là thứ bỉ ổi bậc nhất…Nó gây ra sự nổi loạn trong cuộc đời thường”(Chút Thoáng Xuân Hương)

Có lẽ không cần phải bình luận gì thêm, bởi đó là cái nhìn hết sức phiến diện về văn chương. Chẳng lẽ thơ Thiền, thơ R.Tagore, văn Nguyễn Tuân, Nguyễn Minh Châu…là “bỉ ổi”, là “làm loạn” sao?

Nhiều người đã ca tụng Nguyễn Huy Thiệp khi thấy Nguyễn Huy Thiệp từ bỏ chủ nghĩa Hiện Thực Xã hội Chủ nghĩa, thấy Nguyễn Huy Thiệp phê phán hiện thực đất nước xây dựng theo Chủ nghĩa Xã hội dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin, thấy Nguyễn Huy Thiệp lật nhào thần tượng (mượn Quang Trung để lật nhào thần tượng cách mạng). Đó là quyền của người đọc.

Nhưng bình tâm mà đọc Nguyễn Huy Thiệp, thì thấy rõ hạn chế này ở ngòi bút của ông. Văn Nguyễn Huy Thiệp thiếu tư tưởng nhân đạo. Cái nhìn của Nguyễn Huy Thiệp thiếu sự “thành ý, chính tâm”. Nguyễn Huy Thiệp chỉ thấy cái ác, cái dâm cái loạn, cái đểu cáng. Còn nếu muốn nghe Nguyễn Huy Thiệp nói chính trị, thì người đọc sẽ lắc đầu mà đi thôi.

Xin đọc

“Dân chúng nhẹ dạ nông nổi cũng như thế đấy. Các nhà chính trị, các thiên tài là kẻ có khả năng xô dạt dân chúng về cả một phía. Dân chúng cầu lợi. Chỉ cần tí lợi là họ sẽ a dua nhau bu đến. Họ không biết rằng điều ấy chất chứa toàn bộ sự vô nghĩa trong đời sống của họ. Họ sinh ra, hoạt động, kiếm ăn, cứ dạt chỗ nọ rồi dạt chỗ kia mà chẳng tự định hướng cho mình gì cả. Chỉ đến khi nào dân chúng hiều rằng không được cầu lợi, mà có cầu lợi thì cũng chẳng cho ai, người ta chỉ hứa hẹn suông để bịp bợm thôi, thảng hoặc có cho thì cho rất ít, lợi bất cập hại. Lợi phải do chính dân chúng tạo ra bằng sức lao động của mình. Họ cần hiểu rằng phải cầu một thứ cao hơn thế nữa, đấy là giá trị chân chính cho toàn bộ cuộc sống của mình, quyền được tự mình định đoạt cuộc sống, tóm lại là tự do”(Những Bài Học Nông Thôn)

Tôi không hiểu Nguyễn Huy Thiệp đã “giảng đạo” hay lên lớp chính trị cho ai, vì ông nói đến sự vô nghĩa của đời sống (chủ đề của tôn giáo), rồi lại nói đến ý nghĩa của lao động (một phạm trù của chủ nghĩa Marx-Lao động là vinh quang), rồi lại nói đến kinh tế (hoạt động, kiếm ăn). Mãi đến cuối đoạn văn mới lộ ra rằng con người, nhân dân cần tự do, nhưng họ không biết rằng tự do là giá trị trên hết, họ cũng không biết rằng họ đang nô lệ, đang bị các nhà chính trị lừa gạt…

Và theo cách viết đeo mặt nạ của Thiệp, thì Thiệp đang nói về nhân dân Việt Nam, nhân dân Việt Nam đang bị nô lệ mà không biết. Thiệp nói về các nhà chính trị Việt Nam: Họ chỉ “hứa hẹn suông để bịp bợm thôi”.

Hãy bỏ qua tâm ý của Thiệp, thì bạn đọc nhận ra rõ ràng rằng Thiệp chẳng có một lý thuyết xã hội nào, hay nền tảng triết học tư tưởng nào để lập ngôn, chỉ có cách nói đưa đẩy vòng quanh, cảm tính, như thế Thiệp sẽ chẳng đối thoại với ai được (những lý thuyết gia kinh tế, chính trị), còn quần chúng nhân dân thì chán ngấy chính trị rồi. Họ sẽ lật tẩy cái bản mặt của Thiệp mà rằng:”

“Đừng có bẫy tay vào chính trị tư tưởng, mày đểu lắm”…”Bản chất của mày là một thằng trí thức lưu manh chính trị. Tởm lắm! (Những Người Thợ Xẻ)

Tôi đã từ bỏ Nguyễn Huy Thiệp từ lâu lắm rồi! Bởi chăng nên mất thì giờ vào những thứ vô bổ mà thiệp chào mời như đoạn văn Thiệp viết ở trên.

Tháng 4.2012

_____________________________

  • Lê Thị Thái Hòa- Nguyễn Huy Thiệp: “Thế giới đã an bài!” nguồn :Thanh Niên
  • Bài này đã đăng trên báo Văn Nghệ TpHCM số 199 ngày 26.04.2012

(*) Chương trình mới (2020) có đưa tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp vào làm ngữ liệu

LÊ ĐÌNH BẢNG-LỜI TỰ TÌNH CỦA BẾN TRẦN GIAN

Những khuôn mặt thơ ca Công giáo đương đại

“LỜI TỰ TÌNH CỦA BẾN TRẦN GIAN”

(Tập thơ của Lê Đình Bảng. Nxb Tôn Giáo 2012)

Bùi Công Thuấn

Nhà thơ Lê Đình Bảng [*] có nhiều tập thơ đặc sắc.Quỳ trước đền vàng (2010) là tập thơ có những khám phá riêng về vẻ đẹp của Đức Maria [1]. Hành hương (2011) là tập thơ hành hương về những miền nguồn cội thi ca Công giáo bộc lộc đặc sắc thi pháp thơ Lê Đình Bảng [2]. “Lời tự tình của bến trần gian” (2012) là một tập thơ tình yêu, thơ tự tình của người trần gian nhưng vẫn được ướp hương thánh thiện.

Lời tự tình của bến trần gian” có 112 bài thơ với lời giới thiệu của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (hiện là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam). Tập thơ cũng in kèm 72 bài nhạc của 15 nhạc sĩ tên tuổi trong làng Thánh ca Công giáo phổ thơ trong tập Lời tự tình của bến trần gian. Riêng nhạc sĩ Hải Triều phổ 41 bài. Có lẽ đây là một tập thơ có con số kỷ lục bài được phổ nhạc. Điều ấy là sự gặp gỡ kỳ diệu của thơ và nhạc. Và chính thơ đã đem đến cảm xúc âm nhạc cho nhiều nhạc sĩ (Vì là thơ của “bến trần gian”, nên ca khúc không phải là Thánh ca phụng vụ, nhưng là một dòng ca khúc đặc biệt mang âm hưởng tình ca thánh thiện).

LỜI TỰ TÌNH CỦA TÌNH YÊU

Thơ tình Việt Nam đã có những đỉnh thi sơn mà tên tuổi được ghi vào lịch sử văn học dân tộc. Hồ Xuân Hương, Tản Đà, Phan Khôi, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Xuân Quỳnh, Phạm Thiên Thư, Nguyên Sa…Mỗi người một vẻ, các nhà thơ đã làm giàu có đời sống tinh thần của một thời.

Thơ  tình Lê Đình Bảng có những đóng góp đặc sắc gì về tư tưởng và nghệ thuật?

Xin đọc một bài

THÔI ĐỂ GIÓ CUỐN ĐI

                   Thơ Lê Đình Bảng

Hôm qua đi lễ khấn dòng

Nhìn em đăm đắm tựa bông hoa quỳ

Ta về đọc truyện Trương Chi

Thì ra, người ấy cũng y như mình

Cũng buồn cũng nhớ mông mênh

Cũng tương tư cả giờ kinh sớm chiều

Thì ra, từ buổi em yêu

Nụ tầm xuân đã thành điều thiêng liêng

Bây giờ ngày tháng ra Giêng

Em là của Chúa của riêng nhà dòng

Mỗi lần ra đứng trông mong

Gửi hương cho gió vào trong tường rào

Gửi thêm một chút chênh chao

Nhỡ mai cách trở ba đào, dặm khơi

Sông nào rẽ khúc ngăn đôi

Em như thánh nữ, ta người trần gian

Cũng là bụi đất tro than

Sao ta nguội lạnh, em nhân đức dày

Cũng là đầu ngọn heo may

Ta đêm bóng tối, em ngày trời trong

Hai con đường thẳng song song

Chia nhau nỗi nhớ, nửa trong nửa ngoài

Thế rồi, chiều nắng, mưa mai

Cách chia đâu phải dặm dài đường xa

Em về bên ấy hương hoa

Buồn, ta ra đứng ngã ba sông dài

(Sài gòn 1975)

Đó là chuyện tình của “người trần gian với thánh nữ”. Người con gái ấy hình như không thuộc về trần gian. – Em là của Chúa của riêng nhà Dòng”. Tuổi thanh xuân của em, “Nụ tầm xuân đã thành điều thiêng liêng”. Chỉ có “Ta” tương tư, buồn nhớ mênh mông, như chuyện tình Trương Chi. Cách ngăn không xa nhưng hai người như hai đường thẳng song song. Thời gian cứ phôi pha, “Thế rồi, chiều nắng, mưa phai”, và ta khôn nguôi thương nhớ: “Em về bên ấy hương hoa/ Buồn, ta ra đứng ngã ba sông dài”. Ta đi lễ khấn dòng của em về mà lòng đầy tâm trạng, mà lẽ ra phải chúc mừng em, phải chia vui với em. Chỉ có nỗi buồn và sự trông mong để gửi vào trong tường rao nhà dòng cho em “chút hương” và cả chút “chênh chao” (nghiêng lệch chao đảo của tâm hồn) để em hiểu lòng ta. Nhưng tất cả đã cách ngăn.

