LỄ TRAO GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2019 CỦA GIÁO PHẬN XUÂN LỘC

LỄ TRAO GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2019  CỦA GIÁO PHẬN XUÂN LỘC

 Bùi Công Thuấn

(Tường thuật)

20+

Đức Giám mục Giuse Đinh Đức Đạo  (Giám mục giáo phận Xuân Lộc) khai mạc Lễ trao giải VHNT Đất Mới 2019

***

Sáng ngày 11/11/2019, tại hội trường Tòa Giám Mục Xuân Lộc, giáo phận Xuân Lộc đã tổ chức trao giải Văn hóa nghệ thuật Đất Mới lần thứ IX. Có sự hiện diện của Đức cha Giuse Đinh Đức Đạo, Giám mục giáo phận và Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh, nguyên Giám mục giáo phận (2004-2016), người khởi xướng giải từ 2011, và đông đảo các Linh mục, tu sĩ, chủng sinh Đại chủng viện, các tác giả đạt giải và khách mời.

Tham gia giải năm nay có các tác giả đến từ hầu khắp các giáo phận trong cả nước. Tổng giáo phận Sài Gòn có 175 tác giả, Tổng giáo phận Huế có 20 tác giả. Tổng giáo phận Hà Nội có 23 tác giả. 77 tác giả ngoài Công giáo.

Giải được trao cho 40 tác phẩm thuộc các bộ môn: Ca khúc, Thơ, Truyện ngắn, Truyện dài, Kịch bản văn học và Ảnh nghệ thuật. Đặc biệt có 2 tác giả thuộc giáo phận Hưng Hóa (vùng Tây Bắc: Phú Thọ, Yên Bài, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La) đạt giải truyện ngắn và truyện dài.

Chương trình trao giải được tổ chức xen kẽ chương trình văn nghệ trình diễn các ca khúc đạt giải, kết thúc bằng một kịch ngắn giàu ý nghĩa nhân văn.

NHẬN XÉT CÁC THỂ LOẠI CỦA BAN VĂN HÓA GP XUÂN LỘC

27 Truyện dài & Kịch

(Lm Võ Tá Khánh-Trăng Thập Tự, ngưới đứng bìa trái, trao giải Truyện dài và Kịch)

 GIẢI CA KHÚC:  

STT TÁC PHẨM TÁC  GIẢ HẠNG
1 Núi Cúi Đất Mới Pet Phạm Văn Binh I
2 Phúc ân đời con Antôn Mai Bá Lộc II
3 Như giọt sương mai Tôma Hồ Hoàng Diệp III
4 Chúa là tình yêu II Dom. Thân Văn Tận KK 1
5 Nụ cười Giêsu Maria Nguyễn Thị Hậu KK 2
6 Xin thánh hóa gia đình GB. Phạm Kim Huy KK 3
7 Tình yêu Chúa ngọt ngào Jos Nguyễn Xuân Quyền KK 4

Có 52 ca khúc  của  20 tác giả tham gia.

Về  phần nội dung, các ca khúc theo sát chủ đề mục vụ của giáo phận: Gia đình hãy là dấu chỉ lòng Thương xót Chúa, ca ngợi tình thương Chúa qua công trình Tạo dựng, Cứu chuộc, cũng như tiếp tục chủ đề hướng về Đức Mẹ Vô Nhiễm –  Núi Cúi, về cuộc đời Dâng hiến, ……

Về nghệ thuật, chất lượng nghệ thuật các ca khúc dự thi đều hơn năm trước. Một số bài có ý tưởng hay, nét nhạc đẹp. Nhiều bài còn bị lỗi về ca từ hoặc bố cục.

Ban Thánh nhạc giáo phận ghi nhận có một số tác giả rất nhiệt tình, gửi viết nhiều ca khúc, rất đáng khích lệ.

GIẢI THƠ VHNT ĐẤT MỚI 2019

TT Tác giả Tác phẩm GP Giải
1 Phaolô

Trần Trung Hậu

 

Tập thơ: Châm ngôn Kinh Thánh diễn thơ (31 chương) Sài Gòn Giải I
2 Giuse

Nguyễn Hữu Tâm

Tập thơ: Các thánh Tử Đạo Việt Nam (Tập thơ)  

Xuân Lộc

Giải II
3 Catarina

Nguyễn Thị Lam

Tập thơ: Khúc Thần nhạc

(21 bài các Thánh Tử đạo)

Xuân Lộc Giải III
4 Petrus

Dương Kim Quới

 

Tập thơ: Nữ tỳ Thánh Thể

(Thơ song ngữ Pháp-Việt)

Xuân Lộc KK 1
5 Maria

Đinh Thị Ngọc Liên

Tập thơ: Tiếng chiều

(tập thơ-114 bài)

Xuân Lộc KK 2
6 Lasan Ngô Văn Vỹ Tập thơ: Sống đạo

(tập thơ 64 bài)

Đà Lạt KK3
7 Trần Đức Tín Chùm thơ Quê hương. Sài Gòn K K 4

 

 

Có 38 tác giả, 10 tập thơ; 600 bài thơ. Đa số là thơ  phong trào, có ít thơ chuyên nghiệp.

Nội dung tập trung về các đề tài Đức Mẹ, bảo vệ thai nhi,  về Các thánh tử đạo Việt Nam, diễn thơ Sách Châm ngôn- Kinh thánh, về Sống đạo, về đời dâng hiến.  Tác giả ngoài Công giáo viết về công ơn cha mẹ , thơ tình, thơ quê hương. Có tác giả viết thơ Thiền…

Về nghệ thuật thơ, có hai mảng nghệ thuật: Thơ quần chúng và thơ chuyên nghiệp. Thơ viết cho công chúng gần với ca dao dân ca, thơ dễ thuộc, dễ nhớ, hình ảnh thơ là hình ảnh biểu cảm. Các tác phẩm Diễn thơ sách Châm ngôn, diễn thơ hạnh các thánh tử đạo Việt Nam, thơ Sống đạo là những tác phẩm có giá trị đặc sắc.

Thơ của các tác giả chuyên nghiệp có 2 tập thơ Khúc Thần nhạc (21 bài), tập thơ Tiếng chiều (114 bài), chùm thơ 4 bài về bảo vệ thai nhi (TG16), và chùm thơ 6 bài về quê hương, về mẹ (TG17) có tính nghệ thuật vượt trội. Các tác giả có ý thức tìm tòi sáng tạo những tứ thơ mới, những cách diễn đạt mới. Có tác giả tiếp cận được với thơ Việt Nam đương đại. Dù vậy. Chưa có tác giả nào thực sự mới. Tập thơ Khúc thần nhạc mang phong vị thơ Hàn Mặc Tử, câu chữ bay bổng hoa mỹ.  Tập thơ Tiếng chiều  đa số là thơ 7 chữ, thơ 8 chữ, kiểu thơ lãng mạn trước1945. Nhiều bài có tứ thơ hay.

Ban tổ chức trân trọng tất cả mọi sáng tạo nghệ thuật, song trong phạm vi giải, Ban tổ chức không xét trao giải những tác phẩm nằm ngoài tiêu chí. Ban tổ chức chân thành cám ơn tất cả các tác giả đã tham gia giải và mong được đọc những tác phẩm mới của các tác giả trong lần trao giải 2020. Kính mong các tác giả chú ý đến tư tưởng nhân văn của tác phẩm để góp phần xây dựng văn minh tình thương và văn hóa sự sống.

