TRAO GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2018

TRAO GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2018-GIÁO PHẬN XUÂN LỘC

2 Cha Phong 2

Sáng ngày Chúa nhật 11.11.2018 Giáo phận Xuân Lộc tổ chức lễ trao giải VHNT Đất Mới 2018

Tham dự giải có 4 truyện dài, 6 truyện vừa, 55 truyện ngắn, 17 kịch bản, 412 bài thơ và 6 trường ca (riêng trường ca Lịch sử cứu độ có 1000 khúc thơ), 52 ca khúc và 160 ảnh nghệ thuật

TÁC PHẨM ĐẠT GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2018

  1. GIẢI THƠ

Có 31 tác giả tham gia Thơ Đất Mới 2018.

Giải nhất: Sách Giu-đi-tha– Bùi Văn Nghiệp-Sài gòn

Giải nhì: Chùm Thơ: DÂNG – Nguyễn Vũ Hồng Kha- Quy Nhơn

Giải ba: Vườn thơ (82 bài)- Têrêsa Mai Thị Ngợi-Xuân Lộc

Khuyến khích 1: Truyện thơ kinh thánh – Phaolô Trần Trung Hậu –Sài Gòn

Khuyến khích 2: Những ngày Chúa nhật (Tập thơ)- Phêrô Dương Kim Quới-Xuân Lộc

Khuyến khích 3: Lịch sử cứu độ (1000 khúc thơ)- Giuse Nguyễn Tiến Mỹ-Sài Gòn

Khuyến khích 4: Tập thơ Lắng trong sương,- Catarina Nguyễn Thị Lam-Xuân Lộc

  1. GIẢI TRUYỆN NGẮN

Có 55 truyện ngắn của 35 tác giả.

Hạng I: Tình người- Phêrô Nguyễn Văn Học-Hà Nội

Hạng II: Xin lỗi và cám ơn- Nguyễn Hữu Tài-Cần Thơ

Hạng III: Khóc Muộn- Maria Hà Thị Thuý Diễm-Xuân Lộc

Khuyến khích 1: Một mai thức giấc-Hồ Phương Anh

Khuyến khích 2: Thư gửi người họa sĩ tương lai- Lê Quang Trạng-Long Xuyên

Khuyến khích 3: Trái tim làng cùi– Phaolô Nguyễn Bá Định

  1. GIẢI TRUYỆN DÀI

            Số lượng tác phẩm: 4 truyện dài và 6 truyện vừa.

Giải I: Hương Thạch Thảo- Maria Phạm Thị Lành-Xuân Lộc

Giải II: Vòng xoáy yêu thương- Maria Goretti Nguyễn Thị Xuân-Xuân Lộc

Giải III: Gia đình hãy là dấu chỉ lòng thương xót của Chúa- Fx. Dương Cao Cảnh –

Cần Thơ

Khuyến khích 1: Đôi bờ xa cách- Phêrô Trần Thế Huy-Xuân Lộc

Khuyến khích 2: Khi trái tim lên tiếng- Maria Vinc Nguyễn Thị Chung–Xuân Lộc

  1. GIẢI KỊCH

Số kịch bản dự giải: 17 kịch bản của 15 tác giả.

Giải I: Hành quyết song hùng: Kịch thơ – Bùi Văn Nghiệp-Sài Gòn

Giải II: Giếng ngọc-(diễn nguyện): Giuse Nguyễn Đức Tuyến-Sài Gòn

Giải III: Cha như là một vì sao-Kịch thơ- Têrêsa Phạm Thị Thanh Lan-Đà Lạt

Khuyến khích 1: Chúa không bỏ con- Têrêsa Nguyễn Thị Thu Thuỷ-Xuân Lộc

Khuyến khích 2: Hành trình tử đạo của thánh Anê Lê Thị Thành – Hồ Phương Anh

Khuyến khích 3: Đứa con lưu lạc của Chúa trở về- Phêrô Lê Thanh Xuân-Sài Gòn

  1. GIẢI CA KHÚC

Các tác giả đạt giải ca khúc đều thuộc giáo phận Xuân Lộc

Giải I  : Tình Chúa yêu con-Hồ Quốc Vinh

Giải II : Như hạt mưa rơi-Phạm Văn Bình

Giải III: Được thương xót và tuyển chọn-Nguyễn Hữu Nhân

Khuyến khích 1: Tình mẹ cha 1-Lữ Văn Trường

Khuyến khích 2: Trở về– Nguyễn Bảo Thiên Phú

Khuyến khích 3: Dấu lặng trầm– Nguyễn Thị Thu Thỷ

Khuyến khích 4: Thắp mãi niềm tin-Nguyễn Hữu Tuyền

 

  1. GIẢI ẢNH NGHỆ THUẬT 

Giải I  : Khát khao-Lò Văn Hợp-Xuân Lộc

Giải II : Thánh Lễ-Bùi Viết Hưng-Phú Cường

Niềm vui đời dâng hiến-Lê Hữu Thiết-Xuân Lộc

Giải III: Chiều Chúa Nhật-Vũ Đức Phương-Phát Diệm

Trích diễn ngày thứ Sáu tuần thánh-Phạm Quốc Hưng-Xuân Lộc

Dìu bước-Lò Văn Hợp-Xuân Lộc

Khuyến khích 1: Kính mừng Maria –Đỗ Văn Cư-Xuân Lộc

Khuyến khích 2: Chúa là gia nghiệp đời con-Anna Nguyễn Thị Tình-Xuân Lộc

Khuyến khích 3: Ông tiên-Maria Phùng Thị Bích Loan-Xuân Lộc

Khuyến khích 4: Khi tháng năm về-Lê Hữu Thiết-Xuân Lộc

Khuyến khích 5: Nhà thờ chính tòa Phú Cường-Huỳnh Mỹ Thuận-Sài Gòn

01 toàn cảnh

Toàn cảnh

3 Đc Trinh người sáng lập

Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh, Giám mục giáo phận Xuân Lộc (2004-2016), người sáng lập giải VHNT Đất Mới. Đức cha Đaminh phát biểu khai mạc

4 Đc Đạo

Đức cha Jos Đinh Đức Đạo, giám mục giáo phận Xuân Lộc dự lễ trao giải

5 GIẢI CA KHÚC

Trao giải ca khúc

6 GIẢI TRUYỆN NGẮN

Trao giải truyện ngắn

7 Giải truyện dài +

Trao giải truyện dài

Hợp xướng ca khúc đạt giải II

Hợp xướng +

Múa minh họa

Múa phụ họa đơn ca

Kịch lịch sử về thánh Hạnh

Kịch 6-Quan tra khảo Hạnh

BCT và các nhạc sĩ Nguyên Nhung, Ngọc Tuyên, Hồng Việt, Lm phó ban thánh nhạc Xuân Lộc

BCT 3

Advertisements

TỰ TRUYỆN VÀ TIỂU THUYẾT

 

 

 

BÀI CA VỀ QUYỀN ĐƯỢC LÀM NGƯỜI

Đọc tiểu thuyết Khúc quanh định mệnh của Phạm Ngọc Chiểu. Nxb Văn học 2014

Bùi Công Thuấn

KHÚC QUANH ĐỊNH MỆNH

 

 

 

Khúc quanh định mệnh có những chỉ dấu của một tiểu thuyết tự truyện. Là một tiểu thuyết, tác phẩm có sinh mệnh riêng. Nhân vật trong truyện là nhân vật tiểu thuyết, tức là nhân vật hư cấu. Nhân vật gánh vác sứ mệnh thể hiện chủ đề, tư tưởng. Nhân vật là con người của một thời gian, không gian cụ thể, có tương quan với xã hội đương thời. Là một tự truyện, tác phẩm chỉ ghi lại những biến cố của cuộc đời tác giả, và những nghĩ suy của riêng mình. Cái đời riêng, cái gia đình riêng, số phận riêng là cái riêng tư của cá nhân, thường thì ngưới đọc không nên soi vào. Và khi viết về mình, ngòi bút của tác giả khó có thể giữ được sự bình tĩnh khách quan. Sự thái quá có thể gây ra phản cảm nơi người đọc. Phạm Ngọc Chiểu giải quyết cái chung và cái riêng như thế nào trong tác phẩm này?

BÀI CA VỀ QUYỀN ĐƯỢC LÀM NGỪỜI

             Mở đầu truyện, tác giả kể câu chuyện thương tâm của một gia đình: Người làng Minh Khánh, tính đến (2014) không mấy người quên những tai họa liên tiếp giáng xuống nhà bà Tầm. Thằng con út của bà đột ngột bịnh năng, may được cứu. Sau đó, có ba người lạ mặt đến nhà bắt ông Đan, chồng bà, đem đi giết. Anh Cả Án tử nạn vì bom Napal của Pháp trên đường công tác ở Ninh Bình. Bà ở vậy tảo tần nuôi hai con trai còn nhỏ là Ngọc và Hùng với quyết tâm cho hai con ăn học nên người. Bà qua đời ở tuổi 84.

Từ đây truyện mở ra số phận 38 năm bầm dập (1963-2001) của Ngọc (Phần I), và những bước thăng trầm 23 năm  của Hùng, em Ngọc (phần II). Phần III miêu tả sự đạt thành những ước mơ của hai anh em Ngọc. Vỹ thanh là phần khẳng định lòng trung thành với Đảng.

Bối cảnh của truyện trải từ 1945 đến 2014. Nhân vật Trọng Hà theo Đảng dẫn dân đi cướp chính quyền 1945, anh Cả Án chết trên đường công tác trong kháng chiến chống Pháp. Ông Đan bị giết trong chiến dịch “Diệt Tề”. Bà Tầm và các con phải trải qua những ngày tháng nhục nhã ê chề trong Cải cách ruộng đất, bị tịch thu nhà. Sau được xét vào tầng lớp trung nông lớp dưới, bà mới được trả lại nhà. Đến đời Ngọc, con đường càng đi càng gian truân: Học xong cấp 3, đáng lẽ Ngọc được sang học trường Lô-mô-nô-xốp về Vật lý nguyên tử, nhưng anh bị chặn lại, ở nhà làm ruộng 4 năm, rồi tình nguyện đi Thanh Niên Xung Phong 3 năm, rồi làm công nhân mở đường 6 năm. Từ 1.10.1975 Ngọc chuyển về làm Biên tập viên 7 năm. Cuối 1982 được triệu tập đi học Đại Học Viết văn (tr. 292). Anh tốt nghiệp Đại học khi đã 42 tuổi, có vợ và ba đứa con, con út đã 5 tuổi. (tr. 294). Hùng, em Ngọc, 8 lần tình nguyện vào chiến trường đánh Mỹ đều bị trả về. Hai lần xin vào biên chế, bị loại. Xin đi lao động ở Lào cũng bị trả về, xin đi học lái xe, rồi phụ lái xe cả năm trời cũng không được cấp bằng lái. Mãi sau này nhờ quen Thiếu tá Lê Tâm, trưởng phòng Công an, và nhờ Lê Tâm giúp, Hùng mới được cấp bằng lái và chính tức được hành nghề lái xe.

          Truyện miêu tả cụ thể những gian truân của Ngọc và Hùng trong quá trình phấn đấu để được công nhận quyền làm một người bình thường như mọi người trong xã hội. Họ nỗ lực sống như mọi người, ăn ở cẩn thận giữ gìn mọi nhẽ hơn cả mọi người. Họ dấn thân nhận lấy những công việc vất vả, nguy hiểm đòi hỏi hy sinh, họ tìm mọi con đường, mọi hướng đi, mọi ngã rẽ chỉ để thoát khỏi sự ám ảnh về lý lịch:  Ngọc “Muốn vào khu 4 mở đường, giữ đường dưới bom đạn bời bời của giặc Mỹ để tỏ cái chí trai thời loan-‘Chết xanh cỏ sống đỏ ngực’ với thiên hạ, và gột rửa cái tiếng oan ‘lý lịch rất xấu’ đã thành bút tích trong bản khai lý lịch” (tr.41).

Và đây là nguyện vọng của Hùng: “…, nhưng cái chính là em thành Cán bộ Nhà nước, công tác thoát ly, không còn phải bán mặt cho đất bán lưng cho trời quanh năm suốt tháng mà vẫn dài mồm ăn cơm độn khoai với rau già luộc chấm nước mắm cua mắm cáy nấu lại; quan trọng hơn là lúc đó cả anh và em coi như vùng thoát được sự kìm kẹp, ghẻ lạnh của người đời để họ thấy rằng, hai thằng con ông Đan-bà Tầm đâu có phải loại xoàng, vây bọc đến mấy thì rổi cũng chẳng ngăn chặn được anh em nó vượt lên làm lại cuộc đời, có chăng chỉ làm được mỗi việc là bắt chúng đi vòng trên đường đời mà thơi” (tr.64).

Cả hai nhiểu lần điều chỉnh mục tiêu của đời mình. Ngọc đặt ra mục tiêu cụ thể: “HỌC XONG ĐẠI HỌC, CÔNG TÁC ỔN ĐỊNH, LẤY VỢ SINH CON” (tr.139). Sau nhiều lần thất bại, Ngọc điều chỉnh: “LẬP GIA ĐÌNH, ỔN ĐỊNH CUỘC SỐNG, HỌC XONG ĐẠI HỌC” (tr.150). Và phải mất 38 năm anh mới về đến đích. Nguyên nhân chỉ vì bút phê của ông Nhân khi Ngọc làm hồ sơ đi học trường Lô-mô-nô-xốp: Trường hợp này lý lịch rất xấu không được đi học bất cứ trường nào (tr.151).

Thiếu tá Lê Tâm nói với Hùng: “Việc quản lý con người thì có riêng bộ phận nghiệp vụ của Công san người ta làm. Qua đường dây nội bộ, người ta thông báo cho nhau từng đối tượng để quản lý rất chặt chẽ. Người ta phân ra ba loại đối tượng. Đối tượng loại ba gồm những người làm việc cho đế quốc thực dân, có người nhà đi Nam năm 1954, người nhà liên quan đến thực dân đế quốc, là đối tượng phải theo dõi quản lý chặt.. Qua những gì cậu kể thì cậu bị xếp vào đối tượng loại ba rồi. Đã bị xếp loại ba thì dù cậu ở đâu người ta cũng tìm ra ngay lai lịch của cậu để theo dõi, quản lý”. Hùng bàng hoàng, thất vọng nói với Tâm: “Nói như anh thì bệnh của em hết phương cứu chữa rồi? (tr.262)

Người đọc hôm nay không thể tưởng tượng nổi sự nhục nhã đớn đau của Hùng và Ngọc mỗi lần muốn vươn lên thì mỗi lần lại bị sỉ nhục dìm xuống. Ở Thanh niên xung phong, Ngọc được mọi người tín nhiệm đề cử bầu vào vị trí Phó Ban chỉ huy Đại đội C1. Khả năng đắc cử của Ngọc rất cao, vì anh được cả đại đội yêu mến. Thấy vậy, Trưởng Ban tổ chức Tổng đội Vũ Thế Bản đã làm việc riêng với Ngọc. Ông ta yêu cầu anh rút tên khỏi danh sách bầu. Nếu không, dù anh có được bầu, thì ngay tức khắc, anh sẽ được điều sang B5 làm nhiệm vụ nổ mìn lấy đá. Lão Bản răn đe: “anh tự biến mình đang là nhà giáo thành người dục đá bắn mìn, thành người suốt năm suốt tháng bốc đá lên thùng ben xe Zin khơ” (tr. 130). Ngọc kêu lên: “Trời ơi! Khốn nạn, đúng là sự khốn nạn đến không tưởng tượng nổi!” (tr.62). Khi Hùng  muốn cưới Nhàn làm vợ, gia đình Nhàn đòi buộc Hùng phải trình cho họ bản lý lịch để họ duyệt trước khi có đồng ý hay không, và chính anh trai Nhàn, nắm trong tay lý lịch của Hùng, đã không cho em gái kết hôn với Hùng (tr.109). Khi Ngọc muốn cưới Minh, vấn đề lý lịch lại được đặt ra. Bí thư Chi bộ Đinh Văn Xuân nói thẳng với Minh về “vết đen lý lịch” của Ngọc: Bố Ngọc là người xỏ nhầm giày, là người làm việc cho Pháp.(tr.183) và khuyên Minh nên suy nghĩ chin chắn trước khi kết hôn. Minh trả lời Xuân dứt khoát, với Minh, chồng con là quan trọng nhất. Cô yêu và lấy Ngọc nếu Ngọc cũng yêu cô. Có lẽ chưa bao giờ mà hạnh phúc con người và quyền làm người bình thường bị chà đạp đến như thế!

Nhưng “cái lý lịch rất xấu” của Ngọc và Hùng là gì thì hai người không bao giờ biết được. Lý lịch của Hùng được được Ủy Ban xã xác nhận như sau: “Bản lý lịch của anh Hùng khai trên là đúng. Gia đình anh Hùng là gia đình liệt sĩ, có anh trai hy sinh trong kháng chiến chống Pháp”(tr. 197; 263). Nhiều lần Ngọc Hỏi mẹ, bà Tầm chỉ nói: “Bố là người tốt con à!” (tr.96). Còn Hùng nói với mẹ: “Mẹ ơi, lý lịch nhà ta thế nào, mà con đi đâu, vào đâu cũng bị đuổi về? Bà Tầm nói: “ Bao năm nay nhìn anh Ngọc và con chịu những o ép, thiệt thòi oan ức, mẹ đau lòng lắm chứ, nhưng chưa thể nói hết mọi chuyện với anh em con, vì sợ các con nông nổi, làm những việc không có lợi, rồi ảnh hưởng tai hại đến cuộc đời các con”(tr. 167). Sau đó bà kể cho Hùng nghe câu chuyện đau lòng bà đã chôn chặt trong tâm khảm suốt mấy chục năm trời (tr.168).

Chuyện “lý lịch xấu” của Ngọc và Hùng chỉ được Trọng Hà kể lại ở cuối truyện: “Khi Pháp xây dựng vùng Tề, ta cử người xâm nhập chính quyền Pháp. “Chúng tôi quyết định tìm ông cụ nhà chú…”đánh” ông cụ ra làm Lý trưởng trong bộ máy Tề-Ngụy của Pháp thì rất tốt…Chúng tôi có trao đổi với anh Án là người lãnh đạo cao nhất của Minh Khánh. Anh Án đồng ý…Nhập vai Lý tưởng, ông cụ giúp cho Minh Khánh được nhiều việc…Việc đang suôn sẻ thì tôi nhận được lệnh chuyển vùng, không kịp tổ chức thực hiện chủ trương “Diệt tề” ở huyện chú nữa, phải giao lại cho đồng chí khác. Vì vậy việc ông cụ bị giết oan trong chiến dịch ‘Diệt Tề’ năm ấy tôi hoàn toàn không biết gì” (tr.340-341)

Bố của Ngọc bị giết vì làm Lý Trưởng trong chính quyền Tề-Nguy. Và điều ấy được ghi mãi vào trong lý lịch Ngọc và Hùng như “một vết đen”, một bản án chung thân. Người ta có biết đâu ông Đan được Cách mạng mời “nhập vai” Lý tưởng trong chính quyền Tề-Ngụy là để làm việc cách mạng. Thành ra cái chết của ông là chết oan, vào bao nhiêu oan khiên Ngọc và Hùng phải chịu cũng từ cái chết ấy. Nhưng ai là người phải chị trách nhiệm về việc này? Bí thư Thị ủy Trọng Hà là người biết rõ ngọn nguồn, nhưng chính ông ta lại phủi trách nhiệm. Ông nói: “việc ông cụ bị giết oan trong chiến dịch ‘Diệt Tề’ năm ấy tôi hoàn toàn không biết gì”. Cho đến kết truyện, cái chết của ông Đan và lý lịch của Ngọc và Hùng cũng chưa được minh oan. Quả thật để được làm người bình thường, với những ước vọng hạnh phúc bình thường, sao khó khăn, đau đớn, oan ức, tủi nhục đến vậy?!