Người đọc nhân ra ngay phải chăng đây là một mối tình đơn phương. Anh nhận ra, em ngày càng xa cách trong không gian, thời gian. Và trong em không có chút hình bóng nào của anh, không một sợi tơ vương bụi trần nào vướng gót chân em. Bởi “Em là của Chúa, của riêng nhà dòng”. Ta và em không chỉ cách trở bằng tường rào nhà dòng, mà còn “cách trở ba đào, dặm khơi”. Nhà thơ đã diễn tả nỗi nhớ thương đằng đẵng trong thời gian bằng những tứ thơ rất tuyệt. Nhớ mênh mông trong cả giờ kinh sớm chiều, “Cũng là đầu ngọn heo may (mùa đông)/ Ta đêm bóng tối, em ngày trời trong”. Nhớ em cả đêm ngày, từ đầu xuân ra Giêng đến khi gió heo may về (mùa đông). Chỉ còn lại nỗi buồn, không biết gửi về đâu: “Buồn, ta ra đứng ngã ba sông dài”. Tại sao người thơ lại ra đứng ở ngã ba sông dài? Con sông dài ấy chính là nỗi buồn mênh mông của người thơ. Nó gợi lại một tứ thơ cổ điển của Huy Cận: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” (Tràng Giang)

Những điều vừa trình bày trên đã lộ ra những “cái mới” của thơ tình Lê Đình Bảng

trong dòng chảy thơ tình, chuyện tình Việt Nam. Tình Lan và Điệp (Tắt lửa lòng – Nguyễn Công Hoan) là tình của người thất tình đi tu. Tình của chú tiển Lan trong Hồn Bướm mơ tiên (Khái Hưng) là tình của người chạy trốn. Chú tiểu Lan ngày ngày niệm Phật nhưng nhưng trái tim lại gửi dưới hồng trần. Tình yêu trong thơ Xuân Diệu là tình yêu nhục thể (sau này người ta phát hiện ra đó là “tình trai”). Trong thơ T.T.K.H, tình yêu rướm máu trên mỗi câu thơ. Động hoa vàng của Phạm Thiên Thư (100 khổ thơ) là tình yêu “nhập niết bàn” (“Vào hang núi nhập niết bàn/ Tinh anh nở đoá hoa vàng cửa khe”). Tình yêu trong thơ Nguyên Sa (Áo lụa Hà Đông, Tuổi mười ba…), trong thơ Nguyễn Tất Nhiên (Cô Bắc kỳ nho nhỏ; Ma Soeur…) là tình yêu của đời thường (tương phản với tình yêu trong thơ Lãng Mạn 1930-1945. Tất nhiên, còn một dòng chảy khác là thơ về tình yêu trong chiến tranh (Màu Tím hoa sim – Hữu Loan; Tha La xóm đạo. 1950-Vũ Anh Khanh; Núi Đôi – Vũ Cao; Cuộc chia ly màu đỏ – Nguyễn Mỹ; Sóng –Xuân Quỳnh…). Thơ tình trong chiến tranh đậm màu sắc lý tưởng, tràn ngập lửa đạn hy sinh, và nỗi niềm khôn nguôi với quê hương.

Thơ tình Lê Đình Bảng có cái trong ngần, thanh khiết của hồn thơ. Không một chút gợn của cảm xúc nhục thể. Buồn mênh mông, ngóng trông vời vợi, biết là hai người là hai đường song song, nhưng không tuyệt vọng, không hư vô. Yêu em, Ta nhận ra mình là “bến trần gian”, một sự tương phản cách biệt, nhưng lại dung chứa nhau bởi “người ấy cũng y như mình”, cũng là tro bụi, cũng cùng một tình cảnh.

            “Sông nào rẽ khúc ngăn đôi

Em như thánh nữ, ta người trần gian…

…Cũng là bụi đất tro than

Sao ta nguội lạnh, em nhân đức dày

Cũng là đầu ngọn heo may

Ta đêm bóng tối, em ngày trời trong”

            Sự soi chiếu vào em để nhận ra Ta là “bến trần gian”, ta nguội lạnh, ta đêm bóng tối  là điều làm cho thơ Lê Đình Bảng khác hẳn với thơ tình của những nam nhân khác. Trong thơ của nam nhân, “nam tính” có sự vượt trội giữa anh và em, và nam tính trực tiếp bộc lộc nhục cảm, có sức càn lướt.

Hãy để môi rót rượu vào môi
Hãy cầm tay bằng ngón tay bấn loạn

            (Tháng sáu trời mưa-Nguyên Sa)

Để anh còn dắt cô đi dạo
Còn rủ cô vào rạp cải lương

             (Cô Bắc Kỳ nho nhỏ-Nguyễn Tất Nhiên)

Thì thôi tóc ấy phù vân
Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương
Thì thôi mù phố xe đường
Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi

            (Động hoa vàng-khổ 22-Phạm Thiên Thư)

            Với Lê Đình Bảng, nhân vật em là “cô gái Sion trong Kinh Thánh, Bồ câu của Nhã ca, và là thánh nữ” mà nhân vật Anh không thể tiếp cận như một người trần gian. Anh hướng về em là nhìn lên một vẻ đẹp tinh tuyền,” Cái Đẹp Tuyệt Đối”. Em rạng ngời như ánh dương, Em mát trong như trăng ngàn, Em hồn nhiên như thiên thần. Mọi thứ trần gian quanh em đều mờ đi, kể cả Anh. Em chiếm ngự tâm hồn anh và trở thành ngôi sao soi dẫn anh suốt cuộc đời

            Bởi khởi đầu của tình yêu là những kỷ niệm thánh thiêng

 Khi ấy, em lên mưới sáu tuổi

Tôi từ trường Tập về quê chơi

Bỏ quên kinh sách trong nhà Chúa

làm kẻ chầu nhưng suốt cả đời…

                   (Thơ tình gửi Dalida )

Em còn nhớ mỗi thứ Năm, Chúa Nhật

Xong lễ về, tôi đợi dưới vòm cây

Ở ngã tư mà em vẫn qua đây

Thuở hai đứa mới mười lăm mười bảy

Hai cánh cổng, giàn hoa leo bông giấy

Lời kinh thơm như là kẹo mạch nha

Vì lễ đầu dòng vừa mới hôm qua

Trong khăn lúp còn rưng rưng lời khấn

                    (Lễ đầu dòng)

Đêm nay, nhớ đốt trầm, chờ nhau nhé

Lễ nửa đêm, theo kiệu Chúa Hài đồng

Con đường vòng, hai đứa bước song song

Hai ngọn nến, một đức tin ngời sáng

                         (Nhã ca lễ nửa đêm)

-Tôi ngắm đứng, chờ em lên dâng hạt

Sao lời kinh, điệu vãn cứ nao lòng

Hình như là ơn Chúa ngấm vào trong

hành máu thịt chở đức tin, lòng đạo

            (Nơi thiên đường ký ức)

Cũng có lúc mơ ước cõi trần gian “đầu gối, tay ấp”:

Ngày mai em có lên đền thánh

Ra ngắm rừng dương xanh bóng kia

Đã tới mùa chim quyên xuống đất

Từng đôi trong vườn rợp hoa kề…

…Em hát những bài ca Thánh vịnh

Cơ hồ mật ngọt và bùa mê

Lòng tin em đỡ đần tay gối

Đầu ấp cho ta nỗi nhọc nhằn

       (Em lên đền thánh)

            Người đọc không thể hiểu tại sao tình đơn phương ấy lại theo Anh suốt cả cuộc đời, cả trong chiêm bao. Sự thật Em chính là Cái Đẹp tuyệt đối mà anh hướng về. Anh thấy, lúc sắp qua đời, Anh gọi em là thánh nữ.

Vì tôi trót vụng đường tu

Bao năm nặng gánh tương tư với người

            (Sơn tinh Thủy tinh)

Dưng không trước lúc qua đời

Gọi em mấy bận sang chơi bên nhà

Maria, Maria

Em là thánh nữ, em là người yêu

(Chiêm bao)

            Một nỗi buồn trăn trở mãi trong tâm thức người thơ. Nỗi buồn bao trùm không gian thời gian, Không phải là thất tình kiểu trai gái yêu nhau, mà là sự tìm kiếm Cái Đẹp tuyệt đốingười ở bến trần gian chưa với tới được.

Buồn đâu ở tận thinh không

Cơn mê sũng ướt đầy đồng mưa rơi

                        (Buồn)

Em vẫn giong thuyền sang đất hứa

Đêm khuya, nguyệt lạnh chỗ ta ngồi

(Gửi ngưởi biên viễn )

…Từ em đầu hạt mưa tuôn

Từ ta ra ngã ba đường, vời trông

Ngọn cồn, bóng núi mênh mông

Nhớ nhung, xin hẹn một lòng hôm mai

(Đôi bờ)

                        Em như cây cải về trời

                        Để ta ngóng đợi một đời hư vô

                                    (Một lời thác sinh)

Mai kia trong cõi vô cùng

Một vun nước nhạt, một lưng cơm thừa

Lạy trời bên ấy dăng mưa

Để tôi đứng đợi sau bờ dậu kia

Chờ khi xong lễ, em về

Bâng khuâng gió rét buồn nghe trong cành

            (Bâng khuâng)

            Và không ít nước mắt, nhưng nén vào trong lòng.