21

(Một phần hội trường)

GIẢI TRUYỆN NGẮN VHNT ĐẤT MỚI 2019

TT Tác giả Tác phẩm GP Giải
1  

Maria Phạm Thị Yến

Người gác đền Thanh hóa Giải I
2 M. Innocentio

Nguyễn Thị Duyên

Tin là không ngừng hy vọng Xuân Lộc Giải II
3 Giuse

Nguyễn Ngọc Bích

Những bắp ngô

của thằng Tráng

Hưng Hóa Giải III
4 Phêrô

Phạm Minh Châu

Một lần vấp ngã Nha Trang KK 1
5 Phanxicô X.

Cao Dương Cảnh

Trái cấm tân thời Cần Thơ KK 2
6 Maria

Nguyễn Thị Hồng Lài

Một đời hiến thân

 

Sài Gòn KK 3

 Có 133 truyện ngắn và 08 truyện vừa. Nội dung về sống đạo (63 truyện), về đời dâng hiến (15 truyện). Nội dung, chủ đề ngoài Công giáo (35 truyện có). Không thuộc thể loại truyện (26 bài). Đó là những bài cảm nhận, bài ghi chép, tùy bút và cả những bài văn nghị luận.

Truyện về “đời dâng hiến” khám phá nhiều chiều kích đời tu. Có những truyện cảnh báo về những thử thách của đời tu (Trái cấm tân thời, Mùa xuân chốn địa đàng); có truyện cảm động về sự hy sinh tình yêu lứa đôi để tìm một tình yêu lớn hơn là tình yêu Giêsu (Chung một tình yêu, Mùa phượng cuối, Tiếng gọi của tình yêu ). Đặc sắc là những truyện về các Linh mục, tu sĩ nam, nữ dấn thân cho đoàn chiên, lan tỏa lòng thương xót của Chúa đến mọi cảnh đời. (Góc tối cuộc đời, Những bắp ngô của thằng TrángNhững con ma lá ngón, Người gác đền, Những mảnh đời ghép lạiTìm lại tình yêu, Một đời hiến thân)

Số lượng truyện về chủ đề sống đạo khá phong phú.  Nhiều tác giả lên tiếng báo động với bạn đọc Công giáo về những thái độ và hành động cần phải có để giữ vững đời sống đức tin. Thảm kịch trong tình yêu là do sự lầm lỡ, sự lừa gạt (Chờ xuân, Ngã tư, Chấp nhận làm mẹ đơn thân, Mẹ ơi xin đừng giết con, Cơn mưa đầu mùa hạ, Hoa khôi một thời. Những chuyện ngoại tình, ly dị, đời sống bê tha trong gia đình Công giáo cũng đáng báo động (Một lần vấp ngã, Lạy Chúa xin cứu ba con. ). Những mảnh đời bất hạnh được nhiều tác giả quan tâm (Biển của đời người, Ngưới mẹ bất đắc dĩ . Nhiều tác giả cũng ghi nhận được những gương sáng sống đạo (Trung thành đọc kinh tối, Gia đình anh mù xứ Quảng, Bó rau nghĩa tình, Lửa Lời Chúa

Truyện ngắn Đất Mới cũng khai thác đề tài thời sự “nóng” trong đời sống tinh thần của người trẻ. Người trẻ phải đối mặt với tà thuyết của đạo Đức chúa trời Mẹ (truyện Đối mặt). Người trẻ còn phải đối mặt với những cám dỗ tha hóa (Phục sinh tâm hồn). Truyện Tin là không ngừng hy vọng là trải nghiệm hiện sinh trong những ngày cuối cùng của Minh Diệu, một sinh viên Kiến trúc bị ung thư máu.

Nhiều truyện ngoài Công giáo thể hiện được giá trị “văn hoá sự sống và tình thương” trong truyền thống lâu đời của dân tộc. Truyện Người vẽ mắt ghe kể những câu chuyện kỳ lạ của ông Ba Mắt ghe. Chân dung đồng hoa cải là câu chuyện cảm động về tình mẹ. Khóa mở lòng là chuyện của người mẹ nghèo có đứa con hay ăn trộm tiền của mẹ. bà đã cảm hóa con bằng tình thương yêu. Truyện Thầy Hùng áo trắng ca ngợi người thầy giàu lòng nhân ái đã cảm hóa được cậu học sinh cá biệt, ăn chơi, ngang ngược hỗn láo với thầy. Đẻ thuê là thái độ sống của chị Thu. Gia đình chị làm ăn thất bại. Chồng chị say xỉn nợ nần chồng chất. Chị phải nhận đẻ thuê để có tiền trả nợ. Nhưng đến khi đi sinh con, chị đã giữ đứa bé lại và bỏ trốn không giao con cho bọn xấu vì không muốn đưa bé rơi vào tay bọn ma túy. Nàng dâu tuổi Hợi là hình ảnh người dâu thảo hiền, dù gặp nghịch cảnh chồng lăng nhăng nhưng vẫn giữ trọn đạo thủy chung. Nàng được mẹ chồng yêu quý và bảo vệ. Có khá nhiều truyện miêu tả những cảnh đời, những tấm lòng rất xúc động như Chuyện ông Bô, Bến mơ, Những cánh thư, Nàng lọ lem, Tận nỗi sương đêm, Chuyện không cũ bao giờ,…

Những truyện sau đây không phù hợp với tiêu chí xét trao giải: Truyện ở Xứ đạo Hắc Ám sai lạc về tín lý (truyện Tiến về phía Chúa, Trò chuyện với Chúa, Bến đò cuối). Truyện có những tình tiết miêu tả như phim hành động kiểu xã hội đen (Ruồi, Cá lóc, Ngón tay khô). Truyện khai thác yếu tố sex với mục đích thiếu thiện ý (Ngày hạnh phúc).

Về nghệ thuật, truyện ngắn Đất Mới 2019 xuất hiện nhiều tác giả có nghệ thuật viết rất chuyên nghiệp, chủ đề sâu sắc, giàu chất văn chương, ngôn ngữ có phong cách.  Đặc biệt tác giả của Tin là không ngừng hy vọng tiếp cận được lối viết “dòng ý thức” của văn chương Hiện Sinh tác giả Người vẽ mắt ghe khai thác được nguồn giai thoại truyền thuyết dân gian Nam bộ.

Hiện thực được khám phá ở bề rộng của không gian và thời gian. Từ vùng sông nước Nam bộ (Về với Sóc Trăng, Người vẽ mắt ghe, Bóng đời) đến những cảnh đời thê thảm của người dân miền cao Tây Bắc (Người gác đền, Những con ma lá ngón). Từ đồng bằng Bắc bộ với những tàn tích của xã hội cũ (Tiến về phía Chúa) đến hành trình dấn thân của người trẻ trên Tây Nguyên (Cô gái Sài Thành và anh mù miền cao nguyên). Có tác giả dẫn người đọc lên thiên đàng Trò chuyện với Chúa, có tác giả chia sẻ với người đọc trải nghiệm bị chìm tàu trên biển tưởng chết 100% nhưng rồi được Chúa cứu (Dưới đại dương)

Truyện ngắn 2019 được viết bằng hai xu hướng. Xu hướng tiếp cận hiện thực chân thực (xin gọi tắt là truyện hiện thực) và xu hướng hư cấu lãng mạn (xin gọi tắt là truyện lãng mạn). Xu hướng hiện thực có nhiều chất ký và nghiêng về văn chương chính luận. Xu hướng hư cấu lãng mạn vượt lên hiện thực chiếm đa số trong trong các truyện tham dự giải. Rất tiếc nhiều truyện trong xu hướng này chưa đạt được sự chân thực nghệ thuật (Kẻ quá giang, Trò chuyện với Chúa, Lửa Lời Chúa, Hoa trái tình yêu, Bến đò cuối, Sự nở muộn của hoa thập tự, Thầy Hùng áo trắng, Cánh diều mùa đông, Khạc nhổ lên trời, Ruồi, Con cóc, Đẻ thuê, Cà thọt... )

Ban tổ chức mong được tiếp tục đọc những truyện hay trong mùa giải 2020, kỷ niệm 10 năm Giải VHNT Đất Mới.

