TƯ TƯỞNG MỸ HỌC KITÔ GIÁO

TƯ TƯỞNG MỸ HỌC KITÔ GIÁO

Và Văn học nghệ thuật Công giáo

Bùi Công Thuấn

Bữa tiệc ly-Tranh của Leona de Vinci

                        

Hãy quan sát nhưng ngôi thánh đường Công giáo, đó là những kiến trúc có vẻ đẹp riêng. Nhà thờ Công giáo luôn có tháp chuông, thường là kiểu tháp nhọn vươn thẳng lên cao, hướng tầm mắt người nhìn lên trời. Hãy nghe thánh ca Công giáo, đó là một nền âm nhạc đồ sộ. Vẻ đẹp toát ra từ giai điệu, lời ca, hòa âm, hợp xướng. Thánh ca Công giáo vang lên khắp mọi nẻo trên mặt đất trong mùa Noel, đưa người nghe vào thế giới của niềm vui thánh thiện hòa bình. Nền thánh ca ấy trở thành một bộ phận trong kho tàng văn hóa của nhân loại. Và hãy ngắm nhìn những tranh tượng Công giáo, hình ảnh Đức Giêsu, Đức Maria, và rất nhiều nội dung Kinh thánh đã trở thành đề tài hội họa, thành những tác phẩm kinh điển của hội họa thế giới. Cái đẹp của hội họa Công giáo đã gợi ra bao cảm xúc cho người xem tranh…Như vậy, dù là hội họa, âm nhạc hay kiến trúc Công giáo đều có cái đẹp riêng, cái đẹp ấy được soi chiếu bởi tư tưởng Nhân văn và tư tưởng Mỹ học Kitô giáo.

TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN KITÔ GIÁO

Tư tưởng nhân văn đặc biệt phát triển thành trào lưu tư tưởng nghệ thuật từ thời Phục Hưng ở phương Tây. Ðặc trưng chủ yếu của Chủ Nghĩa Nhân Vănlà sự suy tôn con người, là sự khôi phục lại con người (hay tính người), và con người bao giờ cũng được coi là tốt đẹp (con người chí thiện). Con người được đặt vào trung tâm thế giới, được đặt lên ngôi cao nhất (con người chí tôn)[1]. Văn học và nghệ thuật thời đó đưachất ngườivàochất thần thánh”, biến đời sống thần thánh thành đời sống bình thường của con người. Con người là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài”(Shakespear). Các nhà nhân văn chủ nghiã lấy câu của Terence, một nhà hài kịch La Mã làm phương châm: ”Tôi là một con người, không có cái gì có tính chất người lại xa lạ với tôi”. Con ngưởi là một bộ phận của tự nhiên, sống và chết theo quy luật tự nhiên, vì thế phải trả con người về tự nhiên để nó phát triển theo tư nhiên[2]. Chiến tranh phong kiến, chủ nghiã khổ hạnh, ngu dân, đàn áp tư tưởng là trái với tự nhiên, là nguồn gốc gây ra bất hạnh, xấu xa, tội lỗi trên thế giới. Chủ nghĩa Nhân Văn sau thời Phục Hưng được làm phong phú hơn bởi tư tưởng dân chủ thời Khai Sáng, ý thức đấu tranh giải phóng con người cuả chủ nghiã Marx và ý thức về  tồn tại của chủ nghiã Hiện sinh.

Nhưng vượt lên trên tất cả là tư tưởng Nhân văn Kitô Giáo mà cội nguồn là Kinh Thánh. Kinh Thánh đem đến cho nhân loại cái nhìn về bản tính con người, về cõi người, về ý nghiã sự sống của con người. Con người là gì? Con người không chỉ là vật chất thụ tạo, mà con người được nâng lên khỏi mọi loài thụ tạo, mang phẩm giá con cái Thiên Chuá, được thánh hóa và và hiệp thông với Thiên Chúa. Sáng Thế Ký viết rằng: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa(Stk 1, 27). Đức Giêsu nói: “Thầy là cây nho, anh em là cành” (Ga 15, 5). Khi nhập thể làm người, Ngài là Anh Cả của loài người; Ngài là đầu, Giáo hội là Thân thể, mỗi tín hữu là chi thể của Ngài; con người được làm em của Ngôi Con Thiên Chúa và thành con cái của Thiên Chúa. Không có cái nhìn nào về Con người siêu việt như thế. Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Thiên Chúa Cha cho con người : “Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến. Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng Ta”(Ga.17.19-21).

Kinh Thánh nói Con người nhưng không phải là Con người trừu tượng mà là con người cụ thể, đó là những con người trong mọi tình huống khốn cùng của họ. Mở đầu bài giảng Tám mối phúc, Đức Giêsu dạy rằng: ”Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chuá là của anh em”(Lc 6.20). Trong cuộc phán xét chung, Đức Vua đã thưởng cho những người được chúc phúc, vì “xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”.”Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt.25.35-40). Đức Giêsu cũng nói với các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: “Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông.”(Mt 21, 31). Tên trộm lành đã được vào Nước Trời ngay khi Chúa trút hơi thở trên Thánh giá: Luca thuật lại: “anh ta thưa với Đức Giê-su: “Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi !” Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng(Lc 23, 42-43). Kinh Thánh đã trân trọng con người ở thân phận bé nhỏ và khốn khổ nhất, lấy hành động vì con người làm thang bậc giá trị để  phán xét ở ngày cánh chung.

Từ cái nhìn con người như thế, Kinh Thánh lấy lòng yêu thương con người làm điều răn quan trọng. Khi được hỏi điều răn nào quan trọng nhất, Đức Giêsu trả lời:”Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn lớn nhất và điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình (Mt.22.37-39). Chúa còn dạy: “Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em(Mt. 5:44). Nhưng yêu thương như thế nào? Yêu thương bằng quan tâm thiết thực, như trong dụ ngôn về “Người Samari tốt lành” (Lc.10.29-37). Thấy người bị nạn bên đường, thầy Tư Tế bỏ đi, thầy Lêvi cũng tránh xa, còn người Samari lại gần “lấy dầu, lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, ông ta lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói:” Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”. Người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang, theo luật Môise thì phải bị ném đá. Thế nhưng Đức Giêsu đã cứu chị và nói với chị: ”tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”(Ga.8.11). Một lần khác, cảm thương tình cảnh cuả chị em Mácta và Maria, Đức Giêsu đã khóc thương Lazarô (Ga.11.33). Người đã truyền cho Lazarô từ cõi chết sống lại.

Qua những trường hợp cụ thể ấy, Kinh Thánh đã chỉ ra, tư tưởng Nhân văn Kitô giáo  thể hiện cái nhìn con người trong phẩm vị con Thiên Chúa, lòng yêu thương Con người mang đến Ơn Cứu rỗi. Điều này khác rất xa với nhiều nhãn quan triết học về con người.

Vấn đề con người, tương quan giữa người với người, hạnh phúc của con người và giải phóng con người là vấn đề của muôn thuở. Bi kịch của con người vẫn còn nguyên đó. Đau khổ, thù hận, tội lỗi, sự chết vẫn bao trùm lấy con người. Chỉ tư tưởng nhân văn Công Giáo mới soi rọi ánh sáng cho số phận của con người. Cả Friedrich Nietzsche và J. P. Sartre đều phủ định Thượng đế. Nietzsche giết chết Thượng đế để tôn con người lên hàng Siêu nhân, con người Tự do, tự định lấy ý nghĩa cho sự tồn tại của chính mình. Với Satre, tất cả là phi lý: ”Thượng đế là một phi lý, vũ trụ là một phi lý và cuộc nhân sinh là một phi lý”. “Tha nhân là địa ngục cho tôi”[3]. Triết học Hiện sinh vô thần kéo con người xuống đất và dìm con người trong tuyệt vọng. Trái lại, Gioan viết: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1, 9). Đức Giêsu cũng khẳng định: “Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối”(Ga 12, 46); Người nói rõ hơn: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 1-6). Đức Giêsu và công cuộc Cứu độ của Người trên Thập giá chính là cốt lõi của tư tưởng Nhân văn Kitô giáo.

Đức Giêsu là “Cái Đẹp trọn hảo”, nguồn vô tận cho sáng tạo nghệ thuật

TƯ TƯỞNG MỸ HỌC KITÔ GIÁO

Thông thường Mỹ học được hiểu là bộ môn khoa học về Cái Đẹp. Alexander Baumgarten đã dùng thuật ngữ Mỹ học để đặt tên cho tác phẩm Aestheticä (Mỹ học) của ông (17501758). Nhưng ngoài Cái Đẹp, Mỹ học còn nghiên cứu các phạm trù thẩm mỹ khác như Cái Cao cả, Cái bi, Cái hài... Cho đến nay, chưa có sự thống nhất về đối tượng của Mỹ học.

Mỹ học là một môn học còn trẻ, nhưng tư tưởng Mỹ học lại xuất hiện từ rất xa xưa, từ Platon (427-347 TCN), Aristote (384-322 TCN)… Và nhận thức về Cái Đẹp cũng rất khác nhau. Xin dẫn vài ý kiến. Platon cho rằng có cái đẹp vật chất và cái đẹp tinh thần, nhưng chỉ có cái đẹp tinh thần, cái đẹp của ý niệm, mới là cái đẹp vĩnh hằng, tuyệt đối. Socrates (469-399 TCN) đặt câu hỏi: “Đẹp là gì?”; Ông trả lời: “Đẹp là cái thích thú do tai nghe mắt thấy” (Hippias Maior). Aristote coi Cái Đẹp là trật tự của sự hài hòa, cân xứng.  Ông cho rằng Cái Đẹp của thực tại, trung tâm là vẻ đẹp của con người. Thánh Augustinô (354–430), cho rằng chỉ có thượng đế là vĩnh viễn, là vẻ đẹp tối cao, vẻ đẹp tuyệt đối mà thôi. Thánh Tôma (1225-1274) nhận thức Cái đẹp là một đặc tính của hữu thể. Nền tảng của cái đẹp là chính Thiên Chúa, Hữu thể tự tại. Cái đẹp được nhìn trong tương quan với cái Thật và cái Tốt. Đẹp là sự rạng rỡ của cái Thật [4]. Hegel (1770-1831) quan niệm Cái Đẹp là một sự thể hiện đặc biệt của ý niệm tuyệt đối dưới hình thức cụ thể, cảm tính. Nhà văn nổi tiếng người Nga Fyodor Mikhailovich Dostoyevsky (1821-1881) đã nhận ra giá trị của Cái Đẹp: “Cái Đẹp cứu rỗi thế giới” (lời nhân vật Hoàng thân Myshkin trong tiểu thuyết Thằng Ngốc). Tsernysevski khẳng định dứt khóat: “Cái Đẹp là cuộc sống”.

Thực ra Cái Đẹp là một thực tại khách quan, nhưng nhận thức về Cái Đẹp thì luôn là cảm tính chủ quan. Vì thế, đứng trước một đối tượng thẩm mỹ, ta không thể tranh cãi. Mỗi người có cách cảm thụ Cái Đẹp rất riêng… Nói cách khác chỉ con người mới cảm nhận được Cái Đẹp của thực tại khách quan. Loài vật và sự vật, tự nó không nhận thức được Cái Đẹp. Trong cuộc sống, Cái Đẹp là một giá trị.

“Cái Đẹp” trong tư tưởng Mỹ học Kitô giáo được đặt trên nền tảng Kinh Thánh. Thực tại khách quan ấy là thiên nhiên, vạn vật, đời sống. Sáng Thế Ký thuật lại rằng, sau khi sáng tạo vũ tụ, muôn loài muôn vật và con người, “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! (Stk 1, 31). Như vậy Cái Đẹp bắt nguồn từ Đấng Sáng Tạo và mọi Hữu thể đều đẹp. Trung tâm của Cái Đẹp là con người, vì “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa” (Stk 1, 27). Chỉ khi con người phạm tội, sa ngã, nó mới trở nên xấu và nhận ra Cái Xấu (phạm trù đối lập với Cái Đẹp).

Con Thiên Chúa được sai xuống làm người để cứu rỗi Con người, để làm cho Con người trở nên “hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo” (Mt. 5, 48). Vì Vậy Đức Giêsu chính là “Cái Đep hoàn hảo”, hình ảnh của Thiên Chúa Cha. Điều này Kinh Thánh từ Cựu Ước đến Tân Ước đều miêu tả cụ thể. “Khi Chúa Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”(Mt 3,16-17). Đức Giêsu hiện ra là một Hữu thể đẹp hoàn hảo làm rạng rỡ vũ trụ, Cái Đẹp mang Thần khí của Thiên Chúa, Cái Đẹp trọn hảo như Ý Chúa Cha.

Một trình thuật khác về Đức Giêsu: “Hôm ấy, Đức Giê-su đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng… chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.”(Mt 17, 1-9). Chính Thiên Chúa Cha đã khẳng định Đức Giêsu là “Cái Đẹp trọn hảo” như ý Chúa Cha.

Tất nhiên Đức Giêsu không chỉ Đẹp qua cái nhìn thị giác như chúng ta đã thấy trong những trình thuật Kinh Thánh ở trên. Vẻ đẹp của Đức Giêsu còn thể hiện ở lòng yêu thương nhân hậu đối với mọi kiếp người, đặc biệt là vẻ đẹp hùng vĩ của Ơn Cứu độ khi Ngài bị treo lên. Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn. Và kìa, bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung đá vỡ. Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được chỗi dậy” (Mt. 27, 51-52). Và đây là vẻ đẹp đầy quyền năng của Đấng làm chủ vũ trụ, làm chủ tạo vật trong “ngày quang lâm”: “Vì, như chớp loé ra từ phương đông và chiếu sáng đến phương tây thế nào, thì cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy… “Ngay sau những ngày gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển. Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến. Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời kia.”(Mt 24 27-21).

Như vậy, Kinh Thánh đã trình bày Đức Giêsu là “Cái Đẹp trọn hảo” (trong tương quan Chân, Thiện, Mỹ), và tư tưởng Mỹ học Kitô giáo được soi chiếu từ chính từ chính Đức Kitô là hiện thân của vẻ đẹp. Những tư tưởng Mỹ học cho rằng Cái Đẹp là đời sống, Cái Đẹp cữu rỗi nhân loại, trung tâm của Cái Đẹp là con người…có những giới hạn nhất định so với trong tư tưởng Mỹ học Kitô giáo.

SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT KITÔ GIÁO

Có thể tóm lược tư tưởng Mỹ học Kitô giáo như thế này: Mọi tạo vật được Thiên Chúa tạo dựng đều tốt đẹp. Thiên Chúa là Cái Đẹp trung tâm, con người được dự phần vào Cái Đẹp trung tâm trong hiệp thông với Đức Kitô. Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Và Đức Giêsu, Con Thiên Chúa là “Cái Đẹp trọn hảo”.

Văn chương nghệ thuật Công giáo phải là sự khám phá những tư tưởng Mỹ học từ Kinh thánh, khám phá “Cái Đẹp” tỏa sáng trong mọi tạo vật, trong mọi phận người, mọi hoàn cảnh của cuộc sống, và trên hết phải là “Cái đẹp trọn hảo” của Đức Giêsu.

Tư tưởng Mỹ học (từ Kinh Thánh) kết hợp với tư tưởng Nhân văn Kitô giáo là cốt lõi làm nên mọi giá trị của văn học nghệ thuật Kitô giáo. Điều này có thể nhận trõ trong Âm nhạc, Kiến trúc, Hội họa… Châu Âu.

Để kết, tôi xin mượn những dòng tuyệt bút của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt nam) khi ông khám phá ra Cái Đẹp từ Thánh giá:

“…Hỡi Chúa Trời, con quỳ dưới chân Người, con gánh trên lưng con bóng tối khổng lồ. Đôi môi con run rẩy chạm vào những ngón chân Người giá lạnh nhưng những giọt máu chảy từ bàn tay bị đóng đinh của Người từng giọt, từng giọt rơi xuống ngực con rực sáng và nóng ấm vô tận

Cây thập giá nơi Người bị đóng đinh trong đêm sừng sững dựng lên cái Cây Ánh Sáng vĩ đại nhất trên thế gian này

Con đã sinh ra trên thế gian này con đã uống sữa thơm và mật ngọt của người
Tuổi thơ con đã từng được những thiên thần của Người dắt chạy trên cánh đồng lộng lẫy của thế gian

Con đã cười vang, tiếng cười trong như ban mai khi chơi trò đuổi bắt cùng những thiên thần của Người

Con đã từng nằm trong vòng tay ấm như hơi lửa để các thiên thần dắt con vào cơn mơ…” (Dưới cái cây ánh sáng– khúc thứ hai).

Tháng 7/2020

_________________ 

[1] Nguyễn Kiến Giang. http://phucdinhhong.wordpress.com/2010/01/18/v%e1%ba%a5n-d%e1%bb%81-con-ng%c6%b0%e1%bb%9di-va-ch%e1%bb%a7-nghia-nhan-van-m%e1%bb%9bi-pha%cc%80n-1/#more-96

[2] Tự điển Văn Học. tr291

[3] Dẫn theo Trần Thái Đỉnh: Triết học Hiện sinh. Công ty sách Thời Đại và Nxb Văn Học. 2015. Tr.308

[4] https://tsthdm.blogspot.com/2016/09/cai-ep-trong-lich-su-triet-hoc.html

THƠ LÊ ĐÌNH BẢNG-Quỳ Trước Đền Vàng

Những khuôn mặt thơ Công giáo đương đại

“QÙY TRƯỚC ĐỀN VÀNG”, THƠ CỦA “NGƯỜI ĐI NHẶT CHỮ” TÀI HOA.

(Đọc tập thơ Quỳ trước đền vàng của Lê Đình Bảng. Nxb Tôn Giáo 2010)

Bùi Công Thuấn

Nhà thơ Lê Đình Bảng

***

Nhà thơ Lê Đình Bảng tự nhận mình là “người đi nhặt chữ”:

Con chỉ là người đi nhặt chữ

Lang thang nơi phố chợ đông người

Để nghe mạch chảy, nghe trời đất

Ngàn vạn âm vang của cuộc đời…

                                          (Kinh khuya)

Những dòng thơ trên đủ giới thiệu cho bạn đọc một hồn thơ khoáng đạt, cao rộng. Hồn thơ ấy “nghe mạch chảy” của thời gian, “nghe trời đất” cất lời và, nghe ”ngàn vạn âm vang của cuộc đời”. Đó là một hồn thơ đã vượt ra khỏi giới hạn của không gian và thời gian để trái tim rung cảm dào dạt trước vẻ đẹp rất lạ lùng và kỳ diệu của cuộc đời này.

Lê Đình Bảng đã in các tập thơ: Bước chân giao chỉ (Sài gòn 1967), Hành hương (2006), Quỳ trước đền vàng (2010), Lời tự tình của bến trần gian (2012), Ơn đời một cõi mênh mang (2014), Kinh buồn (2014), và các tập thơ được phổ nhạc: Đội ơn lòng Chúa bao dung (2012), Lời khấn nhỏ chiều Chúa nhật (2012), Về cõi trời mênh mang (2012). Ngoài ra Lê Đình Bảng còn là nhà nghiên cứu lịch sử văn học Công giáo Việt Nam. Ông đã in “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường” (2010), và bộ sách  gồm 6 cuốn “Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam” (2009) do ông sưu tầm, nghiên cứu…

Quỳ trước đền vàng là tập thơ riêng về Đức Maria.

Tập thơ Quỳ trước đền vàng

KHÁP PHÁ MỚI MẺ VỀ HÌNH TƯỢNG ĐỨC MARIA

            Ở Việt Nam, việc sùng kính Đức Maria đã trở thành lòng đạo nhiệt thành của giáo dân. Trong một năm có đến 2 tháng hoa, tháng Năm và tháng Mười dành để giáo dân quây quần xung quanh Mẹ, đọc kinh Mân Côi, kiệu hoa, dâng hoa. Các tước hiệu dành cho Đức Maria cũng rất phong phú: Đức Mẹ Hằng cứu giúp, Đức Mẹ ban ơn lành, Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Maria Nữ vương hòa bình… Linh địa Công giáo cũng là linh địa của Đức Mẹ: Đức Mẹ La vang, Đức Mẹ Trà Kiệu, Đức Mẹ Măng Đen, Đức Mẹ Tàpao… Kinh nhạc để cầu nguyện cùng Đức Maria cũng rất phong phú và có nhiều bài tuyệt hay.

Vì thế, thật không dễ để có thể khám phá ra những điều mới mẻ về hình tượng Đức Maria. Trước đây, Hàn Mặc Tử đã viết bài Ave Maria tuyệt hay, bài thơ lại được Nhạc sư Hải Linh phổ nhạc, tạo nên một lâu đài nghệ thuật tráng lệ:

…Sáng nhiều quá cho thanh âm vời vợi
Thơm dường bao cho miệng lưỡi không khen
Hỡi Sứ Thần Thiên Chúa Ga-bri-en
Khi người xuống truyền tin cho Thánh Nữ
Người có nghe xôn xao muôn tinh tú
Người có nghe náo động cả muôn trời
Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời
Để ca tụng – bằng hương hoa sáng láng
Bằng tràng hạt, bằng Sao Mai chiếu rạng
Một đêm xuân rất đỗi anh linh…”

            Những câu thơ dát bằng châu ngọc ngôn ngữ ấy sẽ là đỉnh thi sơn mà những nhà thơ Công giáo đi sau khi viết về Đức Maria không dễ vượt qua. Lê Đình Bảng đã khắc họa được một hình tượng Đức Mẹ rất đẹp nhưng hoàn tòan khác với hình tượng Đức Maria của Hàn Mặc Tử.

 Nhà thơ Họ Hàn ca tụng Đức Mẹ “bằng hương hoa sáng láng/ Bằng tràng hạt, bằng Sao Mai chiếu rạng”, và đặt Đức Mẹ trên trời cao với chuyển động của vũ trụ: “xôn xao muôn tinh tú/ …náo động cả muôn trời”. Xung quanh Đức Mẹ “Sáng nhiều quá” “Thơm dường bao”.

Lê Đình Bảng đem Đức Mẹ về gần gũi với mình, gần gũi với đời sống khó nghèo gian nan. Đức Mẹ hòa trong khung cảnh thiên nhiên Việt Nam, cô đọng trong những tình tự dân tộc, và sâu lắng trong tâm thức về người mẹ Việt. Đặc biệt, Lê Đình Bảng dùng hình ảnh “Mẹ hóa đá” đã có trong văn hóa dân gian Việt để khẳng định lòng tin: Mẹ vững như núi đá chở che con Mẹ mấy trăm năm ở những linh địa. Nhờ thế, bạn đọc ngoài Công giáo có thể tiếp cận được thơ về Đức Mẹ một cách tự nhiên, như thơ về người mẹ trần gian của mình.

            Mẹ sống với đàn con những ngày nước trắng đồng không, những ngày mưa giông, bão lụt khắp cả Bắc, Trung, Nam:

Mẹ là giại nứa phên tre

Những khi nắng quái, bốn bề mưa giông

Lòng tin con, ngã ba sông

Trông ra nước trắng đồng không mấy bờ

                                     (Heo may lời con)

Mẹ với đời nghèo khó âm thầm nhẫn nhục.

Mẹ tít tắp đầu non

Hai trăm năm nhẫn nhục

…Đất vẫn nghèo sỏi đá

Vẫn lá rau, con cá

Con bốn mùa nắng nôi

Đêm đêm thắp sao trời

Mẹ, mưa nguồn tắm gội

Cây đời con tốt tươi”

            (Mẹ vẫn ở đầu non)

Một hình tượng giàu phẩm tính dân tộc:

Mẹ vẫn đứng cùng phong rêu quá khứ

Hai trăm năm, phơi rát mặt gió Lào

Cháy lòng con bao nỗi nhớ xôn xao

Mỗi khi đếm từng mùa thu đi, thay lá

               (Trường ca Mẹ La vang)

Một tứ thơ rất đẹp về cái nóng khắc nghiệt của gió Lào làm đá rịn mồ hôi.

Bỗng dưng con thấy bồi hồi

Sông khuya đá rịn mồ hôi gió Lào…

Mẹ là bến lặng bờ trong

Để con nương náu mà giong thuyền về

                   (Kinh nguyện La Vang)

Mẹ là Mẹ cả núi sông.

Dừng đây, đôi ngả đi, về

Chênh vênh đá dựng, tư bề núi non

Tít mù làng bản, sơn thôn

Rưng rưng khói biếc hoàng hôn nhớ nhà…

Mẹ sông, Mẹ núi, Mẹ ngàn

Mẹ ôm lấy cả vô vàn chúng sinh

                                           (Mẹ. Suối an bình)

Lê Đình Bảng gặp gỡ hồn thơ Hàn Mặc Tử, nhưng vẫn rất khác:

Vì đêm ấy mới là đêm trừ tịch

Xác-hồn-thiêng-vô-nhiễm trổ thành hoa

Giữa ba tòa sen ngát ánh dương pha

Giữa băng tuyết rỡ ràng ơn phước lạ

Hai nghìn năm, Mẹ sầu bi hóa đá

Lạnh vô cùng, tím ngắt những hoàng hôn…

                              (Cửa đẹp)

            Lê Đình Bảng khác Hàn Mặc Tử vì khắc tạc Đức Maria trên nền của hiện thực Việt Nam:

Sau cuộc chiến tưởng chừng không được gặp

Lúa ngô reo hay triệu triệu tấm lòng

Mấy đồng trong, nước trắng cũng về sông

Mẹ đứng đó, hai trăm năm, lệ đá”

            (La Vang. Tháng Tám mùa thu)

            Lê Đình Bảng tâm tình với Mẹ:

Con mải mê cuộc sống

Để bây giờ tay không

Vẫn lạc chợ, trôi sông

Vẫn cơm đường, cháo chợ

Mẹ thành non thành đá

Phong rêu với bụi bờ…

                        (Lên ngàn)

Và đây là lời nguyện cầu:

Lạy Mẹ Tà Pao giáng phúc, ban ơn

Xin mở rộng cửa thiêng đường, Mẹ nhé

Và thương lấy những đoạn trường, dâu bể

Để chúng con làm muối mặn cho đời

Thả lưới xa bờ, chỗ nước xa khơi

Bên phải mạn thuyền, cá tôm đầy chặt

            (Trường ca Mẹ Tà Pao)

            Lê Đình Bảng ít nói đến Mẹ trên trời. Đức Maria trong thơ Lê Đình Bảng cũng không đậm chất thần học trong Kinh thánh như Mẹ đồng công Cứu chuộc, Mẹ Thiên Chúa. Người Mẹ ấy cũng không phải là Mẹ của những ơn phép lạ mà người bình dân thường cầu xin (lâu lâu lại có tin đồn Đức Mẹ hiện ra chỗ này, chỗ kia). Đức Maria của Lê Đình Bảng gần gũi thân thương lắm, và rất Việt Nam.

            Tôi rất thích tứ thơ này về Đức Mẹ, vì Mẹ cùng “nắng nôi dãi dầu”, cùng ”áo rách thương nhau” với con dân Việt.

Đội ơn Đức Mẹ Môi Khôi

Cho con yêu cả nắng nôi dãi dầu

Cũng đành áo rách thương nhau

Cái duyên cam quít vừa sâu vừa đằm

                                           (Con về thăm xứ bưởi)

            Và đây là hình ảnh người mẹ trần gian đã nuôi nấng nhà thơ niềm tin yêu cậy trông với Đức Mẹ trên trời. Hình ảnh người mẹ này thật mới lạ trong thi ca Việt đương đại.

Mẹ ngồi trước hiên, tay lần tràng hạt

Đếm cả đời người được mấy mùa vui…

Nhà ta đó, tiếng súng xa đồn bót

Đêm đêm về, nghe thầm thĩ cầu kinh…

Mẹ cong lưỡi chữ R phát Riệm

Mỗi lần dạy con dâng hạt, dâng hoa

Lần chuỗi Mân Côi kính nhớ Đức Bà

Mấy chục năm qua con vẫn nhớ lời mẹ

                      (Tháng Giêng, Về Phát Diệm)

Của cải mẹ cha cho có vậy

Để dành khi con lớn, con khôn

Những câu kinh sách, phiên chầu, lễ

Đã thấm vào da thịt, máu, xương

Đã nên nhân đức, nên lòng đạo

Nuôi sống cả đời con, xác, hồn…

                  (Chuyện những mùa hoa)

NHỮNG BÀI THƠ TÌNH CÔNG GIÁO

            Hình như sau bài thơ tình Tha La xóm đạo củaVũ Anh Khanh (1950), tôi chưa được gặp bài thơ tình Công giáo nào (?). Vì thế khi được đọc Quỳ trước đền vàng, tôi thật ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thơ tình Công giáo của Lê Đình Bảng:

            QUÊ NHÀ

Tháng Năm rồi tới tháng Mười

Làm sao quên được một thời ấu thơ

Cùng em đi lễ nhà thờ

Hoa bằng lăng nở tím bờ ao sen

Em quỳ, tôi cũng quỳ bên

Hương trầm lên, khói trầm lên trước tòa

Mẹ là vườn ngát hương hoa

Chúng con, giọt nước mưa sa ngoài đồng

            Bạn đọc ngoài Công giáo không hiểu tại sao nhà thơ lại nói đến tháng Năm và tháng Mười trong kỷ niệm tình yêu. Đó là hai tháng “nhà đạo” dành tôn kính Đức Mẹ. Trong hai tháng này, nhà thờ Công giáo có nghi thức dâng hoa, rước kiệu Đức Mẹ, không khí vui như ngày lễ hội.

Tình yêu trong bài thơ chỉ là kỷ niệm đơn sơ nhưng thánh thiện, tinh khiết: kỷ niệm nhà thơ cùng em đi lễ nhà thờ, con đường có hoa bằng lăng tím và có cả ao sen. Em quỳ, tôi cũng quỳ bên/ Hương trầm lên, khói trầm lên trước tòa.

Kỷ niệm chỉ có vậy nhưng bài thơ tình có sức ám ảnh về những điều mới lạ. Đó là tứ thơ “Cùng em đi lễ nhà thờ/ Hoa bằng lăng nở tím bờ ao sen”. Cái mới lạ của tứ thơ là sự kết hợp màu tím bằng lăng lãng mạn với hoa sen hồng thuần khiết. Nhưng mà, ao sen gần nhà chùa hơn “nhà đạo”, và hương trầm, khói trầm bay lên nghi ngút cũng là không gian Thiền. Cả hai chất liệu tưởng như xa lạ và trái ngược với cái đẹp Công giáo lại được miêu tả hết sức tự nhiên. Một điều lạ nữa là nhà thờ thường đông người nhất là trong tháng hoa. Ở thôn quê ngày xưa, trong nhà thờ nam nữ không được ngồi bên nhau như Tây. Trong bài thơ này, nhà thơ và em lại rất riêng tư. Cùng quỳ bên nhau, cùng hướng lên Đức Mẹ, tâm hồn họ bay lên cùng với hương trầmkhói trầm ngào ngạt.

Lê Đình Bảng đem vào thơ tình Công giáo chất liệu làng quê thấm đẫm tình tự dân tộc kết hợp với vẻ đẹp của cái riêng tư phương Tây tạo nên một bài thơ tình rất đẹp. Đó là cái đẹp của một tình yêu đơn sơ, thánh thiện, sự tinh khiết, gắn bó với làng quê, tình quê. Tình yêu này rất khác với tình yêu đậm chất nhục thể trong thơ tình Xuân Diệu.

Thơ tình Lê Đình Bảng neo được trong lòng người đọc nhiều cảm xúc là nhờ cái tình tự làng quê rất đậm ở những tứ thơ thật tài hoa:

            MÙA TRĂNG VU LAN NHỚ MẸ

Năm ấy em lên mười mấy tuổi

Tôi từ phố huyện về thăm quê

Trời mưa, mưa mấy ngày không ngớt

Con nước lên sấp sấp bậc hè

Nghe thoáng, ở bên bờ giếng, đợi

Đầu vườn cây khế mới ra hoa

Hình như cơn gió nồm nam gọi

Đôi sáo nâu về đậu trước nhà

Chúng cũng như mình thôi, vất vả

Nhịn ăn, đâu nhịn được tình yêu

Trời ơi, cái tháng ba năm đói

Mong bếp nhà ai lên khói chiều

Có phải vì em mau nước mắt

Khi không, ra đứng ngóng đầu thôn

Em buồn, tôi cũng buồn lây, nhỉ

Nom cứ như hai đứa mất hồn

Em biết tôi mồ côi bố mẹ

Những thèm yêu, thèm nhớ người dưng

Giờ, em ở phía nơi chân sóng

Tôi, đóm sao khuya lạc cuối rừng

Chả biết đến khi nào gặp lại

Mà thời gian đằng đẵng vô chừng…

Cứ mỗi mùa Vu Lan cúng quả

Nghe chùa bên mở huệ, tuần chay

Dọc đường ra nghĩa trang em bảo

“Mẹ ngủ trong gò đất cỏ may

Thành bụi, thành tro than lãng đãng

Vầng trăng tơ mọc giữa ban ngày”

            Hiện thực sống đạo ở làng quê làm phong phú thêm không gian nghệ thuật của thơ ca Việt Nam.

Tôi từ phố Hiến xa xôi

Cây rau, ngọn cỏ, suốt đời long đong

Hôm vô tới xứ Đàng Trong

Chờ em ở mãi Ba Giồng mới lên

Đò theo sông Hậu, sông Tiền

Những mông mênh nước, những mênh mang trời

Nửa khuya, cập bến Chùa Dơi

Thoảng nghe kinh kệ, nhịp vơi, nhịp đầy

Hạt mừng em giấu trong tay

Hạt thương, tôi dỗ dành cây hoa hường

Đường nào xuôi ngả Thơm Rơm

Qua Hàm Luông, ghé Cái Mơn mấy hồi

Đền vàng, quỳ trước song đôi

Khấn dâng, một mảnh gương soi trước tòa

Đây là Phép Ngắm Rosa

Và đây tràng chuỗi Đức Bà Môi Khôi

Bao giờ cho đến tháng Mười

Chim quyên xuống đất thuyền tôi lên bờ

Nắng vàng ngoài dậu ô rô

Hôm nay lễ trọng, nhà thờ đông ken

Dập dìu trai gái đua chen

Cho tôi theo kiệu về bên xứ nhà

Lạy trời, đừng nổi phong ba

Để tôi neo một bến phà-quê em…

            Bài thơ hay ở chất giọng ca dao, ở sự tài hoa của nhà thơ trong nghệ thuật kể chuyện, ở cái tình tự quê hương rất sâu trong những tứ thơ đột ngột mới lạ và ở nét đẹp lễ hội Công giáo làm mới hẳn không gian thơ (so với không gian nhà chùa trong thi ca dân tộc).

Tôi trích hơi dài và không bình gì thêm, vì cái hay của thơ Lê Đình Bảng như hương hoa thấm vào rất sâu ở mọi giác quan của người đọc, tạo nên cái âm vang nghệ thuật trong tâm hồn, đó là một thứ hạnh phúc rất lạ chỉ có nghệ thuật mới có thể đem đến. 

NHÀ THƠ, NGƯỜI NHẶT CHỮ  TÀI HOA

            Thơ Lê Đình Bảng hiện lên hình ảnh “người nhặt chữ” tài hoa. Đó là một thi nhân lãng tử, một gã thương hồ. Nhà thơ tự hỏi:

Hoa quỳ năm ngoái, năm xưa

Có còn yêu gã thương hồ hay không.

                  (Mẹ như trăng ở đầu nguồn)

Người thơ hòa trong dòng người hành hương đi mọi miền đất nước: Đỉnh Mẫu sơn (Lên đình Mẫu Sơn), đền thánh Đức Mẹ La Vang (Trường ca Mẹ La Vang),vào namviếng Đức Mẹ Bãi Dâu (Nguyện cầu Mẹ Bãi Dâu), về thăm Đức Mẹ ở Xứ Bưởi Năm Roi (Con về thăm xứ Bưởi), Về thăm Mẹ Hòn Chông, Tháng 5 về quê Mẹ Trà Kiệu, Về thăm Mẹ Trà Kiệu-Bến Tre. Nhà thơ”lên núi chay tịnh bốn mươi ngày” (Lên ngàn), lên Tây Nguyên viếng Đức Mẹ Măng Đen (Kinh cầu Mẹ Măng Đen), về Phan Thiết viếng Mẹ Tà Pao (Trường ca Mẹ Tà Pao)…

Trăm năm trước những ai về Dinh Cát

Về Cổ Vưu, Cây Da, ghé Hội Yên

Những nhà thờ – họ đạo, xóm làng bên

Cờ xí rợp mấy vùng quê lương, giáo

Người ở Kinh ra, cân đai, áo mão

Kẻ Đàng Ngoài vô, thanh lịch, đài trang

Qua Truông nhà Hồ, vượt phá Tam Giang

Chốn heo hút bỗng dập dìu phường phố

Đợi con nước, tuần trăng, xem quỳnh nở

Tháng Tám mùa thu, đến hẹn lại lên

Trăm nẻo về, cùng một bến đông ken

Muôn ngã rẽ chảy đầy nguồn sông Mẹ

                                   (Trường ca Mẹ La Vang)

Lòng thành chẳng dám đơn sai

Chúng con Kinh Bắc, dặm dài đường xa

Những là mớ bảy mớ ba

Chân son phách nhịp, miệng hoa hát tình…

…Đương mùa vải chín trên cây

Thảo thơm dâng Mẹ những ngày hành hương

                        (Nỗi niềm Kinh Bắc)

Trong dòng người đông ken ấy, “gã thương hồ” đầy ắp tâm sự. Đó là nỗi niềm

 của “kẻ đã treo gươm rửa kiếm”, đời”Như một ngọn nhang tàn thắp khuya”, nhưng còn lắm gian nan.

“Xót kẻ đã treo gươm rửa kiếm

Thân ngựa già thoắt biến màu sương

Mơ phai tàn cuộc đoạn trường

Nước trôi sông vắng con đường tịch liêu”

                            (Khóc mẹ)

Như một ngọn nhang tàn thắp khuya

Heo may khẽ động đã tan lìa

Đời con những nắng trưa, mưa sớm

Đắm đắm trông lên một nẻo về

                             (Mẹ hằng xuân)

Đời con, thuyền ván ra khơi mãi

Giông gió tư bề, giông gió thôi…

Những lúc chênh chao mùa đổi gió

Mẹ ơi con mệt đứt hơi rồi

Chèo buông, không lái, trôi đầu sóng

Mẹ dẫn đưa con về đến nơi

                        (Đầu sóng xa khơi)

Biết vậy nhưng không thể khác được, vì đã trót tài hoa. Nhà thơ tâm sự với Mẹ:

Mẹ biết, lòng con như chỉ rối.

Sợi thưa mau, ngang dọc bời bời

Chả là, con trót đa mang quá

Gieo gió, đành cam gặt bão thôi

Đã mấy lần ăn năn sám hối

Ngựa quen đường cũ đã lâu rồi

Làm sao rửa sạch bao lầm lỗi

Chẳng lẽ làm hư phí của giời

                             (Phù dung)

            Dù trăn trở cuộc sống “nắng mưa” nhưng người thơ gần gũi và tin yêu Mẹ, có khi đùa vui bên Mẹ.

Mẹ ơi khi Mẹ lên trời

(Cho con cưỡi ngựa đi mời quan viên)

Đêm nay chờ nụ trăng lên

Thuyền ơi, đừng dạt về bên kia bờ

                  (Mẹ như trăng ở đầu nguồn )

            Bạn đọc những câu thơ đầy ắp tâm sự của Lê Đỉnh Bảng, và nhiều khi kinh ngạc về sự tài hoa của thi nhân. Tài hoa ấy thể hiện ở sự phát hiện “Cái đẹp” của đời sống Công giáo, cái đẹp của tình yêu lứa đôi thánh thiện tinh khiết, cái đẹp của những tứ thơ bất ngờ, cái đẹp của thơ ca cổ điển, cái đẹp ở vốn từ giàu có trong sự giao thoa giữa ngôn ngữ bình dân với ngôn ngữ bác học. Còn có Cái đẹp của sự kết tinh thơ cổ điển, thơ lãng mạn với ca dao và cái đẹp của một “hồn thơ đạo” cao rộng phóng khoáng, sánh ngang với hồn thơ Đường và cốt cách thơ Thiền.

            Đây là những câu thơ thấp thoáng Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du:

Xót người vò võ trông mong

Chân mây, đầu núi, quãng đồng, dặm xa…

Xót người dầu dãi trên non

Hơi sương, khói núi, hoàng hôn, nguyệt tà

                     (Nguyện cầu Mẹ Bãi Dâu)

Âm hưởng những câu Kiều vừa sang trọng vừa day dứt:

Cũng đành gửi lại mai sau

Phất phơ ngoài nội bông lau cuối mùa

Lấy gì đền đáp thân thưa

Mẹ ơi, bong bóng chiều mưa tội tình?

Hạt buồn vào cõi ba sinh

Hạt hư vô của phận mình long đong

Kể từ con biết trông mong

Trái tim như cứ bồng bềnh, ủ ê.

Từ hôm nguồn bỏ sông về

Xa nhau, bỗng nhớ non khuya bóng chày

Bãi bờ nghìn dặm quanh đây

Bên kia lũy khuất, bên này rào ngăn

(Cho mai sau đời con )

Phảng phất khí vị Thiền, và âm vang thơ cổ điển:

Mai sớm đầu sương phơi sắc thắm

Đã chiều phai nhạt mấy tràng giang

Xin làm hạt bụi rơi vương vãi

Mỗi bước chân qua chẳng ngó ngàng

                                    (Phù dung)

            Hạt sương đầu ngọn cỏ sớm mai phơi sắc là hạt sương của Vạn Hạnh Thiền sư (“Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”– Thị đệ tử). Tứ thơ “Đã chiều phai nhạt mấy tràng giang” gợi ra hình ảnh nỗi buồn cổ điển của Huy Cận trong bài Tràng giang. Nhưng Lê Đình Bảng kết hợp hòa điệu tư tưởng Thiền, màu sắc cổ điển với tư tưởng con người chỉ là tro bụi của Thiên Chúa giáo tạo nên một tứ thơ mới lạ.

            Cái tình tứ tài hoa này thật thú vị:

Nghĩ mình, một chút mưa sương

Giọt vui chưa cạn, giọt thương đã nhòa

Những ngày chơm chớm hương hoa

Thoáng qua, chỉ một thoáng qua, phai tàn

Chiều chiều mây trắng bay ngang

Ấy ai, đò dọc, đò ngang xa vời

Bây giờ sông rẽ ngăn đôi

Nhớ nhung là của hai người nhớ nhung

                     (Nhớ nhung)

            Và sự tinh tế đến kinh ngạc:

Ở đây, cồn bãi lưa thưa

Thoảng nghe chuông lễ nhà thờ hôm mai

Ở đây, trứng cá, bông xoài

Một cơn gió thoảng rụng ngoài hiên mưa

              (Về thăm Mẹ Hòn Chông)

XIN ĐƯỢC CHIA SẺ VỚI NHÀ THƠ

            63 bài thơ trong Quỳ trước đền vàng đều là những bài thơ hay, có nhiều bài cái hay níu lấy người đọc không dứt ra được (Trường ca Mẹ La Vang, Kinh nguyện La Vang, La Vang. Tháng Tám mùa thu, Về La Vang. Nhà Mẹ trăm gian, Bao giờ cho đến tháng Mười, Đồng dao, Quê nhà, Mùa trăng Vu lan nhớ mẹ, Tiệc cưới Cana, Về thăm Mẹ Hòn Chông, Mẫu đơn nở cạnh nhà thờ…).

Rất vui và rất quý vì sau Hàn Mặc Tử, thơ ca Công giáo lại có được một ngòi bút tài hoa như nhà thơ Lê Đình Bảng. Quỳ trước đền vàng đặc sắc ở những hình ảnh rất đẹp của đời sống Công giáo. Tình yêu Công giáo rất tinh khôi. Tiếng thơ là tiếng tâm tình chân thực. Và hơn tất cả, Quỳ trước đền vàng khám phá, sáng tạo nhiều tứ thơ mới lạ so với thơ ca đương đại; khám phá hình tượng Đức Mẹ hòa trong thiên nhiên, cuộc sống và tâm thức Việt. Cái Tôi “nhà đạo” của thi nhân đã vượt qua Cái tôi cô đơn bế tắc của Thơ Mới. Lê Đình Bảng vẫn làm thơ truyền thống, nhưng đã nâng phẩm chất nghệ thuật của thơ truyền thống Việt lên một bước mới, đó là sự kết hợp mỹ học truyền thống với mỹ học Thiên Chúa giáo đậm chất Việt.

            Nhà thơ vẫn chưa ngừng bay lên:

Xin mở rộng cửa thiên đường Mẹ nhé

Con bay lên theo cánh gió của trời

Mẹ là biển, là sao mai chiếu rạng

Thuyền con neo, chờ bến lặng, ra khơi

                         (Thuyền đời)

Tháng  6/ 2020

____________________________________

THƠ XUÂN LY BĂNG

Những khuôn mặt thơ ca Công giáo đương đại

NHÀ THƠ XUÂN LY BĂNG

Bùi Công Thuấn

Nhà thơ Đức Ông Xuân Ly Băng

            Xuân Ly Băng là bút danh của Đức Ông G.B Lê Xuân Hoa (1926-2017). Ngài thụ phong linh mục năm 1959 tại Gia Định. Ngài từng là Giáo sư Tiểu Chủng viện Chân Phước Tự, Thủ Đức-Gia Định, Tiểu Chủng viện Sao Biển, Nha Trang. Ngày 25-1-1998, ngài được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong tặng Giám Chức Danh Dự (Đức Ông). Từ 2006 ngài là Tổng Đại diện giáo phận Phan Thiết. Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa, Giám mục Nha Trang trong thánh lễ mừng Kim Khánh Linh mục của  Đức ông đã nhận xét: Ngài “Dùng thi phú để hát ca tán tụng Thiên Chúa. Ngài nhìn thấy Thiên Chúa trong mọi sự và tâm hồn thi sĩ đã tác tạo nên những vần thơ ngợi khen cảm tạ…Ngài ca tụng Thiên Chúa với cả hồn thơ trữ tình dạt dào lòng yêu mến Chúa.”[1]

Đức Ông Xuân Ly Băng đã viết trên 1000 bài thơ và đã xuất bản các tập thơ [2]: Thơ kinh, Hương kinh, Trầm tư, Nỗi niềm, Bài ca thương khó, Dụ ngôn Phúc âm, Như trầm hương, Kinh trong thời gian, Khúc hát ân tình, Một vùng châu lệ, Kinh sầu trên quê hương…

Để hiểu Xuân Ly Băng về quan niệm sáng tác, hành trình nghệ thuật, và những nguồn cội thơ của ngài, xin đọc “Nhà thơ Xuân Ly Băng-Cuộc đời và tác phẩm”(Nxb Phương Đông 2011) và bài phỏng vấn của nhà thơ-Linh mục Trăng Thập Tự với Xuân Ly Băng ngày 25.8.1988.[3] Tôi xin không nhắc lại trong bài viết này.

NHÀ THƠ CÔNG GIÁO CÓ NHIỀU THƠ PHỔ NHẠC

Nhà thơ-Đức Ông Xuân Ly Băng

Theo nhà thơ An Thiên Minh [2 đd], Xuân Ly Băng có 120 bài thơ được các nhạc sĩ Công giáo phổ nhạc.

Đơn cử bài thơ Say Noel:

Đêm nay Noel về
Hồn hỡi lắng tai nghe
Đàn muôn cung réo rắt
Dồn dập khắp sơn khê
Đêm nay Hài Đồng đến
Đem hoan lạc trời cao
Đêm nay thơ kính mến
Sẽ say ngã lao đao
Ôi Noel đêm trời nhiệm mầu
Rượu nồng ta không nếm
Sao lòng trí ngất ngư?
Ta say muôn ánh nến
Ngời rạng vạn hào quang

Ta say tiếng chuông vàng
Trong gió trời hổn hển
Từng trận đổ vang vang…
Ta say muôn lời kinh
Thơm như hoa thiên đình
Êm như dòng suối nhạc
Đẹp như lệ đồng trinh
Ôi Noel! Đêm trời nhiệm mầu
Nhạc an hòa, thơ kính mến
Hương phượng thờ đang ngào ngạt dâng lên
Ban cho lòng người đau khổ trần gian
Hiểu ý nghĩa Noel miền cao cả.

Nhạc sư Kim Long phổ bài thơ này thành một bài hợp xướng hoành tráng. Trong đêm Noel, tiếng hát ca đoàn vang lên như tiếng của hàng vạn thiên thần hân hoan. Cái thần của bài hợp xướng này là thanh âm diễn tả được trạng thái “say Noel” của mọi tâm hồn trong đêm thánh.  Câu thơ “Đêm nay sẽ say ngã lao đao” rất khó phổ nhạc, nhưng nhạc sư Kim Long đã phổ rất tuyệt câu này. Hầu như các ca đoàn Công giáo đều đã có lần hợp giọng trong bản hợp xướng này. Xin nghe (theo link) ca đòan Hương Kinh  hợp xướng:

https://nghenhacthanhca.com/music/listenone/4272/Say-Noel/

                                          (Say Noel-Đọan mở đầu)

Nhạc sĩ-Lm Xuân Thảo phổ nhạc bài Say Noel thành bài Đêm Noel giai điệu Slowrock ngọt ngào, đằm thắm, lắng rất sâu trong mọi tâm hồn giáo dân giờ phút Con Chúa nhập thể làm người. Bài này không chỉ được các ca sĩ Công giáo trình bày mà còn thịnh hành trong các CD nhạc phổ thông mùa Noel. Xin nghe ca sĩ Thu Phương hát ca khúc này (theo link):

https://thanhcavietnam.net/ThanhCaVN/#Play,5472

                                                                          (Trích đoạn đầu)

Cả hai khuôn mặt lớn của nhạc sĩ Công giáo Việt Nam cùng phổ một bài thơ và tạo nên hai tác phẩm âm nhạc rất hay, và rất khác nhau về màu sắc thẩm mỹ. Điều này là biểu hiện của một nền nghệ thuật Công giáo có tầm vóc riêng, có bản sắc riêng, giàu có sự sáng tạo trong lòng nghệ thuật dân tộc.

Tôi ghi nhận được (không đầy đủ) trên mạng xã hội một số bài thơ sau đây của Xuân Ly Băng đã được phổ nhạc và được vang lên trong nhiều nhà thờ Công giáo:

Nhạc sư-Lm Kim Long phổ nhạc 31 bài:

  1. Cho hồn con hát -2. Chúng tôi có Ngài -3. Đêm về con yêu Ngài – 4. Hát bài tân ca

 5. Khi nào Ngài đến- 6. Nếu hôm nay –7. Ngài là tất cả -8. Người thợ vô danh –9. Vì Lời Ngài -10. Xin Ngài là ánh sáng -11. Giao duyên –12. Noel không có Chúa –13. Ngài đi vào lịch sử –14. Say Noel – 15. Theo vì sao cứu thế – 16. Hỡi người bộ hành – 17.Trong máu giao hòa – 18. Bên tòa Mẹ – 19. Đoàn người diễm lệ – 20. Con sợ gì – 21.Hương xuân/1- 22. Xuân chầu Mẹ – 23. Xuân sang – 24. Khi nào Ngài đến – 25. Cho hồn con hát- 26. Bên hang đá (hợp xướng) -27. Ngày về – 28. Nhạc hòa bình  (hợp xướng)29. Khúc hát mùa xuân (hợp xướng)30. Mầu nhiệm Tình thương (hợp xướng)  –31. Bài ca máu đỏ (hợp xướng)

            Nhạc sĩ Tuấn Kim phổ nhạc các bàiLời trên Thập giá, Phút linh thiêng, Đến lượt con, Hết nghe chuông Noel, Dứt lời cầu nguyện, Tán tụng Mẹ, Kính mừng Maria 2, Thuyền bơi sông Mẹ, Đức Mẹ TàPao 1. Bóng hồng trong sương – Hỡi người bộ hành –  Nếu con nhớ –  Thơ mừng Xuân –  Trên sông Babilon…

            Đức cố Giám mục Vũ Duy Thống phổ nhạc bài Sao không (Sao em không lần chuỗi). Ns Phạm Trung phổ bài Linh mục một huyền nhiệm, NS Linh Huyền Dung phổ bài Mẹ TàPao…(Xin lỗi các nhạc sĩ đã phổ nhạc thơ Xuân Ly Băng mà tôi không nêu ở đây).

            Nhớ lại trước đây (1958) Nhạc sư Hải Linh phổ thành hợp xướng bài thơ Đà Lạt trăng mờ của Hàn Mặc Tử và từ bài thơ Ave Maria của Hàn Mặc Tử viết thành Trường ca Ave Maria. Cả thơ và nhạc đều đạt đến đỉnh cao nghệ thuật, đưa người nghe vào thế giới huyền diệu, cao rộng của âm thanh, ánh sáng và sự thánh thiện. Say Noel của Kim Long và Xuân Thảo cũng đem người nghe vào thế giới của tâm linh cao rộng đẹp đẽ như vậy.

            Hiện tượng thơ Xuân Ly Băng được phổ nhạc nhiều có ý nghĩa gì?

            Các ca khúc Công giáo đều dùng trong phụng vụ, hát lên để ca tụng và cảm tạ Thiên Chúa. Điều ấy có nghĩa, thơ Xuân Ly Băng đậm tính chất cầu nguyện, là tiếng nói của tâm hồn giáo dân vươn lên tới Thiên Chúa. Ca khúc hát trong thánh đường còn là ca khúc dành cho cộng đoàn. Vì thế thơ Xuân Ly Băng được phổ nhạc là thơ hướng về công chúng. Lời thơ gần gũi, dễ hiểu.