Ngày mai em có lên nhà mẹ

Xanh mấy trùng khơi, cách mấy sông

Nước mắt chực rơi, rồi nén lại

Đi, về đôi ngả, nước mênh mông

Chờ ngô ra bắp thêm mùa nữa

Khi cánh đống vừa gặt lúa xong

Gió đã đổi chiều ra gió chướng

Mà thôi, giấu nỗi buồn vào trong

            (Em về bên ấy có bình yên)

Bao giờ hạt lệ phôi pha

Từ em khóc giấu, từ ta thương thẩm

            (Mộ khúc)

Ước gì em đến bên tôi

Hai bên hàng ghế song đôi nguyện cẦu…

…Cõi trầm hương rất nguy nga

Nghe tuôn lá động, nghe nhòa lụy rơi

               (lời khần nhỏ chiều Chúa nhật )

Cũng đành một buổi phân ly

Vời trông theo bóng người đi mưa nhòa

                 (Người về đầu non)

Từ em xa chẳng gần bên

Sẻ chia nước mắt, nhân lên nụ cười

                   (Quê nhà)

            Không thể tìm thấy những nét chân dung cụ thể của một người yêu trần gian trong thơ tình Lê Đình Bảng. Không thể định vị nhân vật Em trong tình yêu của nhà thơ bằng không gian, thời gian, bằng những kỷ niệm, những tình huống như những người yêu trần gian của Hàn Mạc Tử. Cũng không thể tìm thấy những cảm xúc nhục thể nam nữ trong những lời tình mê đắm của thơ Lê Đình Bảng. Nhân vật Em ấy, một nữ tu, một cô gái Sion, một thánh nữ, chỉ có thể là Cái đẹp tuyệt đối mà nhà thơ suốt đời ủ ấp trong tim. Chỉ có điều, “bến trần gian” còn xa cõi trời quá, cho nên người thơ vẫn hoài ngóng trông.

                        Hoa kia nở trong vườn rào kín

                        Của thánh, nào đâu phải của mình

                        Của một đời hương hoa đạo hạnh

                        Của vâng lời, nghèo khó, đồng trinh

                                    (Lời tự tình của bến trần gian)

VẺ ĐẸP THƠ TÌNH CỦA LÊ ĐÌNH BẢNG

            Ngoài vẻ đẹp về nội dung và tư tưởng, thơ tình lê Đình Bảng có vẻ đẹp riêng về nghệ thuật ở nhiều yếu tố thi pháp.

            Lê Đình Bảng đưa vào thơ thi liệu lấy từ bối cảnh đời sống sinh hoạt lễ hội Công giáo, điều này là một cách làm giàu thơ tình Việt Nam. Đối với giáo dân Công giáo, những sinh hoạt lễ hội ở nhà thờ là điều rất bình thường, nhưng chính nhà thơ là người phát hiện ra cái đẹp mới mẻ này.

                        Em có nhớ từ lễ Tro ra tết

                        Từ Giêng, Hai trong cái rét nàng Bân

                        Nắng ngọt ngào từ hơi ấm trong chăn

                        Quê nhà ta cũng vào mùa thương khó

                        Và khi ấy dọc đường hoa xoan nở

                        Ội, loài hoa chịu phép rửa muộn màng

                        Như kẻ trộm vừa được phúc ăn năn

                        Đến tắm mát ở đầu nguồn Cứu Rỗi

                        Những tuần chay, mình xếp hàng xưng tội

                        Lòng bâng khuâng nghe chim hót ngoài vườn…

                                    (Hoa xoan mùa thương khó)

                        Giục giã lời kinh thơm nắng gió

Thiêng liêng câu hát đượm hương trời

Nô –en về vàng rực lúa ngô phơi

Những mắt biếc với môi trầm rạng rỡ

Ước gì mình sánh bước song đôi

Đêm rất thánh quỳ bên nhau lặng lẽ

            (Rước tình)

Đêm nay, nhớ đốt trầm, chờ nhau nhé

Lễ nửa đêm, theo kiệu Chúa Hài đồng

Con đường vòng, hai đứa bước song song

Hai ngọn nến, một đức tin ngời sáng

           (Nhã ca lễ nửa đêm)

Nhớ mùa chay trước em qua

Thứ Năm đi lễ Đức Cha Truyền Dầu

Hai lòng đã bén duyên lâu

Cứ như lá rét tìm nhau trong cành

Ta nhìn trong mắt em xanh

Hoa xoan tim tím mỏng manh. Ô kìa

Ở nơi vòm cửa bên kia

Có đôi chim mới tha về cọng rơm

Lúa mùa con gái đương thơm

Hay hương tóc của chiều hôm lên đền

            (Mùa chay)

Mời em, xin nhảy mừng cho thỏa

Theo những tình nhân vui sánh đôi

Ở đấy lúa đồng chiêm chín tới

Lời quyên ca ríu rít vàng mười

            (Hương mùa mới)

Đọc những câu thơ trên, người đọc còn nhận ra một điều mới lạ khác trong thi pháp thơ tình Lê Đình Bảng. Thơ tình Lê Đình Bảng gắn liền với khung cảnh thiên nhiên làng quê. Nơi ấy đẹp sững sờ: “Lúa mùa con gái đương thơm”, “dọc đường hoa xoan nở”, “nắng ngọt ngào” “trong cái rét nàng Bân”; “Nô –en về vàng rực lúa ngô phơi/ Những mắt biếc với môi trầm rạng rỡ”…

Cho nên lễ hội Công giáo ở thôn quê vừa ngân vang lời kinh, tiếng hát, tiếng chuông, tiếng chim trong vườn; vừa ướp trong hương hoa, hương lúa, hương đất, và “hương tóc của chiều hôm lên đền”…Trong thơ ca tình yêu Việt, những chất liệu, thi tứ, cảm xúc đó thật mới mẻ, có sức gây nghiện. Người đọc không chỉ cảm nhận thơ hay mà còn nhận ra những nét rất đẹp mà làng quê Công giáo đem vào đời sống văn hóa Việt.

Đi vào thế giới thơ tình Lê Đình Bảng, người đọc còn nghe đâu đây dư âm những câu thơ Kiều, thấy lấp lánh cái duyên dáng trong cách kể chuyện của Nguyễn Bính, cảm cái đồng điệu tài hoa sang trọng của thơ Phạm Thiên Thư (nhưng rất khác về tư tưởng. Phạm Thiên Thư viết theo nhãn quan Thiền – Lê Đình Bãng viết dưới ánh sáng Mỹ học Kitô giáo), và hơn thế, Lê Đình Bảng làm mới thơ cổ điển (thơ Đường-Lý Bạch, Bạch Cư Dị) bằng những tứ thơ rất khoáng đạt đậm Việt tính. Không gian và thời gian được mở ra rất rộng, thế giới tâm tưởng trôi chảy miên viễn đến vô cùng, thoát ra khỏi cái không gian chật chội của Thơ Mới (1930-1945): “Hai mươi bốn năm xưa/ một đêm vừa gió lại vừa mưa/ Dưới ngọn đèn mờ/ trong gian nhà nhỏ/ hai cái đầu xanh kề nhau than thở…”(Tình Già-Phan Khôi)

Xin hãy bay theo cánh thơ Lê Đình Bảng

Từ em chẳng thấy tăm hơi

Từ em bóng nắng gương soi nhạt nhòa

Tôi về quê mẹ quê cha

Con trăng thấp thoáng khi xa khi gần

            (Quê nhà)

Những chiều buồn bã thinh không

Em đi khói ngất vời trông quê nhà

Bao giờ mở hội, tôi qua

Lễ xa bên ấy bằng ba lễ gần

            (Lễ xa lễ gần)

Em đi biền biệt chưa về

Mấy mùa sông lấp còn nghe gió đàn

            (Sa mạc)

Lạy trời, đổ xuống sương mưa

Chân mây mặt đất lưng bờ tràng giang

Dặn dò sông cứ mênh mang

Để ta phiêu bạt với ngàn long đong

…Khi không chiều lại trông chiều

Gửi em đây cả trăm điều xót xa

            (Lạy trời đổ mưa sương )

Hỏi người, rặng liễu kia xanh

Có còn in những bóng hình hồng nhan?

Ta về, hỏi khắp dương gian

Trong vuông áo mỏng cơ hàn ngày xưa

(Cố hương)

Từ em cách trở quan san

Ta nương cánh gió trăng ngàn miền khơi

Lặng thầm khi những tăm hơi

Non phơi đầu bãi, non phơi bóng mình

            (Những miền xa khơi)

Ở đây chiều rét không mùa

Vào ra sớm vắng, buồn trưa, mưa chiều

Ở đây trời vẫn trong veo

Hình như gió nói những điều thiêng liêng

            (Thanh xuân)

            Những tứ thơ khoáng đạt mở ra “chân mây mặt đất”, gió núi trăng ngàn, đầu non cuối bãi, những rặng liễu xanh và ngọn gió nói lời thiêng liêng bay khắp cõi dân gian, mãi trên cõi trời trong xanh, đưa tâm hồn người đọc vào cõi thơ bất tuyệt. Thơ tình Việt Nam ít có một thế giới nghệ thuật như vậy.

VẺ ĐẸP CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH

            Đó là một Cái Tôi dân dã, nghèo, long đong phiêu bạt nhưng vẫn thừa sang trọng. Một mình nhưng ở giữa trăng gió, hoa cỏ vây che.

Bỗng dưng ngồi nhớ trăng quê

Tình tang cơm cháo măng tre đỡ lòng

Bỗng thương cái phận long đong

Giăng câu, vó tép bên sông một mình

                       (Tình tang)

Tôi mỏng manh và ải giòn như lá

Nhưng bốn mùa, hoa cỏ sống vây che

                    (Thư nhà)

            Cái Ta ấy có khí chất phương Đông: tĩnh tại, tự soi vào Tâm, hóa thân vào muôn kiếp khổ, mang nặng xác thân hư huyễn, để sẻ chia kiếp người phù du như hương bay. Và trong cái nhìn Hoa Nghiêm (con sâu cái kiến, núi non mây ngàn…, vạn pháp đều có Phật tính), Cái Ta ấy bỗng nhiên ngộ “lẽ nhiệm màu”.