Nhưng anh em Ngọc, nhờ sự giúp đỡ của những người tốt trong cuộc đời, đã thoát được vòng kiềm tỏa, và đạt được những ước vọng đời mình, sống làm người bình thường, có ích cho xã hội như mọi công dân Việt Nam khác. Cuộc đời của anh em Ngọc và Hùng chính là bài ca về quyền được làm người trong một giai đoạn bi tráng nhất của lịch sử dân tộc đương đại. Bởi không chỉ có anh em Ngọc và Hùng phải chịu sự oan khiên, mà còn nhiều người khác. Thiếu tá Lê Tâm nói với Hùng: “Anh chỉ làm cái việc sửa chữa những ứng xử cứng nhắc, thái quá, vơ đũa cả nắm của một quan niệm…Cuộc đời này chắc còn nhiều trường hợp bị đối xử như chú. Biết thế, nhưng đành chịu chú ạ…”(tr. 283). Họ không oán trời, không trách người, chỉ một nỗ lực phấn đấu để vươn lên, chỉ một niềm tin vững chắc rằng gia đình mình là một gia đình tốt, và chỉ một niềm tin rằng, những gian truân do con người gây ra ấy là do trời thử thách. Hùng nói với anh: “Có phải ông trời muốn thử thách em lần cuối này nữa, xem cái chí của em đến đâu, rồi mới cho em được hưởng niềm vui hạnh phúc bình thường của mỗi con người?”(tr.254). Và tin ở lẽ thiện: “Sống ác, phạm tội ác thì chạy đâu được? Lưới trời lồng lộng” (tr.331).

Tác phẩm còn để lại những ấn tượng có sức gây ám ảnh về khát vọng sống làm người bình thường, được hưởng hạnh phúc ở hai nhân vật nữ là Phương và Kim. C trưởng Đinh Văn Xuân kể cho Ngọc nghe câu chuyện lạ lùng này. Nửa đêm có cô gái tên Phương vào nằm với anh. Xuân không biết phải ứng xử thế nào vì chế độ Thanh Niên Xung Phong nghiêm cấm quan hệ nam nữ. Cô gái nói rằng cô sẽ nhận tất cả trách nhiệm về mình. Phương xinh đẹp, bị ép lấy chồng khi chưa tròn 16 tuổi. Chồng cô là thằng bé chăn trâu còn thò lò mũi, kém cô 4 tuổi. Cô đến ở nhà chồng để mẹ cô được xóa nợ. Nhà cô nghèo quá. Bố mẹ cô ăn nợ nhà ông Chánh trương nhiều quá rồi, không thể trả được. Cô lặng lẽ sống cái số phận con ở suốt 5 năm trời, cho đến khi cô nghe được lời kêu gọi của các tuyến đường ra trận, cô mới quyết vùng thoát cái số phận oan nghiệt kia (tr. 28). Cô đã mạnh dạn nói yêu Xuân, nhưng Xuân không yêu cô, dù rất thương cảm cho hoàn cảnh của Phương. Để tránh vướng mắc, Xuân đề nghị với Tổng đội chuyển Phương đi nơi khác. Khi cầm tờ quyết định cử đi học, Phương gặp Xuân trách: “Anh hèn lắm, hèn lắm! Tôi không ngờ anh là người hèn mạt đến nước này! Thật phí niềm tin yêu của tôi” (tr.35). Nói xong Phương ngoắt đi. Một tuần sau Phương vẫn khoác ba lô lên đường. Thương quá một khát vọng sống mãnh liệt, một bản lĩnh sống vươn lên giữa những đớn hèn trói buộc nghiệt ngã.

Chuyện tình của Tính và Kim lại là một bi kịch mang màu sắc khác. Kim hơn Tính 2 tuổi, làm lụng giỏi. Cô chăm lo công việc gia đình cho chồng ăn học. Khi Tính có giấy gọi đi học sư phạm, Kim có thai. Tính từ chối đứa con vì mình còn là sinh viên. Kim mơ thấy sinh con rồi con bỏ đi. Đúng như giấc mơ. Kinh sinh con trai, được ba tháng thì con bị sốt và chết. Khi Tính được gọi đi Hải Quân đóng ở Hải Phòng thì tình cảm vợ chồng càng phai lạt (tr.137). Ở đội Thanh niên xung phong, phòng của Ngọc cách phòng của chị Kim một bức vách liếp nứa, nên Ngọc biết rõ mối quan hệ của chị Kim với ông Trưởng Ban Tổ chức Vũ Thế Bản. Và Ngọc đã xót thương cho chị Kim khi đọc thư của chị: “Ngọc em! Chị đi đây. Chị không thể ở đây được nữa, vì nỗi đau bị chồng phụ bạc, chị khát khao hạnh phúc lứa đôi, khát khao làm mẹ. Và chị đã mắc sai lầm. Không, chị không ân hận vì đã làm theo tiếng gọi làm mẹ. Chỉ chỉ ân hận vì mất trí khôn trao thân cho cái con người thường ngày chị không ưa tẹo nào, thậm chí chị ác cảm với ông ta nữa…Bây giờ trong lòng chị có giọt máu của ông ta rồi…Chị buộc phải trốn chạy theo lão vì không còn mặt mũi nào…Đừng ghét bỏ chị em nhé! (tr. 140). Đọc thư của chị Kim, người đọc hiểu tác giả đã dành sự cảm thông sâu sắc  cho khát vọng hạnh phúc của Kim xiết bao. Không rõ khi chạy trốn theo lão Bản, số phận chị sẽ thế nào!

BÀI CA VỀ LÒNG TRUNG THÀNH VỚI ĐẢNG

Tập tiểu thuyết kết lại bằng câu thơ của cán bộ Trọng Hà:

Đã nguyền theo Đảng trọn đời

                  Thì dù giông bão tơi bời vẫn theo…” (tr.345).

Điều này nói rõ mục đích viết tiểu thuyết tự truyện của tác giả. Dù cuộc đời Ngọc và Hùng có lao đao đến đâu, thì tác giả (qua nhân vật Ngọc và Trọng Hà) cũng vẫn một lòng theo Đảng. Bằng chứng là chính Ngọc đã phấn đấu và được kết nạp vào Đảng (tr. 335).

Trong truyện, nhà văn đã miêu tả rõ sự lãnh đạo của Đảng làm nên những thắng lợi trong các phong trào vận động quần chúng lao động xây dựng Chủ nghĩa xã hội như Thanh Niên Xung Phong mở đường; đã phản ánh được cái khát vọng cháy bỏng của các thế hệ thanh niên muốn được đứng vào đội ngũ của Đảng, trường hợp của Phương (tr. 32), Thao (tr. 116) và của Minh (tr. 173) chẳng hạn. Và không ít người đã hy sinh ngay trong khi công tác. Anh Sáu ở C3 đã hy sinh trong một vụ nổ mìn (tr.44), 12 người khác (tr. 279) cũng tử nạn trong vụ nổ mình ở đội 375. Họ là những chiến sĩ đã góp phần xây dựng đất nước bằng chính xương máu của mình.

Nhưng rõ nhất là trường hợp Bí thư Trọng Hà. Khi Đảng bắt đầu công cuộc đổi mới từ 1986 (Đại hội Đảng lần thứ VI). Đã có những đấu tranh gay gắt giữa nhiều khuynh hướng đổi mới (tr. 307), và không phải là không có những đấu đá chính trị đã xảy ra (tr.324, 337). Trọng Hà trở thành nạn nhân. Đang là Bí thư được tin dung, bỗng bị cách tuột về làm dân. Mãi sau mới được phục hồi lương. Ông nói với anh em Ngọc: “Chưa đầy 17 tuổi tôi đã dẫn mọi người đi cướp chính quyền trong tay Pháp, Nhật để lập Chính quyền Cách mạng, chính thức theo Đảng từ tháng 8 năm 1945, được kết nạp Đảng khi chưa tròn 18 tuổi… Từ bấy đến nay tôi chưa một phú giây chểnh mảng công việc Đảng giao, một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin vào thắng lợi của CM…tin vào lý tưởng cao đẹp của Đảng…Sau mấy chục năm theo Đảng vào sinh ra tử, kiên tâm, kiên định lý tưởng của Đảng, tôi trở về đúng cái vị thế trước ngày tôi dẫn mọi người quê tôi đi cướp chính quyền! Nói theo ngôn ngữ bây giờ tôi trở về số MO”(tr.344). Trong giọng nói của Trọng Hà có nỗi buồn, song sự trung thành với lý tưởng cao đẹp của Đảng, sự tin tưởng vào thắng lợi của Cách mạng vẫn ngời sáng. Thực tế đất nước từ “đổi mới” (1986) đến nay đã khẳng định niềm tin của Trọng Hà, cũng là niềm tin của tác giả. Nhìn vào sâu xa, niềm tin của tác giả có căn gốc sâu vững. Anh Cả Án của Ngọc là liệt sĩ chống Pháp. Ông Đan, cha của Ngọc vì Cách mạng mà chết oan, nói một cách khác, đó là sự hy sinh gấp nhiều lần so với sự hy sinh khác, bởi vợ ông là bà Tầm mấy chục năm chôn kín vào tâm khảm nổi đau của gia đình và đến đời con của ông Đan (là Ngọc và Hùng) đều chịu hy sinh ngay trong đời thường gần hết thân phận làm người. May mà có “khúc quanh định mệnh”.

            Khúc quanh định mệnh ấy là gì? Là sự may mắn chăng, là cơ duyên cho Hùng gặp được Thiếu tá Lê Tâm, người nhận ra Hùng là người tốt và giúp Hùng được cấp bằng láí xe là vì tình người (tr. 262); hay là hạnh ngộ giữa Ngọc và anh Quách Thiên, một tác giả thơ ở Hòa Bình. Rồi Thiên giới thiệu Ngọc với các anh Thúy, Kỳ ở phòng Sáng tác-Xuất bản. Họ mời Ngọc về làm biên tập viên. Từ đây Ngọc theo nghiệp văn chương, anh đi học Đại học Viết văn, sau cùng anh được kết nạp Đảng.

Thử nhìn vào những “người tốt” đã giúp đỡ Ngọc và Hùng, họ là ai? Họ cũng là các cán bộ lãnh đạo ở các cơ quan, và chắc chắn họ là Đảng viên. Thế nên trong bộ phận lãnh đạo mà Ngọc và Hùng gặp có những kẻ xấu như ông Nhân, Vũ Thế Bản,… còn có nhiều người khác tốt, họ hiểu biết quần chúng, họ giúp đỡ quấn chúng và phát huy sức mạnh quẩn chúng cho sự nghiệp Cách mạng. Ở tầm nhìn rộng hơn, sự thành công của Đảng trong sự nghiệp lãnh đạo nhân dân làm cách mạng suốt  từ 1930 đến nay chính là có đường lối đúng đắn và phát huy được sức mạnh cách mạng của quần chúng. Cuộc đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa những con ngưởi tiên tiến và sự lạc hậu, trì trệ luôn là cuộc đấu tranh quyết liệt, nhờ thế đất nước vẫn vượt lên. Niềm tin của Trọng Hà là một lòng tin như thế

Đã nguyền theo Đảng trọn đời

                                     Thì dù giông bão tơi bời vẫn theo…”

TỰ TRUYỆN VÀ TIỂU THUYẾT

           Chỉ cần lướt qua tiểu sử tác giả và nội dung truyện, người đọc sẽ nhận ra ngay Khúc quanh định mệnh là một tự truyện. Điều này có ý nghĩa gì? Viết tự truyện là để ghi lại những biến cố của đời mình, những nghĩ suy về cuộc đời và để lại những bài học ở đời cho con cháu. Vì thế giá trị của tự truyện chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình, vì đó là chuyện riêng tư của cá nhân, và là chuyện có khi cần giấu kín trong tâm khảm của cả giòng tộc như bà Tầm đã giữ cẩn mật “lý lịch” của anh em Ngọc và Hùng. Những người đã biết về tác giả sẽ đọc tác phẩm với hai góc nhìn: tác giả viết có trung thực với đời thực không? Và thái độ diễn ngôn của tác giả là thế nào trước thực tại mà lúc xảy ra những biến cố tác giả chưa có điều kiện để tỏ bày.

Chẳng hạn, thái độ đòi trả thù của Hùng đối với những người đã hại gia đình mình, và chính Hùng đã mang súng đi truy lùng kẻ thù. Anh đã gặp người thứ ba còn sống sót. Hắn sợ hãi và van lạy Hùng như tế sao (tr.330). Cả bà Tầm và Hùng đều coi những người này là kẻ ác, đã gây ra tội ác với gia đình bà và theo luật nhân quả, chúng đã bị trời phạt. Bà Tầm đã theo dõi họ và biết họ chạy đi đâu và đã sống và chết thế nào (tr. 168). Có lẽ tác giả cần phải đi đến ngọn nguồn. Ai đã ra lệnh cho những người đã giết ông Đan? Không có câu trả lời trong tác phẩm. Đó là chỗ “non tay” của tác giả tự truyện. Việc bà Tầm dõi theo kẻ ác và Hùng xách súng đi tìm trả thù không phải là giải pháp có thể giải oan cho ông Đan, hơn thế nó ảnh hưởng đến tư tưởng nhân ái của tác phẩm và che lấp đi vẻ đẹp của một gia đình liệt sĩ.

Chuyện vợ Hùng có ý  muốn ăn riêng, Hùng cho rằng cô ta bất hiếu, anh tát liền ba cái tát vào mặt vợ và đuổi vợ đi (tr.208), sau đó Hùng sang nhà vợ, nói thẳng vào mặt bố mẹ vợ rằng, anh không chấp nhận sự giúp đỡ của họ để vợ chồng anh ra ở riêng. Hôm sau vợ Hùng về, Hùng lại túm tay vợ lôi ra, đuổi vợ về nhà bố mẹ (tr. 210). Tôi nghĩ, nếu đây là một chuyện có thật của một tự truyện, có lẽ tác giả muốn dạy con cháu về đạo hiếu. Chữ hiếu phải trên chữ tình; nhưng với một tác phẩm văn chương, hẳn người đọc sẽ không đồng tình với cách xử lý thô bạo của Hùng. Cô vợ ấy sẽ sống thế nào được với một ông chồng như thế, và không rõ tác giả quan niệm thế nào về hạnh phúc gia đình?

Có lẽ tác giả tập trung ghi lại những biến cố cuộc đời của hai nhân vật Ngọc và Hùng theo mục đích của một tự truyện mà không miêu tả bối cảnh lịch sử và thời đại mà hai nhân vật ấy sống. Đành rằng tác giả có quyền chọn lưa cách viết như vậy, nhưng tôi có cảm giác các nhân vật thiếu hẳn phẩm chất của một nhân vật hiện thực chân thực. Bối cảnh truyện diễn ra từ kháng chiến chống Pháp đến những năm đầu đổi mới (1986). Lịch sử Việt Nam trải qua bao biến động hết sức lớn lao có tầm vóc lịch sử và thời đại. Kháng chiến chống Pháp thành công kết thúc với chiến dịch Điện Biên Phủ lẫy lừng, anh Cả Án hy sinh, nhưng tác phẩm không có dòng nào viết về giai đoạn lịch sử vẻ vang này. Về giai đoạn Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc, dù Đảng đã kiểm điểm và sửa sai, nhưng đến nay vẫn còn để lại dư chấn. Tác giả chỉ nhắc rất sơ lược vài việc qua ký ức của một đứa trẻ 15 tuổi. Ngọc nhớ lại việc mình bị tước quyền đánh trống, việc nhà được chia ba sào ruộng (Phần I, đoạn 14, tr.100-103). Tác giả không hề miêu tả cụ thể gia đình đã bị “đấu” như thế nào, bị tịch thu nhà ra sao, lúc đó mỗi con người trong gia đình ấy cảm nghĩ gì, sống thế nào, và sau đó được xét vào tầng lớp trung nông lớp dưới ra sao? Khi miền Bắc bước vào kháng chiến chống Mỹ từ 1965 đến 1975 thống nhất đất nước. Tác phẩm cũng không có dòng nào phản ánh cuộc chiến đấu kiên cường của nhân dân miền Bắc và Điện Biên Phủ trên không 12 ngày đêm ở Hà Nội, không ghi nhận bất cứ điều gì về niềm hạnh phúc lớn lao của một dân tộc vừa toàn thắng, vừa được hưởng những phút giây hòa bình và thống nhất tổ quốc. Mười năm sau đó, đất nước lâm vào khủng hoảng, chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam tổ quốc, vận mệnh dân tộc lại một lần nữa bị thử thách quyết liệt, nhưng nhà văn không phản ánh bất cứ điều gì về hiện thực này, Tác giả chỉ miêu tả Hùng chạy chỗ này chỗ kia xin bằng lái, xin chỗ làm; kể lại việc Ngọc lập gia đình. Anh lên kế hoạch để Hùng sống gần anh, và lo cho vợ con Hùng ra ở thị xã (Phần III, đoạn 3, 7, 9, 10).

Tôi lấy làm tiếc vì tác giả đã bỏ qua cơ hội để nâng tầm vóc nhân vật của mình lên ngang với tầm vóc thời đại, nâng giá trị tư tưởng của tác phẩm lên hòa chung vào văn chương của một thời “xứng đáng đứng vào đội ngũ tiên phong những nền văn học chống đế quốc trên thế giới”. Nếu đặt Khúc quanh định mệnh bên cạnh Vào lửa (1966) và Mặt trận trên cao (1967) của Nguyễn Đình Thi, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi của Nguyễn Tuân (1972), Bầu trời mặt đất (1981), Sóng bạc đầu (1982) của Hoàng Văn Bổn…, thì tiểu thuyết tự truyện không sánh được về giá trị. Những nhà văn lớn luôn phản ánh được thời đại trong tác phẩm của mình.

Văn học Việt Nam từ đổi mới đến nay đã chuyển việc miêu tả cái chung sang cái riêng, đã khai thác những vấn đề của cá nhân thay vì cuộc sống của cộng đồng, đã soi vào những bi kịch của đời thường thay vì viết những anh hùng ca chiến trận… Khúc quanh định mệnh nằm trong dòng chảy này. Vì thế không nên đòi hỏi Khúc quanh định mệnh phải phản ánh thời đại và lịch sử. Nhưng vẫn có điều làm tôi băn khoăn. Khi nhà văn chọn viết tác phẩm bằng bút pháp hiện thực, thì mọi vấn đề của cốt truyện cũng phải được giải quyết trong hiện thực. Ngược lại, vấn đề xuyên suốt tác phẩm là “lý lịch” của Ngọc và Hùng lại được giải quyết bằng giấc mơ báo mộng. Hồn anh Cả Án hai lần hiện về với Ngọc trong giấc ngủ mơ (tr. 67, 322), báo với Ngọc về tương lai sẽ có một người giúp giải oan cho gia đình, và dặn anh em Ngọc tìm giúp đỡ người ấy. Người ấy chính là Bí Thư Trọng Hà, đã kể lại sự việc dẫn đến cái chết của Cụ Đan, bố của Ngọc. Tôi không rõ cái “lý lịch” Trọng Hà kể có giống cái “lý lịch” bà Tầm, Mẹ Ngọc kể (tr. 167) cho con nghe không. Nếu điều bí mật mà bà Tầm cất giấu mấy chục năm đúng như Trọng Hà kể thì truyện đâu cần anh Cả Án báo mộng. Trong tác phẩmTrọng Hà cũng không giúp anh em Ngọc “giải oan” cái “vết đen lý lịch”, cũng không giúp đòi lại công bằng cho gia đình Ngọc. Trọng Hà chỉ kể lại sự việc cho Ngọc và Hùng nghe trong một bữa rựơu mừng. Cái “lý lịch” ấy vẫn còn nằm nguyên trong ngăn tủ các cơ quan quản lý con người. Như thế có nghĩa là cấu trúc truyện không tuân thủ bút pháp và không giải quyết vấn để theo yêu cầu của bút pháp, thành ra truyện kém thuyết phục. Những gì anh em Ngọc và Hùng đạt được là do nỗ lực của hai người kết hợp với vận may và cơ duyên, không phải do Trọng Hà.

Nói đến vận may và cơ duyên của Ngọc và Hùng, tôi lại nghĩ đến tư tưởng của tác phẩm. Tác giả đã giải quyết những hoạn nạn của nhân vật bằng nỗ lực của chính bản thân nhân vật kết hợp với thời vận, những cơ may, gặp gỡ người tốt và được giúp đỡ, cách xử lý ấy bảo đảm tính chân thực hiện thực. Nhưng tác giả lại xử lý những kẻ đã hại gia đình mình bằng tư tưởng “ác giả ác báo” theo luật nhân quả, trên cơ sở niềm tin dân gian, tin vào trời: “Lưới trời lồng lộng”, “Trời cao có mắt”. Ba kẻ đã hại gia đình Ngọc đều nhận kết quả thê thảm. Bà Tầm nói với các con: ”Đứa chạy xuống biển thì bị rắn biển cắn chết rồi. Ba đứa dẫn vợ con chui vào rừng sâu làm ăn không sao khấm khá lên được, vẫn nhai sắn trừ bữa, chui ra chui vào cái nhà tranh vách nứa bé hơn cái bếp nhà ta kia. Sống thế coi như chết rồi đâu con. Coi như ông giời đã phạt tụi nó…”(tr.168).