            Các nhạc sĩ tìm đến thơ để phổ nhạc còn có một nhu cầu khác. Lời kinh đọc, Kinh thánh, bài giảng lễ hầu như đã trở thành ngôn ngữ đời thường. Một đời sống đạo mấy chục năm nghe giảng Kinh thánh, đọc kinh cầu nguyện thì những lời kinh đạo ấy đã thành ngôn ngữ đời thường. Viết được giai điệu mới đã khó, viết được lời mới còn khó hơn. Người nghệ sĩ sáng tác làm thế nào để tìm được ý tứ mới, ngôn ngữ mới, cách diễn đạt mới? Vì thế nhiều người tìm đến thơ. Thơ Xuân Ly Băng đáp ứng yêu cầu này. Say Noel có cái mới ấy.

Ta say muôn lời kinh
Thơm như hoa thiên đình
Êm như dòng suối nhạc
Đẹp như lệ đồng trinh
Ôi Noel! Đêm trời nhiệm mầu
Nhạc an hòa, thơ kính mến

                         (Say Noel)

ĐỐI THOẠI VỚI CÁI TÔI CỦA “THƠ MỚI”

Nhà thơ-Đức ông Xuân Ly Băng

Tôi hát tôi ca

Và tôi ngân nga

Tôi buông ra muôn cung huyền diệu…

Cần chi ai hiều

Thế giới hồn tôi

(Thanh sắc)

            Những dòng thơ ấy của Xuân Ly Băng có dáng dấp khẩu khí của Xuân Diệu nhưng lại rất khác Xuân Diệu. Trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn, Xuân Diệu viết:

Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất.
Không có chi bè bạn nối cùng ta…

…Ta bỏ đời mà đời cũng bỏ ta
Giữa vắng ngắt, giữa lạnh lùng thê tuyệt!

                  (Hy Mã Lạp Sơn)

Xuân Ly Băng có một mảng thơ viết theo thi pháp của “Thơ Mới” (1930-1945). Nhà thơ cũng khai thác thi tứ Thơ Mới, nhập thân vào “Cái Tôi” của nhà thơ tiểu tư sản, nói tiếng nói của họ trước thực tại, rồi từ đó thoát hẳn ra bên ngoài để đối thoại, cảm thông. Bạn đọc phổ thông thường được đọc những đánh giá rằng thơ Lãng Mạn trước 1945 là thơ của Cái Tôi cô đơn, buồn, bế tắc.

Xuân Diệu: “Tôi là con nai bị chiều đánh lưới/ Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối” (Khi chiều giăng lưới). Huy Cận: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” (Tràng giang). Chế Lan Viên: “Với tôi, tất cả như vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!”(Xuân)…

Hoài Thanh nhận định: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy cận. Cả trời thực, trời mộng vẫn neo neo theo hồn ta.

Xin đọc Xuân Ly Băng:

CHUÔNG CHIỀU

Chiều tàn trên bến cô liêu
Đò ngang thưa chuyến, quán chiều vắng tanh
Gió đưa hiu hắt trên cành
Đồng không sương bủa buồn tanh chim về
Hồn chiều lên ý não nề
Buồn ơi! xa vắng đê mê là buồn
Bỗng nghe một tiếng chuông buông
Xa xôi tự tháp thánh đường nào đây!
Vang lên cao vút tầng mây
Rồi ngân nhè nhẹ như ngây ngất lòng

Tiếng êm nhạc gió rừng thông
Ru như tiếng trúc dịu trong chiều vàng
Rồi tan trong gió mênh mang
Những âm thanh đã nhịp nhàng trong tôi
Bắc cầu nối ý xa khơi
Hồn tôi với lại nước trời xa xăm

Huy Cận viết Sông dài trời rộng bến cô liêu…/ Mênh mông không một chuyến đò ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mật” (Tràng giang). Xuân Ly Băng dùng lại tứ thơ này: “Chiều tàn trên bến cô liêu/ Đò ngang thưa chuyến, quán chiều vắng tanh;

Thế Lữ viết: “Tiếng đưa hiu hắt bên lòng, Buồn ơi! Xa vắng, mênh mông là buồn”(Tiếng sáo Thiên Thai). Xuân Ly Băng nhắc lại tứ thơ này: “Hồn chiều lên ý não nề/ Buồn ơi! xa vắng đê mê là buồn”.

Rõ ràng Xuân Ly Băng nhắc lại các tứ thơ của “thơ mới” là để gợi ra không gian nghệ thuật và không gian tư tưởng của Huy Cận, Thế Lữ (cũng là của thơ Lãng Mạn). Xuân ly Băng nhập thân vào nhà thơ tiểu tư sản để hiểu và cảm thông với họ rồi dùng tiếng chuông thánh đường dẫn đến không gian tư tưởng mới, đầy màu sắc, âm thanh trong sáng, cao rộng hơn. Không gian ấy hướng lên trên. Cái Tôi không còn buồn cô đơn bế tắc mà tràn ngập niềm vui của sự kết nối với “nước trời” (một nội dung quan trọng của Kinh Thánh).

“Bỗng nghe một tiếng chuông buông
Xa xôi tự tháp thánh đường nào đây!…

…Bắc cầu nối ý xa khơi
Hồn tôi với lại nước trời xa xăm”

Bài thơ Củi mục, cũng đối thoại với triết lý vô thường, hư vô trong thơ Lãng mạn.

Huy Cận từng viết, đời người như một cành củi khô trôi dạt không viết về đâu giữa giòng đời trăm ngả: “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả/ Củi một cành khô lạc mấy dòng” (Tràng Giang). Xuân Ly Băng suy tư từ một cành củi mục:

Khi vớt lên một cành củi mục
Và bắt về chiếc lá vàng trôi
Ta sẽ nghe tiếng hồn ai thổn thức
Lệ trào tuôn than khóc ngậm ngùi

Đó là quy luật của vô thường

Nhưng than ôi gió thời gian quét sạch
Hồn thảo thu man mác bóng tà dương
Khiến bao nhiêu cành vàng cùng lá ngọc
Dạt về đâu trên mặt đất vô thường

Và đây là tâm trạng nhà thơ Lãng mạn:

Và người nghệ sĩ những chiều hôm
Ngắm bóng non xa bỗng thấy buồn
Trời không mưa gió không tiễn biệt
Mà thấy trong lòng giọt lệ tuôn

Xuân Ly Băng chia sẻ với nhà thơ Lãng mạn và gieo một niềm tin yêu:

Thôi đừng khóc nữa lá cành ôi
Có khóc đời cũng thế mà thôi
Vì trong thời gian có vĩnh cửu
Trong ly rượu nồng có mùi ngải cứu
Vị đắng đót sẽ còn lại muôn năm
Là lộc trời để nhắc nhở xa xăm.

Trong đối thoại, Xuân Ly Băng tuyệt nhiên không nói gì đến Tôn giáo mà nhà thơ đối thoại bằng tư tưởng với tư tưởng, đem cái “vĩnh cửu”, “cái muôn năm” để hóa giải cái “vô thường”, những cái bị “thời gian quét sạch”. Đó là thái độ trân trọng và cảm thông chia sẻ, và là nghệ thuật. Dùng thi pháp thơ Lãng Mạn để nói chuyện nghệ thuật với nhà thơ lãng Mạn.

Điều đặc sắc là Xuân Ly Băng làm mới thơ Lãng mạn bằng cách đem tư tưởng mới, ý tứ mới thay cho nỗi buồn sự bế tắc hư vô chủ nghĩa trong thơ lãng mạn.

Do đâu Xuân Ly Băng có cuộc đối thoại này với thơ Lãng mạn ? Nhà thơ cho biết: “Khi còn nhỏ, học theo chương trình Pháp, nhờ học văn chương Pháp, tôi biết và chịu ảnh hưởng của Paul Verlaine, Alfred de Vigny, Alfred de Musset, đặc biệt là Lamartine. Nguồn ảnh hưởng thứ hai là Thơ Mới Việt Nam: Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu, Huy Cận, Thanh Tịnh, nhất là Hàn Mạc Tử.”[3 đd]

Lưu ý rằng sau, thơ Lãng Mạn (1930-1945), thi ca Việt Nam có nhiều nỗ lực cách tân. Xu hướng Hiện thực xã hội chủ nghĩa trở về với công chúng. Nhóm sáng tạo ở Sài Gòn, các nhà thơ miền Bắc như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm đều nỗ lực vượt qua Thơ Mới. Họ chủ trương đổi mới bằng bút pháp. Xuân Ly Băng đổi mới về tư tưởng mỹ học.

Tư tưởng mỹ học trong thơ Xuân Ly Băng là tư tưởng Thần học và mỹ học Thiên Chúa giáo. Xuân Ly Băng ý thức rõ: “Phải khẳng định rằng thơ là để nói lên cái đẹp là Thiên Chúa. Những gì thuộc về Thiên Chúa đều đẹp. Chúng ta ca tụng Thiên Chúa bằng cái đẹp thể hiện qua văn chương, qua thơ ca”[3, đd]. Ngài chủ trương làm “nghệ thuật”  dưới bóng cây Thánh giá và Ánh Sáng Phục Sinh của Đức Kitô. Thơ Xuân Ly Băng miêu tả rất nhiều thiên nhiên đẹp , và đó là cái đẹp của Thiên Chúa. Ngài mong muốnlàm sao để đem Chúa từ trong ánh trăng, từ gió vào trong khối óc, trái tim, rồi từ đó trào ra nơi ngọn bút? Thiên nhiên này hoàn toàn khác với thiên nhiên trong thơ Lãng mạn, khác cả với thiên nhiên thơ Đường và thơ Trung đại Việt Nam. 

CỐT CÁCH THƠ XUÂN LY BĂNG

            Nhà thơ Xuân Ly Băng trước hết là một Linh mục. Ngài dùng thơ để ca tụng Thiên Chúa, để loan báo Tin Mừng. Đó là nhiệm vụ ngài nhận từ Đức Giêsu và giáo hội của Người. Đời dâng hiến của ngài là để thực hiện nhiệm vụ đó. Thế nên phần lớn thơ Xuân Ly Băng có nội dung giáo huấn. Mảng thơ này bị giới hạn trong nội dung, tư tưởng và ngôn ngữ giáo huấn của Giáo hội. Xuân Ly Băng khó thể hiện cốt cách thơ. Ngày xưa, thời cộng đoàn dân Chúa không biết chữ, các “cố đạo” đã đặt thành vè các nội dung giáo lý để cộng đoàn đọc trước giờ lễ. Vè bình dân dễ thuộc, dễ nhớ nên có tác dụng dạy đạo rất hiệu quả. Ngày nay, trình độ của cộng đoàn đã khác. Vè, kinh vãn không còn là phương tiện dạy đạo đắc dụng như ngày xưa. Nếu các nhà thơ Công giáo làm thơ chỉ ở dạng vè, sẽ không có người đọc.

Bậc làm cha làm mẹ
Xin gởi gắm đôi lời
Ghi nhớ lấy ai ơi
Để thi hành bổn phận
Hầu chu toàn bổn phận

Sinh con thì cẩn thận
Có chừng mực điều hòa
Có trách nhiệm sâu xa
Vì gia đình hạnh phúc
Để giống nòi hạnh phúc

        (Bổn phận cha mẹ)

Xuân Ly Băng có nhiều bài thơ giáo huấn. Ở những bài này, tính giáo huấn lấn át tính thơ (thí dụ: Bổn phận cha mẹ, Bài học truyền giáo, Sao em không lần chuỗi, Chuỗi Môi Côi, Xâu chuỗi Mân Côi, Sự thánh thiện của Chúa Giêsu, Những danh hiệu của Chúa Giêsu, Năm Linh Mục, Linh mục, ngài là ai? Trái Thánh kinh, Đoản khúc Tin Mừng, Lâu đài đêm…). Tuy vậy cũng có những vừa bài đáp ứng được nhiệm vụ giáo huấn lại vừa đạt được phẩm chất văn chương. (14 chặng đàng Thánh giá).

            Cốt cách thơ Xuân Ly Băng hiển lộ ở những bài thơ tự tình (Bài ca tình ái, Thanh sắc, Say Noel, Đàn vọng cố hương, Bao giờ cho hết mùa thu, Suy nghĩ cúi đầu, Thơ không về, Vì Ngài là tất cả, Tôi nằm xuống…)và thơ trải nghiệm tư tưởng từ đời thực (Noel không có Chúa, Ha-ga và Ít-ma-ên, Lời Chúa Trên Đại Dương, La Vang đất Mẹ…)

            Thơ tự tình bộc lộ một hồn thơ thanh khiết, trọn vẹn tin yêu phó thác, hồn thơ hòa vào hạnh phúc miên viễn của nước trời, không vướng bận trần ai.

Gửi vào Chúa tâm hồn tín thác
Đêm linh hồn man mác tình yêu
Có bình minh sáng thật nhiều
Có hiu hiu gió mỗi chiều mơn man

Gửi vào Chúa muôn vàn giọt lệ
Đêm linh hồn xiết kể hân hoan
Du dương tiếng sáo tiếng đàn
Giữa cô liêu ấy chứa chan ân tình

            (Lâu đài đêm tối)

            Thơ trải nghiệm tư tưởng lại khác hẳn. Nhà thơ phóng túng trong nghĩ suy, trong cách thể hiện những điều gan ruột và trong tìm tòi những tứ thơ mới lạ. Xin đọc

Ha-ga và Ít-ma-ên
           ( St 21, 8-20)

Nàng bế con chúi đầu đi trong sa mạc
Gió cát dập vùi
Hừng hực nắng trời như thiêu đốt mẹ con
Bánh ăn đã kiệt
Bầu nước cạn hết từ lâu
Khốn đốn vô cùng !
Nàng ngồi bệt xuống
Hôn con rồi đẩy nó vào bụi cây
Ngước mắt lên trời
Nghẹn ngào nàng than thở:
Đức Chúa ở đâu rồi?
Đau lòng tôi lắm, Chúa ơi !
Làm sao để con tôi thoát chết
Nàng ngoái lại nhìn bầu trời quê hương
Nước mắt chảy ròng ròng
Nhớ lúc ra đi!
Nàng nghẹn ngào than thở :
Ap-ra-ham, tôn chủ ơi !
Tình nghĩa sao chỉ có thế thôi,
Ai đem tôi đến cho ông?
Sao ông nhẫn lòng xua đuổi tôi đi?
Sa-ra, lệnh bà ơi!
Ghen chi ghen lắm hủy đời tôi nay

Rồi nàng khóc rống lên
Ít-ma-ên khóc giật giọng
Âm thanh chạm đến mây trời
Đức Chúa sai thần sứ xuống:
Can đảm lên, đừng sợ, Ha-ga ơi!
Hãy nâng đứa trẻ dậy
Nước uống đã có đây
Hãy cho nó uống gấp!
Nàng biết chăng:
Đức Chúa đã chọn nó từ lâu
Làm thành một dân tộc
Lang thang khắp sa mạc
Cung tên vút kín bốn phương trời.

Sáng Thế ký kể rằng:Ha-ga và Ích-ma-ên bị đuổi đi

Y-sác lớn lên và khi cậu bé đủ tuổi ăn thức ăn bình thường thì Áp-ra-ham bày một bữa tiệc lớn ăn mừng. Nhưng Sa-ra thấy đứa con, mà người nữ nô lệ Ha-ga đã sinh cho Áp-ra-ham, cười giỡn [a]10 Nên Sa-ra bảo Áp-ra-ham, “Ông hãy đuổi con nhỏ nô lệ nầy và con nó đi đi. Con nó sẽ không được hưởng chút gia tài nào hết; con tôi sẽ hưởng tất cả.”11 Lời yêu cầu nầy khiến Áp-ra-ham khó xử, vì nó cũng là con mình. 12 Nhưng Thượng Đế bảo Áp-ra-ham, “Đừng quá băn khoăn về đứa trẻ và người nữ nô lệ. Hãy làm theo điều Sa-ra yêu cầu. Dòng dõi mà ta hứa với con sẽ ra từ Y-sác. 13 Ta cũng sẽ làm cho dòng dõi của con trai người nữ nô lệ thành ra một dân lớn vì nó cũng là con trai con.”14 Sáng sớm hôm sau Áp-ra-ham lấy ít thức ăn và một túi da đựng đầy nước. Ông trao mọi thứ cho Ha-ga rồi đuổi nàng đi. Mang các thứ đó theo người, Ha-ga đi lang thang trong sa mạc gần Bê-e-sê-ba.15 Chẳng bao lâu, túi đựng nước cạn, Ha-ga để con mình dưới một bụi cây. 16 Rồi nàng đi một khoảng xa xa xong ngồi xuống. Nàng nghĩ, “Con tôi thế nào cũng chết. Tôi không có can đảm nhìn cảnh đau lòng nầy.” Nàng ngồi đó và òa khóc.17 Thượng Đế nghe tiếng đứa trẻ, nên từ thiên đàng thiên sứ của Thượng Đế gọi Ha-ga, “Ha-ga, có việc gì vậy? Đừng sợ! Thượng Đế đã nghe tiếng đứa trẻ đàng kia. 18 Hãy đến cầm tay đỡ nó dậy. Ta sẽ khiến dòng dõi nó thành ra một dân lớn.” 19 Rồi Chúa chỉ cho Ha-ga thấy một giếng nước. Nàng đến đó lấy nước đổ đầy bình cho đứa nhỏ uống.20 Thượng Đế ở cùng đứa nhỏ khi nó khôn lớn. Ích-ma-ên sống trong sa mạc và trở nên tay bắn cung rất giỏi”.

Nếu so sánh bài thơ với đoạn tường thuật của Sáng Thế ký, người đọc sẽ nhận ra những đặc sắc của ngòi bút Xuân Ly Băng.

 Xuân Ly Băng sáng tạo hẳn một tác phẩm mà không trói mình trong khuôn khổ của Sáng Thế Ký. Nhà thơ xây dựng riêng một hình tượng người phụ nữ của thơ mình. Thơ tự do làm cho hồn thơ Xuân Ly Băng trở nên khoáng đạt mạnh mẽ. Truyện được kể với tốc độ nhanh, đường nét miêu tả, dựng cảnh, thiết kế hành động nhân vật đầy sáng tạo (Ít-ma-ên khóc giật giọng/ Âm thanh chạm đến mây trời”. Người phụ nữ bị ruồng bỏ, xua đuổi, cô độc bồng con đi trong sa mạc đầy nắng, đối mặt với cái chết. Con người đau khổ ấy trở nên lớn lao và lẫm liệt. Nàng Ha-ga được khắc tạc trong không gian, thời gian và tình huống, với chiều cao “chạm đến mây trời” và trải ra chiều rộng “bốn phương trời”. Nàng tiếp cận được với Đức Chúa, và Đức Chúa đã an ủi và cứu giúp nàng. Ẩn sâu dưới câu chuyện kể khách quan và con chữ tưởng như vô tình lại là tấm lòng của nhà thơ với con người đau khổ cô độc và niềm tín thác vào Chúa. Chúa lắng nghe và thấu hiểu, Chúa chở che và an ửi, Chúa còn làm những điều kỳ diệu mà con người không thể biết. Đức Chúa nói với Ha-ga rằng Ngài đã chọn con nàng, dù nàng chỉ là nô tỳ, để “Làm thành một dân tộc/ Lang thang khắp sa mạc/ Cung tên vút kín bốn phương trời.”

Chuyện của Haga là truyện của Sáng Thế Ký. Chuyện của Thánh Phanxicô Xavie là đời thực:

Lời Chúa Trên Đại Dương
(Kính nhớ Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận)

Có những con hải âu soãi cánh,
Bay sà xuống ngỡ ngàng,
Hơn một lần,
Trên đại dương,
Để nghe lời Kinh Thánh,

Từ một chiếc thuyền nan.
Và những đám mây chiều,
Chụm đầu trên hải đảo cô liêu,
Khi nghe reo lên một hồi chuông nhỏ,
(Dù cuộc hành trình còn dang dở)
Để nghe lời Chúa Tình Yêu,
Từ một người bé nhỏ.
Và những đợt sóng bạc đầu,
Bỗng một ngày thấy mình sáng láng,

Oà kìa, cây Thánh giá
Xuất hiện trên bầu trời,
Khi một người khách lạ,
Nói về Chúa Ba Ngôi
Cho chim cho cá,
Cho người thổ dân nghèo đói tả tơi.
Hỡi người con của lâu đài Navarre,
Thừa vinh quang phú quý,
Thừa gấm vóc lụa là,
Thừa học vấn cao xa,
Đã bỏ mình cô đơn trên hoang đảo.

Hôm nay đây,
Trên độ dày lịch sử,
Tôi thấy người hiện ra
Trên nhật nguyện thành Goa,
Trên đại dương đầy dông bão,
Trên sương mù eo biển Ma-lắc-ca,
Trên vườn đào của xứ Mặt trời thức giấc.

Với đàn hải âu, tôi kính chào Người,
Với mây biển muôn màu, tôi hát bài ca đẹp nhất,
Với sóng bạc trùng dương,
Tôi vỗ tay reo,
Hỡi Phanxicô loan Tin Mừng Cứu độ.

Chỉ có vài chi tiết trong bài thơ giúp người đọc nhận ra Phanxicô Xavie: Ngài là người con của lâu đài Navarre (miền bắc Tây Ban Nha), truyền giáo ở Goa (Ấn Độ 1542), ở xứ Mặt trời (Nhật)… Và người “Đã bỏ mình cô đơn trên hoang đảo”(Xavie chết trên đảo Thượng Xuyên, ngay cửa khẩu Quảng Châu khi chờ thuyền lén vào Trung Quốc).

Xuân Ly Băng sáng tạo hẳn một hình tượng Phaxicô Xavie trong không gian và thời gian cao rộng tráng lệ. Nhà thơ không kể “thành tích” truyền giáo của Xavie. Cũng không kể như “hạnh các thánh”. Xavie hiện lên là một người khách lạ, một người bé nhỏ, vây quanh là Có những con hải âu soãi cánh, một chiếc thuyền nan, đám mây chiều, Và những đợt sóng bạc đầu để nghe Lời Kinh thánh, để nghe lời của Chúa Tình Yêu. Bài thơ mở rộng lên cao bằng một hình ảnh đẹp đến lạ lùng: “Và kìa, cây Thánh giá/ Xuất hiện trên bầu trời,/ Khi một người khách lạ,/ Nói về Chúa Ba Ngôi/ Cho chim cho cá,/ Cho người thổ dân nghèo đói tả tơi.” Xavie có sức thu hút tất cả đến với mình để nghe Kinh Thánh, và cũng chính Lời Tình yêu từ Xavie có sức làm biến đổi mọi tạo vật:

Và những đợt sóng bạc đầu,
Bỗng một ngày thấy mình sáng láng,

Sóng bạc đầu trên biển là sóng dữ, nhưng sau khi nghe Lời Chúa Tình Yêu, nó tự nhận thấy mình sáng láng. Sóng trở nên đẹp hiền hòa rạng rỡ, không còn là sóng dữ. Khám phá được một hình ảnh diễn tả sự cảm hóa của Tin Mừng với tạo vật như vậy không phải người làm thơ Công giáo nào cũng có thể đạt tới.

Hình tượng Xavie còn được tô đậm hơn nữa trên nền thiên nhiên tráng lệ giàu ý nghĩa biều tượng và chiều sâu lịch sử, nhờ thế “người khách lạ, một người bé nhỏ” trở nên thân thiện và kỳ vỹ :

Hôm nay đây,
Trên độ dày lịch sử,
Tôi thấy người hiện ra
Trên nhật nguyện thành Goa,
Trên đại dương đầy dông bão,
Trên sương mù eo biển Ma-lắc-ca,
Trên vườn đào của xứ Mặt trời thức giấc.

Khổ thơ gồm những câu thơ ngày càng dài ra như là một bức tường thành đang xây lên, sự khẳng định tầm vóc Xavie ngày một bề thế vững chãi và vươn dài hơn trong lịch sử và thời đại.

Với đàn hải âu, tôi kính chào Người,
Với mây biển muôn màu, tôi hát bài ca đẹp nhất,
Với sóng bạc trùng dương,
Tôi vỗ tay reo,
Hỡi Phanxicô loan Tin Mừng Cứu độ.

Nhân vật  Tôi (nhà thơ) cũng đẹp trong không gian cao rộng (biển mây, trùng dương sóng bạc) giữa muôn loài hội tụ đầy màu sắc, thanh âm reo vui hân hoan. Tôi trong bài thơ này thật mới lạ so với Thơ Lãng mạn.

 Viết về thánh Phaxicô Xavie để “Kính nhớ Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận”, hẳnTác giả muốn làm sống lại hình ảnh Đức Hồng Y Fx Nguyễn Văn Thuận trong lòng người đọc Công giáo hôm nay? Đức Hồng Y Fx Nguyễn Văn Thuận cũng là người rao giảng tin Mừng trong mọi hoàn cảnh, và ngài, bằng sức mạnh của Tin Mừng, đã cảm hóa mọi người đến với ngài như Xavie. Xuân Ly Băng đã khẳng định tầm vóc lịch sử và thời đại của ngài.

NÓI VỚI NGƯỜI TRẺ

          Đức cha Giuse Vũ Duy Thống giải thích bút danh Xuân Ly Băng: “Xuân Ly Băng quả là ”Mùa Xuân trên núi Li Băng”. Vừa mượt mà tươi xanh, vừa nhẹ nhàng trìu mến …” Mùa xuân ấy một mùa xuân mầu nhiệm, rất diệu huyền và rất đổi anh hoa ”…”Xuân Ly Băng là một cuộc đời đã làm nên Mùa Xuân cho mình và không ngừng kiến tạo Mùa Xuân cho những người mình gặp gỡ…” (gpphanthiet.com)

Đức Ông Xuân Ly Băng chia sẻ với Lm – nhà thơ Trăng Thập Tự điều tâm huyết của mình: “Cha phải tìm kiếm những mầm non trong Hội Thánh để nối dõi tông đường: Liên lạc gặp gỡ nhau, vun trồng, nâng đỡ nhau về thi ca và về đức tin. Có thế ta mới làm tròn nhiệm vụ Chúa trao phó và đáp ứng điều Hội Thánh chờ đợi.”

Nhà thơ Xuân Ly Băng đặc biệt lưu ý: “Làm thơ là sáng tạo. Khi Xuân Diệu viết: “Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm”, Tản Đà đòi lôi ra chém vì Xuân Diệu dám bảo mặt trời đi ngủ. Thế nhưng làm thơ là phải vậy, phải sáng tạo.”  

Người làm thơ “cần hai chữ thành thực và khiêm nhường, đừng tự tôn vinh mình. Thời gian sẽ sàng lọc và đào thải những gì không phải là thơ.[4]

Tôi tâm đắc hai điều trong ý thức sáng tạo của nhà thơ Xuân Ly Băng. Đó là: làm thơ là sáng tạo và sự sàng lọc “những gì không phải là thơ”.

Nhiều người làm thơ Công giáo chỉ chú ý đến nội dung giáo huấn mà không nỗ lực sáng tạo (làm ra cái mới nghệ thuật), thành ra thơ rất cũ. Người làm thơ không biết rằng mình đang làm ra những thứ “không phải thơ”, tất nhiên những gì không phải là thơ sẽ bị đào thải.

Xuân Ly Băng đã góp vào thi ca Công giáo và thi ca dân tộc những hình tượng mới như hình tượng người phụ nữ bồng con đi trong sa mạc (Ha-ga và It-ma-ên), hình tượng Xavie, con người bé nhỏ giảng Kinh thánh cho muôn loài trên hoang đảo giữa biển khơi (Lời Chúa trên đại dương); làm mới hình ảnh thiên nhiên trong thơ so với thơ cổ điển và Thơ Mới, đem vào thơ một Cái Tôi mới (khác với Cái Tôi trong thơ Lãng mạn và thơ Hiện thực xã hội chủ nghĩa); Đem vào thơ cái nhìn mới của Kinh Thanh về vạn vật về cuộc đời (Mỹ học Thiên Chúa giáo): Tất cả đều đẹp, đều tốt tươi; và thay thế hồn thơ bi thiết của Hàn Mặc Tử bằng một hồn thơ trong veo hân hoan kết nối với trời cao.

Chỉ một tiếng chuông ngân cũng dạt dào cảm xúc thơ mới mẻ và thánh thiện.

Bỗng nghe một tiếng chuông buông
Xa xôi tự tháp thánh đường nào đây!
Vang lên cao vút tầng mây
Rồi ngân nhè nhẹ như ngây ngất lòng…

…Bắc cầu nối ý xa khơi
Hồn tôi với lại nước trời xa xăm

                         (Chuông chiều)

Tháng 5/ 2020

________________

[1] tường thuật của Lm Giuse Nguyễn Hữu An:

https://sites.google.com/site/giadinhpherokhoa/co-cau-to-chuc/Gii-thiu/dhuc-ong-j-b-le-xuan-hoa

[2] hiện các sáng tác của Đức ông Xuân Ly Băng chưa được tập hợp đầy đủ:

-Phan Chính cho biết: Xuân Ly Băng có 25 tập thơ, trên 120 bài thơ phổnhạc:

-Lm Giuse Nguyễn Hữu An: Ngài đã sáng tác 12 tập thơ đạo đời (đd 1]

-Nguyễn Quân TT, VRNs tường thuật Buổi ra mắt tác phẩm nhà thơ Xuân Ly Băng vào lúc 18g 15 phút chiều qua, ngày 13.02.2012 cho biết: Xuân Ly Băng có gần 30 tập thơ và hơn 1000 bài thơ:

                  (chuacuuthenews.wordpress.com › 2012/02/14 › xuan-ly-bang.)

Nhà thơ An Thiện Minh trong Thánh lễ “Tưởng niệm Đức ông – Nhà thơ Xuân Ly Băng” ngày 17.8.2017, tại Trung tâm Mục vụ TGPSG cho biết: Xuân Ly Băng có 27 thi phẩm, tổng cộng trên 1000 bài thơ; 1 kịch; 4 tác phẩm dịch; 4 bản thảo bị thất lạc. Có trên 120 bài thơ đã được phổ nhạc:

https://tgpsaigon.net/bai-viet/tuong-niem-duc-ong-%E2%80%93-nha-tho-xuan-ly-bang-48029

[3] Xuân Ly Băng trả lời Trăng Thập Tự ngày 25/8/1988:

https://www.tgpsaigon.net/bai-viet/xuan-ly-bang-hon-tho-va-tam-long-muc-tu-48041

[4] https://www.tapsanmucdong.net/2017/07/xuan-ly-bang-loi-ngo-cho-em-tho.html

THƠ TRĂNG THẬP TỰ

Những khuôn mặt thơ Công giáo đương đại

NHÀ THƠ TRĂNG THẬP TỰ

Bùi Công Thuấn

 

Nẻo quỳ hoa

***

            Khi tôi viết những dòng này thì nhà thơ đã “ném thơ” của mình đi để theo Chúa, bởi làm thơ, kéo lùi nhà thơ lại.

Lên dốc theo Ngài không kịp thở,

Mồ hôi nhễ nhại bước bơ thờ.

 

Những phút đứng làm thơ nhiếp ảnh

Kéo ghì tôi tụt lại thật xa.

Thì ném liều cả ảnh lẫn thơ

            (Leo núi-Trăng Thập Tự)

Nhà thơ Trăng Thập Tự có thể bỏ thơ mà đi, nhưng thơ của người thì vẫn còn đó. Một cõi thơ đẹp, đầy sáng tạo, hào sảng và giàu phẩm chất tư tưởng

MỘT NGƯỜI SAY MÊ HOẠT ĐỘNG NGHỆ THUẬT

            Trăng Thập Tự là bút danh của Linh mục Võ Tá Khánh. Trong bài “Dùng văn chương để loan báo Tin Mừng”[1], tác giả Thiên Lý đã viết khá đầy đủ về hoạt động văn chương của ngài. Điều đặc biệt là ngài không chỉ làm thơ để loan báo Tin Mừng. Văn học Công giáo từ khởi nguồn đến nay đã có truyền thống rao giảng Tin Mừng. Linh mục Võ Tá Khánh còn có khát vọng quy tụ những tác giả Công giáo, quy tụ đội ngũ viết văn trẻ, sưu tập các tác phẩm văn chương Công giáo để ghi khắc cho được được diện mạo văn chương Công giáo đương đại và ươm mầm một nền văn học Công giáo tươi tốt trong tương lai. [2]

Đây là một sự nghiệp to lớn của cả Giáo hội, của nhiều thế hệ những người có tâm huyết và cần nhiều công sức mới có thể làm được, bởi mục tiêu của Mục vụ văn hóa là: “…Con đường của những nhà rao giảng Tin Mừng là làm cho đức tin Kitô giáo trở nên một thành phần của di sản văn hoá của một dân tộc”[3]. Văn học Công giáo trong lòng dân tộc chưa làm được nhiệm vụ này.

Lm Võ Tá Khánh nhận rõ một thực tại: “ Đại chúng Dân Chúa sở dĩ lãnh đạm với công việc mục vụ Văn hóa chỉ là do không ai nói cho họ hiểu tầm quan trọng của văn học nghệ thuật trong việc loan báo và bồi dưỡng đức tin. Nếu các linh mục và tu sĩ quan tâm hơn và giải thích cho giáo dân biết, chắc chắn mọi sự sẽ khác hẳn.”[4]

Trong lời giới thiệu tập thơ Kinh Trong Sương (28/3/2008), Lm Võ Tá Khánh đã lên tiếng kêu gọi khẩn thiết:

“Chao ôi! Kinh trong sương, sách đạo chết đắm trong sương mù!

Chao ôi! Hội Thánh Việt Nam này sẽ đi về đâu khi các tầng lớp Dân Chúa không còn đọc sách?

Con tha thiết kính xin tất cả quý vị có mặt ở đây từ Đức Tổng, quý Đức cha, quý Cha, quý Khách cho đến những anh chị em nhỏ nhất, hãy gào thét lên cho mọi người đọc sách, cho mọi giáo xứ đều tổ chức hội thi đọc sách, cho mọi bậc cha mẹ đều sắm tủ sách gia đình…

Với lời kêu cứu khẩn cấp ấy, con xin trân trọng giới thiệu tuyển tập Kinh trong sương”.

Sau Hàn Mặc Tử công chúng không thể nhận ra một khuôn mặt nào của Văn chương Công giáo đương đại.

Có hai nguyên nhân chính là: các tác giả Công giáo chỉ sáng tác để loan báo Tin Mừng trong phạm vi Giáo hội (ngay cả trong phạm vi này cũng có mấy người đọc! Bởi họ đã nghe rao giảng Tin Mừng hàng ngày trong nhà thờ rồi), và Giáo hội không có bất cứ hoạt động văn chương nào có tầm vóc quốc gia để nghiên cứu, giới thiệu, quảng bá tác giả và tác phẩm văn chương Công giáo. Và vì thế những nhà nghiên cứu có muốn viết về văn chương Công giáo đương đại, cũng khó tìm đâu ra tác giả tác phẩm thực sự có giá trị tư tưởng và nghệ thuật.

Nhìn ở góc độ này, bạn đọc mới thấy được những nỗ lực hoạt động văn chương của linh mục Võ Tá Khánh (sáng kiến tổ chức các hình thức sinh hoạt để tập họp các cây viết, in ấn tác phẩm…) là rất đáng quý,…

…tuy rằng ngài vẫn một mình đơn độc trên con đường vạn dặm.

Võ Tá Khánh

Bùi Công Thuấn – Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh (Song Nguyễn) -Lm Trăng Thập Tự

PHẨM CHẤT TÀI HOA THI SĨ

Trong bài tựa cho tập thơ Có ai về Cát Minh (tuyển tập thơ 1963-2004), Lm nhà thơ Trăng Thập Tự đã kể lại hành trình tâm linh và cội nguồn thi ca của mình. Tôi xin không nhắc lại. Tuy nhiên, tất cả những gì đã viết về thơ Trăng Thập Tự mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu một tác giả.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Vy Khanh viết: Trăng Thập Tự “tác giả Tâm Tình Tu Viện (1969), Điệu Buồn Học Trò (1971), Có Ai Về Cát Minh (tuyển tập Thơ 1963-2004), v.v… Qua thơ, Trăng Thập Tự đã để hồn mình nhập vào Thánh Kinh, cầu nguyện với lời thánh thiện, diễn tả sự vật và biểu hiện tâm cảm qua lăng kính của Đức Tin.”

Nhà nghiên cứu Lê Đình Bảng trong Văn học Công giáo Việt Nam, những chặng đường (2010), viết về Trăng Thập tự vỏn vẹn như sau: “Trăng Thập Tự: Trường ca Anrê Phú Yên, Tiên tri, Quỳ hoa, Khúc linh ca (2003), Có ai về Cát Minh (2005.)

Nếu chỉ giới thiệu như vậy thì đâu là phẩm chất thi sĩ của Trăng Thập Tự, khuôn mặt thơ Trăng Thập Tự có những đường nét góc cạnh gì, và thơ Trăng thập Tự có những đóng góp gì cho sự phát triển của thơ Công giáo từ truyền thống đến đương đại?

Tôi thử tìm hiểu những phẩm chất thi sĩ của Lm Trăng Thập Tự trong Nẻo Quỳ Hoa (tuyển tập thơ 2005-2015).

Tuyển tập này gồm các tập thơ nhỏ Nẻo Quỳ hoa (24 bài), Diễm Ca (8 chương), Những khúc ai ca (5 khúc ca), 20 Mầu nhiệm Mân Côi, Đây lòng Chúa xót thương (14 bài), Nhật ký cho Mẹ (21 bài), và Ghetsêmani (68 bài).

Nội dung thơ khá phong phú. Nhà thơ quan tâm đến các Linh Mục, ngợi ca Đức Mẹ, suy nghiệm về Lòng Chúa thương xót, diễn ca Kinh thánh, khám phá về phẩm hạnh các thánh (Thánh Vinh Sơn Phao lô, thánh Phan xi cô nghèo, thánh nữ Anna). Trong Nẻo Quỳ hoa có cả thơ tự tình (bài Hương cũ) và thơ viết về những chuyện đời thường như sự việc tượng Đức Mẹ Sài gòn khóc, về Đức Tổng Ngô Quang Kiệt (bài Kính chào Môsê, Đêm Giuse), về dân oan khiếu kiện, những ngư dân bị tàn hại trên biển Đông (Dụ ngôn Mẹ), về một Linh mục bị bắt đi (Ghetsêmani 16). Tác giả cũng đối thoại với Thiền sinh trên đường pháp nạn, với anh em Tin Lành và tiễn biệt những người bạn được Chúa gọi về (Lm Trần Cao Tường, một nữ tu già)…Dù viết về đề tài nào, tiếng nói của nhà thơ luôn là tiếng nói thuộc về chân lý đầy tính thuyết phục. Tiếng nói ấy trở thành thơ vì được viết bằng Mỹ học Thiên Chúa giáo, tư tưởng Nhân văn Công giáo, ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần và phẩm tính tài hoa của thi sĩ.

Mỹ học Thiên Chúa giáo là ý thức về Cái Đẹp mang thuộc tính Thiên Chúa. Trong Sáng Thế Ký, sau khi sáng tạo vũ trụ và muôn loài, “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp”. Và “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa”. Mỹ học Thiên Chúa giáo nhìn ra cái đẹp trong vạn vật, trong con người, cái đẹp ấy xuất phát từ Thiên Chúa. Cái đẹp ấy có chiều kích cao rộng chói lòa trên núi Taborê, cái đẹp hiện sinh sâu thẳm của Đức Giêsu trong vườn cây dầu, cái đẹp hùng tráng bậc nhất của Ơn Cứu Độ trên đỉnh Núi Sọ và cái đẹp huy hoàng chiến thắng sự chết của Chúa Phục sinh. Thơ Trăng Thập Tự được chiếu rọi bởi ánh sáng Mỹ học ấy. Những bài hùng tráng nhất, sáng tạo nhất, tứ thơ đẹp nhất, ngôn ngữ gân guốc, khí thơ mạnh mẽ và hào sảng nhất của Trăng Thập Tự đều thấm đẫm ánh sáng Mỹ học ấy (Xin đọc: Khải huyền ca chiếc thuyền thúng, Đêm Giuse, Biển Khơi, Ra Khơi, Thiếu phụ hoa vàng, Ngày chinh phu trở về, Lời bão nổi, Cội và mầm, Trang kinh của Mẹ, Bản hòa âm Ba Ngôi, Kính chào Môsê… Rất tiếc trong phạm vi một bài viết nhỏ tôi không có điều kiện đọc riêng từng bài. Xin dành cho bạn đọc yêu mến thơ Trăng Thập Tự)

Cái đẹp của thơ là cái đẹp cổ điển nhưng rất mới lạ

Mười lăm năm thấy chàng về,

Nàng dâng nửa mảnh gương thề trong khăn.

Mười lăm năm vết xe lăn,

Khôn nguôi cầm sắt, khôn ngăn cầm kỳ.

Mười lăm năm ấy nói gì ?

– Mười lăm năm lại hái quỳ tặng nhau.

                                (15 năm ấy)

Vẻ đẹp vừa cổ điển, vừa lãng mạn:

Dõi tìm theo dấu hừng đông,

Kìa ai giặt áo ven sông nở vàng.

Vàng trôi vàng rủ nhau sang,

Ngước lên sáng rực trường giang một màu.

                 (Thiếu phụ hoa vàng)

Một tầm nhìn vượt thời gian, vượt không gian

Bỗng dưng trên bước đường lịch sử

Người biến về đâu, chẳng ai hay.

Sử gia ngơ ngác tìm muôn nẻo,

Hạc vàng chẳng thấy, thấy mây bay.

(Kính mừng thánh Vinhsơn Phaolô)

Vượt lên trên cái đẹp ngôn từ, cái đẹp của tứ thơ là sự sáng tạo những câu chuyện, những hình tượng thơ mà trước đó chưa có trong thơ Hàn Mặc Tử. Những hình tượng này mang nét đẹp của Cựu Ướcc và Tân Ước, cũng đồng thời chứa đựng những tố chất của thơ Việt. Năng lực sáng tạo của thi nhân thật dồi dào. Nghệ thuật kể chuyện thật sinh động hấp dẫn, tứ thơ mới lạ và giọng thơ thật hùng tráng. Xin đọc: Trang kinh của Mẹ, Khải huyền ca chiếc thuyền thúng, Ra khơi…

Lý Sơn, ô kìa mặt trời lên

Giữa mênh mông Thái Bình

Mặt trời đã phục sinh

Mặt trời đang thức dậy

Nhuộm biển sáng lung linh

Cho những thuyền lướt sóng

Cũng theo mặt trời lên

Thuyền đã vượt qua đêm

Thuyền hòa trong ánh sáng

Thuyền mơ.

Lý Sơn, đang khi ta không ngờ

Em vượt khơi từ bao giờ

Để sáng ngày rộn rã

Em giong thuyền về

Cho ta đón cá vào bờ.

Lý Sơn đoàn thuyền thơ

Hòa lẫn với mặt trời

Đang chói chang trở lại ..”

(Ra khơi)

“…

Với chiếc gậy chăn chiên

Người biến Pharaô thành trò cười cho thiên hạ

Ếch nhái chết ngập cung đình

Để toàn dân biết cung đình thối tha bẩn thỉu

Lửa cháy dinh Pharaô

Cho lòi mặt chuột nhắt chuột chù chuột cống.

Gậy nhúng xuống Ninh giang cuồn cuộn

Tố cáo máu dân lành căm hờn đỏ quạch sông Hồng

Với chiếc gậy chăn chiên

Người truyền giết chiên lấy máu bôi lên cửa

Làm nên đêm lẫy lừng khắp Ai Cập thất thanh

Và Dân Chúa xuất hành theo nhịp trống

Đêm rực lửa toàn châu Phi chấn động

Giương mắt nhìn Dân Chúa ra đi

Giã biệt cảnh đời nô lệ.

Với chiếc gậy chăn chiên

Người xẻ đôi lòng biển

Kiến tạo trong phút chốc một xa lộ mười mấy làn đường

Cho Đại Hội Dân Chúa băng qua như vũ bão …”

(Kính chào Môsê)

 NHÀ THƠ TƯ TƯỞNG

            Đặc sắc của thơ Trăng Thập Tự là tư tưởng. Nhà thơ không làm thơ để phản ánh hiện thực hay bày tỏ thái độ trước cuộc sống, dù rằng phản ánh hiện thực là thuộc tình của văn chương và tác phẩm luôn là diễn ngôn của tác giả. Trăng Thập Tự kết hợp tư tưởng Thần học với suy nghiệm hiện sinh của chính mình, từ đó vươn lên cõi cao rộng của ánh sáng, vượt qua bóng tối và sự chết, vượt qua những bộn bề nhiễu nhương oan khiên của hiện thực.

Từ góc nhìn này, thơ Trăng Thập Tự đã vượt qua tư tưởng Phật, Nho, Lão trong Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh-Nguyễn Du), trong Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiêu) cả trong quằn quại đau thương tuyệt vọng trong thơ Hàn Mặc Tử.

Xin đọc:

Thơ Hàn Mặc Tử nói về cái chết thương tâm và tuyệt vọng:

Một mai ở bên kia khe nước ngọc,

Với sao sương, anh nằm chết như trăng.

Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc,

Đến hôn anh và rửa vết thương tâm.(Duyên kỳ ngộ)

Tiễn biệt Linh Mục Trần Cao Tường, Trăng Thập Tự viết những câu thơ mà tư tưởng thật mới lạ so với thơ cổ điển viết về cái chết. Cái chết là hoan ca phục sinh. Cái chết cũng là cánh hạc mênh mông trời cao

Vẫy tay vời cánh hạc

Hẹn bên hồ Phục Sinh

Nghe câu hò Dũng Lạc

Hát khúc ca biến hình.

(Tiễn biệt cha Anrê Dũng Lạc Trần Cao Tường)

So sánh với tư tưởng hư vô trong Cung Oán ngâm khúc:

Trăm năm còn có gì đâu

Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì”

Cũng vậy, trong Chinh Phụ ngâm (Đặng Trần Côn-Đoàn Thị Điểm), hình ảnh người chinh phu nằm phơi xác giữa chiến trường trong đêm trăng thê lương, bi đát biết bao nhiêu:

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi

Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi”

Đây là hình ảnh tuyệt đẹp của chinh phu trong thơ Trăng Thập Tự

“…Chàng đi từ độ hè sang,

Hẹn ngày lấp lánh vinh quang lại về.

Chàng đem theo một lời thề,

Cho em ở lại một bề sắt son.

Đăm đăm mắt dõi chưa mòn,

Thoắt đâu đã thấy nước non rộn ràng.

Quỳ hoa đã rộ ven đàng,

Hoàng oanh báo tiệp tin chàng về xuôi.

Vàng tươi ai dệt vàng tươi,…”

            (Ngày chinh phu trở về)

Và đây là đối thoại trực diện với Thiền:

Em đi, đi về đâu? 

Khi vừa xanh mái đầu

Vội quy y xuống tóc

Dõi hành trình vô ưu.

 

Ai đưa em qua cầu

Cầu chỉ có một đầu

Bờ kia xa tít tắp

Trước mặt là vực sâu.

(Em về đâu? -Mến tặng các Thiền sinh Bát Nhã trên đường pháp nạn)

Tứ thơ: Ai đưa em qua cầu/ Cầu chỉ có một đầu / Bờ kia xa tít tắp/ Trước mặt là vực Sâu vừa là cái nhìn tư tưởng về con đường giải thoát vừa là tình cảm yêu thương trân trọng, xẻ chia những bi kịch của kiếp người. Con đường của Thiền sinh là con đường tu tập Bát chánh đạo, để đạt tới Tánh Không là sự giải thoát. Con đường ấy như cây cầu chỉ có một đầubờ kia xa tít tắp. Nhà thơ gợi ý một con đường cũng là cầu đưa ta qua vực sâu.

 Và đây là tư tưởng của Trăng Thập Tự: Tư tưởng thần học Thiên Chúa giáo kết hợp với trải nghiệm hiện sinh của riêng mình:

Đưa tay chạm phím tơ lòng,

Mà nghe réo rắt suối trong đầu nguồn.

Lần tay theo mạch trào tuôn,

Sông dào dạt nhạc, sóng cuồn cuộn thơ

Con nương theo phím tơ đồng,

Mà rung theo nhịp tiếng lòng Ngôi Con,

Thánh Thần hoà khúc véo von,

Hội chung trời đất vuông tròn trong Cha.

                     (Bản hòa âm Ba Ngôi)

Có nhiều bài thơ Trăng Thập Tự gần với Kinh Hoa Nghiêm (Phật giáo) nhưng khác về chất. Hoa Nghiêm nhìn vạn vật dù trong vô thường vẫn có Phật tính (Tánh Không). Trăng Thập Tự nhìn thấy cái đẹp của vạn vật trong tầm vóc cao rộng, sống động vĩnh cửu của Đấng sáng tạo.

Đưa con trên cánh đại bàng,

Tuôn mây dệt sóng, mênh mang nắng chiều.

Dìu con trên đỉnh cô liêu,

Bao la biển trắng, phiêu diêu đóa hồng.

Này không này bềnh bồng,

Mà chan ơn phúc mênh mông đất trời.

Không” và “” ở đây không phải là vô thường mà “chan ơn phúc mênh mông đất

 trời”. Tư tưởng này đẹp hùng vĩ biết bao.

Một hình ảnh tư tưởng khác:

Quỳ muộn hay quỳ sớm quá đây?

Cho lòng bỡ ngỡ, mắt ngây say!

Giữa ngàn lá biếc xanh xưa ấy,

Lạc một đóa vàng rực sáng nay.

                         (Quỳ lạ)

Nhà thơ ngạc nhiên trước một đóa quỳ lạ nở trong ngàn lá biếc xanh. Cái nhìn ấy không khác gì cái nhìn của Thiền sư Mãn Giác trong bài Thị Kệ: “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/ Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”(Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết; Đêm qua, sân trước một nhành mai.) Nhành mai của Mãn Giác là nhành mai giác ngộ của Ana Ca Diếp (Niêm hoa vi tiếu-Thiền thoại), còn đóa quỳ trong ngàn lá biếc xanh lại là “vô ngôn” của Chúa nói trong tâm thức nhà thơ:

Tôi bước tình cờ đâu biết hẹn,

Hoa chờ bất chợt có ai hay.

Ai hay trong vẻ vô tình ấy

Chúa nhắc riêng tôi chuyện những ngày.    

            Những tứ thơ tư tưởng như thế đọc thật thú vị. Thú vị hơn nữa là trong thơ Trăng Thập Tự có rất nhiều những tứ thơ tư tưởng mới lạ (xin dành cho bạn đọc tự thưởng thức)

Tôi đặc biệt chú ý đến những tứ thơ tư tưởng khi nhà thơ nói về TRĂNG, về ĐÊM, về sự thinh lặng và về Ghetsêmani  (16 bài Ghetsêmani).

Trăng là nghệ thuật và cũng là Thập tự (Ghetsêmani 11; Biển khơi)    

Trăng trút linh hồn, trăng rỉ máu,

Đọng xuống lòng đêm một chén sầu.

Đón lấy trao về Con Yêu Dấu,

Nhìn Con, Cha chẳng dám nhìn đâu (Ghetsêmani 11)

***

Thuyền ai đó, thuyền ai cuối bãi

Chở đầy trăng nhắm hướng mặt trời

Này thuyền có xuôi dòng sông chảy

Thì cho em về với biển khơi. (Biển khơi)

 Đêm là hình ảnh ẩn dụ rất đa nghĩa chứa đựng tư tưởng, với Trăng Thập Tự, đêm không phải là bóng tối tuyệt vọng mà đêm dẫn về ánh sáng

Đêm lắng xuống, đêm dày chất chứa,

Đêm dương gian, đêm cả cõi lòng.

Đêm hẹn hò tiếng hát hừng đông,

Đêm khải thị, đêm chờ, đêm đợi.

Lạy Thánh Tử, xin Ngài mau tới

(Đêm Ma Lâm)

Đêm về chiếc thuyền nhỏ/

Lao đao ngoài biển khơi. /

Sóng gió dập tơi bời, /

Các môn đồ kiệt sức.

            (Quỳ đằng sau)

Xin ngợi ca

Đêm thăm thẳm mịt mù

Đêm dẫn vào cõi sáng thiên thu

Như có Lời đã viết

(Đêm Giuse)

Ghetsêmani (16 bài) chứa đựng tư tưởng sâu xa nhất của Trăng Thập Tự. Kinh Thánh thuật lại Chúa cầu nguyện trong vườn Ghetsêmani. Đó là thời khắc hùng vĩ nhất của Đức Giêsu trong thân phận con người hiện sinh: cô đơn, bị phản bội, phải đối mặt với cái chết bi đát. “Người bắt đầu cảm thẩy hãi hùng xao xuyến. Người nói với các ông: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức” (Mc 14, 34-35). Và Người đã vượt qua hiện sinh trong một tư thế lẫm liệt: “Đứng dậy, ta đi nào!” (Mc 14, 42). Người vượt qua hiện sinh tiến đến vinh quang: “Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu.”(PI 2, 9). Không phải vô tình mà Trăng Thập Tự viết nhiếu bài suy tư về Ghetsêmani.

Dù con ngủ mệt nơi đây,

Lòng con vẫn ở bên Thầy đó thôi.