16

(Niềm hân hoan trong ngày văn hóa nghệ thuật của giáo phận Xuân Lộc)

GIẢI TRUYỆN DÀI ĐẤT MỚI 2019

Không có giải nhất

STT Tác giả Tác phẩm GP Giải
1 M.Vinh Sơn Nguyễn Thị Chung Chàng xe ôm

 

Xuân Lộc Giải 2
2 Maria Goretty Nguyễn Thị Xuân Ngã tư thập tự

 

Xuân Lộc Giải 3
3 Giuse Lê Ngọc Thành Vinh Maria ngoại truyện

 

Hà Nội KK 1
4 Giuse Phạm Hồng Đức Xa xứ

 

Xuân Lộc KK 2
5 Maria Đỗ Thị Hồng Nhanh Đời làm hạt

 

Hưng Hóa KK 3

 Số lượng tác phẩm: 10 truyện dài của 10 tác giả.

Viết về Đời dâng hiến, có 3 truyện, ghi lại hình ảnh nữ tu phục vụ những cảnh đời bất hạnh. Các Sr gặp không ít khó khăn. Sự tín thác nơi Chúa và ơn Chúa nâng đỡ đã giúp người nữ tu vượt qua được những trở ngại quá sức mình (truyện Đời làm hạt, Ngã tư thập tựNơi ấy bình yên). Một truyện viết về sứ vụ Linh mục (truyện Hai quả thận). Lm Nguyễn Thành Tâm vâng lời Bề trên phục vụ người bịnh phong tại Somali. Mấy lần ngài suýt bị thổ phỉ giết chết, nhưng không vì thế mà lòng nhiệt thành phục vụ Chúa trong hình hài những con người khốn khổ bị vơi cạn. Ơn Chúa đã giữ gìn ngài.

2 truyện viết về việc kiếm sống và thử thách đức tin của người trẻ (Chàng xe ôm & Xa xứ). Những người trẻ này từ miền Bắc, miền trung vào Sài Gòn kiếm sống. Họ gặp bao gian nan. Nhờ ơn đức tin Chúa ban cho thông qua hành động yêu thương của cha sở và của những người Công giáo tốt, họ đã đứng vững và đạt được hạnh phúc.

Có 1 truyện thánh (Maria ngoại truyện) và 1 cuốn sách giảng về triết học lồng trong một cốt truyện đơn giản (Ngược dòng). Sau mưa là truyện nằm ngoài tiêu chí. Truyện miêu tả đời sống của một gia đình Phật tử, mọi người đều quy y. Nhân vật Huy cũng muốn trở thành Bồ tát.

Về nghệ thuật, nhiều tác giả có ngòi bút viết truyện dài chuyên nghiệp. Có khả  năng kiến tạo một cốt truyện phức tạp, ngòi bút đi sâu vào nhiều cảnh đời để khám phá thế giới nội tâm và đời sống tâm linh. Tư tưởng nhân văn Công giáo được thể hiện phong phú. Nhiều truyện giàu phẩm chất văn chương. Điểm hạn chế là sự hư cấu có khi quá đà, vượt qua giới hạn của bút pháp hiện thực. Truyện Hai quả thận, Xa xứ, Chàng xe ôm và Nơi ấy bình yên có những hư cấu như thế.

GIẢI KỊCH BẢN VHNT ĐẤT MỚI 2019

Không có giải chính thức.

TT Tác giả Tác phẩm Giáo Phận Giải
1 Giuse

Nguyễn Đức Tuyển

Bữa tiệc tình yêu Bắc Ninh KK 1

 

2 Têrêsa

Phạm Thị Thanh Lam

Giọt nước long lanh Đà Lạt KK 2

 

3 Maria

Nguyễn Thị Kim Khánh

Thánh Đaminh và

 tràng Mân Côi

Sài Gòn KK 3

 

 

 Về Nội dung, các kịch bản đều cố gắng xây dựng một chủ đề hướng thiện. Đó là tình cảm mẹ con (kịch Huyền thoại mẹ), đạo hiếu (kịch Chữ hiếu), lòng nhân ái (kịch Chúa thương chúng ta, Giọt nước long lanh). Có 2 kịch bản xây dựng nội dung từ Kinh thánh (Kịch Bữa tiệc tình yêuThánh Đaminh và trang Mân Côi).

Về nghệ thuật, tính kịch mờ nhạt. Nội dung kịch chỉ là câu chuyện được kể trôi đi nhưng trong thể loại văn xuôi. Hành động kịch đơn giản. Nhân vật kịch chưa được xây dựng hoàn chỉnh. Kịch bản Thánh Đaminh và tràng Mân côi chỉ là cuộc đối thoại giữa mẹ và con trai. Đây là một kịch bản chưa hoàn chỉnh. Kịch bản Bữa tiệc tình yêu sử dụng các làn điệu Quan họ Bắc Ninh dựng lại cảnh Chúa vào Thành và bữa tiệc ly. Rất tiếc kịch bản không tạo được mâu thuẫn kịch, thí dụ mâu thuẫn với Giuđa, với Phêrô…

GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2019- ẢNH NÉT ĐẸP CÔNG GIÁO

13

TT Tác giả Tác phẩm Giáo Phận Giải
1 Maria Gorety

Trần Nguyễn Quỳnh Anh

Niềm vui Xuân Lộc Giải I
2 Tác giả Đaminh Đỗ Văn Cư Bộ ảnh “Tội lỗi và Lòng Thương Xót” Xuân Lộc Giải II
3 Đỗ Hữu Tuấn Ngôi sao  nhân ái  Phan Thiết Giải II
4 Gioan B Trần Quốc Toản Quây quần bên Mẹ Xuân Lộc Giải III
5 Giuse Nguyễn Linh Vinh Quốc Bộ ảnh: Đức TGM Leopoldo Girelli đến với tâm tình đơn sơ khó nghèo Kon Tum Giải III

(Bộ ảnh)

6 Matheo Lê Hữu Thiết Nhà nguyện ĐCV Thánh Giuse Xuân Lộc Xuân Lộc Giải III
7 Đa Minh Vũ Duy Thông Nguồn Cội Xuân Lộc KK 1
8  Đa Minh Nguyễn Hữu Tình  Đường Thương Khó Xuân Lộc KK 2
9 Antôn Nguyễn Sỹ Dũng Đức Cha Trao Tặng Quà Cho Các Em Tật Nguyền Học Giỏi Đắc Lắc KK 3

(Bộ ảnh)

10 Phạm Phước

 

Sương sớm trên Gp Đà Lạt Đà Lạt KK 4
11 Lê Văn Cường

 

Giáo xứ Đạ Nghịch Đà Lạt KK 5
12 Nguyễn Bá Hạnh Chung Lòng Hiệp Nguyện Sai gòn KK 6

25

(Một tiết mục văn nghệ)

1

(Tiết mục văn nghệ lúc tổng dợt)

Sau Lễ trao giải là thánh lễ tạ ơn, mừng kỷ niệm 15 năm Giám mục của đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh, nguyên Giám mục giáo phận Xuân Lộc và họp mặt thân mật.