Đọc tác phẩm, người đọc thấy cái “lý lịch có vết đen” của Ngọc vẫn còn đó. Luật nhân quả đâu có giải quyết được vấn đề. Tác phẩm thiếu hẳn một tư tưởng về Con Người làm nền tảng, cho nên chỉ ghi lại được cái hiện tượng, mà chưa vươn tới tác phẩm tư tưởng. Văn chương thế giới lại tập trung khám phá về Con Người. E. Hemingway viết Ông già và biển cả và M. Sô lô khốp viết Số phận con người với tư tưởng về Con Người rất mới và rất đẹp.  Cả hai nhà văn đều đã nhận ra Con Người là Con Người kỳ vĩ. Bằng sức mạnh của chính mình, Con Người có thể chiến thắng mọi trở ngại, đạt đến ước mơ cao đẹp.

VĂN CHƯƠNG PHẠM NGỌC CHIỀU

           Những chia sẻ ở trên là tôi đặt trong những điều kiện giả định. Tiểu thuyết tự truyện buộc phải tôn trong sự thật như nó đã diễn ra. Phạm Ngọc Chiểu sử dụng kiểu bút pháp “hiện thực rậm rạp” quen thuộc của văn chương Hiện thực Xã hội chủ nghĩa. Từ cốt truyện chính, tác giả dẫn người đọc len lỏi vào các ngõ ngách, gặp gỡ những nhân vật phụ, ghé vào những chỗ dừng chân, và chứng kiến nhiều tình huống của đời sống. Nhiều chương, nhiều đoạn, tác giả viết như bút ký. Sự việc được ghi lại cẩn thận về thời gian, địa điểm, con người; có khi ghi rất chi tiết. Chẳng hạn, việc Hùng đạp xe 270 cây số (tr. 197) để lo chứng lý lịch (Phần II, đoạn 5). Công việc mở đường cũng được ghi chép tỉ mỉ như một bài tổng kết (Phần II, đoạn 14, tr.276 đến 279). Có cả việc ghi chép chi tiết về món nước mắm cáy (tr.80), một cối gạo giã (tr. 164-165), và có rất nhiều nhân vật phụ chỉ thoáng qua, chưa trở thành nhân vật tiểu thuyết.Đây là một tư liệu cụ thể. Tác giả ghi rõ tên các giảng viên ở Đại học Viết văn khi ông theo học: “Học các thầy: Hoàng Ngọc Hiến, Trần Quốc Vượng, Từ Chi, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đình Chú, Hà Văn tấn, Trần Đình Hượu, Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh, Đặng Nghiêm Vạn, và các nhà văn: Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Xuân Diệu, Lê Minh, Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiên, Anh Đức…(tr.293).

Nhà văn là người kể truyện. Tài năng của Phạm Ngọc Chiểu là kể truyện rất hấp dẫn. Anh đổi ngôi kể từ nhân vật này sang nhân vật khác tạo ra sự phong phú của góc nhìn trần thuật. Tác phẩm không chỉ có giọng kể của tác giả. Ở mỗi chương đoạn, nhà văn chọn một tình huống có vấn đề để kể và đầy tình huống lên mâu thuẫn cao độ, gay cấn, tạo ra sự hấp dẫn. Văn của Phạm Ngọc Chiểu có duyên, có sức hút người đọc. Ngôn ngữ giàu thông tin tạo nên những trang văn đầy ắp chất liệu hiện thực. Thí dụ. Phần I, đoạn 3, câu chuyện do C trưởng Đinh Văn Xuân kể, Phạm Ngọc Chiểu đã tách hẳn ra thành truyện ngắn Chạy trốn khỏi mình. Truyện ngắn này được in trong Tuyển tập văn xuôi thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước của Hội Nhà Văn. Đọc Phần I, đoạn 3 này, người đọc sẽ khám phá được cách kể truyện có duyên của Phạm Ngọc Cảnh.

Cách kể truyện có duyên ấy còn thể hiện ở nhiều yếu tố khác. Phạm Ngọc Chiểu xây dựng được nhân vật Vũ Thế Bản nói chính trị rất “ác”(tr.55), đúng bài bản không chê vào đâu được, và cái “hiểm” của anh ta dùng lý luận ý thức hệ để “đánh” Ngọc, có cả cái tài “chỉ đạo” bầu cử, tài răn đe Ngọc (tr. 62), và sau cùng lật tẩy Bản chỉ là một kẻ cơ hội chủ nghĩa lòng lang dạ sói, hại cả đời Kim (tr.140). Dạng người này ta gặp nhiều trong xã hội.

Sức hấp dẫn của trang văn Phạm Ngọc Chiểu còn toát ra từ sự nhập thân của tác giả vào nhân vật. Ông trải lòng mình vui buồn cùng nhân vật. Dường như cả bầu trời uất lên khi Ngọc bị lão Bản răn đe. Không gian mênh mông dội lên niềm vui hân hoan khi Hùng được cấp bằng lái. Từng con chữ nóng lên khi Hùng xách súng đi tìm kẻ thù để trả mối hận mấy chục năm (tr. 331). Cuộc “đấu” trí của Minh với Bí thư chi bộ Đinh Văn Xuân về sự chọn lựa một bên là lấy chồng và một bên là đi học lớp đối tượng Đảng. Đây là một chương được viết rất hay. Ngòi bút Phạm Ngọc Chiểu làm lộ ra nhiều ý nghĩa về quyền con người, về hạnh phúc cá nhân và về mối tương quan con người và xã hội, giữa một bên tình yêu và một bên là “lý lịch”(Phần II, đoạn 4). Có cả một chương miêu tả “kinh điển” về bầu chọn Ban chỉ huy theo chỉ đạo của ông Bản (Phần I, đoạn 7). Tôi gọi là “kinh điển”, vì cho đến tận ngày nay, việc bầu cử ở đâu trên đất nước này vẫn thế. Quần chúng dù có năng lực, được yêu mến đề cử vẫn bị chỉ đạo gạt ra. Bởi vì quần chúng chỉ là dãy số không vô giá trị (tr.60).

Một yếu tố khác có sức hút người đọc từ đầu đến cuối tác phẩm là cái “lý lich có vết đen” của Ngọc. Ai đã kinh qua giai đoạn trước “đổi mới” thì hiểu rõ sự vùi dập “khủng khiếp” đối với những người bị quản lý bằng lý lịch như thế nào. Đúng như Thiếu tá Lê Tâm nói với Hùng, khi đã bị xếp vào lý lịch loại ba, thì coi như hết thuốc chữa. Cuộc đời bị tước đoạt hoàn toàn quyền làm người như một người bình thường, dù anh ta là người tốt. Ngọc và Hùng là người tốt, cả hai đều nỗ lực phấn đấu không ngừng, cả hai chẳng có tội gì phạm pháp, vậy mà chỉ vì lý lịch mà bầm dập mấy chục năm. “Lý lịch” của Ngọc và Hùng được giữ bí mật đến cuối tác phẩm mới được Trọng Hà hé lộ. Những nút thắt của câu truyện được mở ra nhẹ nhõm, bình an. Người đọc mừng cho Ngọc và Hùng. Đó là một cách tạo hấp dẫn, bởi ngay cả khi bà Tầm nói lý lịch gia đình cho các con nghe, tác giả cũng không thuật lại lý lịch này (tr. 167).

          Khúc quanh định mệnh không chỉ là tự truyện của một gia đình trong hoàn cảnh khắc nghiệt của thời đại, mà là bức tranh về thân phận con người nói chung ở những tình huống cụ thể như tình huống ông Đan bị chết oan, và Hai con ông chịu hàm oan. Nói như Thiếu tá Lê Tâm: “Cuộc đời này chắc còn nhiều trường hợp bị đối xử như chú. Biết thế, nhưng đành chịu chú ạ…”(tr. 283). Nói “đành chịu” là không thể làm gì được để giải oan cho những thân phận như ông Đan, Ngọc, Hùng…Điều ấy buộc người đọc hôm nay phải suy nghĩ nhiều hơn về thực tại và nỗ lực làm việc để cuộc sống trở nên tốt đẹp như Ngọc và Hùng đã trải qua.

Tôi nghĩ, tiếng nói thầm lặng của bà Tầm, tiếng đáp trả quyết liệt của Phương, tiếng kêu tuyệt vọng của chị Kim, tiếng thương tâm của Thiếu tá Lê Tâm, và giọng buồn rất trầm của Bí thư Trọng Hà mới là thông điệp đích thực nhà văn muốn gửi đến người đọc hôm nay.

Tháng 10. 2018

XÂY DỰNG HỆ THỐNG LÝ LUẬN VĂN NGHỆ VIỆT NAM

 

 

DỰ HỘI NGHỊ TẬP HUẤN “TỪNG BƯỚC XÂY DỰNG HỆ THỐNG LÝ LUẬN VĂN NGHỆ VIỆT NAM”

Từ ngày 19 đến 22.9.2018 Hội nghị tập huấn “Từng bước xây dựng hệ thống lý luận văn nghệ Việt Nam” được Hội đồng LLPB-VHNT Trung ương tổ chức tại Đà Lạt cho 34 tỉnh phía Nam. Việc ăn ở của học viên và việc tổ chức hội nghị được đặt ở khu nghỉ dưỡng Minh Tâm.

Các học viên gồm lãnh đạo Tuyên giáo các tỉnh, các Hội Văn nghệ, báo chí và đài phát thanh, các trường đại học. Có 229 học viên, trong đó có 50 Thạc sĩ, Tiến sĩ và một Phó Giáo Sư, còn lại hầu hết đã tốt nghiệp Đại học.

Đề tài tập trung là “Từng bước xây dựng hệ thống lý luận Văn nghệ Việt Nam“. Các diễn giả xác lập rằng  vấn đề đặt ra là rất khó và đòi hỏi thời gian lâu dài. Tuy vậy đã đến lúc phải đúc kết cho được những đặc thù của lý luận văn nghệ Việt Nam. Sự tiếp thu các lý thuyết văn nghệ nước ngoài tuy có làm phong phú lý luận văn nghệ ở Việt Nam, song không thể giải quyết được tất cả các văn đề của VHNT Việt Nam. Có nhiều lý thuyết không phù hợp. Thí dụ phê bình sinh thái, phê bình hậu thực dân, phê bình nữ quyền luận…

Các học viên phải làm bài thu hoạch sau khóa học. Có 3 học viên không được cấp giấy chứng nhận vì bận công tác phải nghỉ học nửa chừng.

Niềm vui của các lớp tập huấn này là được gặp gỡ bạn bè xa gần, được nghe trao đổi về tình hình văn học nghệ thuật hiện nay. Tôi gặp lại PGS-TS Phan Trọng Thưởng, nguyên là Viện trưởng Viện Văn học, người mà tôi quen biết từ khi viết phê bình văn chương (2005), gặp lại GS Đinh Xuân Dũng từ những khóa học 2009, gặp lại GS-Nhà giáo Hà Minh Đức, bậc thầy của nhiều thế hệ học trò khoa bảng Việt Nam. Thầy đã trên 80 nhưng nói chuyện còn rất hấp dẫn, trẻ trung. Gặp các bạn Tiền Giang (hai nhà thơ Võ Tấn Cường, Trương Trọng Nghĩa), Đồng Tháp (nhà thơ Nguyễn Hữu Nhân), Trà Vinh (nhà thơ Nguyễn Hiếu). Đà Nẵng, Tây Ninh, Đà Lạt (TS Phạm Quốc Ca), Hà Nội (nhà thơ Trịnh Công Lộc, Ts Nguyễn Thị Tố Ninh). Đoàn Đồng Nai có Họa sĩ Đào tấn Hưng, Ts Nguyễn Hồng Ân, Ths Phan Đình Dũng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Đình Quốc Văn.

Những ngày ở Đà Lạt vì chỗ ở cách xa trung tâm thành phố, lịch học kín các buổi, nên chúng tôi chẳng đi chơi đâu xa được. Chỉ có một buổi tối cafe tại chợ Đà Lạt và một buổi tối cafe tại Diễm Xưa, nghe nhạc sống như phòng trá. Các ca sĩ Đà lạt hát nhạc Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Cung Tiến…

Dưới đây là vài hình ảnh

01 ở lớp tập huấn

(BCT tại lớp tập huấn)

2 Minh Tâm

Khu nghỉ dưỡng Minh Tâm (KS 3 sao)

3 Hội trường

Toàn cảnh hội trường

5 Đoàn Đồng Nai

Đoàn Đồng Nai

Bà rịa Vũng Tàu

Với đoàn Bà Rịa-Vũng Tàu

8 Hữu Nhân 1

Với Đồng Tháp, Tiền Giang

IMG_E4826

Các diễn giả: GS Đinh Xuân Dũng, GS Hà Minh Đức, PGS-TS Nguyễn Thế Kỷ, PGS-TS Phan Trọng Thưởng

PGS-TS Phan Trọng Thưởng

Với PGS-TS Phan Trọng Thưởng, Phó Chủ tịch Hội đồng LLPB-VHNT Trung ương

TS Nguyễn Hồng Ấn

TS Nguyễn Hồng Ân (học trò cách đây 31 năm) hiện là Hiệu trưởng trường Trung cấp Văn Hóa Nghệ thuật Đồng Nai3 cafe Đà Lạt

Đoàn Đồng Nai tại cafe Đà Lạt

CON ĐƯỜNG SÁNG TẠO

CON ĐƯỜNG SÁNG TẠO

Bùi Công Thuấn

VVDT

 

Thành công đặc biệt của Giải Viết văn đường trường Giáo phận Quy Nhơn là quy tụ và bồi dưỡng được một đội ngũ đông đảo những người viết văn trẻ Công giáo trên khắp các vùng miền đất nước. Chúng ta có quyền hy vọng rồi đây vườn văn chương Công giáo sẽ có được những hoa thơm trái ngọt. Nhưng để đạt được những ước vọng văn chương ấy, con đường sáng tạo của người viết văn trẻ Công giáo còn dài, đòi hỏi năng lực viết văn, khả năng kiến tạo được tác phẩm có giá trị tư tưởng – thẩm mỹ.

  1. SỰ CHỌN LỰA ĐỀ TÀI

            Người cầm viết, trước tiên phải xác định mình viết điều gì. Không có đề tài, nội dung, chất liệu thì không thể viết. Người viết văn Công giáo không tự giới hạn đề tài, bởi mọi đề tài đều bình đẳng. Tân Ước thuật lại việc Đức Giê su tiếp xúc với đủ mọi hạng người trong xã hội, kể cả Xa-tan (Mt 4,1:11), nói chuyện với họ về mọi vấn đề, trực tiếp giải quyết tại chỗ những yêu cầu được đặt ra. Tuy vậy, dù dạy bảo hay tranh luận, Lời Chúa đều quy về việc loan báo Tin Mừng: Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, Người đến trong thế gian để cứu rỗi nhân loại.

Và đây là một trường hợp cụ thể: “Bấy giờ những người Pharisêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy. Họ sai các môn đệ của họ cùng đi với những người phe Hêrôđê, đến nói với Đức Giêsu rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. Vậy xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho Caesar hay không?”Nhưng Đức Giêsu biết họ có ác ý, nên Người nói: “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình! Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế!” Họ liền đưa cho Người một quan tiền. Người hỏi họ: “Hình và danh hiệu này là của ai đây? ” Họ đáp: “Của Caesar.” Bấy giờ, Người bảo họ: “Thế thì của Caesar, trả về Caesar; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.” Nghe vậy, họ ngạc nhiên và để Người lại đó mà đi.”(Mt 22:15-21). Ngay khi Đức Giêsu giải quyết vấn đề những người Pharisêu đặt ra, thì Người cũng khẳng định Thiên Chúa: “của Caesar, trả về Caesar; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.”

Một trường hợp khác: “Đi ngang qua trạm thu thuế, Người thấy ông Lê-vi là con ông An- phê, đang ngồi ở đó. Người bảo ông: “Anh hãy theo tôi!” Ông đứng dậy đi theo Người.
Người đến dùng bữa tại nhà ông. Nhiều người thu thuế và người tội lỗi cùng ăn với Đức Giê-su và các môn đệ, vì họ đông đảo và đã đi theo Người. Những kinh sư thuộc nhóm Pha-ri-sêu thấy Người ăn uống với những kẻ tội lỗi và người thu thuế, thì nói với các môn đệ Người: “Sao! Ông ấy ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi!” Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói với họ: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi”
(Mc, 2:14-17). Như vậy việc Đức Giê su” ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi”là để khẳng định sứ mệnh cứu rỗi nhân loại. Tân Ước chọn sự việc của đời sống hiện thực để tường thuật, nhưng không phải chỉ để “phản ánh hiện thực”, mà đặt trọng tâm rao giảng Tin Mừng. Câu chuyện có tất cả sự phức tạp, căng thẳng về tư tưởng và xã hội, nhưng việc tường thuật của Thánh sử Mac-cô lại hướng về khẳng định Đức Giê su là người đến trong thế gian để cứu rỗi con ngưởi.

Người viết văn Công giáo cần phải đi vào thế gian, với trái tim nhân ái, trải nghiệm bể dâu để viết. Hãy nói lên tiếng nói của mọi số phận, nhất là những con người nghèo hèn. Học tập Kinh thánh, văn chương Công giáo là văn chương loan báo Tin Mừng. Đó là sứ mệnh Đức Giêsu đã trao lại cho Giáo hội. Sứ mệnh ấy rất cụ thể:Đức Giêsu vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh. Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ I-sai-a. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng: Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa. Đức Giê-su cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Người bắt đầu nói với họ: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe“.(Lc 4, 16-21)

  1. HÃY VIẾT NHỮNG TÁC PHẨM TƯ TƯỞNG

Văn chương Việt Nam đương đại có rất ít tác phẩm tư tưởng. Nhà văn Việt Nam lấy việc “phản ánh hiện thực” làm nhiệm vụ chính. Vẫn biết rằng, những tác phẩm phản ánh chân thực hiện thực đều rất giá trị. Tuy nhiên họ gặp khó ở chỗ thế nào là “phản ánh chân thực” cuộc sống, từ đây nảy sinh nhiều vấn đề cả về tư tưởng và nghệ thuật. Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) của Nguyễn Du còn đến hôm nay không phải bởi chất lượng “phản ánh hiện thực”(dù rằng phản ánh hiện thực là một thuộc tính của văn chương) mà bởi nghệ thuật và tư tưởng. Ngày nay chẳng ai còn nhắc tới những tác phẩm viết về phong trào Hợp tác xã ở miền Bắc những năm 1960. Đời sống thay đổi từng ngày. Ghi nhận thời sự là công việc của nhà báo, nhà kinh tế, nhà chính trị. Nhà văn là người sáng tạo cái đẹp văn chương-tư tưởng bằng ngôn ngữ.

Thử đọc truyện Người canh gác của Franz Kafka:

“Tôi chạy qua người canh gác thứ nhất. Thế rồi sợ hãi, tôi chạy ngược trở lại và nói với người canh gác: ‘Tôi đã chạy qua đây lúc ông đang nhìn đi chỗ khác’. Người canh gác nhìn chằm chằm về phía trước chẳng nói năng gì. ‘Tôi nghĩ đúng ra mình không nên làm như vậy.’ Tôi thưa. Người canh gác vẫn không nói gì hết. ‘Ông im lặng nghĩa là tôi được phép đi qua phải vậy không?’” (Hải Ngọc dịch từ bản Anh ngữ: “The watchman” (do Eithne và Ernst Kaiser chuyển ngữ),

Câu truyện có một tình huống, hai nhân vật, ba lời thoại. Cách kể gọn. Tác giả gọt bỏ hết bối cảnh, không gian, thời gian; lược bỏ tất cả sự miêu tả, sự dàn dựng. Truyện chỉ còn lại cái lõi tư tưởng, không phản ánh hiện thực. Thành ra truyện trở nên rất khó hiểu.