Sức con, Chúa đã biết rồi,

Tình con dù có nổi trôi theo dòng

***

Thì chén tình Cha con đón nhận,

Cho trăng vàng lại sáng đêm đêm.

Con xin uống trọn và hơn nữa

Cho trăng vòi vọi sáng tươi thêm

***

Ghetsêmani 16 ghi lại hình ảnh một Linh mục bị bắt đem đi như ngày xưa Chúa bị người Do Thái bắt đi đóng đinh.

Bỗng đâu đêm thức dậy ồn ào,

Bóng đen xô cửa đẩy nhau vào.

Đứng lên, Thầy hỏi lời đanh thép,

Cả bọn du côn suýt té nhào.

Chúng lùi một bước, tiến hai bước,

Trói tay, bịt mắt, dẫn Thầy đi.

Tôi muốn la lên nhưng khiếp nhược,

Rớt lại trong đêm, biết nói gì!

***

Xin thờ lạy nỗi cô đơn chí thánh

Giữa vườn khuya ướt lạnh vai gầy.

Con đến đây mong chia sẻ với Thầy 

Một giọt báu, giọt trích từ chén đắng.

                 (Ghetsêmani 12)

 

TRĂNG THẬP TỰ, NHÀ THƠ – LINH MỤC (thay lời kết)

Tôi gọi Linh mục Võ Tá Khánh là “Nhà thơ-Linh mục” bởi vì chất thi sĩ có trước phẩm tính Linh mục. Chất thi sĩ là yếu tố định vị một tác giả thơ là thi nhân. Còn phẩm tính Linh mục làm nên giá trị thơ.

Trăng Thập Tự làm thơ tự nhiên như hơi thở sự sống, và thơ cũng chính là hơi thở sự sống tinh tuyền của người thơ. Dù là các thể thơ truyền thống (Lục bát, Song thất lục bát, Thất ngôn, tứ tuyệt, Tứ tuyệt lục bát, truyện thơ) hay thơ tự do, ngòi bút thi nhân bay bổng tự nhiên như vốn dĩ tư duy và ngôn ngữ của người thơ là vậy. Cái Ta hòa vào đời sống tan vào tha nhân và vươn tới Thập giá, mà Thập giá lại ở ngay trong lòng mình, nhờ thế Cái Ta trở nên siêu việt.

Hừng đông thức giấc chân trời lạ,

Nhạc lặng, niềm riêng réo rắt ca.

Hương cũ dậy từ lòng thập giá,

Tình xưa đã mới lại trong ta.

             (Hương cũ)

Trăng Thập Tự đã làm mới thơ Công giáo và mở ra nhiều nguồn mạch cho thi ca Công giáo đương đại. Chẳng hạn sự kết hợp thi pháp thơ dân tộc (Thất ngôn, Lục bát, song thất lục bát, Tứ tuyệt…)[5] với Mỹ học Thiên Chúa giáo, việc soi rọi những hiện tượng xã hội dưới ánh sáng Kinh thánh (Kính chào Môsê, Đêm Giuse), việc sáng tạo những tứ thơ mới (Đức Mẹ khải huyền, Lời bão nổi), những hình tượng mới chiết xuất từ Cựu Ước và Tân ước (Thiếu phụ hoa vàng, Trang kinh của Mẹ), việc tái khám phác hình ảnh và đời sống Đức Giêsu (Người môn đệ được Chúa yêu, Xin đừng trốn nữa)… Điều ấy thật đáng quý.

Và Đây là Linh mục Trăng Thập Tự:

Tôi là Gioan Phêrô,

Môn đệ của Đấng đã chết mà vẫn sống,

Đấng có trái tim bằng lửa

Đấng đưa hai tay nắm hai đầu lịch sử,

Đấng bước trên sóng

Và thường bảo ra khơi thả lưới bên hữu thuyền…

(Khải huyền ca chiếc thuyền thúng)

Tháng 5/ 2020

______________

[1]https://www.vanthoconggiao.net/2018/01/dung-van-chuong-de-loan-bao-tin-mung.html

[2]. 5 quyển Có Một Vườn Thơ Đạo đã tập hợp được 187 tác giả thơ, tổ chức giải Đặng Đức Tuấn, Giải Viết văn đường trường (2012-2018); thực hiện Tuyển tập Văn thơ “Mục Đồng”, mỗi năm ấn hành 4 kỳ, mỗi tập khoảng 120 trang. [3]Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á (ECCLESIA IN ASIA của ĐGH J.Paul II)

[4]Thư chia sẻ ngày ngày 30-6-2017 của LM Võ Tá Khánh

[5]. Song thất lục bát xin đọc Những khúc ai ca. Thất ngôn mới (Ngõ Quỳ hoa). Tứ tuyệt (Khuất bóng mặt trời). Kết hợp với Thiền thoại (Trăng thu). Đúng chất thơ Trăng Thập Tự (Khải huyền ca chiếc thuyền thúng)

               

“LỊCH SỬ VĂN HỌC CÔNG GIÁO” VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ

LỊCH SỬ VĂN HỌC CÔNG GIÁO”  VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ

Bùi Công Thuấn

LSVGCG Jpeg

 

Xin đặc biệt ghi nhận các công trình Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam của Võ Long Tê (Nxb Tư Duy-Sài gòn 1965), Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường của Lê Đình Bảng (Nxb Tự điển Bách Khoa-Hà Nội 2010), những nghiên cứu của GS-Lm Thanh Lãng, của GS Nguyễn Văn Trung ở Sài Gòn trước 1975; và gần đây, chuyên luận Văn học Công giáo từ 1620 đến nay của TS-Lm Đaminh Nguyễn Đức Thông, trình bày trong hội thảo: Bốn trăm năm hình thành và phát triển chữ Quốc ngữ trong lịch sử loan báo Tin Mừng tại Việt Nam do Ủy Ban Văn Hóa trực thuộc Hội Đồng Giám mục Việt Nam tổ chức ngày 25-26/10/2019, tại Trung tâm Mục vụ TGP Sài Gòn. Có thể nói việc nghiên cứu lịch sử Văn học Công giáo Việt Nam đã đặt những nền móng vững chắc và khai mở nhiều con đường cho nhà nghiên cứu đi sau.

NHỮNG THÀNH TỰU

Nguyễn Đức Thông

            Cho đến nay, các nhà nghiên cứu Công giáo đã thống nhất được những chặng đường của lịch sử văn học Công giáo Việt Nam với những tác giả, tác phẩm làm nên diện mạo của một thời.

Tôi chọn chuyên luận Văn học Công giáo từ 1620 đến nay của TS-Lm Đaminh Nguyễn Đức Thông (2019) để khảo sát. Chuyên luận này kế thừa được những thành tựu nghiên cứu trước đó

Tác giả  phân chia các thời kỳ của lịch sử Văn học Công giáo như sau: (tóm lược)

  1. GIAI ĐOẠN CHỚM NỞ

Nền văn học có những đặc điểm: Về hình thức có chữ Hán, chữ Nôm và Quốc ngữ, về nội dung có kinh nguyện, giáo lý, truyện tích, giáo sử, quốc sử, ngữ pháp, từ điển, văn thư, tường trình và thi ca. Tác giả là các giáo sĩ, thầy giảng và giáo dân.

Các tác giả chữ Nôm:

  1. Majorica (1591-1656): 48 tác phẩm văn xuôi chữ Nôm (ông viết nhiều tiểu

sử các thánh như Thánh tổ Inhatiô, thánh Phanxicô Xaviê, Á Thánh Phanxicô Borgea, bà Thánh Engrace, Olaya, các bà thánh đồng trinh như Agnès, Cécile, Agathe …)

2.Thầy Gioan Thanh Minh (1588 – 1663): 15 tác phẩm hạnh các thánh

3.Thầy Phanchicô (?-1640) sáng tác kinh “Cảm tạ niệm từ” (“Phục dĩ chí tôn”)

  1. Mẹ con bà Catarina: soạn nhiều Kinh nguyện
  2. Lm.Lôren Huỳnh Lâu (1656 – 1712) Tác phẩm Inê tự đạo vãn (546 câu thơ

lục bát & Song thất Lục bát) là trường ca đầu tiên được dịch sang các tiếng Anh, Pháp, Latinh

  1. Lm. Lữ Y Doãn (1613 – 1678) Sấm Truyền Ca (1670) gồm 3596 câu thơ

lục bát, ngang tầm Chinh Phụ Ngâm Khúc, Kim Vân Kiều.

Các tác giả viết bằng Chữ Quốc Ngữ

  1. Lm. Alexandre de Rhodes, 1593-1660: Phép giảng tám ngày (1651)
  2. Lm. Felippe Do Rosario Bỉnh (1759 – 1833) viết 27 quyển sách bằng văn xuôi Quốc ngữ bàn về những vấn đề thần học, triết học, lịch sử thế giới cách thấu tình đạt lý. Sách Sổ Sang chép các việc(1822) đã được Lm Thanh Lãng giới thiệu.
  3. Lm. Đặng Đức Tuấn (1806 – 1874): Nổi bật nhất là Văn tế các đẳng.
  4. Thánh Philipphê Phan Văn Minh (1815 – 1853): Phi năng thi tập.1842
  5. Phêrô Phạm Trạch Thiện (1818 – 1903) dịch Cảm tạ niệm từ sang chữ Quốc

ngữ gọi là Kinh cao sang 90 câu lục bát…,

  1. Lm. Phêrô Trần Lục (1825 – 1899): Hiếu tự ca (1088 câu thơ song thất lục bát) ; Nữ tắc thường lễ (1016 câu thơ lục b) ; Nịch ái vong ân (440 câu)
  2. Paulus Huỳnh Tịnh Của (1834 – 1907): Tác phẩm của ông có thể chia thành

ba loại: Phiên âm, dịch các truyện, thơ Nôm sang chữ quốc ngữ; sáng tác và Biên khảo. Đáng chú ý là Đại Nam quấc âm tự vị,

7.Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898): Ông là nhà văn hóa (viết117 tác phẩm).

8. J. B. Nguyễn Trọng Quản (1865 – 1911). Truyện Thầy Lazaro Phiền (1887)

được coi là  mở đầu cho tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ.

  1. GIAI ĐOẠN TỪ 1919 – 1975

Văn học Công giáo ở giai đoạn này đã phát triển rất mạnh, rất rộng cả về phẩm lẫn lượng được thể hiện trong các hoạt động sau: Báo chí, hình thành các nhóm bút. Các linh mục, giáo sư, vừa giảng dạy vừa viết sách; nhiều nhà in Công giáo xuất hiện

Các tác phẩm:

  1. Dịch Kinh Thánh: các bản dịch từng phần và trọn bộ Kinh thánh,

các sách chú giải, diễn nghĩa, các từ điển Kinh thánh có khoảng 50 tác phẩm

  1. Sách Phụng vụ, giáo lý, kinh nguyện, tu đức.
  2. Sách Thần học, triết học
  3. Thư chung của hàng giáo phẩm: Từ năm 1900 đến 1975 có khoảng hơn 50 văn kiện, thư chung, thư luân lưu và thông cáo.
  4. Giáo sử, Niên giám, Kỷ yếu, Lịch Công giáo.
  5. Tự điển, từ điển, ngôn ngữ, Biên khảo văn học nghệ thuật, báo chí.
  6. Truyện, ca, vãn, thơ, tuồng, kịch.

TRUYỆN:

Trong giai đoạn từ 1919 đến 1975 có tác giả và tác phẩm sau:

Gilbert Trần Chánh Chiếu (1867-1919): Hương cảng nhân vật (1909); tiền căn hậu báo (1914).

Jacques Lê Văn Đức (1887 – 1974): Hai chị em (1915).

Phạm Tất Cung, dịch tác phẩm Quo vadis?

Phêrô Nghĩa, tức linh mục Philipphê Lê Thiện Bá (1891 – 1981), Đôi bước lưu ly (1928); Mưa nắng mai chiều (1928); Cha giết con (1932), Nhị độ mai (1933), Biết ai thượng lưu (1942) đăng trên Nam kỳ địa phận (1928 – 1942).

Nữ sĩ Thụy An tức Lưu Thị Yến: Tiểu thuyết Một linh hồn (1940).

Cung Giũ Nguyên (1909 – 2008, gốc Hoa). Các tiểu thuyết Một người vô dụng, Ngàn đời nhớ Anh, Nung lửa thử vàng, Nửa gánh tang bồng (1928 – 1945).

Linh mục Nguyễn Duy Tôn (1919 – 1976) có 4 tiểu thuyết: Phú ninh quằn quại (1952); Hai trái cam máu (1953); Hai tâm hồn (1959); Bông huệ tươi (1959);

Nguyễn Duy Diễn (1920 – 1965) đã viết Những ngày đẫm máu (1953), tiểu thuyết đầu tiên về các thánh tử đạo.

Lm.Vũ Đình Trác (1927 – 2003) có Đời anh (1959).

Hà Châu có quyển Xóm giáo.

Nhìn chung mảng truyện Công giáo không nhiều lắm so với các thể loại khác như ca vãn hoặc thơ.

CA VÃN, THƠ:

Nhiều tác giả tên tuổi như: nhà thơ Mai Lão Bạng (1870–1942); Nguyễn Hữu Bài (1863–1935); Hồ Ngọc Cẩn (1876–1948), Nguyễn Văn Thích (1891–1979); Mai Lâm (1915– 1992), Tống Viết Toại (1875 –1958), Phạm Đình Tân (1913 –1992), Long Giang Tử (1920 –1990), Lê Thiện Bá (1891 –1981), Trần Văn Trang (1882 –1945), Nguyễn Bá Tòng (1868–1944) Nguyễn Ngọc Quang (1090–1990), Nguyễn Duy Diễn (1920–1965), Đỗ Đình (1909 –1970), Bùi Tuân (1913 –1966), Vũ Đức Trinh (1918–1964), Vũ Đình Trác (1927–2003), Nguyễn Xuân Văn (1922–2002), Hoàng Kim (1930 –1985), Hồ Dzếnh (1916 –1991), Bàng Bá Lân (1912 –1988).

Ngoài ra còn có Võ Long Tê, Phạm Đình Khiêm, An Sơn Vị, Cao Vĩnh Phan, Xuân Ly Băng, Hoàng Diệp, Trương Đình Hòe, Mai Thành, Trăng Thập Tự, Đơn Phương, Nguyễn Tầm Thường, Lê Đình Bảng… là những người đã dùng thi ca như một lời kinh nguyện, đem Chúa đến cho mọi người bằng ngòi bút thi nhân của mình. Nổi bật nhất trong số này là Hàn Mặc Tử (1912 – 1940).

Tuồng kịch Tuồng Thương khó do JB Nguyễn Bá Tòng biên soạn và dàn dựng năm 1912, dài 150 trang ba lần tái bản, được coi vở kịch nói sớm nhất tại Việt Nam, lại còn được chuyển sang thể Opéra.

III. GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1975 TỚI 2019

Khoảng từ năm 1975 đến hết thế kỷ XX, Giáo hội Công giáo miền Nam rơi vào tình trạng bi đát. Phải tới thế kỷ XXI mới có được sự chuyển mình lạc quan. Có nhiều thành tựu ở các thể loại (nêu tác giả, tác phẩm):

Kinh thánh – Phúc âm diễn ca

Thơ ca Kinh thánh. Các tác giả : Giuse Đinh Cao Thuấn 3 tác phẩm; An Sơn Vị 2 tác phẩm, Trăng Thập Tự và Xuân Ly Băng, Lê Đình Bảng là những người đã ghi tên mình vào trong văn học Công giáo

Phụng vụ, giáo lý, kinh nguyện, tu đức

Thần học, Triết học

Tự điển

Báo chí

Vãn, thơ

Thể loại Vãn hầu như đã chết, Từ năm 1976 đến nay vẫn chỉ có một bài duy nhất, Trường ca Anrê Phú Yên, Trăng Thập Tự, 1976. Đã xuất hiện rất nhiều nhà thơ mới như Vũ Hoàng Chương, Phạm Câu Diên, Bách Huyền, Nguyễn Tầm Thường, Nhất Tuấn, Từ Khang Yến, Thanh Huệ, Xuân Thu, Hoàng Khánh, Lý Thụy Ý, Diệp Đình, Đình Quang, Minh Quân, Mai Thành, Minh Quân, Phanxicô, Cao Huy Hoàng, Lê Minh Bình Dương….

Truyện

Nguyễn Tầm Thường với cả chục tác phẩm; Nguyễn Đức Thông với 6 tác phẩm cả truyện ngắn lẫn tiểu thuyết; đặc biệt Song Nguyễn với 14 tác phẩm (truyện dài và các tập truyện ngắn)

Kết luận: Suốt 400 năm qua, ở đâu có người Công giáo, ở đó có văn học Công giáo, sử dụng chữ quốc ngữ để loan báo tin mừng, đối thoại với các tôn giáo khác. Hiện nay điều quan trọng cần đặt ra là làm thế nào để các trang mạng Công giáo ngày càng có giá trị Công giáo và văn học hơn.

NHỮNG VẤN ĐỀ

Nhà nghiên cứu VHCG++

Từ chuyên luận của TS-Lm Nguyễn Đức Thông tôi có một số suy nghĩ.

  1. Cần khẳng định văn chương Công giáo trong lịch sử văn chương dân tộc.

Các nhà nghiên cứu như Võ Long Tê, GS-Lm Thanh Lãng, GS Nguyễn Văn Trung, nhà nghiên cứu Lê Đình Bảng, TS-Lm Nguyễn Đức Thông… đã dày công nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật, khảo sát đánh giá để có thể làm hiện lên diện mạo văn học Công giáo trong tiến trình lịch sử từ khi đạo Công giáo truyền vào Việt Nam đến nay. Phần lịch sử văn học này, trước đây do nhiều nguyên nhân, các nhà nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam đã chưa quan tâm đầy đủ.

Các công trình nghiên cứu này cũng đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu cho những ai yêu mến văn học Công giáo và văn học dân tộc. Vì rằng, mới chỉ một Hàn Mặc tử được nghiên cứu sâu sắc. Những trí thức Công giáo như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký được nói đến nhiều là ở phương diện văn hóa hơn là văn chương. Còn lại hầu hết các tác giả khác được chưa được nghiên cứu cặn kẽ.

Dù vậy, với những gì đã làm được, các nhà nghiên cứu đều đã khẳng định văn chương Công giáo đem đến cho văn chương dân tộc những điều mới mẻ về tư tưởng và nghệ thuật.

Chẳng hạn, văn chương dân tộc thời trung đại đặt trên nền tảng tư tưởng Phật, Nho, Lão, dựa vào nguồn chất liệu văn chương cổ điển Trung Quốc (quan điểm văn chương, kiểu tư duy nghệ thuật, thể loại, điển tích, ngôn ngữ…); Văn chương Công giáo đem vào Thần học Công giáo, chất liệu Kinh Thánh, kiểu tư duy nghệ thuật từ Kinh thánh, Thánh vịnh và kiểu ngôn ngữ “nhà đạo”…

Thử so sánh 1Jpeg

Kết thúc truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh), Nguyễn Du cho rằng nỗi thống khổ của Kiều là do trời (Thiên mệnh của Nho giáo). Ông giải quyết tư tưởng “tài mệnh tương đố” bằng chữ Tâm của Phật giáo (“Tâm tức Phật/ Phật tức tâm”), bởi vì Phật giáo là đạo cứu khổ. Ngôn ngữ của Nguyễn Du là ngôn ngữ tư tưởng (Thân, mệnh, nghiệp) pha trộn với ngôn ngữ bình dân (tài liền với tai).

Lm Felippe Do Rosario Bỉnh “Tìm thấy Câu rút” là tìm thấy Thánh giá; tìm thấy Ơn Cứu độ từ Chúa Con. Nội dung bài thơ là những tín niệm Thần học Thiên Chúa giáo, với ngôn ngữ “nhà đạo”,  hoàn toàn mới so với tư tưởng của Nguyễn Du.

Một so sánh khác: Hình ảnh người phụ nữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu và trong Inê tử đạo vãn (562 câu lục bát-khuyết danh) -in trong Dictionarium Latino-Anamiticum của Jean Louis Taberd. 1838.

Cả Thúy Kiều và Kiều Nguyệt Nga đều là nhân vật Trung Quốc (Kiều Nguyệt Nga là nhân vật do Nguyễn Đình Chiểu sáng tạo). Kiều sống vào thời “Gia Tĩnh triều Minh”. Kiều Nguyệt Nga sống thời Sở Vương (?-489 TCN). Cả hai được miêu tả theo nghệ thuật ước lệ. Thúy Kiều là thân phận nô lệ cam chịu (“Thoắt buôn về, thoắt bán đi/ Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”). Nguyệt Nga là người phụ nữ tiết hạnh (“Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”). Cả hai sinh trưởng một gia đình trung lưu, thuần thục Tam tòng, tứ đức, và là những nhân vật lý tưởng của Nho gia. Trái lại, Inê tử đạo là một phụ nữ Việt Nam bình thường, được viết bằng bút pháp hiện thực. Thời cấm đạo, bà bị bắt vào tù, bị đánh đập tra tấn, chồng con vào thăm khuyên bỏ đạo nhưng vẫn kiên quyết theo Chúa tới cùng. Đó là người phụ nữ trung liệt với đức tin. Lý tưởng của bà là Nước Trời. Inê trả lời quan tra xét:

“… Chúng tôi giữ đạo Chúa Cha nhơn từ
Thật đàng công chính chẳng tư…
Tôi đâu dám bỏ công phu ngãi người.
Mặc ông tha, giết hai lời
Tôi thà chịu chết cõi trời nên công
Giết tha thì mặc lượng ông
Kim thạch là lòng chẳng chậy mỗ phân.”

Rõ ràng Inê là nhân vật người phụ nữ mới trong văn học đương thời so với Thúy Kiều và Kiều Nguyệt Nga cả về nội dung tư tưởng và bút pháp.

Gs Nguyễn Văn Trung (Lục Châu Học) ghi nhận: “Chúng tôi tìm thấy trong số 4400 trang chữ nôm cuả Maiorica (đầu thế kỷ XVII) có 1675 trang chép Truyện Các Thánh, bản chép hiện giữ tại Thư viện Quốc gia Paris, và Thanh Lãng có bản chụp, rất nhiều chuyện đáp ứng trong chừng mức nào đó những tiêu chuẩn viết truyện bằng văn xuôi theo lối tây phương. Chẳng hạn có một truyện dài gần 30 trang rất giống Quan Âm Thị Kính”. GS Nguyễn Văn Trung cũng đã phân tích Truyện Thầy Lazarô Phiền chỉ ra nhữ đặc sắc lối viết tiểu thuyết phương tây của Nguyễn Trọng Quản, làm thay đổi cách viết của Hồ Biểu Chánh (Lục Châu học-Chương 2: Diễn tiến truyện văn xuôi quốc ngữ).

Và có lẽ nên đọc thêm những bài viết về thơ Hàn Mặc Tử của Hoài Thanh- Hoài Chân, Võ Long Tê, Thụy Khuyê, Đặng Tiến, Nguyễn Hữu Sơn, Lương Tú Tuấn…để thấy thơ văn Công giáo đem đến cho văn học dân tộc nhiều điều mới mẻ.

  1. Nhiều vấn đề cần được nhận thức chuyên sâu hơn.
  2. Hầu hết các tác giả nghiên cứu lịch sử văn học Công giáo Việt Nam chưa xác lập được thế nào làNhà văn Công giáo”, thế nào làtác phẩm văn chương Công giáo”. Vì thế mới đưa tất cả những người Công giáo cầm bút và tác phẩm của họ vào “lịch sử văn học Công giáo”. Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký là nhà văn hóa. 14 bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, sách của Trương Vĩnh Ký, các bản dịch Kinh Thánh, sách kinh nguyện, sách tự điển, kể cả kỷ yếu, sách lịch, báo chí vv… không phải là “tác phẩm văn chương”, mà chỉ là văn hóa phẩm.

Vì không xác lập những đối tựng nghiên cứu cơ bản nên mới có mâu thuẫn. Tác giả, tác phẩm được liệt kê ra khá nhiều, nhưng tìm những tác phẩm văn chương đích thực như Truyện Thầy Lazaro Phiền và những nhà thơ như Hàn Mặc Tử thì rất hiếm; gọi tác giả nào đó là nhà thơ, nhà văn Công giáo đích thực thì ít người dám khẳng định.

Võ Long Tê và Lm Nguyễn Đức Thông có đặt vấn đề văn chương Công giáo, nhà văn Công giáo, nhưng ý kiến của các vị, về lý thuyết, tiếp cận được với chân lý của vấn đề, song trong thực tiễn nghiên cứu, các vị lại không áp dụng những tiêu chí của mình để nghiên cứu văn chương Công giáo. Cho nên các vị đưa cả sách tự điển, kỷ yếu, thư chung… vào mục “tác phẩm” văn học Công giáo, đưa những nhà văn hóa như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của vào danh sách “nhà văn” Công giáo. (Mặc dù GS Nguyễn Văn Trung cho biết: Trương Vĩnh Vĩnh Ký viết nhiều tác phẩm, nhưng có rất ít bài viết về Công giáo).

Võ Long Tê nói về sứ mạng của nhà văn Công giáo như sau: “nhà văn có sứ mạng truyền bá đức tin. Nguyễn Đức Thông cũng một ý ấy: “Sứ mạng của văn sĩ Kitô giáo là truyền bá đức tin, sử dụng văn học làm công cụ thể hiện và truyền giảng đức tin Công giáo, diễn tả đức tin qua ngòi bút và nghệ thuật của mình.”

Nhà văn là những Linh mục Công giáo viết để “truyền bá đức tin” là điều tự nhiên, vì sứ vụ của Linh mục là rao giảng Tin Mừng. Nhưng người giáo dân sống giữa đời, ơn gọi của họ là trở nên “muối – men” cho đời. Họ “sống Phúc âm giữa lòng dân tộc”, họ Phúc Âm hóa môi trường bằng chính đời sống của họ, và nếu viết tác phẩm văn chương, thì họ viết về chính môi trường của họ với diễn ngôn của nhân chứng Tin Mừng.

Thiết nghĩ, khi trở thành một công cụ thì văn chương đã đánh mất bản chất của mình. Bởi văn chương là nghệ thuật. Tức là sự sáng tạo cái đẹp bằng ngôn từ. Nhà văn là người sáng tạo cái đẹp bằng chữ, bằng lời (khác với nhạc sĩ sáng tạo cái đẹp bằng âm thanh, họa sĩ sáng tạo cái đẹp bằng màu sắc, đường nét..). Nhà văn sáng tạo những hình tượng đẹp, thể hiện những tư tưởng đẹp, tìm tòi những tứ thơ mới lạ, khai mở những cách diễn đạt mới… Thí dụ hình tượng Inê trong Inê tử đạo là một hình tượng mới, với vẻ đẹp mới, đó là hình tượng văn học (đã so sánh ở trên).

Cốt lõi của tác phẩm văn chương là tư tưởng, là thái độ diễn ngôn của tác giả, là giọng điệu và cách thể hiện. Nhà văn Công giáo hay tác phẩm văn chương Công giáo phải thể hiện tư tưởng của Kinh Thánh (tư tưởng Thần học, tư tưởng Nhân văn Công giáo). Thiếu điều này không thể được coi là văn chương Công giáo.

Tư tưởng sâu sắc nhất trong Kinh Thánh là tư tưởng Nhân văn Công gíao. Kinh Thánh nhìn Con người trong bản thể Thiên Chúa, “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa…Thiên Chúa ban phúc lành cho họ..”(St 1, 27-28). Lòng yêu thương Con người làm điều răn quan trọng. Con người ở đây trước nhất là những con người nghèo khổ. “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.” (Mt 5,3). Và kết thúc trong ngày cánh chung, Chúa cũng hướng về người nghèo khổ (Mt.25.35-40). Vì thế yêu thương Con người với tư cách Con người mang bản thể của Thiên Chúa, đó là cốt lõi của tư tưởng Nhân văn Công giáo. Đức Giêsu dạy : …”ngươi phải yêu người thân cận như chính mình (Mt.22.37-39).

Như vậy để nhận ra một tác phẩm văn chương có mang “tính Công giáo” hay không, thì cốt lõi của tác phẩm phải là tư tưởng Nhân văn Công giáo, tất nhiên còn cần phải xét đến thái độ diễn ngôn của tác giả và cả nghệ thuật thể hiện nữa.

Trong thực tiễn đời sống văn chương, nhiều tác phẩm lấy đề tài Công giáo, miêu tả sinh hoạt của các tu sĩ, linh mục, giáo dân Công giáo, nhưng tư tưởng của tác phẩm chống lại Công giáo. Có những tác phẩm đã từng bị Giáo hội cấm. Chẳng hạn: Nhà thờ Đức Bà Paris của V. Hugo, Những con chim ẩn mình chờ chết của Colleen McCulough. Mật mã Davinci của Dan Brown;  Cám dỗ cuối cùng của Chúa của Nikos Kazantzakis, Bão biển của Chu Văn, Cha và Con và của Nguyễn Khải…

Vì thế các nhà nghiên cứu cần xác lập cho được nội hàm “Nhà văn Công giáo”, “Văn chương Công giáo” thì việc nghiên cứu mới có thể thấu đáo.

Hơn nữa cần có một “cơ chế”  xác định tác giả nào là nhà văn Công giáo. Về âm nhạc có Ban Thánh nhạc, về Mỹ thuật có Ban Nghệ thuật thánh nhưng không có Ban Văn học Công giáo. Người viết văn làm thơ Công giáo hoàn toàn là tự phát, đơn độc.

  1. Nội hàm của “Lịch sử văn học Công giáo” chưa chuẩn. Các công trình nghiên cứu mới chỉ đưa ra cái nhìn lịch sử về văn học Công giáo, chứ chưa khẳng định được “Lịch sử văn học Công giáo”.

Lịch sử là một dòng chảy liên tục. Lịch sử văn học là dòng chảy của những trào lưu văn học, sự kế tiếp nhau của các kiểu tư duy nghệ thuật, sự xuất hiện những tác giả mới tác phẩm mới tạo nên một diện mạo mới, một thời kỳ mới khác hẳn với thời kỳ trước đó. Điều này chưa được làm rõ trong phân lỳ lịch sử văn học Công giáo. Nói cách khác, lịch sử văn học vận động bằng chính những yếu tố nội tại của nó, đặc biệt về tư tưởng và kiểu tư duy nghệ thuật.

Chẳng hạn văn học Việt Nam giai đọan từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX (1740-1858) hoàn toàn khác với giai đọan trước đó và sau đó. Ở giai đọan này, về tư tưởng, chủ nghĩa nhân đạo là dòng văn học chính. Về nghệ thuật, nhiểu thể loại văn học mới xuất hiện: truyện thơ nômkhúc ngâm (truyện Kiều, Chinh Phụ ngâm), Ký sự (Thượng Kinh ký sự), Tuỳ bút (Vũ trung tùy bút), Tiểu thuyết lịch sử (Hoàng Lê nhất thống chí). Nhân vật người phụ nữ được tập chú thể hiện. Giai đoạn sau (Từ 1858 đến đầu thế kỷ XX) văn học Việt Nam chuyển hẳn sang văn học yêu nước chống Pháp với quan niệm văn chương chiến đấu (Nguyễn Đình Chiểu)…

Các công trình “Lịch sử văn học Công giáo” chưa xác lập rõ các thời kỳ phát triển của văn học Công giáo. Thí dụ. TS-Lm. Nguyễn Đức Thông  xác lập một thời kỳ dài từ 1919 đến 1975 không căn cứ trên một tiêu chí phân kỳ khoa học nào. Nếu lấy văn học Công giáo viết bằng chữ Quốc Ngữ thì phải tính từ Lm. Felippe Do Rosario Bỉnh (ít nhất là từ 1822). Nếu lấy theo nội dung văn học Công giáo, thí dụ về hạnh các thánh thì phải kể từ Majorica (năm 1634 ông soạn tiểu sử thánh Inhatiô, các bà thánh Đôrotê, Bacbara, Lutia, Agnès, Agata, Xébastianô, các thánh Faustin và Jovite Job, và nhiều vị thánh khác), hoặc Sấm Truyền Ca của Lữ Y Doãn (1613 – 1678), vì từ đó cho đến nay (2019) việc diễn ca Kinh Thánh vẫn là một dòng chảy của văn chương Công giáo, không có sự vận động nào khác về tư tưởng và kiểu tư duy nghệ thuật.

Trong khi đó, giai đoạn từ 1919 đến 1975 văn học dân tộc đã vận động qua nhiều kiểu tư duy nghệ thuật và tiếp cận được với văn học thế giới. Từ văn chương cổ điển (đầu thế kỷ XX) sang văn chương Lãng mạn, Tượng trưng, Siêu thực, văn chương Hiện thực phê phán (1930-1945), văn chương Hiện thực xã hội chủ nghĩa (1945-1975) với những kiểu sáng tác đặc trưng và nhiều thế hệ tác giả tiêu biểu.

Văn chương Công giáo không có sự vận động nghệ thuật này (ngoại trừ Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản và thơ Hàn Mặc Tử). Văn chương Công giáo Việt Nam chưa có một hệ thống mỹ học riêng, chưa có hệ thống lý thuyết văn học riêng, chưa hình thành các trường phái, trào lưu như văn học thế tục (thí dụ Mỹ học Thiền, Chủ nghĩa Lãng mạn, Chủ nghĩa Hiện thực phê phán, Chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo…). Chính ở đặc điểm này, chúng ta chỉ có thể nói các công trình đã nghiên cứu về lịch sử văn học Công giáo là “cái nhìn lịch sử về văn chương Công giáo” mà chưa khẳng định được “Lịch sử văn chương Công giáo”.

Đây chính là trăn trở của nhiều nhà nghiên cứu. Lm. Giuse Trương Đình Hiền trong “Tọa đàm-thơ-Nhạc phát huy văn học nghệ thuật Anrê Phú Yên” tại Trung tâm Mục vụ Tổng hợp Anrê Phú Yên, giáo xứ Tuy Hòa. Tác giả đã đặt vấn đề “Có hay không một truyền thống văn học Công giáo tại Việt Nam?”

  1. Cần đối chiếu với lịch sử văn học dân tộc khi xem xét đánh giá văn học Công giáo. Văn chương nghệ thuật là một thành tố của văn hóa cộng đồng. Nó quan hệ trực tiếp với các thành tố khác như ngôn ngữ, tư tưởng, chính trị, lịch sử, phong tục, tập quán, lối sống vv…Vì thế không thể tách rời văn chương Công giáo với lịch sử dân tộc, văn học dân tộc. Chỉ khi định vị được văn chương Công giáo ở đâu trong lịch sử dân tộc, trong văn chương dân tộc, trong lúc ấy mới có thể xóa được định kiến văn chương Công giáo đứng ngoài văn chương dân tộc. Bằng chứng là việc nghiên cứu văn chương Công giáo đã không được các nhà nghiên cứu văn chương dân tộc quan tâm.

Xin thử đối chiếu văn chương Công giáo và văn chương dân tộc ở chặng đường thế kỷ XVI-XVII:

Thử so sánh 2 jpeg

 Nhìn vào bảng so sánh trên, ta nhận ra nhiều điều.

Văn chương Công giáo phát triển song song với văn chương dân tộc. Sấm Truyền Ca (3596 câu thơ lục bát) của Lữ Y Doan đồng thời với Thiên Nam Ngữ lục (8.136 câu thơ lục bát) và trước Đoạn trường tân thanh (3254 câu lục bát) của Nguyễn Du, Đại Nam quốc sử diễn ca (1887 câu lục bát).

Văn chương quốc ngữ Công giáo đi trước văn chương quốc ngữ dân tộc khá xa. Thí dụ, cuốn Sách sổ sang chép các việc của Lm Felippe Do Rosario Bỉnh được viết năm 1822, trong khi đó Nguyễn Công Trứ, Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Đại Nam quốc sử diễn ca vẫn sáng tác bằng chữ Nôm.

Văn học dân tộc phát triển đỉnh cao tư tưởng và nghệ thuật ở nhiều thể loại như: Diễn ca lịch sử (Thiên Nam ngữ lục), Truyện văn xuôi chữ Hán (Truyền kỳ mạn lục), Truyện thơ Nôm (Đoạn trường tân thanh), Tùy Bút (Vũ trung tùy bút), Ký sự (Thượng kinh ký sự), Hát nói (Nguyễn Công Trứ), trong khi văn chương Công giáo không có tác phẩm đỉnh cao nào cả về tư tưởng và nghệ thuật, ngoại trừ Sấm Truyền Ca (3596 câu thơ lục bát).

Văn chương dân tộc phản ánh khá rõ hiện thực lịch sử dân tộc (thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Truyền kỳ mạn lục, Thượng Kinh Ký sự, Vũ trung tùy bút, Hoàng Lê Nhất thống chí…), còn văn chương Công giáo chỉ thấp thoáng phản ánh hiện thực của người Công giáo. Thí dụ các sáng tác của Lm Đặng Đức Tuấn: Việt Nam giáo sử diễn ca, Văn tế giáo dân tử nạn, Văn tế các Đẳng linh hồn, Giáo nạn trong quốc biến…

Hai dòng chảy chính của văn học dân tộc trong suốt lịch sử là Văn chương Nhân đạo chủ nghĩaVăn chương yêu nước. Sẽ rất khó tìm được một nhà văn, nhà thơ Công giáo cùng với tác phẩm của họ trong hai dòng chảy này (ngoại trừ Hàn Mặc Tử. Người ta ca ngợi Hàn Mặc Tử vì thơ của ông đóng góp cho sự phát triển của thơ ca dân tộc, chứ không ca ngợi ông là nhà thơ Công giáo). Theo Gs Nguyễn Văn Trung (Lục Châu học), thơ của thánh Phan Văn Minh (Phi năng thi tập, Vịnh Evang), có 4 bài đặc biệt tố cáo Pháp lợi dụng đạo Thiên Chúa để xâm chiếm Việt Nam. Đó là một chi tiết hiếm hoi. Chúng ta có nhiều trí thức Công giáo có tinh thần dân tộc, song nhà văn nhà thơ Công giáo mà tác phẩm của họ chung giòng với văn học dân tộc thì còn hiếm. Chính điều này đã tạo ra định kiến rằng văn học Công giáo đứng bên lề văn học dân tộc, hoặc xa lạ với văn học dân tộc. Không biết đến bao giờ văn chương Công giáo mới hội nhập được với văn chương dân tộc?

  1. Cần có cái nhìn lịch sử dựa trên lập trường của Giáo hội và tinh thần dân tộc khi đánh giá các tác giả văn học Công giáo. Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Vy Khanh nhận xét: “Lữ-y Đoan chứng tỏ giới linh mục, tu sĩ thời đó có tinh thần độc lập, tự chủ, tự hào về văn hóa Việt Nam”. Ông kết luận “Tóm một chữ, người công giáo Việt-Nam, các giáo dân cũng như các văn-nghệ sĩ, đã và luôn sống đạo với tinh thần dân-tộc; riêng các vị sau đã sáng tác, làm văn-chương và đã thể hiện đức tin một cách chân thành và sâu sắc qua tác-phẩm”[1]. Vì thế, giới nghiên cứu chú ý đến trước tác của các tác giả yêu nước gắn bó với dân tộc như thánh Phan Văn Minh, Giám mục Hồ Ngọc Cẩn. Lm Đặng Đức Tuấn được gọi là là “một trang quốc sĩ”; “Những di thảo của Linh mục Đặng Đức Tuấn để lại cho thấy tinh thần yêu nước của một người Công giáo Việt Nam, biết kết hợp hai lý tưởng Thiên Chúa và Tổ quốc”[2] ; và cũng dễ hiểu khi có những ý kiến phản đối A.Rhodes về những thành kiến của ông với Phật giáo, với việc thờ cúng tổ tiên của người Việt (Phép giảng tám ngày). Cũng vậy, có nhiều ý kiến trái ngược về hoạt động của Trương Vĩnh Ký[3], về Lm. Trần Lục [4]…
  2. Hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện văn chương Công giáo đương đại. Lác đác có một vài bài giới thiệu riêng lẻ. Nhà nghiên cứu Nguyễn Vy Khanh có giới thiệu được “Đôi nét về văn học Công giáo”[đd]. Ông nhắc đến các tác giả văn xuôi đương đại như: Thụy An Hoàng Dân, Nguyễn Thạch Kiên, Nguyễn Duy Diễn, Lm Petrus Vũ Đình Trác, Bùi Hoàng Thư, Hà Thúc Sinh, Quyên Di, Đường Phượng bay; các tác giả thơ: Giám mục Hồ Ngọc Cẩn, Lm Sảng Đình Nguyễn Văn Thích, Hàn Mặc Tử, Quách Thoại, Phạm Đình Tân, Lm Vũ Đức Trinh, Đức ông Xuân Ly Băng, Lm. Trăng Thập Tự, Lm. Nguyễn Tầm Thường, Lệ Khánh, Trần Vạn Giã, Cao Huy Hoàng.

Do đâu có tình trạng này?

Nhà nghiên cứu Lê Đình Bảng cũng tự xác nhận: “Chúng tôi chỉ biết chắc họ là những ngưởi Công giáo Việt Nam cầm bút, viết truyện. Còn nội dung tác phẩm có tính Công giáo hay không, vì chưa đủ tư liệu chính xác, xin đón nhận ý kiến bổ sung” [5] Có lẽ phải chờ nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu kế tiếp.

Một phần vì chưa xác định được ai là  nhà văn Công giáo đích thực, tức là người sáng tạo cái đẹp bằng ngôn ngữ, có tư tưởng thẩm mỹ riêng, có cốt cách văn chương riêng, và tác phẩm gây được ảnh hưởng với cộng đồng; một phần vì Giáo hội chưa đặt hoạt động văn học thành Mục vụ văn hóa và có những hoạt động hỗ trợ, nên các tác giả chỉ làm việc riêng lẻ, tự phát.

Văn chương Công giáo đương đại có những khuôn mặt rất đáng được nghiên cứu, bởi sáng tác của họ đã có những bước chuyển rất khác so với trước kia. Chẳng hạn, thơ của Xuân Ly Băng, thơ Lê Đình Bảng, thơ Trăng Thập Tự, truyện dài của Song Nguyễn… 14 tập truyện của Song Nguyễn (gồm truyện dài và tuyện ngắn)[6] phản ánh sử thi về cuộc sống người Công giáo Việt Nam suốt từ trước 1945 đến trước đổi mới (1986), xây dựng được hình tượng người Mục tử hết lòng vì đoàn chiên trong những biến động lớn lao của lịch sử. Có lẽ trước đây chưa tác giả Công giáo nào đạt được những chiều kích văn chương như thế.

Văn học Việt Nam đương đại cũng có một số tác phẩm sử dụng yếu tố tâm linh tôn giáo, trong đó có Thiên Chúa giáo như Cơ Hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà, Đêm thánh vô cùng của Sương Nguyệt Minh, Con gái thủy thần của Nguyễn Huy Thiệp, Dưới cái cây ánh sáng của Nguyễn Quang Thiều (một bài ca tráng lệ về con người hiện sinh khi tác giả chiêm ngắm cây Thánh giá) … Tuy nhiên cũng chưa có nhà nghiên cứu Công giáo nào xem xét yếu tố tâm linh Thiên Chúa giáo được các tác giả khai thác như thế nào và hướng đến mục đích gì? Khác thế nào với Bão biển của Chu Văn, Cha và Con và của Nguyễn Khải trước kia?

Nhà văn Công giáo hôm nay viết gì?

Thử đọc Thuật tích việc nước Nam xem Lm. Đặng Đức Tuấn viết những gì?[7] Phần thứ nhất ngài kể lịch sử truyền đạo Công giáo ở Việt Nam từ khi người Bồ Đào Nha đến truyền giáo dưới triều Lê Vĩnh Tộ, đến khi người Pháp nhận việc truyền giáo ở Việt Nam vào thời Cảnh Hưng, kể việc giám mục Bá Đa Lộc giúp Nguyễn Ánh, kể các cuộc cấm đạo Minh Mệnh thứ 13 (1832), Thiệu Trị thứ 7 (1847), Tự Đức thứ 9 (1856), Tự Đức thứ 11 (1858). Những cuộc cấm đạo đó đã gây ra bao nhiêu đau khổ cho giáo dân. Tác giả cũng kể lại tên các giáo sĩ, giáo dân đã tử vì đạo với những lời thương xót và ca ngợi. Phần thứ hai, Linh mục Đặng Đức Tuấn tự thuật về cuộc đời mình, từ khi ông bị bắt cho đến khi được thả. Năm 1862, ông bị bắt bị tra tấn đến nỗi không tự đi được nhưng vẫn không thay đổi lập trường. Rồi ông được mời vào Huế, ra mắt Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp. Vua ra lệnh xét hỏi ông về hai việc: Về văn nguyên đạo Gia Tô và về duyên cớ hành động của quân Pháp. Sau đó ông yêu cầu làm tờ trình lên vua, được cử làm phái viên phụ tá hai ông Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp ký Hiệp ước 1862. Phần cuối ông kể về cuộc thương lượng và ký kết. Xong việc ông trở về Huế. Các giáo dân bị bắt dần dần được tha và Linh mục trở về quê.

Lại đọc thơ Hàn Mặc Tử xem nhà thơ viết những gì? Hoài Thanh-Hoài Chân trong Thi Nhân Việt Nam thuật lại [8]: Gái Quê tả tình quê trong cảnh quê. Lời thơ dễ dàng, tứ thơ bình dị. Hương thơm: Ta bắt đầu bước vào một nơi ánh trăng, ánh nắng, tình yêu. Mật đắng: Ta vẫn đi trong mờ mờ. Nhưng thỉnh thoảng một luồng sáng lạ chói cả mắt. Ta bắt gặp dấu tích còn hoi hóp của một tình duyên vừa chết yểu. Máu cuồng và Hồn điên: Ta thấy những gì chung quanh ta? Trăng, toàn trăng. Xuân như ý: mùa xuân Hàn Mạc Tử nói đây có khi ở đâu hồi trời đất mới dựng lên, có khi ra đời một lần với chúa Jésus, có khi hình như chỉ là mùa xuân đầu năm… đầy dẫy những lời kinh cầu nguyện, những hương đức hạnh, hoa phẩm tiết, nhạc thiêng liêng, cùng ánh trăng, ánh thơ. Nhất là ánh thơ. Thượng thanh khí ghi lại những cảnh đã thấy trong chiêm bao, ở đâu giữa khoảng các vì tinh tú trên kia …

Sau khi ghi lại nội dung các tập thơ của Hàn Mặc Tử, Hoài Thành-Hoài Chân cảm nhận: “Với Hàn Mạc Tử Chúa gần lắm. Người đã tìm lại những rung cảm mạnh mẽ của các tín đồ thời thượng cổ…thơ Hàn Mạc Tử ra đời, điều ấy chứng rằng đạo Thiên Chúa ở xứ này đã tạo ra một cái không khí có thể kết tinh lại thành thơ”.

Tôi vừa dẫn hai tác giả văn chương Công giáo để khảo sát xem nhà văn nhà thơ Công giáo viết những gì, viết như thế nào và viết để làm gì; đồng thời xem hiệu quả văn chương với đời sống.

Có thể nhận thấy ở 2 tác giả trên, phạm vi đề tài, nội dung rất rộng và rất phong phú. Từ những trải nghiệm cá nhân đến những sự kiện và sự vận động của thời đại và lịch sử lớn lao; từ hiện thực vươn lên thế giới siêu thực, từ những đau khổ hiện sinh đạt đến cõi tâm linh cao rộng. Những gì Lm Đặng Đức Tuấn miêu tả về lịch sử thời đại mình có cả những điều mà hôm nay gọi là những vấn đề “nhạy cảm”. Qua đó thể hiện một thái độ sống đạo hết sự trung thực và “dũng cảm”, một lòng tin kiên trung và trình độ nhận thức mang tầm vóc thời đại. Khi được xét hỏi về 2 việc: Về văn nguyên đạo Gia Tô và về duyên cớ hành động của quân Pháp, Lm Đặng Đức Tuấn nói về đạo:

“Đạo dạy thờ Chúa linh thiềng

Dựng nên trời đất cầm quyền tử sinh

Hễ người thời có tính linh

Giữ lối đạo chính trường sinh cõi trời

Đạo dạy thờ vua dưới trời

Vì vua thay mặt chúa trời trị dân

Đạo dạy thảo kính sinh thân

Cù lao báo nghĩa tư cần đền ơn

Đấy là ba đấng trọng hơn

Hội ra quân phụ có quyền khác nhau.

Nói vể giặc Pháp:

“Như giặc bởi nước Rô Ma

Thì tôi cam chịu đạo qua phá rầy

Vốn nay chẳng phải làm vây

Lãng Sa nước khác đến gây chiến trường

Giặc này tôi chẳng biết tường

Nhưng mà ước cũng tìm đường lợi danh

Vậy nên gây cuộc chiến tranh

Nói đi giảng đạo hoành hành lao niên…”

Ta hiểu được tại sao Lm Đặng Đức Tuấn đang từ thân tù tội lại thuyết phục được vua quan nhà Nguyễn, và được mời tham gia phái đoàn thương thuyết của Phan Thanh Giản.

Còn đối với Hàn Mặc Tử, trải nghiệm đau thương giúp nhà thơ nhận ra điều kỳ diệu mà người đời thường không thể tiếp cận được. “Với Hàn Mạc Tử thơ có một sự quan hệ phi thường. Thơ chẳng những để ca tụng Thượng Đế mà cũng để ban ơn phước cho cả thiên hạ. Cho nên mỗi lần thi sĩ há miệng – sao lại há miệng? – cho thơ trào ra, làm chín từng mây náo động, muôn vì tinh tú xôn xao…Hàn Mạc Tử đã dựng riêng một ngôi đền để thờ Chúa. “[Hoài Thanh-Hoài Chân-đd]

Nếu nhà thơ nhà văn Công giáo hôm nay chỉ quanh quẩn trong những tâm tình cá nhân thì không biết bao giờ mới theo được Lm Đặng Đức Tuấn và Hàn Mặc Tử!

Trong Kinh Thánh, Đức Giêsu kể rất nhiều dụ ngôn. Thực chất đó là những truyện ngắn giàu ý nghĩa tư tưởng, và nghệ thuật, có sức khai mở tâm linh. Xin đọc dụ ngôn người Samari tốt lành (Lc.10.29-37), Dụ ngôn người cha nhân hậu (Lc 15, 11-32), dụ ngôn về ông nhà giàu và ông Lazarô nghèo (Luc. 16, 19-31)…

Học tập Thầy Giêsu, học tập Kinh Thánh, nhà văn Công giáo có thể viết về mọi đề tài, mọi vấn đề, viết về mọi cảnh ngộ, về mọi kiếp người, chỉ với một điều kiện, ngòi bút phải được soi dẫn bằng ánh sáng Kinh Thánh (tư tưởng Thần học và tư tưởng Nhân văn Công giáo). Nhà văn lăn vào đời sống để sống và viết, như Đức Giêsu nhập thể làm người, ở giữa mọi người, lên tiếng về mọi vấn đề, sẻ chia mọi nỗi niềm, nhận lấy Thập giá gánh tội cho nhân loại.

Đã có những tiếng nói đầy nhiệt thành với hoạt động văn học Công giáo, song chưa có sự đồng vọng. Trong đêm thơ “Trăng Thập Tự –  Thơ và Nguồn Đạo” được tổ chức tại Hoa Viên Hiệp Nhất, Dòng Chúa Cứu Thế, 38 Kỳ Đồng, Q. 3, Sài Gòn, tối Thứ Ba, 16-5-2006, nhà thơ-Lm Trăng Thập Tự chia sẻ rằng có một “lỗ hổng về sáng tác văn học nghệ thuật trong lòng Giáo Hội Việt Nam”; rằng “Trên trang mạng Việt Nam Thư Quán, có khoảng 420 tác giả thơ, trong đó phía Công Giáo chỉ một người duy nhất có mặt là Hàn Mặc Tử.”; và bày tỏ sự lo lắng: “Chúng con mong tìm được nhiều khuôn mặt trẻ quan tâm tới văn học nghệ thuật Công Giáo, nhưng không biết hỏi ở đâu”.

Nhà thơ-Lm Trăng Thập Tự có những đề xuất hết sức tâm huyết. Chẳng hạn: “Đã có Năm Truyền Giáo, Năm Thánh Thể, Năm Lời Chúa, có lẽ rồi chúng ta phải thỉnh cầu HĐGMVN phát động một số năm mục vụ liên quan đến văn hoá, chẳng hạn về Văn Học Nghệ Thuật;… vận động HĐGMVN thực hiện một Giải Văn Học Nghệ Thuật… Tuy nhiên, chẳng hy vọng gì sáng kiến được quan tâm”.

Quả thật, từ 2006 đến nay tình hình hoạt động văn học nghệ thuật Công giáo chưa có gì khởi sắc ngoài những nỗ lực riêng của một vài giáo phận. Đó là các giải thưởng văn học của Ban Văn hóa giáo phận Quy Nhơn (Giải Viết văn đường trường…), Giải Văn hóa Nghệ thuật Đất Mới của Ban Văn hóa giáo phận Xuân Lộc,… bước đầu tạo sự gặp gỡ, chia sẻ, tạo môi trường sáng tác cho người cầm bút Công giáo hiện nay.