***

 

SONG NGUYỄN-NHÀ VĂN CÔNG GIÁO GIÀU SỨC SÁNG TẠO

SONG NGUYỄN-NHÀ VĂN CÔNG GIÁO GIÀU SỨC SÁNG TẠO

Bùi Công Thuấn

BCT tiếp cận jpeg official

(Chuyên luận của Bùi Công Thuấn. Nxb Hồng Đức 2019)

  Đức Giám mục Đaminh Nguyễn Chu Trinh là Giám mục giáo phận Xuân Lộc 12 năm (2004-2016). Người được mọi thành phần dân Chúa trong giáo phận rất kính yêu. Ngài cũng là người trực tiếp cùng với giáo phận Xuân Lộc xây dựng Trung tâm Đức Mẹ Bãi Dâu và tượng Chúa Kitô núi Tao Phùng ở Vũng Tàu. Từ 2014 đến nay, ngài phụ trách xây dựng Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Núi Cúi, một công trình lớn của giáo phận Xuân Lộc.

Tôi được gần Đức cha Đaminh từ những năm 1970 khi Ngài còn là Giám học trường Trung học Hòa Bình, Long Khánh. Từ đó đến nay (2019), tôi có nhiều dịp được nghe Đức cha chia sẻ những tâm nguyện văn chương. Đặc biệt là khi biên tập, in ấn 14 tác phẩm văn chương của Ngài, tôi nhận ra Đức Cha còn là một nhà văn Công giáo rất giàu sức sáng tạo.

  1. TÁC GIẢ SONG NGUYỄN 

BCT& tác giả Song Nguyễn 2010

BCT và tác giả Song Nguyễn (Đức Giám mục Đaminh Nguyễn Chu Trinh, Giám mục giáo phận Xuân Lộc 2004-2016)

Cho đến nay chưa ai rõ do đâu Đức cha Đaminh lại lấy bút danh là Song Nguyễn. Thật là một điều thú vị. Tác giả Song Nguyễn đã in 14 tác phẩm trong đó có 9 truyện dài:

  1. Một Đời Dâng Hiến, truyện dài. Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2009.
  2. Đất Mới, truyện dài 3 tập. Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2018.
  3. Đồng Hành, truyện dài. Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2010.
  4. Định Hướng, truyện dài. Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2011.
  5. Chuyến Xe Về Trời, tập truyện ngắn 1. Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2011.
  6. Còn Một Niềm Tin, tập truyện ngắn 2. Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2011.
  7. Suối Nguồn, tập truyện ngắn 3. Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2011.
  8. Người Cha Hiền, tập truyện ngắn 4. Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2012.
  9. Mẹ yêu của con, tập truyện ngắn 5. Nhà xuất bản Tôn Giá, 2012.
  10. Chỉnh Hướng, truyện dài. Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2013.
  11. Đồng Cỏ Xanh, truyện dài. Nhà xuất bản Phương Đông, 2013.
  12. Vì sao sáng, truyện dài. Nhà xuất bản Tôn giáo, 2015.
  13. Tiếng Kêu, truyện dài. Nhà xuất bản Hồng Đức, 2019.
  14. Đường lên Núi Cúi. Truyện dài tư liệu. Nxb Hồng Đức, 2019.

Nhìn vào số lượng tác phẩm trên, hẳn chúng ta sẽ ngạc nhiên tự hỏi, Đức cha bận bao nhiêu công việc mục vụ, Người lấy thời gian đâu để viết. Tuổi tác đã khá cao, sao Đức cha có thể kham nổi công việc viết văn nặng nhọc ấy. Nhưng điều quan trọng là, Đức Cha tích lũy vốn sống như thế nào để có thể ghi lại được bao nhiêu cảnh đời, chia sẻ được với bao nhiêu là số phận giáo dân?

Viết văn còn là khám phá những vấn đề, qua đó thể hiện tư tưởng và thái độ trách nhiệm trước cuộc sống. Viết văn đòi hỏi năng lực sáng tạo. Điều này thật không dễ đối với người cầm bút. Nhiều người rất giàu vốn sống, phong phú trải nghiệm, nhưng không sao định hình được chủ đề, không kết tụ được chút ánh sáng tư tưởng nào làm nền, nên đành bất lực trước trang giấy trắng. Song Nguyễn đã viết và in 14 tác phẩm với bút lực dồi dào mà nhà văn Công Giáo chưa ai có được.

Ông Lê Đình Bảng, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Công giáo, trong cuốn Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường, đã nghiên cứu các nguồn mạch văn hoá Công giáo trong suốt 400 năm qua. Ông cho biết, dù đã cố gắng tìm kiếm, nhưng số tác giả Công giáo có tác phẩm truyện cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Lm Philipphê  Lê Thiện Bá (1891-1981) in 4 cuốn, Lm Nguyễn Duy Tôn (1919-1976) in được 4 cuốn, Lm Vũ Duy Trác (1927-2003) 1 cuốn,  nữ sỹ Thuỵ An (5 cuốn), còn lại người in 1 cuốn hoặc 2 cuốn. Những tác giả tác phẩm ấy không gây được tiếng vang nào, ngoài truyện ngắn Truyện Thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản. Truyện này được coi là dấu ấn đầu tiên về truyện chữ Quốc Ngữ.

Như vậy xét trên dòng chảy lịch sử của văn chương Công giáo, tác giả Song Nguyễn là người tiếp tục khơi nguồn mạnh mẽ về văn học nghệ thuật của Giáo hội. Hiện Giáo hội đang có những nỗ lực trong hoạt động Mục vụ văn hóa, trong đó có Giải Văn hóa nghệ thuật Đất Mới của Giáo phận Xuân Lộc, Giải Viết văn đường trường của giáo phận Quy Nhơn, nỗ lực xây dựng thư viện Công giáo, tủ sách Ra Khơi và Câu lạc bộ thơ văn Công giáo của “nhà đạo Bùi Chu”…Những nỗ lực này đều hướng đến mục đích đem Tin Mừng hội nhập với văn hóa dân tộc. Nhiều Giám mục của Giáo hội Công giáo Việt Nam đã quan tâm sâu sắc đến văn chương nghệ thuật Công giáo (1). Đức Giám mục Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Sang, Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh, Đức Cha Gioan Baotixita Bùi Tuần đã viết những tác phẩm giá trị…Rồi đây các nhà nghiên cứu văn học Công giáo sẽ tìm thấy nhiều vấn đề lý luận văn chương rất đáng quan tâm từ những tác phẩm của Song Nguyễn.

  1. MỤC VỤ VĂN HÓA

Ảnh bìa sau

(Tác phẩm tiêu biểu của Song Nguyễn đã in từ 2009 đến nay)

***

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân nhận xét rằng: “Nhưng vẫn là lạ lùng nếu nghe nói có nhà văn Việt Nam nào có thể được coi là “nhà văn Thiên Chúa giáo”, bởi văn hóa của người Việt dường như xa lạ với tinh thần Thiên Chúa giáo.”(2). Ông nhắc đến ba tên tuổi lớn của văn chương Việt Nam là: Hàn Mặc Tử (1912-40), Nam Cao (1917-51), Nguyên Hồng (1918-82). Ở những nhà văn này, phẩm chất và Đức tin Công giáo đã thấm rất sâu trong trang văn của họ. Nhưng sẽ càng lạ lùng hơn khi nghe nói đến một nhà văn là Giám mục như đức cha Đa Minh.