Hãy quan sát các nhân vật. Người canh gác hoàn toàn im lặng. Ông ta không nhìn Tôi mà nhìn đi chỗ khác, nhìn chằm chằm về phía trước. Nhân vật Tôi trình bày với Người canh gác về hành động của mình, tỏ vẻ hối lỗi. “Tôi nghĩ“việc vượt qua trạm không xin phép người canh gác là một hành động có gian ý, không nên làm. Nhưng sao người canh gác không ngăn chặn, phải chăng là ông ta lơ đễnh (nhìn đi chỗ khác”), hay ông ta đồng thuận (Ông im lặng nghĩa là tôi được phép). Xin chú ý rằng, những ý nghĩa của sự việc vượt qua trạm gác là ý nghĩ, nhận thức, là lời tự thú của nhân vật Tôi. Chủ đề của truyện của truyện nằm ở đây. Hóa ra trong lòng mỗi người (như nhân vật Tôi) đều có một “người canh gác”, mỗi người tự canh ngác hành vi của mình, tự xác lập thế nào là đúng, thế nào là sai. Sự đánh giá không phải do người đứng ở trạm canh gác. Từ đây lộ ra vấn đề tư tưởng về bản chất của việc nhận thức chân lý. Nhận thức luôn là nhận thức chủ quan. Và vì thế, mỗi người là một bản thể tự do (nhân vật tôi không bị cản trở), phải chịu trách nhiệm về chính mình, không phải tha nhân. Điều này F.Kafka (1883-1924) khác với J.P.Sartre (1905-1980). Đối với Sartre, “Điạ ngụclà Tha nhân (l’enfer, c’est les Autres) (1)

Tác phẩm Ông già và biển cả của E. Hemingway (1899-1961) đạt giải Nobel văn chương không ở giá trị phản ánh hiện thực mà ở tư tưởng về con người và nghệ thuật thể hiện theo “nguyên lý tảng băng trôi”. Ông lão Santiago, người Cuba, là hiện thân của con người kỳ vĩ. Biển cả kỳ vĩ bao nhiêu thì con người kỳ vĩ bấy nhiêu. Bằng sức mạnh của chính mình, con người có thể chiến thắng mọi trở ngại đạt đến những ước mơ cao đẹp. Hình ảnh ông lão sau ba ngày đêm vất vả chỉ kéo vể bộ xương con cá kiếm là hình ảnh có ý nghĩa tư tưởng. Cuối truyện, Ông lão vác cột buồm leo lên đỉnh dốc, ngã nhiều lần, và khi về lều, lão nằm hai tay dang rộng, lòng bàn tay ngửa lên. Có ý kiến cho rằng đó là hình ảnh Đức Giêsu vác thập giá, ngã nhiều lần, rồi dang tay chịu đóng đinh. Nếu Ông lão Santiago chỉ như thế thì Hemingway chưa đạt tới được tư tưởng của Kinh Thánh. Bởi Đức Giêsu không chỉ nằm giang tay chịu đóng đimh, mà còn chịu treo lên. Và khi Chúa bị treo lên, Người cứu rỗi nhân loại: “Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3, 14-15)

Truyện của F. Kafka và của E. Hemingway là truyện tư tưởng thế kỷ XX. Nếu đọc Kinh Thánh, ta sẽ bắt gặp kiểu truyện này đã có từ hai ngàn năm trước. Trên đường rao giảng, Đức Giêsu kể nhiều dụ ngôn. Thực chất mỗi dụ ngôn là một truyện ngắn được Chúa “sáng tạo” ngay trong hoàn cảnh cụ thể, dành cho đối tượng nghe cụ thể. Đó là những truyện ngắn hay, không chỉ sâu sắc về tư tưởng mà còn thức tỉnh tâm linh và thúc đẩy người nghe hành động. Xin đọc:

Dụ ngôn Ông nhà giàu và La-da-rô: “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người nghèo khó tên là La-da-rô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta. Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.

“Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Áp-ra-ham ở tận đàng xa, và thấy anh La-da-rô trong lòng tổ phụ. Bấy giờ ông ta kêu lên: “Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh La-da-rô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!“. Ông Áp-ra-ham đáp: “Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được“.

Ông nhà giàu nói: “Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh La-da-rô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!”. Ông Áp-ra-ham đáp: “Chúng đã có Mô-sê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó”. Ông nhà giàu nói: “Thưa tổ phụ Áp-ra-ham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối“. Ông Áp-ra-ham đáp: “Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin“.

(Luca 16:19-31)

Nói theo ngôn ngữ hôm nay, dụ ngôn Ông nhà giàu và La-da-rô là một truyện “Hiện thực huyền ảo”, vì bối cảnh câu chuyện là cõ âm. Cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Ông nhà giàu và tổ phụ Áp-ra-ham là ở một cõi khác sau cõi sống chết. Đó là cõi vĩnh hằng, nơi chỉ có thưởng phạt. Truyện kể về cõi sau nhưng là để nói về cõi hiện tại, cõi của ông nhà giàu và La-da-rô lúc sinh thời, cõi của 5 người anh em ông nhà giàu còn đang sống, cũng là cõi của Mô-sê và các Ngôn Sứ đã khai mở. Truyện miêu tả sắc nét đến từng chi tiết, soi rất sâu vào trí tuệ và tâm linh; truyện của cõi tâm linh nhưng lại đầy sự xác tín, để lại những ấn tượng hết sức mạnh mẽ, buộc người nghe phải chọn lựa một thái độ sống, thái độ tư tưởng. Thái độ này sẽ soi dẫn cả cuộc đời cho người được mạc khải.

Nếu chuyện Ông nhà giàu và La-da-rô hoàn toàn là một chuyện hư cấu thì dụ ngôn Người cha nhân hậu (Lc 15, 1-3; 11-32) là chuyện của ngày xưa nhưng lại đang diễn ra trước mắt con người hôm nay: con cái đòi cha mẹ chia gia tài, anh em phân bì, ganh tị với nhau.

Kể dụ ngôn, Đức Giêsu hướng đến lả những người thuộc phái Pha-ri-sêu và các kinh sư. và có cả những người thu thuế, những người tội lỗi cùng nghe. Sự đa dạng đối tượng nghe làm cho câu truyện trở nên đa nghĩa. Nói bằng ngôn ngữ hôm nay, ở tư cách người diễn ngôn, Đức Giêsu là Con nói về Cha trên trời. Nhưng người Do Thái lúc đó chưa nhận ra điều này. Dù vậy, những người thu thuế và người tội lỗi sẽ cảm nhận được lòng bao dung của Chúa. Còn người Pha-ri-sêu và các Kinh sư cũng sẽ tự hổ thẹn về sự ganh tỵ hẹp hòi của họ cũng như không thể bắt bẻ gì được việc Đức Giêsu đón tiếp và ăn uống với những người tội lỗi.

Đặc sắc của truyện là việc kiến tạo những tình huống, gây được những hiệu ứng cảm xúc và tư tưởng rất khác nhau. Người đọc có khi chê trách đứa con hư và không đồng tình với việc người cha chia gia tài cho nó, càng không đồng tình với cách người cha đón tiếp đứa con hoang trở về trọng hậu như thế. Chúng ta bị lôi kéo về phía người con cả. Nhưng khi nghe người cha nói với con cả, ta bị thuyết phục về tình của người cha với cả hai. Câu văn cuối cùng buộc người đọc phải hiểu đây là truyện tư tưởng: “chúng ta phải ăn mừng và hoan hỷ, vì em con đây đã chết, mà nay lại sống, đã mất, mà nay lại tìm thấy“.  Không phải vô tình mà trong các cuộc tĩnh tâm, người ta hay dựng dụ ngôn này thành một vở kịch với những cảnh, những tình huống rất xúc động. Từ lời thơ của Xuân Ly Băng, nhạc sư Kim Long đã dựng dụ ngôn này thành trường ca Ngày về rất hay. Nói vậy để thấy dụ ngôn này có sức khơi gợi những cảm xúc thẩm mỹ rất mạnh mẽ. Đó chính là phẩm chất của tác phẩm văn chương.

Xét ở góc độ xây dựng tình huống như là một yệu cầu của nghệ thuật kể chuyện, trong truyện này, chính tình huống làm lộ ra chủ đề và tư tưởng. Những nhà văn Việt Nam đương đại nhiều người cũng xây dựng được những tình huống truyện đặc sắc. Xin đọc Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, Vợ nhặt của Kim Lân và Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Người viết văn trẻ Công giáo có thể học được nhiều điều về tư tưởng và nghệ thuật từ dụ ngôn này.

Dụ ngôn Người Samari nhân hậu hướng về một đối tượng khác: Luca (10, 25-37) thuât lại rằng: “có người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Người đáp: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào? ” Ông ấy thưa: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.” Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.” Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giêsu rằng: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” Đức Giêsu đáp: “Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêri-hô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác.” Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp? ” Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy.” Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy.”

Đoạn trình thuật của Luca có 2 câu chuyện. Câu chuyện đối thoại của Chúa với người thông luật và dụ ngôn Người Samari nhân hậu do Chúa kể. Đối tượng của dụ ngôn là một người thông luật. Mục đích của ông ta là muốn thử thách Chúa. Còn Đức Giêsu, Người kể chuyện là để hướng ông ta vào việc sống luật yệu thương trong đời sống hàng ngày, không phải chỉ hiều luật theo lý thuyết. Dù là một dụ ngôn nhưng câu chuyện đặt ra trước mắt chúng ta một tình huống khá gần gũi với ngày hôm nay. Một người bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. (giống như một người bị cướp đánh nằm bên đường, hoặc bị tai nạn nằm bên đường và rất nhiều người vô cảm đi qua).Từ đó Đức Giêsu mở ra một tình huống tư tưởng và bảo người thông luật “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy.” Rõ ràng từ nhận thức tới hành động phải qua trái tim. Những trái tim chai đá, vô cảm sẽ rất khó thực hiện Lời Chúa: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy.” Chúa kể dụ ngôn là để hướng tới hành động, để thúc đẩy con người sống đức tin. Hai câu chuyện quyện vào nhau và nếu tách riêng dụ ngôn ra, thì dụ ngôn chưa phải là một tác phẩm hoàn chỉnh. Vì thế hai nhân vật có thật ngoài đời (Đức Giêsu và người thông luật) đã trở thành nhân vật của truyện lảm hoàn chỉnh chủ đề dụ ngôn.(Cách viết này ta gặp trong văn chương đương đại).

  1. CON ĐƯỜNG SÁNG TẠO

            Lướt qua vài dụ ngôn Chúa kể trong Kinh thánh, chúng ta nhận thấy Kinh thánh đi trước văn chương nhân loại rất xa và người viết văn trẻ Công giáo có thể học nhiều điều từ Thầy Giêsu. Học sứ mệnh văn chương loan báo Tin Mừng. Học cuộc đời Đức Giêsu, gần gũi với mọi hạng người, thấu hiểm cảm thông, chia sẻ.  Yêu thương con người luôn là một giá trị vĩnh cửu của văn chương. Học tư tưởng của Kinh thánh để tự hình thành quan niệm sáng tác, dẫn lối cho con đường sáng tạo.

Mỗi người viết văn phải tự khám phá con đường sáng tạo của riêng mình. Không sáng tạo, không độc đáo, thì không thể thành nhà văn. Nhà văn phải có giọng riêng, có “thế giới nghệ thuật” riêng, tức là có tư duy nghệ thuật, có cách tạo dựng tác phẩm, có không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, thế giới nhân vật riêng,… và trên nền của cá tính sáng tạo, nhà văn phải có tư tưởng riêng.

Tư tưởng của nhà văn Công giáo là tư tưởng Nhân văn Công giáo, mà cốt lõi là cái nhìn về Con người, là khám phá những vẻ đẹp Người. Con người trong cái nhìn Kinh thánh là hình ảnh của Thiên Chúa. Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa” (Sáng thế ký 1. 27). Và vì thế, dù họ ở địa vị nào, trong hoàn cảnh nào, họ cùng một bản thể trong ơn Cứu độ của Thiên Chúa. Đức Giê su nói: “Thầy là cây nho, anh em là cành” (Ga 15. 5); Thầy gọi anh em là bạn hữu,”(Ga 15, 15). Cái nhìn Nhân văn này đã nâng Con người lên địa vị cao nhất mà những tư tưởng Nhân văn khác không đạt tới. Đức Giêsu đã sống trọn kiếp người, trải nghiệm hiện sinh từng giây phút trong vườn Cây dầu, đã chịu đau thương, khổ nhục đến cùng cực trên đường lên Núi Sọ và yêu thương đến hơi thở cuối cùng trên Thập giá. Để từ đây, con người được sống trong Ánh sáng. Nhìn con người trong hình ảnh Thiên Chúa mà hiện thân là Đức Giêsu, nhà văn Công giáo sẽ có cơ hội khám phá sáng tạo những tác phẩm lớn.

  1. Tagore đã thốt lên những lời này trong Lời Dâng (Gitanjali):

   “Tôi sẽ luôn luôn đuổi xua khỏi tâm hồn mọi ác ý sâu xa và vun trồng cho tình yêu trong mình bừng nở, vì hiểu người đã ngự trị từ lâu trong sâu thẳm tim tôi.

Và tôi, tôi sẽ đem hết sức mình phát hiện người trong mọi việc làm, vì hiểu chính sức mạnh của người đã cho tôi khả năng hành động “(đọan 4-Đỗ Khánh Hoan dịch)[2]

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (hiện là Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam) đã viết

những câu thơ đặc sắc nhất của ông:

     “Hỡi Chúa Trời, con quỳ dưới chân người, con gánh trên lưng con bóng tối khổng lồ 
             Đôi môi con run rẩy chạm vào những ngón chân Người giá lạnh nhưng những giọt máu chảy từ bàn tay bị đóng đinh của Người từng giọt, từng giọt rơi xuống ngực con rực sáng và nóng ấm vô tận
             Cây thập giá nơi Người bị đóng đinh trong đêm sừng sững dựng lên cái Cây Ánh Sáng vĩ đại nhất trên thế gian này…”

                                          (Cây Ánh Sáng-đoạn 2)

Phía trước là Ánh sáng đang vẫy gọi các nhà văn Công giáo trẻ. Hãy lên đường cùng Thầy Giêsu.

Tháng 8. 2018

 

_____________________

[1] Lenferc’est les autres est une citation extraite de la pièce de théâtre Huis clos de Jean-Paul Sartre,

https://fr.wikipedia.org/wiki/L%27enfer,_c%27est_les_autres

[2] I shall ever try to drive all evils away from my heart and keep my love in flower, knowing that thou hast thy seat

in the inmost shrine of my heart.

And it shall be my endeavour to reveal thee in my actions, knowing it is thy power gives me strength to act.

 

NHÀ VĂN ĐỒNG NAI-Sách mới của Bùi Công Thuấn

 

 

 

NHÀ VĂN ĐỒNG NAI – Bùi Công Thuấn

Nxb Đồng Nai. 2018

7c Nhà văn ĐN

MỤC LỤC

  1. Nhà văn Đồng Nai
  2. Danh mục bài viết
  3. Mục lục

NHÀ THƠ ĐỒNG NAI

  1. Huỳnh Văn Nghệ
  2.  Lê Thanh Xuân-Tiếng ru đêm
  3. Lê Thanh Xuân-Đồng Hành
  4. Lê Thanh Xuân- Hồn đá
  5. Lê Thanh Xuân-Tuyển tập
  6. Trần Ngọc Tuấn-Người thơ tài hoa
  7. Trần Ngọc Tuấn-Hiện hữu
  8. Đàm Chu Văn- Giấc rừng
  9. Hạnh Vân- Ru miền cổ tích

13.Đào Trọng Thử- Em bán sầu riêng

14.Đào Trọng Thử- Sợ 

NHÀ VĂN ĐỒNG NAI

  1. Lý Văn Sâm-bài giới thiệu
  2. Lý Văn Sâm-Kòntrô
  3. Lý Văn Sâm- Vợ tôi người dân tộc
  4. Lý Văn Sâm-Nắng bên kia làng
  5. Lý Văn Sâm-Cỏ nội hoa hèn
  6. Lý Văn Sâm-Gió bãi trăng ngàn
  7. Lý Văn Sâm-Sau dãy Trường Sơn
  8. Lý Văn Sâm-Mười năm hận sử
  9. Lý Văn Sâm-Người đi không về
  10. Lý Văn Sâm-Sương gió biên thùy
  11. Giới thiệu Hoàng Văn Bổn
  12. Hoàng Văn Bổn-Miền đất ven sông
  13. Hoàng Văn Bổn- Lũ chúng tôi
  14. Hoàng Văn Bổn-Bầu trời mặt đất
  15. Hoàng Văn Bổn-Sóng bạc đầu
  16. Hoàng Văn Bổn-Mùa mưa
  17. Hoàng Văn Bổn-Thuở hồng hoang
  18. Hoàng Văn Bổn-Người điên kể chuyện người điên
  19. Hoàng Văn Bổn-Tình đời đen bạc
  20. Khôi Vũ- Bài giới thiệu
  21. Khôi Vũ-Lời nguyền hai trăm năm
  22. Khôi Vũ-Tri thiên mệnh
  23. Khôi Vũ-Phù phiếm bên biển
  24. Khôi Vũ-Phía sau một khách sạn
  25. Khôi Vũ-Bến đời mơ thực
  26. Khôi Vũ-Truyện ngắn
  27. Khôi Vũ-Tiểu thuyết
  28. Trần Thu Hằng- Chuyện tình ở Hầm Hinh
  29. Nguyễn Một-Đất trời vần vũ
  30. Nguyễn Một-Dòng sông độ lượng

45.Lê Đăng Kháng-Sương sớm

  1. Nguyễn Trí-Bụi đời và thục nữ

NHỮNG KHOẢNG TRỜI KHÁC

  1. Đỗ Tiến Thụy-Con chim Joong bay từ A tới Z
  2. Trần Quang Quý-Hành trình thơ

49. Đỗ Quyên- Lòng hải Lý (trường ca)

Ghi chú của tác giả: Khi thẩm định bản thảo, Nxb Đồng Nai đã không đưa vào bản in các bài viết sau đây: Tình đời đen bạc (Hoàng Văn Bổn), Đất trời vần vũDòng sông độ lượng (Nguyễn Một), Bụi đời và thục nữ (Nguyễn Trí) và Sợ (Đào Trọng Thử), đồng thời lược bỏ một số đoạn ở bài giới thiệu Nhà văn Đồng Nai, bài viết về Con chim Joong bay từ A  tới Z… của Đỗ Tiến Thụy, về trường ca Lòng hải lý của Đỗ Quyên. Bạn có thể đọc các bài viết trên ở trang WordPress này của BCT.

THƠ ĐÀO TRỌNG THỬ-Nhà văn Đồng Nai

 

 

 

dao trong thu

(Chân dung nhà thơ Đào Trọng Thử, hội viên Hội VHNT Đồng Nai. ảnh của BCT)

Bài viết về các tập thơ: Em bán sầu riêng, Sợ, Trốn của Đào Trọng Thử

___________________________________

NHÀ THƠ “BÁN SẦU RIÊNG

(Đọc tập thơ Em Bán Sầu Riêng của Đào Trọng Thử .NxbHội Nhà Văn 2004)

Bùi Công Thuấn

 

 

Bài thơ Em Bán Sầu Riêng nói về tình cảnh “đắng cay, ngọt bùi “của người thiếu phụ ở Long Thành. Chồng chị chết trẻ, con thơ dại, chị phải bán sầu riêng dạo ở Sài Gòn để kiếm gạo nuôi con. Bài thơ không có gì đặc sắc lắm. Trong tập thơ, Đào Trọng Thử cũng không khai thác nhiều cảnh đời như người thiếu phụ này, nhưng  tại sao Đào Trọng Thử lại lấy bài thơ này làm nhan đề cho cả tập thơ? Em Bán Sầu Riêng là ai? Có ý nghĩa gì? Tôi cứ mông lung nghĩ suy, rồi chợt vỡ nhẽ rằng, đó là một cách chơi chữ. Đào Trọng Thử không chú tâm đến việc bán trái sầu riêng của người thiếu phụ mà nói đến nỗi sầu riêng của chính mình. Và cũng thật lạ, người đời chỉ “mua vui “, ai đi mua sầu mà Đào Trọng Thử đem bán?

Thành ra Đào Trọng Thử chỉ trò truyện với nỗi sầu riêng của chính mình.

“…Mình tôi trò truyện với mình tôi thôi…“

(Tháng 5 ở Lộc Ninh)

“…Mình tôi với lại con đường thẳm xa…“

(Về lại Tây Ninh)

Anh độc thọai điều gì trên con đường đời thăm thẳm?