Đợi người ta đã quên ta

Hóa thân dưới cội sim già trầm tư

Ôi người khổ hạnh chân tu

Còn bao nhiêu kiếp thân hư hèn này

Ta đong giọt lệ từng ngày

Gửi người trong cõi hương bay nhạt nhòa

                         (Dòng đời)

Mời người thả bước vô thăm

Ngó lên cao, chỗ Phật nằm tịnh không

Mây gần, nở trắng như bông

Đường tăng ơi, rũ bụi hồng về đâu?

Ta, loài cỏ kiến, chim sâu

Bỗng dưng ngộ lẽ nhiệm màu từ bi

                   (Trưa trên đèo Takóu)

            Cái Ta ấy lại như một hành giả khổ hạnh, nương nhờ vào lượng trời và lưng cơm thừa của nhân gian, để cảm nhận cho đến tận cùng nỗi hiện sinh xót xa.

                        Ta dỗ dành ta không cạn hẹp

Trời cho, xin nửa trái sim già

Và lưng bát nước qua cơn khát

Để kẻ trần gian đỡ xót xa…

              (Bây chừ Huế mưa)

Mai kia trong cõi vô cùng

Một vun nước nhạt, một lưng cơm thừa

Lạy trời bên ấy dăng mưa

Để tôi đứng đợi sau bờ dậu kia

                      (Bâng khuâng)

            Nhà thơ có lúc như một khách giang hồ, một tráng sĩ qua sông Dịch, vượt qua một hành trình đầm đìa máu và thân xác đầy dấu đinh.

Nâng chén trà thơm, thơm tuyết trắng

Mài gươm đợi một chuyến sang Tần

      (Quỳnh)

Dặn lòng còn chút hương hoa

Giữ giùm nhau để may ra có ngày

Bốn bề lửa đốt giăng vây

Ta nghe mướt máu. Hồn đầy dấu đinh

               (Vượt qua)

            Và, cốt cách là một Cái Tôi si tình

Tịnh không một tiếng thở dài

Phòng không gác khánh, mái ngoài tường rêu

Ai về, tôi ngóng trông theo

Ngẩn ngơ trưa xế, ráng chiều bặt tăm…

                                                  (Đi lễ chùa nào)

            Nhưng tôi rất thích nét tiêu dao (Nam Hoa kinh-Trang Tử) này của Lê Đình Bảng

Người từ quảy lúa lên nương

Hai vai gánh nặng nhành hương nhân từ

Ta về, đọc lại thiên thư

Ngắm bông sim nở rừng Thu phong đầy

Cảm ơn bờ bụi quanh đây

Tháng giêng hoa cải vàng rây trước thềm

Ba nghìn thế giới tây riêng

Tịnh không một cõi kề bên thôn đào

Cảm ơn ngày tháng xôn xao

Đôi con chim mộng ra vào vườn mai

Cảm ơn giờ khắc khoan thai

Trăm muôn bến đợi, ngàn phai sắc vàng

Cảm ơn bầu bạn dương gian

Áo gai hài cỏ, một gian liễu bồ

Sớm chiều vài hạt lương khô

Tiếng chim ghềnh đá, giọng hò bãi sông

Cảm ơn đợt gió trên khộng

Thầm đem hơi ấm giữa lòng đương xuân

            (Giữa đường thơm)

            Tôi gọi đó là Cái Tôi tài hoa đậm chất phương Đông, nền nã Việt tính và nghệ sĩ tính. Cái tôi ấy tài hoa trong cách dẫn truyện, tài hoa trong dùng lời để nói những điều rất đẹp, dù là hiện thực khó nghèo. Cái Tôi ấy tài hoa ở việc tìm ra Cái Đẹp và sự chia sẻ với mọi người cái hạnh phúc thánh thiện. Tất nhiên không thể không nói đến sự tài hoa trong sử dụng những thể thơ, tài hoa trong việc thẩm thấu ca dao và những câu thơ Kiều, những điển tích phương đông và phương Tây, những tư tưởng triết học của mọi thời. Chính Cái Tôi tài hoa ấy làm nên mọi giá trị thẩm mỹ của thơ tình Lê Đình Bảng.

CHỜ NGƯỜI SẺ CHIA

            Tập thơ Lời tự tình của bến trần gian còn những bài thơ sâu nặng tình quê (Tội tình, Gửi người quê lũ, Quê nhà, Mấy thương, Ơi, đồng quê ta, Về quê lúa quê chèo), những bài thơ giàu có hiện thực và đầy ắp tài hoa về những miền quê nồng đượm nghĩa tình (Về Gò Thị, Lý Cái Mơn, Ghé thăm nhà ông Đốc, Về Long Xuyên, Ơi người Cần Xây, Đêm mịt mùng Tân Châu, Thả thuyền về sông nước Cửu Long, Ai về vườn bưởi Tân Triều về Huế ; thăm Nhà dòng phố biển (Nha Trang), Về Tây Nguyên, Trưa trên đèo Takóu,  Ghé thăm Kinh Bắc, Đêm ở Tràng An (tiếp nối được tâm thức thơ Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan).

            Lê Đình Bảng cũng viết những bài giàu chất trí tuệ với cốt cách nghệ sĩ gửi Nguyễn Du (Thì thầm với Nguyễn Du), gửi Cố Giám Mục Giuse Vũ Duy Thống, cố Đức Ông-nhà thơ Xuân Ly Băng, nhạc sĩ Thế Thông, nhạc sĩ Phanxicô.  Đọc những bài thơ này, người đọc nhận ra những khuôn mặt văn hóa lớn của văn hóa Công giáo đương đại (nhưng cũng hiểu rằng, viết về người đương thời là rất khó).

            Những mảng thơ ấy chứa đựng nhiều thông điệp của trái tim nhà thơ hướng về mọi người. Nó cũng ánh lên những sắc màu khác của tài thơ và cốt cách Lê Đình Bảng, rất tiếc trong phạm vi một bài viết ngắn tôi chưa nói được điều gì, mong bạn đọc yêu quý thơ Lê Đình Bảng tiếp tục lắng nghe trong tim mình “Lời tự tình của bến trần gian”.

            Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều trong lời đề tựa tập thơ có viết: “…không ít những câu thơ lục bát của nhà thơ Lê Đình Bảng  đã thực sự quyến rũ tôi;…Những câu thơ lục bát đã làm nên phần cơ bản con người thi sĩ của ông”. Tôi nghĩ thêm, những bài thơ 7 chữ, 8 chữ của Lê Đình Bảng đã làm sống lại cái thi vị của Thơ Mới, mà một thời người ta đã “chôn” nó đi (Trần Dần).

            Tôi nghe thấy trong thông điệp của Lê Đình bảng điều này:

                        Giữ gìn, đừng để phai hương

Dẫu ngày son nhạt, bước đường xa quê

                        (Cố hương)

Long Khánh ngày 04/5/2021

___________________________________________

[*] Nhà thơ Lê Đình Bảng đã in các tập thơ: Bước chân người Giao Chỉ (Sài gòn 1967), Hành hương (2006), Quỳ trước đền vàng (2010), Lời tự tình của bến trần gian (2012), Ơn đời một cõi mênh mang (2014), Kinh buồn (2014), và các tập thơ được phổ nhạc: Đội ơn lòng Chúa bao dung (2012), Lời khấn nhỏ chiều Chúa nhật (2012), Về cõi trời mênh mang (2012). Ngoài ra, ông còn là nhà nghiên cứu lịch sử văn học Công giáo Việt Nam. Ông đã in “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường” (2010), và bộ sách “Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam” (2009) gồm 6 cuốn, 4.088 trang in do ông sưu tầm, nghiên cứu…

[1]https://buicongthuan.wordpress.com/2020/06/24/tho-le-dinh-bang-quy-truoc-den-vang/

[2] https://buicongthuan.wordpress.com/2021/06/04/le-dinh-bang-hanh-huong/

LÊ ĐÌNH BẢNG – HÀNH HƯƠNG

Những khuôn mặt thơ ca Công giáo đương đại

LÊ ĐÌNH BẢNG – HÀNH HƯƠNG

(Nxb Tôn Giáo. 2011)

Hành Hương có 57 bài thơ và 5 bài thơ phổ nhạc. Nhà thơ Lê Đình Bảng nói về sinh mệnh của tập thơ: “Hành Hương là một trong những tập thơ đã kinh qua nhiều trường đoạn nhất. Nó ra đời ở dạng chép tay (1972-1975). Được đánh máy, chuyền tay trong nội bộ bạn bè, sinh viên học sinh các Đại Chủng viện, dòng tu (1976-1992. In vi tính (có hoạ sĩ vẽ bìa, in thử 1000 tập,1992-1994). Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển viết Vào Đề và họa sĩ Choé ký hoạ. In chính thức (1994), tái bản (1999) và (2006), ra mắt tại Hoa viên Hiệp Nhất, nhà sách Đức Mẹ, 38 Kỳ Đồng, Q.3 Tp.HCM, với công chúng yêu thơ Công giáo chừng 300 người”[1] .

Không những thế, Lê Đình Bảng còn in cuốn “Hành hương với Hành Hương”[2], ghi lại cảm nhận của rất nhiều “Đấng bậc” có thế giá, ý kiến của các nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ, biên tập viên các báo Công giáo, và nhiều bạn bè tác giả đã đọc tập thơ. Tôi ghi nhận được 35 bài viết về tập thơ của: Đức Giám Mục Giuse Vũ Duy Thống, Đức Tổng Giám mục Têphanô Nguyễn Như Thể, Lm GB Cao Vĩnh Phan, Lm Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Lm Antôn Hà Văn Minh, Lm Vinc Phạm Trung Thành, Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ-họa sĩ Bàng Sĩ Nguyên, nhà văn Trần Thị Trường, nhà thơ Trần Vạn Giã, Nhà thơ-Linh mục Trăng Thập Tự,  Nhạc sĩ Phanxicô, Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển, Lm-Nhạc sĩ Ân Đức, Lm Giuse Nguyễn Hữu duyên, Lm Vinc Nguyễn Minh Chu, Lm. Rô cô Nguyễn Tự Do, các bạn hữu Nguyễn Văn Dậu, Nguyễn Ngọc Phách, Vũ Lưu Xuân, Bạch Châu, Huỳnh Hay,  Dom. Trinh, Nguyễn Đình Đầu, Bùi Ta Ngọc, Phan Nhi, Kim Lệ và Lê Kim, Thế Hùng, Đỗ Lộc Hưng, Kiều Giang, Đào Đăng, Hoàng Minh Thức, P. Phạm Gia Thuận,  Lan Giao.