Có thể hiểu được như thế này: Trong nỗ lực dấn thân của người Mục tử, nhiều vị chủ chăn đã viết những bộ sách rất quý để gieo trồng đức tin. Đức cha Phanxiacô Xavie Nguyễn Văn Sang đã viết gần 20 đầu sách. Đức Cha Gioan Baotixita Bùi Tuần đã viết bộ sách Thao Thức rất nồi tiếng, bộ sách Đường Hy Vọng của Đức Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận đã trở thành ánh sáng tâm linh cho nhiều người, không chỉ ở Việt Nam mà còn ảnh hưởng lớn đến người đọc trên thế giới…

Xin hãy học ở Giáo hội. Tông huấn Ecclesia in Asia (Giáo hội tại Á châu) của Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II dạy rằng: “Việc trình bày Đức Giêsu Kitô là một Đấng Cứu Độ duy nhất, cần phải theo một khoa sư phạm, từng bước dẫn đưa dân chúng đến việc đón nhận trọn vẹn mầu nhiệm… phương pháp kể truyện, quen thuộc với văn hoá Á Châu, thì đáng được dùng ưu tiên. Quả thực, việc rao giảng Đức Giêsu Kitô có thể có hiệu quả nhất bằng cách kể lại câu chuyện về Người, như sách Phúc Âm làm”.(Chương IV, mục 20)

Kinh Thánh là bộ sách được cả nhân loại công nhận như những tác phẩm văn chương – tư tưởng vĩ đại nhất từ xưa đến nay. Chính cuộc đời Đức Giêsu là câu chuyện được kể trong Tân Ước trở thành ánh sáng Cứu Độ. Và hơn bất cứ nhà văn nào, chính Đức Giêsu là bậc thầy của các nhà văn. Trên đường rao giảng, Người đã kể những dụ ngôn tuyệt hay. Đó là những truyện ngắn rất gần gũi, rất hiện thực nhưng lại giàu có về ý nghĩa và tư tưởng; đồng thời có sức khai mở, giác ngộ tâm linh cho nhân loại. Những dụ ngôn như Người cha nhân hậu (Luc 15,1-32), Người Samari nhân lành (Luc 10, 25-37) là những truyện ngắn tư tưởng mẫu mực cho muôn đời.

Văn chương của Song Nguyễn có cội nguồn trong truyền thống quê hương Bùi Chu. Theo Lm. Đaminh Trần Ngọc Đăng (3)”Bùi Chu không chỉ là chiếc nôi của công cuộc loan báo Tin Mừng tại Việt Nam (1533), mà còn là một trong những chiếc nôi của văn hoá Công giáo nói chung và văn chương, thi ca Công giáo nói riêng.”. Nơi đây có các cơ sở giáo dục rất sớm: các Tiểu chủng viện, Đại Chủng viện, trường Trung học đệ Nhị cấp (trường cấp III), có cơ sở ấn loát đầu tiên tại Đàng Ngoài là nhà in Phú Nhai Đường tại Phú Nhai. Cơ sở này đã ấn loát hàng loạt sách đạo bằng chữ Nôm, chữ Nho và chữ Quốc Ngữ. Nơi đây có Đức cha Đaminh Hồ Ngọc Cẩn. Người đã viết rất nhiều sách về văn hoá, văn học (thí dụ cuốn: “Văn chương thi phú An nam“- Littérature et Prosodie Annamite – HK 1923 và 1933) Ngoài ra, Ngài còn tham gia viết bài trên các báo: Nam Kỳ địa phận, Vì Chúa, Sacerdos Indonensis, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí; lập nhà in Thánh Gia, nhà sách Đa Minh, chủ biên tạp chí Đa Minh bán nguyệt san, Thời Mới... Ngài cũng sáng tác thơ ca giáo lý, như “Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”, “Tu thân huấn đức”, “Ca dao về Mẹ”, “Bài ca nghĩa binh Thánh Thể“.

  1. KHẮC HỌA DUNG MẠO ĐỨC GIÊSU

Tác giả Song Nguyễn không viết văn như nhà văn đời thường. Ngài nói rõ mục đích cầm bút của mình là: ”Viết lại những mảnh đời, những số phận, những trải nghiệm, tác giả chỉ có ý rút ra cho đời mục vụ của mình những bài học từ cuộc sống. Hay nói khác đi, tác phẩm là những bài suy niệm sống qua các nhân vật. Và nếu có thể, chia sẻ với bạn bè tất cả những kinh nghiệm quý báu này. Mục đích chỉ đơn giản như vậy… Hơn nữa tác phẩm được xem như là những bài huấn đức, những sứ điệp gửi cho nhiều thành phần Dân Chúa”(Lời ngỏ mở đầu các tác phẩm )

Dù mục đích sáng tác văn chương của Song Nguyễn “chỉ đơn giản như vậy”, song tác phẩm văn chương là một thế giới nghệ thuật biệt lập với tác giả. Thế giới này vừa chứa đựng hiện thực được phản ánh, vừa là hình tượng kết tụ từ thế giới quan, nhân sinh quan, lý tưởng thẩm mỹ và toàn bộ thế giới tinh thần của nhà văn, vì thế nó đa nghĩa. Những tầng nghĩa của nó xa rộng hơn rất nhiều so với chủ đích của tác giả. Xin hãy đọc lại Tự Thuật Thánh Augustinô (Confessions-Nxb Tôn giáo 2010) và cuốn Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646 của Alexandre de Rhodes .(Nxb Khoa học xã hội, tháng 4. 2016).

Trong Tự Thuật, Thánh Augustino kể lại hành trình tư tưởng suốt đời đi tìm sự thật về Thiên Chúa, về chính mình, về thế giới. Cuốn sách không chỉ là cái nhìn sâu vào nội tâm, vào bản thể của thánh Augustinô, mà còn giúp người đọc khai minh nhiều vấn đề về hiện sinh, về chân lý. Ngược lại sách của Alexandre de Rhodes không chỉ kể lại hành trình truyền giáo của riêng tác giả, mà còn ghi nhận tình hình chính trị, quân sự và xã hội, kinh tế và văn hoá của nước Việt Nam vào đầu thế kỷ 17. Là một nhà truyền giáo Alexandre de Rhodes quan tâm đặc biệt tới các tôn giáo, các tín ngưỡng cũng như những mê tín dị đoan của người bản xứ. Ông không quên những phong tục và nhất là tiếng nói của người Việt Nam. Nhưng điều ông ghi chép ngày nay trở thành những sử liệu rất quý để tìm hiểu về xã hội Việt Nam thế kỷ XVII. Quyền 2, với 51 chương, Alexandre de Rhodes kể lại tất cả hoạt động của ông và các người kế tiếp ông để đem Tin Mừng của Đức Kitô đến cho Đàng Ngoài. Với người Công giáo, đó sẽ là những kinh nghiệm rất quý báu. Ngoài những giá trị nội dung như vậy, hai cuốn sách này còn cho người đọc thấy sức mạnh của văn chương trong việc phản ánh hiện thực như thế nào.

Tác giả Song Nguyễn “viết lại những mảnh đời, những số phận, những trải nghiệm”của riêng mình, nhưng trong thế giới nghệ thuật, Ngài đặc biết khắc họa diện mạo đức Giêsu qua hình tượng các nhân vật sống đời dâng hiến (linh mục, nữ tu…) đang sống giữa đời thường, đang vật lộn với những cơn sóng dữ của thời đại.

Trong Đồng Hành, ở một xứ đạo nhỏ giữa Đồng Tháp những năm 1960, Cha sở đã sống trong vùng giao tranh, sống chết không biết thế nào. Trong một đêm càn, nhân vật Dì Năm đã bị giết chết, bị vùi ở mé ruộng. Vì sao sáng kể chuyện linh mục Trung Tín trong chuyến nghỉ hè về Đà Lạt trước 1975 đã bị bắt đưa vào rừng. Ở đây Ngài bị thử thách đặc biệt về sự chọn lựa lý tưởng, về lối sống, sức mạnh của đức tin Công giáo khi đối mặt với người cán bộ cách mạng. Đồng cỏ xanh là hành trình Linh mục Phương Tín dẫn đoàn chiên đi tìm đất sống giữa hai lằn đạn chiến tranh. Chỉnh Hướng miêu tả cụ thể sự đối mặt của linh mục Phương Trung ngay trong những ngày biến cố lịch sử 30.04.1975, kể cả việc Ngài bị bắt giam sau đó. Đất Mới (3 tập) có thể coi là một tiểu thuyết sử thi về đời sống của một giáo xứ đi kinh tế mới sau 1975 dưới sự dẫn dắt của linh mục Phương Tòan. Gian nan khổ ải không sao kể xiết… Trong những hoàn cảnh khốc liệt của đời sống như vậy, người đọc sẽ nhận ra khuôn mặt của các nhân vật linh mục cũng chính là khuôn mặt Đức Giêsu, nhận lấy thánh giá để dẫn đưa đoàn chiên đến đồng cỏ xanh và suối nước ngọt lành. Trong hành trình trần gian, các nhân vật linh mục hoàn toàn phó thác nơi Chúa. Song Nguyễn luôn khẳng định niềm xác tín này: “Con cứ trông cậy Chúa. Chúa không bỏ kẻ trông cậy Ngài”;“Việc Chúa muốn, Chúa sẽ làm”.