“…Đời người được mấy gang tay

Mỗi ngày mỗi trải đắng cay ngọt bùi

Bán sầu mua lấy cái vui

Cho bao đau khổ trên đời vợi đi! “

(Tháng 5 ở Lộc Ninh)

“… Ngẫm ra trong cõi nhân gian

Hoa kia rồi cũng nát tan có ngày…”

(Cỏ ở đồi Cù)

“…cõi người như thực như mê “…

(Trên đèo Mẹ Bồng Con )

Những câu thơ ấy nghe trĩu nặng ưu tư nghìn năm về thân phận con người trong cõi đời này, nhưng anh không lạc vào cõi siêu hình hay trạng thái bi phẫn trước thực tại, cũng không bất lực yếm thế. Anh đau một nỗi đau đời và cất tiếng nói tri kỷ.

…” bạn cùng tôi đau nỗi đau đời

Lũ chúng ta sinh ra vì thế kỷ

Thế kỷ hai mươi thấm đẫm máu xương người …”

(Bạn thơ)

Thơ anh có những mảng rất sáng. Những vầng sáng thơ anh tỏa ra từ những tình cảm với đồng đội đã hy sinh trong những năm tháng chiến đấu. Có thể nói những bài thơ hay, xúc động lòng người của Đào trọng Thử là những bài anh viết về đồng đội. Trong tâm thức anh, đồng đội vẫn như ngày nào, đang cùng chia nhau niềm vui nỗi buồn. Ngày gặp mặt đồng đội cũ đích thực là một ngày vui. Câu thơ như rạng rỡ ánh mắt nụ cười.

Lính gặp lính là tri kỷ đấy

Chào những đứa con chung một chiến hào

Nào hãy cụng ly, uống mừng nhau còn sống

Cụt chân, cụt tay, thủng bụng, sứt đầu…

…nào hãy cụng ly uống thay người đã chết

Ba mươi năm tan trong đất trong cây

Gương mặt bạn nhòe trong trí nhớ

Hình như lúc chết bạn hơi gầy…”

(Ngày của chúng mình)

Anh ao ước:

Mong ước lớn có một ngày trong trẻo

Một ngày thôi gặp lại bạn bè xưa

Để được nói, được cười, được khóc

Khóc cho bạn bè đã ngã xuống ngày xưa.

(Nhớ bạn)

Anh không khóc người bạn xưa đã ngã xuống, mà cầu nguyện cho họ “hồn thiêng tụ họp về phương mặt trời “(Về lại Tây Ninh). Anh muốn thực hiện cho bạn cái nguyện ước ngày xưa là có được một chiếc xe đạp, nhưng không sao mua được chiếc xe đạp hàng mã để gửi cho người đã hy sinh.

“…hàng mã bây giờ tòan xe hơi xe cúp

Xe đạp lọai xòang kiếm đâu ra

Ngày giỗ bạn cố tìm mua một chiếc

Để hóa tro gửi xuống cho Hòa! “

(Chiếc xe đạp)

Đồng đội anh lúc sống chiến đấu thiệt thòi đã đành, giờ đất nước hòa bình, cuộc sống đã giàu có sự thiệt thòi vẫn không sao bù đắp được. Anh nhận ra nét đẹp  một thời của người lính:

“…Sống trong chiến tranh ta trong trắng thế

Ngây thơ, hiền dịu, dại khờ …”

(Nhớ bạn)

Có lẽ vì thế, khi anh vào thăm nghĩa trang, tâm trạng thương bạn, nỗi xót xa cứ dâng lên trước cuộc sống thực tại lạnh lẽo tình người.

“Các anh chị nằm đây thì yên tĩnh thật

Nhưng mà khuất nẻo phải không nào

Cuộc sống ngòai kia xô bồ chụp giựt

Chẳng cần biết nơi này bao người chết vì sao…”

(Viết Ở nghĩa trang Đồng Nai )

« …Thương đồng đội đi dọc thờ đánh Mỹ

Bao đồng chí giờ đây yên nghỉ

đơn trong đất lạnh Lâm đồng « 

                                (Mùa đông ở Đà Lạt)

Sự lạnh lẽo lan tràn  mọi nơi mọi chốn :

«Cứ ngỡ nơi này không có mùa đông

Cái rét giờ đây lan tràn khắp cả

(Mùa đông ở Đà Lạt)

Anh hướng về đâu? “… nỗi lòng gửi đến mai sau…”

(Về lại Tây Ninh)

và Anh nghe thấy gì?

“… Cuốc kêu ngỡ lời non nước

Gọi anh suốt cuộc chiến tranh

Triệu người đã thành bất tử

Hóa thân mây trắng trời xanh…”

(Nhớ chim Quyên)

 

Từ ánh sáng của những người đã hy sinh, anh rọi soi vào hiện thực cuộc sống thời kinh tế thị trường. Anh giật mình nhận ra:

 

Em yêu ta một thời oanh liệt ấy

Nhưng ta phản lại chính ta rồi…

…Thành phố ấy phồn hoa mà băng họai

Nuốt chửng ta cùng ngàn vạn cuộc đời…”

(Sầu Riêng Phú Hội)

Anh đau lòng đến phẫn uất

“Nào hãy cụng ly, chia buồn thời mở cửa

Đô la đang ngự trị tòan cầu

Quân tham nhũng những ông hòang bà chúa

Lòai giặc này còn sống đến bao lâu?

(Ngày của chúng mình)

Anh đặt ra khá nhiều vấn đề, nhưng dường như không có câu trả lời.

ba mươi tháng tư theo đại quân về phố

Ta sống với ngày mà quên mất đêm

(Đêm và Ngày)

Khắp xứ sở đi đâu mà chẳng thấy

Tô Thị bồng con đầu chít khăn xô.

(Nàng Tô Thị)

Bác Châu em cũng tuổi trâu

Kéo cày năm tháng để giàu cho ai?

Ách đời chín rạn hai vai…”

(Không đề)

..Nông dân nuôi nước nuôi nhà

Nước đục thế bao nhiêu phèn cho lại

Lòai cò sinh sôi…

«  ..Bao giờ cho hết người nghèo ?

.. bao giờ mới hết cánh bèo lênh đênh ?

(Thơ viết cuối năm Thìn)

Ám Ảnh Tà Lài  thực sự là một bài thơ ám ảnh. Đào Trọng Thử đặt cái tương phản giữa những hình thức của cuộc sống mới bên cạnh đời sống cơ cực của nhân dân: Trong khi nhân dân  “mất mùa liên tiếp “, “cỏ cháy đồng khô”,  “chạy ăn từng bữa” , “ khắc khỏai “ thì

Nhà Văn hóa như cây đuốc lớn

Cháy bập bùng đỏ một khúc sông nông

Sau cây đuốc là cánh đồng nứt nẻ …

.. Khách lại đến tham quan và những tiếng thở dài “

Không có câu trả lời cho những vấn đề nhân sinh xã hội vì thế thơ anh có giọng buồn:

Gạn đục mãi nước vẫn không trong nổi

 Câu thơ buồn tái tê…(Bạn thơ )

Anh bế tắc hay phủ định cuộc sống thực tại?

Kiếp sau được đầu thai lần nữa

Ta lại làm thơ chứ biết làm gì

Cầm súng thì quen. Làm quan thì dốt

Làm giàu không biết đường chi…”

(Bạn thơ)

…” Chí trai đạp đất đội trời

Giờ về chiều vợ , lụy đời cưng con.

(Bài thơ tặng vợ)

Ấy là tấm lòng của một “người thơ“ hiền lành. Nếu có kiếp sau, anh sẽ lại làm thơ. Anh từ chối làm giàu, từ chối làm quan và nếu tổ quốc gọi, anh lại cầm súng. Anh lại làm thơ vì thơ anh là tiếng lòng của anh, tiếng lòng với quê hương, với đồng đội, với những nàng “Tô Thị bồng con đầu chít khăn xô “,  những cảnh đời bèo dạt như cô gái bán sầu riêng, những cô gái chăn bò, những cô cậu  công nhân mà anh gọi là hòang tử cô tiên,  những người cha đánh Pháp, người mẹ đánh Mỹ, với “các anh, các chị, các em ‘ một thời chiến trận, những người “nông dân nuôi nước nuôi nhà ‘. Anh cũng chẳng quên tình quên nghĩa với bàu rau muống bạt ngàn đã cứu anh và đồng đội trong cơn ngặt nghèo bủa vây của kẻ thù, nhớ lá trung quân “chiến sĩ miền Đông với trung quân như Chồng như vợ ‘, với trái bình bát lót lòng năm nào, với “lòai chim quyên bất tử “…Thơ Đào Trọng Thử  đọng lại trong lòng người đọc ở cái chân tình đằm thắm , sâu lắng suy tư, đậm chất dân dã. Cái tình ấy có cội nguồn trong thơ Nguyễn Du, thơ Nguyễn Khuyến, trong ca dao dân ca.

Đào Trọng Thử đem nguyên chất “người thơ hiền lành “vào trong thơ, vì thế giọng thơ anh là giọng đằm thắm của lục bát, của những câu thơ mà cung điệu bao giờ cũng vang lên những hòa âm thuận. Bè trầm có âm lượng mạnh mẽ, trong khi bè cao rất nhẹ nhàng. Rất ít có hòa âm nghịch.Thơ anh không có cách tân trong cả thể lọai và ngôn ngữ, nhưng anh lại kế thừa được cái tình, cái tâm cái nhìn và cả cái khí` vị của thơ dân tộc. “ách đời chín rạn hai vai “, “Cao su xanh tận chân trời “ gợi nhớ Nguyễn Du, “Những ai ước mình làm cây thông “là khí phách Nguyễn Công Trứ , Thăm Bạn Trấn Biên có ý vị thanh tao tình bạn Nguyễn Khuyến – Dương Khuê. Tặng Vợ có cái tình của Trần Tế Xương, cả cái bình dị lấp lánh lục bát của Tố Hữu. Trên đèo Mẹ Bồng Con, Nàng Tô Thị, Gửi, Nhớ chim Quyên chắc chắn lấy cảm hứng từ ca dao dân ca. Nhiều câu thơ của anh sử dụng nguyên chất ca dao (“Người về em chẳng cho về “, Giận thì giận, thương càng thương “, “ Gió đưa cây cải về trời ‘…), thành ra người đọc thấy thơ anh gần gũi lắm, đằm thắm và hồn hậu. Cái hồn hậu của riêng anh khi anh vượt qua được những bức xúc của cuộc sống.

…ta già, trái đất đang non

Trăm năm dâu bể: vuông tròn, tròn vuông

Giận thì giận, thương càng thương…”

(Gửi)

Anh đã vượt qua được cách viết tụng ca quen thuộc một thời mà tiếp cận được với hiện thực tỉnh táo và có tình có lý hơn. Nhưng hiện thực bề bộn và phức tạp không phải là đối tượng của thơ anh. Anh khai thác những cái bình dị, bất chợt trong những chuyến đi: cỏ ở Đồi cù, cây thông Đà Lạt, Sầu Riêng Phú Hội, cái yên tĩnh ở nghĩa trang Đồng Nai, đàn kiến, con chuồn chuồn ở tượng đài chiến thắng Long Khánh, cao su xanh tận chân trời ở Lộc Ninh, Đèo Mẹ Bồng Con, cây Tung ở Nam Cát Tiên, mưa ngập nước ở Biên Hòa, nắng hạn ở Tà Lài. Anh cũng viết rất ít về những vấn đề bức xúc của chính mình như chuyện ước mơ  có được ngôi nhà  nhỏ, chuyện không về quê mà ở lại Đồng Nai “làm trai đất lành“,  đến thăm bạn  , nhưng viết nhiều đến những gì liên quan đến kỷ niệm một thời chiến đấu:  Trăng Cù Lao Phố, rau muống ,cây dừa nước, lá trung quân, trái bình bát, nhớ chim quyên, và viết rất có duyên về những gì tưởng như chẳng phải thơ: đèn đỏ, cưới, tre cảnh, đêm và ngày, lạc, cô gái chăn bò, …

Anh có thiên hướng phát hiện và đặt ra những vấn đề tư tưởng nhân sinh từ những cái đời thường. Bài thơ nào cũng có những suy nghiệm nặng trĩu về lẽ đời. Đọc thơ anh có sự thú vị thấm thía của những phát hiện và suy nghiệm ấy. Bài thơ Lạc làm người đọc thảng thốt nhìn lại chính mình và tự hỏi không biết mình có bị lạc giữa trần gian không. Đọc Viết ở nghĩa trang Đồng Nai hay Ám ảnh Tà Lài người đọc cảm được ngay, bởi cái nhìn của anh tinh tế, tấm lòng của anh sâu nặng, sự phát hiện vấn đề của anh thật tự nhiên như thể vấn đề đã hiển hiện sẵn ngay trong đề tài. Thực ra đấy chính là một khía cạnh tài hoa của thơ Đào Trọng Thử. Tôi đã đi qua đèo Mẹ Bồng con không biết bao nhiêu lần, từng ngắm nhìn tượng đài chiến thắng Long Khánh, đã dạo chơi ở đồi Cù, đồi thông Đà Lạt, xung quanh chỗ tôi ở bạt ngàn cao su, vậy mà tôi chẳng phát hiện được gì, ngòai những xúc cảm về cảnh quan tươi tốt tấp nập. Vậy mà Đào Trọng Thử đã viết được những bài thơ rất “lạ‘và tài hoa về những nơi ấy. Đào Trọng Thử là người thơ hiền lành nhưng thơ anh vẫn ánh lên những câu thơ tài hoa, ấy là một sắc màu thẩm mỹ là thơ Đào Trọng Thử sáng lên trên nền của những âm sắc truyền thống.

Em Bán Sầu Riêng là tấm lòng của Đào Trọng Thử nhưng cũng là tiếng lòng của người đọc về những gì đã trở thành lương tri của cuộc sống chúng ta, Đào Trọng Thử khơi gợi cho cái lương tri ấy sáng mãi lên

Lũ chúng ta sinh ra vì thế kỷ

Thế kỷ hai mươi thấm đẫm máu xương người

Tháng 3/ 2005

__________________________________________

Ghi chú về

“SỢ”

Tập thơ Của Đào Trọng Thử

(Bài này bị Nxb Đồng Nai cắt khi in Nhà Văn Đồng Nai 2018)

Bùi Công Thuấn

  

Nhà thơ Đào Trọng Thử, quê ở Ninh Bình, hiện là hội viên Hội VHNT Đồng Nai. Anh từng là người lính thời đánh Mỹ, cũng từng là nhà báo. Đào Trọng Thử đã in nhiều tập thơ. Em bán sầu riêng (2004), Đau (2009), Trốn (2011), Sợ (2013) là những tập thơ đậm đặc chất thơ và phong cách Đào Trọng Thử. Thơ anh có những đặc điểm thi pháp rất khác với các nhà thơ Đồng Nai. Đào Trọng Thử Tự trào:

Giật mình tóc đã hoa râm

Mắt đeo kính viễn cái tâm vẫn đầy

Ngẫm mình phận rủi duyên may

Bạc vàng khó kiếm con bầy đủ nuôi

Nhìn lên chẳng được chín mười

Bằng lòng nhìn xuống ối người kém ta

Phó thường dân trấn Biên Hòa

Nhủ lòng sống đẹp để mà làm thơ…

 

“SỢ” TRƯỚC THỰC TẠI

 

Tập thơ “Sợ” đề cập đến nhiều hiện tượng xã hội, như đời sống nông thôn nghèo xơ xác (Quê Chồng, Ghi ở vườn bách thảo Hà Nội), đất nước cờ bay nhưng vẫn còn nhiều gia đình trắng tay (Viết dưới chân Tháp Rùa), người nông dân thất bại (Nông dân), người thương binh đói nghèo vất vả (Gặp Phúc bên hồ Vân Trục), giới kinh doanh đưa dân nghèo vào chỗ chết (Ngân hàng), suốt đời xóa đói giảm nghèo (Ưu việt),

Nhận thức về một thực tại còn nhiều bất công, nhà quan cao ngất còn nhà dân thì nghèo (Đỉa), chênh lệch giàu nghèo (Gặp ở Quảng Bình), quần chúng thì thiệt thòi còn anh cảnh sát giao thông làm giàu bằng cái còi (Cái còi), mặt đất đâu cũng sông Tiền Đường, đầy dẫy bọn Sở Khanh. Phận lính tráng chỉ là nông nô vô danh, (Không đề), xã hội toàn phường treo dê bán chó (Lạ và quen), tình trạng luật rừng (Cứu cánh). Trước 30.4.1975 lý tưởng là chiến đấu hy sinh, bây giờ là :Tiền-Tảm-Tường (Tâm tưởng), hiện tượng bố đi chiến đấu, con làm quan tham nhũng (Giặc ở trong nhà), về sự thất bại của những đường lối, chính sách như: Cải cách ruộng đất, phong trào hợp tác xã, cấm chợ ngăn sông, về thời bao cấp,cấm đốt pháo, xóa đói giảm nghèo, sinh đẻ có kế hoạch, về chống tham những (Không Đề 2)

Những suy nghĩ về sự đời, lẽ đời: Không sợ chiến đấu hy sinh nhưng sợ lũ cơ hội (Sợ), làm thằng dân chỉ biết cúi đầu (Có một người câm cắt tóc mở phố Ngọc Hà), buồn vì báo đăng tin án mạng (Tràn), ước gì viện bảo tàng treo bức tranh bất công xã hội (Ươc), lúc sống xin chữ”nhẫn”, khi chết, thờ chữ” bất”(In chữ). Thăm Củ Chi về, tác giả thấy mình lưởng khưởng vì Củ Chi tàn tạ chỉ còn hình nộm người xưa. Viết về một thời Hợp tác xã và hỏi tội “ai đắc tội với ai”(Long Phước), thương bạn đi tù về (Gửi bạn thơ Ngọc Thùy Giang). Ở đền Bến Dược, tác giả nhận ra:” Ngỡ ai cũng được thờ/ Ngẫm ra chẳng thờ ai cả…Vô tình/ vô cảm/ vô tâm”(Ghi ở đền Bến Dược), Binh pháp nói dối để khoe thành tích (Binh pháp), đồng bào miền Trung yêu nước quá bị nước nhấn chìm (Phản trắc). Xưa ta đánh Mỹ, giờ ta thân Mỹ, mai này đi gặp bạn chết vì Mỹ, bạn sẽ quay mặt (Mỹ), trung thành như chó lẽ nào lại chết oan (Tâm sự của một chó già), rùa thần cũng có ngày tận số (Rùa thần Hồ Gươm), Vào chung cư là sống chung với lũ người đang hại người (Thời của chung cư), Trên cao là quỷ, trên cao có sao Thái Bạch quét dân lộn nhào (Cao), Triết lý sự đời :”Chả ai dám nói trước biết trước sự gì…những bài học phải trả bằng máu và nước mắt/ Ví như những bài học đau lòng về các cuộc chiến tranh”(Không đề)…

THÁI ĐỘ CỦA NHÀ THƠ

Cảm hứng chung cả tập thơ là cảm hứng phê phán hiện thực. Một vài bài có cảm hứng trữ tình nhân đạo (Gặp Phúc bên hồ Vân Trục, Lão Hạc, Gửi bạn thơ Ngọc Thùy Giang, Thăm lại khúc Hoàng Long, Nhớ chồng, Hải ơi…)

Có khi nhà thơ phê phán trực tiếp bằng kiểu thơ suy tưởng (Cứu cánh, Thời của chung cư, Truyền thống, Mỹ…), có khi phê phán bằng ẩn dụ, có cách nói bóng gió, “nói kháy”, nói mỉa (Phản trắc, Ngụ ngôn, Con rối, Con mọt, Tâm sự con chó già, Binh pháp, Sợi dây, Cao,). Cũng có cách nói “huỵch toẹt”, nói thẳng, “nói văng mạng” (Ưu viêt, Cố, Không đề, Trèo lên Bái Đính mà xem, Bợm, Trả giá, Về, Củ Chi, Nông dân, Ghi ở đền Bến Dược..)

Tác giả đứng trên lập trường người lính đã chiến đấu hy sinh trong kháng chiến để phê phán không khoan nhượng những cái xấu, cái bất công, cái tiêu cực trong đời sống xã hội kinh tế thị trường, vì thế sự phê phán có tính thuyết phục.

Thí dụ:

Bài Quê Chồng là một bức tranh nông thôn thê thảm.