 Hành Hương quả là một tập thơ “nặng ký” của một “tác giả có thế giá” trong thế giới nghệ thuật Công giáo. Tất cả những điều hay, những câu thơ bài thơ đẹp, những tư tưởng sâu sắc của thơ Lê Đình Bảng đã được khám phá. Là người đi sau, tôi không biết những điều mình viết có góp thêm được gì cho Hành Hương không?

Có lẽ phải lên đường “hành hương” một chuyến nữa với nhà thơ.

Thơ trong tập Hành Hương hầu hết là thơ tự tình, thơ là tiếng nói trực tiếp của Tôi. Phẩm chất của Cái Tôi trữ tình trong thơ quyết định giá trị thơ.

CÁI TÔI TRỮ TÌNH CÔNG GIÁO

            Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện

Hồn reo vui trong từng chữ từng lởi

Trong đất mầu đương vỡ vạc sinh sôi

Trong cây lá vươn sức dài vai rộng

               (Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện)

            Có thể đó là một “tuyên ngôn thơ” của Lê Đình Bảng, là “ý thức sáng tạo” của một nhà thơ Công giáo:

Cảm ơn Chúa đã cho tôi tắm gội

Lớn dần lên trong hương sắc của người

Ngày lại ngày hoa trái cứ sinh sôi

Mỗi gieo vãi là một lần đẫy hạt

            (Giữa bao la đất trời )

            Nhưng Cái Tôi trữ tình của một “nhà thơ đạo” khác với Cái Tôi của “nhà thơ đời” thế nào? Chẳng hạn Cái Tôi trong thơ Thiền, trong Thơ Mới (1930-1945), thơ kháng chiến (1945-1975) và thơ đương đại?

            Lê Đình bảng có nỗi niềm của nhà thơ thế sự:

Tôi nghe rõ mỗi gập ghềnh trôi nổi

Trĩu trên vai gánh nặng của đời mình

Của phận người của một kiếp phù sinh

Như thiếu phụ nửa khuya chờ trở dạ

                                (Lời kinh chiều Emmaus)

Thơ Lê Đình Bảng cũng thấp thoáng Cái Tôi của nhà thơ lãng mạn (Thơ Mới 1930-1945):

Tôi nhìn tôi giữa trong xanh

Tôi heo may tựa chỉ mành treo chuông

Xin mời em cứ lên nương

Rừng phong thu ấy vừa hương sắc đầy

                        (Lời buồn của đất)

Cái Tôi ca dao:

Lạy trời mưa cứ vây quanh

Để em cuống quýt đợi mình ngoài hiên

Tôi chong đèn, thức thâu đêm                 

Khi đong đưa hát, khi mềm mại ru

                 (Kinh cầu mùa)

Tôi trong bóng dáng một Thiền sư vân du:

Tôi loài vượn cổ trên non

Lưng vai gió cuốn đầy truông lá ngàn

                  (Bên kia Biển Hồ)

Và cái “ngông tài tử” từ Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát đến Tản Đà, Xuân Diệu và Bùi Giáng:

Neo thuyền đi, người viễn khách yêu ơi

Ta mở miệng và cười vang phố xá

                  (Đêm rất thánh)

Tôi là một kẻ du ca

Lang thang phố chợ, xa nhà đòi phen

Khi lên, nhạc ngựa vang rền

Trống chầu như thoảng mùi sen đầu hồ

Thì ra đời quá nhung tơ

Áo xiêm còn bận chào đưa khách về…

                 (Nhã ca)

Điểm một vài nét như thế để thấy sắc thái thẩm mỹ trong Cái Tôi trừ tình của thơ Lê Đình Bảng là rất phong phú và có cội nguồn trong thi ca dân tộc.

Nhưng nếu chỉ như thế thì thơ Lê Đình Bảng không đứng được ở một cõi riêng. Cái Tôi trữ tình của nhà thơ Công giáo Lê Đình Bảng có gì riêng và có gì mới hơn đã có trong thi ca dân tộc?

Lê Đình Bảng khởi đi từ hạt cơm nhà Chúa (thời ở Chủng viện):

Nhiều khi tôi hỏi riêng tôi

Bát cơm nhà Chúa hạt vơi, hạt đầy

Hạt nào tôi giữ trong tay

Của riêng, xin để dành ngày cánh chung

                   (Tự tình khúc)

            Điều này chi phối toàn bộ thế giới tâm hồn nhà thơ. Thế giới ấy đầy ắp những tín lý thần học, luân lý Đức Tin; chi phối thế giới quan, nhân sinh quan nhà thơ. Với người Công giáo, Thiên Chúa là đấng tạo dựng đất trời, tạo dựng nên Tôi. Tôi chỉ là hạt bụi. Tôi được Cứu Độ trong tình yêu thương của Chúa. Hạnh phúc hay đau khổ cũng như sinh mệnh của tôi là thuộc về Chúa. Tôi chỉ biết cám ơn Người và ăn năn sám hối. Tôi hằng mong được an nghỉ trong Người.

            Cám ơn Ngài đã cho tôi sự sống

Từ cõi hư không, nên vóc nên hình

                        (Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện)

Mỗi phút hân hoan, từng giây thảng thốt

Đây kho tàng ân sủng Chúa ban cho

Từ thở hồng hoang, trái đất nguyên sơ

Tôi trú ngụ trong tay Ngài êm ái

                             (Lời dâng)

Lạy Chúa Trời từ muôn thuở xa xưa

Ngài dẫn đưa tôi đi qua Biển Đỏ

                       (Xuất hành)

Mỗi con chữ, mỗi lời kinh bịn rịn

Của kẻ ăn xin hát xẩm đầu đường

Tôi như vậy, mà sao Chúa vẫn thương

Ơi giọt nước ở đầu ngành dương liễu

                        (Sao Chúa vẫn yêu tôi)

Lạy Chúa trời, tôi rõ phận đời tôi

Mỗi thương khó, mỗi mừng vui, tàn héo

                        (Một chút tình cỏ hoa)

Có đôi lúc, vì cơn đau, nỗi chết

Tôi như người đãng trí, rất ngây ngô

Muốn liều thân làm kẻ đốt đền thờ

Vừa khao khát đức tin, vừa thèm thuồng cơm bánh

                        (Lời kinh chiều Phục sinh)

Sao đời tôi lắm gian nan

Mải mê trăm mối, đa mang bời bời

Tạ ơn Người, vẫn yêu tôi

Áo cơm từng bữa, một đời nặng vai

            (Ơi người cố quận Sion)

Từ vực thẳm, tôi trông lên, lạy Chúa

Mảnh trời nghiêng, sao rét mướt linh hồn

Suốt dặm dài xa tít tắp Sion

Chong mắt đợi, đêm muộn màng, góa bụa

                        (Lời kinh chiều Emmaus)

Cứ để tôi là hạt bụi, tấm cám

Hạt lúa mì rơi vãi giữa đồng không..

…Biết đến bao giờ tôi được kéo lên

Khỏi kiếp bùn nhơ như người trộm ấy.

                             (Khổ hạnh ca)

…Nhỡ mai một khi lỡ lầm va vấp

Hỏi Chúa còn dung tha đỡ vực tôi không?

Đã bao lần tôi chết đuối trên sông

Mơ chiếc bè lau, ngọn lửa chài hiu hắt

                        (Lời trần tình trước hừng đông)

Lạy Chúa Trời, đến bao giờ đá nát vàng tan

Cho tôi sự nhớ ra mình-con-chim-lìa-tổ

Hãy cột dây và điệu tôi đi vòng quanh phố chợ

Gặp từng người, xin đấm ngực ăn năn

                        (Hãy xé lòng, đừng xé áo)

Tôi quỳ lạy Chúa trên cao

Dẫn dìu tôi kẻo sa vào tối tăm

Thế mà tôi tưởng xa xăm

Hóa ra Người ở âm thầm trong tôi

                  (Chúa ở trong tôi)

NHỮNG CHIỀU KÍCH CỦA HỒN THƠ

            Nếu chỉ nhìn Cái Tôi nhà thơ Công giáo qua lăng kính Thần học và tín lý Công giáo thì không thấy được phẩm chất thi sĩ và cá tính sáng tạo rất riêng của Lê Đình Bảng. Hồn thơ của ông còn có những chiều kích khác.

Ngoài chiều kích tâm linh đã phân tích ở trên, Nhân vật Tôi còn hiện diện trong trường thời gian lịch sử và hoạt động trong không gian Kinh Thánh, Tôi vượt qua thời gian và không gian hiện hữu. Những chiều kích này khác với thơ truyền thống. Nhân vật Tôi vừa hướng nội, lại vừa hướng về tha nhân để đối thoại, chia sẻ.

            Nhà thơ hóa thân thành một người đang sống vào thời cách đây hơn 2000 năm, đi tìm Đức Giêsu, ngồi đợi Ngài, và đã gặp Ngài. Con người thơ ấy không phải là người trong đám đông đi theo Chúa để nghe giảng hay cầu chữa bịnh, cũng không phải môn đồ kề cận Chúa để được huấn luyện trở nên thánh, mà là một người rất đời, rất thân tình với Chúa.

 Lê Đình Bảng đã tạo dựng được không gian lịch sử, không gian Kinh Thánh, với những con người, những sự kiện như đang xảy ra trong hiện tại, có những liên hệ mật thiết với hiện tại. Nhà thơ đắm mình trong thế giới ấy để chia sẻ với mọi người.