Có thể nhận thấy niềm xác tín này thể hiện thật rõ ràng nơi đời sống mục vụ của chính tác giả. Cuộc đời của tác giả Song Nguyễn là nhân chứng sống động cho niềm tín thác: “Việc Chúa muốn, Chúa sẽ làm. Ơn Chúa đổ tràn xuống cho những ai cậy trông Người. Tác giả Song Nguyễn cũng ghi dấu ấn trong hình tượng các nhân vật linh mục. Điều này giúp bồi đắp thêm đức tin cho bạn đọc là giáo dân đang bước theo Chúa.(4)

  1. GÓC NHÌN VĂN CHƯƠNG

Theo dòng chảy của văn chương Việt Nam, tác phẩm của Song Nguyễn đã có những đóng góp giá trị vào văn chương Công giáo đương đại. Đó là việc khắc họa thành công hình tượng tích cực về các linh mục Công giáo trong một giai đoạn lịch sử dân tộc có những biến cố lớn lao. Tác phẩm của Song Nguyễn cũng phản ánh được nhiều mặt đời sống người Công giáo suốt từ 1945 đến thời kỳ đổi mới (1986). Mai sau, các thế hệ con cháu có thể hiểu được một phần cha ông đã sống đạo như thế nào. Tác giả Song Nguyễn cũng để lại những kinh nghiệm viết quý báu cho nhà văn Công giáo. Đó là mục đích viết văn, về sự chọn lựa những câu truyện “nhà đạo” trong hiện thực để miêu tả và phản ánh, và đặc biệt là tư tưởng Nhân văn Công giáo làm nên những giá trị tác phẩm của Song Nguyễn. (5)

Xin Chúa chúc phúc cho những tác phẩm của Song Nguyễn, để qua đó Tin Mừng được thấm nhuần vào văn hóa dân tộc như lời dạy của  Giáo hội trong Tông huấn Giáo hội tại Châu Á: Trong quá trình gặp gỡ các nền văn hoá khác nhau của thế giới, Giáo hội không những truyền đạt các chân lý và những giá trị của mình và đổi mới các nền văn hoá từ bên trong, nhưng Giáo hội cũng tiếp thu từ các nền văn hoá khác nhau, những yếu tố tích cực có sẵn trong các nền văn hoá đó. Đó là con đường bắt buộc cho những nhà rao giảng Tin Mừng khi trình bày đức tin Kitô giáo và làm cho nó trở nên một thành phần của di sản văn hoá của một dân tộc.

Tháng 9. 2019

Nguổn: Bùi Công Thuấn-Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn, Nxb Hồng Đức 2019)

___________________________________

Đọc thêm:

(1)Mục vụ văn chương Công giáo-Những chia sẻ của chủ chăn: http://www.tonggiaophanhanoi.org/van-hoa-nghe-thuat/tho-van/1972-muc-vu-van-tho-cong-giao-2-nhung-chia-se-cua-cac-chu-chan

(2) Lại Nguyên Ân-Nguồn sáng lạ: http://lainguyenan.free.fr/DLNX/TuNguon.html

(3) Lm Đa Minh Trần Ngọc Đăng: http://www.tonggiaophanhanoi.org/van-hoa-nghe-thuat/tho-van/1972-muc-vu-van-tho-cong-giao-2-nhung-chia-se-cua-cac-chu-chan

(4) Đọc thêm: Bùi Công Thuấn-Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. Nxb Hội Nhà Văn 2014.

(5) Đọc thêm: Bùi Công Thuấn-Tư tưởng nhân văn Công giáo trong Đất Mới của Song Nguyễn.

 

 

 

 

HỘI THẢO 400 NĂM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHỮ QUỐC NGỮ TRONG LỊCH SỬ LOAN BÁO TIN MỪNG TẠI VIỆT NAM

HỘI THẢO

400 NĂM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHỮ QUỐC NGỮ TRONG LỊCH SỬ LOAN BÁO TIN MỪNG TẠI VIỆT NAM

(Bản tin)

16

(Đức Giám mục Giuse Đặng Đức Ngân, chủ tịch Ủy Ban văn hóa/ HĐGMVN, khai mạc và tổng kết hội thảo)

Sáng ngày 25.10.2019, tại Trung tâm Mục vụ Tổng giáo phận Sài Gòn,  Ủy Ban Văn hóa trực thuộc Hội đồng Gíam mục Việt Nam đã khai mạc Hội thảo “400 năm hình thành và phát triển chữ quốc ngữ trong lịch sử loan báo Tin Mừng tại Việt Nam”.

Hội thảo có sự hiện diện của nhiều Giám Mục, nhiều Tiến sĩ, Giáo sư cùng với các “hội thảo viên” nhiều thành phần (tôi ước lượng khoảng trên 200 người). Đặc biệt có sự hiện diện của các thầy đạo Cao Đài, và Thuyết trình viên TS Phạm Thị Kiều Ly (ĐH Sorbon) là một Phật tử. Trong hội thảo, ban tổ chức gọi chung mọi người tham dự là “Hội thảo viên”. Điều đáng quý là, mặc dù đây là một hội thảo khoa học chuyên sâu nhưng các “hội thảo viên” tham dự đông đủ cả 2 ngày 25 & 26/10/2019.

MC Hội thảo là Lm. Jos Trịnh Tín Ý, Thư ký UBVH/HĐGMVN. Tuy lớn tuổi nhưng Lm Tín Ý có giọng rất trầm ấm, sang trọng và đầy chất nghệ sĩ. Ngài có cách kết nối chương trình rất duyên. Các bài hát được ngài hướng dẫn cộng đồng hát đều được chọn lọc phù hợp với tinh thần hội thảo. Đây là những bài mà chất nghệ thuật dân tộc ở đỉnh cao như Mẹ trùng dương, Thương qúa Việt Nam, Tình ca (Phạm Duy), Việt Nam! Việt Nam (Phạm Duy), Biết đâu nguồn cội (Trịnh Công Sơn) và các bài dân ca: Một mẹ trăm con, Hát hội trăng rằm, Trồng cơm… Khi tất cả mọi người cùng cất lên tiếng hát thì cũng là lúc tất cả mọi tấm lòng Việt nam đều được kết nối trong tinh thần dân tộc và trong cái đẹp của nghệ thuật và khoa học.

Các đề tài được trình bày trong hội thảo đều là những nghiên cứu chuyên sâu rất giá trị về học thuật:

1.Từ Nước Mặn đến Roma-Những đóng góp của các giáo sĩ dòng Tên trong quá trình La tinh hoá tiếng Việt ở thế kỷ 17. (TS Trần Quốc Anh-TS Thần học Đại học Georgetown, ĐH dòng Tên Santa Clara và Liên minh Thần học cấp cao Hoa Kỳ)

  1. Nhà biên soạn thực sự của Manuductio Ad Linguam Tunkinensem (Văn phạm Việt ngữ thế kỳ 17 đến thế kỷ 18 -TS Phạm Thị Kiều Ly-ngành Khoa học ngôn ngữ, Đại học Sorbon Nouvelle 2019)
  2. Văn học Công giáo từ 1620 đến nay (Lm TS Nguyễn Đức Thông CSSR, Đại học Lasall, Manila và giảng dạy tại nhiều Đại chủng viện và các Học viện liên dòng).