Cùng trang lứa nhiều đứa thành ma trẻ

Cười với tấm bằng Tổ Quốc Ghi Công

Cám cảnh đìu hiu cột xiêu nhà dột

Gian giữa dành thờ liệt sĩ tổ tông

 

Mất mùa chuột, sâu, rầy múp míp

Rạ rơm teo típ níu chân người

Cua rốc, ốc nhồi thành xa xỉ

Đỉa hút máu người lởn vởn trêu ngươi

 

Đình chùa phá nát rồi lại dựng

Thánh thần phách lạc được hồi hương

Các thánh bảo nhau lo phù thịnh

Nhanh chóng ăn theo kinh tế thị trường

 

Xóm làng dang dở bê tông hóa

Đẻ nhiều đất ruộng cứ hẹp dần

Quan tham rủ nhau giành chỗ đẹp

Đầu thừa đuôi thẹo ấy phần dân

 Vợ than:-Về một lần nhớ mãi

Quê chồng nghèo quá biết làm sao

Bài Ghi ở Vườn Bách Thảo Hà Nội, chỉ thấy cảnh xơ xác:

Chỉ có hai con công nhốt trong lồng khát nước

Một đôi cầu vượt mặt rỗ da mồi

Vài đám cưới lăng xăng chàng phó nháy

Cây cõ rũ buồn

                Trầm mặc

                              Buông xuôi

 

Bài Không đề (1) là mặt trái, mặt tiêu cực của đời sống. Thực ra đó chỉ là cái nhìn chủ quan của nhà thơ. Cuộc sống luôn có hai mặt tốt/ xấu, và ở đâu trong cõi Người này, cái Thiện, cái Tốt, niềm hy vọng và sự phát triển vẫn vượt lên.

 Đến đâu cũng gặp Tiền Đường

Con sông định mệnh Kiều đương lập lờ

Đâu là bến, đâu là bờ?

Sở khanh thấp thoáng đang chờ dắt đi

 Phận ta nào có hơn gì

Thanh xuân ra trận, già thì nông nô

Rầm trời dậy đất hoan hô

Máu xương tốt cỏ nấm mồ vô danh

 

Giá đừng có cuộc chiến tranh

Bạn không chết trận yên lành thường dân

Bao nhiêu ma quỷ thánh thần

Rủ nhau quậy nước dần dần đục thêm…!

 NGHỆ THUẬT THƠ ĐÀO TRỌNG THỬ

 Đào Trọng Thử viết đa dạng các thể thơ: Lục Bát, Tứ Tuyệt, thơ 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ, thơ tự do…Lục bát có bài tài hoa (Gặp Phúc bên hồ Vân Trục, Thời của chung cư), nhưng nhiều bài gần với Vè, Ca dao (Củ Chi, Tâm sự một chó già, Về, Ma nơ canh,…). Thơ suy tưởng đa số chỉ có ý tưởng, rất ít chất thơ (In chữ, Hão, Cái còi, Ngân hang, Vốn, Ưu việt, Pháo, Cứu cánh, Bong bóng bay,…)

Nhiều bài thơ của Đào Trọng Thử được viết bằng bút pháp trào phúng. Bút pháp này đã thành “truyền thống” từ Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến, Tú Mỡ, Tú Kếu… Để tạo hiệu quả nghệ thuật, Đào Trọng Thử sử dụng nhiều kiểu cấu tứ tương phản (Gặp ở Quảng Bình, Sợ, Hải ơi, Tâm tưởng..), cách nói ẩn dụ (Phản trắc, Riềng mẻ, Không đề 1), nói bóng gió (không nói trực diện vào đối tượng, mà dùng hàm nghĩa để người đọc suy ra. (Vốn, Trèo lên Bái Đính mà xem, Có một người câm cắt tóc ở phố Ngọc Hà, Ước, Chim quý, Binh pháp, Cao, Lão Hạc…)

Thơ Đào Trọng Thử không nằm trong dòng thơ Cách mạng và kháng chiến, dù anh có viết về đề tài này, nhưng thơ anh nằm trong dòng thơ nhân văn, dân chủ”. Anh đem đến một góc nhìn khác về hiện thực, một tiếng nói phản biện so với thơ tụng ca. Những bài thơ trữ tình (Lão Hạc, Đêm trừ tịch, Hải ơi,…) có sức lay động lòng người.

Trong tập thơ này, Đào Trọng Thừ có nhiều tìm tòi về đề tài, soi vào nhiều hoàn cảnh xã hội, và có những đặc sắc riêng về phong cách. Tuy vậy, về nghệ thuật, tập thơ không có những khám phá mới (so với những tập thơ trước như Em bán sầu riêng, Trốn…). Người đọc quen với kiểu thơ Trần tế Xương, Nguyễn Khuyến sẽ thấy điều thú vị trong thơ Đào Trọng Thử. Ngược lại, người quen với thơ Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa, quen với thơ tụng ca, quen kiểu thơ lãng mạn bỏ tập thơ của anh sang một bên.

Nhìn trong dòng chảy thơ Việt đương đại với nhiều nỗ lực cách tân của các thế hệ từ trước 1945 đến nay, với các nhà thơ tiên phong như Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Pham Thiên Thư, Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt và “thơ trẻ” Hậu hiện đại, thơ Tân Hình thức đầu thế kỷ XXI, thì thơ Đào Trọng Thử đã thuộc về quá vãng. Bởi vì những hiện tượng của hiện thực được Đào Trọng Thử nói đến giờ đã thành “cổ tích”.

Người đọc hôm nay quan tâm đến những vấn đề khác, tìm kiếm những giọng thơ khác, những kiểu tư duy nghệ thuật khác với “truyền thống”, bởi họ đã sống ở một thời đại rất khác với thời đại của nhà thơ cách đây bốn, năm thập kỷ.

Tháng 3. 2014

 ________________________________________ 

SAO ANH LẠI TRỐN, HỠI NHÀ THƠ!

(Đọc tập thơ TRỐN của Đào Trọng Thử, Nxb Hội Nhà Văn.2011)

Bùi Công Thuấn

 

Tập thơ đọng lại trong tôi nỗi buồn và nhiều trăn trở. Nỗi buồn thế sự của nhà thơ về thế hệ mình, thời đại mình và về chính mình. Thơ Đào Trọng Thử (ĐTT) là thơ châm biếm – trữ tình, chất trữ tình là chính. Bởi dường như anh nhận ra rằng, sự phê phán châm biếm của anh đã bị thời đại vượt qua, và tiếng thơ của anh như tan vào cõi không. Trữ tình và châm biếm hòa quyện vào nhau, và  đó là phẩm chất nghệ thuật riêng của thơ anh.

Đào Trọng Thử quan tâm đến điều gì của thực tại?

Anh châm biếm cái sai, cái nghịch lý, cái bất nhân bất nghĩa, cái trái đạo đức của nhân dân, để khẳng định cái tình cái nghĩa, đặc biệt đối với những người đã chiến đấu và hy sinh. Anh không chịu đựng được những sự việc, những con người, những hoàn cảnh của đời sống kinh tế thị trường trái với lối sống tình nghĩa, nghèo mà thanh cao của thời chiến đấu hy sinh. Trong tập thơ này, trái tim người lính trong anh vẫn dành cho đồng đội. Niềm vui, nỗi đau của anh xuất phát từ sự hy sinh của những người bạn, tương phản với đời sống xã hội thực tại.

Bốn trăm chiến binh dự Mậu Thân đẫm máu

Các anh hy sinh khi tập kích Biên Hòa

Giặc chôn các anh chung nấm mồ to quá

Hài cốt mỗi người không thể nhận ra

 

Đành chia thôi : Ôi đống xương khô lạnh

Đầu , mình, tay, chân kiếm đủ, chia đều

Chia lần lượt, trời ơi sao vẫn thiếu

Tất cả lặng câm không nghe ai kêu?!

 

Cha chia cho con nào nhà nào đất

Mafia chia nhau món lợi nhuận kếch xù

Quân tham nhũng chia nhau những đồng tiền bẩn…

(Chia)

Chiến tranh kết thúc lâu rồi

“Nhắn tìm đồng đội” của tôi chưa dừng

Nhắn người :- người dửng dừng dưng

Nhắn đất :-đất lặng không ngừng… chia lô…!

( Nhắn Tìm Đồng Đội)

 

Đoạn thơ sau đây mang đặc trưng trữ tình – châm biếm của thi pháp ĐTT. Anh châm biếm rất khôn ngoan, mỉa mai rất sâu cay sự giả dối trong cách người ta tổ chức mừng chiến thắng, nhưng không thể bắt bẻ câu chữ của anh được, bởi anh nhìn thấu cái bất nhân bất nghĩa của con người hôm nay với người đã hy sinh, và bởi cái tình của anh với đồng đội sâu nặng quá.

Đồng đội cũ gặp nhau

Xanh xao

Nói cười như mếu

Lang thang lên tàu vào Nam-ra Bắc

Lên tàu ra Bắc xuôi Nam

Tự hào

Đưa tay ngang mũ để chào

Mắt ầng ậc nước

“Nước mắt dành cho ngày gặp mặt”

Nước mắt trong những ngày lận đận

TỔ QUỐC ĐÃ TOÀN THẮNGT!

Chúng mình còn gian lao!

Nếu không có ngày 30 tháng Tư

Ta cũng không vợ, không con, không nhà

Không ruộng,

Ngồi trầm tư trên bàn thờ khói hương đứt quãng

Xương đen nằm ngoài nghĩa trang

Làm ma trẻ ngắm tượng đài sừng sững

TỔ QUỐC GHI CÔNG…

 

…Mừng Việt Nam ta thắng Mỹ

Nhà nhà cụng ly

Người người cụng ly

Chiến sỹ cụng ly

Quân tham nhũng cụng ly

Cùng nhau giết chó ăn mừng…

 

Đất nước đang thời mở cửa

Gió bốn phương, tám hướng ùa vào

Mát đấy rồi đau âm ỷ đấy

ĐAU SUỐT ĐẾN ĐỜI CON-ĐỜI CHÁU

CHÚNG MÌNH…!

(Lắng Tiếng Vỗ Tay- Nhân dịp kỳ niệm 35 năm Việt Nam thắng Mỹ- 30.04.2010)

 

Trái tim anh còn đau nỗi đau của dân tộc trong thời đại nhiễu nhương, thời đại cả dân tộc sợ ngáo ộp (Có Một Con Ngáo Ộp), thời đại oan sai không biết tìm Bao Công ở đâu (Bao Công ), thời đại mà chênh lệch giàu nghèo không sao hiều nổi (Dột), thời đại mà nhân dân xài tiền xu còn bọn nghĩ ra tiền xu lại xài tiền tỷ, chúng ném vào mặt nhân dân những đồng xu đen như ném cho lũ ăn mày (Tiền Xu), thời đại mà người thua kiện luôn là dân đen (Sạch), bởi đó là thời đại người ta đã quên bài hát “ vì nhân dân quên mình “(Bài hát Ấy Quên Rồi)

Tôi lớn lên ngáo ộp có lâu rồi

Nó hiện nguyên hình từ thời cải cách

Trong mỗi mái nhà tranh

Trên mỗi bức tường bức vách…

Làng xóm lặng câm như bãi tha ma…

 

…Trong tăm tối:

Người với người nhìn nhau ngờ vực

Con cảnh giác cha

Vợ ngờ vực chồng

Cháu đấu tố ông

Con đòi giết bố

Ngáo ộp âm thầm

Rình người khốn khổ

Nỗi kinh hoàng bạc nhược suốt trăm năm…

 

…Có một con ngáo ộp

Ngự trị trong anh

Ngự trị trong em

Ngự trị trong lòng dân tộc

Khổ đau cho tổ quốc này

Buồn thay!

(Có Một Con Ngáo Ộp)

Bài thơ dùng ngôn ngữ ẩn dụ chỉ những người đương thời với tác giả mới hiểu, hoặc nếu biết lần theo câu thơ Tố Hữu thì có thể nhận ra. Những thế hệ hôm nay sẽ chẳng hiểu được ngáo ộpmình đồng da sắt/ Trăm mắt, trăm tay thật sự là gì, và bởi họ không hiểu nên không còn sợ ngáo ộp nữa. Thí dụ, vụ cưỡng chế đất tại Tiên Lãng mà Đoàn Văn Vươn dám chống lại Ngáo Ộp. Rất tiếc tập thơ này in trước sự kiện nấy, nếu không tôi tin Đào Trọng Thử đã có thơ, nhưng mà nhà thơ đã “TRỐN” thực tại hôm nay rồi, bạn đọc sẽ chẳng được đọc những bài thơ không sợ ngáo ộp của Đào Trọng Thử. “Buồn thay!”Ấy là tôi chỉ giả định vậy thôi, nhà thơ hôm nay đã không còn là anh lính chiến năm xưa nữa, mà “ giờ đây thanh thản đợi giờ để bay”(Lên Lão)

Và đây là nỗi đau đã bật thành tiếng cười bất lực, bởi thời đại hôm nay đã đánh mất lý tưởng:

Thời anh là lính chiến

Đêm ngày “Hành quân xa”

“Bác vẫn cùng chúng cháu”

Ngày nào anh cũng ca

 

“Vì nhân dân phục vụ”

“Vì nhân dân hy sinh”

Vì nhân dân quên mình”

Cà toàn quân cùng hát

 

Đất nước giờ đổi khác

Thêm nhiều bài hát hay

“Vì nhân dân “ quên khuấy

Cúi đầu chào- bó tay…!

(Bài hát Ấy Quên Rồi)

 

Đào Trọng Thử trốn đi đâu?

Đào Trọng Thử lấy tên tập thơ là “TRỐN”, bạn đọc sẽ tự hỏi tại sao nhà thơ lại trốn, trốn đi đâu, thái độ của anh là thế nào trong cuộc chạy trốn?

Vào rừng để nhớ chiến tranh

Một thời khốc liệt toàn anh lính quèn

Phố phường sống gấp không quen

Quên nhanh thớ lợ, nghèo hèn nhớ lâu

 

Rừng ơi đồng chí ở đâu?

Cây rưng rưng lặng. Ve sầu điên điên…!

Vào rừng ngỡ gặp bạn hiền

Bạn hiền nhiều đứa xuôi miền hư vô

 

Vào rừng chạy trốn hoan hô

Hoan hô xô lệch cơ đồ nước Nam

Trốn phố phường cái túi tham

Cùng rừng ta tiếp tục làm con dân..!

(Trốn)

Như vậy là đã rõ. Anh trốn cuộc sống gấp ở phố phường, trốn sự giả dối, trốn sự gian tham. Anh lên rừng sống với đồng đội lính quèn chân thật, sống với những đồng chí, những người đã xuôi miền hư vô. Thực ra đó chỉ là cách nói ẩn dụ. Nhà thơ không thích hợp với đời sống kinh tế thị trường, bởi vì người “Làm kinh tế có trăm phương ngàn kế”(Âm Thịnh), lũ người sống xung quanh  chẳng khác gì lũ đười ươi, thực ra đười ươi khác người bởi chúng không ngậm tăm như người (Ngậm Tăm). Anh không sống được với bọn quan tham kiếm tiền như làm xiếc (Xiếc), trong khi người nghèo hiền lành chân thật như Thạch Sanh  vẫn bị lừa (Thạch Sanh). Dẫu vậy, anh không dấu được những cơn giận điên người trước thủ đoạn và tội ác mà tập đoàn Vê-Đan gây ra cho quê hương Đồng Nai (Bột Đắng)

 

Ai trực tiếp giết sông

Là gián tiếp giết người

Sông chết bây giờ

Người sẽ chết mai kia !

 

 Lửa đã cháy! Chuột đã lòi mặt chuột

Tập đoàn Vê-Đan ăn năn hối cải

Đã muộn rồi !

Bột ngọt các ngươi trở nên đắng chat

TẬP ĐOÀN VÊ-ĐAN LÀ TẬP ĐOÀN TỒI”

 

Câu thơ ngắn lại với giọng quyết liệt, câu thơ bùng lên như lửa cháy. Những tưởng lửa căm giận, lửa của lòng yêu nước thương dân sẽ thiêu sạch bọn chuột Vê-Đan. Vậy mà anh chỉ kết luận  bằng một câu chẳng có một tí trọng lượng nào. Câu thơ đa số là tiếng bằng, nhạc điệu buồn, chậm lại và buông xuôi như người lính gục xuống. “TẬP ĐOÀN VÊ-ĐAN LÀ TẬP ĐOÀN TỒI”

. Phải chăng bút lực của anh đã sức cùng lực kiệt? hay kẻ thù quá lớn đến nỗi, dù súng đạn anh có thừa, anh cũng chẳm làm nên trò trống gì? Thơ anh chỉ còn là những lời hô hào suông, không lay động được những tâm hồn đồng điệu khác, không  gợi được cái hào khí hùng ca của thơ ca thuở trước! Hay tại đề tại anh chọn báo chí đã khai thác cạn kiệt, mà tài thơ của anh không thể gây sóng? tất nhiên chẳng ai đòi nhà thơ phải xông lên chiến đấu như người lính năm xưa, nhưng ít ra tư tưởng, tình cảm và ngọn lửa yêu nước trong lòng anh phải rực sáng, trong thời đại mà anh bảo là “Chặng đường phía trước còn tăm tối/ Đời còn lâu nữa mới bình minh “(Tự)

Hồn thơ ĐTT chỉ thực sự bình yên khi trở về với đồng quê xanh mát tình người

Phở bò, lẩu Thái cho qua

Mẹ ghiền bánh đúc – thứ quà nhà quê

Bánh đúc bát, bánh đúc sề

Lạc rang ít hạt bùi tê tái…bùi…

 

Mẹ ăn bánh : Con bùi ngùi

Bao bà Mẹ – Giống mẹ tôi hở giời?!

Nồng nàn tấm bánh đúc vôi

Quốc hồn dân Việt dâng đời thảo thơm…!

(Ca bánh Đúc- Kính tặng các bà mẹ Việt Nam)

 

Cha tích cực trồng cau

Để kiếm mo làm quạt

Trời dộp phồng khô khát

Thương mẹ già mỏi tay …!

(Mo Cau)

Ước gì trở lại ngày xưa

Đời yên tình thắm trâu đùa cùng ta

Cỏ non xanh lại đồng nhà

Trâu xơi thỏa chí, khỏi qua đồng người”

(Trâu Về)

Ở những bài thơ trên (Ca Bánh Đúc, Sen, Hoa Lau, Rau tàu bay, Lá Trung Quân,Thày Ơi, Nước Mắt Chảy Xuôi, Mo Cau, Trâu Về..), thơ ĐTT hiền lành hơn, chất trữ tình đậm đặc hơn. Hồn thơ sâu nặng nghĩa tình. Tính châm biếm chỉ còn là nỗi xót xa rất nhẹ nhàng. Nói điều này để thấy những bài thơ châm biếm của anh xuất phát từ những nỗi bức xúc thế sự không dằn lòng được, còn căn cốt hồn thơ anh là tiếng nói trữ tình.

Thở phào : Thoát khỏi hương dương

Chuyển sang hưởng thọ : đọan trường còn xa…?!

Bao nhiêu lần suýt làm ma

Rồi con, rồi cháu đầy nhà như ai

Ngẫm mình có tí tẹo tài

Hành nghề chữ nghĩa với vài tập thơ

Xuống ruộng chán, lại lên bờ

Giờ đây thanh thản đợi giờ để “bay”

Của riêng “còn một chút này”

Ai khen : Cảm tạ- ai rầy : Cám ơn…!

(Lên lão-2009)

 

Nằm trong dòng thơ trữ tình của ĐTT là những bài anh viết cho các công ty (Tình Trong Ly Cà Phê, Những tiếng Đập Sữa, Gửi Người Mặc Áo Nàng Bân, Những Cái Râu Mực). Những bài này chất trữ tình lấn át hẳn chất quảng cáo, khiến cho người đọc chợt ngỡ ngàng về tài thơ của anh. Bởi khi viết thơ châm, người thơ chú trọng đến đối tượng châm biếm và các kỹ thuật viết thơ châm, khiến cho chất nghệ thuật của ngôn ngữ văn chương bị giảm đi (thí dụ các bài : Không Đề, Gặp Lại Cây Sung, Bình Quân, Mèo, Đầy Tớ Còn Đang Họp…)

Thơ châm của Đào Trọng Thử có gì đặc sắc?