Hình ảnh Đức Giêsu thật trẻ trung và mới lạ, lại rất đỗi gần gũi, quen thuộc. Lê Đình Bảng có khả năng tái hiện những trình thuật của Kinh thánh về Đức Giêsu bằng cảm quan riêng, kết hợp với không gian thơ Việt, tạo nên sự ngạc nhiên thú vị. Đặc biệt thú vị ở sự sáng tạo những tứ thơ mới so với những gì được miêu tả trong Kinh Thánh.

Hay tin Ngài ở Canaan

Ngựa tôi đi một ngày đàng, còn xa

Tới nơi vừa lúc trăng tà

Mới hay, thuyền mới vừa qua Biển hồ

                                    (Bên kia Biển Hồ)

Nếu có một ngày

Tình cờ, em gặp chàng thanh niên tóc bay tiền sử

Áo vải, chân không giữa đám trẻ thơ

Hay một hừng đông Biển hồ

Ngồi trên mạn thuyền, giữa nơi nhà hội

Mùa sương sa, em về may áo mới

Gọi mưa trên bờ cuội trắng như tơ

Gió sa mạc cơ hồ

Đang thổi mấy chiều hơi nước

Tôi đợi Người

Miệng lưỡi khát khô

            (Người hát rong trên đồng cỏ)

Ở bên kia sông, chiều nay giữa phường mua bán

Tôi đã gặp Người giữa tuổi ba mươi

            (Trên sông Jordan)

Tôi đã gặp Người ở xóm nghèo Nazareth

Chắt chiu từng mảnh đời vừa tuổi lớn khôn

Rồi một hôm đi lễ về, cha mẹ lạc con

Giục giã về đâu? Jordan ơi, sông chảy ngược dòng

Bồ câu nghiêng xuống trên đầu người trai trẻ

Những xóm chài mấp mé sườn non.

            (Những chứng từ có thật)

Một đoạn thơ ngắn nhưng có thể thuật lại sống động và mới mẻ đoạn Kinh thánh từ

lúc Đức Giêsu ở Nazareth, Chúa lên đền thờ bị lạc cha mẹ, đến khi Chúa chịu Phép Rửa trên sông Jordan.

Jordan ơi, sông chảy ngược dòng”là mộttứ thơ rất thú vị, là một lời gọi thân thương dòng sông nơi Đức Giêsu chịu Phép Rửa của Gioan. Điều lạ lùng mà Kinh Thánh không miêu tả là sông Jordan chảy ngược dòng. Thực ra đó là một ẩn dụ. “Bấy giờ Đức Giêsu từ miền Galilê đến sông Jordan, gặp ông Gioan để xin ông làm phép rửa cho mình. Nhưng Gioan một mực can Người và nói: “Chính tôi mới cần được Ngài làm Phép Rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi !”(Mt 3,13-17). Lẽ ra Gioan phải được Chúa làm pháp rửa cho, nhưng lại làm ngược lại, như sông Jordan chảy ngược dòng.

Tứ thơ: ”Bồ câu nghiêng xuống trên đầu người trai trẻ” thuật lại đoạn Kinh Thánh: “Khi Đức Giêsu vừa chịu phép rửa xong, Người lên khỏi nước. Lúc ấy các tầng trời mở ra; Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”(Mt 3,13-17 đd). Nếu chỉ có vậy thì không lạ. Câu thơ kết đọan đem chất phương Đông vào bối cảnh Kinh Thánh tạo mên một tứ mới lạ:

“Bồ câu nghiêng xuống trên đầu người trai trẻ

Những xóm chài mấp mé sườn non”.

Xưa nay trong thi ca, những xóm chài thường ở ven sông. Xóm chài của Lê Đình Bảng lại “mấp mé sườn non” tức là nằm chênh vênh trên sườn núi. Đức Giêsu bây giờ là một người trai trẻ của xóm chài trên sườn núi. Người là hiện thân của niềm vui và sự bình an bên chim bồ câu hiền lành. Sáng tạo này làm mới hẳn hình ảnh Đức Giêsu trong Kinh Thánh.

Hành Hương có nhiều sáng tạo như thế. Hành Hương là đi tìm và gặp gỡ Đức

Giêsu, Đức Vua của yêu thương và hòa bình; đồng thời gặp gỡ mọi người ở những nơi đau khổ vì chiến tranh vì tội lỗi, để chia sẻ niềm vui mà nhà thơ tìm được nơi Đấng Cứu Độ.

Nhà thơ đối thoại với người phụ nữ Samari bên giếng Giacop (Ga 4, 5-42), và người đàn bà tội lỗi lấy dầu thơm xức chân Chúa, dùng tóc mình lau chân Chúa (Luc 7, 36-50). Cả hai đều đã được thấy Ơn Cứu Độ.

Ngày mai, em có lên đền thánh

Nghe những tường nghiêng vai núi cao

Lệ đã xanh rêu bờ giếng cũ

Ơi, người thiếu phụ có xôn xao

Dầu thơm, hay tóc em thơm nhỉ

Khi trái tim muốn nói, thật gần

Trong cõi vô ngôn thần khí ấy

Lệ rưng rưng là lệ ăn năn

            (Bên bờ giếng cũ)

Nhà thơ nói chuyện với người thiếu phụ Nivinê thời tiên tri Giona rao giảng (khoảng 8 thế kỷ trước Công nguyên), nhưng cùng lúc chia sẻ những đau thương của người dân Vùng Vịnh hôm nay.

Sao em không về

Vùng Vịnh tháng giêng bão táp

Vùng Vịnh quặn đau theo từng hồi còi báo động

Lưới lửa đầy trời, choàng tỉnh cơn mê?

Tôi hằng đợi em người thiếu phụ Nivin ê

Quê em đó cổ thành Babilon

Sao em không về

Ngôi nhà xưa ngó ra biển cả

Chập chờn đầy lũ ma trơi

Trôi giạt xác người!

Bốn phía rừng dương tơi tả

Đâu những mẹ già, vợ góa, con côi?

Và trẻ thơ chưa kịp làm người

Gục chết trong hầm trú ẩn…

Tôi vẫn đợi em về

Dù cổng thành Nivinê không mở

            (Tháng Giêng ở Vùng Vịnh)

Nivinê là một thành lớn, nghe lời Giona rao giảng đã sám hối và được Chúa thứ tha.

Tất nhiên vùng Vịnh hôm nay không phải là Nivinê ngày xưa nên em không về. Nhưng nhà thơ vẫn đợi em về “Dù cổng thành Nivinê không mở”.

Chúa vẫn đứng 2000 năm ngoài cửa

Từ Giêrusalem, từ mỏm đất Gaza

Có một người bị bắn chết hôm qua

Chỉ vì dám ngồi chung bàn với người anh em ngoại đạo…

                      (Lời trần tình trước hừng đông)

            Nhà thơ đợi chờ người trai trẻ của xóm chài trên sườn núi với những cánh Bồ câu nghiêng xuống trên quê hương mình:

Em có thấy lũ trẻ thơ ùn ùn trên đường sơ tán

Những mẹ già góa bụa long hong

Từ căn nhà tối om, từ phiên chợ nhếch nhác, bão giông

Tóc bạc trắng bông lau, đêm đêm chong đèn đợi cửa

Quê hương ta

Cũng một thời, mài mực ru con, mài son đánh giặc

Kẻ xuôi về phương Nam, người lên non Tây Bắc

Mẹ dỗ dành con, cơm cháo qua ngày

                       (Mặt trời ở phương Đông)

Nhà thơ nói chuyện với em gái Belem và bộc lộ tình yêu quê hương một thời lửa đạn.

Ở bên ấy pháo hoa hay đạn lửa

Và giờ này im tiếng súng chưa em

Con đường nào, về hang đá Be Lem

Hai phòng tuyến, hai làn ranh đối đầu thù hận  …

…Quê hương ta cũng một thời đạn bom rực lửa

Có thương đau, gian khổ mới thành người

Các em về, thả nghé, hát rong chơi

Ngửa mặt, đếm đầy trời sao chi chít

                        (Bài du ca của gã Tuần phiên)

Từ Hebron đến bờ Tây cát bụi

Hắt hiu trông, mồ mả lấp ơ hờ

Những mẹ già rét mướt áo tơi mưa

Xác trẻ cháy đen bên đống đồ chơi vương vãi

Ở Gaza, những chiều đông xa ngái

Em heo may sang xứ lạ quê chồng…

(Gửi người thiếu phụ chăn chiên)

(Hebron là một thành phố của Palestine nằm ở phía nam Bờ Tây, cách Jerusalem 30 km về phía nam)

Như vậy, chiều kích của hồn thơ Lê Đình Bảng không chỉ là không gian Kinh Thánh

mà còn là hiện thực chiến tranh Vùng Vịnh, hiện thực của Việt Nam một thời rực lửa.

Trong chiều kích này hồn thơ Lê Đình Bảng sâu sắc tư tưởng nhân ái và tình yêu quê hương sâu nặng.

Như cây đước ở trong rừng ngập mặn

Tôi mang ơn đất nước dưới chân mình

Cả đại ngàn sơn dã những mùa xanh

Cả mưa móc dạt dào muôn suối tưới

                    (Giữa bao la đất trời)

Cái Tôi của nhà thơ đi về trong một thế giới vượt thời gian, vượt không gian, từ lòng tin vào Ơn Cứu Độ trong Kinh Thánh (thời Giona khoảng 800 năm trước Công nguyên) đến thế giới hiện thực của Vùng Vịnh và hiện thực Việt Nam hôm nay “Các em về, thả nghé, hát rong chơi/ Ngửa mặt, đếm đầy trời sao chi chít”. Thế giới nghệ thuật này trong thi ca Việt Nam đương đại chưa có.

THI PHÁP CỦA HÀNH HƯƠNG

            Điều làm nên cốt cách thơ Lê Đình Bảng không chỉ ở chiều kích tư tưởng và thẩm mỹ của nhân vật trữ tình Tôi, mà còn ở thi pháp của Hành Hương.