4.Thánh Philippê Phan Văn Minh, cánh én báo mùa xuân văn học chữ quốc ngữ thế kỷ 19 (Lm Fx Đào Trung Hiệu OP, giáo sư giảng dạy tại nhiều Đại Chủng viện và các học viện liên dòng).

Sau mỗi bài thuyết trình, có rất nhiều ý kiến của các hội thảo viên chia sẻ, trao đổi. Không khí hội thảo thật gần gũi và sâu sắc.

Cuối ngày hội thảo là một chương trình văn nghệ giàu ý nghĩa dân tộc. Ban tổ chức làm mọi người ngạc nhiên khi khánh thành quần thể tượng kỷ niệm 400 năn chữ quốc ngữ: A.Rhodes dạy học (bằng người thật đóng giả tượng); và đặc biệt là tặng bộ sách quý gồm 3 cuốn: Kỷ yếu hội thảo (tập hợp các bài nghiên cứu), Thư mục ấn phẩm sách báo Công giáo Việt Nan 1951-2015Văn kiện hướng dẫn việc tôn kính tổ tiên của Hội đồng Giám mục Việt Nam.

Kết thúc hội thảo, toàn thể hội thảo viên cùng hát Việt Nam! Việt Nam trong sự xúc động dân tộc sâu xa.

***

Sau đây là vài hình ảnh hội thảo

9

(Một nửa hội trường-Các Đức Giám mục tham dự hội thảo)

11

Các thầy Cao Đài tham dự hội thảo)

14

Tặng hoa hai diễn giả: Ts Trần Quốc Anh và Ts Phạm Thị Kiều Ly

17

Diễn giả Lm TS Nguyễn Đức Thông21

Đc Jos Đặng Đức Ngân tặng sách cho các diễn giả và khách mời

20

Quần thể tượng 400 năm chữ quốc ngữ 24

Văn nghệ đồng dao

26

Văn nghệ Mẹ Việt Nam

29

(Cùng hát Việt Nam! Việt Nam)

2

(Tác giả bên logo hội thảo)

1

(Tác giả chào thăm ĐHY GB Phạm Minh Mẫn-cùng các em tiếp viên hội thảo)

573e114278909ecec781

Sách tặng: Thư mục ấn phẩm sách báo Công giáo 1651-2015 (662 trang)- Tài liệu hội thảo 405 trang)

 

 

VĂN HÓA CÔNG GIÁO TRONG LÒNG VĂN HÓA DÂN TỘC

VĂN HOÁ CÔNG GIÁO TRONG LÒNG VĂN HOÁ DÂN TỘC                                                                                            Bùi Công Thuấn

Nhà thờ Phát Diệm

(Nhà thờ Phát Diệm-ảnh trên internet)

 ***

Đã có quá nhiều định nghĩa về “văn hoá”, song mỗi định nghĩa chỉ là một góc nhìn về văn hoá, không thể bao quát chính xác ý nghĩa của thuật ngữ. Theo tôi, Văn hoá là toàn bộ đời sống tinh thần, biểu hiện bằng tất cả những gì con người làm đẹp cuộc sống (hoá là trở thành-Văn là đẹp), tức là sự thể ra bên ngoài, bằng hành động, bằng vật thể, vằng lối sống cái đẹp của đời sống tinh thần. Cái đẹp của văn hoá (khác với mỹ thuật) là cái đẹp nhân văn, là sự tôn trọng con người, là tôn vinh những giá trị Người. Vì thế chiến tranh, xung đột không bao giờ là văn hoá, vì nó tàn sát con người. Những sự đối xử thô bạo với con người đều là vô văn hoá.

Văn hoá giúp phân biệt con người và thú hoang. Phải nhiều ngàn năm con người mới đạt tới trình độ văn hoá hiện nay, trong khi loài vật vẫn sống theo bản năng. Bất cứ hành động nào đem con người trở lại tình trạng bản năng đều là suy đồi. Con người đã nâng hành vi bản năng lên thành ứng xử văn hoá. Chẳng hạn, tính dục là một bản năng, loài vật sinh hoạt tính dục theo mùa, và chúng có thể giao cấu ở bất cứ chỗ nào, lúc nào mà bản năng đòi hỏi.Trái lại, con người có văn hoá, không hành xử như loài vật mà nâng tính dục lên thành giá trị, thành đạo đức, thậm chí thành những điều linh thiêng. Tín ngưỡng phồn thực tôn thờ bộ phận sinh dục nam và nữ và hành vi tính dục nam nữ. Trên trống đồng có những hình ảnh nam nữ đang giao cấu. Trong lễ hội Trò Trám ở Tứ Xã huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, (còn gọi là lễ hội “Linh tinh tình phộc”) đêm 11 tháng Giêng âm lịch, người ta vẫn cử hành nghi thức giao hoan. Tùy theo kết quả cuộc giao hoan ấy mà người ta tin rằng làng được mùa hay kém mùa. Ở Nhật cũng có lễ hội thờ “sinh thực khí”.

Dân tộc này khác dân tộc khác ở văn hoá. Văn hoá Việt Nam là văn hoá tình nghĩa cộng đồng, khác biệt với văn hoá Mỹ là văn hoá của cái Tôi cá nhân thực dụng. Bao nhiêu gia đình Việt Nam khi còn ở trong nước thì thuỷ chung, sang Mỹ lại ly dị.

Muốn hội nhập vào cộng đồng, nhất thiết phải hội phập từ văn hoá.

  1. VẤN ĐỀ VĂN HOÁ

Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á (ECCLESIA IN ASIA của ĐGH J.Paul II) dạy rằng:

Văn hoá là không gian sống … con người được uốn nắn bởi nền văn hoá trong đó họ đang sống. Đức Phaolô VI nói, sự chia tách giữa Tin Mừng và văn hoá là thảm trạng của thời đại chúng ta, với một tác động sâu xa trên cả việc rao giảng Tin Mừng lẫn văn hoá …

…Con đường của những nhà rao giảng Tin Mừng là làm cho đức tin Kitô giáo trở nên một thành phần của di sản văn hoá của một dân tộc. Tại Á Châu, Kitô giáo vẫn thường còn bị coi là ngoại lai… Theo ý kiến của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, cái khó là do sự kiện Đức Giêsu thường bị coi xa lạ với Á Châu. Đức Giêsu như là một nhân vật Âu Châu.”

Tông Huấn về việc đào tạo Linh mục trong hoàn cảnh hiện nay (PASTORES DABO VOBIS CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II) cũngdạy rằng:

Trong toàn bộ nền đào tạo trí thức và nhân bản, cần phải đưa việc hội nhập văn hoá lên hàng nhu cầu và yếu tính”

Qua lời dạy của Giáo Hội, chúng ta hiểu rõ việc hội nhập văn hoá là con đường quyết định, mà người Công Giáo Việt Nam phải dấn thân để làm cho đức tin Kitô giáo trở nên một thành phần của di sản văn hoá của một dân tộc, để Tin Mừng Mừng thâm nhập một cách sống động vào trong các nền văn hoá

  1. ĐÓNG GÓP CỦA CÔNG GIÁO CHO VĂN HOÁ DÂN TỘC

 Văn hoá có nhiều thành tố, tác động qua lại lẫn nhau. Đó là ngôn ngữ, tư tưởng, tín ngưỡng-tôn giáo, nghệ thuật, phong tục tập quán, lễ hội, lối sống…Xem xét sự đóng góp là xem xét cụ thể từng thành tố văn hoá, đồng thời xem xét những yếu tố chi phối sự phát triển văn hoá. Đó là chủng tộc, chính trị, địa lý…

Cho đến nay giới nghiên cứu bước đầu đã ghi nhận đóng góp của Công giáo vào văn hoá dân tộc.(xem bài của TS Phạm Huy Thông* ), tuy vậy những đóng góp ấy còn khiêm tốn.