 Nghệ thuật châm biếm trào phúng của ĐTT là nghệ thuật của thơ trào phúng truyền thống. Anh hay dùng thủ pháp tương phản để bật ra cái mâu thuẫn gây cười, tiếng cười đánh thẳng vào kẻ xấu, cái xấu. Anh cũng có những bài sử dụng nghệ thuật ẩn dụ để khái quát về một vấn đề (Mối, Gặp Lại Cây Sung, Không Đề, Rác, Thạch Sùng, Xuân Tóc Đỏ, Thạch Sanh, Lý Thông, Chí Phèo, Thi hào Nguyễn Du, Có Một Con Ngáo Ộp) Lập trường của anh là lập trường nhân dân, chính nghĩa của anh là chính nghĩa dân tộc, tình cảm yêu thương chiến đấu của anh là tình cảm thiên về đạo lý của nhân dân. Trong thơ anh, rất hiếm khi gặp được Cái Tôi

Tiền Xu

Kẻ nghĩ ra tiền xu

Lại đang xài tiền tỷ

Hắn ung dung

Búng

        Những

                  Đồng

                           Xu

                               Han gỉ

Lăn

      Lăn

           Lăn

Về phía lũ ăn mày

 Bài Cấp Độ được viết như một tiểu phẩm hài.

Đỉnh tầng năm khách sạn 5 sao

Nhìn xuống cánh đồng ven đô

Cán bộ tỉnh trầm trồ :

  • Ôi! Lúa mùa chin vàng mơ, đẹp quá!

Cán bộ huyện tán dương hể hả

  • Một cánh đồng màu mỡ

Dân trồng toàn lúa nếp

Hứa hẹn vụ mùa bội thu

 

Cán bộ xã gãi đầu, gãi tai :

  • Hổng dám đâu, đất quy hoạch sân gôn

Nông dân đã nhận tiền rồi

Màu vàng cỏ tranh thôi

Kính thưa các sếp…!

 

Nhưng tuyệt kỹ châm biếm của ĐTT phải kể đến bài Lắng Tiếng Vỗ Tay, Bài Học Vỗ Tay, Thưởng. Anh nói rất thật, nhưng lại là châm biếm, và châm biếm sâu cay. Cái đau không phải là ở đối tượng bị châm biếm mà lại nỗi đau không kìm nén được trong lòng anh. Anh phê phán thói giả hình, thói vong ân bội nghĩa của cuộc đời và xót xa cho những người đã chiến đấu và hy sinh. Anh chỉ ra trong cái ồn ào, xô bồ, phô trương hình thức, đâu là bản chất của sự giả dối vong ân. Nội dung trở nên trào phúng khi ngôn ngữ của anh đang bình thường bỗng chuyển sang cường điệu hoặc tương phản

 

…Ba mươi lăm năm ăn mừng toàn thắng

Người sống ngồi cùng người chết

Cùng lắng nghe biển người

Vỗ tay rào rào hoan hỷ

Bắt tay đồng chí- đồng bào

Tiếng vỗ tay đều đặn, tự hào

Tiếng vỗ tay vang vang như biển động sóng trào

Tiếng vỗ tay như sấm rền tít tận trời cao…

Mừng Việt Nam ta thắng Mỹ

Nhà nhà cụng ly

Người người cụng ly

Chiến sỹ cụng ly

Quân tham nhũng cụng ly

Cùng nhau giết chó ăn mừng

Tự hào ngày 30 tháng Tư góp mặt chúng mình

Tự hào có chúng mình mới có ngày 30 tháng Tư

Đồng đội của tôi ơi hãy im lặng lắng nghe cả nước vỗ tay

Vỗ đến tấy đỏ cả hai bàn tay vẫn còn mãi vỗ…

            (Lắng Tiếng Vỗ Tay)

 

12 câu thơ đầu mang ý nghĩa bình thường, vì vui nên có hơi lãng mạn một chút, nhưng khi bật ra câu 13 “Quân tham nhũng cụng ly” và câu 18:” Vỗ đến tấy đỏ cả hai bàn tay vẫn còn mãi vỗ…” thì toàn bộ nội dung trước đó trở nên trào phúng, châm biếm. Bởi tất cả những gì đang diễn ra, niềm vui, niềm tự hào, tình đồng chí đồng bào, ý nghĩa sự thắng lợi, ý nghĩa của lòng tri ân chỉ là giả dối, là hình thức, là ngụy trang. Làm gì có chuyện cả nước vỗ tay đều đặn? làm gì có cảnh Nhà nhà cụng ly/ Người người cụng ly/ Chiến sỹ cụng ly/ Quân tham nhũng cụng ly/ Cùng nhau giết chó ăn mừng. Làm gì có cảnh cả nước vỗ tay/Vỗ đến tấy đỏ cả hai bàn tay vẫn còn mãi vỗ. Chính sự cường điệu, sự diễu nhại này tạo ra ý nghĩa châm biếm, làm đảo ngược ý nghĩa nội dung tưởng như thật được ĐTT miêu tả. Trong đoạn thơ trên cũng cần thấy tài năng dựng cảnh, tài năng ,”chộp” những hình ảnh sắc nét, bất chợt, tài năng đặt bên nhau những cái tương phản để tạo ra một không gian nghệ thuật vừa cụ thể, vừa có sức khái quát, vừa rất thật, nhưng vừa là sự lật nhào tất cả làm lộ ra những gì là giả dối, sự giả dối lớn lao, sờ sờ ra đó trong thời đại hôm nay (cả nước-vẫn còn mãi). Cái đau là ở những người như “chúng mình”. Tự hào có chúng mình mới có ngày 30 tháng Tư/ Đồng đội của tôi ơi hãy im lặng lắng nghe cả nước vỗ tay.

Có thể bạn đọc sẽ không đồng tình với ĐTT về cách nhìn và cách phản ánh, phân tích hơi quá đáng của anh về hiện thực. Cả tập thơ chỉ phản ánh hiện thưc đau lòng của số phận nhân dân, của người lính sau chiến tranh, hiện thực giả dối, hiện thực bất công của thời kinh tế thị trường, anh ước mơ trở về “ngày xưa”, thời chiến tranh, tuy gian khổ nhưng nghĩa tình chân thực, đằm thắm. Tuy không nói thẳng ra, nhưng anh đòi hỏi phải có một xã hội công bằng, “Cơm no, áo ấm nhà nhà”, đòi hỏi những người đã chiến đấu hy sinh phải được bù đắp xứng đáng. Anh ca ngợi cuộc sống thanh bần. Cái nhìn của anh bi quan trước hiện thực, có đôi khi anh thỏa hiệp với hiện thực (Mừng Thọ Bác Bùi Tứ Hải, Thiên Đường,…).

Thực ra chiến tranh đã qua lâu rồi (37 năm), chẳng còn ai mong trở về cái thời đau thương ấy nữa. Bây giờ là thời khép lại quá khứ hướng đến tương lai, thời của “nước giàu, dân mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minhsẽ chẳng  ai ngồi ôm đống xương người chết mà khóc (dù công việc đền ơn đáp nghĩa, tìm hài cốt liệt sĩ vẫn đang tiến hành), chẳng còn ai thích ăn rau tàu bay, dùng quạt mo cau nữa (Rau Tàu Bay, Mo Cau). ĐTT cố níu kéo cái thời quá vãng ấy, liệu anh có đủ sức không?

Cũng cần thấy điều này về mặt nghệ thuật, ĐTT có những phát hiện rất tinh tế, rất thơ cũng rất tư tưởng ở những sự vật sự việc của đời thường, qua đó anh đặt vấn đề làm “nhức đầu” người đọc (Hoa Lau, Rau Tàu Bay, Âm Thịnh, Tiền Xu, Mối, Nhắn Tìm Đồng Đội, Cấp Độ). Đọc những bài thơ này, người đọc vừa thấm thía, vừa thú vị. Thấm thía ở vấn đề anh đặt ra, thú vị ở nghệ thuật thể hiện. Xin đọc Tiền XuCấp Độ là hai bài tiêu biểu. Tuy vậy không phải bài nào anh cũng thành công. Bình QuânNgậm Tăm là hai bài rất ít sáng tạo nghệ thuật. Bài Ngậm Tăm (07.2010) của ĐTT chắc chắn là sự diễn đạt lại dưới dạng thơ ý tưởng chủ đề của truyện ngắn Thói Ngậm Tăm (12.2007) của Khôi Vũ. Còn Bình Quân là câu chuyện giả định được kể nhiều trong dân gian để mỉa mai cách tính GDP theo bình quân đầu người. ĐTT chỉ ghi lại câu chuyện mà không có sáng tạo gì mới hơn. Bài Mèo thực sự chưa đem đến cho người đọc cảm xúc thẩm mỹ cần thiết để cảm nhận đó là một bài thơ, ngoài sự chia sẻ một nhận định bi quan của tác giả “Người đời ai chẳng một lần/ Mèo…!”

Có một con gà luộc

Bình quân cho hai người

Kẻ giầu thản nhiên chén

Người nghèo nhăn răng cười…

(Bình Quân)

Nếu Đào Trọng thử phát huy được mặt mạnh của mình cả trong thơ trữ tình và thơ châm biếm, anh sẽ có nhiều thành công hơn, bởi anh có được cái nền tình nghĩa sâu nặng với nhân dân, sử dụng được kỹ thuật thể hiện của nhân dân, và anh hòa mình vào trong nhân dân để cảm nhận, lên tiếng về những vấn đề của đời sống đương đại, mà tầm nhìn của anh vừa có chiều lịch sử, vừa có chiều hiện đại (Có Một Con Ngáo Ộp- Bột Đắng; Sen-Cấp Độ…). Trong tập thơ TRỐN anh không có bài thơ cách tân theo khuynh hướng của thơ Việt đương đại, tuy vậy tập thơ định hình được khuôn mặt thơ Đào Trọng Thử với hai nét sắc xảo là  trữ tình và châm biếm. Đào Trọng Thử vẫn trung thành với con đường đi riêng trong cá tính sáng tạo, và ít nhiều anh đã có được thành công.

Dù sao ý niệm “trốn” trong thơ ĐTT cũng gợi ra thái độ an bần lạc đạo của nhà Nho xưa, tuy ĐTT chưa bao giờ là nhà Nho, mà tính cách của anh là tính cách con nhà lính.

 

Cháu nội cháu ngoại đầy nhà

Gặp nhau thì vẫn cứ là mày tao

Ngỡ như vừa mới hôm nào

Tha La, Vườn Mít, đội tao đội mày

Trộm rau bắt gặp thì “vay”

Mổ thương binh giỏi, đứ tay la làng

Lính quèn rất khoái xài sang

Đèn Nghéo, đài Nhật nghênh ngang rừng già…

Chiến trường ôn lại mắt cay

Rưng rưng nhớ bạn bấy chầy “tiêu dên”

Miền Đông ác liệt nỡ quên?

Mất toi tuổi trẻ bắt đền ai đây?!

Ăn mừng cuối tháng Tư này

Sang năm gặp lại chúng mày Hăm ba…

(Ngẫu hứng K23)

Ghi chú: Bài đã in trong tập Hoa đỏ bên sông. Nxb HNV .2014

____________________________________

ĐẤT TRỜI VẦN VŨ-Nguyễn Một

 

 

 

CÂU CHUYỆN CỦA KẺ CHƠI DAO

Đọc tiểu thuyết Đất Trời Vần Vũ của Nguyễn Một, Nxb Hội Nhà Văn 2009

Bùi Công Thuấn

 

sachhay

Ai cũng biết rằng văn chương là sự sáng tạo cái đẹp bằng ngôn từ, và tác phẩm văn chương là sự lên tiếng của nhà văn trước hiện thực thông qua hình tượng nghệ thuật. Khi đọc tác phẩm văn chương, tôi thường tìm kiếm sự sáng tạo cuả nhà văn và suy gẫm về những thông điệp nhà văn gửi gắm trong tác phẩm. Quả là thú vị nếu gặp được những sáng tạo mới mẻ, độc đáo. Bây giờ có người coi sáng tác văn chương là trò chơi chữ nghiã, nhưng tôi tin rằng nhà văn không chỉ là người “mua vui” cho thiên hạ, mà còn là người sáng tạo, góp phần làm nên bộ mặt văn hóa của thời đại. Ngòi bút cuả nhà văn có sức mạnh…

Tôi sẽ viết những cảm nghĩ cuả mình một cách tự nhiên như nó xuất hiện khi tôi đọc tác phẩm, ngổn ngang như nội dung cuả Đất Trời Vần Vũ, và theo cái cách bây giờ người ta đọc văn bản. Văn bản có nhiều nghiã, diễn giải là vô tận, người đọc giải mã theo cách hiểu văn bản của riêng mình. Có khi cách hiểu của người đọc không trùng khớp với ý định chủ quan cuả tác giả. Cũng dễ hiểu, vì tác phẩm là một sinh thể biệt lập với tác giả, là một thế giới riêng, thế giới do người đọc hình dung ra và gán nghĩa cho nó. Khi đứa con tinh thần ra đời thì cũng là lúc tác giả bị khai tử (Roland Barthes). Tác phẩm thuộc về người đọc.

CÂU CHUYỆN “CON DAO QUYỀN LỰC”

            Đất Trời Vần Vũ có hai câu chuyện được kể theo cấu trúc song song. Một câu chuyện ở hiện tại: Đám tang lão Tư Ngồng; một câu chuyện ở quá khứ, do nhân vật Nhà Thơ kể. Đó là câu chuyện về dòng họ Tư Ngồng và con dao quyền lực.

Câu chuyện ở hiện tại: Trong quán cafe của Lụa, Bảy Tánh thông báo tin Tư Ngồng chết bí ẩn (chương 1), sau đó là việc chuẩn bị đám tang (chương 2) và chôn cất Tư Ngồng (chương 40). Rải khắp 27 chương sau đó là những sự việc và con người liên quan đến Tư Ngồng. Ông đã đi chiến đấu vì lý tưởng, vì tình yêu quê hương đất nước. Khi hoà bình, ông có chức có quyền và đặc biệt nắm trong tay quyền lực bí mật từ con dao, ông đã thay đổi (tr. 316). Ông chiếm đoạt Lan, cô gái quê từ tay Trần Đình, bằng thủ đoạn. Ông chiếm đoạt Biển, giám đốc ngân hàng bằng quyền lực. Ông chiếm đoạt Diễm bằng tiền (tr.318), và sau cùng, chết bằng chính lưỡi dao quyền lực của mình.

Chuyện quá khứ do nhân vật Nhà Thơ (Miên Trường) kể gồm 13 chương, xen kẽ với tuyến truyên hiện tại. Nhà Thơ kể lại câu chuyện về con dao quyền lực mà dòng họ Trương Phước có được từ thời ông tổ Trương Phước theo Trần Thượng Công. Trương Phước đã dùng con dao quyền lực hãm hại nhà họ Trần. Tội ác chồng chất từ đời Trương Phước đến cháu là Trương Phước Loan, đến người cuối cùng là Trương Phước Tư (Tư Ngồng). Khi chôn Tư Ngồng, ni cô Diệu Lan (vợ Tư Ngồng) đã ném con dao xuống huyệt.

HÃY NGHE TIẾNG NÓI CỦA NHÀ VĂN

Có hai dang phát ngôn cuả nhà văn trong tác phẩm: Tác giả phát ngôn gián tiếp qua lời nhân vật, qua hệ thống hình tượng và lời bình ngoại đề.

Đã có một thời Nguyễn Một dạy học, hiểu thực tại của đời nhà giáo, anh viết về giáo dục Việt Nam như sau: Giáo viên khổ vì chuyện vẽ vời của mấy ông lãnh đạo bên giáo dục (tr.114), đó là một nền giáo dục tồi tệ (tr.121). Muà hè, các thầy cô giáo có một tháng nghỉ ngơi, trước khi vào mùa hành xác với những giáo trình nhàm chán, được đặt tên là ‘bồi dưỡng nghiệp vụ’ (tr.196). “Các thầy giáo, những trí thức của đất nước như em mà hàng tháng tranh giành nhau cái lốp xe đạp theo phân phối. Các cô giáo hàng tháng được phát hai tấc vải mùng để làm băng vệ sinh, xài xong giặt phơi và để dành các tháng còn lại may mùng để ngủ, anh chưa thấy ở đâu trên thế giới này, con người sống nhục nhã như thế “(tr.225). ”Thời buổi gì mà ngành giáo dục cũng có tham nhũng thì còn ra cái thể thống gì”(tr.200). “Hoá ra lâu nay lũ trẻ bị lưà dối, Cả nền giáo dục bị lưà dối”(tr.310).

Mượn lời bà Năm Trầu, Nguyễn Một chửi cán bộ Nhà nước tha hoá như Tư Ngồng (cán bộ cấp cao, tr. 285) là “cái đồ dô ơn bạc nghiã “(tr.52), làm quan bây giờ là để hưởng thụ, vì “Kẻ chiến thắng phải được hưởng thụ những chiến lợi phẩm mà họ đã bỏ xương máu ra đổi lấy, đó là lẽ tự nhiên thôi, từ xưa đến giờ là thế, chế độ nào cũng vậy thôi”(tr.61). Chuyện cán bộ lợi dụng quy hoạch để cuớp đất khiến cho nhân dân phải đấu tranh, đả đảo (chương 32, tr.264), Nguyễn Hữu Trí đi đòi công lý bị bắt (tr.209), Nguyễn Một than lên rằng Vân Tiên, Tử Trực chết hết rồi (chương 25)!

Nguyễn Một cũng không ngại khi phải đề cập tới những vấn đề “nhạy cảm”, có thể gây ngộ nhận: Trần Thượng Công suy tư về xứ sở phương Nam, ông cay đắng nhớ lại sự cai trị cuả người Mãn trên đất nước ông. “Ông không thể nào chịu đựng nổi bọn mọi rợ phương bắc lại có thể cai trị đất nước ông”(tr.28), ông còn nghe được lời thề cuả dân chúng “kề vai sát cánh với Chuá chống lại kẻ thù chung là Trung Quốc “(tr.30).

Ấn tượng mạnh mẽ là tiếng nói phản kháng chiến tranh. Chiến tranh đồng nghiã với chết chóc. Cha Diệu Lan đã nghĩ thế này: ”Ông chẳng có lý tưởng chính trị gì cả, là người nông dân, ông yêu ruộng đồng và ghét chiến tranh, cuộc chiến liên miên trên quê hương ông, người chết như rạ “(tr.72). “người anh hùng “ Trần Đình đi kiếm đàn bà, gây ra hai cuộc tàn sát trên cù lao Dao (chương 11). Nguyễn Một cũng đồng nhất những cuộc tàn sát cuả lính ngoại cuốc thời chống Mỹ với cuộc tàn sát vì hận thù tư lợi cuả Nguyễn Biện (chương 36). Anh không coi đâu là chiến tranh chính nghiã hay phi nghiã. Anh gọi chung là đội quân cứu nước, lính Cộng Hoà, lính ngoại quốc. Anh bảo, “Mọi cuộc chiến nhìn từ phiá trước đều là chính nghiã (tr.92), như vậy nếu nhìn từ phiá sau hay nhìn từ phiá khác, thì sẽ thế nào? Chính nghiã hay không là tuỳ thuộc vào phiá người đứng nhìn. Cách đặt vấn đề như thế là rất khác với cách nhìn cuả những nhà văn trực tiếp sống chết ở chiến trường chống Mỹ (Anh Đức, Nguyễn Thi…).

“Tư tưởng” được Nguyễn Một khẳng định trong tác phẩm là: “Tình yêu đã cứu thế giới này, tình yêu mới thực sự có quyền lực và sức mạnh”(339). Anh có nói đến Phật, đến sư bà, ni cô Diệu Lan, nhưng họ vẫn vướng bận lòng trần, không siêu thoát được. Anh ca ngợi Chuá Kitô. “Ở đời này chuyện chết, sống là chuyện tương đối. Vì vậy, tôi tin vào sự phục sinh cuả Chuá Kitô, người ta đóng đinh thể xác Ngài vào cây thánh giá, nhưng triết lý ‘yêu thương loài người’ vĩ đại của ngài giúp cho Chuá ‘phục sinh’ trong lòng con người ‘ như bây giờ và hằng có đời đời chẳng cùng’”(232). Tư Ngồng mặc dù có lưỡi dao quyền lực nhưng không thể giết được Diễm khi Diễm đang hạnh phúc trong tình yêu bên Phong, trái lại, lưỡi dao quyền lực ấy quay lại giết lão.