MỘT HƯỚNG NHÌN VỀ TƯƠNG LAI

            Muốn có một nền văn học, nhất thiết phải có tác giả, tác phẩm. Khát vọng và hoạt động văn học nghệ thuật của nhà thơ-Lm Trăng Thập Tự cần được phát huy. Tức là cần tổ chức các giải thưởng văn học để phát hiện các tài năng và bồi dưỡng các tài năng trẻ làm vốn cho tương lai. Các giải thưởng của Ban Văn hóa giáo phận Quy Nhơn và Ban Văn hóa giáo phận Xuân Lộc đã phát hiện được nhiều cây bút có tiềm năng, và những tác phẩm có giá trị (thí dụ tiểu thuyết Ôi tội hồng phúc của Têrêxa Nguyễn Phương Thảo-Canada) nhưng làm thế nào để những cây bút này trở thành nhà thơ, nhà văn Công giáo như, Nguyễn Trọng Quản, Hàn Mặc Tử, viết được những tác phẩm “giải độc” được Mật mã Davinci (Dan Brown), Những con chim ẩn mình chờ chết (Colleen McCulough)…; làm thế nào để có được một nền văn học Công giáo góp phần làm phát triển văn học dân tộc (như thơ Thiền Lý-Trần), và làm thế nào để có nhiều trí thức Công giáo có những công trình nghiên cứu giá tri như của Gs Thanh Lãng, Gs Nguyễn Văn Trung, nhà nghiên cứu Võ Long Tê Lê Đình Bảng, Lm Nguyễn Đức Thông…

Còn cần rất nhiều sự hỗ trợ của Giáo hội.

Trong việc nghiên cứu lịch sử văn học Công giáo còn cần rất nhiều nỗ lực về sưu tầm, dịch thuật in ấn tài liệu cả trong nước và ở ngoài nước. Người đọc Công giáo hôm nay chưa tiếp cận được với các tác phẩm của Majoria, của Lm. Felippe Do Rosario Bỉnh.. ngay cả đến nhưng tác phẩm đương đại (thơ Xuân Ly Băng, thơ Lê Đình Bảng, thơ Trăng Thập tự..) cũng không dễ tìm. Thư viện Công giáo cần có đủ các tác phẩm của các tác giả Công giáo. Hiện thư viên Mân Côi Bùi Chu (thuvienmcbc.org), Thư viện Công giáo Việt Nam (thuvienconggiaovietnam.net) …chưa đáp ứng nhu cầu nghiên cứu. Làm thế nào để chuyển được kho tư liệu văn học Công giáo ở các thư viện Roma, Paris… thành thư viện điện tử để tất cả những ai yêu mến nghiên cứu văn học Công giáo có thể tiếp cận được…

Dù vậy, chân trời nghiên cứu văn học Công giáo đã mở ra, và chúng ta hy vọng trong tương lai sẽ có nhiều thế hệ tiếp bước các nhà nghiên cứu đi trước.

Tháng 01/ 5/ 2020

_______________

[1] Nguyễn Vy Khanh-Đôi nét về văn học Công giáo

http://phovui.vietbao.com/yaf_postsm485547_UYEN-NHI-TRANG—Phan-15.aspx#post485547

[2] Linh mục Đặng Đức Tuấn và cuốn sách Thuật tích việc nước Nam-Vũ Thu Hà & Nguyễn Ngọc Quỳnh-Viện nghiên cứu tôn giáohttp://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=496&Catid=225

 

[3]Vũ Ngự Chiêu-Vài tư liệu mới về petrus Key (Trương Vĩnh Ký): Thư ra mắt Ðại Nguyên Soái (Grand Chef) Pháp: “Tháng 3/1859, Petrus Key viết thư ra mắt Ðại Nguyên Soái (Grand Chef) Pháp, van nài hạm đội Pháp hãy tấn công ngay các thành trì miền Nam để giải  phóng giáo dân Ki-tô và dân tộc Việt dưới ách cai trị chuyên chế, bạc đãi giáo dân của nhà Nguyễn

[4] Lm Trần Tam Tỉnh: Thập giá và lưỡi gươm. Mục 8: Giám mục  Puy-gi-niê. Nxb Trẻ 1978

[5] Lê Đình Bảng-Văn học Công giáo Việt Nam-Những ch8a5ng đường. Nxb Tự điển Bách Khoa 2010. Tr.317

[6] Những tác phẩm đã in của Song Nguyễn:

  1. Một Đời Dâng Hiến, truyện dài,Nxb Tôn Giáo. 2009
  2. Đất Mới, truyện dài 3 tập. Nxb Tôn Giáo. 2009
  3. Đồng Hành, truyện dài, Nxb Tôn Giáo. 2010
  4. Định Hướng, truyện dài. Nxb Tôn Giáo. 2011
  5. Chuyến Xe Về Trời, tập truyện ngắn 1 Nxb Tôn Giáo. 2011
  6. Còn Một Niềm Tin, tập truyện ngắn2. Nxb Tôn Giáo. 2011
  7. Suối Nguồn, tập truyện ngắn 3. Nxb Tôn Giáo. 2011
  8. Người Cha Hiền, tập truyện ngắn 4. Nxb Tôn Giáo. 2012
  9. Những Người Mẹ, tập truyện ngắn 5. Nxb Tôn Giáo. 2012
  10. Chỉnh Hướng, truyện dài, Nxb Tôn Giáo, 2013
  11. Đồng Cỏ Xanh (truyện dài, Nxb Tôn Giáo, 2013)
  12. Tiếng Kêu, truyện dài. Nxb Phương Đông 2014
  13. Vì sao sáng, truyện dài. Nxb Tôn giáo 2015
  14. Đường lên Núi Cúi. Nxb Tôn giáo. 2019

[7] dẫn theo Vũ Thu Hà & Nguyễn Ngọc Quỳnh-Viện nghiên cứu tôn giáo

http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=496&Catid=225 [đd]

[8] Hoài Thanh Hoài Chân viết về Hàn Mặc Tử

https://www.thivien.net/H%C3%A0n-M%E1%BA%B7c-T%E1%BB%AD/author-mz8hO4-xm_bQYO5dbc_rLg

 

_____________

“THƠ TRẺ” ĐẦU THẾ KỶ XXI

“THƠ TRẺ” ĐẦU THẾ KỶ XXI LÀ MỘT HIỆN TƯỢNG GHI ĐƯỢC DẤU ẤN TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN THƠ CA VIỆT NAM. NÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN “THƠ TRUYỀN THỐNG” VÀ LÀ THÁCH THỨC NHỮNG NGƯỜI LÀM THƠ ĐI SAU

***

“THƠ TRẺ” ĐẦU THẾ KỶ XXI
Bùi Công Thuấn

Trẻ Thơ màu new 6

Khoảng thời gian từ 1995 đến 2010 (đỉnh cao là 2005-2006) có môt phong trào người trẻ làm thơ từ Nam ra Bắc. Phong trào này không thuần nhất về nội dung, bút pháp và tư duy nghệ thuật nên không thể định vị một trào lưu nghệ thuật như “Thơ Mới” trước 1945. Tôi tạm  gọi là “Thơ Trẻ đầu thế kỷ XXI” (xin gọi tắt là “Thơ Trẻ”). Thơ Trẻ là một hiện tượng góp phần vảo những nỗ lực cách tân thơ Việt Nam từ sau 1975.

LỰC LƯỢNG “THƠ TRẺ”

            Nếu lấy năm 2005 làm mốc (là 30 tuổi) để xác định “người làm Thơ Trẻ ”, thì thế hệ “Thơ Trẻ ” là thế hệ 7X, 8X. Trong 2 tuyển tập: 26 nhà thơ Việt Nam đương đại (Nxb Tân Thư, California, 2002) và tuyển tập “Có jì dùng jì có nấy dùng nấy” tập hợp 47 người làm thơ (Nxb Giấy Vụn, 2007) tuy có nhiều khuôn mặt trẻ (bên cạnh nhiều người lớn tuổi) song không bao quát đủ phong trào Thơ Trẻ đầu thế kỷ XXI.

Thực ra, chỉ một vài trong số những người làm “Thơ Trẻ ” thực sự có cá tính độc đáo, còn lại là những người “ăn theo” phong trào, họ bắt chước những người tiên phong.  Xin ghi nhận vài khuôn mặt có tên trên diễn đàn thơ lúc ấy (có tên cũng chưa hẳn là một cá tính sáng tạo đủ gây dấu ấn): Vương Văn Quang (1970), Như Huy (1971), Tam Lệ (1971), Nguyễn Hữu Hồng minh (1972), Văn Cầm Hải (1972), Phan Bá Thọ (1972), Huỳnh Lê Nhật Tấn (1973), Vương Huy (1974), Nguyễn Vĩnh Tiến (1974), Ly Hoàng Ly (1975), Khúc Duy (1976), Lý Đợi (1978), Nguyễn Thúy Hằng (1978), Bùi Chát (1979), Nguyễn Vĩnh Nguyên (1979), Vy Thùy Linh (1980) Lynh Bacardi (1981), Nguyệt Phạm (1982), Thanh Xuân, Khương Hà Bùi (1985), Nguyễn Quán, Vũ Thành Sơn,  Trương Quế Chi (1987)…

Một lưu ý đặc biệt là, Thơ Trẻ xuất hiện đồng thời, kế thừa và giao lưu qua lại với thế hệ trước đó, thế hệ 5X, 6X. Những nhà thơ thuộc thế hệ này đã có nhiều nỗ lực cách tân thơ Việt sau 1975. Họ có phong cách riêng, có quan niệm nghệ thuật riêng và đã có những thành tựu.  Do sự xuất hiện đồng loạt của nhiều thế hệ cùng một lúc nên thơ ca Việt Nam đầu thế kỷ XXI hết sức khởi sắc.

Các nhà thơ hải ngoại cùng thời gây được ảnh hưởng với “Thơ Trẻ ” trong nước là:

Khế Iêm (1946, Mỹ), Nguyễn Đức Tùng (Canada), Đỗ Quyên (1955, Canada), Đỗ Kh. (1955, Pháp), Thường Quán (1956, Úc), Trần Tiến Dũng (1958), Lê Thị Thấm Vân (1961, Mỹ), Đinh Linh (1964, Mỹ)… đó là chưa kể ảnh hưởng của những nhà thơ lớn tuổi hơn như: Lê Văn Tài, Nguyễn Tôn Hiệt, Nguyễn Đăng Thường, nhà lý luận Nguyễn Hưng Quốc…

Trong nước, các nhà thơ có ảnh hưởng với “Thơ Trẻ ” là Thanh Thảo (1946), Vũ Trọng Quang (làm thơ trước 1975), Mai Văn Phấn (1955), Trần Quang Quý (1955),  Nguyễn Quang Thiều (1957)…

Có sự khác biệt rất rõ về tư tưởng, nghệ thuật và cách thể hiện giữa những người làm “thơ vỉa hè” Sài Gòn  và người làm thơ trẻ Hà Nội. Phan Bá Thọ làm “thơ rác” vì anh cho rằng Sài Gòn là một “đống rác vô tận”. Vi Thùy Linh thì “cổ điển” hơn: “nghệ sĩ là người sáng tạo cái đẹp. Nghệ thuật xuất phát từ cuộc sống nhưng không phải là bê nguyên cuộc sống. Bây giờ có xu hướng thô ráp, bê nguyên cuộc sống, thậm chí là những câu chửi bậy…Nghệ thuật là phải sáng tạo và đưa ra được cái mới. Bản chất cuối cùng là cái đẹp.”

Tôi không đề cập đến “thơ vỉa hè” Sài Gòn, vì đó là “rác” chữ. Những ngưởi làm thơ “rác, thơ dơ, thơ nghĩa địa” nói rõ họ “không làm thơ”. Lý Đợi khẳng định: “Thơ nhiều khi chỉ là chuyện gây hấn, một chút hài hước, một cú sốc nhận thức, thậm chí là một trò đùa vui nơi bàn nhậu, chẳng kém phần nhảm nhí.”(Talawas ngày 16.4.2004).

Trái lại, những người trẻ làm thơ Hà Nội, được học tập bài bản về nghệ thuật, Họ có những nỗ lực vượt qua thơ chống Mỹ để đem đến cho thơ ca Việt Nam “Cái Mới”. Ly Hoàng Ly chẳng hạn, cô là con của nhà thơ Hoàng Hưng, tốt nghiệp đại học Mỹ thuật tại TP. HCM, nhận bằng Thạc sỹ tại Học viện Nghệ thuật Chicago, Mỹ. Ly Hoàng Ly có nhiều cuộc triển lãm gây ấn tượng ở Đức (2004, 2009), Hàn Quốc (2007), Chicago (2012, 2014); Vi Thùy Linh tốt nghiệp cử nhân Đại học Báo chí năm 2001, nhà thơ Việt Nam đầu tiên được mời thực hiện một đêm thơ riêng tại Paris mang tên “Tình tự Hà Nội“. Nguyễn Vĩnh Tiến là Nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ. Anh  Tốt nghiệp Đại học Kiến trúc Hà Nội năm 1996.

HỒN CỐT CỦA “THƠ TRẺ”

Hồn cốt của “Thơ Trẻ ” là “Cái Tôi ” của người làm thơ.

Thơ Trẻ ” là tiếng nói của “Tôi”. Tôi nhìn vào tôi, có khi tôi thấy tôi là con thú trần truồng; Tôi là con vật giống đực bản năng. Có khi Tôi nhận ra mình bị vây kín trong bóng tối. Có khi giữa đường giữa chợ, Tôi lảm nhảm như người tâm thần. Khi Tôi hướng ra bên ngoài, Tôi có thể nhận ra quê hương, đồng loại khốn khổ mà lên tiếng nói yêu thương; nhận ra nó đang sống trong thời đại văn hóa rách nát, vô cảm mà bảy tỏ sự bi phẫn. Nó cũng có thể chỉ nhìn người anh em là địa ngục (“tha nhân ấy là địa ngục”- J.P.Sartre). Có Cái Tôi vô luân đến tận cùng vô luân, có Cái Tôi vì sự bức xúc của hoàn cảnh cá nhân mà lên tiếng “gây sự”, “gây hấn”, “phản kháng”. Có Cái Tôi bệ rạc chợ búa, có Cái Tôi lịch lãm đẳng cấp…

Tất cả những biểu hiện ấy của người làm thơ trẻ chỉ là để giành lấy một chỗ đứng cho mình trong văn chương. Nhiều người sống hai mặt. Khi đăng bài trên các trang web trong nước, họ tỏ ra hiền lành, biết điều phải trái, nhưng bài đăng  ở các trang hải ngoại thì giọng điệu của họ trở nên ngược ngạo, vô văn hóa (được bọc trong vỏ trí thức) một cách hung tợn. Lynh Bacardi viết trên Talawas: “ở các website chính thống thì mấy nàng chơi hàng khác (mềm mại, dẻo dai, chớp mắt đá lông nheo dịu dàng như con mèo nhà hàng xóm của tôi). Còn ở những website phi chính thống, thì mấy nàng đưa toàn hàng… trắng (phùng mang trợn mắt, gồng mình như lực sĩ, và sẵn sàng nhảy bổ vào nồi lẩu đạo đức sôi ùng ục của dân tộc để khám phá tôm mực mà xực trước). Trương Quế Chi nhận xét: “Tuổi trẻ luôn có sự hoang mang và những góc tối trong tâm hồn dù trong cuộc sống, họ là những con người trẻ trung, đầy nhiệt huyết. Họ viết như thế không có nghĩa là họ cũng sống tối tăm và bi quan như thế. Đơn giản là họ muốn viết về những gì gần gũi nhất, gắn bó nhất với cái tôi của mình…”(1)

Xin đọc: (ghi chú: Tôi không trích những bài rác rưởi, nói tục chửi thề, tác giả nói năng với thái độ vô văn hóa. Bởi, văn chương là sự sáng tạo cái đẹp, mà căn gốc là cái đẹp của lời, của hình tượng, tư tưởng và nhân cách.)

Đỗ Trí Vương, Tôi trốn trong bóng tối.

Tôi trốn sau lưng tôi/

và không thể làm gì

          (Khiêu vũ với chó)

Bóng tối tung hứng tôi trong lòng 

Và nhốt tôi trong xà lim chật hẹp

(Với tôi)

Nguyệt Phạm,một mình lẻ lạc”

Thành phố trên cao

Một mình tôi lẻ lạc..(Cầu vồng mưa)

Khương Hà Bùi, một Cái Tôi “tự thấy mình hèn dần đều một cách đáng kể”:

Haizz thiệt tình là có những ngày vác bầu ra đường nghĩ mà phát ngấy
Chán không buồn nói nhưng nỗi ói cứ trào dâng bất tận
Tự thấy mình hèn dần đều một cách đáng kể khi chỉ dám chửi xéo

                                                                          chứ héo dám chửi thẳng

                                                                                                (Gây sự 2)

Lynh Bacardi, một Cái Tôi bệ rạc dù đã được “phục hồi nhân phẩm”:

“…tôi tru hú vào khoảng không. nuôi loài khuyển dại trong cơ thể. chiếc nịt ngực bỗng khô cằn xiết cứng từng đốt xương. lằn ranh thế hệ thoái hóa vùi trong đất. trợn trừng trơ xác đòi trọng đạo tôn sư. những dương vật nối đuôi nhau ngỏng trường kỳ. tôi 1m6 sau khi phục hồi nhân phẩm. trí thức rao bán chứa vừa quả trứng úng. hai túi cao su cân bằng mệnh giá. tôi trồng chuối ngược bận quần ba ống. chiếc micro buổi mit-ting mọc lông cương cứng. tôi rách chiếc ống thứ ba. tối nay cần vài cái lỗ để đút. sẽ trí thức ngày mai. cuốn kinh thánh chảy máu đen đầu giường. lời phúc âm đi bụi. tôi làm mới bộ não bằng lớp sơn mác chức vị ở chợ trời. cao sang nát nước…” (Rêu rao đời mình)

Huỳnh Lê Nhật Tấn, Tôi-bản năng một con vật giống đực:

Em lại ứng phó chõng mông khoe, khoe cái hàng…

rồi nhìn tôi đắm đuối – mắt ngợ chờ…

Tôi nóng cả mình ở dưới dương vật cũng dài như em. 

Bao cặp mắt mấy thằng đàn ông nhồm ngó.

Tôi lầm lỳ thèm nứng muốn chết mồ luôn.

Tiếng O ó ô cứ huyền (`) muốn đụ bỏ mẹ.

                              (Cộng hưởng nguyên âm)

Nguyễn Hữu Hồng Minh, một Cái Tôi vô luân- biến thái.

Hắn muốn làm tình với Nguyễn Thị Thu Huệ -Hắn tàn bạo điều đó

Hắn muốn hiếp Lê Thị Mỹ Ý – Hắn thèm muốn điều đó 

Hắn không nứng trước Phan Thị Vàng Anh – Hắn khẳng định điều đó 

Hắn yêu Ly Hoàng Ly – Hắn mãi tôn thờ điều đó 

Hắn sợ hãi lỗ nẻ của Vi Thùy Linh –Hắn khiếp hãi điều đó 

Nhân loại chui ra từ háng –Hắn quả quyết điều đó 

Dân tộc Việt là một dân tộc mê lồn – Hắn xác tín điều đó…

                                                                (Lỗ Thủng lịch sử) 

Nguyễn Thúy Hằng, Cái Tôi hướng nội, cô độc.

“ở San Francisco, tôi đã mường tượng mình ngồi đấy, trong một quán cũ nát tôi chờ ai đó sẽ đến và mở toang cửa tối âm u này, nhưng rồi hắn sẽ đứng ngần ngại một chút vì ngoài kia cũng không sáng sủa là bao.(Những thứ xưa kia là tạm bợ)

Tôi không thể nhấc nổi chân tay và sự lười biếng khiến tôi bỗng thấy mình hoà nhập với nhiều vât thể đang bất động quanh đây. Những dây leo đang bám vào hốc đá cũng không lung lay, tôi cũng thế, cũng dính chặt vào chiếc ghế và dường như, những năm sau này người ta sẽ tìm thấy sự im lặng của tôi cùng với khối đá cằn cỗi và dây leo kín mặt kia.

Tôi loay hoay trong nhiều chăn ấm, thức dậy, thấy mình cần giết một ai đó, một cà phê, một cái cống, con ngựa đen, kẻ lạc đường (Thời hôm nay, khoái cảm, điên rồ hợp lí)

Như Huy, hướng nội, một con vật bất lực:

Hắn (5)

“Hắn là ai? một con vật xã hội? một con vật đạo đức? một con vật ngôn ngữ? Không, hắn không là ai hết trong số ñó. Thật ra, hắn là một bi kịch ngôn ngữ – nhìn dưới góc độ cuộc đời hắn đang bị căng trành ra đến mức nghịch dị giữa hai xung lực, xung lực thứ nhất: hắn – kẻ vô tình sở hữu một khối lượng khủng khiếp những mảnh ngôn ngữ rời, xung lực thứ hai: hắn – kẻ bao lâu nay, dẫu nỗ lực đến mấy, cũng không tài nào tự chiết xuất ra nổi, thậm chí nửa giọt nước bọt giúp dán liền vào nhau hai vẩy chữ lẻ chứ đừng nói đến việc làm thế nào kiếm được cho đủ hồ dính để  có thể gắn kết lại cả cái đống vĩ đại những mảnh rời ngôn ngữ ấy, đang đè sụp xuống đời hắn.”

Trần Wũ Khang, một Cái Tôi hoang đàng, một đứa con lai căng.

Tôi thằng con lai căng qua đụng độ văn hóa Champa/ Đại Việt,
thằng con hoang của mảnh vụn sách vở Tây/ Tàu
thằng con vô thừa nhận từ giao phối kì quặc của đạn bom Nga/ Mỹ
tôi viết thơ…”
                         (Đời mơ hồ)

Vũ Thành Sơn, như người nói nhảm:’

  1. Bàn tay phải của tôi mất trí nhớ. Có thể nó đã quá già, cần phải nghỉ hưu. Hoặc nó có quá nhiều giấc chiêm bao dữ
  2. Vợ tôi thường hay quan trọng hóa những chuyện nhỏ nhặt. Chẳng hạn nàng nói cần phải diệt trừ kiến, dán, bởi vì chúng làm cho tư duy của chúng ta không thể liên kết thành một hệ thống hợp lý
  3. Tôi đọc thấy câu này trên một tờ báo: Tự tin hơn với làn da sáng khoẻ!
  4. Một con ốc sên đi qua cửa. Tôi không biết nó có phải là con ốc sên trong vườn nhà tôi hay của bà hàng xóm. Ngày hôm qua chúng tôi sang bên nhà bà chơi, bà than phiền về giá xăng và một vài thứ cần thiết khác quá đắt đỏ 

(Lý do tôi không uống cà phê sáng nay)

   Phan Bá Thọ, cái tôi nhập vai để phản kháng.

“… nhưng chúng tôi là nhà văn. ừa, là một lũ những nhà văn việt nam nên chúng tôi chỉ biết ca ngợi con trâu, cánh cò, cây bông, đồng cỏ… chả biết tại sao [như thế]”….(việt nam nó vậy)

 Bùi Chát: Cái tôi mặt đối mặt

Tôi gặp gỡ những người cộng sản

Những người anh em của chúng tôi

Những người làm chúng tôi mất đi ký ức

Mất đi tiếng nói bản thân

Mất đi những cái thuộc về giá trị

Chúng tôi còn sở hữu duy nhất một điều

Nỗi sợ…” (Ai?)

Ly Hoàng Ly, một tiếng nói thương yêu những kiếp khổ:

Những con ngựa đêm hí bạt gió
Vọng mầu đêm Bắc Hà
Đoàn ngựa thồ gõ vó đường núi âm âm
Tiếng hí rần rật vỡ đêm
Vỡ lòng…
Ngựa ôi,
một kiếp thồ quẩn quanh …

…Đời này sang đời khác
Ngựa ôi ta hiểu sao mắt mi buồn hơn mầu đêm xứ bắc
Ta nghe ngàn lời gió ngàn lời trăng,
Ngàn lời thiết tha,
Ngàn lời vỡ ra từ mầu mắt đó.
Ngựa đêm hí bạt gió..

(Ngựa đêm Bắc Hà)

Văn Cầm Hải, Một tình yêu quê hương, một nỗi buồn thế hệ:

Chiếc nôi lật ngược
Tiếng khóc rơi xuống
tã lót rách bươm, lời mẹ ru không khâu vá nổi
tôi và em đi xa
sa mạc
con Sphanh buồn bã
khi bọn cướp đục thủng lấy mất quả tim
tôi và em
trên da bụng em nườm nượp tiếng khóc
theo nhau thành dòng nước lũ
cả căn hầm chữ A
chiếc áo nâu thế hệ
mà nỗi đau vo ve từng hạt máu
đong đầy nghĩa địa.
(Quên Lãng)
.

THƠ TRẺ VÀ SỰ CÁCH TÂN THƠ VIỆT

            So với thơ kháng chiến 1945-1975, “thơ trẻ” có những cách tân đáng kể.

1.Thơ trẻ không còn “phản ánh hiện thực cách mạng và kháng chiến mà là hiện

 thực thông qua cảm thức của Tôi khi Việt Nam hội nhập toàn cầu hóa. “Cảm thức của Tôi” được ướp trong đủ mọi thứ tư tưởng phương Tây:  Chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, chủ nghĩa thực dụng, Nữ quyền luận, Hậu hiện đại cùng với văn hóa phương Tây…tất cả góp phần tháo tung truyền thống văn hóa Việt Nam.

(Ghi chú: để chọn một bài thơ trẻ “sạch sẽ”, không dơ, không rác, không tục tĩu, không nói năng lảm nhảm những chuyện tào lao… làm dẫn chứng thật khó)

Âu Cơ

Hoa một loài một bông độc sáng
Giữa những đoá hồng đen dập dìu khắp không gian mịn ướt

Hôm nay lại tiếp tục thói quen cầu ước
Khi ngồi quán trên cao uống nước đu đủ
Để dồn đủ một đêm tình tự
Trong lòng anh, em khai thị thế gian

Phiêu diêu mắt, thấy con đường tơ lụa
Phiêu diêu lưỡi, chạm đáy mềm Âu Cơ

Ly rượu dan díu mùi đàn bà
Nước mắt không thể ngấm thêm được nữa
Ta tạo dị bản ta, chống đỡ
Dan díu men mê man
Mật khẩu nẻ lá môi thâm nhập
Hồi hộp đến cuối đường tơ lụa
Tây Tạng mê ảo cuồng hoa
Trứng nhộn nhịp thụ thai
Âu Cơ rũ váy rũ nghiệt ngã
Lại hứng hứng gió thốc
Thôi miên những cánh cửa chồi răng

Hoa Thùy Linh
Đàn đàn mũi tên bay từ giữa hai đùi
Bắn nát sự cam phận

              (Vi Thùy Linh)

Móp đầu

tôi biết nó sẽ ụp xuống tóc
trong tai bịt đầy rác,
đàn ong vo ve mảnh giấy bạc vừa lấp một con cá
điên
biến tôi thành
cái mồm ngậm đầy xi-măng
giãy
đành đạch
trên kiến lửa

nó đến trước khi tôi hình dung sự việc giống miếng thịt tươi bỗng mốc meo, cứng đanh như gỗ
vặn vẹo
xuất hiện vết chích lạ
hơi nóng êm đềm làm não chảy dịch màu vàng
kháng cự và thói hiền lành quấn trong lớp nhầy mưng mủ
cháy

tất cả, là hiện tượng của việc tôi bị đẩy ngoài vùng phủ sóng
để hợp thức hoá mọi chuyện cần phải làm một chuyến bay vào nơi không cần thiết
trở về con dấu mới, đứng trong cái khung ngay ngắn: vật nuôi chờ kiểm duyệt

sự bất ngờ hình thành một cái búa đẹp, lưỡi cắm sắc lẹm, tay cầm mạ vàng
ném mạnh lên cao
để rồi theo vòng xoay của nó

rơi thẳng vào đầu-méo đến buồn

T4, 1, 9, 04, chiều

          (Nguyễn Thúy Hằng)

2.Thơ trẻ không viết bằng thi pháp truyền thống mà dùng hình thức tự sự, kiểu thơ

văn xuôi, không vần không nhạc, nhiều bài dùng kiểu ngôn ngữ nói của người bình dân,

Một bộ phận người làm thơ trẻ dùng các thủ pháp Hậu hiện đại, chẳng hạn, dùng cái “tục”, cái “rác”, cái “dơ”, để biến bài thơ thành “rác” (nghĩa là những cái tạp nhạp, tào lao không có gì đáng đọc); dùng “diễu nhại”  để “giải thiêng”,”giải trung tâm”, để “gây hấn”, để “lật đổ” tạo sự chú ý; dùng các ký hiệu, cách làm méo chữ, không viết hoa, đưa tên người thật đương thời vào bài thơ; dùng kiều nói năng không chuẩn mực; dùng hình ảnh, dùng bản tin…để tạo ra sự khác biệt về hình thức văn bản thơ so với thơ truyền thống (thơ Bùi Chát, Lý Đợi, Khúc Duy…). Tất cả những “thủ thuật” này đều phi nghệ thuật (nghĩa là người đọc không tìm đâu thấy “Cái Đẹp”).

Xin đọc Phan Bá Thọ

 “…bùi chát ăn giấy vụn , xác ướp & cả những cái lồn bỏ đi [tu]                                                 vi thùy linh ăn mặn nên luôn mồm la làng: khát [khát, khát quá mẹ ui] 

nói chung họ, thèm từ cái bình dị cho ñến những thứ ghê rùng rợn [chính đáng] & ăn uống cũng bô la bố láo bạo tàn, đủ các kiểu loại

có đứa ăn mày dĩ vãng [nghiệp dư] & cũng khối em ăn mày văn chương [nghiệp dĩ]

nguyễn huy thiệp ăn: hoa [ thủy tiên ] & trò chuyện với cứt [nghe đồn: tất cả các nhà văn việt nam cả nội lẫn ngoại không phải chỉ là đồ hâm hấp vô học, dốt nát, đồ bỏ đi đâu. mà là đồ cứt. cứt, cứt hết]

trần đăng khoa [cầu kỳ – thi họa, thì] chỉ ăn những thứ mong mỏng [… như là rơi nghiêng ]. chẳng hạn: siêu mỏng có cánh, hoặc có 2 cánh siêu mỏng. ăn tuốt…”                                                            (Phan Bá Thọ)

(Ghi chú của BCT: những chữ in nghiêng là tên tác phẩm: “Khát” là tập thơ của Vi Thùy Linh, “Ăn mày dĩ vãng” tác phẩm của Chu Lai. “Hoa” lấy bài “Trò chuyện với hoa Thủy Tiên” của Nguyễn Huy Thiệp. Trong bài này, Thiệp chửi cả Hội Nhà văn Việt Nam; “Ăn mày văn chương” là tên một trang web văn chương ở Pháp. Hình ảnh thơ “…như là rơi nghiệng” trong bài thơ Đêm Côn Sơn của Trần Đăng Khoa: Ngoài thềm rơi cái lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” bị xuyên tạc thành “thứ mong mỏng”. “siêu mỏng có cánh”…tức là băng vệ sinh cho phụ nữ. Phan Bá Thọ cho trần đăng khoa “ăn tuốt”. Tuy nhiên, các tên người (tên riêng) không được viết hoa, nên nó không được quy ước là tên riêng của người, vì thế ”trần đăng khoa” không phải là nhà thơ “Trần Đăng Khoa” Phó chủ tịch Hội Nhà văn. Sự “lật đổ, sự đểu cáng” của Phan Bá Thọ nằm ở chỗ này)

Một bộ phận khác làm kiểu “thơ khó hiểu”. Người làm thơ kể những câu chuyện như  ngụ ngôn, dùng liên tiếp các hình ảnh ẩn dụ, hoặc phá vỡ cấu trúc ngữ pháp của câu, phá vỡ cấu trúc logic liên tưởng của người đọc; hoặc chen vào những chữ không cùng trường nghĩa. Có tác giả làm theo bút pháp Hậu hiện đại, phá vỡ 4 yếu tố cơ bản của một bài thơ truyền thống là cấu trúc, thời gian, không gian, và nhân vật trữ tình. Hình ảnh thơ được bày ra (liệt kê) như những “mảnh vỡ” kết nối phi logic, chen vào đó là những yếu tố ngẫu nhiên, hoang tưởng để “gây rối”. Những bài thơ như thế không dễ gì có thể hiểu. Thực ra, loại thơ này không cần hiểu theo ý tác giả, thơ chỉ gợi ý cho người đọc (nghĩa của bài thơ là do người đọc tự cảm nhận). Kiều thơ này tiếp cận được với kiểu thơ tư tưởng, và thực sự góp phần cách tân thơ Việt. Xin đọc:

hoe chân lời

Mùi quế hương lưu vong
tấm lưng trần liệm nắng
ngọn râu khoai lườm nguýt mặt đất
những bầu vú ra khơi vắt sữa mặt trời!

Se tháng năm vất vưởng đáy rốn
nhúm nhau dạt chân trời
không tổ chức
lụt bão
luật lệ
tử cung
sự giao lưu hoang hoải ngực Mạ
một ngày mai tinh khôi vân tay
một ngày thơ cô đơn rực rỡ mai San Francisco
hao gầy
bóng Mỹ
nợ nần
lửa khói
hoe đáy mắt phù du Thiên Cầm
phủ dụ kiếp biển
mùi nước mắm vàng lên chân lời Hồng Lĩnh

                                                 Iowa, 2005

                                               Văn Cầm Hải

Người đọc không thể xác định được cấu trúc bài thơ; không thể nhận ra không gian thực mà tác giả nói đến; không thể lần ra đầu mối thời gian sự việc xảy ra; và không tìm thấy nhân vật trữ tình Tôi như trong thơ truyền thống (thí dụ, Tôi trong Tương tư của Nguyễn Bính). Hình ảnh thơ là những mảnh vỡ của hiện thực, có những quan hệ hết sức lờ mờ với nhau, rất khó để liên tưởng theo một logic quen thuộc. Những bài thơ như thế này thực sự là một nỗ lực cách tân so với thơ truyền thống, và vì thế nó phải được đọc bằng cách đọc khác với đọc thơ truyền thống.

 THỬ LẦN TÌM NHỮNG MANH MỐI

1.Những tư tưởng mở đường

            “Thơ Trẻ”  xuất hiện và phát triển trong xu thế “đổi mới”,Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác”.

            Năm 1998, nghị quyết Trung ương 5 đã mở ra những hướng nhìn mới:                     Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người.
Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính.”

Năm 2008, Nghị quyết 23 cũng nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của văn học, nghệ thuật về đề tài, nội dung, loại hình, phương pháp sáng tác, sự tìm tòi, thể nghiệm, nâng cao chất lượng toàn diện nền văn học, nghệ thuật nước nhà…”

2.Ngọn gió thời đại

            Trước khi Thơ Trẻ xuất hiện thì dòng văn chương Nhân văn và Dân chủ đã có những thành tựu đáng kể. Xin đơn cử: Đứng trước biển (1982), Cù lao Tràm (1985- Nguyễn Mạnh Tuấn), Chiếc thuyền ngoài xa (1983-Nguyễn Minh Châu), Thời xa vắng (1984-Lê Lựu), Thiên sứ (1989-Phạm Thị Hoài) truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Tướng về hưu-1987), Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận tình yêu 1987- Giải thưởng Hội Nhà văn 1991-Bảo Ninh), Bên kia bờ ảo vọng (1987) và Những thiên đường mù (1988-Dương Thu Hương), Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990-Nguyễn Khắc Trường), Một người Hà Nội (1990-Nguyễn Khải), Chuyện kể năm 2000 (2000- theo lời tác giả, tiểu thuyết này được viết từ tháng 6 năm 1990 đến 30 tháng 11 năm 1991 thì hoàn tất. Bản thảo được xem lại lần cuối vào tháng 8 năm 1998), Cánh đồng bất tận (2005-Nguyễn Ngọc Tư), Ba người khác (2006-Tô Hoài), Thời của thánh thần (2008-Hoàng Minh Tường)

Những thành tựu này mở đường cho người làm Thơ Trẻ . “Văn chương phản kháng” Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương tiếp sức cho “Thơ Trẻ”. Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Lynh Bacardy…mạnh mẽ, táo bạo, thực ra chỉ là người đi sau Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương …

3.Internet

            Những người trẻ làm thơ trong nước được cổ vũ, đánh bóng, thổi phồng lên  bởi các trang mạng như Talawas, tienve.org, Hợp Lưu…và thế là, họ nghiễm nhiên trở thành “hiện tượng”, viết lách của họ trở thành “những tập thơ quan trọng nhất của nền thi ca Việt Nam”.

Trên Talawas, Nhạc sĩ Tuấn Khanh nhận xét: “Với tư cách là một độc giả lâm thời của Bùi Chát, tôi cho rằng “Bài thơ một vần” là một trong những tập thơ quan trọng nhất của nền thi ca Việt Nam trong thập kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ thứ 3 này“. Quả là những lời “có cánh” đưa người làm thơ trẻ lên tận mây xanh.

Talawas  chủ nhật giới thiệu: “thơ rác Phan Bá Thọ là một hiện tượng không thể bỏ qua của giai đoạn văn học này. “Đống rác vô tận cũng là một trong những tập thơ hiếm hoi mang đậm phong cách đô thị lớn ở Việt Nam hiện nay.” Hóa ra những thứ “rác rưởi dơ bẩn” lại là “của hiếm”!

Người làm thơ trẻ Lý Đợi khi trả lời phỏng vấn của Nhã Thuyên thú nhận: thời đó các tạp chí Thơ (do Khế Iêm chủ biên) và Hợp Lưu (do Khánh Trường chủ biên) đã gợi nhiều cảm hứng cho chúng tôi.”

4.và văn chương hải ngoại

            Ở phần trên tôi đã nhắc đến các nhà thơ hải ngoại có ảnh hưởng đến người làm thơ trẻ Sài Gòn. Trong phạm vi một bài viết ngắn, người viết không thể chỉ ra những ảnh hưởng cụ thể trong từng tác phẩm mà chỉ có thể xác định ảnh hưởng của khuynh hướng sáng tác. Xin nêu vài ghi nhận.

Người trẻ làm thơ Tân Hình thức có thể học từ Khế Iêm, Đỗ Quyên (bài: Tay trái thơ tay phải núi, Chúng mình thiệt tình…), hoặc học cách nói lảm nhảm trong thơ Tân Hình thức của Nguyễn Đăng Thường (bài Những nụ hồng của máu)…Xin đọc “Rác & bảng tổng phổ trừu tượng sắc màu” của Trúc Ty.

Người trẻ làm thơ phản kháng có thể học được nhiều điều từ thơ của Bác sĩ Nguyễn Đức Tùng (Canada). Ông viết nhiều bài về thời sự chính trị Việt Nam với tinh thần phản kháng rất “thâm hiểm”. Ông nhập vai để diễn lại sự việc một cách diễu nhại (theo kiểu “lấy gậy ông đập lưng ông”). Xin đọc Khúc Duy: “Thơ của đồng bào ta ở vỉa hè đấy các chú” và  “I(ai) có thơ dùng thơ”; và xin thử so sánh với thơ Nguyễn Đức Tùng, các bài: “Lệnh miệng” và bài “Tốt lắm!”. Họ cũng có thể học Đỗ Kh. về sử dụng cái tục, cái đểu, cái trịch thượng trong cách phản kháng. Xin đọc bài “Tôi thích ngồi sau em trên yên xe” của Đỗ. Kh.

Người cầm bút nữ làm “thơ Tục” trong nước chắc chắn không thể không biết thơ của Lê Thị Thấm Vân. Nhà thơ nữ (ở Mỹ) này có cá tính mạnh mẽ. Tiếng nói đòi Nữ quyền của cô gây được ấn tượng. Tuy sử dụng Cái Tục, nhưng phẩm chất nghệ thuật và tính tư tưởng của Lê Thị Thấm Vân là nét trội, trong khi Thơ Trẻ trong nước đem cái “tục tĩu bẩn thỉu” vào thơ, làm cho thơ trở thành một đống chữ bốc mùi, không sao chịu nổi! Xin đọc Na Thị Chua, các bài: “Ca dao. tôi & tôi”,  “Đồ đểu”, “Ch. thông cảm”,  “Về bằng cửa sau nghe Ch.”  Và so sánh với bài “Trăng trối” của Lê Thị Thấm Vân.

  1. và sự kế thừa

            Người trẻ làm thơ có khuynh hướng thơ tư tưởng như Văn Cầm Hải, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh chắc chắn kế thừa tính nghệ thuật và tính tư ưởng trong thơ Thanh Thảo và Nguyễn Quang Thiều trước đó.

Đây là một bài thơ của Thanh Thảo năm 1992:

Chờ

“vớt những giấc mơ
bằng chiếc vợt bắt dơi
đêm tối
gương mặt bạn một chấm sáng
sau cửa sổ
cầm tay cái lạnh cuối mùa
chúng ta hy vọng
như nhánh phong lan
chờ
những đoá hoa trong suốt”

Thơ Nguyễn Quang Thiều:

Bầy cừu

Như những đám mây nhỏ trôi trên những triền đồi từ ban mai đến đêm tối
Những con cừu vùng Achill không hề than thở về số phận của chúng
Không đau khổ, không tuyệt vọng, chỉ im lặng thực hiện sứ mệnh vô thức
Đi từ chân đồi lên đỉnh đồi trong gió lạnh không bao giờ ngừng thổi trên vùng đảo.
Đi và đi, thi thoảng kêu lên, chợt nhớ điều gì đó
Tiếng buồn bã tan trong sóng biển vỗ chân đồi

Vào lúc ban mai thêm một con cừu trong đàn biến mất
Những mảnh thân xác tản mát đâu đó
Những con cừu khác lại im lặng tiếp tục thực hiện sứ mệnh của chúng
đi từ chân đồi lên đỉnh đồi,
những ngọn đồi…
những ngọn đồi…
những ngọn đồi…
bất tận.

Loại “thơ khó hiểu” của “Thơ Trẻ” có kiểu tư duy nghệ thuật, ngôn ngữ, giọng điệu    không khác gì thơ Thanh Thảo, thơ Nguyễn Quang Thiều, thơ Trần Quang Quý.

Thanh Thảo giải thích: “Tư duy thơ hiện đại là kiểu tư duy có bước nhảy cấu tứ thơ đầy khoảng lặng tạo nên rất nhiều “không gian rỗng” trong thơ: “Chính ở khoảng giữa của những câu thơ độc lập tương đối, đã ẩn hiện cái không gian rỗng của bài thơ, là cái thoạt nhìn, mới đọc cứ ngỡ như không thấy gì, không nói lên điều gì. Cái kỳ lạ của thơ là ở đó: chữ nương tựa vào không – chữ, chỗ dày rậm cậy nhờ chỗ trắng trong, không – gian – đặc được cấu trúc lên nhờ không – gian – rỗng“. Thơ hiện đại “không nhằm vào từng câu thơ” mà nhằm vào “từng mảng thơ“, “những mảng tối, mảng sáng trong bài thơ đan xen nhau, những mảng có nghĩa và vô nghĩa đan xen nhau… buộc tiềm thức, vô thức của ta phải làm việc, buộc ta phải ngụp lặn xuống lòng nước tối, ngụp lặn vào chính những giấc mơ của ta” [Tản mạn về thơ, tr. 80-81] (Dẫn theo Mai Bá Ấn) (2)

Xin đọc Ly Hoàng Ly

Người đàn bà trong tranh

Những người đàn bà
Đi đi lại trong bức tranh khổ vuông
Những nhát mầu bết họ vào sơn

Những người đàn bà màu đen
Đi lại trong đêm
Tóc hất ngược ra sau
Trên mặt phẳng bức tranh dang dở

Những người đàn bà khô queo
Vì đi lại quá nhiều
Quẩn quanh bức tranh khổ vuông do người khác vẽ
Đi được đến đâu
Khi xác đã bệt lại bởi những nhát mầu

Cầm chiếc bay
Cạo xác từng người đàn bà ra khỏi tranh
Thấy mình cũng rời ra từng mảnh
Không đau đớn

                   (2001)

Tất nhiên, Ly Hoàng Ly, Văn Cầm Hải làm mới hơn so với Nguyễn Quang Thiều và Thanh Thảo. Ly Hoàng Ly còn là một họa sỹ – nghệ sỹ nghệ thuật thị giác, cô kết hợp thơ ca với nghệ thuật sắp đặt, trình diễn thơ và nghệ thuật trình diễn .

Văn Cầm Hải làm thơ theo cảm thức và thủ pháp Hậu hiện đại. Anh phá vỡ cấu trúc bài thơ truyền thống, đập vỡ nhân vật trữ tình chủ thể của thơ, phân mảnh thời gian và không gian. (xin đọc lại bài Hoe chân lời đã dẫn ở trên)

Tuy vậy Thơ Trẻ không theo được kiểu thơ tư tưởng của Nguyễn Quang Thiều. Ông kết hợp cách kể chuyện của Kafka với thi tứ của R. Tagore. Sự khó hiểu của thơ Nguyễn Quang Thiều nằm trong  tư tưởng triết học (thí dụ bài Bầy cừu ở trên). Không hiểu Kafka, không đọc được R. Tagore thì khó thâm nhập thơ Nguyễn Quang Thiều (3). Tuy nhiên, ông cũng có nhiều bài thơ trữ tình làm theo lối thơ truyền thống (Tập: Sự mất ngủ của lửa-1995). Nguyễn Quang Thiểu chỉ thực sực cách tân từ tập Nhịp điệu châu thổ mới (1997) và Dưới cái cây ánh sáng (2003).

NHỮNG GÌ CÒN LẠI

Thơ Việt vẫn tiến về phía trước. Sau cao trào những năm 1995- 2010, thơ Việt lắng xuống để định thần về con đường đã đi.

Con đường cách tân từ nhóm Sáng Tạo (Sài Gòn), các nhà thơ Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, đến Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều và Thơ Trẻ (Hậu hiện đại) vẫn tiếp tục. Nhưng cho đến nay (2020) chưa có có gì mới hơn so với những gì thơ Việt đã đạt được.

Những người làm Thơ Trẻ tôi kể tên ở trên giờ mất tăm (có người vẫn làm thơ, nhưng đã không vượt qua được chiếc bóng của mình). Ly Hoàng Ly đã in 3 tập: Cỏ trắng (1999), Lô Lô (2005), Quà (2008), nhưng chỉ đọng lại tập Lô Lô. Vi Thùy Linh sau 3 tập thơ: Khát (1999) Linh (2000) và Đồng tử (2005) cũng chỉ ghi dấu ấn bằng tập thơ Khát. Nguyễn Hữu Hồng Minh sau 3 tập thơ: Giọng nói mơ hồ (1999), Chất trụ (2002), Vỉa từ (2003), anh chuyển sang viết  Ổ thiên đường (tập truyện- 2011). Nguyễn Vĩnh Tiến chỉ có tập thơ Những bình minh khác (2001). Linh Bacardy trả lời phỏng vấn của Nguyễn Viện, rằng cô đến với văn chương chỉ là ngẫu nhiên, trước kia cô là Ngựa Trời, giờ thì không, cô chuyển sang dịch sách.(4)…

Thơ phong trào (tràn ngập trên các trang báo) vẫn làm theo thi pháp thơ “truyền thống” (thơ chống Mỹ, thơ Lãng mạn) nên rất cũ. Thơ cách tân, kiểu “thơ khó hiểu” sau một thời gian dài bị công chúng từ chối đã dần dần xích lại gần với thơ truyền thống, tuy vẫn giữ  đôi nét đặc trưng về kiểu ngôn ngữ của Thơ Trẻ. Thơ Tân hình thức, thơ Hậu hiện đại, con đường còn ở phía trước (trường ca Lòng hải lý của Đỗ Quyên là một thí dụ). Những nhà thơ lớp trước như Thanh Thảo, Trần Quang Quý, Mai Văn Phấn… vẫn giữ được phong độ cũ. Chẳng hạn, Trần Quang Quý đã in 11 tập thơ. Năm 2012, ông đạt giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam với tập thơ Màu tự do của đất.  Ông lại vừa được giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2019 với tập thơ Nguồn…

Khoảng 10 năm trở lại đây chưa xuất hiện một tài năng mới nào, chưa một tập thơ mới nào như một hiện tượng văn chương vượt lên giai đoạn thơ đầu thế kỷ XXI. Vì thế Thơ Trẻ đầu thế kỷ XXI vẫn ghi được dấu ấn riêng trong tiến trình đổi mới thơ ca Việt và là thách thức nghệ thuật với những người làm thơ đi sau.

Tháng 01. 2020

___________________

 

Ghi chú

http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=18902

 

***

 

45 NĂM VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM-phần II

45 NĂM VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM-Một góc ghi nhận

Bùi Công Thuấn

***

PHẦN II: GHI NHẬN MỘT VÀI HIỆN TƯỢNG

a 4 jpeg

45 năm qua còn lưu lại dấu vết  nhiều hiện tượng văn học .

  1. Đáng kể là việc tổ chức Ngày thơ Việt Nam hàng năm vào ngày Nguyên tiêu. Hoạt động này đã trở thành một nét văn hóa có ý nghĩa. Tuy vậy, việc tổ chức Ngày Thơ Việt Nam trong cả nước đang nhạt dần. Công chúng ngày càng xa rời thơ. Người ta không tìm thấy thơ hay, mà đa phần là thơ phong trào. Thơ không nói được tiếng nói của công chúng, thơ không là nhịp đập trái tim của nhân dân. Đó là chưa nói đến trào lưu “thơ khó hiều” làm nản lòng công chúng. Ngày thơ Việt Nam được tổ chức như một ngày hội với nhiều hình thức sinh hoạt, và được Hội Nhà văn mở rộng các hình thức giao lưu quốc tế.
  2. Sau gần 50 năm, các tác giả trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm đã được phục hồi danh dự và được trao giải thưởng Nhà Nước: Nhà thơ Quang Dũng(năm 2000), Lê ĐạtTrần DầnPhùng QuánYến Lanvà Hoàng Cầm được Chủ tịch nước Việt Nam ký quyết định tặng thưởng Giải thưởng Nhà nước tháng 2 năm 2007
  3. Đã có lúc tình trạng “loạn” diễn ra trên các diễn đàn. Nhất là trong Đại hội Nhà văn lần thứ VIII (2-5/8/2010): “Cả hội trường như một lò lửa! Đại hội căng lên như một dây đàn. Và Tô Nhuận Vỹ đăng đàn. Trong chốc lát đã có người lên cướp diễn đàn của ổng! Ôi! Khủng khiếp!”(28)

Khi rộ lên phong trào lập trang web, phong trào viết blog, nhiều người mang “mặt nạ”, quăng lên mạng đủ mọi thứ ngôn từ làm cho việc phê bình văn chương trở nên hỗn loạn, nhất là loạn tiêu chí đánh giá tác phẩm. Từ đây dẫn đến tình trạng “thiếu văn hóa” trong phê bình văn chương. Môi trường văn chương bị ô nhiễm trầm trọng, mất hẳn tính nhân văn học thuật trong đời sống văn học. Đến độ, Phó Giáo Sư-Tiến Sĩ Phạm Quang Trung đã phải tuyên bố ngưng cuộc tranh luận về giải thưởng văn chương của Hội Nhà văn Việt Nam 2010:” Suốt một tháng trời nay, tôi thức khuya dậy sớm, mong góp những tiếng nói kịp thời theo diễn biến nhanh chóng không phải chỉ từng ngày mà từng giờ chung quanh cuộc tranh luận chủ yếu trên diễn đàn trannhuong.com về giải thưởng văn chương của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010. Đến lúc này, tôi ý thức rõ rệt là bản thân cần nói lời giã từ mặc dầu không phải không thấy lưu luyến và tiếc nuối…” (29)

Thực ra không chỉ cuốn Hội thề của Nguyễn Quang Thân đạt giải thưởng tiểu thuyết (2006-2009) của Hội Nhà văn Việt Nam 2010 gây ra những luồng ý kiến trái chiều, mà nhiều giải thưởng văn chương khác cũng khiến người ta đặt vấn đề về việc trao giải.” Vì lẽ, qua mấy mùa trao giải gần nhất, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam luôn xảy ra sự cố: Nào là có nhà thơ từ chối nhận tặng thưởng, sếp trong Hội từ chối nhận giải, vô số tác phẩm bị chê là không xứng đáng được vinh danh… Kể cũng khổ cho Hội, điều quan trọng nhất để đánh giá cái được và chưa được của giải thưởng là chất lượng tác phẩm, thì người ta lại bỏ quên để chú ý chuyện đâu đâu”.(30)

  1. Trình trạng “đạo thơ” xảy ra quá nhiều làm nhức nhối lương tâm những người cầm bút chân chính. Nhà văn từ xưa đến nay là ánh sáng lương tri cho nhân loại. Trong thế giới của “cái đẹp”, của sự sáng tạo, không có chỗ cho kẻ cắp. Ngậm ngùi và bẽ bàng hết sức!
  2. Bốn mươi năm tuy dài, nhưng có những vấn đề của lịch sử để lại còn cần thêm thời gian. Vấn đề văn chương miền Nam (1954-1975) và vấn đề “hợp lưu” dòng văn chương của người Việt hải ngoại sau 1975.

Đã có những đòi hòi và nỗ lực ở trong nước và ngoài nước đánh giá về Văn học miền Nam (1954-1975).