            Tôi không có ý định viết về Thi Pháp thơ Lê Đình Bảng, mà chỉ tập chú vào một vài yếu tố Thi pháp làm nên đặc sắc của tập thơ Hành Hương.

            Đọc Hành Hương, người đọc được đưa vào thế giới của Kinh Thánh cả Cựu Ước và Tân Ước. Điều này là hiệu quả nghệ thuật của việc dùng các điển ngữ Kinh Thánh. Văn học Trung đại Việt Nam dùng nhiều điển ngữ của lịch sử và văn học Trung Quốc. Lê Đình Bảng góp vào thi ca dân tộc những hiệu quả nghệ thuật của điển ngữ Kinh Thánh.

Điển ngữ Kinh Thánh gợi ra không gian lịch sử, sự việc, con người được nói đến trong Kinh Thánh, đồng thời thể hiện được tư tưởng, tình cảm của nhà thơ ẩn trong điển ngữ. Điển ngữ làm cho câu thơ trở nên sâu sắc, sang trọng, nhưng cũng cản trở người đọc nếu không có tri thức lịch sử, địa lý mà điển ngữ nói đến.

Lê Đình Bảng dùng điển ngữ Kinh Thánh khởi từ nỗi buồn của Cain thời Cựu Ước đến cuộc đời Đức Giêsu từ khi ở Nazareth đến khi Chúa sống lại hiện ra với tông đồ trên đường Emmaus trong Tân Ước. Thi thoảng Lê Đình Bảng kết hợi điển ngữ Kinh Thánh với điển ngữ trong văn học Trung Quốc (sông Dịch, nơi Kinh Kha qua sông đi hành thích Tần Thủy Hoàng; bến Tầm Dương trong Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị…), và ngôn ngữ Thiền.

Cain sầu năm xưa

Đưa nhau lên đền thờ

(Bồng bềnh bao nỗi nhớ)

Tôi ngồi tôi nhớ Sion

Treo đàn lên, ngó Tầm Dương bạt ngàn

(Ơi người cố quận Sion)

Về phương ấy khấn xin đời dâu bể

Canaan hay bằn bặt Tầm Dương

(Hành hương)

Cây hương bá buồn ủ ê từng phút

Là hồn tôi đầy bóng tối âm u

(Xin trời mưa xuống)

Xin mặt trời dừng lại bên sông

Hãy mở toang, ngôi đền cổ Pharaon

Một nửa cầu vồng vắt ngang Biển Đỏ

(Người hát rong trên đồng cỏ)

            Hay tin Ngài ở Canaan

Ngựa tôi đi một ngày đàng, còn xa

            (Bên kia Biển Hồ)

Từ vườn cây dầu lên đỉnh Căn –Vê

Babylon ơi, mưa đá dầm dề

Khổ ải, lạc loài, áo tơi, nón lá

(Khổ hạnh ca)

Jordan ơi, đã tới mùa bát ngát hương sen

Khi chim ngói từng bầy rủ nhau về làm tổ

(Trên sông Jordan)

Đêm vẫn ba mươi, đầy bóng tối

Rừng phong buồn trút lá xôn xao

Vườn Cây Dầu lặng câm như đá  

Trăng hạ tuần rơi trên lũng sâu

(Vườn trong khuya)

Ngày mai, trâm gãy, bình rơi đó

Em cũng như tôi giây phút đầu

Tan tác buồn trông theo lớp lớp

Ai về sông Dịch, về Emmaus?

(Bên bờ giếng cũ)

Là khi ấy, lửa từ trời sa xuống

Xác hồn tôi cửa mở hết luân xa

Như nhập đồng, tôi nhảy múa reo ca

Đêm nhã nhạc, cây từ bi nảy lộc

(Xin trời mưa xuống)

(“Luân xa, từ bi” là ngôn từ nhà Phật)

Một thành công khác của thi pháp Lê Đình Bảng trong Hành Hương là cách dựng lại

cuộc đời Đức Giêsu trong không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật với nhãn quan thẩm mỹ riêng của nhà thơ. Những gì tường thuật trong Kinh Thánh về những nơi Đức Giêsu đến, những người Đức Giêsu gặp gỡ, những sự kiện của hành trình Đức Giêsu cứu rỗi nhân loại, được Lê Đình Bảng tái tạo thành một “trần thuật mới” rất riêng, như đọan thơ miểu tả Đức Giêsu là chàng thanh niên tóc bay tiền sử, ba mươi tuổi, con người hiền lành của xóm chài mấp mé sườn non, Người Ngồi trên mạn thuyền, giữa nơi nhà hội…(đã phân tích ở trên).

            Đây là những khổ thơ rất đẹp hình ảnh và tư tưởng, phối hợp nhiều kiểu điển ngữ và chất liệu thơ của Thi pháp thơ Lê Đình Bảng:

Và khi ấy hỡi bồ câu thiên sứ

Gõ nhịp mà ca, trẩy hội cầu mưa

Hạt xuống đồng, xanh mướt búp măng tơ

Hạt lên dốc, đẫy đà cây muôn trượng

            (Xin trời mưa sương xuống)

Cây Thánh giá nở hoa đào rực rỡ

Hãy thả bồ câu bay rợp đền vàng

Hương sáp, mật ong, quần điều áo lục

Bên đây bờ Tân ước…

            (Người hát rong trên đồng cỏ)

HÀNH TRÌNH THƠ LÊ ĐÌNH BẢNG

            Tập thơ Quỳ trước đền vàng là hành trình khám phá về Đức Maria trong lịch sử giáo hội Việt Nam. Mẹ là núi đá chở che con dân, một người Mẹ vừa mang nét đẹp Thần học và vẻ đẹp dân dã Việt. Lời thơ đẹp như châu ngọc, và hồn thơ trong veo như suối nguồn tinh khiết của Mỹ học Thiên Chúa giáo kết hợp với Mỹ học trong thơ ca truyền thống.

            Hành Hương là một bước phát triển mới của Thi pháp thơ Lê Đình Bảng. Nhà

 thơ tạo hẳn ra thế giới nghệ thuật trong việc phối hợp điển ngữ Công giáo với điển ngữ văn học trung đại Việt Nam. Hành Hương là đi tìm, gặp gỡ, khám phá Đức Giêsu, nguồn ơn bình an và Ơn Cứu Độ. Hành trình này khở đi từ nguyên thuyn đến khi tìm thấy “Người ở âm thầm trong tôi”. Hình tượng Đức Giêsu là hình tượng thật mới mẻ trong thơ ca “nhà đạo” Việt Nam. Những đóng góp này của Thơ Lê Đình Bảng có khả năng mở đường cho nhiều nhà thơ Công giáo đi sau, nhưng cũng thật khó, nếu người làm thơ Công giáo thế hệ sau không có một hồn thơ tài hoa trong thi pháp và một tầng quặng vỉa rất dày về Kinh Thánh. Có lần tôi hỏi nhà thơ Lê Đình Bảng rằng ở đâu mà anh có vốn từ giàu có, sang trọng như vậy? Nhà thơ trả lời, anh đã đọc rất kỹ tất cả Kinh Thánh Cựu ước và Tân Ước. Tôi cũng hiểu thêm rằng, những gì anh có được còn là sự thâm nhập và sống rất sâu nặng với văn hóa Việt, và thơ ca truyền thống.

            Lê Đình Bảng là một nhà thơ Công giáo đĩnh đạc, giàu có sức sáng tạo, và rất tài hoa. Ước mong các nhà thơ Công giáo, theo con đường của tiền nhân, cùng xây dựng một tòa lâu đài thi ca tráng lệ trong lòng  thi ca dân tộc (điều này Thánh ca Việt Nam đã làm được). Và Lê Đình Bảng đã góp phần mở ra nhiều con đường thơ Công giáo thật đẹp.

Tháng 6/ 2020

__________________________________

[1] Thư trao đổi ngày 29/5/2020

[2] Hành hương với Hành Hương. Nxb Tôn Giáo. 2013

XIN ĐỪNG BAO BIỆN NỮA…THƠ ƠI (về giải thưởng thơ của báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam

XIN ĐỪNG BAO BIỆN NỮA…THƠ ƠI!

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam và nhà thơ Hữu Thỉnh, nguyên Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Đồng Chung khảo trao Giải Nhì cho các tác giả. Ảnh PV báo Văn nghệ

Việc làm thơ, thi thơ là quyền của tác giả. Việc đọc thơ và bày tỏ thái độ là quyền của người đọc. Thế nên chúng ta không đặt vấn đề về tác giả Tòng Văn Hân và bài thơ “Mẹ tôi chửi kẻ trộm” của ông.

Nhưng tất cả những nhà thơ, những người yêu thơ đều hết sức phẫn nộ về việc báo Văn nghệ trao giải cho bài thơ “Mẹ tôi chửi kẻ trộm” của tác giả Tòng Văn Hân, bởi đó là một sự xúc phạm Thơ và là một sự xỉ nhục với nhà thơ. Báo Văn nghệ đã trao giải cho một “bài thơ” không phải là thơ.

MẸ TÔI CHỬI KẺ TRỘM

Những lần gà nhà tôi bị mất
Mẹ tôi chửi:
-Cái đứa trộm gà ơi
Ta cầu mong cho ngươi
Nuôi được gà đầy đàn
Lứa này tiếp lứa khác
Có nhiều gà nhất bản
Có nhiều gà nhất mường!
Những lần lợn con nhà tôi bị mất
Mẹ tôi chửi:
-Đứa nào trộm lợn nhà tôi
Thì hãy có nhiều lợn
Đàn tiếp đàn núc ních
Lứa tiếp lứa không ngừng
Bán được nhiều tiền nhé!
Từ thuở bé đến giờ
Hễ nhà mình mất gà mất lợn
Tôi đều nghe thấy mẹ tôi chửi như thế
Cầu mong cho kẻ trộm kia khá giả
Không bao giờ đến nhà tôi ăn trộm nữa.
Tôi là đứa con gái dưới mức bình thường
Nhan sắc không bằng đám bạn
Khéo léo không bằng người ta
Thế mà có hẳn bốn nhà
Muốn được tôi làm con dâu của họ
.