Hình tượng tư tưởng xuyên suốt tác phẩm là “con dao quyền lực” và ý nghiã “chơi dao có ngày đứt tay”. Con dao quyền lực cuả dòng họ Trương Phước đã gây hoạ đến người cuối cùng cuả dòng họ là Tư Ngồng. Nguyễn Một không miêu tả cụ thể Tư Ngồng có quyền lực gì, anh chỉ nói quyền lực ngầm. Tư Ngồng có ăn chơi, có giết đồng đội, có tranh quyền (nhưng có lý do), nhưng do đâu anh ta có tiền, do dâu có quyền thì Nguyễn Một không lý giải. Cái chết cuả Tư Ngồng không do hậu quả tranh giành quyền lực giưã các thế lực xã hội, mà chết do vỡ tim, vì lưỡi dao vô hình (Một cách lý giải duy tâm).

Phải chăng đây là cái khó của chính tác giả? Nhà văn biết rõ “con dao quyền lực“ là gì,  ai nắm quyền lực ngầm ấy, họ sử dụng quyền lực ấy để làm gì, nhưng nhà văn không dám nói thẳng ra. Cuối cùng, Diệu Lan vứt con dao quyền lực ấy xuống mộ huyệt cuả Tư Ngồng. Hình tượng con dao quyền lực chưa đủ sức chuyển tải tư tưởng.

Nguyễn Một giải quyết mọi mâu thuẫn thù hận trong cõi đời vật chất này bằng thế giới song song, vậy hình tượng này có ý nghiã gì?

Đó là một thế giới “không có hận thù, chiến tranh và những tranh chấp vật chất như chùng ta, nhưng tình yêu thì vẫn tồn tại, bởi tình yêu không là dạng vất chất”(tr.85). Có thể đó là một thế giới lý tưởng mà Nguyễn Một mong muốn có được trong cõi đời này khi anh thể hiện tinh thần phê phán chiến tranh. “Tôi đã gặp ông già người Mạ, kẻ đã đưa tôi vào thế giới song song để tránh cuộc chiến mà tôi chán ghét và sợ hãi “(tr.137). Nhưng trong xử lý nghệ thuật, anh đã không đạt được ý nguyện cuả mình. Anh vẫn phải vay mượn tư tưởng về kiếp sau cuả tôn giáo khi cho nhân vật đầu thai lại cõi nhân gian này (Linh Chi treo cổ và đầu thai lại), tất cả các nhân vật chết, đều vào thế giới song song, nhưng anh không miêu tả họ sống thế nào trong thế giới ấy. Vưà từ giã thế giới vật chất, họ bị lôi đi, nhẹ tênh, không còn thù hận, thế thôi. Cha mẹ Lụa, Lài chết vì đi vớt cá, không thấy có mặt trên thế giới song song. Trần Đình kể cho Nhà Thơ nghe cuộc hỏi cung cuả Tư Ngồng khi gặp nhà thơ ở thế giới song song. Và Khi đã ở trong thế giới song song, Thắng vẫn nhìn cô giáo tắm, vuốt ve thân thể cô giáo! (tr.288). Có lẽ đây là thế giới song song theo giả thuyết của khoa học vũ trụ, không phải thế giới tâm linh của tôn giáo hay thần thoại?

Có thể là, Nguyễn Một mới tưởng tượng ra một thế giới riêng để lạ hoá văn chương và giải quyết những vấn đề không thể giải quyết trong thế giới thực tại. Trong tôn giáo và thần thoại, thiên đàng, điạ ngục, niết bàn, cõi tiên là thế giới tâm linh đã được dân gian miêu tả cụ thể, nơi ấy có thưởng có phạt rạch ròi, không sống chung hoà bình giưã kẻ xấu, kẻ ác với người hiền. Vì thế, thiên đàng, điạ ngục có ý nghiã giáo dục đối với tín đồ đang sống trong cõi nhân gian. Trái lại, thế giới song song của Nguyễn Một không có ý nghĩa ấy đối với nhân vật của mình:”Hoá ra thế giới vật chất này có quy luật riêng cuả nó không lệ thuộc vào thế giới song song”(tr.338).

Trong Đất Trời Vần Vũ, Nguyễn Một muốn đem tất cả những vấn đề thời sự (dương thời) vào tác phẩm. Chương 28, 29 kể chuyện Nguyễn Hữu Hà, anh cuả thầy giáo Nguyễn Hữu Trí. Hà vượt biên, phải ăn thịt người, được định cư ở Đan Mạch, sau đó chán nản, trở về Việt Nam, có lẽ nhà văn muốn khẳng định rằng không đâu hạnh phúc bằng ở Việt Nam (?). Có điều, chương 28, 29 này không kết nối gì với câu chuyện của Tư Ngồng. Cũng vậy, Nguyễn Một đưa Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh vào (không nói rõ tên) và lên án cả nền giáo dục, có lẽ là để thêm thắt vào cho phong phú cốt truyện chính (chương 37. Tr. 310). Chuyện tù cải tạo của Bảy Tánh là một chuyện ngoại đề. Sự dung nạp vào trong tác phẩm những vấn đề nóng của thời đại, và lên tiếng nói trực tiếp về những vấn đề đó là để ghi lại cái thời đang sống, ghi cái dấu ấn của một thời. Điều này có giá trị hiện thực nào đó. Nhưng khi thời sự qua rồi, còn lại giá trị tư tưởng nghệ thuật gì cho tác phẩm. Ngày nay (2018), chẳng ai còn nói đến chuyện vượt biên, chuyện cải tạo. Nhà trường không còn tranh tre lá nứa của một thời…

Chuyện nhà văn gọi cù lao Phốcù lao Dao, là một dụng ý nghệ thuật, một biện pháp mã hóa hiện thực để né tránh những phiền toái do ngòi bút gây ra. Trong truyện, Nguyễn Một đề cập đến những điạ danh thật của Đồng Nai (Đá Ba Chồng Định Quán-143, Miệt vườn Long Khánh-198, căn cứ Bàu Hàm-208…) nhưng không nói trực tiếp đến Cù lao Phố . Nhà văn gọi Cù lao DaoCù lao Phố trong thế giới song song (chương 14) mà lịch sử không ghi chép lại, không đụng tới. Nếu miêu tả bằng bút pháp hiện thực những chuyện ở Cù lao Phố, người đọc sẽ nghĩ rằng ở cù lao Phố, cán bộ hầu hết tha hoá như Tư Ngồng? Nơi đó người ta mặc sức chém giết để giành lấy quyền lực. Những người dân thấp cổ bé miệng như bà Năm Trầu, Ba Thược, thầy giáo Trí đành bất lực đi tìm công lý…và người ta truy ra tác giả muốn nói về ai. Không phải vô tình người ta đã đặt vấn đề này khi săm soi tác phẩm?

Những chuyện vượt biên, chuyện dân khiếu tố vì đất bị quy hoạch, chuyện tiêu cực trong giáo dục, cuốn Hồi Ký cuả GS Nguyễn Đăng Mạnh, hồi ký của Nhạc sĩ Tô Hải, bút ký chính trị cuả Nguyễn Khải tung ở trên Internet, chuyện cán bộ tha hoá, báo chí đã nói quá nhiều rồi, noí mạnh mẽ. Vì chuyện “thời sự” của Đất trời vần vũ không thể làm “nóng” các diễn đàn như tác giả mong muốn (?). Có thể là do bức xúc cá nhân mà tác giả hóa thân vào tác phẩm để lên tiếng nói phê phán hiện thực. Chẳng hạn chuyện giáo dục. Vì lý do riêng Nguyễn Một đã bỏ nghề dạy học (trước đây Nguyễn Một dạy học- tr.177), nhưng nếu tất cả thầy cô giáo đều vì chán mà bỏ dạy thì đất nước này sẽ thế nào? Chỉ một lời nói của em bé với người tù cải tạo mà anh thoá mạ cả nền giáo dục của miền Bắc (tr.121), anh ca ngợi người tù cải tạo miền Nam! Điều ấy là không công bằng. Tôi nghĩ tác giả hoàn toàn có quyền đưa ra ý kiến chủ quan của mình. Tuy nhiên, nếu chỉ qua lời một em bé (trẻ con chưa có ý thức chính trị) mà phủ định mọi giá trị của nền giáo dục miền Bắc, người đọc sẽ phải hoài nghi thái độ diễn ngôn của tác giả.

Người đọc còn tìm thấy nhiều phát ngôn cuả Nguyễn Một về nhà thơ (tr.174), về Bùi Giáng, về “văn học khai khẩn “(tr.199), “tính đặc thù” cuả miền Đông gian lao mà anh dũng (tr.14), những câu triết lý về cuộc đời, chẳng hạn:” biết bao cuộc chiến tranh trên thế giới này vì người đàn bà “(164)’ hoặc, “chỉ cần họ tin có thần thánh, cho dù điều đó có tồn tại hay không thì thần thánh và linh hồn cũng giúp con người sống tốt hơn em ạ”(tr.233), những điều như vậy chưa đủ sức nâng tầm tư tưởng của tác phẩm.

Những yếu tố kiến tạo tác phẩm như kể truyện theo hai tuyến song song, thế giới song song, không phải là sáng tạo của riêng Nguyễn Một. Tiểu thuyết Lời nguyền hai trăm năm (1989) trước đó đã có cấu trúc hai tuyến song song ngược chiều, và phim Vùng đất của thủ lãnh rồng (Land of the Dragin Lord-Úc-2006) đã miêu tả thế giới song song của khoa học viễn tưởng (xem: http://hdonline.vn/phim-spellbinder-land-of-the-dragon-lord-10920.html).

HY VỌNG Ở NHÀ VĂN TRẺ

Nếu đọc truyện ngắn và bút ký cuả Nguyễn Một, so sánh với Đất Trời Vần Vũ, người đọc sẽ nhận thấy anh đã có một bước tiến khá dài và đáng trân trọng. Viết một tiểu thuyết 40 chương, 344 trang, quả là công việc lao động tổn hao nhiều sức lực và tâm huyết. Anh muốn tác phẩm cuả mình chuyên chở được những vấn đề lớn của một thời. Anh cũng đã mạnh dạn thử nghiệm nhiều kiểu bút pháp của nghệ thuật hiện đại. Những giá trị đích thực của văn chương anh sẽ tồn tại lâu dài, cùng với sự đóng góp của anh làm phong phú văn chương Đồng Nai là điều rất đáng mừng. Qua Đất Trời Vần Vũ Nguyễn Một đã thể hiện một khả năng dàn dựng tiểu thuyết có tầm vóc lớn. Văn chương của anh đã trau chuốt hơn, có chất Văn hơn, ít phô trương “cái tôi” hơn (mặc dù chất tự truyện vẫn còn rất rõ- chương 21). Nhiều chương anh viết rất sinh dộng, hấp dẫn, đã lộ ra cốt cách của một ngòi bút có những phẩm chất tiên phong. Anh viết những trang văn hào sảng về thế giới song song, bút lực của anh mạnh mẽ khi anh dựng lại chuyện lịch sử “không ghi trong sách sử”.

Tôi nghĩ rồi đây anh sẽ vượt lên để viết những tác phẩm có tầm vóc hơn về dung lượng phản ánh hiện thực và đề cập đến những vấn đề chính trị, tư tưởng lớn của đất nước này, nếu anh vẫn giữ được bản lĩnh và phong độ viết như khi viết Đất Trời Vần Vũ.

Tháng12/ 2009. Xem lại 3/ 2018

____________________________________________________________________

DÒNG SÔNG ĐỘ LƯỢNG

Bút ký cuả Nguyễn Một

Ghi chú. Xin đọc bài BCT viết về tiểu thuyết Ngược mặt trời in trong Hoa đỏ bên sông. Nxb Hnv 2014

 

Dòng sông độ lượng là tập bút ký có nhiều bài viết biểu dương “người tốt việc tốt “ có thành tích đóng góp cho sự phát triển cuả Đồng Nai. Đó là một nỗ lực đáng quý cuả Nguyễn Một trong việc thực hiện nhiệm vụ sáng tác theo yêu cầu cuả Hội VHNT Đồng Nai.

Người đọc gặp được những khuôn mặt sáng giá cuả văn hoá Đồng Nai như lão nhà văn Hoàng Văn Bổn; nhà thơ Thu Bồn; nhà văn Khôi Vũ; những người đang làm giàu đẹp đồng Nai như cán bộ tỉnh Đồng Nai Trần Đình Thành chăm sóc bonsai; chủ trường dân lập Bùi Thị Xuân; ông bà Lê Kỳ Phùng, chủ “trang trại kỳ cục”;  Bùi Văn Dương công ty cám Long Châu; Đỗ Khắc Long, tư nhân thầu thu gom rác Long Khánh; ông Tám Hiệu, chủ cơ khi Nghiã Thành; Thầy Đỗ Văn Ban, Hiệu Trưởng trường PTTH Tân Phú; Trần Văn Quyến, chủ trang trại Sơn Thuỷ; Võ Văn Quân, Giám Đốc XQ thêu Đà Lạt. Người đọc tiếp cận được một phần vẻ đẹp hiện thực cuả Đồng Nai qua những con người tiêu biểu cuả phong trào thi đua yêu nước. Nguyễn Một gửi trong trang viết tấm lòng trân trọng, yêu mến với đất nước con người Đồng Nai. Văn cuả anh trong sáng, lấp lánh ở từng câu chữ. Con người, cảnh vật Đồng Nai hiện lên đẹp đẽ. Cái nhìn cuả Nguyễn Một đầy cảm hứng lãng mạn.

Tuy vậy, ở mảng bài này, Nguyễn Một có ít thành công. Bài viết giới thiệu nhân vật ở dạng một bài báo. Chất bút ký còn nhẹ. Tác giả chưa thâm nhập sâu vào đối tượng để có thể dựng lên những hình tượng. Tình cảm anh phô diễn có vẻ khách sáo, dường như là để cho phải phép với nhân vật. Anh thường viết theo một công thức. Trước tiên, anh tìm một “tứ” làm khởi điểm, sau đó kể lại quá trình lập nghiệp cuả nhân vật, từ khó khăn gian khổ đến thành công, và kết bằng một cảm tưởng hoặc bỏ lửng.

Cái công thức ấy làm cho bài viết cuả anh trở nên saó mòn. Chẳng hạn, viết về Hoàng Văn Bổn hay Khôi Vũ, tác giả không thâm nhập vào tác phẩm cuả hai nhà văn này để nói cho được giá trị ngòi bút cuả họ. Anh chỉ điểm tiểu sử và tên tác phẩm. Những điều ấy đã được công bố quá nhiều trên truyền thông. Nguyễn Một bảo Khôi Vũ là người lắng nghe tiếng nói nội tâm, nhưng người đọc chẳng hiểu cái “nội tâm “ cuả Khôi Vũ là gì. Chuyện về chủ trường PTDL Bùi Thị Xuân và nhà giáo Đỗ Văn Ban, hai nhân vật này trong đời thường có điều tiếng trong dư luận. Bài viết cuả Nguyễn Một là bài ca ngợi. Người đọc sẽ nhận ra cái “giả ‘ cuả ngòi bút anh, và hoài nghi về mục đích viết cuả anh! Hoặc có những nhân vật, tôi nghĩ chẳng có gì đáng viết, như Đỗ Khắc Long thầu rác ở Long Khánh. Anh Long làm việc chỉ để kiếm sống. Thất bại trong kinh doanh xăng dầu, kinh doanh phân bón, anh quay sang thu gom rác. “Công trạng” cũng bình thường như mọi người lao động.

 

Cũng nên nói thêm, Nguyễn Một tập trung ca ngợi nhiều con người có gốc xứ Quảng quê anh. Thầy giáo Đỗ Văn Ban (Quảng Nam), Trần Văn Quyến (Quảng Ngãi); Nguyễn Văn Sáng (Quảng Trị); Trần bá Dương; Nguyễn Sự; nhà thơ Thu Bồn (Quảng Nam)…Viết về xứ Quảng, anh có nhiều kỷ niệm và có hiểu biết. Tình cảm cuả anh đối với quê hương là chân thật.

Những bài có hương vị“lãng du” như Lang Thang Xứ Quảng, Thái lan Nụ Cười và Sex, hoặc kiểu bài “góp nhặt cát đá “có đem đến một chút thú vị về sự hiểu biết cuộc sống chung quanh và tấm lòng đau đáu cuả tác giả với vấn đề được đặt ra. Vấn đề mai một các làng nghề: Làng nồi đất, Làng đá, làng Nai; vấn đề tàn phá thiên nhiên ở Rừng Lá, vấn đề “vô lý“ ở Nhơn Trạch…Tuy vậy Nguyễn Một lại né tránh cách giải quyết vấn đề. Lúc cần anh lên tiếng thì anh im lặng (tr. 89). Điều ấy  là mặt yếu cuả bản lĩnh ngòi bút Nguyễn Một, nói cách khác, đó là cách “viết lách “ cuả nhà báo.

Sức hấp dẫn cuả một bài bút ký trước hết là ở những gì được ghi chép qua một góc nhìn tinh tế, mới lạ, ở cách thể hiện có duyên, đồng thời còn ở “cái tôi“ cuả tác giả. “Cái tôi“ ấy phải là “cái tôi“ tài hoa, tinh tế, uyên bác. Điều này chỉ Nguyễn Tuân mới đạt được. Văn Nguyễn Một trong sáng, cách viết có duyên, nhưng “cái tôi“ Nguyễn Một lại mờ nhạt chất nghệ thuật. Dường như anh cố phô bày ra “cái tôi“ ấy, và tìm cách tạo cho nó một tầm vóc.  Viết về người khác, Nguyễn Một trình làng với người đọc một con người vưà có chút “ bụi” vưà có chút “ngông” nghệ sĩ,   vưà là con người sánh ngang với các bậc “đại gia“ trong văn chương và xã hội. Xét cho căn cơ “cái tôi“ trong những bài bút ký cuả anh chưa trở thành hạt nhân nghệ thuật, kết tinh cuả những chất liệu, sự việc, con người anh miêu tả.

Đọc Bút ký Nguyễn Một, người đọc thấy anh viết về anh khá kỹ, quê Quảng Nam, lưu lạc đến Phú quốc rổi Đồng Nai. Anh kể cả thói xấu không bỏ được cuả mình là thói hút thuốc (tr.49). Nhân nói về đám tang Thu Bồn anh khoe chuyện làm nhà (tr.90), anh cũng khoe việc mua mấy phon tượng gỗ trang trí quán café cho bà xã (tr.34), anh hả hê trong bưã rượu thuốc với thịt gà cuả Trần Văn Quyến (tr.71), chuyện làm bể nồi bị ngoại mắng  tr.39), anh nói thẳng ra sự kênh kiệu cuả mình: “Tính tôi khá kỳ quặc, tôi không thích cái gì quá mới và sặc sỡ, một chút rêu phong đủ làm tôi chết lặng hàng giờ liền “(tr.19). Trong tất cả các bút ký chỉ thấy anh đi, nghe nhân vật nói, rồi bày tỏ một vài cảm xúc chiếu lệ như: “Tôi thật sự ngạc nhiê “(tr3), “Tôi giật mình bởi…”(tr.12), “chúng tôi khóc vì mất ông …”(tr.14). Có khi hỏi nhân vật nhưng Nguyễn Một lại “không quan tâm lắm đến câu trả lời “(tr.51). Có khi nghe nhân vật nói, anh “thầm thắc mắc” rồi nhận ra”thắc mắc cuả mình thật ngớ ngẩn“(tr.74). Có rất ít những suy nghĩ sâu sắc về những vấn đề có giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Vì thế để bài viết đỡ chông chênh anh thường mượn một caí “tứ“ cuả một nhà văn nào đó: Bùi Giáng, Lão Tử , Derek Walcott, chẳng hạn.

Tôi thiết nghĩ, nếu anh tìm được nhân vật đúng như ý anh tâm đắc, và xây dựng thành hình tượng có chiều sâu và sức khái quát tư tưởng và nghệ thuật, vượt qua cách viết báo chí, bút ký cuả anh sẽ thành công hơn. Tôi tin rồi đây Nguyễn Một sẽ có được những bài bút ký đặc sắc và tìm được một phong cách riêng cho mình.

Tháng 12 /  2007

______________________

Ghi chú của tác giả :

Khi thẩm định bản thảo Nhà Văn Đồng Nai, Nxb Đồng Nai (2018) đã cắt hai bài trên (bài viết về tác phẩm của Nguyễn Một)