Thật ngạc nhiên, đã 45 năm trôi qua, tại hội nghị giao ban của Hội đồng lý luận phê bình văn học, nghệ thuật TP.HCM ngày 10/11/ 2019, nhạc sĩ Trần Long Ẩn, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TPHCM phát biểu: “Chúng tôi đề xuất phải hết sức thận trọng với trang sử đen tối của miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ là bị xâm lược. Văn học, nghệ thuật độc hại của nó xuyên tạc đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ở miền Nam và hiện nay không thể tẩy xóa. Vậy mà đồng thời, phong trào cách mạng ở miền Nam trong văn học, nghệ thuật rất dữ dội, rất lớn thì không biểu dương, không tôn vinh, không học tập, không nhân rộng mà lại đòi xóa nhòa không còn khái niệm âm nhạc cũ trước giải phóng nữa”.

            Ý kiến này của Trần Long Ẩn đã bị công luận phản đối dữ dội, bởi nó đi ngược với quan điểm hòa hợp hòa giải dân tộc, và thể hiện một cái nhìn hẹp hòi thiếu tính lịch sử khoa học và dân tộc. (https://www.phunuonline.com.vn/van-hoa-giai-tri/truyen-thong-dinh-huong-thi-truong-dang-tao-ra-gam-mau-toi-cho-doi-song-van-hoa-68957/?fbclid=IwAR3ZaLYuK4wDm6H9Cs2qdHfIJ3R9TvWtyKuvelSxK_4vuNteODjFwtvAGso)

Trong nước, cuốn Văn học thực dân mới Mỹ ở miền Nam những năm 1954-1975 của Trần Trọng Đăng Đàn.(Nxb Sự Thật, Hà Nội 1988) là cuốn sách chứa đựng những quan điểm vẫn còn tồn tại đến hôm nay. Cuốn này sau đổi tên là Văn-hóa Văn nghệ Nam Việt Nam, 1954-1975(Nxb Văn-hóa Thông tin, Hà Nội, 2000). Xin trích:

Trần Trọng Đăng Đàn nói về nhiệm vụ chính trị trong cuộc đấu tranh chống văn hóa thực dân mới Mỹ ở miền Nam sau 1975:

…Những văn kiện của Đảng và Nhà nước, đặc biệt các văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, V, VI đã xem nhiệm vụ nghiên cứu và phê phán chủ nghĩa thực dân mới trên lĩnh vực văn hóa văn nghệ là một bộ phận hữu cơ của toàn bộ nhiệm vụ khắc phục những hậu quả của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam trước đây và là một việc làm có ý nghĩa quan trọng góp phần đẩy mạnh cuộc cách mạng tư tưởng và văn hóa đang diễn ra ở nước ta.

Để đạt mục tiêu ấy, chúng ta phải có phương pháp nghiên cứu thích hợp, đồng thời phải xác định đúng vị trí, đánh giá đúng tác hại của “văn học” thực dân mới. Do nhận định sai về vị trí và tác hại của “văn học” thực dân mới Mỹ, xem nó như một giai đoạn kế tục của nền văn học Việt Nam truyền thống, mà nhiều người làm công tác nghiên cứu giảng dạy văn học thời Mỹ đã vận dụng phương pháp lịch sử để trình bày diễn tiến của “giai đoạn văn học “này và gán ghép nó vào lịch sử văn học dân tộc.

Theo chúng tôi, với mục đích nghiên cứu “văn học” thực dân mới để vạch trần những độc hại của nó, để thanh toán những tàn tích của nó, qua đó, góp phần xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, thì việc sử dụng phương pháp lịch sử là không thích hợp, là khiên cưỡng và có dụng ý bóp méo lịch sử.

Ở đây, cái thích hợp nhất đối với chúng ta là phương pháp nghiên cứu logic, nhằm phân tích và phê phán “văn học” thực dân mới qua 4 khâu: xã hội, nhà văn, tác phẩm và người đọc”.(tr.42)

Nhận xét về nội dung văn học miền Nam 1954-1975, Trần Trọng Đăng Đàn viết:

Có ba khuynh hướng: “văn học” phản động về chính trị, “văn học” đồi truỵ hóa con người và “văn học” chạy theo những thị hiếu thấp kém của xã hội tiêu thụ gọi tắt là “văn chương tiêu thụ”. (tr.23)

Nhận xét về hình thức vận động của văn học:

Nhằm tận dụng “văn hóa” và “văn nghệ” làm công cụ chiến tranh tâm lý, trong những năm thống trị ở miền Nam, địch đã kết hợp cả hai hình thức: ”văn hóa, văn nghệ chỉ huy” và “văn hóa văn nghệ tự phát”

“Chỉ huy là loại “văn hóa”, “văn nghệ” do các cơ quan, các tổ chức, các cá nhân trong bộ máy chính quyền và quân đội Sài Gòn công khai nắm…phục vụ trực tiếp cho những yêu cầu chính trị, quân sự, kinh tế của chúng. (tr.17)

Gọi là “văn hóa”, “văn nghệ tự phát” là vì nhìn bề ngoài thì y như nó không chịu sự điều khiển, chỉ huy của chính quyền, y như nó được hoàn toàn tự do, tự phát. Ở đây, “văn hóa”, “văn nghệ” giống như một khu vực chợ trời: ai muốn in sách cứ in, ai muốn ra báo cứ ra, ai muốn lập nhà xuất bản, lập các hội, các đoàn, các nhóm, các phái… cứ việc lập; có tiền anh cứ xây nhà hát, dựng rạp chiếu bóng, lập phim trường…Chính quyền cũ… cho du nhập đủ các trường phái văn học, các xu hướng triết học, mỹ học, và trong đó, chúng vờ làm như là cho tha hồ viết, tha hồ nói…kể cả chửi Mỹ, chỉ trích tổng thống… Thực chất là có chỉ huy, mà trước hết là nó chỉ huy cái cơ bản: muốn nói gì thì nói, viết gì thì viết, nhưng phải là không nói, không viết cái gì có lợi cho cách mạng, không viết “theo sự chỉ đạo của cộng sản”…và “mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ”…

Tuy nhiên, đường lối “văn hóa, văn nghệ tự phát’ lại có các mặt bất lợi cho địch…Chính đây là kẽ hở mà cách mạng có thể lợi dụng để khơi những dòng trong giữa những dòng đục và quật lại chúng những đòn thấm thía trên mặt trận đấu tranh văn hóa- tư tưởng.(tr. 26)

Qua trích dẫn trên, Trần Trọng Đăng Đàn không coi văn học miền Nam là văn học. Ông để chữ “văn học” trong ngoặc kép (“ “). Theo ông, văn học miền Nam phải hoàn toàn bị vứt bỏ vì nó là nền “văn học” phản động về chính trị, đồi truỵ hóa con người và chạy theo những thị hiếu thấp kém của xã hội tiêu thụ“. Nó không thể được coi là một bộ phận của nền văn học dân tộc vì nó chỉ có tác hại. Nghiên cứu văn học miền Nam bằng phương pháp lịch sử là sai lầm. Nhưng ông phải thừa nhận, ngoài bộ phận “văn học chỉ huy”, ở miền Nam còn có một bộ phận “văn hóa văn nghệ tự phát”, “hoàn toàn tự do”.” Chính quyền cũ… cho du nhập đủ các trường phái văn học, các xu hướng triết học, mỹ học”.

Ngày nay nhìn lại, đánh giá của Trần Trọng Đăng Đàn về văn học miền Nam 1954-1975 hoàn toàn là đánh giá chính trị, một cái nhìn phủ định sạch trơn. Văn học chịu sự quy định của bối cảnh chính trị-xã hội, nhưng văn học cũng có giá trị tự thân và vận động theo quy luật riêng của nó trong lịch sử văn học. Bối cảnh chính trị xã hội 2020 đã hoàn toàn khác với bối cảnh chính trị-xã hội trước 1975. Văn học miền Nam 1954-1975 nay đã trở thành một thực tại lịch sử. Nó phải được đặt trong dòng chảy của lịch sử văn học dân tộc và được nghiên cứu bằng các phương pháp khoa học và phương pháp lịch sử. (Giống như sau 40 năm, từ 1986 trở đi, người ta đã đánh giá lại văn học 1930-1945, đánh giá lại Tự Lực văn đoàn, Vũ Trọng Phụng, Thơ Mới…; hoặc 50 năm nữa hay những thế kỷ sau, khi nhìn về văn học miền Nam 1954-1975, các thế hệ con cháu sẽ chỉ chú ý đến những giá trị mà nền văn học này đóng góp cho lịch sử văn học dân tộc.).

Cho đến nay đã có một vài tín hiệu mở ra hướng tiếp cận những vấn đề còn nhiều cách biệt về chính trị. Đã có những đề xuất cần phải nhận thức lại văn học miền Nam, chẳng hạn: Nguyễn Thị Thu Trang: Vài nét về văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975 (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 5/2007), Trần Hoài Anh: Lý luận – Phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954-1975, (Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2009, Nguyễn Thị Việt Nga: Một bộ phận văn học dân tộc cần được tiếp tục nghiên cứu.

Nguyễn Thị Việt Nga đặt vấn đề: ”…phải thừa nhận có một thực tế là sau giải phóng miền Nam 1975, do cách nhìn thành kiến, đố kỵ và sự ấu trĩ trong quan điểm tiếp cận, hoặc bị chi phối bởi các yếu tố ngoài văn học và các yếu tố tâm lý xã hội thiếu cởi mở, nên các nhà nghiên cứu, phê bình văn học (ở cả miền Nam và miền Bắc) có biểu hiện né tránh, ngại đi vào lĩnh vực có vẻ còn nhiều “chông gai” bởi đã và vẫn đang tồn tại nhiều quan điểm trái chiều này. Hơn nữa, qua thời gian đã nửa thế kỷ, nhiều tác phẩm văn học không những không được tái bản mà còn không được quan tâm lưu trữ. Do vậy, nguồn tư liệu, theo thời gian đang là trở ngại cho giới nghiên cứu. Văn học đô thị miền Nam dù thế nào đi nữa, nó là một bộ phận của văn học dân tộc, có quá trình phát triển hơn 20 năm, không thể bỏ qua. Đã đến lúc (tuy rằng đã muộn) phải tiến hành nghiên cứu đầy đủ văn học đô thị miền Nam, từ đó đưa ra những đánh giá khách quan, khoa học để những gì có giá trị thực sự, đóng góp vào thành tựu chung của cộng đồng, dân tộc cần ghi nhận, tiếp thu.”(31)

Tiến sĩ Trần Hoài Anh viết:“Việc xác định giá trị của lý luận – phê bình văn học ở đô thị miền Nam trong hệ thống giá trị của lý luận – phê bình văn học dân tộc là điều có ý nghĩa, không chỉ về mặt học thuật mà còn về mặt tư tưởng xã hội của một đất nước thống nhất, một dân tộc thống nhất./ Mặt khác, sự hiện hữu của lý luận – phê bình văn học ở đô thị miền Nam là một thực thể, một thực tế lịch sử, không thể phủ nhận. Sự hiện hữu đó làm cho di sản lý luận – phê bình văn học dân tộc phong phú hơn, giàu có hơn, tiệm cận hơn với nền lý luận – phê bình hiện đại của thế giới mà chúng ta đang hướng tới trong xu thế mở cửa, hội nhập với quốc tế hôm nay” (sđd. tr.260).

Trên  các diễn đàn (báo in và báo mạng), Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Du Tử Lê, Dương Nghiễm Mậu đã được nói đến. Riêng việc tái bản các tập truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu đã có những ý kiến phản đối quyết liệt. (bài viết “Đâu là tiêu chí của người xuất bản” của Vũ Hạnh đăng trên trang nhà Sài Gòn Giải Phóng ngày 22 tháng 4 năm 2007). Nhà thơ Du Tử Lê đã có lúc bị phản đối mạnh mẽ (xin đọc bài: Bộ mặt ngạo mạn của Du Tử Lê– báo công an tpHCM 18/8/05), nay cái nhìn về ông đã có vẻ thân thiện hơn. Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng (Canada) xuất hiện nhiều trong các sinh hoạt văn chương trong nước, ông cũng đã in tác phẩm ở trong nước. Tác phẩm Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, “Phê bình văn học thế kỷ XX” của Thụy Khuê… cũng đã được in trong nước…

Ở nước ngoài cũng đã có những tác giả viết về văn học miền Nam. Đáng kể là Tổng quan văn học miền Nam của Võ Phiến. Cuốn này được viết dưới nhãn quan “chống Cộng”, tuy vậy nó có giá trị về mặt tư liệu đối với người làm công việc nghiên cứu. Nhà phê bình Đặng Tiến đánh giá:”trong bộ Văn học miền Nam, cuốn I Tổng quan là một trước tác công phu, một ký sự văn học và xã hội học phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của một quần chúng đông đảo dưới một chế độ xã hội đã đi qua. Một tác phẩm giàu tâm tình và tâm huyết, với nhiều nhận định sắc bén, qua giọng văn trò chuyện tự nhiên, thân mật, dí dỏm. Trong một đề tài rộng rãi và phức tạp như thế, dĩ nhiên là có điểm cần bàn lại, có chỗ cần bổ sung hay sửa sai, nhưng nói chung, Tổng Quan là một biên khảo thành tâm, đứng đắn, ngay thẳng, đáng tin cậy.”.(32)

Cũng phải kể đến bài viết Văn học miền Nam của Thụy Khuê (33), và đặc biệt là Hội thảo 20 Năm Văn Học Miền Nam 1954-1975 ngày 6 & 7/12/2014 tại hội trường nhật báo Việt Báo, Westminster (34). Trong hội thảo này, đã có 16 tham luận về văn học miền Nam 1954-1975. Hội thảo vẫn nằm trong ý thức chính trị “chống Cộng” của một bộ phận người cầm bút hải ngoại, song cũng đã có những góc nhìn xem xét văn học miền Nam trong tiến trình văn học dân tộc. Chẳng hạn, tham luận của Bùi Vĩnh Phúc: Hai mươi năm văn học miền Nam (1954 – 1975): Phẩm Tính và Ý Nghĩa, của Du Tử Lê: ”Vài khía cạnh đặc thù của 20 năm văn học miền Nam”,…

Thiết nghĩ, sau 45 năm, chúng ta đã có thể nghiên cứu văn chương miền Nam (1955-1975) theo quan điểm khoa học và lịch sử một cách khách quan hơn. Những tác phẩm nào phản ánh được đời sống, tâm tư, nguyện vọng của dân tộc; những gì đóng góp vào sự phát triển của văn chương dân tộc thì cần phải được trân trọng giữ gìn.

  1. Văn chương của người Việt ở nước ngoài.

Sau năm 1975, với ý thức bảo tồn văn hóa dân tộc, nhiều tác giả nước ngoài nghiên cứu và đánh giá văn chương Việt hải ngoại. Về văn chương miền Nam trước 1975, Võ Phiến viết “Văn học miền Nam 1954-1975”. Thụy Khuê viết:Thử tìm một lối tiếp cận Văn học sử về Hai mươi lăm năm Văn học Việt Nam hải ngoại 1975-2000”, Nguyễn Mộng Giác viết “Sơ thảo về các giai đoạn thành hình và phát triển của dòng văn xuôi ở hải ngoại từ 1975 đến nay”. Về văn chương hải ngoại sau 1975, Du Tử Lê có công trình 700 trang:” Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật (1975-2015)”, Nguyễn Đức Tùng có một chuyên luận công phu về ”40 năm thơ hải ngoại” (35).

Một bài viết súc tích là bài: ”Văn học Việt Nam ở hải ngoại, những vấn đề của sự phát triển hiện nay.” của A.A. Sokolov, Phó giáo sư tiến sĩ sử họcViện Phương Đông Viện Hàn lâm khoa học Nga: Lê Sơn dịch đăng trên Văn hóa Nghệ An (36). Đây là bài có cái nhìn khá bao quát về diện mạo văn học Việt Nam hải ngoại và định hướng phát triển. Tác giả có góc nhìn rộng và đối chiếu với theo quan điểm của nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

Qua những công trình biên khảo trên, bạn đọc trong nước sơ bộ có thể nhìn thấy đông đảo các nhà văn hải ngoại thuộc nhiều thế hệ , những vấn đề họ quan tâm, và khuynh hướng phát triển của dòng văn học này. Nhìn chung các tác giả vẫn nhận định về giá trị của văn chương hải ngoại theo chuẩn “phản ánh hiện thực”. Đó là “văn chương lưu vong”, chủ yếu viết về những kỷ niệm quê hương, tình cảm với cố quốc; về di tản, kiếm sống và hội nhập. Nhiều nhà văn hải ngoại thấm thía gánh nặng của “tự do” và bi quan về văn chương hải ngoại khi thế hệ các nhà văn miền Nam qua đi, thế hệ hội nhập không còn viết bằng tiếng Việt, thì văn chương Việt hải ngoại chưa biết sẽ thế nào. Bởi thế hệ hội nhập đa số không viết bằng tiếng Việt mà viết bằng tiếng bản ngữ hướng về cộng đồng bạn đọc nơi họ sinh sống.

Có sự khác biệt cả về cách viết và những vấn đề quan tậm giữa hai thế hệ, những nhà văn miền Nam ra nước ngoài sau 1975 và những nhà văn thuộc thế hệ thứ hai, hai rưỡi lớn lên ở hải ngoại.

Tôi nhận ra điều này, các nhà văn Việt Nam ở nước ngoài; hết sức tự do và đầy đủ phương tiện, lại tiếp cận với văn chương thế giới đương đại, lẽ ra họ phải viết được những tác phẩm lớn (tôi ghi nhận tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, dày 2000 trang in ở Việt Nam năm 2017), những tác phẩm có giá trị nghệ thuật và tư tưởng; lẽ ra họ phải viết bằng những bút pháp hiện đại đổi mới hẳn văn chương Việt Nam, nhờ đó các nhà văn trong nước có thể học hỏi kinh nghiệm đưa văn chương trong nước hội nhập văn chương thế giới. Tuy nhiên, trong thực tiễn văn học, mọi đổi mới nghệ thuật văn chương đều xuất phát từ các nhà văn trong nước, đặc biệt những nhà văn dấn thân quyết liệt trên con đường sáng tạo. Và có một sự thật (đáng buồn) là sự mai một của nhiều cây bút tài năng một thời ở miền Nam trước 1975 như Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn, Phạm Công Thiện, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Sa, Nguyễn Tất Nhiên,…

Nói vậy không có nghĩa là không có sự giao lưu văn học trong và ngoài nước. Những nhà văn trẻ trong nước viết bằng thủ pháp hậu hiện đại hoặc làm thơ tân hình thức chắc chắn có kinh nghiệm của nhà văn hải ngoại. Thời mà các trang báo điện tử trong nước chưa có nhiều, rất nhiều nhà văn trong nước đã đăng bài ở các trang mạng nước ngoài như Hợp Lưu, Talawas, damau.org, Tiền vệ,…Những trang này quy tụ nhiều người viết cả trong và ngoài nước. Những cuộc tranh luận thường diễn ra do sự khác biệt chính trị. Những người viết không thể đăng bài trong nước thường đăng ở các trang này, ngược lại những tác giả nước người Việt nước ngoài gây ảnh hưởng với người cầm bút trẻ trong nước cũng qua những trang này.

Tuy nhiên, phải công bằng mà nói, những “cách tân” của “Thơ trẻ” đầu thế kỷ XXI ở trong nước bắt nguồn từ thơ hải ngoại. Đặc biệt là những nhà thơ trẻ tự nguyện đứng “bên lề” của dòng văn chương chính thống trong nước (như nhóm Mở Miệng)…, họ học theo Đinh Linh, Đỗ Kh., Lê Thị Thấm Vân, Lưu Diệu Vân…. Vào thư mục tác giả, tác phẩm của các trang Hợp Lưu, Talawas, damau.org, Tiền vệ, người đọc bắt gặp sự hiện diện của họ. Khế Yêm có nhiều nỗ lực làm và giới thiệu thơ Tân Hình thức ở Mỹ, song ở trong nước thơ Tân Hình thức không có ảnh hưởng lan tỏa.

Cùng lúc, các trào lưu lý luận phê bình văn chương cũng được giới thiệu vào Việt Nam qua các trang này. Nguyễn Hưng Quốc trên Tiền Vệ và Thụy Khuê trên trang cá nhân  (thuykhue.free.fr) là hai tác giả có uy tín. Riêng Thụy Khuê đã giới thiệu khá đầy đủ các lý thuyết phê bình văn học phương Tây, và in thành sách ở trong nước (cuốn Phê bình văn học thế kỷ XX, Nxb Hội Nhà văn, 2018).

Cho đến 2020, nhiều trang web văn chương hải ngoại đã tàn lụi hoặc sống lay lắt (Hợp Lưu, Talawas, Tiền Vệ…), và ở trong nước, nhiều trang web văn chương đã ra đời và đứng được như trang của Hội Nhà văn (vanvn.net ra đời 2009), tạp chí sông Hương, Văn hóa Nghệ An, vanchuongviet.org… Các trang này dần dần thu hút được nhiều người cầm bút hải ngoại đăng bài (xem trang vanchuongviet.org; trannhuong.net…)

Cuộc gặp mặt “Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc” do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức từ ngày 20 đến 24/10/2017 có sự tham dự của hơn 100 nhà văn trong nước và các nhà văn Việt Nam đang sinh sống tại 12 quốc gia trên thế giới là một khởi động có ý nghĩa. Tuy còn nhiều vấn đề khác biệt chưa giải quyết được, song cuộc “họp mặt” đã mở rộng cánh cửa để tất cả các nhà văn trong và ngoài nước gặp gỡ nhau với tinh thần “đoàn kết để sáng tạo, sáng tạo trong đoàn kết”.

  1. 7. Internet và văn chương

Yếu tố làm thay đổi sinh hoạt văn chương mạnh mẽ nhất trong những thập niên qua là sự ra đời của Internet và văn chương mạng.

Nhà văn thoải mái công bố tác phẩm và người đọc cũng thoải mái gửi lời bình (comment) khiến cho đời sống văn học có lúc sôi nổi hẳn lên. Trước kia, việc in ấn và phổ biến tác phẩm luôn là trở ngại lớn đối với người cầm bút. Thời gian đầu, khi trong nước chưa có nhiều trang văn học mạng thì các trang văn học mạng của người Việt hải ngoại chiếm ưu thế và có sức thu hút mạnh mẽ.

Giai đoạn sau đó, khi phong trào viết blog nở rộ, hầu như nhà văn nào cũng có một trang blog (ngoại trừ nhà văn không biết vi tính). Có thể coi đó là phong trào “trăm hoa đua nở”, ai muốn viết gì thì viết, muốn “lập ngôn” gì thì lập ngôn, muốn phê phán ai thì mặc sức. Và không ít người lợi dụng net cho mục đích chính trị, mục đích cá nhân ngoài văn chương. Và tình hình có lúc trở nên “loạn” phát ngôn, loạn phê bình, gây ra tình trạng “loạn” tiêu chí đánh giá văn chương. Thật hiếm có trang mạng nào chuyên về văn chương và những vấn đề văn chương mà không dây vào những vấn đề thời sự chính trị. Những trang của người Việt hải ngoại dù tuyên ngôn là “văn chương không biên giới”, là diễn đàn tự do, thì vẫn mang tư tưởng và thái độ “chống xã hội chủ nghĩa”.

Nhưng khi phong trào chơi blog “xẹp” xuống, cũng sau khi chơi blog, nhà văn nhận ra văn chương chỉ là cuộc chơi. Bởi vì bỗng dưng một ngày nào đó trang blog đăng bài đóng cửa hay biến bất thì tất cả bài vở đăng trên đó cũng mất theo (thí dụ: trang blog của Opera, Yume, phongdiep.net…). Những tưởng văn chương là chuyện lâu dài, nào ngờ đột nhiên nhà mạng ngưng cung cấp dịch vụ, thế là nhà văn trắng tay. Tác phẩm in vẫn giữ nguyên giá trị. Một trang lớn như Talawas (của nhà văn Phạm Thị Hoài ở Đức) đang phát triển, có sức thu hút như một trung tâm văn chương, cũng ngưng hoạt động mà không rõ lý do (rất may bài vở của trang này vẫn còn được lưu giữ).

Trước kia, người ta tưởng cứ tung lên mạng (blog cá nhân) thì sẽ được người đọc vồ vập, nhưng rồi không phải vậy, bởi trên không gian mạng xã hội đầy dẫy những tin giả (Fake news), vô số những kẻ “đeo mặt nạ” (và rất nhiều kẻ lợi dụng chính trị) vào comment, gây ra sự hỗn loạn, nhiều khi nặng lời xúc phạm nhau một cách “vô văn hóa”. Những người đọc chân chính, những người cầm bút lương thiện đành phải “bỏ chạy”.

Từ khi Quốc hội ban hành “Luật an ninh mạng” (số: 24/2018/ QH14, ngày 12/6/2018) thì số trang web văn chương còn sống được và có ảnh hưởng với văn đàn chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Những trang của các Hội VHNT địa phương thường là nhạt nhẽo, lười cập nhật bài (cũng có thể là không có bài, hoặc không có kinh phí) nên không tạo được ảnh hưởng nào.

Sau 15 năm đầu của thế kỷ 21, người ta tưởng sẽ hình thành “văn chương mạng”, song điều này đã không xảy ra. Chỉ một vài người viết trẻ chia sẻ trên mạng những bài viết, sau tập hợp lại in thành sách gọi là tạp văn, nhờ họ đã PR trước đó trên mạng nên có gây được sự chú ý một lúc, sau đó cũng im bặt.

Điều còn lại của internet là góp phần “hợp lưu” văn chương của người Việt hải ngoại và văn chương trong nước, góp phần dân chủ hóa đời sống, sinh hoạt văn chương, giải tỏa những ảo tưởng của nhà văn, và giúp phát triển văn nghệ quần chúng (kiểu như các câu lạc bộ thơ lục bát, câu lạc bộ thơ Đường luật, trang web của các Hội Văn học nghệ thuật địa phương…).

Internet đặc biệt hữu ích cho những người làm công tác nghiên cứu văn học trong việc tiếp cận nguồn tư liệu phong phú và nhanh chóng. Internet cũng là môi trường giao lưu, trao đổi và phổ biến thông tin văn chương có tầm vóc toàn cầu (công bố bài viết, xuất bản tác phẩm, tường thuật hội thảo, chia sẻ tư liệu…). Chưa bao giờ không gian văn chương lại gần gũi như bây giờ. Dù tác giả ở Hà nội, Sài gòn; ở Paris (France), Berlin (Germany), Toronto (Canada), hay Melbourne (Australia), chỉ cần một cái nhắp chuột computer là đã có thể kết nối. Dẫu vậy, tác phẩm in ấn vẫn có giá trị riêng về diễn ngôn và thẩm quyền tác giả mà bất cứ người cầm bút nào cũng muốn thực hiện.

  1. Tình hình văn học sau 2015
  2. Góc nhìn của Hội Nhà Văn Việt Nam

            Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa IX có 6 người: Chủ tịch là nhà thơ Hữu Thỉnh. Các Phó Chủ tịch Hội là nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà văn Nguyễn Trí Huân. Các Ủy viên là nhà văn Khuất Quang Thụy và nhà văn Nguyễn Bình Phương.

Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam tính đến 2019 có khoảng 1100 người.

Phương châm hành động của Ban Chấp hành Hội là “Tất cả cho hội viên”, “tất cả vì hội viên”. Hoạt động của Hội tập trung vào 3 lĩnh vực: Đẩy mạnh sáng tácxây dựng Hội, và quảng bá văn học Việt Nam.

            Tuy có nhiều khó khăn về nhân sự và tài chính, Ban Chấp hành cùng với các cơ quan cấp 2, các Ban văn học và các Hội đồng chuyên môn đã hết sức nỗ lực làm việc và đạt được nhiều kết quả tốt đẹp.

Để đầy mạnh sáng tác, hàng năm, Ban Chấp hành tổ chức các trại sáng tác và đi thực tế. Thí dụ, năm 2019, tổ chức trại sáng tác ở Tam Đảo, Nha Trang, Phú Quốc. Tổ chức riêng một trại sáng tác tại Bảo tàng văn học cho 8 nhà văn, thời gian một tháng, có tổ chức hội thảo tại trại. Kết thúc trại sáng tác có những bản thảo rất là công phu. Năm 2019, kỷ niệm 40 năm chiến tranh biên giới, Ban Văn học Chuyên đề tổ chức được 6 chuyến đi thực tế các vùng chiến sự ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, một chuyến đi đồng bằng sông Cửu Long.

Cũng để đầy mạnh sáng tác, Hội Nhà văn đã tổ chức nhiều cuộc thi. Cuộc thi truyện ngắn của tạp chí Nhà văn và tác phẩm; Cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ;  Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 4 (2011-2015) không có giải A. Có 3 giải B và 9 giải C; Các tác phẩm đạt giải đại diện cho các xu hướng văn xuôi đương thời, đó là hướng khai thác lịch sử, khai thác “đời thường” và thời sự chính trị – xã hội; hướng chiêm nghiệm đời sống hiện đại; hướng khai thác chủ đề đạo đức – đạo lí; hướng đi vào con người cá nhân và hướng phản tư xã hội – lịch sử.

Một hoạt động khác thúc đầy sáng tác là Hội Nhà văn tổ chức các hội nghị và hội thảo:

Hội nghị các nhà văn trẻ toàn quốc (2016) có 113 đại biểu. Chương trình có Dạ hội thơ “Bản hòa âm tháng 9” do Ban Nhà văn Trẻ tổ chức; hai tọa đàm “Văn trẻ – Nhập cuộc và sáng tạo”, “Thơ trẻ – Truyền thống và cách tân”.

Hội nghị Lý luận phê bình tại Tam Đảo (2016) với chủ đề “Văn học 30 năm đổi mới, hội nhập và phát triển 1986-2016”. Có hơn 200 nhà văn tham dự với 70 tham luận. Hội nghị đã tiến hành 4 cuộc hội thảo chuyên ngành: Lý luận – Phê bình, Thơ, Văn xuôi và Văn học dịch.

Cuộc gặp mặt lần thứ nhấtNhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc”…(20 đến 24/10/2017). Theo tường thuật của nhà thơ Mai Nam Thắng, cuộc gặp mặt có sự tham dự của hơn 100 nhà văn tiêu biểu trong nước và các nhà văn Việt Nam đang sinh sống tại 12 quốc gia trên thế giới. Tuy còn một số tồn đọng của quá khứ chưa thể giải quyết hết được trong một thời gian ngắn, nhưng Hội đã, đang và sẽ làm tất cả những gì có thể để hội tụ các tài năng văn học trong mái ấm của tình đoàn kết dân tộc. Với tinh thần “đoàn kết để sáng tạo, sáng tạo trong đoàn kết”. Tinh thần chung là tạo ra sự hợp tác thông thoáng, hiệu quả để các nhà văn ở nước ngoài có điều kiện tốt nhất tiếp cận đời sống, đẩy mạnh sáng tác, công bố tác phẩm và tổ chức các sự kiện giao lưu với bạn đọc trong nước.

Về quảng bá văn học, Ban chấp hành Hội Nhà văn đã tổ chức Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam lần thứ III (2015) với sự tham dự của hơn 500 nhà văn, nhà thơ, dịch giả Việt Nam và 151 đại biểu đến từ 43 quốc gia, vùng lãnh thổ. Sau hội nghị, nhiều dự án hợp tác đã được ký kết, triển khai. Hội nghị quảng bá văn học Việt Nam lần thứ IV và Liên hoan thơ quốc tế lần thứ III được tổ chức trong dịp Ngày thơ Việt Nam Nguyên tiêu Kỷ Hợi (2019). Có 51 quốc gia với gần 200 nhà văn tham gia. Trước kia chỉ có châu lục là Á, Phi, châu Âu. Năm 2019 có châu Mỹ La Tinh. Hội nghị được tổ chức trên một quy mô rất rộng từ Hà Nội đến Quảng Ninh, Bắc Giang. Cùng một lúc, vừa tổ chức thảo luận, hội thảo về những vấn đề mà các bạn quan tâm với văn học Việt Nam, vừa tổ chức cho các nhà thơ đi giao lưu văn hóa như đọc thơ với Đại học Sư Phạm, Đại học Văn hóa. Diện hoạt động rất rộng. Hội nghị đã có tiếng vang lớn, được dư luận trong nước và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Trong Hội nghị công tác văn học cuối năm, thay mặt Ban chấp hành Hội nhà văn, nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội luôn có sự nhận định đánh giá chung về sự phát triển văn học. Xin dõi theo một vài năm:

Năm 2011:

Giải thưởng Hội Nhà văn 2010, 2011 cho chúng ta thấy nền văn học của chúng ta tiếp tục phát triển trong sự đa dạng và luôn luôn đổi mới. Chúng ta tiếp tục khẳng định những tài năng đã được khẳng định, tiếp tục khẳng định những định hướng lớn trong nền văn học của chúng ta. Đó là trở lại lịch sử của dân tộc, trở lại 2 cuộc kháng chiến, đi sâu vào đời sống đất nước trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc… Sứ mệnh của văn học là cất cao tiếng nói, chống lại sự suy thoái của tinh thần, suy thoái đạo đức, chống lại sự vô cảm, chống lại sự nguội lạnh đối với tình yêu con người, nó phê phán mọi cái xấu, cái ác… Và giải thưởng Hội Nhà văn  2010- 2011 đã làm được điều đó. Đó cũng chính là sự phát triển lên một bước mới của văn học Việt Nam.”(37)

Năm 2016:

“…nền văn học tiếp tục phát triển mở rộng biên độ, đề tài, chủ đề sáng tác”; “số lượng sáng tác nhiều nhưng chưa xuất hiện tác phẩm tạo nên một sự kiện văn học”…

Năm 2017:

Văn học tiếp tục phát triển lành mạnh. Xu hướng dân tộc và tinh thần yêu nước vẫn tiếp tục phát huy, nhất là xu hướng trở về với cội nguồn và lịch sử dân tộc, lật xới quá khứ để tìm câu trả lời cho những vấn đề hiện tại và tương lai của đất nước…Tuy nhiên các tác phẩm văn học vẫn chưa gây được dư luận rộng rãi.”

Năm 2019:

 “chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn vẫn là chủ đề xuyên suốt trong các tác phẩm, dẫu viết về đề tài lịch sử hay phải ánh những vấn đề bức xúc, nổi cộm của cuộc sống đương đại”… “chất lượng không tương xứng với số lượng.”(2019)

  1. Thống kê giải thưởng một thập kỷ của Hội Nhà văn:
Năm Tác phẩm Văn xuôi (20) Tác phẩm Thơ (17) Tác phẩm Lý luận phê bình (16)
2008 1.“Ngôi nhà xưa bên suối”, tập truyện ngắn của Cao Duy Sơn;

2.“Sóng chìm”, tiểu thuyết của Đình Kính và

3.“Tiếng khóc của nàng Út”, tiểu thuyết (Nguyễn Chí Trung)

KHÔNG TRAO GIẢI KHÔNG TRAO GIẢI
2009 KHÔNG TRAO GIẢI KHÔNG TRAO GIẢI 1.”Tản mạn nghiệp văn” (Đinh Quang Tốn).
2010 1.       1.“Lính trận” (TrungTrung Đỉnh)

2.       2.“Minh sư” (Thái Bá Lợi).

3.       3.“Lỏng và Tuột” (Trần Đức Tiến)

4.       4.“Giữa dòng chảy lạc

5.                (Nguyễn Danh Lam)

6.       1.“Bầu trời không mái che

7.             (Mai Văn Phấn).

8.       2.“Sóng và khoảng lặng

9.              (Từ Quốc Hoài ).

 

KHÔNG TRAO GIẢI
2011 1.‘Đội gạo lên chùa”, tiểu thuyết (Nguyễn Xuân Khánh )

2.“Huyền thoại tàu không số” Tập truyện ký (Đính Kính).

1.“Ngày linh hương nở sáng

(Đinh Thị Như Thúy).

2. “Hoan ca”

(Đỗ Doãn Phương).

 “Bàn về minh triết và minh triết Việt”, LLPB (Hoàng Ngọc Hiến).
2012 1.Thành phố đi vắng , tập truyện ngắn (Nguyễn Thị Thu Huệ).
Bằng khen:2.Trò chơi hủy diệt cảm xúc,

tiểu thuyết (Y Ban)

3.Một thế kỷ bị mất,

tiểu thuyết lịch sử (Phạm Ngọc

Cảnh Nam).

 

1. Trường ca chân đất (Thanh Thảo)

2.Màu tự do của đất, tập thơ (Trần Quang Quý)

3.Giờ thứ 25, tập thơ (Phạm Đương).
Bằng khen:

1.Hoa hoàng đàn nở muộn, Tập thơ ( Khuất Bình Nguyên)

2.Chất vấn thói quen, tập thơ (Phan Hoàng).

Đa cực và điểm đến, LLPB

(Văn Chinh).

2013 Bãi vàng, Đá quý, Trầm hương, tập truyện ngắn

(Nguyễn Trí)

 

Những lớp sóng ngôn từ, tập thơ (Mã Giang Lân) Phút giây huyền diệu, tiểu luận và bút ký (Ma Văn Kháng)

 

2014 Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75

         (Trần Mai Hạnh)

Trường ca ngắn, kịch thơ,

(Nguyễn Thụy Kha)

1.Trăm năm trong cõi (Gs Phong Lê )

2. Thơ Việt Nam hiện đại tiến trình và hình tượng (PGs Nguyễn Đăng Điệp)

2015 1.“Kỳ nhân làng Ngọc”, truyện ngắn (Trần Thanh Cảnh),

2.“Thông reo Ngàn Hống”, tiểu thuyết (Nguyễn Thế Quang).

1.Long mạch”, Trường ca

(Hoàng Trần Cương).

2.“Vườn khuya”, (Trần Hùng).

 

1.“Các lý thuyết nghiên cứu văn học ảnh hưởng và tiếp nhận từ ngày đổi mới đến nay” – Nghiên cứu Lý luận (Nguyễn Văn Dân)

2.“Âm thanh của tưởng tượng”,  LLPB (Lê Hồ Quang).

 

2016 1.Làn gió chảy qua” (Lê Minh Khuê)

2.”Mưa đỏ” tiểu thuyết (Chu Lai)

1.”Tổ Quốc nhìn từ biển“, tập thơ  (Nguyễn Việt Chiến)

2.”Vũ khúc Tày“, tập thơ song ngữ Việt-Tày (Y Phương)

1.”Giọt nước trong lá sen“, chân dung văn học, đàm luận văn chương (Khuất Bình Nguyên),

2.”Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại” (Trần Huyền Sâm)

2017 KHÔNG TRAO GIẢI KHÔNG TRAO GIẢI 1.Bóng người trong bóng núi”,

LLPB( Lê Thành Nghị)

2.“Cách tân nghệ thuật văn học phương Tây” (Phùng Văn Tửu)

2018 KHÔNG TRAO GIẢI KHÔNG TRAO GIẢI Văn học Nga hiện đại – những vấn đề lý thuyết và lịch sử” của tác giả Trần Thị Phương Phương
2019 1.“Quán thủy thần”, tập truyện ngắn (Nguyễn Hải Yến)

2.“Trụ lại”, tập ký sử (Hồ Duy Lệ)

 

1. “Bay trong mơ”, Tập thơ (Trần Quang Đạo)

2. “Nguồn”, Tập thơ (Trần Quang Quý)

 

1.“Nhận diện và lý giải các hiện tượng văn học”, LLPB (Phan Trọng Thưởng)

2.“Những sinh thể văn chương Việt”, LLPB (Lý Hoài Thu)

3.. “Tư tưởng và phong cách nhà văn những vấn đề lý luận và thực tiễn”LLPB (Trần Đăng Suyền)

 

 

Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 4 (2011-2015) không có giải A. Có 3 giải B là tác phẩm “Người thứ hai” tác giả Tô Hải Vân, “Chim ưng và chàng đan sọt” của Bùi Việt Sỹ và “Mảnh vỡ của mảnh vỡ” của Vĩnh Quyên. 9 giải Ba là: Vùng sâu của Tô Nhuận Vỹ, Thạch trụ huyết của Nguyễn Trần Bé, Hát của Trần Nhã Thụy, Dư chấn 3,5 độ richter của An Bình Minh, Gã tép riu của Nguyễn Bắc Sơn, Cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam, Seo Sơn của Vũ Quốc Khánh, Đốt trúc của Nguyễn Đắc Như.

Có vài điều cần mặc định trước khi nhìn vào bảng thống kê giải thưởng Hội Nhà văn từ 2008 đến 2020.

Mặc định rằng, việc xét giải là khoa học, công bằng và theo một tiêu chí thống nhất giữa các năm, và vì thế chất lượng giải các năm là như nhau. Thực tế không phải như vậy. Thí dụ, năm 2009 có một  Hội đồng xét giải là các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu gồm: Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Lê Văn Thảo, Trần Đăng Khoa, Mai Quốc Liên, Nguyễn Thiện, Phan Hồng Giang, Vũ Quần Phương, Nguyễn Khắc Trường, Chu Lai, Phan Thị Vàng Anh. Việc đề cử tác phẩm do các Hội đồng chuyên môn, các Ban chuyên môn, các thành viên Ban Chấp HànhBan chung khảo. Nhưng những năm gần đây  không còn Hội đồng xét giải. Chỉ có sự đề cử của các Hội đồng chuyên môn và các Ban chuyên môn. Việc chọn trao giải là do Ban Chấp hành quyết định. Nhiệm kỳ 2015-2020, Ban chấp hành chỉ có 6 người thì việc xét chọn trao giải sẽ là hết sức khó khăn, vì mỗi thành viên phải quán xuyến tất cả các tác phẩm được đề cử.

Mặc định thứ hai rằng, giải thưởng của Hội Nhà văn là cái “hàn thử biểu” có độ chính xác cao để đo nhiệt độ văn chương hàng năm, và những tác phẩm đạt giải là những tinh hoa văn chương của một năm, để từ đó người đọc có thể nhận ra sức sống của cả nền văn học. Nếu vậy, những năm không có tác phẩm được trao giải (2008, 2009, 2017, 2018) có đồng nghĩa rằng năm đó “mất mùa” văn chương không?

Và mặc định rằng, không có những eo xèo về việc trao giải (thí dụ: Hội Thề của Nguyễn Quang Thân, “Chim ưng và chàng đan sọt” của Bùi Việt Sỹ ).

Với những mặc định như vậy, nhìn vào Giải thưởng của Hội Nhà văn trong hơn một thập kỷ, ta đọc được điều gì?

Sự thật là không có tác phẩm nào nổi trội được công luận quan tâm như một hiện tượng góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn học. Về thơ, các nhà thơ Thanh Thảo, Mai Văn Phấn, Trần Quang Quý vẫn giữ được phong độ từ “đổi mới” đến nay, những khuôn mặt mới chưa gây được ấn tượng. Giải Lý luận phê bình hầu như trong tay các Giáo sư, PGS Tiến sĩ giảng dạy Đại học nắm giữ. Vấn đề là, trong những tác phẩm đạt giải, có những công trình nghiên cứu về những đề tài đã quá cũ (chẳng hạn,.“Những sinh thể văn chương Việt viết về các nhà thơ trước 1945), hoặc “Bóng người trong bóng núi” viết về các nhà thơ thời chống Mỹ). Không có một công trình văn học sử nào về 45 năm văn học Việt Nam từ 1975 đến nay (2020) trong khi lại xuất hiện “Văn học Nga hiện đại – những vấn đề lý thuyết và lịch sử” viết về lịch sử văn học Nga hiện đại.

Điều ấy có ý nghĩa gì? Có thể nhận thấy rằng, sau cao trào “đổi mới” (1986-1996) và cao trào “cách tân” đầu thế kỷ XXI (1996-2010), văn chương Việt Nam vẫn phát triển nhưng là phát triển về mặt phong trào. Bao nhiêu trại sáng tác, bao nhiêu chuyến đi thực tế đã góp phần thúc đẩy văn chương phong trào. Ngay cả 1100 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đa phần cũng là những tác giả phong trào, bởi họ sinh hoạt trong các hoạt động phong trào ở địa phương, sáng tác theo yêu cầu của phong trào. Những tác phẩm lớn, những nhà văn lớn chưa xuất hiện.

  1. Ở các Hội Văn học Nghệ thuật địa phương

   Có một sự rập khuôn Hội Nhà văn Việt Nam về các hoạt động ở Hội văn học Nghệ thuật địa phương. Xin đọc tổng kết hoạt động của Hội VHNT Đồng Nai năm 2019:

“Hội đã tổ chức 06 trại sáng tác chuyên đề, tổ chức thành công các sự kiện Ngày thơ Việt Nam lần thứ XVII và Ngày Văn nghệ sĩ Đồng Nai 2019, Ngày Nhiếp ảnh, Ngày Âm nhạc, Ngày Sân khấu Việt Nam; các chương trình biểu diễn nghệ thuật…; Đặc biệt là Hội đã tổ chức thành công Đại hội lần thứ VI (nhiệm kỳ 2019 -2024) tháng 3/2019 và kỷ niệm 40 năm thành lập Hội (1979 – 2019).

Tr​​​​​ong năm 2019, Hội đã xuất bản, công bố 06 kỳ tạp chí Văn nghệ Đồng Nai, 03 tuyển  tập văn học nghệ thuật, 19 tập sách cá nhân, 05 chương trình ca nhạc, vọng cổ, kịch ngắn; nhiều giải thưởng Ảnh nghệ thuật và Mỹ thuật; nhiều triển lãm ​chuyên đề và triển lãm của​​​ các cá nhân…” (38)

Ở Hội Nhà Văn Hả Nội và Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh còn có Giải thưởng hàng năm. Riêng giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn Hà Nội được công luận chú ý. Người ta cũng kỳ vọng ở chất lượng giải thưởng. Song trong nhiều năm qua, trong các tác phẩm được giải, không có tác phẩm nào vượt trội. Và cũng giống như giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam cũng có những tác phẩm được giải không tránh được sự hoài nghi.

  1. Góc ghi nhận

            Tình hình văn học từ 2010 trở đi nhìn chung là trầm lắng. Dòng chảy văn chương vẫn thao thiết. Số lượng đầu sách văn học được in ngày càng nhiều. Năm 2019, riêng nhà xuất bản Hội Nhà văn đã in 1650 cuốn, nhưng  chưa có tác phẩm nào tạo được hiện tượng văn học, chưa có những bước đột phá thực sự về tư tưởng và nghệ thuật, ngay cả những tác phẩm đạt giải cũng lặng lẽ trôi vào quên lãng.

Dòng văn học Cách mạng và kháng chiến (Văn chương Nhà nước) vẫn được Hội Nhà văn và các Hội VHNT địa phương tích cực thúc đẩy sáng tác. Các trại sáng tác, các chuyến đi thực tế, các hội thảo đều hướng sáng tác vào những chủ đề phục vụ chính trị. Số lượng tác phẩm của dòng văn học này là rất lớn, song chưa có một tổng kết đánh giá nào về giá trị của các tác phẩm phong trào này. Có một thực tế là, sau khi trại sáng tác kết thúc, tất cả các tác phẩm của trại viết đều được xếp vào kho để làm vốn cho đời sau (ai cần thì đọc).

Dòng văn chương dân chủ và nhân văn cũng chững lại, sau cao trào những năm sau đổi mới (1986) dường như các nhà văn đã cạn đề tài? Những vấn đề của quá khứ như Cải cách ruộng đất, hiện thực không Xã hội chủ nghĩa trước đổi mới, đã không còn hấp dẫn. Cho nên tiểu thuyết Kiến, Chuột và Ruồi của Nguyễn Quang Lập dù in ở Mỹ và được Phạm Ngọc Tiến tụng ca lên mây xanh cũng không gây được tiếng vang nào. Tiểu thuyết Mối Chúa của Đãng Khấu (Tạ Duy Anh) viết về việc thu hồi hàng trăm ha đất ruộng để làm nhà máy thép, làm sân golf. đã đẩy hàng ngàn nông dân vào tình cảnh bi đát… Cuốn sách bị Cục xuất bản thu hồi vì lý do: “Nội dung cuốn sách phản ánh những vấn đề nổi cộm trong xã hội hiện nay. Qua đó, tác giả đã vạch trần những tiêu cực và bất công trong xã hội. Tuy nhiên, phần lớn các nhân vật trong tác phẩm từ thấp đến cao đều đen tối, vô vọng, đau đớn. Qua lời kể của các nhân vật, hiện lên những thế lực hắc ám, một xã hội hầu như được chỉ huy bởi những kẻ ngu dốt, tham lam, thủ đoạn. Toàn bộ hệ thống bộ máy chính quyền bộc lộ sự tàn nhẫn, vô đạo, đàn áp nông dân, giết hại lẫn nhau, giết người chống đối chỉ vì tiền. Một số chi tiết được viết với giọng điệu giễu nhại sâu cay, miêu tả tiêu cực có phần tô đậm và có tính khái quát khiến cho hiện thực trở nên đen tối, u ám (trang 38, 43, 74, 129, 140, 141, 158, 161, 173, 198, 251…). Các trang viết về chính quyền cưỡng chế nông dân trong việc thực hiện các dự án được miêu tả một cách cường điệu, coi đó như hai lực lượng thù địch, chính quyền đàn áp như một trận đánh được chuẩn bị kỹ lưỡng từ vũ khí đến lực lượng bí mật (trang 113, 115, 124, 167, 168, 207, 209, 220, 248…) (39)

Nếu nhà văn viết về những hiện tượng xã hội như Mối Chúa, thì văn học luôn đi sau hiện thực và không có sức hấp dẫn. Những năm qua, báo chí và các trang mạng xã hội, đã khai thác triệt để những hiện tượng xã hội. Bất cứ người dân nào cũng có thể đưa tin trực tiếp bằng Live Stream trên các smartphone mà văn chương không thể cạnh tranh được. Những đại án xử những vụ tham nhũng lớn cũng đã được xử công khai, khác với thời xa xưa mọi hành vi của cán bộ Nhà nước đều không được tiết lộ, vì thế, ngay cả khi Mối Chúa được phát hành rộng rãi cũng khó gây được hiệu quả văn học nào. Cái thời của Chủ nghĩa Hiện thực phê phán đã lùi xa lắm rồi.

Văn chương thị trường, sau vụ mùa nở rộ 2014. Đến nay, cũng trở lại im ắng. Năm

2019, công chúng đọc nhiều loại sách về  kỹ năng sống như: Thoát khỏi bẫy cảm xúc hay trò lửa đảo của tâm trí (Tác giả Thiện Từ); Kế hoạch Marketing trên một-trang-giấy (Tác giả Allan Dib); LeapĐột phá tư duy trong kinh doanh (Tác giả Howard Yu), Thuật nói chuyện hàng ngày (Tác giả Hoàng Xuân Việt) (40). Sách Văn học chỉ có Làm bạn với bầu trời của Nguyễn Nhật Ánh và tản văn Hành lý hư vô của Nguyễn Ngọc Tư (41)

Thực ra khi các phương tiện nghe nhìn giải trí trở nên quá phổ thông. Chỉ cần một chiếc smartphone, người trẻ có thể xem phim, nghe nhạc, chat với bạn bè và thực hiện Live Strteam các hoạt động cá nhân. Việc đọc sách văn chương không còn là phương tiện giải trí duy nhất như ngày xưa. Hơn nữa, đọc một cuốn sách dày đặc chữ là hết sức vất vả, trong khi xem một bộ phim truyền hình nhiều tập thì hấp dẫn hơn nhiều.

Viết tác phẩm văn chương thị trường không dễ. Bởi công chúng mỗi thời mỗi khác, họ chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố truyền thông mang tính toàn cầu hóa (thí dụ phim nước ngoài, sách văn học nước ngoài, các show diễn của các sao thế giới…). Nhà văn Việt Nam không phải ai cũng có năng lực nắm bắt thị trường và có khả năng viết văn chương thị trường. Cuối năm 2019,  nhà văn Khôi Vũ đăng status trên Facebook kêu gọi các nhà xuất bản “giải cứu” bản thảo của ông. Ngày 14/1/2020, nhà văn Trần Nhã Thụy cho biết, lần đầu chi tiền túi in cuốn Ba tao bay ra ngoài cửa sổ và 9 truyện ngắn khác. ” Anh xin giấy phép in 500 cuốn, nhưng thực tế chỉ in 300 cuốn và tự mình đi bán. Trên Facebook cá nhân anh cho biết, ngày đầu bán được 100 cuốn.(42).

Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà văn, trong Hội nghị công tác văn học 2019 đã đặt vấn đề để: “Thị trường sách của chúng ta là nó có rào. Đây là một thực tế mà chúng ta cần phải suy nghĩ. Vì sao vậy? Đối với thị trường, tôi thấy là nhiều năm nay chúng ta đã đưa ra, đã thảo luận, nhưng mà thị trướng nó có quy luật của thị trường. Chúng ta phải theo thôi. Chúng ta không thương mại hóa, nhưng chúng ta cũng không thể coi nhẹ quy luật của thị trường là, cái nào hay, cái nào có tiếng thì người ta đọc”.

 NHÌN VỀ MAI SAU

a 3 jpeg

Đó là một câu hỏi viễn tưởng. Giả định rằng tình hình thế giới ổn định, hòa bình (thực tế thì luôn có những biến động bất thường). Giả định rằng tình hình an ninh chính trị, xã hội, kinh tế Việt Nam tiếp tục ổn định và phát triển. Thực tế đất nước đang đối mặt với nhiều thách thức. Chẳng hạn, việc bảo vệ chủ quyền biển đảo, vấn đề nợ công, ô nhiễm môi trường, việc thiếu năng lượng phục vụ sản xuất, những bất công xã hội và chênh lệch gìau nghèo ngày càng tăng, đạo đức xã hội và giáo dục đã xuống cấp trầm trọng… trong thế giới toàn cầu hóa chuyển động và phát triển như vũ bão hôm nay, thật khó hình dung được 40 năm sau văn chương Việt Nam sẽ như thế nào. Chắc chắn là rất khác, cũng có thể là vẫn như 40 năm qua. Vì tất cả thực lực văn chương Việt Nam đã bộc lộ hết, và các thế hệ tài năng cũng đã qua đi mà tác phẩm lớn vẫn chưa xuất hiện.