            Xin hãy so sánh bài này với “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiền Duật đạt giải báo Văn Nghệ 1969 thì rõ bài này có phải là thơ hay không.

            Đây là lời nhận xét của Hội đồng chung khảo:

            “…bài Mẹ tôi chửi kẻ trộm của tác giả Tòng Văn Hân, có cái ngô nghê, thật thà của một người miền núi, nhưng qua đó lại là hình ảnh rất đẹp về con người nói chung mà chỉ tư duy của người miền núi mới có được. Về sâu xa, chửi này là chửi có tính triết lý. Nguồn gốc của bài thơ bắt đầu là sự đói kém, nhưng nhân văn, cao thượng vô cùng. Gốc của nó không phải đánh kẻ trộm, hay hình sự hóa vấn đề, mà là phải xóa tận gốc đói nghèo. Phải trả cho đời sống sự lương thiện… Tứ thơ và tư duy đó dễ gây thiện cảm cho người đọc… “

 (http://baovannghe.com.vn/chuc-mung-cac-tac-gia-doat-giai-cuoc-thi-tho-2019-2020-tren-bao-van-nghe-22674.html)

            Tôi cho rằng những nhận xét trên chỉ là bao biện và mù lòa về thơ.

Có một sự lầm lẫn hết sức “ngô nghê”. Xin đọc: “Mẹ tôi chửi kẻ trộm của tác giả Tòng Văn Hân, có cái ngô nghê, thật thà của một người miền núi”. Nghĩa là trao giải cho “cái ngô nghê thật thà của người miền núi”, không phải trao giải cho bài thơ hay. Thơ “ngô nghê” thì sao có thể trao giải được!

            Và dây là cách đọc thơ của Hội đồng chung khảo: “tán”thơ. “Về sâu xa, chửi này là chửi có tính triết lý. Nguồn gốc của bài thơ bắt đầu là sự đói kém, nhưng nhân văn, cao thượng vô cùng”. Bài thơ này chẳng có gì là “triết lý hay nhân văn, cao thượng” gì cả.Nói chuyện “triết lý, nhân văn” với kẻ trộm cắp thì thật là ấu trĩ.

            Và một sự áp đặt cái bên ngoài vào “bài thơ” không thể chấp nhận được: “Gốc của nó… là phải xóa tận gốc đói nghèo”.Trong bài thơ, không có một chi tiết nào về sự đói nghèo. Trái lại bài thơ còn phản ánh sự giàu có của bản mường. Xin đọc: “Có nhiều gà nhất mường!Thì hãy có nhiều lợn/ Đàn tiếp đàn núc ních/ Lứa tiếp lứa không ngừng/ Bán được nhiều tiền nhé!”

            Giá trị thực của “bài thơ”Mẹ tôi chửi kẻ trộm là gì ?

            Bài này thuộc trường phái “Thơ con cóc” lưu truyền trong dân gian (Con cóc trong hang/ con cóc nhảy ra/ Con cóc nhảy ra/ con cóc ngồi đó/ Con cóc ngồi đó/ con cóc nhảy đi).

Nghĩa là văn bản thơ chỉ có nghĩa thông tin, không có nghĩa tư tưởng-nghệ thuật. Xin đọc

            “Những lần gà nhà tôi bị mất/ Mẹ tôi chửi:-Cái đứa trộm gà ơi/ Ta cầu mong cho ngươi…Những lần lợn con nhà tôi bị mất/ Mẹ tôi chửi:-Đứa nào trộm lợn nhà tôi..”.

Xin hội đồng chung khảo hãy chỉ ra đây có phải là ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ hình tượng có tính tư tưởng – thẩm mỹ không, hay đây chỉ là ngôn ngữ thông tin tường minh vô cảm? Thơ là nghệ thuật kỳ diệu bậc nhất của ngôn ngữ. Ngôn ngữ của “bài thơ” này không phải là ngôn ngữ thơ.

            Nội dung của bài thơ này chỉ nói chuyện mất gà, mất lợn. Đó là một tệ nạn trong xã hội đã có từ bao đời. Nội dung này không có gì là sáng tạo, mới lạ. Thiếu sáng tạo, thiếu sự mới lạ thì sao gọi là nghệ thuật được. Kẻ thù đang lăm le xâm lược ngoài biển Đông kia, sao người làm thơ không đặt trái tim mình nơi ấy mà thổi bùng ngọn lửa yêu nước của cả dân tộc này lên. Bọn tham nhũng bỏ túi nhiều ngàn tỷ (không phải ăn cắp gà cắp lợn) đang làm nghèo đất nước này, sao người làm thơ không “chở đạo… đâm gian”? Hai năm nay, dịch Covid hoành hành làm hơn hai triệu người chết, cả nhân loại lao đao sao người làm thơ lại vô cảm trước nỗi đau của nhân lọai như vậy! Chuyện mất gà, mất lợn của một cá nhân chỉ là chuyện vặt, chẳng “điển hình” cho cái gì, chẳng nêu ra và đặt được vấn đề gì, chẳng có “triết lý, nhân văn”gì, Thơ như thế làm gì có giá trị mà trao giải?

Việc người mẹ chửi có đáng trao giải không?

Thử so sánh: Chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi. Chị đánh giặc giỏi, được thưởng một cây súng cạc-bin và 15 mét vải. Trong khi chị đi đánh giặc, vải để nhà bị mất, không biết ai lấy. Chị chỉ nói với con: “Thôi con à, mình đứt ruột lại còn có người ruột đứt hơn mình, cho người“. Chị đã không chửi mà còn dạy con đạo lý: “thương người như thể thương thân”. Đó chính làtầm lòng nhân hậu và là thái độ rất nhân văn.

Trái lại, người mẹ trong “bài thơ” không chửi một lần, mà chửi nhiều lần. Chửi là hành động dùng ngôn ngữ xỉ nhục người khác, giày đạp danh dự, nhân cách người khác xuống đống dơ. Chửi là như thế, sao là “chửi nhân văn” được!

Bây giờ hãy nghe cách chửi của người mẹ. “Những lần gà nhà tôi bị mất/ Mẹ tôi chửi: -Cái đứa trộm gà ơi/ Ta cầu mong cho ngươi/ Nuôi được gà đầy đàn…Những lần lợn con nhà tôi bị mất/ Mẹ tôi chửi:-Đứa nào trộm lợn nhà tôi/ Thì hãy có nhiều lợn”.

Xin đừng ngây thơ hiểu rằng người mẹ này thực lòng cầu mong cho tên trộm giàu có để đừng ăm trộm nữa. Đó là các nói ngược, đúng ra đó là một sự rủa sả bằng cách nói tưởng như là “nhân hậu”. Thử đọc bài thơ về câu đối tết của Trần Tế Xương. Nhà thơ viết câu đối vào giấy dán ngay lên cột và hỏi vợ, mong một lời khen:

Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay?
Rằng hay thì thực là hay,
Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài!
Xưa nay em vẫn chịu ngài…

Rõ ràng là “bà Tú” khenphục tài nhà thơ. Nhưng thực ra là một sự mỉa mai thâm thúy. Cách chửi của người mẹ trong “Mẹ tôi chửi kẻ trộm” cũng là cách nói ngược như thế. Nó nặng hơn cách chửi trực tiếp nhiều. Tôi gọi đó là sự rủa sả. Chẳng lẽ sự rủa sả lại là nhân văn và triết lý.

Để rõ hơn về cách nói ngược (cách nói phản nghĩa), xin đọc những dòng Nguyễn Ái Quốc miêu tả bọn mật thám Pháp theo dõi ở Paris: “ Bất cứ tôi đi đâu, là có người nhìn tôi, ganh tị tôi, mỉm cười với tôi, tán tụng tôi, đi theo tôi…Đó là những người phục vụ thầm kín, rụt rè, vô tư và hết sức tận tuỵ…”(Vi Hành). Không phải Nguyễn Ái Quốc khen bọn mật thám, mà phải hiểu ngược lại. Nguyễn Ái Quốc tố cáo chính phủ Pháp đàn áp người Việt Nam yêu nước ở Pháp bằng cách cho mật thám theo dõi sát sao.

Như vậy, người mẹ trong “bài thơ” đã chửi rất “thâm”. Đến nỗi Hội đồng chung khảo đã không có khả năng hiểu, đến nỗi Hội đồng chung khảo còn tôn vinh việc chửi của bà ta là rất nhân văn! Cao thượng vô cùng!

Tóm lại, Hội đồng chung khảo đã gán cho “bài thơ” những nội dung, tư tưởng quá to tát ngoài sức tưởng tượng của tác giả và của người đọc, để từ đó tự bịt mắt mình mà trao giải cho một “bài thơ con cóc”, đó là lý do tại sao cộng đồng những người yêu thơ ca phẫn nộ.

Xin thưa, báo Văn nghệ là bộ mặt của Hội Nhà văn Việt Nam (của hơn 1000 hội viên). Giải thi Thơ của Báo Văn nghệ không chỉ là giải của Hội Nhà văn mà còn là bộ mặt thơ ca Việt Nam đương đại. Việc trao giải cần dựa vào những tiêu chí tư tưởng và nghệ thuật chuẩn để tìm những tài năng những tác phẩm đỉnh cao (không phải là thứ làng nhàng của người tập tọng cầm bút ). Việc trao giải không phải là đặc quyền của hội đồng chung khảo hay là sự ban phát ân huệ của Ban tổ chức.

Người đọc có thể hiều lý do tại sao các giải thưởng của Hội Nhà văn bị “mất giá’  là vì việc trao giải như thế này.

Ngày 11/4/2021