Vấn đề là, tài năng văn chương và tác phẩm lớn có xuất hiện hay không! Đã có nhiều cuộc hội thảo bàn về vấn đề này.

Chẳng hạn, ngày 27, 28/11/2013 tại Tp Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận, Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương tổ chức Hội thảo khoa học toàn quốc: “Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thực trạng và giải pháp”.  Có 220 đại biểu tham dự, 70 tham luận, 40 ý kiến phát biểu tại hội thảo. Đề dẫn là PGS-TS Nguyễn Hồng Vinh, PGS-TS Đào Duy Quát. Đáng chú ý là ý kiến của Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, GS-TS Đinh Xuân Dũng, GS Mai Quốc Liên, GS Phong Lê, GS Trần Thanh Đạm, GS Trần Trọng Đăng Đàn, GS-TS Hồ Sĩ Vịnh, TS Lê Thành Nghị; ý kiến của nhà thơ Hữu Thỉnh, Lê Quang Trang, Vũ Quần Phương; nhà văn Chu Lai, Phùng Văn Khai,  Sương Nguyệt Minh, Võ Thị Xuân Hà, Vũ Hạnh…

PGS-TS Nguyễn Hồng Vinh đề nghị các nhà khoa học cần tập trung thảo luận, làm rõ một số vấn đề cơ bản: Làm rõ nội hàm của mục tiêu của Nghị quyết 23 là: “Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học – nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao“; hệ thống tiêu chí nào để xác định, định giá tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao? Phân tích thực trạng tình hình sáng tạo văn học, nghệ thuật trong những năm gần đây, chủ yếu tập trung phân tích nguyên nhân chủ quan, khách quan của vấn đề chất lượng các tác phẩm văn học, nghệ thuật hiện nay. Từ thực tiễn đời sống sáng tạo văn học, nghệ thuật cụ thể, đề xuất những yêu cầu và hệ thống các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả sáng tác, lý luận, phê bình, trình diễn, quảng bá để có những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao…(43)

PGS-TS Đào Duy Quát đề xuất 7 chủ trương, giải pháp cơ bản là: 1/. Tiếp tục đồi mới, 2/. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, chấm dứt can dự thô bạo vào sáng tác, chống thả lỏng. 3/. Nâng cao quản lý Nhà nước. 4/. Phát triển lý luận, nâng cao tính khoa học, tiếp thu có chọn lọc. 5/. Xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ trong thời kỳ mới. 6/. Củng cố các Hội VHNT, tập họp, đoàn kết, phát huy. 7/. Tăng cường xây dựng văn nghệ quần chúng. PGS-TS Đào Duy Quát nhấn mạnh: phải kiên quyết thực hiện đồng bộ 7 giải pháp trên, đưa 7 giải pháp vào đời sống, tạo tiền đề cho thiên tài, coi trọng việc phát hiện tài năng…(nguồn: bản ghi của BCT khi tham dự hội thảo).

Và những gì Hội thảo đề ra (7 giải pháp) hình như chưa chạm vào được thực tế, Nhà thơ Hữu Thỉnh đặt vấn đề, muốn có tác phẩm lớn thì phải có nhà văn lớn, nhưng thế nào là nhà văn lớn? Vấn đề tự do sáng tác cho văn nghệ sĩ? Nhật Ký trong tù được sáng tác trong hoàn cảnh mất tự do nhưng vẫn là tác phẩm lớn!…

Từ đó đến nay, vẫn không thấy bóng dáng thiên tài và tác phẩm đỉnh cao xuất hiện.

Có lẽ các cấp quản lý văn nghệ có cái nhìn “duy ý chí” chăng? Làm sao có thể áp đặt nhà văn phải thế này, phải thế kia để cho ra một tác phẩm lớn. Thực tế cho thấy, chỉ có tài năng, và cũng chỉ trong những hoàn cảnh xã hội đặc biệt mới có thể sản sinh ra thiên tài và tác phẩm lớn. Chẳng hạn, hoàn cảnh của Nguyễn Trãi và cuộc kháng chiến 10 chống quân Minh xâm lược của Lê lợi mới làm nên Bình Ngô Đại cáo. Tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi thời đó là tư tưởng Nhân Nghĩa tiến bộ. Đó là vai trò và sức mạnh của quần chúng: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phất phới”.

Những tác phẩm lớn thường có nội dung phản ánh một bối cảnh xã hội rộng lớn, cùng với sự thể hiện những tư tưởng lớn. Văn chương Việt Nam thiếu hẳn tư tưởng, thì mong gì có tác phẩm đỉnh cao!

Ở những trại sáng tác, những hội thảo, những Hội VHNT địa phương… người sáng tác chỉ được “định hướng” vào những nhiệm vụ chính trị cụ thể; tư duy sáng tác chỉ quanh quẩn trong cái “ao làng”với một vài “công thức” (thí dụ: công thức “Ta nhất định thắng, dịch nhất định thua”, kết thúc tác phẩm phải là cái nhìn lãng mạn cách mạng…), và để an toàn, người cầm bút tránh đụng đến những vấn đề “nhạy cảm”, thì sẽ không bao giờ có tác phẩm lớn, bởi nhà văn không có khả năng đụng đến những vấn đề lớn của Con người và xã hội.

45 năm văn chương Việt Nam sau 1975 đã có 2 thế hệ, thế hệ Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… và thế hệ Nguyễn Quang Thiều, Phong Điệp, Văn Cầm Hải… 45 năm tới có thể xuất hiện “thế hệ nhà văn 5G” toàn cầu hóa. Thế hệ 5G là thế hệ mà tác phẩm của họ được trao đổi trên mạng xã hội: sáng tác, phổ biến, mua bán trên mạng và các phương tiện truyền thông. Người đọc tác phẩm bằng smartphone và các phương tiện nghe nhìn. Nhà văn thế hệ 5G hội nhập với dòng chảy văn chương thế giới. Người trẻ do làm việc trong môi trường công nghiệp, điều kiện ăn ở bị thu hẹp, không có những tủ sách. Họ sẽ đọc trên các thư viện điện tử. Toàn cầu hóa mở rộng mọi biên giới, và những khác biệt văn hóa được thu hẹp.

Đã có thể nhìn thấy trong bóng dáng những thế hệ kế tiếp của nhà văn Việt Nam trong hình ảnh thế hệ thứ hai, thứ ba nhà Việt Nam văn nước ngoài như Andrew Lam, Monich Trương, Aimee Phan, Lan Cao, Kien Nguyễn, Lê Thị Diễm Thuý, Dao Strom, Nguyễn Minh Bit, Mộng Lan v.v… Kim Lefevr và Linda Le…(dẫn theo A. A. Sokolop), Thuận, Lê Thị Thấm Vân, Lưu Diệu Vân, và gần đây nhất là Viet Thanh Nguyen – nhà văn gốc Việt từng đoạt giải Pulitzer 2016. Tác phẩm của Dương Thụy đã mở rộng biên giới không gian và biên giới văn hóa (Nhắm mắt thấy Paris; Oxford yêu thương; Bồ câu chung mái vòm; Cung đường vàng nắng; Venise và những cuộc tình gondola…)

***

Trong sự phát triển văn chương, Chủ nghĩa hiện thực vẫn giữ nguyên sức mạnh của nó bên cạnh những trào lưu khác. Về nội dung, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo tiếp tục phát triển ở những tầm vóc mới. Xu hướng dân chủ hóa trong văn học ngày càng mạnh mẽ. Một số nhà văn tự mình có thể sống và viết, tự in tác phẩm và phổ biến tác phẩm. Định hướng “xây dựng nền văn nghệ tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, có tinh thần nhân văn và dân chủ sâu sắc” là một định hướng có giá trị rất xa về phía trước. Dù vậy, văn chương Việt Nam sẽ vẫn chạy theo những trào lưu của văn chương thế giới vì chúng ta không có những nhà lý luận và những nhà văn tiên phong.

Về lý luận văn học, 45 năm qua đã có những nỗ lực vượt bậc trong việc giữ gìn những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Marx trong văn học (các nghị quyết Trung ương 5, Nghị quyết 23 của Bộ chính trị, trong cương lĩnh và kế hoạch hành động của Hội Nhà văn và các Hội VHNT địa phương…), nhưng cũng có những nỗ lực không ngừng nghỉ trong việc từ bỏ Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa trong sáng tác và lý luận; đồng thời tích cực du nhập các lý thuyết văn học mới vào Việt Nam. Khi hai cuốn Lược khảo văn học III của GS Nguyễn Văn Trung được tái bản (2019) và cuốn Phê bình văn học thế kỷ XX của Thụy Khuê được in ở Việt Nam (2019), tôi thiết nghĩ việc du nhập các học thuyết văn học nước ngoài vào Việt Nam đã khá đầy đủ.

Dẫu vậy, những lý thuyết văn học mới có ảnh hưởng rất ít đến những nhà văn viết theo quán tính của văn chương truyền thống, thậm chí họ không cần lý thuyết văn chương nào cả (thực ra đó chỉ là một cách nói). Và cũng đã đến lúc giới lý luận phê bình nhận ra lý luận văn học phương Tây được đề ra là để đánh giá văn chương phương tây, cần phải có một hệ thống lý luận văn chương Việt Nam. Nỗ lực xây dựng một nền lý luận văn học Việt Nam mới chỉ là bắt đầu và rất khó đạt một sự tổng hợp. Lý luận văn chương của cha ông chỉ là những ý kiến rời rạc du nhập từ Trung Hoa. Từ 1945 đến nay, văn chương Việt Nam được soi chiếu bởi các quan điểm của Marx và Engel. Văn chương miền Nam trước 1975 và văn chương Việt Nam từ đổi mới (1986) đến nay, tuy đã có những thể nghiệm mới từ các lý thuyết nước ngoài (Hiện sinh, Phân tâm học, Cấu trúc luận, Giải Cấu trúc,Thi pháp học, Ký hiệu học, Tự sự học, Lý thuyết trò chơi…) song việc tổng hợp tất cả những nguồn ấy để lọc ra, định vị một hệ thống lý luận văn học Việt Nam, có lẽ phải vài thế hệ nữa mới làm được. Bởi vì, những nhà lý luận văn học Việt Nam hiện nay chỉ có thể diễn giải lý thuyết văn học nước ngoài (ngay cả việc diễn giải vẫn còn hạn chế). Chúng ta chưa có những nhà lý luận thực sự, người có thể đề ra những lý thuyết mới, hoặc từ một lý thuyết cũ phát triển mở rộng những kiến giải mới (như Bakhtin, J.P.Sartre chẳng hạn).

***

Nhìn lại xu thế phát triển của văn chương Việt Nam 45 năm qua, ta có thể thấy lờ mờ con đường phía trước.

Văn chương yêu nước và cách mạng tiếp tục được đẩy mạnh sáng tác như đã được làm trong 45 năm qua. Để có được tác phẩm vượt trội là rất khó. Nhưng vẫn có thể hy vọng có những bộ sử thi kháng chiến như Núi rừng Yên Thế của Nguyên Hồng viết về người anh hùng Hoàng Hoa Thám ngày xưa. Trong nhất thời, tiểu thuyết tư liệu như Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 của Trần Mai Hạnh sẽ là một hướng phát triển. Tuy nhiên những thế hệ nhà văn sau này đứng ngoài chiến tranh sẽ nhìn về chiến tranh với những nhận thức khác. Có người vẫn viết những bản anh hùng ca bằng bút pháp lý tưởng hóa, nhưng cũng có người nhìn chiến tranh ở góc độ khác như Nỗi buồn chiến tranh, Bóng anh hùng, Quán dương cầm, Con chim Joong bay từ A tới Z… hoặc như cách các nhà văn hiện nay khai thác đề tài lịch sử xưa để nói về thời hiện tại (Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, Hội thề của Nguyễn Quang Thân, Sương mù tháng Giêng của Uông Triều. Năm 2019,  Nguyễn Thế Quang viết Đường về Thăng Long, dựng lại đời hoạt động của tướng Võ Nguyên Giáp, và Hội Nhà văn hoàn thành bộ phim Ý chí độc lập, dài 19 tập về Bác, về các đồng chì lãnh dạo tiền bối của Đảng

Trong tương lai, Hội Nhà văn và các Hội VHNT địa phương là những tổ chức “Chính trị-xã hội-nghề nghiệp” sẽ phải trở về hình thức sinh hoạt dân sự. Các Hội sẽ không còn nằm trong hệ thống hành chính Nhà nước như hiện nay. Gần đây Quốc hội và dư luận đã lên tiếng về việc chi ngân sách hoạt động cho các Hội VHNT. Tôi nghĩ rằng, đến một lúc nào đó tất cả các Hội đều phải tự lực cánh sinh, Nhà nước chỉ còn làm công tác quản lý. Thí dụ, các Hội văn nghệ đia phương sẽ giải thể để thành lập các câu lạc bộ (như kiểu câu lạc bộ thơ lục bát, câu lạc bộ thơ Đường hiện nay). Tuyên giáo tỉnh chỉ cử một hoặc hai nhân viên chuyên trách quản lý. Nhà nước không còn chi ngân sách. Người sáng tác muốn hoạt động văn học thì tự nguyện tham gia một câu lạc bộ nào đó. Và cũng sẽ có những tổ chức văn học nghệ thuật dân sự cấp quốc gia như kiểu Tự lực Văn đoàn ngày xưa hay Nhóm Sáng Tạo ở miền Nam những năm 1960…

Đến lúc ấy văn chương Cách mạng và kháng chiến sẽ bị thu hẹp lại. Chỉ những nhà văn thực sự tài năng và tâm huyết mới có thể tiếp tục viết trong dòng văn học này.

Tuy vậy, trong tình hình chính trị quân sự luôn căng thẳng (tình hình biển Đông chẳng hạn), cuộc đấu tranh tư tưởng để bảo vệ chủ nghĩa xã hội vẫn còn quyết liệt, thì văn học nghệ thuật sẽ còn phải tiếp tục nhiệm vụ bảo vệ những thành quả các mạng, phản ánh hiện thực cách mạng và góp phần vào cuộc chiến đấu chung của cả dân tộc; nhà văn sẽ vẫn tiếp tục vai trò “chiến sĩ” của Đảng trên mặt trận văn hóa tư tưởng.

Văn chương Nhân văn-Dân chủ hiện nay sẽ chuyển hướng, vì thế hệ cầm bút tương lai không có vướng mắc gì với cải cách ruộng đất, Nhân văn- Giai phẩm, cải tạo xã hội chủ nghĩa, chiến tranh phía Bắc, phía Nam (1979) hay những ngặt nghèo của thời bao cấp. Nói gọn lại, họ không sống trong hiện thực Thời của thánh thần, vì thế họ sẽ không có những bức xúc chuyển hóa thành cảm hứng sáng tác những tác phẩm kiểu như thời kỳ đổi mới (1986-1990) Những tác phẩm như Mối Chúa, Kiến chuột và ruồi sẽ không còn sức hấp dẫn người trẻ thế hệ 5G. Hơn nữa, thế hệ nhà văn coi việc viết là hành động dấn thân cho một lý tưởng cũng không còn, thành ra những nhận thức về Nhân văn-Dân chủ sẽ có nội hàm khác, có thể dễ chấp nhận hơn, kiểu như tác phẩm của Tạ Duy Anh (Bước qua lời nguyền, Giã biệt bóng tối). Dù vậy, những khuyết tật của xã hội xã hội chủ nghĩa vẫn có thể là đề tài, nguồn cảm hứng sáng tác cho những nhà văn nặng lòng với thế sự.

45 năm tới, văn chương thị trường sẽ là dòng chính, bởi thế hệ người đọc lúc đó là thế hệ sinh ra trong nền kinh tế thị trường, văn chương là của họ. Tuy vậy, văn chương thị trường sẽ không vượt lên được nếu chỉ quanh quẩn trong những chuyện tình đủ mùi vị: lãng mạn, buồn, cô đơn , bế tắc và sex…; bởi, người viết chỉ để giải tỏa những ẩn ức cá nhân, khát vọng nổi tiếng và đáp ứng thị hiếu giải trí của một bộ phận công chúng.

Nhìn vào chợ sách 2014 có thể nhận rõ những mặt hạn chế của văn chương thị trường. Đã có những tác giả mà tác phẩm tái bản nhiều lần, ấn phẩm lên đến hàng trăm ngàn bản (đơn cử: Trong ba năm qua, Hamlet Trương đã có tới 150.000 bản sách (Thời gian để yêu, Thương nhau để đó, Tay tìm tay níu tay), còn Iris Cao cũng chạm con số 100.000 bản sách được bán ra). Nhưng trên con đường văn chương vạn dặm, những  tác giả này vẫn quẩn quanh trong những chuyện tình cá nhân.

Ngoài kia, cuộc sống có bao nhiêu số phận, bao nhiêu vấn đề cần lên tiếng nhưng văn chương thị trường lại quay lưng, thì nó không thể đạt đến giá trị của nghệ thuật và tư tưởng. Từ “đổi mới” đến nay, đã có bao nhiệu sự kiện lớn lao làm thay đổi thế giới và những vận động lớn đưa đất nước hội nhập với nhân loại. Người đọc tuyệt nhiên không thể tìm thấy âm vang thời đại nào trong tác phẩm văn chương thị trường, chỉ có những chuyện tình thuần túy giải trí. Xin đọc các tác phẩm của Gào (Cho em gần anh thêm chút nữa -2009; Nhật ký son môi-2010; Tự sát- 2011; Yêu anh bởi tất cả những gì em có; mất anh bởi tất cả những thứ em cho-2012; Ký ức Northumbria- 2012; Anh sẽ yêu em mãi chứ- 2014; Hoa linh lan-2014; Chúng ta rồi sẽ ổn thôi-2015). Xin đọc Hamlet Trương (Người lớn không khóc; 12 cách yêu; Lên rừng giấu lá; Mùa chia tay; Tay tìm tay níu tay; Haletapu – Hành Tinh Hạnh Phúc;Yêu đi rồi khóc; Có một ai đó đã đổi thay; Yêu một người khó lắm; Thương nhau để đó); và đọc những chuyện tình lãng mạn kết hợp với du ký của Dương Thụy (Nhắm mắt thấy Paris; Oxford yêu thương; Bồ câu chung mái vòm; Cung đường vàng nắng; Venise và những cuộc tình gondola; Tôi nghĩ tôi thích nước Mỹ; Cáo già, gái già và tiểu thuyết diễm tình; Tắm heo và tắm tiên; Chờ em đến San Francisco; Trả lại nụ hôn)…

Tự Lực Văn Đoàn trước 1945 đã viết được nhiều chuyện tình rất hay (Nửa chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên, Đời mưa gió…). Văn chương Sài Gòn trước 1975 cũng đã khai thác chuyện tình với những yếu tố mới hơn, táo bạo hơn (Yêu của Chu Tử; Vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng; các tác phẩm của Bà Tùng Long: Một lần lầm lỡ, Duyên tình lạc bến, Đời con gái, Đường tơ đứt mối…). Sở dĩ những tác phẩm ấy còn được nhắc tới bởi tình yêu được miêu tả gắn liền với những vấn đề tư tưởng, đạo lý của xã hội đương thời, nhà văn viết văn dưới ánh sáng một lý tưởng xã hội.

Những chuyện tình của văn chương thị trường hôm nay không đáp ứng được yêu cầu tư tưởng. Tình yêu đơn thuần chỉ là bản năng, thiếu phẩm chất xã hội, vì thế văn chương trở nên nhạt nhẽo. Nếu là một dòng chảy, thì văn chương thị trường chỉ phục vụ thị trường giải trí đơn thuần.

***

Hội nhập, “hợp lưu” văn học trong và ngoài nước, văn học miền Nam trước 1975 với văn học xã hội chủ nghĩa là xu hướng mở ra dần dần.

Khi tác phẩm văn chương còn bám chặt lấy hiện thực với những ý thức chính trị khác nhau thì không thể có sự dung hòa nào cả. Người Việt nước ngoài không đọc những tác phẩm cách mạng, thì người trong nước không thể chấp nhận những tác phẩm văn chương nước ngoài viết với ý thức “chống Cộng” (nhận định của Thụy Khuê) (44). Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) và Mùa hè đỏ lửa (Phan Nhật Nam) tuy cùng viết về chiến tranh Việt Nam, nhưng không thể đứng chung được trong một môi trường văn học nghệ thuật trái ngược về chính trị và khác biệt về quan điểm văn chương.

Chỉ khi văn chương được viết dưới ánh sáng của truyền thống dân tộc (như Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác) lúc ấy văn chương người Việt hải ngoại mới có cơ may “hợp lưu” với văn chương trong nước. Điều này đã trở thành hiện thực khi thơ Thanh Tâm Tuyền, thơ Bùi Giáng, thơ Phạm Thiên Thư, thơ Du Tử Lê, truyện của Dương Nghiễm Mậu, Trần Thị Ngh, sách của Nguyễn Đức Tùng, Thụy Khuê… được in lại và giới thiệu; hoặc tác phẩm của Thuận, của Đoàn Minh Phượng được Hội Nhà Văn Việt Nam trao giải. Paris 11 tháng 8 (Thuận) được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng năm 2006; Và khi tro bụi (Đoàn Minh Phượng) được trao giải 2007.

Cuộc “gặp mặt lần thứ nhất”: “Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc”…(20 đến 24/10/2017) do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức là một tín hiệu Đáng mừng. Dù vậy vẫn còn nhiều cách biệt cần có thời gian để hiểu biết nhau hơn.

***

Lời bạt

45 năm qua, dân tộc Việt Nam đã trải qua những thăng trầm lớn lao của lịch sử để tồn tại và khẳng định mình trong cộng đồng nhân loại. Việt Nam đã “đổi mới” và hội nhập thành công vào nền kinh tế, chính trị toàn cầu; và đang có những đóng góp vào việc bảo vệ hòa bình, phát triển kinh tết và mở rộng tình hững nghị đối với mọi quốc gia trên thế giới. Nhưng Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều thách thức, kể cả những đe dọa đến độc lập chủ quyền.

Bản lĩnh Việt Nam, sức mạnh Việt Nam, văn hóa và nhân cách Việt Nam là đáng tự hào trước các dân tộc. Nhưng muốn tìm một tác phẩm văn chương nào tiêu biểu cho khuôn mặt dân tộc và mang được phẩm tính nhân loại trong giai đoạn này để giới thiệu với bạn bè thế giới, để làm gương mẫu cho các thế hệ mai sau (như Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi tiêu biểu cho tầm vóc con người và tư tưởng Việt Nam thế kỷ 15), thì văn chương Việt Nam 45 năm qua chưa đáp ứng được.

Văn chương Việt Nam chưa được thế giới biết đến nhiều bởi thiếu tính dân tộc và tính nhân loại, không đặt ra và giải quyết những vấn đề có tính thời đại và tầm vóc toàn cầu. Đó là một nền văn chương vẫn chưa thoát ra khỏi “cái ao làng” phản ánh hiện thực để trực tiếp phục vụ những nhiệm vụ chính trị. Bao giờ văn chương Việt vươn tới tác phẩm tư tưởng, trả lời cho các vấn đề của nhân loại và nói tiếng nói với muôn đời, lúc ấy văn chương Việt mới sánh vai được với những nền văn chương lớn trên thế giới.

Tháng 01 năm 2020

____________________________________________

 

Chú thích

(1) Tháng 11 năm 1987, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 05 về văn hóa- văn nghệ trong cơ chế thị trường; tháng 8 năm 1989, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 52- CT/TW về đổi mới và nâng cao chất lượng phê bình văn học- nghệ thuật; tháng 6 năm 1990, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 61- CT/TW về công tác quản lý văn học- nghệ thuật; tháng 1 năm 1993, BCHTW ra Nghị quyết Trung ương 4 về một số nhiệm vụ văn hóa- văn nghệ những năm trước mắt; Ngày 16 tháng 7 năm 1998, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII) ban hành Nghị quyết “về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.”

Ngày 16 tháng 6 năm 2008, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 23-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và

              phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”

Ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI ra Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn

hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

(2) Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII, Kỷ yếu. Nxb HNV 2012, tr.146

(3) Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 2010-2015, Tài liệu Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nhà văn Việt Nam lẩn thứ IX, nhiệm kỳ 2015-2020.

(4) (http://vanvn.net/news/1/4646-mua-gat-van-chuong.html)

(5) com.vn/…/68_130544_cong-bo-them-tai-lieu-tuyet-mat-ve-tieu-thuyet-bien-ban-chien-tranh-1-2-3-4-75)

(6) Trương Tấn Sang: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Tieu-diem/2010/3003/Nang-cao-hieu-qua-cuoc-dau-tranh-chong-Dien-bien-hoa-binh.aspx

(7) http://tapchiqptd.vn/vi/lam-that-bai-chien-luoc-dbhb/nhan-dien-thu-doan-dien-bien-hoa-binh-tren-linh-vuc-tu-tuong-van-hoa/7798.html

(8) Báo Văn Nghệ, Hà Nội, số 23, thứ bảy, 9/6/1979, tr. 2-3

(9) Văn nghệ, Hà Nội, số 49&50 (5-12-1987)

(10) Tham luậnhội thảo “Nâng cao chất lượng, hiệu quả phê bình văn học, do Hội đồng Lý luận phê bình  văn học nghệ thuật Trung ương và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Hà Nội ngày 10.4,2012

(11) https://trandinhsu.wordpress.com/2015/07/23/tiep-nhan-phuong-phap-luan-xa-hoi-hoc-mac-xit-trong-nghien-cuu-phe-binh-van-hoc-viet-nam-truoc-1986/

(12) Trường Chinh-Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam. Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1975.tr. 92

(13) Tham luận Hội thảo Lý luận văn nghệ Việt Nam đương đại – từ sự vận động của thực tiễn đến sự đổi mới của lý thuyết do Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương tổ chức ngày 4/2/2015, tại Hà Nội http://phebinhvanhoc.com.vn/ve-van-de-xay-dung-nen-li-luan-van-hoc-viet-nam-li-thuyet-va-thuc-tien/

(14) Lã Nguyên: Lý luận văn nghệ Mác-xit Việt Nam nhìn từ phiên bản gốc, 2014-

http://phebinhvanhoc.com.vn/ly-luan-van-nghe-mac-xit-viet-nam-nhin-tu-phien-ban-goc/

(15) Phan Trọng Thưởng:-Từ thực tiễn lí luận đến yêu cầu xây dựng hệ thống lí luận văn nghệ Việt Nam// Báo “Nhân dân”, Thứ Sáu, Ngày 15/8/2014.

(16) http://vanvn.net/news/35/3567-khai-mac-hoi-nghi-ly-luan-phe-binh-van-hoc-lan-thu-iii.html)

(17) http://vanvn.net/news/11/3572-ly-luan–phe-binh-truoc-thuc-te-sang-tac-van-hoc-hom-nay.html

(18) Ý kiến bế mạc: org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=10093…id

(19) viet-studies.info/NgoVinhBinh_VanChuong2006.htm

(20) (Luận chiến văn chương, quyển 3, Nxb Văn học, 2015, tr.24)

(21) trandinhsu.wordpress.com

(22) Xem thêm các chuyên đề về văn trẻ, thơ trẻ của Bùi Công Thấn trong Chút tình tri âm (Nxb HNV 2009) và Những dòng sông vẫn chảy (Nxb HNV 2011)

(23) http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/nguyen-quynh-trang-va-su-hoang-mang-cua-nguoi-tre-2248237.html

(24) http://vietbao.vn/The-gioi-giai-tri/Khuynh-huong-tinh-duc-trong-sang-tac-van-hoc-gan-day/209350316/49/

(25) http://www.nguoiduatin.vn/van-chuong-thoi-nay-khong-co-sex-khong-ban-duoc-a78849.html

(26) Sợi xích – sách sex! http://www.nld.com.vn/20100313020924767P0C1020/soi-xich-sach-sex-.htm.

(27) http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=7387&CategoryID=41

(28) xuandienhannom.blogspot.com/…/tu-lieu-bai-tuong-thuat-ai-hoi-viii-hoi

(29)(http://trannhuong.net/tin-tuc-7684/thua-nha-tho-tran-manh-hao-toi-xin-ngung-cuoc-tranh-luan.vhtm)

(30) Hàm Đan : http://maivanphan.vn/maivanphan/32/398/793/1528/tranh-luan-van-chuong/giai-thuong-hoi-nha-van-viet-nam-2010-va-2011–hoi-sinh-mot-giai-thuong-danh-gia–nhan-dinh—-ham-dan.aspx

(31) http://vannghetre.com.vn/vi/tin-tuc-moi.nd80/-van-hoc-do-thi-mien-nam-1954–1975.i3840.html

(32) http://www.xuquang.com/j15/index.php?option=com_content&task=view&id=431&Itemid=48).

(33) http://thuykhue.free.fr/stt/v/VanHocMienNam.html,

(34) Ghi chép của Đặng Phú Phong: cobaocalitodaym/…/van…/hoi-thao-20-nam-van-hoc-mien-nam-1954-1…

(35) http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=21851.

(36) http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/van-hoc-viet-nam-o-hai-ngoai,-nhung-van-de-cua-su-phat-trien-hien-nay).

(37) (http://dangcongsan.vn/van-hoc-nghe-thuat/trao-tang-giai-thuong-hoi-nha-van-viet-nam-nam-2010-va-2011-111948.html )

(38) (http://hvhnt.dongnai.gov.vn/Pages/newsdetail.aspx?NewsId=2153&CatId=79)

(39) (https://tuoitre.vn/dinh-chi-phat-hanh-tieu-thuyet-moi-chua-cua-ta-duy-anh-20170921124459155.htm)

(40) (https://waka.vn/top-nhung-cuon-sach-best-seller-2019-fjL0W.html ).

(41) https://www.nxbtre.com.vn/diem-tin/nxb-tre-12-tua-bo-sach-an-tuong-cua-nam-2019-33851.html )

(42) (https://vnexpress.net/giai-tri/tran-nha-thuy-mat-6-nam-hoan-thanh-tieu-thuyet-hat-3074419.html)

(43) (https://www.nhandan.com.vn/nation_news/item/21766702-phan-dau-sang-tao-nhieu-tac-pham-van-hoc-nghe-thuat-co-gia-tri-cao.html)

(44) Thụy Khuê: Thử tìm một lối tiếp cận văn học sử về Hai mươi nhăm năm Văn học Việt Nam hải ngoại 1975-2000. http://thuykhue.free.fr/tk99/tiepcan.html
_________________________________

45 NĂM VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM-phần I

45 NĂM VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM – Một góc ghi nhận

Bùi Công Thuấn

a 1 jpeg

Lời thưa,

 Trong khi chờ đợi những công trình nghiên cứu của Viện Văn học, của Hội Nhà văn Việt Nam, của các nhà nghiên cứu lịch sử văn học, tôi ghi lại cảm nhận chủ quan của mình những gì mà mình đã chứng kiến và dõi theo trong 45 năm văn học Việt Nam (1975-2020). Chỉ là một góc nhìn rất hẹp và không tránh được “những khác biệt” với những góc nhìn và cách tiếp cận khác. Điều ấy cũng là lẽ bình thường.

Giai đoạn 1975-2020 lịch sử xã hội Việt Nam trải qua các thời kỳ: thời kỳ khủng hoảng, thời kỳ “đổi mới” và giai đoạn ổn định phát triển. Những năm 1975-1985, Văn chương Cách mạng và kháng chiến tiếp tục phát triển. Các nhà văn từ kháng chiến bước ra đời thường, họ viết với nguồn cảm hứng còn nóng bỏng của thời chống Mỹ. Giai đoạn 1986-1996, công cuộc “đổi mới” đã mở ra nhiều triển vọng, nhưng cũng có những va đập dữ dội. Tư tưởng và Văn học Nghệ thuật buộc phải đổi mới. Văn chương nhân văn và dân chủ phát triển ào ạt. Từ 1996 trở đi, đời sống xã hội đã chuyển hẳn sang nền kinh tế thị trường, đất nước đã hội nhập toàn cầu hóa. Nghị quyết Trung ương 5 (1998) và Nghị quyết 23 (2008) của Bộ Chính trị khuyến khích nhà văn tìm tòi sáng tạo, văn chương đã vượt ra khỏi phạm vi của chủ nghĩa Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa

NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH

            Bạn đọc hải ngoại và bạn đọc những thế hệ sau cần hiểu điều này.

            45 năm 1975-2020, Đảng và Nhà nước đã kiên định những quan điểm về văn học nghệ thuật của chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những quan điểm này ngày càng được cụ thể hóa trong các nghị quyết (1). Đáng kể nhất là Nghị quyết Trung ương 5 (1998), Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị (2008), và gần đây là Nghị quyết Trung ương 33 (2014). (Tôi xin không trích dẫn lại các Nghị quyết này).

Những quan điểm cơ bản vẫn là: Văn hóa, văn nghệ là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo, có nhiệm vụ phục vụ sự nghiệp cách mạng. Văn học phải phản ánh cho được hiện thực cách mạng, góp phần giáo dục quần chúng. Văn nghệ sĩ là chiến sĩ của Đảng trên mặt trận văn hóa tư tưởng.

Đảng lãnh đạo toàn diện văn nghệ về tư tưởng, tổ chức và hoạt động.

Hiện nay (2020), Hội Nhà văn Việt Nam có 1100 hội viên. 65 Hội VHNT địa  phương mỗi Hội cũng có hàng trăm hội viên. Những người thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa văn nghệ ở các cơ quan Nhà nước (Tuyên giáo), báo chí, các nhà xuất bản, các đài phát thanh truyền hình, các trường Đại học, các Viện…là một đội ngũ đông đảo. Như vậy, đội ngũ “chiến sĩ” của Đảng là một lực lượng rất lớn. Đội ngũ này thường xuyên được học nghị quyết của Đảng, tham gia các trại sáng tác mà đề tài, nội dung đã được xác định trong nhiệm vụ chính trị; tham gia các cuộc thi văn nghệ mà mục đích phục vụ chính trị cũng rất cụ thể. Họ cũng được hỗ trợ sáng tác, được tạo mọi điều kiện hoạt động văn nghệ và tặng giải thưởng…

Từ năm 2009 đến nay (2019), Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương đã mở nhiều lớp tập huấn về quan điểm của Đảng, về công tác quản lý văn nghệ, nhằm thống nhất lực lượng trên mặt trận tư tưởng, đấu tranh chống những quan điểm và khuynh hướng sai trái về văn học nghệ thuật. Năm 2013 mở lớp tập huấn chuyên đề “Quan điểm của Đảng về văn học, nghệ thuật và hoạt động phê bình văn học, nghệ thuật”. Năm 2014 tổ chức Hội thảo khoa học toàn quốc với chủ đề “Vấn đề đạo đức xã hội trong văn học, nghệ thuật hiện nay”. Tháng 4 năm 2015 mở tập huấn “Mấy vấn đề về lý luận và thời sự trong đời sống văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay”. Tháng 11 năm 2017 mở lớp tập huấn: “Nâng cao trình độ nhận thức lý luận và năng lực lãnh đạo, quản lý Văn học nghệ thuật trong giai đọn hiện nay”, trong đó có chuyên đề: “Quán triệt đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng trong thời kỳ đổi mới”. Tháng 9 năm 2018, Hội nghị tập huấn: “Xây dựng hệ thống lý luận văn nghệ Việt Nam”, chuyện luận về “đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng” được nhắc lại. GS Hà Minh Đức nhắc lại các “quan điểm của Marx và Engel về văn học nghệ thuật”; và một chuyên luận về “ Đấu tranh phản bác quan điểm, luận điểm sai trái trong văn học nghệ thuật”. Năm 2019, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trung ương tổ chức hội thảo khoa học toàn quốc với chủ đề “Vai trò định hướng của phê bình trong hoạt động thực tiễn và sáng tạo văn học, nghệ thuật hiện nay“…

Tất cả các hoạt động trên của Hội Nhà văn, của các Hội VHNT địa phương, của Hội đồng lý luận và phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương đều là hoạt động trong lĩnh vực tư tưởng, tổ chức của Đảng, nhằm thống nhất lực lượng, tạo ra sức mạnh chính trị to lớn trong cuộc đấu tranh tư tưởng.

Trong bối cảnh xã hội có nhiều biến động, thì sự kiên định đường lối văn nghệ ấy trở thành bản lĩnh. Giai đoạn Việt Nam lâm vào khủng hoảng (1975-1985), hoặc khi Việt Nam mở cửa hội nhập toàn cầu hóa (1986), đón nhận cái mới, cái tốt và cả cái xấu, cái không phù hợp; bao nhiêu trào lưu tư tưởng về văn hóa văn nghệ bên ngoài tràn vào làm cho không ít văn nghệ sĩ mất phương hướng, và tạo ra sự “loạn chuẩn” trong đời sống văn học, thì Đảng đã giữ cho nền văn học phát triển đúng hướng.

Đến nay, quan điểm về xây dựng một nền vǎn học – nghệ thuật thấm nhuần tinh thần nhân vǎn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người. Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính” của Nghị quyết Trung ương 5 và Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị đã mở ra thời đại mới, đưa văn học nghệ thuật Việt Nam cùng với đất nước hội nhập với nhân loại.

NHỮNG DÒNG CHẢY VĂN CHƯƠNG

a 2 jpeg

Cho đến nay, văn chương Việt Nam đã định hình rõ 3 dòng chảy: Văn học Cách mạng và kháng chiến, Văn chương Dân chủ và Nhân vănVăn chương thị trường.

Xu thế chung của các dòng chảy văn học là muốn thoát khỏi, muốn viết khác đi, hay còn gọi là cách tân, so với văn chương tả thực xã hội chủ nghĩa (1945-1975). Xu thế “cách tân” ngày càng chiếm ưu thế do có sự dung nạp những cách viết mới từ văn chương thế giới; TS. Lê Thị Bích Hồng đã có bài tổng hợp khá đầy đủ các tác phẩm văn học 30 năm đổi mới. Xin đọc “Văn học Việt Nam đồi mới trong cơ chế thị trường(http://vanvn.net/thoi-su-van-hoc-nghe-thuat/van-hoc-viet-nam-doi-moi-trong-co-che-thi-truong/456)

  1. Văn chương “Cách mạng và kháng chiến

Gọi là văn chương cách mạng và kháng chiến vì nội dung của dòng văn chương này viết về hiện thực cách mạng, viết về đời sống kháng chiến của nhân dân. Dòng văn chương này tiếp tục con đường của văn chương giai đoạn trước. Đa số tác giả là những người trực tiếp chiến đấu ở chiến trường trở về. Họ sáng tác theo mô hình “thi pháp” của văn chương kháng chiến.

Dòng văn chương này kiên trì các đề tài do Hội Nhà văn, các Hội VHNT địa phương đề ra. Đề tài lịch sử, cách mạng và kháng chiến; đề tài “học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”,  về suy thoái đạo đức; về hội nhập và phát triển, về nông thôn mới, về công nhân; viết cho thiếu nhi, viết về các dân tộc ít người, viết về các ngành nghề (thí dụ, đề tài giao thông vận tải, ngân hàng…). Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội Văn học nghệ thuật địa phương liên tục tổ chức các trại sáng tác, đưa hội viên đi thực tế; liên tục tổ chức các cuộc thi thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết; hàng năm tổ chức trao giải…

Khối lượng tác phẩm do các Hội VHNT địa phương, các trại sáng tác trong 45 năm qua là hết sức đồ sộ. Các tác phẩm văn học cách mạng và kháng chiến được đánh giá là thành tựu to lớn, góp phần vào sự nghiệp cách mạng của Đảng. Giải thưởng Hồ Chí MinhGiải thưởng Nhà nước về Văn học là sự tôn vinh những thành tựu ấy.

Xin đơn cử, chỉ riêng nhiệm kỳ 2005-2010 của Hội Nhà văn Việt Nam, ”Theo thống kê chưa đầy đủ, toàn thể hội viên của Hội đã cho xuất bản 1875 tác phẩm. Trong đó, văn xuôi: 942 tác phẩm; thơ: 611 tác phẩm; văn học dịch 83 tác phẩm; Lý luận phê bình 239 tác phẩm”(2);

Báo cáo nhiệm kỳ 2010-2015 :”trong nhiệm kỳ qua, toàn Hội đã sáng tác được 1216 tác phẩm thuộc đủ các thể loại (3)… .

Báo cáo tổng kết giải thưởng 5 năm của Bộ Quốc phòng (2009-2014): ”Chọn lựa trong 200 tác phẩm văn học, gần 500 tác phẩm mĩ thuật, gần 1000 tác phẩm nhiếp ảnh, 400 tác phẩm âm nhạc, 50 tác phẩm múa, 44 tác phẩm điện ảnh, 30 tác phẩm sân khấu… để lựa chọn ra và trao 185 giải thưởng ở cả 8 lĩnh vực. Trong đó, có 19 giải A, 35 giải B và 54 giải C và 77 giải khuyến khích.

               Trong văn học, hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ”, hình ảnh người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam cao đẹp được nhiều tác phẩm thể hiện thành công, kêu gọi lòng nhân ái và tinh thần yêu hòa bình của con người. Các tác phẩm nổi bật như: tiểu thuyết Đèn kéo quân của tác giả lão thành Lương Sĩ Cầm, tiểu thuyết Phượng Hoàng của tác giả Văn Lê, tập thơ Sương đẫm lá khộp khô của nhà thơ Ngân Vịnh, hai trường ca Tổ quốc nhìn từ biển của Nguyễn Việt Chiến và Hạ thủy những giấc mơ của Nguyễn Hữu Quý… đã cho ta thấy vẻ đẹp, ý chí quật cường, lòng dũng cảm sự hi sinh, gian khổ và lòng cao thượng của chiến sĩ Việt Nam.”(Văn nghệ quân đội online 17.10.2015). Xin đọc thêm Mùa gặt văn chương, báo cáo bế mạc trại sáng tác văn học Hội Nhà văn, Vũng Tàu 04/2014 (4).

Và đây là một thành quả:

Bản tin về tiểu thuyết Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 của Trần Mai Hạnh:

Đúng dịp kỷ niệm 39 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2014), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật giới thiệu với bạn đọc cuốn “Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75” của Trần Mai Hạnh. Đây là tác phẩm duy nhất của thể loại văn xuôi được Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam quyết định trao tặng “Giải thưởng Văn học năm 2014” với số phiếu tuyệt đối. Nhà thơ Hữu Thỉnh – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cho biết: Các nhà khoa học hàng đầu về văn chương trên thế giới đã dự báo thế kỷ XXI là thế kỷ của văn học tư liệu. Hiện nay hàng loạt hồi ký của các nhân vật chính trị, tướng lĩnh, các nhà doanh nghiệp lớn, chiếm lượng phát hành lớn, thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng. Văn học tư liệu đã đóng vai trò rất quan trọng trong tiến trình văn học hiện đại. Cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử của nhà báo Trần Mai Hạnh đã phác họa sinh động sự sụp đổ, chân dung của hầu hết tướng lĩnh quân đội và số phận những người cầm đầu chính quyền tay sai Sài Gòn trong 4 tháng cuối cùng của kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, làm nổi bật chiến thắng vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng.

               Nhà phê bình Bùi Việt Thắng nhận xét: “Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75” là một “hiện tượng” vì lần đầu tiên trong văn học tư liệu có cái nhìn “ngược sáng” về “phía bên kia”. Tác giả đã không đứng ở phía “người chiến thắng” thông thường, không lấy hình ảnh người bộ đội Cụ Hồ làm chính thể như những tác phẩm khác về chiến tranh. Cách nhìn khách quan, trung lập của tác giả đã giúp độc giả hiểu rõ hơn về nội tình của chính quyền Việt Nam Cộng hòa thời đó cũng như đi sâu tìm hiểu nguyên nhân sụp đổ của chính quyền này.(5)

Các báo cáo tổng kết của các Hội Văn học nghệ thuật luôn đầy thành tích lạc quan như vậy.

***

Nhưng nếu đánh giá thực chất theo yêu cầu của các Nghị quyết, thì có rất ít tác phẩm “phản ánh hiện thực sinh động, chân thật và sâu sắc sự nghiệp của nhân dân trong cách mạng và kháng chiến, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc…”, có rất ít tác phẩm ”thấm nhuần tinh thần nhân vǎn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người”, và chưa có tác phẩm nào được tôn vinh vềphục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Trong trường học cũng không có tác phẩm văn học Cách mạng và kháng chiến giai đoạn 1975-2020 được giảng dạy. Học sinh gần như xa lạ và không có hứng thú khi học văn học 1945-1975.

Tại sao có tình trạng này? Có thể hiểu rằng, chiến tranh đã kết thúc gần nửa thế kỷ, các thế hệ người đọc sinh ra sau chiến tranh ít nhất cũng đã 45 tuổi. Họ sống trong thời bình, trong một bối cảnh xã hội hoàn toàn khác với thế hệ cha anh. Họ nhìn ra thế giới và mơ ước cuộc sống sung túc. Cuộc sống đương đại trong sự phát triển toàn cầu hóa với những mạng 4G, 5G đặt ra những vấn đề khác. Các thế hệ 8x, 9x, 1K, 2K quan tâm đến những vấn đề của hôm nay.

Hơn nữa, những nhà văn đã trải qua chiến trường cũng đã mai một gần hết, thế hệ cầm bút sau đó viết về chiến tranh mà không có trải nghiệm, thành ra tác phẩm khó thuyết phục. Văn chương Cách mạng và kháng chiến bây giờ viết nhiều về đau thương mất mát cá nhân, cái nhìn về chiến tranh cũng khác trước nhiều (chẳng hạn cái nhìn dưới quan điểm hòa hợp hòa giải dân tộc). Vì thế, người đọc nếu đã quen với khuynh hướng sử thi của văn chương giai đọan trước, sẽ không còn tìm thấy những nhân vật anh hùng, sáng ngời lý tưởng trong tác phẩm văn chương hôm nay. Xin đọc Trong cơn lốc xoáy (2016), tiểu thuyết hơn 1000 trang của Trầm Hương viết về người cán bộ cách mạng tên Vạn. Vạn từng bị Pháp bắt đày Côn đảo 15 năm, vậy mà trong kháng chiến chống Mỹ, Vạn lại lụy vì tình và từng là người đi tìm gái cho những ông chủ Mỹ. Vạn triết lý: ”Ôi, lý tưởng, hoài bão, ước mơ vá biển lấp trời của ta rốt cuộc đều thua trước thực tế đàn bà…”. Tiểu thuyết Con chim Joong bay từ A tới Z của Đỗ Tiến Thụy (2017) viết về chiến tranh theo một cách khác hẳn trước đó.

Đánh giá từ các nghị quyết, các báo cáo, các cuộc hội thảo đều nhận định rằng:

               “Trong sáng tác, biểu diễn, truyền bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật còn không ít tác phẩm và hoạt động chưa thể hiện được tính chất tiên tiến và bản sắc dân tộc. Số lượng tác phẩm ngày càng nhiều song còn ít tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Trong một số tác phẩm, lý tưởng xã hội – thẩm mỹ không rõ nét, ý nghĩa xã hội còn hạn hẹp. Một số văn nghệ sĩ còn hạn chế trong tiếp cận và nhận thức những vấn đề mới của cuộc sống, chưa cảm nhận đầy đủ ý nghĩa, chiều sâu và tính phức tạp của quá trình chuyển biến mang tính lịch sử trong thời kỳ mới của đất nước… “(Nghị quyết 23)

  1. Văn chương “Nhân văn và Dân chủ”

                Văn chương thời kỳ đổi mới (1985-1995) và sau đổi mới đến nay chưa được tổng kết đánh giá và định vị như các giai đoạn văn học trước. Lấn cấn đó là vì nhiều lẽ.

Gọi là văn học “đổi mới” thực ra chỉ là sự quyết liệt lìa bỏ chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Văn chương chống Pháp và chống Mỹ “miêu tả hiện thực cách mạng, kết hợp với lãng mạn cách mạng thông qua điển hình hóa cao độ”. Đánh giá tác phẩm dựa trên tính Đảng, tính nhân dân và nhiệm vụ phục vụ cách mạng trong từng thời kỳ cụ thể. Khi được “cởi trói” và “đổi mới tư duy”, nhà văn nhận ra, trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, hiện thực vốn phức tạp, có phần sáng và có phần tối. Nhận ra trách nhiệm nhà văn phải lên tiếng trước những vấn đề bức xúc của đời sống, không thể cứ tụng ca lãng mạn, họ thấy cần phải đổi mới cách viết. Nhà văn muốn viết phần “sự thật” chưa được văn chương cách mạng nói tới, bởi một nửa chân lý không phải là chân lý.

Có người gọi dòng văn chương này là văn chương thức tỉnh. Tôi cho rằng cách gọi đó không đúng. Sự đổi mới nằm ở ý thức mới về tư tưởng – thẩm mỹ và phương pháp sáng tác. Tôi gọi là dòng văn chương nhân văn và dân chủ (mượn chữ của Nghị quyết Trung ương 5 và Nghị quyết 23- đã dẫn). Dòng văn học này rời bỏ hẳn chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, nhìn hiện thực từ góc nhìn nhân dân, một hiện thực đa diện, phức tạp. và được viết bằng kiểu bút pháp hiện thực trần trụi với cảm hứng phê phán. Với định kiến rằng chủ nghĩa xã hội là tốt đẹp, người ta không thể chấp nhận cái hiện thực được miêu tả trong những tác phẩm của dòng văn chương này.

Có thể kể đến Đứng trước biển (1982), Cù lao Tràm (1985- Nguyễn Mạnh Tuấn), Chiếc thuyền ngoài xa (1983-Nguyễn Minh Châu), Thời xa vắng (1984-Lê Lựu), Thiên sứ (1989-Phạm Thị Hoài) truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Tướng về hưu-1987), Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận tình yêu 1987- Giải thưởng Hội Nhà văn 1991-Bảo Ninh), Bên kia bờ ảo vọng (1987) và Những thiên đường mù (1988-Dương Thu Hương), Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990-Nguyễn Khắc Trường), Một người Hà Nội (1990-Nguyễn Khải), Chuyện kể năm 2000 (2000- theo lời tác giả, tiểu thuyết này được viết từ tháng 6 năm 1990 đến 30 tháng 11 năm 1991 thì hoàn tất. Bản thảo được xem lại lần cuối vào tháng 8 năm 1998), Cánh đồng bất tận (2005-Nguyễn Ngọc Tư), Ba người khác (2006-Tô Hoài), Thời của thánh thần (2008-Hoàng Minh Tường), Quán dương cầm (Đặng Thị Thanh Liễu- tạp chí Langbian Lâm Đồng số 75, 76 tháng 7, 8/2009), Bóng anh hùng (2009-Doãn Dũng), Mối chúa (Đãng Khấu-2017), Kiến, Chuột và Ruồi (Nguyễn Quang Lập-2019) …

Cần nhận rõ đây là dòng văn học phức tạp về tư tưởng và mục đích viết văn. Giá trị của nó tùy thuộc vào góc nhìn chính trị hay góc nhìn “nhân văn- dân chủ”. Xét đến cùng, các tác phẩm của dòng văn học này là hành động phủ định chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, nhưng chưa định hình hẳn một trào lưu nghệ thuật mới có giá trị cách tân cho một giai đọan văn học mới. Dòng văn học này vẫn chỉ là “phản ánh hiện thực”, phần hiện thực chưa được văn chương cách mạng khai phá. Thực ra, nó gây ra ồn ào vì lý do ngoài văn chương, không hẳn là do nghệ thuật văn chương, tư tưởng. Về tư tưởng, nhiều tác phẩm trình bày những cái nhìn trái ngược với quan điểm của Đảng và Nhà nước, chẳng hạn quan điểm về chiến tranh, về Cải cách ruộng đất, về những tiêu cực trong đời sống xã hội hôm nay… Vì thế đã có những tác phẩm bị dừng phát hành (thí dụ: Chuyện kể năm 2000, Mối chúa).

Trong đời sống văn học, cũng xuất hiện những cuốn sách chính trị mang dáng dấp sách văn chương, bởi nội dung và mục đích của nó là chính trị. Chẳng hạn, việc sử dụng văn chương (hậu hiện đại) để “giải thiêng”, để “hạ bệ thần tượng” nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Năm mục tiêu của sách lược “diễn biến hòa bình” là: “…xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, xóa bỏ sự lãnh đạo của đảng cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, gây mất ổn định về chính trị…(6)

Trên tạp chí Quốc phòng Toàn dân, Phạm Văn Sơn  nói cụ thể hơn:

               ”Trên lĩnh vực văn học – nghệ thuật, báo chí, xuất bản, chúng ra sức vận động thành lập “Văn đoàn độc lập”, “Hội nhà báo độc lập”, “Công đoàn độc lập”; tán phát một số cuốn sách được xuất bản ở hải ngoại, như: “Con đường Việt Nam” của Trần Huỳnh Duy Thức, “Bên thắng cuộc” của Huy Đức, “Đèn cù” của Trần Đĩnh,… nhằm “bôi nhọ” đời tư của các cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, v.v.(7)

Cần nói rõ những “tác phẩm” được Phạm Văn Sơn kể ra ở trên không phải là tác phẩm văn chương. Tuy vậy nó có gây ra tác động đến đời sống tinh thần của một bộ phận người đọc

Trở lại dòng văn chương dân chủ và Nhân văn, có lẽ sự “nhạy cảm” chính trị của những tác phẩm này đã gây khó cho các nhà viết lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1975-2015 (?). Không thể phủ định thành tựu của dòng văn chương này, nhưng nó không nằm trong quan điểm văn học của Đảng. Nó xuất hiện trong bối cảnh Đảng “đổi mới tư duy”, “nhìn thẳng vào sự thật”, mà thực tế cao hơn lý luận. Ứng xử với nó, người ta chọn  cách nhìn riêng lẻ từng tác phẩm và chỉ xét ở góc độ nhân văn và dân chủ. Điều ấy thể hiện ở việc trao giải văn học. Hội Nhà văn Việt Nam đã trao giải thưởng cho Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh năm 1991, cho Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư năm 2006.

***

Sự từ bỏ chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng được nhận thức về mặt lý luận. Đầu tiên là bài của Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến – “Về một đặc điểm của văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua” (1979). Sau đó 8 năm là bài của nhà văn Nguyễn Minh Châu – “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”. (1987)

Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến nói đến một thứ “chủ nghĩa hiện thực phải đạo” chỉ phản ánh cái hiện thực phải – là, chứ không phải cái hiện thực ­đang – là: Nhìn chung trong sáng tác hiện nay, sự miêu tả cái phải tồn tại lấn át sự miêu tả cái đang tồn tại. Và chúng tôi tán thành ý kiến của Nguyễn Minh Châu cho rằng sự lấn át này đương là một cản trở “trên con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực”, đặc biệt trong thể loại tiểu thuyết. Đứng ở bình diện cái phải tồn tại, người nghệ sĩ dễ bị cuốn hút theo xu hướng miêu tả cuộc sống “cho phải đạo”, còn đứng ở bình diện cái đang tồn tại thì mối quan tâm hàng đầu là miêu tả sao cho chân thật. Đọc một số tác phẩm chúng tôi thấy tác giả dường như quan tâm đến sự phải đạo nhiều hơn tính chân thật. Có thể gọi loại tác phẩm này là “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”. Thực ra, ngay trong đời sống thực tại, do quy luật của sự thích nghi sinh tồn, dần dần được hình thành những kiểu người “phải đạo” với những cung cách suy nghĩ, nói năng, ứng xử được xem là “phải đạo”. Khái quát những hiện tượng hết sức thực tại này vẫn sản sinh ra “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”(8).

Nhà văn Nguyễn Minh Châu nói đến một giai đoạn văn nghệ minh họa:”Tôi không hề nghĩ rằng mấy chục năm qua nền văn học cách mạng – nền văn học ngày nay có được là nhờ bao nhiêu trí tuệ, mồ hôi và cả máu của bao nhiêu nhà văn – không có những cái hay, không để lại được những tác phẩm chân thực. Nhưng về một phía khác, cũng phải nói thật với nhau rằng: mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, văn học minh họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa, kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn mà chúng ta quy cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn. Nhà văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạt đường lối chính sách bằng hình tượng văn học sinh động, và do nhiều lý do từ những ngày đầu cách mạng, các nhà văn cũng tự nguyện tự giác thấy nên và cần làm như thế (thậm chí có phần nào các nhà văn mới đi theo cách mạng và kháng chiến còn coi đó là cái mới, là hoàn cảnh “lột xác”.(9)

Năm 2012 Giáo sư Trần Đình Sử đề nghị bỏ khái niệm phương pháp sáng tác: ”Tôi thấy đã đến lúc dứt khoát loại bỏ khái niệm phương pháp sáng tác nhằm hoàn thiện hệ thống lí luận văn nghệ của chúng ta. Bỏ khái niệm phương pháp sáng tác không phải là hành vi theo đuôi nước ngoài, mà là bỏ đi một thuật ngữ nguỵ tạo của lí luận văn học Xô viết, vốn không có trong lí luận mác xít, để hệ thống lí luận văn học được chặt chẽ hơn, phù hợp với tinh thần của chủ nghĩa Mác, đồng thời nội dung mà ta vẫn gọi là “phương pháp sáng tác” thì chuyển sang lí thuyết hay chủ trương về sáng tác (10). Người ta hiểu rằng Giáo sư Trần Đình Sử muốn loại bỏ phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa mà Trường Chinh đã nói đến trong báo cáo Chủ Nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam.(11)

              Năm 2015, đi xa hơn về mặt lý luận, Giáo sư Trần Đình Sử nói về tình trạng khủng hoảng lý luận ông kết luận:Tóm lại, lí luận văn học mác xít vì bản chất là xã hội học, tuy có đem lại một ít sinh khí, khí thế trong đấu tranh xã hội, nhưng nhìn chung đối với phê bình văn học nghệ thuật, một lĩnh vực thẩm mĩ, nó có rất nhiều hạn chế và khiếm khuyết. Trong điều kiện xã hội học mác xít độc tôn thì các khiếm khuyết ấy càng phát huy tác dụng tiêu cực. Chỉ đến thời Đổi mới người ta mới dám nhìn thẳng vào các tiêu cực ấy, dám phê bình nó, vượt qua nó để vươn tới phát triển nền lí luận, phê bình văn học phong phú, đa dạng, giàu sức sống.”(12)

Nói về việc xây dựng nền lý luận văn học Việt Nam, ông nói cụ thể hơn: ”…từ góc độ diễn ngôn cho phép chúng ta có thể quan niệm rằng muốn xây dựng một nền lí luận văn học Việt Nam hiện đại, xứng tầm thời đại và dân tộc như nhiều người mong muốn, vấn đề không phải là quán triệt tư tưởng này, chủ trương nọ, không phải học tập cho có hệ thống lí thuyết nước ngoài, mà then chốt là đột phá bốn yếu tố của diễn ngôn lí thuyết. Muốn thế thì xây dựng đội ngũ các nhà lí luận, nghiên cứu, tạo điều kiện cho họ được học tập, sáng tạo tự do, để  họ tự kiến tạo hệ thống của riêng mình, phương pháp của mình, đem vận dụng vào thực tế văn học mà  họ tâm đắc. Căn cứ vào các bình diện của diễn ngôn cần phải trau giồi hệ thống thuật ngữ, chuẩn hóa nội hàm. Không ngừng mở rộng khung tri thức theo các giới hạn mà lí luận thế giới đang mở ra. Dân chủ hóa, đa nguyên hóa về ý thức hệ và  hệ thống quyền lực, thì chắc chắn một nền lí luận văn học Việt Nam hiện đại sẽ xuất hiện từ trong thực tế nghiên cứu sinh động theo tinh thần sáng tạo ấy.”(13)

Lã Nguyên (2015) cũng nói đến những hạn chế của nền lý luận văn nghệ Mác xít (14): Khi công cuộc đổi mới văn nghệ được khởi động, trên các diễn đàn học thuật, người ta truy vấn, thảo luận sôi nổi về hàng loạt nguyên lí quen thuộc của mĩ học Mác –xít truyền thống. Cũng từ đây, trong các công trình nghiên cứu của giới khoa học, trong các luận văn, luận án của sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, hệ thống lí luận văn nghệ Mác xít truyền thống không còn là ưu tiên lựa chọn hàng đầu để tiếp cận đề tài. Ở các lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng không còn là ưu tiên lựa chọn của văn nghệ sĩ…Nói tóm lại, giờ đây, ai cũng nhận ra, lí luận văn nghệ và mĩ học Mác xít truyền thống không thể giữ được vị thế vốn có vì nó đã trở nên xơ cứng, bất cập trước thực tiễn khoa học và sáng tạo nghệ thuật của thời đại.” Ông dẫn lời Phan Trọng Thưởng“… Từ những năm chín mươi của thế kỷ 20 đến nay, hệ thống lý luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và cùng với nó là phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, sau hơn bảy mươi năm tồn tại và phát triển, đã không đủ sức trụ vững ngay trên mảnh đất quê hương của nó. Dường như nó đã hoàn tất sứ mệnh lịch sử của mình để nhường chỗ cho những quá trình văn học khác đang nhen nhóm và thay thế”(15)

Nhìn vào thời điểm những bài viết, người đọc thấy rõ các “nhà lý luận” đã đi sau nhà văn khá xa. Nếu tính từ những năm 1986-1990, văn chương thoát ly chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu có giá trị khẳng định thì mãi 25 năm sau (2015) các “nhà lý luận” mới dám nói đến sự việc phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa đã hoàn tất sứ mệnh lịch sử. Thực tế ở Việt Nam cho thấy lý luận văn chương luôn đi sau sáng tác, yếu kém và lạc hậu, chưa trở thành ánh sáng tiên phong cho sáng tác. Nguyên nhân do đâu, xin để các “nhà lý luận” trả lời.

***

Người ta đi tìm câu trả lời ở các Hội nghị Lý luận, phê bình văn học lần thứ I (2003), lần II (năm 2006), lần III (2013), lần thứ IV tại Tam Đảo (2016).

Khai mạc Hội nghị lần III, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà Văn cho biết: Chủ đề lần thứ I đề cập đến vấn đề đánh giá tiến trình phát triển của văn học thế kỷ 20; chủ đề lần thứ II: Phát huy vai trò, tính sáng tạo của nhà văn. Và lần thứ III mang chủ đề “Nâng cao chất lượng, hiệu quả lý luận phê bình văn học”(16).

Chủ đề của Hội nghị LLPB lần thứ IV là “Văn học-30 năm đổi mới, hội nhập và phát triển

Tiến sĩ Lê Thành Nghị trong phát biểu đề dẫn Hội nghị lần III nêu một số vấn đề cụ thể của lý luận, phê bình:” vấn đề mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, vấn đề vai trò chủ thể sáng tạo, vấn đề ngôn ngữ nghệ thuật, lý thuyết tiếp nhận, văn học và hiện thực, phương pháp sáng tác…chưa được soi sáng thấu đáo từ góc độ lý thuyết đến diễn giải những dấu hiệu của thực tế sáng tạo. Trong khi đó, nhiều vấn đề nảy sinh từ sự đời sống hiện tại của văn học chưa kịp được nghiên cứu, lý giải, hướng dẫn, tổng kết, cắt nghĩa các hiện tượng, soi sáng chúng trên bình độ lý thuyết, nhận thức và phân tích chúng bằng tư duy luận lý, từ đó chỉ ra con đường triển vọng, dự báo những khả năng hiện thực…”(17)

Đây là một vài ý kiến phát biểu nhận xét về Hội nghị II (18):

              Họ đến Hội nghị với một tinh thần nghiêm túc và nhiệt tình. Tuy nhiên, những tham luận trong Hội nghị còn có sự tản mạn về đề tài (Phạm Tiến Duật).

               Hội nghị còn khá nhiều tham luận nói đến những vấn đề quá cũ kỹ, tôi đã nghe nhiều lần. Sự lặp đi lặp lại những ý kiến, những phát hiện không mới hay chỉ là sự bày tỏ những bức xúc gì đó của cá nhân (Nguyễn Hòa).

               Vẫn cái cũ lặp lại nhiều và nếu người ta có đề nghị cái mới thì tôi cũng không nhận thấy sự cụ thể và rõ ràng. Theo tôi, hội thảo nên tập trung khai thác nhiều vấn đề mới hơn nữa trong lý luận văn học (Inrasara).

TS Chu Văn Sơn nhận xét:“Thực tế, các hội nghị về nghệ thuật thì người ta chỉ chú trọng đến những thành công bên ngoài chứ không chú trọng vào những thành công ở bên trong. Tạo dựng cho các đại biểu một địa điểm đổi gió, một nơi để anh em cùng nghề gặp nhau, qua sự giao lưu bên lề để có thể góp ý cho nhau thì hội nghị này coi như đã thành công rồi.

Nhận xét về Hội nghị Lý luận, phê bình lần III năm 2006, Ngô Vĩnh Bình viết trong bài “Văn chương 2006, rối như canh hẹ:“Điểm nóng thứ hai của văn học năm 2006 là phê bình văn học. Tốn kém cả trăm triệu đồng, kéo cả trăm người xuống Đồ Sơn để hy vọng “hắt những chảo lửa” xuống cái “ao lý luận phê bình” bấy nay đìu hiu, buồn tênh và tĩnh lặng (theo từ dùng của nhà thơ Trần Đăng Khoa) nhưng kết quả thu được là thế nào? Có thể nói rằng rất ít! Vẫn là những vấn đề, những câu hỏi mà Hội nghị Lý luận – Phê bình lần thứ nhất ở Tam Đảo đã đặt ra, những vấn đề, những câu hỏi chưa được giải đáp.”(19)

Vâng, đã có nhiều hội nghị về lý luận, phê bình văn học nhưng những vấn đề của thực tiễn văn học Việt Nam cho đến nay vẫn chưa được giải quyết. Chẳng hạn, làm thế nào để có tác phẩm văn học đỉnh cao? Đã có những ý kiến chỉ ra rằng việc tiếp thu các lý thuyết văn học phương Tây có chỗ bất cập, vì các tác giả phương Tây viết cho nền văn học của họ, vậy thì đến bao giờ mới có một nền lý luận văn học Việt Nam cho nền văn học Việt Nam? Và đây một thực tế, Ngô Vĩnh Bình viết: ”…Ở Hội An khi đến dự đêm thơ, nghe nhà thơ đọc thơ (diễn thơ), có người đã hỏi “người ta (nhà thơ) đang làm gì thế ”? Có người không tránh khỏi bất ngờ đã phải viết “thơ là vậy sao”?… Các nhà phê bình thì dường như “chạy mất dép” cả. Không ai dám bảo đó là thơ và cũng chăng ai dám nói đó không phải là thơ. Tôi chưa thấy một bài phê bình nào dám “nhìn thẳng” vào các nhà thơ trẻ, đặc biệt là các nữ thi sĩ trẻ để khen thuyết phục và chê thuyết phục.”, còn Nguyễn Thúy Hằng, người làm thơ trẻ, nhận định về giới phê bình:“đội ngũ các nhà phê bình quá ít và trình độ của họ hiện nay chỉ dừng ở mức độ khen – chê, chưa đủ sức phân tích tác phẩm trọn vẹn”. Phó giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Thái: “Bản chất của văn học là chữ, và đòi hỏi duy nhất là đọc cho “vỡ chữ”. Các nhà phê bình hiện nay đang gặp phải bi kịch: đọc không vỡ chữ.  ” (Hội nghị lần III)

Lý giải vấn đề “khủng hoảng” của lý luận, phê bình văn học, nhà văn Hoàng Quốc Hải (tham luận Hội nghị lần II- vẫn nhìn theo cách nhìn Marxist) cho rằng:Hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, Ban Văn hóa tư tưởng cũng như Hội đồng lý luận Trung ương có đề ra “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, đó là định hướng mờ nhạt. Vì rằng “định hướng xã hội chủ nghĩa” nhưng lại hoạt động theo cơ chế thị trường. Định hướng xã hội chủ nghĩa với cơ chế thị trường khắc chế nhau như nước với lửa nhưng lại song song tồn tại. Do vậy, các nhà lý luận nước ta rơi vào khủng hoảng triền miên là một sự đương nhiên.” Cách lý giải này không thuyết phục.

Một vấn đề “nóng” của thực tiễn: Ở Hội nghị lần III, từ phát biểu của nhà lý luận Nguyễn Văn Lưu về luận văn của Đỗ Thị Thoan, Giáo sư Phong Lê lên tiếng: Ai làm luận văn xúc phạm lãnh tụ, hãy truy đến tận gốc xem hội đồng thạc sĩ ai chấm, ai lập hội đồng. Không thể chấp nhận được. Cần phải lên tiếng. Nhà phê bình Nguyễn Văn Lưu đặt thẳng vấn đề với các đồng nghiệp :” Chúng tôi muốn góp ý với các đồng nghiệp là nhà văn Nguyễn Đăng Điệp-Viện trưởng Viện Văn học, và nhà văn Văn Giá- Trưởng khoa Lý luận-Phê bình Văn học Trường Đại học Văn hóa (Bộ Văn hóa), hai thành viên hội đồng chấm luận án và Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội Phạm Xuân Nguyên-người đã đọc bản thảo Những tiếng nói ngầm của Nhã Thuyên- rằng các bạn nên giữ sự trung thực cho ngòi bút của mình, nên tự trọng về nhân cách. Các bạn có thể xin ra khỏi Đảng, tự nguyện trả lại các chức danh và học vị mà thể chế này-do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập- đã phong tặng cho các bạn rồi làm một nhà văn tự do thì hay hơn là lập lờ hai mặt như vị thầy của các bạn: vẫn ca ngợi kính phục Dương Thu Hương: Người phụ nữ một mình chống lại cả một Nhà nước- nhưng mà giải thưởng, chức danh Nhà nước ấy trao cho vẫn vui vẻ nhận, lại còn thắp hương khấn vái xin cho được nữa. Cũng mong ngài Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đừng để Đại học Sư phạm Hà Nội thành ra một trung tâm hài hước như thế “ (20)

Vấn đề luận văn Đỗ Thị Thoan là vấn đề chính trị, tôi không đề cập ở đây. Tuy nhiên xung quanh vấn đề này đã có những ý kiến có tính học thuật. Luận văn của Đỗ Thị Thoan nói về “cái bên lề” về văn học ngoại biên: ”Việc Mở miệng tự xác định vị trí bên lề của mình thuộc vào một xu hướng rộng hơn, có tính chất liên quốc gia: xu hướng ngoại vi hóa (marginalization). Mảng văn chương ngoại vi này hấp dẫn cộng đồng nghệ thuật và giới trí thức trong/ngoài nước, như biểu hiện của nỗ lực trên cả hai phương diện của nghệ sĩ: đổi mới nghệ thuật và đòi hỏi tự do ngôn luận”(Luận văn).

Như một thái độ bênh vực Đỗ Thị Thoan (tuy không nói thẳng ra), Giáo sư Trần Đình Sử ca ngợi văn chương ngoại biên. Dẫn theo Bakhtin ông viết: “Như vậy văn học ngoại biên là nguyên sinh, văn học trung tâm là thứ sinh do điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa quy định. Văn học cách mạng Việt Nam trước 1945 chỉ là ngoại biên, sau Cách mạng tháng Tám liền trở thành chủ lưu, trung tâm. Trung tâm ngoại biên luôn đổi chỗ cho nhau trong thực tế,…” Quan niệm về ranh giới của Bakhtin cho ta hiểu rằng, toàn bộ sức sống văn học, nghệ thuật nằm ở đường biên. Kìm giữ văn học, nghệ thuật ở trung tâm là kìm hãm sự phát triển, sinh sôi của chúng. Quan niệm này cũng cho thấy ngoại biên hóa là quy luật khách quan của nghệ thuật và lí thuyết, phê bình.Ông cho rằng văn học Việt Nam đã ngoại biên hóa từ đầu đổi mới:Các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường, Hồ Anh Thái… thể hiện nhu cầu ngoại biên của văn học rất mạnh mẽ. Dần dần các đề tài về tình yêu, tình dục, đề tài chấn thương, thế tục, đồng tính trở nên phổ biến. Ông kết luận:”, “Ngoại biên hóa dẫn đến đa nguyên, tạp giao, đối thoại và điều đó có thể làm nảy sinh những sáng tác mới có giá trị. Ngoại biên hóa văn học ở Trung Quốc đã làm nảy sinh một Mạc Ngôn đoạt giải Nobel, lẽ nào ngoại biên hóa văn học Việt Nam chẳng đem đến niềm hi vọng?”(21)

Lý luận về văn chương ngoại biên và văn chương trung tâm còn cần phải xem xét kỹ. Trong suốt quá trình lịch sử, có bao giờ văn học dân gian Việt Nam trở thành văn học trung tâm? Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh thì văn học nào là trung tâm? Văn học Đàng Trong hay Đàng ngoài? Trước 1975, văn học Miền Bắc, văn học Miền Nam, văn học nào là ngoại biên, văn học nào là trung tâm? Và hiện tại, văn học Việt Nam trong nước và văn học Việt Nam của những người cầm bút hải ngoại, đâu là văn học trung tâm, đâu là ngoại biên? và cứ theo mạch lập luận của Giáo sư Trần Đình Sử thì một ngày nào đó, theo quy luật vận động khách quan, thì văn học Việt hải ngoại sẽ thành văn học trung tâm chăng?

Đó là những vấn đề của các Hội nghị Lý luận phê bình I, II, III.

               Hội nghị LLPB lần thứ IV tại Tam Đảo được tổ chức khá nghiêm túc. Ngày thứ nhất thảo luận riêng từng Hội đồng (Thơ, văn xuôi, Lý luận phê bình). Ngày thứ hai thảo luận chung. Dường như đến hôm nay (2016) những vấn đề nóng của Lý luận Phê bình những năm trước đã nguội (?), và những “thùng thuốc nổ” đều không dự (Trần Mạnh Hảo, Bùi Minh Quốc, Phạm Xuân Nguyên…), chỉ còn Chu Giang-Nguyễn Văn Lưu, Nguyễn Hòa và Đông La.

Tôi chú ý đánh giá tổng kết Hội nghị LLPB lần thứ IV của Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà Văn.

Ông đã chỉ ra nhiều thành tựu của Văn học trong 30 năm đổi mới:

“Vấn đề 1: Đổi mới đã giải phóng tiềm năng sáng tạo. Chẳng hạn, chưa bao giờ ta có nhiều tiểu thuyết lịch sử như bây giờ. Đề tài, chủ đề, tư tưởng trong sáng tác là phóng khoáng. Hội Nhà văn không cầm tay chỉ việc.

Điều làm thay đổi toàn bộ nền văn học là, văn học 30 năm qua nói về cái bình thường, cái tự nhiên, cái hài hòa, không lấy cái bất thường, cái phi thường như giai đoạn trước. Nền văn học 30 năm đổi mới phát triển hài hòa, vì thế ta có điều kiện quan sát con người trong nhiều bình diện. Vai trò cá nhân nhà văn, cá tính sáng tạo được tôn trọng. Thí dụ, khi nhà văn gửi tác phẩm đến nhà xuất bản thì nhà xuất bản phải trả lời.

Trước kia chúng ta ca ngợi hay phê phán, ngày nay văn học hướng thiện. Không hướng thiện thì không phải là con người. Khi nhân danh lý luận, nhân danh mỹ học của cái khác, thì cái khác đó có hướng thiện hay không? Không hướng thiện thì không còn là văn chương.

Dưới góc nhìn của lý luận phê bình văn học, chúng ta thấy nhiều giá trị đã bị vượt qua. Chẳng hạn, mức độ phê phán, mức độ đấu tranh bảo vệ con người, bây giờ dữ dội vô cùng, không còn chỉ như thời Vua Lốp.

Xin báo cáo với lãnh đạo, công lao lớn nhất của Hội Nhà văn là chủ đề đạo đức xã hội. Đảng ra nghi quyết 33 nhấn mạnh việc xây dựng đạo đức con người. Nhưng cách đây mấy chục năm, văn học đã nhấn mạnh đến đạo đức con người, cái đó là tinh tường lắm!

Tôi xin tiếp ý kiến của GS Nguyễn Đăng Mạnh rằng, văn học của chúng ta không minh họa. Nhà văn nắm bắt được hồn cốt xã hội là đạo đức, là nền tảng của nền tảng, (cái đó) hay vô cùng!

Vấn đề 2: Chúng ta từng bước hiện đại hóa nền văn học.

Văn học hôm nay hiện đại hơn rất nhiều, đó là, khả năng tiếp nhận đời sống ở diện rộng. Thú dụ, chỉ vụ cá chết, hàng trăm bài thơ, bút ký xuất hiện nhanh. Đây là nhiệm vụ của nhà văn. Rất thành công.

Hiện đại là ở chỗ: Xu hướng mở, không áp đặt. Vấn đề dân chủ rất quan trọng. Văn học đổi mới thực sự là một nền văn học dân chủ. Ngay trong hội nghị này, có người nói đi, có người nói lại, dân chủ quá đi chứ! Không có chỗ nào có vách ngăn văn học với đời sống. Cách đây 30 năm, ai dám viết về đồng tính, về thế giới tâm linh. Bây giờ mỗi người có giọng riêng, cách nói riêng. Chúng ta đang thoát khỏi dàn đồng ca. Thí dụ Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện là một, tôi không bỏ qua tác phẩm nào của Nguyễn Ngọc Tư. Nền văn học dân chủ là nền văn học mỗi người có giọng điệu riêng, không phải là một dàn đồng ca.

Văn học không đánh bóng, không mạ kền. Con người hiện ra trần trụi, xù xì như nó có, vì thế văn học thực hơn, gần sự thật hơn.

Đổi mới là nhu cầu nội tại của văn học. Hãy đánh giá nền văn học dưới góc độ Văn hóa học. Không chỉ đánh giá giá trị phản ánh mà phải đặt văn học trên hệ giá trị văn hóa. Nhà văn là đội quân văn hóa. Lực lượng sản xuất những giá trị tinh thần cho xã hội. Đây là đội quân rất đáng quý (dù ăn mặc còn xộc xệch).

Nhiều vấn đề chúng ta đã vượt một chặng đường dài. Tiểu thuyết Dòng sông mía (Đào Thắng) viết sinh động, gai góc, nhưng tâm nhà văn trong sáng. Nguyễn Khắc Phê viết về Cải cách ruộng đất, ông nói muốn “nắn gân Hội Nhà văn”, chúng tôi trao giải. Nếu như sợ sệt, thiếu trách nhiệm thì tác phẩm Biết đâu địa ngục thiên đàng sẽ bị bỏ qua. Viết gai góc, nhưng cái nhìn của nhà văn trong sáng, chúng tôi trao giải. Đó là cái mới. Trước kia không dám trao giải. Sách của Tô Hải Vân đặt vấn đề ngồi nhầm chỗ làm đảo lộn hệ giá trị. Tiểu thuyết Mảnh vỡ (Vĩnh Quyền), Ban chấp hành thảo luận lên thảo luận xuống. Trao giảo là ở cái tâm của nhà văn.”

Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng nhắc tới tác phẩm của các nhà văn: Xuân Đức, Lê Minh Khuê (Chân trời của Hạ), Trầm Hương (Sài gòn đêm không ngủ), Bích Ngân (Thế giới xô lệch), Nguyễn Bình Phương…

“Vấn đề 3: Hội Nhà văn đã khôi phục những giá trị một thời, như phục hồi danh dự nhà văn cho Trần Dần, Hoàng Cầm. Lan Khai, Vũ Trọng Phụng… Có Giáo Sư vi phạm đã không bị tước danh hiệu, không truất giải thưởng Nhà nước.

Vấn đề 4: Đã xuất hiện một lực lượng trẻ.

Vấn đề thứ 5: Lý luận phê bình có những bước tiến mới. Nhiều trào lưu được giới thiệu, cái nhìn cởi mở hơn. Trường hợp GS Hoàng Ngọc Hiến, cuối đời ông nghiên cứu Hồ Chí Minh, tôi kính trọng vô cùng!

Lý luận Phê bình có nhược điểm là tầm bao quát chưa hết, chưa sâu. Lý luận Phê bình phải bao quát được tình hình văn học. Nhà Lý luận Phê bình phải đọc tác phầm.

Vấn đế thứ 6: Một số vấn đề cần trao đổi:

Trong hội nghị này còn có những vấn đề phải trao đổi thêm. Đó là vấn đề phân kỳ văn học đổi mới chưa thống nhất.

Đổi mới văn học là vì sinh mệnh của chính nó. Không phải nó chỉ đổi mới vài năm rồi dừng lại (1986-1991). Trường hợp của Nguyễn Ngọc Tư thế nào? Bảo Ninh bây giờ khác với Bảo Ninh 1991. Nguyễn Quang Thiều đạt giải 1993, trường hợp của Nguyễn Xuân Khánh…

Đổi mới văn học là dòng chảy của nhiều thế hệ, sức lực của cả đội ngũ. Không nên quy kết đổi mới chỉ ở lớp trẻ. Đổi mới nhưng không đoạn tuyệt với quá khứ. Nhà văn phải học lẫn nhau. Không có nhà văn nào trở thành lĩnh xướng mà không hút mật thời đại.

Vấn đề nhân vật trung tâm hay vấn đề trung tâm của văn học, cái nào là chính? Nhân vật nào gánh vác hai nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng tổ quốc thì nhân vật ấy là nhân vật trung tâm. Vấn đề trung tâm mới là vấn đề quan trọng. Văn học phải vì con người, tiếp sức cho con người. Vấn đề trung tâm là: xây dựng cho con người tới đâu?” (Nguồn: bản ghi trực tiếp tại hội nghị của BCT)

Người viết những dòng này xin lưu ý rằng, ngay từ năm 1998, Nghị quyết Trung ương 5 đã mở đường:”Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người. Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính.”. Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị (2008) cũng khẳng định:”Tiếp tục đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của văn học, nghệ thuật về đề tài, nội dung, loại hình, phương pháp sáng tác, sự tìm tòi, thể nghiệm, nâng cao chất lượng toàn diện nền văn học, nghệ thuật nước nhà…”

***

Trở lại dòng “Văn chương Nhân văn và Dân chủ”, phải đến lớp nhà văn trẻ đầu thế kỷ XXI dòng văn học nhân văn-dân chủ mới có những cách tân thực sự. Do không còn vướng mắc về phương pháp sáng tác, họ mạnh dạn thể nghiệm những cách viết hiện đại. Văn chương không đặt ra mục đích phản ánh hiện thực mà miêu tả và suy nghiệm về hiện thực. Văn chương từ phương thức kể chuyện chuyển sang kiểu tác phẩm tư tưởng. Nhà văn rời bỏ cách nhìn theo chủ nghĩa Marx (nhìn hiện thực theo quan điểm đấu tranh giai cấp) chuyển sang khám phá hiện sinh. Có người trở về với tư tưởng phương Đông. Nhà văn vận dụng nhiều kiểu bút pháp, cả siêu thựchiện thực huyền ảo hậu hiện đại. Có thể nói, 10 năm đầu thế kỷ XXI, một lớp nhà văn trẻ đã làm thay đổi hẳn bộ mặt văn chương Việt Nam hiện đại. Do được tiếp cận với văn chương thế giới, họ hơn hẳn thế hệ trước về trình độ. Do không vướng mắc vào quá khứ, họ không phải e dè ngòi bút, và do được “cởi trói” bởi Nghị quyết Trung ương 5 và Nghị quyết 23, họ mạnh dạn thể nghiệm những gì mình tâm đắc.

Xin kể một vài tên tuổi các nhà văn, nhà thơ: Nguyễn Bình Phương (Những đứa trẻ chết già. 1994- Thoạt kỳ thủy. 2004-Ngồi. 2006,…), Đỗ Tiến Thụy (Màu rừng ruộng. 2006), Phong Điệp (Blogger. 2009), Nguyễn Danh Lam (Giữa dòng chảy lạc-Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2010), Nguyễn Ngọc Tư (Khói trời lộng lẫy. 2010), Uông Triều (Sương mù tháng Giêng. 2015)…, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Vĩnh Tài, Văn Cầm Hải, Nguyễn Thúy Hằng,…(22).

 Sau những thành công ban đầu, lớp nhà thơ, nhà văn này đã chững lại, và phía sau họ, lớp nhà văn trẻ từ 2010 đến nay chưa có khả năng vượt lên phía trước, tiếp tục con đường đưa văn chương Việt Nam hội nhập văn chương thế giới.

  1. Văn chương thị trường

                Cho đến nay (2019) sau hơn 30 năm đổi mới và hội nhập, chúng ta đã có thể nhận dạng được nền kinh tế thị trường và những hệ quả của nó với xã hội Việt Nam. Kinh tế thị trường làm thay đổi mọi yếu tố xã hội, từ tư tưởng đến văn hóa, lối sống, các mối quan hệ giữa người với người, đặc biệt là sự suy thoái đạo đức xã hội. Kinh tế phát triển đem đến đời sống ấm no hơn nhưng cũng làm sụp đổ những giá trị văn hóa truyền thống và gây ra bao nhiêu tệ nạn xã hội. Kinh tế thị trường biến mọi thứ thành hàng hóa và vận động theo quy luật của đồng tiền. Ngay cả giáo dục là ngành độc quyền của Nhà nước cũng trở thành thị trường béo bở cho nhiều “nhóm lợi ích” giành giật. Văn học nghệ thuật, tuy chủ trương không thương mại hóa, song những ngành kinh doanh văn nghệ mang đến những món tiền khổng lồ. Năm 2019, mỗi 30 giây quảng cáo trong giờ chiếu phim Về nhà đi con là 120 triệu đồng. Một xuất chiếu trên VTV 1, qủang cáo 10 phút, thu về 2,4 tỷ. Lúc đầu phim dự định có 40 tập sau kéo thành 80 tập.

Sự thất bại của nền giáo dục đã đưa vào đời một lớp người trẻ hoàn toàn khác với lớp trẻ cha anh. Họ không có lý tưởng, chẳng có gốc rễ gì với cách mạng và kháng chiến. Chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, lối sống hưởng thụ và triết lý thực dụng trở thành bản chất xã hội của họ. Họ quay quắt kiếm tiền, rồi đắm mình trong thế giới ảo. Không có tình yêu, chỉ có tình qua đêm. Không còn niềm tin, chỉ có sự trống rỗng. Không có con đường cho tương lai, chỉ có quanh quẩn bế tắc trong cái tôi. Không tìm thấy giá trị thật trong đời sống, chỉ có hàng nhái, hàng giả.

Tối 18/10/2012 tại Hà Nội, trong tọa đàm mang tên “Nhiều cách sống của những tuổi trẻ bất thường” về bộ ba tiểu thuyết “1981″, “Nhiều cách sống” “Mất ký ức“, tác giả Nguyễn Quỳnh Trang thú nhận: “Từ khi sinh ra tôi đã luôn tự hỏi mình là ai, mình từ đâu đến, mình sẽ đi về đâu trong cuộc đời này… Tuổi trẻ của chúng tôi hoang mang, lo lắng quẩn quanh, càng đi sâu vào những thú vui vật chất lại càng thấy rệu rã. Với Mất ký ức tôi muốn đi tìm tôi, để biết cách vượt qua những hoang mang bấn loạn”(23).

              Văn chương thị trường là dòng tác phẩm đáp ứng thị hiếu một lớp độc giả trẻ. Lớp độc giả này chịu ảnh hưởng văn chương thị trường nước ngoài. Họ là “nguồn thu”, là “nạn nhân” của công nghệ PR. Văn chương thị trường chủ yếu là văn chương giải trí và phô diễn cái tôi của thế hệ  “A còng”(@). Các tác giả viết cho đối tượng độc giả phải hiều biết tâm lý và thị hiếu công chúng, phải làm chủ công nghệ PR (văn chương, show diễn, ca nhạc, phim ảnh và mạng xã hội…). Nhiều nhà văn muốn viết văn chương thị trường nhưng không thể, vì họ đã định khuôn trong cách sản xuất tác phẩm của những “trại sáng tác”, được định hướng bởi những nhiệm vụ chính trị và không biết gì về công nghệ PR.

Trong thực tế hôm nay, nhà văn nào khi viết tác phẩm cũng hướng về công chúng thị trường và đối mặt với thách thức. Thí dụ những tập thơ in ra chỉ dành để tặng vì không ai mua. Nhà văn Nguyễn Đình Tú đưa ra nhận xét:

              “Thứ nhất: Không thể phủ nhận được sự tác động của văn học nước ngoài khi vào Việt Nam đã ít nhiều tạo động lực cho những tác phẩm thuộc khuynh hướng này ra đời. Với Hạt cơ bản của Michel Houellebecq, Báu vật của đời của Mạc Ngôn, Cô gái chơi dương cầm của Jelinek, Rừng Na uy, Kapka bên bờ biển của Murakami, Những kẻ thiện tâm của Jonathan Littell, Huynh đệ của Dư Hoa, các tác phẩm của Vệ Tuệ, Thiết Ngưng, Sơn Táp, Xuân Thụ… Thứ hai: Sex từng là vùng cấm kỵ trong văn chương nước ta, vì thế nó luôn tạo sự háo hức cho người đọc và người viết. Chỉ khi nào bạn đọc chán nó thì các tác phẩm viết về nó mới dừng lại… Sự “cởi trói” cho một vùng cấm kỵ cùng với thị hiếu bạn đọc (có vẻ như mong chờ) ít nhiều là nguồn cảm hứng cho các nhà văn cầm bút lên và viết về…sex!…

               … Với sự nở rộ những tác giả tác phẩm thuộc khuynh hướng này trong thời gian gần đây, cho thấy, dòng văn học này sẽ còn tiếp tục phát triển trong thời gian tới.

               Bài viết này không bàn tới cái được và cái chưa được cũng như những ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực của những tác phẩm mang đậm yếu tố sex. Nếu nhìn nó đơn giản chỉ là một khuynh hướng sáng tác thì cũng hãy đơn giản mà nhìn nhận rằng: Cũng giống như nhiều khuynh hướng (hay trào lưu) sáng tác khác, khuynh hướng tính dục cũng sẽ phát triển lên đến cao trào rồi thoái trào.”(24)

 ***

Đã có những “mặt nạ” được dựng lên để che đậy thực chất việc miêu tả sex trần trụi nhằm câu khách, nhằm gây scandal để nổi tiếng của một số người cầm bút. Người ta mượn hơi hướng của văn chương nữ quyền, người ta dùng văn chương để giải phóng người phụ nữ khỏi sự thống trị của nam giới; rằng văn chương không có vùng cấm, rằng văn chương sex đã có trong mọi thời đại, trong mọi nền văn chương của nhân loại…Có thể nhắc đến, Đỗ Hoàng Diệu với Bóng đè; Y Ban với I am đàn bà, Thủy Anna với Điếm trai; Keng với Dị bản; Nguyễn Đình Tú với Nháp,…Đồng thời với đề tài sex là đề tài tình dục đồng tính: tiểu thuyết Một thế giới không có đàn bà của Bùi Anh Tấn,  Song song của Vũ Đình Giang…Nhưng không hẳn chỉ có vậy. Trong một cuộc tập huấn lý luận phê bình văn học nghệ thuật, Giáo sư Mai Quốc Liên cho biết, Bóng đè lúc đầu chỉ là một truyện sex gây sốc bằng sự miêu tả trần trụi bản năng, nhưng khi một nhà văn nước ngoài mông má lại, nó trở thành một mặt nạ để bộc lộ chủ đề chính trị.

Trong bài viết có nhan đề: Văn chương thời nay: Không có sex, không bán được?, tác giả Nhung Đinh, báo Người đưa tin cho biết, theo nhận định của các công ty sách Alpha, Nhã Nam thì: ”…trong khi thị trường văn chương trong nước đang ế ẩm mới thấy rằng “văn học sex” đang trở thành cứu cánh số 1 cho các nhà xuất bản. Chưa cần biết cốt truyện là gì, nhân vật ra sao, ý nghĩa xã hội như thế nào; chỉ cần quảng cáo có “sex” là các đơn vị xuất bản đã có thể yên tâm về số lượng phát hành.”(25)

Khi nhà văn viết sex mà “không bàn đến…những ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực”, và chỉ “nhìn đơn giản” văn chương sex như một trào lưu rồi sẽ qua, tôi e rằng nhà văn đã chỉ viết theo bản năng mà không viết dưới ánh sáng những quan niệm tư tưởng tiến bộ. Trong số những người viết về “sex bẩn”, có người đã nói thẳng ra mục đích cầu danh cầu lợi, không che giấu (26).

Sau trào lưu văn chương sex, văn chương thị trường lại rộ lên những truyện ngôn tình, mà phần lớn chịu ảnh hưởng ngôn tình Trung Quốc. Chuyện tình yêu được xào nấu đủ kiểu và hẳn nhiên không thể thiếu sex. Nhan đề sách đủ gợi ra nội dung những gì tác giả muốn nói. Xin điểm qua nhan đề các tác phẩm ngôn tình trong năm 2014: Trước khi chết phải biết tình yêu là gì; Bùa yêu; Yêu đi thôi, muộn lắm rồi”; Tất cả em cần là tình yêu; Đến lượt em tỏ tình; ai yêu em như anh; Ai cho em nằm trên? Yêu anh bằng tất cả những gì em có; Im lặng để yêu; Yêu trên từng ngón tay; Yêu không hối tiếc; Chỉ là yêu thôi mà, Tin em đi, rồi anh sẽ lại yêu. Ai rồi cũng phải học cách quên đi một người. Anh ngủ thêm đi anh, em phải dậy lấy chng. Người yêu cũ có người yêu mới, Yêu người yêu người ta; Yêu lại nhau, như thể lần đầu; Ngoại tình; Tình yêu là không ai muốn bỏ đi; Trung tâm phục hồi cảm xúc hậu thất tình; Yêu nhau để cưới; Đừng chết vì yêu

Xin lắng nghe tâm trạng của tác giả Anh Khang:

”… không chỉ bạn bè tôi, đầy rẫy ngoài kia vẫn đang có nhiều lắm những cặp tình nhân gạch đầu dòng. Yêu cho qua ngày, cặp kè cho có tụ. Thấy người này hội tụ đủ những điều mình cần cho một mối quan hệ thì… cứ yêu. Rồi nếu thấy một vài người khác nữa cũng có những chỉ tiêu vừa khít với những gạch đầu dòng mình đề ra, thì lại… yêu tiếp. Cứ thế, họ đi yêu những gạch đầu dòng – chứ không phải yêu một tấm lòng…(Buồn làm sao buông).

Xu hướng chung của văn chương thị trường là  giải trí. Xu hướng này đang lấn át trên thị trường và có một lượng fan (người ái mộ) đáng kể. Và trong danh mục sách best-seller năm 2014, những sách đứng đầu top ten lại là văn chương thị trường. Xin đọc những lời quảng cáo này: ”Tác phẩm mới ra mắt đã cháy hàng tại Hội sách tại Tp.HCMinh thời gian qua; sách nằm trong top 12 cuốn sách Việt Nam bán chạy nhất năm; Tập tản văn đầu tay… với lượng tái bản lên tới 20.000 bản, tác giả tiếp tục trình làng tập truyện ngắn thứ hai. Cuốn này khi mới nằm ở dạng bản thảo đã trở thành sách best-seller vì có đơn đặt hàng trước gần chục nghìn bản; tập sách như những cuốn cẩm nang dành cho lứa tuổi ô mai ngốc nghếch; tác giả là một blogger đình đám và được cộng đồng mạng phong danh là “nhà văn hotgirl”. Trước khi tiểu thuyết phát hành, 6 chương đầu được tung lên mạng đã thu hút hơn 2 triệu lượt view chỉ trong vòng 1 tháng.”, Tiến sĩ Quách Thu Nguyệt, nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Trẻ, thành viên sáng lập giải Sách Hay thì chia sẻ riêng với Sài Gòn Tiếp Thị rằng: “Khi người đọc đa số là người trẻ thì có nghĩa là thị trường sẽ rộng hơn, mức chi tiêu cho sách sẽ mạnh hơn. Tôi thấy hiện nay nhiều công ty sách, đặc biệt là phía tư nhân đã bắt mạch tính chất thị trường rất tốt. Họ tìm những tác giả trẻ có tiếng nói trẻ có thể chạm vào cảm xúc, suy nghĩ, tạo ra sự đồng cảm với người đọc trẻ. Nhưng thách thức đặt ra là thị trường sách đang cần tính đa dạng, không nên chỉ tập trung ở mảng sách giải trí thuần túy…”(27)

Có tác giả đã in 7 đầu sách nói rằng:”Văn chương không phải là công việc của tôi. Nó chỉ là sở thích. Có cũng được, không có cũng hơi buồn chán, nhưng mà chẳng sao”. Một tác giả khác đã in 3 đầu sách cũng có cùng một ý:”Tôi không nghĩ nhiều đến chuyện có trở thành một nhà văn thực sự hay không? Chỉ đơn giản là thích viết, luôn viết…”.

Trong cái xô bồ của việc buôn bán chữ, của việc cầu danh cầu lợi, của những toan tính cá nhân, thì dòng văn chương thị trường cũng có những tác giả tài năng. Sách của họ vừa đáp ứng thị trường, vừa có phẩm chất văn chương. Xin đơn cử Nguyễn Nhật Ánh, Dương Thụy, Phan Hồn Nhiên… Sách của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã thành thương hiệu. Sách mới in của ông thường vượt qua con số 10.000 bản. Dương Thụy nổi tiếng với tác phẩm “Oxford thương yêu”  tái bản trong hai năm là 14 lần, với tổng đầu sách là 55.000 bản. Phan Hồn Nhiên chuyên tâm với thể loại sci-fi (Mắt bão, Cảm xúc nguy hiểm, Máu hiếm, Ngựa thép…).

Thực ra không có sự phân định rạch ròi một nhà văn thuộc dòng văn chương thị trường văn chương nhân văn và dân chủ. Nguyễn Ngọc Tư là một thí dụ. Nữ tác giả này có sách best-seller trên thị trường, nhưng cô cũng là nhà văn đụng chạm đến những vấn đề nóng của hiện thực. Cánh đồng bất tận đã đem đến vinh quang cho cô nhưng cũng gây ra không ít khó khăn cho tác giả khi nó mới xuất hiện.

Nhà văn viết tác phẩm muốn được đông đảo độc giả biết đến, họ buộc phải hướng đến thị trường. Nhưng chỉ những nhà văn tài năng, có tâm huyết mới có thể viết được một tác phẩm vừa đáp ứng những đòi hỏi của thị trường vừa có phẩm chất văn chương. Thành công như Nguyễn Nhật Ánh vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Và vì thế, dòng văn chương thị trường, tuy có lúc ồn ào do quảng cáo, nó sẽ qua đi rất mau, hết đợt sóng này đến đợt sóng khác, tùy thuộc vào những cơn sóng thị trường có ảnh hưởng toàn cầu.

Sau cao trào 2014 đến nay, văn chương thị trường trở về sự im ắng. Rất nhiều người viết đã bỏ cuộc chơi. Tài năng vẫn là của hiếm. Những nhà văn “truyền thống” viết cho thị trường đến nay không có mấy người thành công. Tác phẩm văn chương nước ngoài được dịch ra tiếng Việt vẫn đang chiếm lĩnh thị trường sách văn chương.

               Văn chương thị trường tuy đã định hình và có thành tựu, song chưa có đóng góp gì nhiều vào sự phát triển chung của văn chương Việt Nam, có chăng là sự hiện diện của chính nó như một thực tại được công nhận trong thị trường. Nó cũng đặt ra nhiều vấn đề để các nhà quản lý, các nhà giáo dục, các nhà lý luận suy nghĩ. Chẳng hạn, cần phải có những mối quan hệ thế nào giữa giải trí với tư tưởng, lối sống, khi người trẻ tiếp nhận văn chương thị trường? Làm thế nào để cân bằng văn chương thị trường với văn chương cách mạng và kháng chiến, văn chương Nhân văn và Dân Chủ?…

***

(XEM TIẾP PHẦN II: NHỮNG HIỆN TƯỢNG VĂN CHƯƠNG 1975-2020)

( Chú thích nằm ở cuối phần II)

CÔNG TÁC VĂN HỌC 2019-HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

HÔI NGHỊ CÔNG TÁC VĂN HỌC 2019

PHÁT BIỂU CỦA NHÀ THƠ HỮU THỈNH

Chủ tịch Hội Nhà văn Việt nam

Sáng 28/12/2019, tại Viện bảo tàng Văn học Hà Nội

(Time: 01:11:43)

Văn chương 2019

Kính thưa hội nghị,

Trước hết tôi xin thay mặt Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, nhiệt liệt chào mừng các vị khách quý, các anh các chị, các Hội đồng (chuyên mộn) và các Ban văn học, từ mọi miền đật nước về dự Hội nghị công tác văn học 2019 của chúng ta.

CHƯƠNG TRÌNH LÀM VIỆC CỦA HỘI NGHỊ

Chương trình làm việc của chúng ta như Chánh văn phòng vừa nói. Buổi sáng hôm nay, chúng ta sẽ nghe báo cáo và thảo luận tổng kết công tác năm 2019 và phương hướng năm 2020. Buổi chiều, các Ban và các Hội đồng họp rút kinh nghiệm công tác năm 2019 và bàn về phương hướng hoạt động năm 2020 theo hướng dẫn của Ban Chấp hành.

Việc quan trọng nhất đối với các Hội đồng chuyên môn và các Ban Văn học chiều hôm nay là xem xét, thảo luận, bỏ phiếu giới thiệu kết nạp hội viên mới. Nếu các Ban có việc cần bàn thêm thì chúng ta tiến hành cả sáng ngày mai. Về cơ bản, hội nghị kết thúc vào buổi chiều hôm nay.

TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC 2019

Kính thưa các anh các chị,

Năm 2019, đất nước phát triển tương đối tốt. Kinh tế phát triển, an ninh chính trị, đối ngoại nhân dân, quốc phòng được giữ vững. Trong 12 chỉ tiêu của chính phủ Quốc hội đã thông qua đều vượt và đạt. Tăng trưởng kinh các anh chị biết là 6,8% (BCT: Báo đăng: 7,02%). Sự phát triển kinh tế có ảnh hưởng đến tâm lý xã hội đời sống nhân dân và tâm trạng, cảm hứng sáng tạo của nhà văn.

Đối với Hội Nhà văn Việt Nam, cũng như các hội VHNT địa phương, năm nay chúng ta có cuộc vận động lớn, 2 kết luận lớn, đó là Trung ương tổ chức rút kinh nghiệm sơ kết 5 năm nghị quyết 33 của Trung ương khóa 11 “Xây dựng văn hóa Việt Nam, xây dựng con người góp phần phát triển bền vững đất nước”. Đây là họat động tổng kết rất lớn, tiến hành từ trung ương đến các địa phương. Cuộc vận động thứ hai, hoạt động thứ hai là Trung ương tổ chức rút kinh nghiệm 5 năm thực hiện kết luận của Bộ Chính Trị về tổ chức hội. Điều thứ hai có tác động rất lớn đối với giới VHNT của chúng ta là Chỉ thị 31 của Ban Bí thư về “Tổ chức đại hội nhiệm kỳ các hội chuyên ngành VHNT và Liên hiệp Các Hội VHNT Việt Nam” trực tiếp tác động lên giới VHNT của chúng ta, trong đó có Hội Nhà Văn Việt Nam.

Quảng bá-khai mạc 2

(Khai mạc Hội nghị quảng bá văn học 2019)

TẬP TRUNG NHỮNG ĐIỂM CHÍNH

Ban Chấp hành luôn luôn đặt nhiệm vụ đẩy mạnh sáng tác là nhiệm vụ hàng đầu, xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động của Hội chúng ta.

1.Trước hết là mở các trại sáng tác. Năm nay, được sự hỗ trợ của Bộ VH-TT, chúng ta tổ chức 2 trại sáng tác ở Tam Đảo, ở Nha Trang, Phú Quốc, hơn 30 nhà văn đến làm việc. Các trại sáng tác tổ chức ở hai đầu đất nước nên Ban Chấp hành tổ chức đi chéo vùng, tức là các nhà văn phía Bắc thì đi phía Nam, các nhà văn phía Nam thì đi phía Bắc. Như vậy, chúng ta vừa có điều kiện tham dự trại sáng tác, vừa có kết hợp đi thực tế.

Ngoài ra có một cái cải tiến của năm 2019 là Ban Chấp hành tổ chức một trại sáng tác riêng tại tại bảo tàng cho 8 nhà văn đã có dự kiến, dự án, đề cương viết tiểu thuyết dài hạn. Có thể nói đây là một cái cải tiến khác với nhiều năm là chúng ta tập trung về thể loại tiểu thuyết và giúp các anh các chị có đề cương chi tiết đã hoàn thành. Lần đầu tiên chúng ta có một tổ chức như vậy và trại kéo dài đến một tháng trời. Đồng thời với viết, có tổ chức hội thảo tại trại. Các anh các chị kết thúc trại sáng tác đều đã hoàn thành cái đề cương của mình, có bản thảo, những bản thảo rất là công phu.

2.Tổ chức đi thực tế. Chúng ta thấy là, hầu hết các nhà văn của chúng ta đều tập trung ở khu đô thị lớn, khu trung tâm hành chính do đó đi sáng tác, đi thực tế trở thành cái nhiệm vụ thường xuyên của Hội. Nhiệm vụ này  Ban Văn học Chuyên đề được Ban Chấp hành  giao nhiệm vụ tổ chức được 6 chuyến đi thực tế. Chủ yếu năm nay là đi thực tế các vùng chiến sự ở biên giớ phía bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai thu hút cả nhà văn phía Bắc và cả nhà văn phía Nam. Năm nay kỷ niệm 40 năm cuộc chiến tranh biên giới cho nên nhà văn đi thực tế các tỉnh phía Bắc rất nhiều và đi về là có tác phẩm tốt. Ngoài ra chúng ta tổ chức một chuyến đi đồng bằng sông Cửu Long. Chuyến đi này có kết quả. Chúng ta đã tiếp cận một cái vùng sôi động của đất nước, có thể nói là cái vựa thóc của đất nước, nhưng cũng đầy khó khăn. Trước hết là biến đổi khí hậu. Vấn đề biến đổi khí hậu tác động chung cả nước, nhưng  tập trung nhất vể đồng bằng sông Cửu Long. Các nhà văn chúng ta đã có mặt.

3.Vấn đề đầu tư thứ 3 là đẩy mạnh sáng tác để có tác phẩm kết tinh. Ở đây có tác phẩm kết tinh có tính chất tổng kết một đời văn. Năm nay Hội Nhà văn tiếp tục hoạt động của các năm trước là không tập trung không đầu tư dàn trải, nhưng tập trung cho những tác giả đã có đề cương sáng tác cơ bản và có từng trải có ý nghĩa tổng kết. Đấy là một bước chuyển. Như vậy, chúng ta vừa chú ý đội hình chung của cả nước nhưng đồng thời chú ý các tác giả tiêu biểu để chúng ta sớm có những tác phẩm kết tinh một giai đoạn. Công tác này triển khai trong tất cả các hoạt động.

Về đầu tư, có thể nói rằng, chúng ta vẫn giữ chế độ đầu tư thường xuyên của Nhà nước. Hy vọng sử dụng cái đầu tư như thế nào thì có thể báo cáo với các anh chị đầu tư của chúng ta được đúng nghị trình: Có đề cương, có chuẩn bị. Nói chung, tất cả đều có bàn thảo hoàn thành được (cái) chương trình của mình, có lượng tiểu thuyết, các công trình lý luận phê bình khá cao, công phu. Ngoài các tổ chức đầu tư trực tiếp cho các nhà văn, thì Hội chúng ta, có lẽ là một Hội duy nhất đưa được nhiều nhà văn lên Liên hiệp (các Hội VHNT Việt Nam) hỗ trợ. Các Hội khác, kinh phí họ ít hơn ta nhưng mà cũng rất ít văn nghệ sĩ được đưa lên Liên hiệp. Hội Nhà văn Việt Nam có thuận lợi là tôi cũng làm việc ở đây nhiều cho nên chúng ta đã gưi gần 100 nhà văn lên Liên hiệp để đầu tư. Như thế, cái vốn hỗ trợ của ta vừa ở Hội, vừa xin giúp đỡ của Hiệp hội.

Lượng sách xuất bản của chúng ta năm nay giữ được cái mức như năm ngoái. Công bố tác phẩm, riêng ở Nhà xuất bản Hội Nhà văn  là 1650 cuốn. Các anh hãy tưởng tượng, một nhà xuất bản của chúng ta thôi mà đã hơn 1650 cuốn thì phải nói là số lượng lớn. Còn các nhà xuất bản khác, địa phương và trung ương. Như vậy, đánh giá được cái nhịp độ sáng tác, tốc độ sáng tác, khối lượng sáng tác của chúng ta là rất dồi dào. Vấn đề đặt ra trong các tác phẩm ấy như thế nào, dòng chảy chung cùa văn học chúng ta như thế nào thì có thể nói một cách tóm tắt như thế này: văn học của chúng ta tiếp tục cái dòng chảy xuyên suốt đó là chủ nghĩa yêu nước, dân tộc, nhân văn, dân chủ, tích cực hội nhập. Trong đó rất đáng mừng là chúng ta có rất nhiều tiểu thuyết đi về đề tài lịch sử, đi về đề tài chiến tranh và tập trung đi vào các vấn đề đạo đức xã hội đang rất gay gắt đặt ra. Nhiều nhà văn rất dũng cảm đi vào vấn đề trung tâm của đời sống ngày nay. Đó là vấn đề xây dựng và kiến tạo con người, xây dựng và kiến tạo đạo đức xã hội, trong đó có rất nhiều cái xung đột. Đó là những trận địa, nhiều tác phẩm đã đi vào cái này. Không phải những nhà văn chuyên nghiệp, hội viên đâu mà các khu vực, các địa phương cũng đi vào vấn đề này, nhiều tác giả khai thác.

Tiếp tục cái việc thúc đẩy văn học, ở các Hội đồng, theo sự chỉ đạo của Hội Nhà văn Việt Nam. Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm sau khi kết thúc cuộc thi thơ thì các anh đã tiếp tục cuộc thi truyện ngắn. Tôi đọc các truyện ngắn của Nhà văn và tác phẩm, có nhiều truyện ngắn rất hứa hẹn. Cuộc thi còn đang tiếp tục nhưng mà tôi đã thấy những tác phẩm rất khá. Tôi làm thơ nhưng rất thích đọc truyện ngắn, đọc văn xuôi. Tôi thấy cuộc thi đang có nhiều hứa hẹn. Cuộc thi thứ hai cũng đầy hy vọng, đó là cuộc thi thơ của báo Văn nghệ mới phát động cách đây được hai, ba tháng thôi, thì nó cũng chưa báo hiệu cái gì là hứa hẹn lắm đâu, nhưng có cái mới là nhiều tên tuổi, cây bút mới tham gia.

Về giải thưởng, cũng là một biện pháp để thúc đẩy sáng tác, nhiệm vụ trung tâm của chúng ta, thì hiện nay chúng tôi đang tập trung xét giải thưởng của tiểu thuyết 5 năm của chúng ta. Năm nay, về số lượng, có lẽ là một trong những cuộc thi có số lượng nhiều nhất là 176 tác phẩm. Trong đó có những tác phẩm 5 tập hơn 2500 trang, 4 tập, 3 tập, 2 tập. Như vậy là có rất nhiều tác phẩm có quy mô lớn, do đó cho nên chúng tôi phải tổ chức một cái thời gian và ban giám khảo làm việc bước sơ khảo đang làm việc rất tích cực. Chúng ta phải làm một cách rất là nghiêm túc, đúng luật, đúng quy chế. Không để sót tài năng, do đó chúng tôi muốn trao giải thưởng và kết thúc cuộc thi tiểu thuyết này vào giữa quý I năm 2020. Mới đọc thôi, chưa kết thúc vòng 1, chúng tôi thấy là năm nay có tác phẩm hay để trao.

Giải thưởng hàng năm, các Hội đồng kết thúc bước sơ khảo, và trong tuần tới Ban Chấp hành sẽ chung khảo và quyết định trao giải thưởng cho những tác phẩm đã được các hội đồng đưa lên. Tôi thấy năm nay tình hình tốt hơn năm ngoái, có nghĩa là lĩnh vực nào, thể loại nào cũng có tác phẩm được trao giải thưởng. Các Hội đồng (chuyên môn) làm việc rất tích cực, chọn lọc rất là khắt khe, mà tôi thấy là những chọn lọc như vậy nó phản ánh được cách làm việc của các Hội đồng, trách nhiệm của các Hội đồng và đánh giá đúng chất lượng đời sống văn học của chúng ta.

Đấy là về sáng tác, có mấy họat động như vậy.

Về lý luận phê bình, năm nay Hội đồng LLPB cùng với sự chỉ đạo của Hội Nhà văn Việt Nam, chúng ta tổ chức rất nhiều cuộc hội thảo. Không đi vào vấn đề chung. Nhiều cuộc hội thảo đã đánh giá tình hình chung rồi. Đầu năm, trong “Ngày thơ Việt Nam” có hội thảo vấn đề tiểu thuyết. BCH luôn có ý thức rằng coi trọng tiểu thuyết như đó là một thể loại bản lề, một thể loại nòng cốt của văn học, nên chúng ta tổ chức một cuộc hội thảo về tiểu thuyết chung. Sau đó rất nhiều cuộc hội thảo về từng tác giả nhân kỷ niệm 100 năm, như Hội thảo về Ngô Tất Tố, cuộc hội thảo về Nguyễn Bính, cuộc Hội thảo về nhà thơ Huy Cận, về nhà văn Bùi Hiển và cuộc kỷ niệm 50 năm, nhưng thực chất là cuộc hội thảo về Dương Thị Xuân Quý, cuộc ra mắt sách của nhà thơ Thanh Tùng cũng mang dáng vóc của một cuộc hội thảo khoa học và có chất lượng tốt. Đấy là cái hoạt động rất là sôi nổi của Hội đồng LLPB.

Ngoài ra, chúng ta hết sức chú ý đến trang LLPB trên tạp chí và các báo. Ở đây có 3 cơ quan, mỗi cơ quan đều hoạt động tốt. Tạp chí Nhà văn & Tác phẩm, báo Văn nghệ, tạp chí Hồn Việt, tạp chí Thơ chúng ta đều chú ý quan tâm đến mảng LLPB trên các cơ quan này.

Về công tác xây dựng Hội, năm nay chúng ta tiến hành một bước sắp xếp, quy hoạch tinh giản bộ máy. Thật ra bộ máy của chúng ta cũng không phải quá cồng kềnh vì biên chế của Hội xưa nay cũng chỉ có hơn 30 người thôi, bao gồm cả Hội Nhà văn, các cơ quan Hội Nhà văn, văn phòng HNV và Bảo tàng này. Chúng ta chỉ có 33 người thôi. Biên chế này là xít xao. Nếu bây giờ biên chế như vậy thì là quy hoạch, sắp xếp lại cho hợp lý hơn. Bộ phận nào mà hoạt động êm, hiệu quả thì chúng ta để lại, còn bộ phận nào hoạt động ít hiệu quả thì chúng ta tổ chức sắp xếp bố trí lại cán bộ, nhân sự để hoạt động tốt hơn. Đương nhiên, sắp xếp lại bộ máy thì ở cơ quan nào cũng khó khăn đó là nó đụng chạm đến con người cụ thể, làm thế nào sắp xếp được nhưng mà vui vẻ, đầm ấm, cái ấy mới là khó. Làm được cái việc này, chúng ta vừa thực hiện được nghị quyết của trên, cơ quan của chúng ta vẫn sắp xếp được. Đấy là cái điều đáng mừng.

Ngoài ra thì phải nói rằng một công tác xây dựng Hội đầu năm nay và nhiều năm là thực hiện chính sách đối với các nhà văn, là thăm hỏ, đau ốm, tang lễ các nhà văn qua đời v.v.thì có thể nói mảng này chúng ta làm rất tốt. Tôi ở Liên hiệp, tôi theo dõi có lẽ Hội Nhà văn Việt Nam là một trong cái Hội thực hiện rất tốt cái công tác hội viên, nhất là chăm sóc khi ốm đau, khi tang lễ, kể cả nhà văn và kể cả gia đình. Có nhà văn ở rất xa, anh em văn phòng cũng đến viếng, thăm hỏi, làm rất tận tình. Công việc này rất thầm lặng, nhưng nó thể hiện cái tình nghĩa của những người đồng nghiệp đối với nhau, gắn bó Hội với hội viên và hội viên đối với Hội.

          Về giao lưu văn học, đối với nước ngoài và quảng bá văn học Việt Nam. Năm 2019 là một năm hoạt động sôi nổi vào loại nhất trong nhiều năm, rất có ấn tượng, rất có hiệu quả. Chúng ta tổ chức Hội nghị quảng bá văn học lần thứ 4 và Liên hoan thơ quốc tế lần thứ 3, lần này số lượng là cao nhất. 51 quốc gia tham gia, gần 200 nhà văn. Trước kia chỉ có châu lục là Á, Phi, châu Âu. Năm nay có châu Mỹ La Tinh. Cùng một lúc tổ chức trên một quy mô rất rộng, rất lớn: Hà Nội-Quảng Ninh-Bắc Giang. Cùng một lúc, chúng ta vừa thảo luận, hội thảo về những vấn đề mà các bạn quan tâm với văn học Việt Nam, vừa tổ chức cho các nhà thơ đi giao lưu văn hóa: Đọc thơ với Đại học Sư Phạm, Đại học Văn hóa. Diện hoạt động rất rộng. Nhiều sự kiện, nhiều cuộc tiếp xúc cùng một lúc đón tiếp một khối lượng rất lớn các bạn bè quốc tế. Chúng ta có cải tiến. Thứ nhất: Mọi lần đến quảng bá văn học Việt Nam, chúng ta đều tặng các bạn sách tiếng Việt thôi. Lần này, chúng tôi, trong thời gian rất ngắn chỉ có 2 tháng chuẩn bị. Sự kiện lớn này phải xin phép Ban Bí thư. Trong khoảng thời gian 2 tháng, chúng ta đã dịch 3 tác phẩm: (một là) Khái quát 10 thế kỷ văn học Việt Nam. (2 là) Tuyển tập truyện ngắn và (3 là) tuyển tập thơ bằng tiếng Anh. Các đại biểu ra về đều có sản phẩm dịch văn học Việt Nam bằng tiếng Anh rồi. Cái cải tiến rất lớn. Ngay sau khi kết thúc Hội nghị, thì nhiều nước, bằng tác phẩm của chúng ta, đã dịch ngay ra cái tiếng của họ. Hàn quốc, Đài Loan, Ý, Hunggary đều giới thiệu tập thơ của Việt Nam. Đặc biệt là một số giáo sư, một số nhà văn ở Thái Lan, Indonesia, Philippines v.v, bằng cái tài liệu của chúng ta, họ đưa luôn vào giáo trình giảng dạy văn học của nước họ về lịch sử 10 thế kỷ phát triển văn học ở Việt Nam. Cái hiệu quả của năm nay là rất tốt. Sắp tới chúng ta duy trì cái hiệu quả này, cho nên cái nhịp độ chưa bao giờ chúng ta đón các khách nước ngoài và tham gia các sự kiện văn hóa, tham gia các sự kiện vào quốc tế được như năm nay. Có thể nói tháng nào cũng có đoàn ra, tháng nảo cũng có đoàn vào. Nhiều đoàn ngoài dự kiến. Nhiều người ta nghe thấy vậy, các đại biểu đi dự hội nghị về quảng bá cho nên người ta đến ngoài dự kiến. Cho nên liên tục phải báo cáo cấp trên để đón tiếp. Chúng ta mở rộng được cái đội hình tiếp xúc hội nhập tốt như thế.

Một trong những nhiệm vụ quảng bá nữa là, chúng ta cử các nhà văn đi tham gia sự kiện quốc tế. Năm nay Trung Quốc có 2 hội nghị. Một cái hội nghị thứ nhất, họ tổ chức rất lớn tại Bắc Kinh. Thực chất của cuộc hội thảo này là họ triển khai chiến lược “vành đai và con đường”. Chúng ta đã cử đại diện, đồng chí Nguyễn Trí Huân Phó chủ tịch sang dự. Một hội nghị thứ hai là cuộc đối thoại văn học giữa Trung Quốc và khối sông Mê Kông, tổ chức tại Côn Minh. Chúng ta cũng cử nhà văn Tô Nhuận Vĩ tham gia. Ờ Trung Quốc chúng ta cử hai đoàn. Có một (cái) đoàn ở một nước rất xa, rất khó đi lại, đó là Kazakhstan. Kazakhstan năm nay họ tổ chức một (cái) hội nghị gọi là “Những người được giải thưởng cao nhất của các quốc gia”, ngòai những người đã được giới thiệu giải thưởng Nobel, ứng cử giải thưởng Nobel. Họ làm rất lớn. Họ muốn kéo trung tâm về phía Trung Á. Chúng ta cũng đã cử nhà văn tham gia. Chúng ta đã cử các nhà văn, lâu lắm rồi, cũng không phải lâu lắm, nhưng đến cái vùng rất ít chúng ta có điều kiện tham dự , đó là Pakistan. Anh Bùi Việt Thắng đã tham dự hội nghị này. Cái hội nghị này bây giớ nó không còn là tổ chức văn học Á Phi nữa, mà là văn học Á-Phi và Mỹ La tinh. Họ rất là cảm động phía Việt Nam đã tham gia hội nghị này. Sắp tới (thì) nhiều nước biết đến (cái) “Ngày Thơ Việt Nam”. Họ đăng ký vào (cái) “Ngày Thơ Việt Nam” rất đông. Tất nhiên là khả năng đón của chúng ta rất có hạn. Cái ấy sang năm 2020 để tôi báo cáo sau.

Các cơ quan của Hội hoạt động trên 3 phương diện: một là đẩy mạnh sáng tác, hai là xây dựng Hội, ba là quảng bá văn học Việt Nam. Việc nào văn phòng cũng phải làm việc. Văn phòng cùa chúng ta không đông đâu. Việc nào, người nào làm việc cũng rất tích cực, bô phận nào cũng hoàn thành nhiệm vụ âm thầm. Ngoài ra, chúng tôi xác định văn phòng là cái bộ mặt của Ban Chấp hành, đón tiếp các nhà văn, làm việc với các nhà văn niềm nở đúng mực, trân trọng, tình cảm đầm ấm. Văn phòng đã hoàn thành rất là xuất sắc.

Các Hội đồng của chúng ta đều có nhiều cải tiến. Cải tiến là chúng ta thay thế cái nhiệm kỳ của Hội đồng 5 năm bằng cái nhiệm kỳ 2 năm. Tinh thần của cái thay đổi này là muốn cho hội đồng năng động thêm. Không nên có một cái hội đồng ngồi cả 5 năm, sau khi bàn bạc, nó có một cái lối mòn nào đó chăng do đó cho nên chúng tôi quyết định là hội đồng là 2 năm. Tổ chức 2 năm có cái hay của nó là việc đổi mới nhân sự ở các Hội đồng. Vậy cái khả năng tiếp nhận nhiều kênh, nhiều phong cách sáng tạo của văn nghệ sĩ tốt hơn. Tuy vậy, 2 năm cũng có cái mặt khó khăn của nó. Khó khăn vì có 2 năm thôi, làm thế nào để có thể bao quát được cả nước, bao quát được tình hình văn học ở các khu vực mà mỗi hội viên ở Hội đồng thì ở một chỗ địa phương thôi, làm thế nào để có một Hội đồng quan sát được, nắm được cái tình hình chung, thì đấy là một vấn đề đòi hỏi phải cung cấp thông tin, cả về con người và tác phẩm. Hội đồng chúng ta mới thay đổi, ê kíp mới năm nay là năm vào đầu tiên. Tuy mới thành lập nhưng các anh các chị thích nghi, tiếp cận công việc rất nhanh, làm việc rất là tốt.

Về các cơ quan báo chí của hội,

Trước hết là báo Văn Nghệ. Tình hình là, báo Văn nghệ hiện nay là có khó khăn. Báo viết nói chung là khó khăn. Hoạt động của Ban Chấp hành năm nay tiến hành quy hoạch lại đội hình báo chí của Hội theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Mô hình báo chí của chúng ta bây giờ là như thế này. Một Hội là có cái nhà xuất bản. Chúng ta có rồi. Có một tạp chí, đó là tạp chí Nhà văn và Tác phẩm, chỉ có một cơ quan báo chí thôi. Tôi chọn cơ quan báo chí của chúng ta là báo Văn Nghệ, vì truyền thống là hơn 70 năm rồi. Tờ báo chính của chúng ta là tờ báo Văn Nghệ. 2 ấn phẩm kèm theo là tạp chí Thơ và tạp chí Hồn Việt. Trước kia, tạp chí Thơ và tạp chí Hồn Việt hoạt động như một tạp chí riêng, nhưng bây giờ nó trở thành ấn phẩm của báo Văn Nghệ, theo quyết định của trên như vậy. chúng ta duy trì 2 tạp chí này nhưng với tư cách nó là ấn phẩm của báo Văn Nghệ. Thế thì cái cách làm việc khi mà ghép vào đội hình như vậy như thế nào? Hôm nay trên hội nghị này chúng tôi cũng nói thêm là khi chúng ta đã đưa các tạp chí về ấn phẩm của báo Văn Nghệ, thì Ban Chấp hành sẽ thành lập một cái Hội đồng Biên tập. Hội đồng Biên tập phân công các thành viên của Hội đồng, người thì làm Tổng biên tập, người thì làm tạp chí Thơ, người thì làm tạp chí Hồn Việt. Chủ tịch chỉ đạo chung của cơ quan chủ quản đảm nhiệm công việc chủ tịch Hội đồng Biên tập. Cái này chúng ta kiên quyết làm trong tháng 12 cho nó xong. Như vậy có thay đổi gì không? (thì) thưa các anh các chị (là) không có gì thay đổi cả. Mà cũng thưa nói thật với các anh chị là, phải làm việc rất kỹ với lãnh đạo Bộ Thông tin-Truyền thông. Các cơ quan khác (thì) đội hình thu hẹp lại chỉ có mỗi tạp chí nghề nghiệp thôi. Chúng tôi trình bày với các đồng chí lãnh đạo, cơ quan của Hội Văn nghệ ở Hội Nhà văn Việt Nam chỉ có chữ thôi. Công bố tác phẩm của mình bằng báo và nhà xuất bản. Nếu bây giờ co hẹp, không có tạp chí Thơ nữa, không có tạp chí Hồn Việt, việc công bố tác phẩm của chúng ta sẽ rất khó khăn. Do đó cho nên là, trên suy tính nhiều lần chấp nhận để chúng ta tồn tại tạp chí Hồn Việt và tạp chí Thơ dưới cái dạng đó là ấn phẩm của báo Văn Nghệ.

Báo Văn Nghệ cũng có những lúc rất khó khăn, khó khăn lắm, nhất là vào cuối mùa hè đầu mùa thu năm vừa qua. Khó khăn nhất của báo Văn Nghệ về 2 phương diện: Một là tài chính, hai là nhân sự. Đội ngũ biên tập còn rất mỏng. Do đó cho nên Ban chấp hành phải tập trung chỉ đạo giúp báo Văn Nghệ khắc phục khó khăn. Thành lập một Ban chỉ đạo. Thực chất của Ban Chỉ đạo là tăng cường đội quân biên tập cho báo Văn Nghệ. Cho nên từ cái lúc cuối mùa hè thì cái tirage (lượng phát hành) xuống cái mức thấp nhất. Sau khi có cái Ban chỉ đạo 28 rồi, sắp xếp lại các chương mục, người phụ trách phân công đi vào những vấn đề cụ thể nên báo Văn nghệ lấy lại được cái đà của nó. Tirage tăng lên. Cái sự hỗ trợ báo Văn nghệ của Ban Chấp hành là như vậy.

Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm, sau khi kết thúc cuộc thi thơ năm ngoái, năm nay các anh tổ chức cuộc thi tryện ngắn. Tôi hy vọng sẽ phát hiện nhiều cây bút mới và nhiều tác phẩm hay. Về trình bày, tổ chức đã có tiến bộ hơn so với nhiều năm trước.

Tạp chí Thơ cũng có nhiều cải tiến. Nó giữ được cái mực thước, cái đẳng cấp của một tờ tạp chí. Công bằng mà nói rằng, thơ ở trên tạp chí Thơ có chất lượng hơn so với thơ ở trên các báo, phải nói thật như vậy, vì các anh có điều kiện, thời gian, để chọn bài kỹ lưỡng hơn vì 2 tháng mới có một tờ tạp chí. Mà chúng tôi cũng muốn có một tờ tạp chí nó có đẳng cấp như vậy. Người rất ít. Không ai là người trong biên chế cả, không có biên chế nào, chỉ có ba, bốn người thôi. Đứng đầu là anh Ngô Thế Oanh làm việc rất tốt.

Về Trung tâm Quốc học và tạp chí Hồn Việt, phải nói rằng, nhiều lần, nếu  chúng ta có một (cái) cuộc triển lãm, sách và những công trình nghiên cứu của Trung tâm Quốc học thì chúng ta sẽ vô cùng ngạc nhiên  là với một số người rất ít, hình như chỉ có mình Giáo sư Mai Quốc Liên, nhưng bằng nhiều hình thức, anh đã liên kết với các chuyên gia hàng đầu cả trong nước và nước ngoài, thì cái khối lượng sau 10 năm, 20 năm trở về Hội Nhà văn, lượng sách nghiên cứu đồ sộ, phải nói như vậy. Đặc biệt là sách về vốn văn hóa cổ của Việt Nam. Tạp chí Hồn Việt cũng ra đều có số rất hấp dẫn, nó mang tính báo chí, đặc biệt là những trang tư liệu. Tạp chí Hồn Việt và Trung tâm Quốc học rất cố gắng.

Về Bảo tàng Văn học Việt Nam, chỗ chúng ta đang ngồi đây, năm vừa qua đã có những cái cải tiến là đã xây quần thể tượng (như các anh các chị đã biết). Bao nhiêu năm chuẩn bị, chúng ta mới tranh thủ một cái dự án bước một đã hoàn thành. Đó là dựng tượng danh nhân văn học 10 thế kỷ. 20 vị. Hai mươi vị này ai xứng đáng dựng tượng. Thưa các anh các chị, chúng tôi phải đón các chuyên gia văn học hàng đầu, các vị giáo sư hàng đầu, làm việc rất cản thận nhiều năm chuẩn bị rồi mới chốt được 20 vị. Từ đó mới triển khai, bây giờ làm thế nào để dựng tượng được? Lúc đầu chính phủ duyệt cho phương án dựng tượng bán thân thôi. Nhưng mà nếu dựng tượng 20 vị toàn tượng bán thân, thì giống nhau lắm và trông nó rất buồn tẻ. Cho nên chúng tôi mạnh dạn báo cáo Thủ tướng xin phép dựng tượng toàn thân. Dựng tượng toàn thân tức là khối lượng tăng gấp đôi, thậm chí hơn gấp đôi về lượng đồng, về công, về đủ mọi thứ, nhưng mà Chính phủ không cho thêm một đồng vốn nào. Dựng tượng bán thân từng ấy tiền, bây giờ anh toàn thân cũng chỉ có từng ấy vốn thôi. Không tăng thêm, không đội vốn gì hết. Anh em phải tiến hành xã hội hóa và chúng ta có 10 tượng thế này. Bộ Văn hóa Thể thao-Du lịch đã đi nghiệm thu nhiều vườn tượng và được đánh giá là vườn tượng danh nhân ở Bảo tàng Văn học Việt Nam là một trong những vườn tượng đẹp nhất trong nước của chúng ta. Đấy là giai đoạn 1. Còn giai đoạn 2 là dựng tượng tiếp các danh nhân văn hóa thế kỷ thứ XX. Đây cũng là vấn đề rất cần thiết để tôn vinh giá trị của quá khứ, anh em đang tiếp tục.

Về Trung tâm Bồi dưỡng Viết văn Nguyễn Du của anh Phan Trọng Thưởng, anh Phan Trọng Thưởng vừa là Phó chủ tịch thường trực của Hội đồng LLPB VHNT Trung ương, vừa là Chủ tịch Hội đồng LLPB của ta, vừa là Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng Viết văn Nguyễn Du của ta. Trung tâm đã mở đến khóa thứ 13, mùa hè vừa rồi, lên đến 170 người dự lớp. Lãnh đạo (cái) khóa từ nam chí bắc người ta cất công đi học rất là tốt. Phải thấy là Trung tâm hoạt động có kết quả cho nên (cái) người đăng ký tham dự ngày càng đông. Năm nay có chất lượng giảng dạy tốt hơn. Chọn được những người đến giảng bài, đặc biệt là cái khâu trả bài học viên nó cụ thể hơn dưới sự hướng dẫn của các thầy giáo.

Về Hãng phim của Nhà Văn Việt Nam, sau nhiều năm làm dự án, báo cáo với cấp trên, hãng phim đã hoàn thành bộ phim dài nhiều tập về Bác, về các đồng chì lãnh dạo tiền bối của Đảng với một cái tên chung là Ý chí độc lập, dài 19 tập. Mới quay xong, đang thời gian hậu kỳ tiếp tục sửa chữa.

Các Ban, các Hội đồng, như tôi đã nói, các Hội đồng hoạt động rất tốt. Tuy chúng ta có đổi mới nhân sự nhưng các anh các chị tiếp cận công việc sớm và hoạt động có hiệu quả, thực sự là cánh tay nối dài của Ban Chấp hành, giúp đỡ Ban Chấp hành triển khai công việc, phải nói rằng Ban Văn học Chuyên đề (Ông Mậu) tổ chức đi thực tế, hội thảo, thì Ban Văn học Chuyên đề làm rất nhiều việc. Ban Nhà văn nữ có rất nhiều sáng kiến. Có lẽ trong các Ban, chỉ Ban Nhà văn nữ hoạt động sôi nổi. Hai ngày: ngày 08/3 và ngày 26/10 năm nào cũng có hoạt động. Các chị hội thảo ở Hà Nội. Nhưng mà 2 năm nay cả hai đầu Nam-Bắc đều có hoạt động rất tốt. Ở phía Namj hoạt động cũng sôi nổi, cũng tốt, có hiệu quả. Ở miền Bắc cũng như vậy. Ban Nhà văn nữ hoạt động rất tốt, rất cám ơn. Ban Văn học Công nhân, sau khi đại hội chi hội xong thì chúng tôi đã làm việc và đã triển khai cuộc hội thảo về văn học công nhân trong giai đoạn mới, và tiến tới giải thưởng văn học công nhân với sự phối hợp của Hội Nhà văn và Tổng Công đoàn.

Cần phải nói đến một (cái) hoạt động hàng năm rất là hay, đó là Câu lạc bộ Văn chương do nhà thơ Vũ Quần Phương làm Chủ tịch. Anh Vũ Quần Phương làm rất dân chủ . Thật ra Câu lạc bộ này là chỉ định thôi, nhân sự là chỉ định, chứ không phải bầu. Nhưng anh Vũ Quần Phương là muốn đổi mới. Cho nên tại hội trường anh tổ chức đại hội, rồi bầu Chủ nhiệm, bầu các Phó chủ nhiệm, như là Đại hội Nhà văn. Anh làm rất là tốt, anh em rất vui. Người ta cảm thấy đến Hội Nhà văn không phải chỉ là mời khách mà họ tham gia vào đội hình của chúng ta. Có rất nhiều hoạt động, tháng nào cũng có hoạt động. Câu lạc bộ thơ của nhà thơ Vũ Quần Phương thực sự là một nhịp cầu nối giữa Hội Nhà văn Việt Nam với công chúng văn học thủ đô. Tôi nói thủ đô thôi, vì các nơi khác việc đi lại có khó khăn.

Về tham gia vào các họat động của Hội, (về nội bộ) tôi cũng xin nói để chia sẻ. Có những cuộc kỷ niệm  các nhà văn lớn tuổi, giấy mời rất là đông, nhưng mà hội viên đến rất ít. Nếu mà không có Câu lạc bộ của anh Vũ Quần phương thì rất trống vắng. (Cho nên là,) Câu lạc bộ hoạt động có hiệu quả. Không chỉ tham gia vào Ngày Thơ Việt Nam đâu, mà là một Câu lạc bộ thường xuyên do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Có chuyên môn, đi vào những vấn đề nghề nghiệp.

Các tổ chức khác như Ban Nhà văn trẻ do anh Nguyễn Bình Phương phụ trách, có sự kết hợp giữa Văn nghệ Quân đội và Hội Nhà văn Việt Nam, tổ chức trại sáng tác ở phía nam, phát hiện lực lượng viết trẻ của toàn quân và của cả nước nữa. Năm nay các anh ấy rất cố gắng. các anh tham gia tổ chức sân thơ trẻ có nhiều sáng tạo. Ban chấp hành đặt vấn đề là để cho Ban Nhà văn trẻ thí nghiệm giới thiệu các cây bút trẻ, chúng ta mở thêm một cái kênh nữa là Ban Nhà văn trẻ được phép giới thiệu các cây bút mới để kết nạp hội viên. Đương nhiên là những cây bút mới ấy phải được có ý kiến của các Hội đồng. Nhà thơ trẻ, nhà văn trẻ được giới thiệu các Hội đồng phải có ý kiến, không phải Ban Nhà văn trẻ đưa thẳng lên Ban Chấp hành.

Các Ban tài chính hội viên làm việc rất âm thầm. Ban sáng tác làm việc rất âm thầm, thực sự đã hoàn thành nhiệm vụ là một trung tâm tác nghiệp của Hội Nhà Văn Việt Nam. Ban Công tác Hội viên, Ban sáng tác , Ban tài chính hoạt động, các anh các chị có thể tưởng tượng, có ngày có người 12 giờ đêm còn đến Hội để còn làm nốt công việc. Có người âm thầm 12 giờ đêm mới rời nhiệm sở. (thì cái) Hoạt động của các Ban rất tốt.

Đặc biệt là Ban đối ngoại, năm nay có đổi mới nhân sự. Ban Đối ngoại năm 2019 (là) đáng khen. Bởi vì cái tốc độ đón, đưa đoàn đi rất bận rộn, nhưng mà hoạt động rất là tốt , rất có hiệu quả và được các bạn đánh giá rất thiện cảm đối với công tác đối ngoại của chúng ta, được Ban Đối ngoại Trung ương tặng bằng khen.

Ở trên tôi nói đến những ưu điểm của hoạt động sáng tác, bây giờ tôi nói hai cái hạn chế, cũng là hai cái khó khăn.

NHỮNG HẠN CHẾ

            Cái hạn chế thứ nhất, chúng ta phải công bằng mà nói rằng số lượng tác phẩm của chúng ta ngày càng nhiều, số lượng hàng năm tăng. Nguyên một nhà xuất bản đã 1650 đầu sách, chưa kể các nhà xuất bản khác. Nếu chúng ta thống kê, sắp tới chúng ta thống kê 5 năm, thì phải nói số lượng sách khổng lồ. Thế nhưng mà chất lượng không tương xứng hay là chưa tương xứng với số lượng. Đáng lẽ trên một khối lượng sách lớn như vậy, thì thế nào cũng phải có nhiều sách hay. Nhưng mà sách năm nay, các anh các chị có ở đây, là cuốn tiểu thuyết hay nhất thì người ta lại đầu tư gửi vào cuộc thi tiểu thuyết, do đó đến xét giải thưởng hàng năm nó lại mỏng đi, ít đi. Năm nay Hội đồng văn xuôi làm việc rất là nghiêm túc cố gắng, nhưng mà chọn được có một cuốn sách vào chung khảo ở văn xuôi. Cái tầm bao quát của Hội đồng tuy rất là tốt, nhưng cũng đánh giá là số lượng thì rất đông, số lượng rất lớn, nhưng mà những cuốn sách thực sự có dư luận thì chưa tương xứng.

Cái ý thứ hai tôi muốn nói, cái khó khăn của chúng ta là đầu sách thì nhiều nhưng mà số lượng in thì ít. Bây giờ cuốn tiểu thuyết nào in 1000 cuốn đã là nhiều. Thơ thì tôi chưa thấy ái nói, ít người in đến 1000 tập thơ. 500 cuốn là nhiều. và một điều là, tất cả chúng ta ở đây đều phải suy nghĩ, thực sự đáng suy nghĩ là sách của chúng ta lưu hành chủ yếu trong những người sáng tác. Thơ in là tặng nhau là chính. Lưu hành ra thị trường thì hạn chế . Có nhiều nguyên nhân. Thị trường sách của chúng ta là nó có rào. Đây là một (cái) thực tế mà chúng ta cần phải suy nghĩ. Vì sao vậy? Đối với thị trường (thì) tôi thấy là nhiều năm nay chúng ta đã đưa ra, đã thảo luận, nhưng mà thị trướng nó có (cái) quy luật của thị trường. Chúng ta phải theo thôi. Chúng ta không thương mại hóa, nhưng chúng ta cũng không thể coi nhẹ cái quy luật của thị trường là, cái nào hay, cái nào có tiếng thì người ta đọc. Thí dụ, tôi thấy có một cuốn tiểu thuyết 2 tập của Trần Thùy Mai, Từ Dụ Thái hậu. Thì chỉ ra tháng trước, tháng sau là người ta phải tái bản rồi. Tìm mua tặng bạn bè không có. Có những cuốn sách lại ăn khách như thế, một cuốn sách nghiêm túc, cuốn sách viết về lịch sử rất hay, theo tôi. Bán được, mà 2 tập.

Nhưng mà nói chung, những cuốn sách như vậy không nhiều. Đấy là một vấn đề tôi xin nêu để các anh các chị cùng suy nghĩ. Có 2 cái ý mà chúng tôi muốn nói như vậy.

Về cải tiến, tôi nói một ý thôi là, làm thế nào Hội Nhà văn của chúng ta có tầm bao quát toàn diện hơn nữa. Chúng ta nắm được tình hình văn học, nắm được lực lượng, nắm được xu hướng, khuynh hướng. Không để sót một tài năng nào, dù họ mới tham gia vào đời sống văn học. Cái tầm bao quát ấy trông vào đâu? Trông vào các chi Hội, trông vào các Hội đồng, xin nói thật với các anh các chị, các Ban như vậy.

Tôi muốn nói một cái Ban mà chúng ta mới khôi phục, nhưng mà hoạt động nó tốt, đó là Ban Văn học Thiếu nhi. Văn học thiếu nhi vận động năm ngoái năm kia đấy, chúng ta đã làm một việc là truy tầm giải thưởng sự nghiệp cho nhà văn Vũ Hùng. Đây là cái cải tiến, và cũng do đề xuất của Ban Văn học Thiếu nhi , chúng ta đã khôi phục lại danh hiệu cho nhà văn Vũ Hùng, anh có công trình 22 đầu sách do nhà xuất bản Kim Đồng, anh rất xứng đáng. Nhưng mà cái kết nạp hội viên đối với các hội viên mảng văn học thiếu nhi còn ít quá. Đó có phải là tầm bao quát của chúng ta còn thiếu sót hay không? Trong hội nghị hôm nay chúng tôi đề nghị Ban Văn học Thiếu nhi sinh hoạt riêng. Chiều hôm nay, các anh giới thiệu kết nạp, vì tôi thấy có rất nhiều người 10 đầu sách 12 đầu sách, 20 đầu sách không có kết nạp gì cả. Tôi thấy rất thiệt thòi. Cái mảng văn học thiếu nhi chúng ta đã xác định là mảng văn học rất quan trọng đối với việc kiến tạo đạo đức cho con người. Tôi đề nghị hôm nay là 4 Hội đồng chiều hôm nay họp kết nạp, Ban Văn học Thiếu nhi, Ban Nhà văn trẻ họp và giới thiệu để kết nạp đợt này. Tôi xin có một kinh nghiệm như vậy.

Hai cái khó khăn và một cái cải tiến.

PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ NĂM 2020

            Chúng ta tiếp tực thực hiện nghị quyết Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 9 tức là: “Tất cả cho hội viên”. Khẩu hiệu “Tất cả cho hội viên” là phương châm hành động của Đại Hội nhà văn lần thứ 9. Năm nay là năm cuối nhiệm kỳ, sang năm 2020, chúng ta phải cải tiến hơn nữa. Mọi hoạt động của chúng ta đến tay hội viên, nhằm vào hội viên, “tất cả vì hội viên”. Cả văn phòng, tất cả các cơ quan, đều thực hiện như vậy; từ cơ chế chính sách, từ mọi điều kiện để đẩy mạnh sáng tác, bởi vì sáng tác là từ từng hội viên. Chúng ta có Chi Hội, có Liên Chi, nhưng mà người tác nghiệp chủ yếu đó là từng nhà văn một. Liên Chi với Chi Hội chỉ là cầu nối giữa Ban Chấp hành với hội viên thôi. Chúng ta phải coi trọng từng hội viên một. Tôi thấy đây là một phương châm tác nghiệp của chúng ta. Năm 2020, chúng ta tiếp tục phương châm ”Tất cả vì hội viên”.

Triển khai một số hoạt động sau đây:

Chúng ta vẫn phải mở 2 trại sáng tác, chúng ta vẫn xét giải thưởng và kết nạp hội viên như mọi năm. Nhưng ngoài ra có một số việc khác. Chúng tôi xin nêu trọng tâm như sau:

          Tổ chức Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 18. Năm nay ít nhất có 10 đoàn nước ngoài xin đăng ký dự Ngày Thơ Việt Nam , trong đó riêng Hàn Quốc đã có 2  đoàn. Chúng ta phải tố chức hình ảnh Ngày Thơ Việt Nam , là truyền thống thơ ca của chúng ta giới thiệu với nước ngòai. Cách tổ chức như thế nào, anh em chúng tôi đã bàn. Trước hết chúng ta sẽ tổ chức tập trung mọi cố gắng của Hội để tổ chức Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 18 thành công tốt đẹp trên một quy mô và không gian rộng: Từ Hà Nội đến Thừa Thiên-Huế, đến Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An. Chúng tôi muốn tạo một cái không gian như vậy để các nhà văn quốc tế tham dự cùng với chúng ta, có một dịp để tìm hiểu đất nước, con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam.

Việc thứ 2, ngay trong quý 1 như tôi vừa nói (54:48) là tổng kết trao giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết. Chúng tôi đang chủ trì ban sơ khảo đọc thật kỹ. Tất cả mọi tác phẩm đến đều có người đọc, đều có giám định, đều có đánh giá. Chính vì thế cho nên, các anh tưởng tượng, hội đồng có từ 9 đến 11 người, mỗi người đều phải biết đến 176 tác phẩm, thì công tác đọc, tổ chức đọc như thế nào. Thưa các anh các chị, thù lao của chúng ta rất ít. Các anh Hội đồng cũng thế thôi. Làm việc vì trách nhiệm xây dựng Hội, còn sự đãi ngộ thì không có bao nhiêu. Dù khó khăn mấy, chúng ta cũng phải trao giải thưởng vào mùa xuân năm 2020. Tôi đánh giá rằng cuộc thi này có khởi sắc.

Việc thứ ba, năm nay chúng ta phải xét rất nhiều giải thưởng. Giải thưởng thứ nhất: là giải thưởng hàng năm của chúng ta, giải thưởng tiểu thuyết là đương nhiên rồi. Nhưng chúng ta phải xét giải thưởng Asean năm 2020. Việc xét giải thưởng rất khó khăn, ai cũng mong đợi, đó là Giải thưởng Nhà nướcGiải thưởng Hồ Chí Minh. Năm nay các hội đồng cơ sở Quốc hội đã phải làm rồi. Ban Giám khảo tổ chức như thế nào, thông báo đến hội viên như thế nào. Các Hội đồng cơ sở năm nay phải xong để sang năm tổ chức sự việc. Như vậy năm nay chúng ta phải tham gia cả giải thưởng quốc tế khu vực và xét giải thưởng này. Công tác quan trọng nhất đó là Ban giám khảo. Chọn người có đủ năng lực, có đủ trình độ, có đủ sự công bằng để đánh giá, cân nhắc chọn chính xác những tác phẩm. Bởi vì, tác phẩm là sản phẩm của nhà văn, nhưng giải thưởng lại là sản phẩm của Ban giám khảo. Một Ban giám khảo này, làm việc tốt như thế này thì có thể có sản phẩm như thế này. Một Ban giám khảo khác có một sản phẩm khác. Chúng ta chỉ có một Ban giám khảo duy nhất của Hội Nhà văn, thế thì ai vào Giám khảo? cái sự cầm cân nảy mực nó như thế nào để thực hiện được sự công bằng, chính xác, đấy là một (cái) điều khó khăn.  Ban Chấp hành sẽ cùng làm, và rất mong các anh các chị được mời tham gia thì cố gắng giúp Ban Chấp hành để làm cái trọng trách và sự gửi gắm của hội viên đối với Hội. Không có gì mong mỏi một nhà văn trông đợi Hội đấy là sự đánh giá tác phẩm của mình như thế nào. Tâm trạng chung là như vậy. Thế thì, tôn trọng hội viên, tất cả vì hội viên, chính là cái Ban giám khảo ấy đáp ứng sự đóng góp của từng người một. Trọng trách là như vậy.

Chúng ta có mấy (cái) cuộc kỷ niệm cũng lớn: Kỷ niệm 100 năm Tố Hữu, 100 năm Chế Lan Viên, 100 năm Nguyễn Xuân Sanh và một số nhà văn khác. Chúng ta cũng xuất bản hai cuốn: Một là cuốn Biên niên sử (Hội Nhà Văn). Biên niên sử thì cơ bản đã hoàn thành. Cuốn thứ 2 là “Các Nhà văn hội viên Hội Nhà văn Việt Nam”. Quyển sách rất dày, phải gần 1500 trang. Đây là một (cái) công trình tập thể, để chúng ta đến Đại hội nhà văn, chúng ta tặng cuốn sách này. Chúng ta hãy hình dung ra 70 năm Hội Nhà văn Việt Nam, đấy là tập sách lớn, cố gắng hoàn thành cái cuốn chính sử của Hội Nhà văn Việt Nam. Các Hội khác, 50 năm, 60 năm người ta có lịch sử phát triển Hội: Lịch sử phát triển mỹ thuật, lịch sử phát triển Âm nhạc Việt Nam, vì sao như vậy? Là vì người ta ít vấn đề, ít có vấn đề gai góc khó khăn như là Hội Nhà văn. Viết một cuốn sử Hội Nhà văn Việt Nam khó lắm các anh chị, khó vô cùng. Khó ở chỗ này: có nhiều sự kiện diễn ra trong quá khứ bây giờ nhìn lại như thế nào với tinh thần đổi mới, đánh giá như thế nào. Đấy là điều khó. Một tổ chức như chúng ta không thể không có một cuốn sử. Mà cuốn sử ấy chúng ta có quá nhiều các sự kiện phải được nhìn lại, phải được đánh giá một cách công bằng, chính xác, khoa học. Đấy là một cuốn sách cũng rất là công phu.

Việc lớn, việc rất lớn của năm nay là tổ chức Đại hội Hội Nhà văn lần thứ 10. Trung ương, Ban Bí thư đã có chỉ thị 31 về “Tổ chức đại hội các Hội VHNT chuyên ngành trung ương và Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam”. Chúng ta có 2 hội đã hoàn thành đó là Hội Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam và Hội Mỹ thuật Việt Nam. Cố gắng từ giờ đến tết có từ 1 đến 2 đại hội khác là Hội Sân khấu Việt Nam và Hội Nhiếp ảnh Việt Nam. Còn 6 hội khác thì sang năm 2020, trong đó có Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 10.

Phương hướng tổ chức đại hội như thế này là, Đảng đoàn sẽ họp vào tuần tới, Ban Chấp hành sẽ họp và quán triệt đầy đủ Chỉ thị 31của Ban Bí thư về tổ chức đại hội các Hội chuyên ngành và Liên hiệp, quán triệt (cái) “hướng dẫn” của Ban Tuyên giáo Trung ương, quán triệt (cái chỉ) thị, (cái) kết luận của Ban Bí thư. Ba cái văn bản đó ta phải làm. Xây dựng một cái lộ trình chi tiết để tiến tới Đại hội Nhà văn lần thứ 10.

Tinh thần là như thế này là, Đại hội Nhà văn Việt Nam nhiệm kỳ có 2 cấp. Cấp thứ nhất là cấp cơ sở, để thống nhất trong đội hình của cả nước là Đại hội cơ sởĐại hội đại biểu toàn quốc. Chúng ta đã có con số hơn 1000 hội viên thì không thể tiến hành đại hội toàn thể. Chúng ta phải chấp hành cái chỉ thị chung thôi. Đại hội cơ sở sẽ được tiến hành cho đến hết quý 2. Chúng ta có 8 khu vực và khu vực Liên chi, ta tổ chức Đại hội khu vực.

Đại hội khu vực làm mấy cái nhiệm vụ sau đây:

  1. Thảo luận các văn kiện, báo cáo trình Đại hội lần thứ 10 do Ban tổ chức gửi xuống

thảo luận. Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ, Phương hướng phát triển văn học nhiệm kỳ mới, Báo cáo của Ban Chấp hành, Báo cáo của Ban Kiểm tra, Báo cáo  về mọi hoạt động lớn trong Hội.

  1. Cử đại biểu đi dự đại hội cấp trên.
  2. Kiện toàn Chi hội. Nhiệm kỳ Chi hội cùng nhiệm kỳ với Ban Chấp hành, bầu Chi

hội nhân sự mới.

  1. Góp ý kiến, bỏ phiếu giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành mới.

Đại hội cơ sở chúng ta làm 4 nhiệm vụ như vậy.

Còn Đại hội toàn quốc thì chỉ có dộ 500 đại biểu thôi. Nếu năm nay mà chúng ta kết nạp thêm nữa thì số lượng hội viên của hội ta xấp xỉ 1100 hội viên. Năm 2019 chúng ta mất 30 nhà văn. Năm nay kết nạp nhiều nhất cũng chỉ trên/ dưới 40. Kết nạp nhiều quá thì e có ảnh hưởng đến chất lượng. Như vậy, cộng với số còn lại, chúng ta có khoảng một nghìn mốt. Một nghìn mốt mà đại biểu là 500 thì tương đương 2 chọn 1. Xấp xỉ 2 chọn 1. Thế thì ai đi? Cái đó chúng tôi có tiêu chuẩn, có hướng dẫn đến các Đại hội cơ sở.

Thời gian, dự kiến như thế này: cuối tháng 9 đầu tháng 10  cho nó mát mẻ một chút. Tháng 7 tháng 8 nóng lắm. Mà các nhà văn đang ngồi thế này ra ngoài sốc cái nguy hiểm lắm. Cuối mùa thu anh em chúng ta gặp nhau. Ban Chấp hành trong tuần tới chúng tôi sẽ họp  để thông qua rất nhiều công việc, trong đó có việc tổ chức Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 10.

 

***

Sau đây xin các anh các chị cho ý kiến đánh giá về hoạt động của Hội năm 2019, năm 2020.

 

***

Về buổi chiều, kết nạp. Trong kết nạp hội viên, có tiêu chuẩn rồi. Phân công: đồng chí Thỉnh sẽ họp với Hội đồng văn xuôi. Đồng chí Trần Đăng Khoa sẽ họp với Hội đồng Thơ. Đồng chí Nguyễn Trí Huân sẽ họp với Hội đồng Lý luận phê bình. Đồng chí Nguyễn Quang Thiều sẽ họp với Hội đồng văn học dịch. Nhà văn Nguyễn Bình phương chủ trì cuộc họp với Ban Nhà văn trẻ. Anh Trần Văn Tuấn họp với các nhà văn nữ vì số nhà văn nữ rất đông.

Tôi nhắc lại nội dung là, rút kinh nghiệm năm 2019, phương hướng năm 2020, sau đó mới bầu kết nạp bằng bỏ phiếu kín. Ban Chấp hành đã cử các tổ thư ký xuống giúp việc các anh các chị rồi.

Trong kết nạp, tôi muốn xin ý kiến các anh các chị về một số trường hợp mà gọi là “truy nạp”, hay là phong tặng danh hiệu. Về Hội đồng Thơ, chúng tôi có đề nghị xem xét 02 trường hợp:

  1. Ông Trần Quang Long, hy sinh trong chống Mỹ, một nhà thơ rất nổi tiếng trong chiến tranh
  2. Ông Phan Duy Nhân, anh Phan Duy Nhân là một cán bộ địch vận, hết sức năng

nổ, một trí thức tiêu biểu của phong trào yêu nước ở Huề và Đà Nẵng, đặc biệt là ở Đà Nẵng. Cách đây 5 năm, trước khi anh mất, tôi có trị trì một cuộc hội thảo về thơ Phan Duy Nhân. Thơ đầy tâm huyết. Một cán bộ dân vận, trí thức vận Thành ủy Đà Nẵng, đồng thời là một nhà thơ. Ảnh hưởng của Phan Duy Nhân đối với trí thức rất lớn trong những năm chống Mỹ. Hội đồng xem xét hai trường hợp truy tặng danh hiệu Nhà văn Việt Nam với anh Trần Quang Long và anh Phan Duy Nhân. Xin ý kiến hội đồng.

Về trường hợp văn xuôi, tôi muốn nêu một trường hợp đề nghị các anh cũng xem xét cho. Đó là trường hợp anh Đặng Quang Tình. Đặng Quang Tình có đến 40 đầu sách, được giải nhất các cuộc thi của báo Văn nghệ, nhiều năm công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam, và vừa rồi, trước khi mất, anh có một quyển sách rất hay về một kíp tình báo hoạt động trên 3 nước ở Việt Nam, Lào, Cambuchia rất hay. Chúng tôi phân vân vì chưa có một (cái) chỉ thị kỷ niệm 40 năm chiến thắng biên giới, cho nên cái tác phẩm của anh Đặng Quang Tình nó đụng đến cái vấn đề tế nhị, đành phải để lại chiếu cố đến tình hình đối ngoại cách đây ba, bốn năm. Lúc bấy giờ có ý mở ra rồi. Cho nên tôi đề nghị Hội đồng văn xuôi suy nghĩ và truy tặng danh hiệu Nhà văn cho anh Đặng Quang Tình. Có tình có nghĩa. Anh ấy mất rồi, nhưng mà gia đình chắc sẽ cảm động cám ơn Hội Nhà văn, cám ơn chúng ta ở đây nếu nhận được quyết định truy nạp danh hiệu hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đối với anh Đặng Quang Tình. Chúng ta đã từng làm cái việc đó rồi với nhiều nhà văn. Thí dụ, đó là nhà băn Vũ Bằng . Chúng ta đã tuy tặng danh hiệu nhà văn Vũ Bằng. Sau chúng ta còn truy tặng Giải thưởng Nhà nước.

Mấy trường hợp nêu vừa qua về kết nạp xin các anh các chị ủng hộ cái sáng kiến của Ban Chấp hành. Chúng ta, nhân danh một tổ chức nghề nghiệp rất hiểu người hiểu đời và đầy tình nghĩa. Nếu các anh, các Hội đồng chấp nhận cho thì chúng tôi rất là cám ơn.

***

Xin thay mặt Ban Chấp hành trình bày báo cáo tổng kết năm 2019 và phương hướng hoạy động của năm 2020. Sau đây, xin hội nghị, các anh chị cho ý kiến bổ sung. Rất cám ơn.

 

Bùi Công Thuấn

Ghi theo nguồn: Live Stream trên FB của nhà thơ Nguyễn Hữu Nhân (Đồng Tháp)

https://www.facebook.com/huunhan.nguyen.169?__tn__=%2CdlC-R-R&eid=ARCZ3_5FGHo0PtilIWv1txE7ypJZqgviNeLcIrrPnJKX55PMRLosRFp8kokHfIBuk_5z-7r2XdMypi3T&hc_ref=ARRRcWVNFQ3CdEE4E49YoLu-GEMhvJG9qWnPWl7rc40nKKBt7ujrIs6y1oWrjLz7Rk0

Quần thể tượng

Tượng tổng hợp-1

Tượng tổng hợp-2

tượng-quần thể