Văn hoá Việt Nam nhìn chung chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật, Nho, Lão, sau này là phương Tây, văn hoá thực dụng Mỹ

Nho giáo trở thành học thuyết xây dựng các triều đại phong kiến Việt Nam. Người ta tin vào Thiên Mệnh, sống thuận theo Thiên Mệnh (Khổng Tử nói: Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử dã “ [1]). Trong dân gian người ta tin vào số phận, người ta khi đã 50 tuổi thì có thể biết được mệnh trời (ngũ thập tri Thiên mệnh).

Nho giáo tạo ra một lớp trí thức gọi là Nhà Nho với lý tưởng “kinh bang tế thế”(“cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm – tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ). Gặp thời thì ra giúp nước, không gặp thời về ở ẩn, giữ nhân cách nhà Nho. Ứng xử thì lấy Nhân, Lễ, Nghiã, Trí, Tín làm gốc, giản dị gần gũi nhân dân. Lịch sử đã ghi công của Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, …

Lối sống của nhà Nho có những nét đẹp riêng: Nguyễn Đình Chiểu dù mù loà vẫn về quê mở trường dạy học, sáng tác văn chương rao truyền đạo lý, được nhân dân yêu mến. Nho giáo trở thành “chính đạo” của nhà Nguyễn.

Lão giáo để lại ảnh hưởng trong lối sống “vô vi”[2], sống an nhiên, sống theo tự tánh, sống nhàn, coi thường lợi danh, tự tại trong mọi hoàn cảnh, đạt tới bậc chí nhân: “Chí nhơn vô kỷ, thần nhơn vô công, thánh nhơn vô danh “[3], sống chan hoà cùng tạo vật [4]. Tư tưởng nhàn là một trong những tư tưởng chi phối thơ văn trung đại từ Nguyễn Bỉnh Khiêm đến Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát…(“trầm tư bách kế bất như nhàn”[5]. Ngày nay thú chơi cây cảnh, du lịch sinh thái, trở về với thiên nhiên chính là tư tưởng đạo Lão.

Phật giáo thâm nhập sâu hơn vào văn hoá dân tộc. Thời Lý -Trần nhiều Thiền sư tham gia chính sự. Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) được coi là Phật hoàng, là người sáng lập phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Thơ Thiền trở thành một bộ phận quan trọng của thơ văn Việt Nam với những tên tuổi lừng lẫy như Pháp Thuận Thiền Sư, Vạn Hạnh Thiền Sư, Không Lộ Thiền Sư, Mãn Giác Thiền Sư…và nhiều Thiền sư khác được ghi trong Thiền Uyển Tập Anh [6]. Sau này, tư tưởng Phật giáo còn thâm nhập vào Cung Oán Ngâm Khúc, Đoạn Trường Tân Thanh (truyện Kiều) và ngày nay trở thành căn cốt sáng tạo trong nhạc Trịnh Công Sơn, thơ Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư. Phạm Thiên  Thư còn thi hoá Kinh Kim Cang phật giáo thành Kinh Ngọc. Trong dân gian, tư tưởng “đời là bể khổ”(Khổ Đế trong Tứ Diệu Đế của Phật) và tư tưởng Phật tại tâm, tinh thần từ bi hỷ xả là những tư tưởng chi phối đời sống tinh thần của phần lớn dân tộc, nhất là khi có những hoạn nạn chung, người ta làm việc thiện vì từ tâm

Phật, Nho, Lão tuy có những khác biệt nhưng vào văn hoá Việt Nam trở thành tam giáo đồng nguyên, làm nên diện mạo chính của tinh thần Việt Nam.

Đạo Công Giáo truyền vào Việt Nam và phát triển nhanh là nhờ văn hoá Việt Nam đã có sẵn những yếu tố gần gũi với tín lý Công giáo. Người Việt Nam tin vào Trời như một đấng tuyệt đối công minh (trời cao có mắt, thiên bất dung gian). Trời, Thiên Mệnh và Thiên Chuá là niềm tin có chỗ tương đồng trong tâm thức người Việt.

Chữ quốc ngữ là một đóng góp rất lớn của Công giáo với văn hoá dân tộc. Tuy nhiên, các giáo sĩ sáng lập ra chữ quốc ngữ và Lm Alexandre de Rhodes là người nước ngoài [7]. Việc sáng tạo chữ quốc ngữ là để giảng đạo, không phải mục đích xây dựng văn hoá Việt Nam. Vì thế, trong một thời gian dài, chữ quốc ngữ không phát triển. Chỉ đến đầu thế kỷ XX, cả thực dân Pháp và các chiến sĩ cách mạng (Đông Kinh Nghiã Thục) mới dùng chữ Quốc ngữ để tuyên truyền, lúc ấy chữ Quốc Ngữ mới thâm nhập vào đời sống dân tộc. Từ 1910 chữ Quốc ngữ mới được dùng chính thức trong hành chính Việt Nam.

Thời kỳ đầu văn chương Quốc Ngữ có truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản in năm 1887. Trương Vĩnh Ký là một học giả Công giáo để lại hàng trăm tác phẩm, mở đầu thời kỳ chữ Quốc Ngữ. Thời 1930-1945 có Hàn Mặc Tử sáng tác dưới ánh sáng tư tưởng và nghệ thuật Công giáo, rất tiếc ông bỏ dở con đường này.

Trước 1975 ở miền Nam, đã có một thời người trí thức công giáo dấn thân trong lĩnh vực văn hoá tư tưởng, tạo được ảnh hưởng nhất định đối với hoàn cảnh xã hội, đó là các Lm Thanh Lãng, Lm Kim Định, GS Nguyễn Văn Trung…

Gần đây Đức Giám mục Bùi Tuần đã in được bộ sách “Thao thức” 5 tập, hơn 2.500 trang. Báo Sài Gòn Giải Phóng đánh giá: “Đây không chỉ là cuốn sách, mà còn là tư duy sâu sắc của nhà hiền triết cùng với những trăn trở suy tư của con người hôm nay” [8].. Đức Giám mục Vũ Duy Thống với bút danh Thông Vi Vu sáng tác nhiều bài hát cho giới trẻ. Ngài tham gia sinh hoạt văn nghệ cộng đồng rất hăng say và được giới trẻ yêu mến

Chỉ riêng lãnh vực Thánh ca thì Thánh ca Công Giáo đã tự khẳng định một nền nhạc riêng trong âm nhạc dân tộc. Năm 2008 Lm nhạc sư Kim Long đã tổ chức nhiều đêm hội diễn kỷ niệm 50 năm sáng tác thánh ca ở cả trong Nam và ngoài Bắc, gây được tiếng vang lớn (Tuy vậy, thánh ca cũng chỉ chỉ được sử dụng trong nhà thờ)

Công Giáo đã xây dựng được nhiều nhà thờ, như là sự đóng góp nghệ thuật kiến trúc vào văn hoá dân tộc. Nhà thờ Phát Diệm là một công trình văn hoá đồ sộ kết hợp được kiến trúc phương Đông và phương Tây, nhà thờ Đức Bà Sài gòn là một công trình kiến trúc và nghệ thuật để lại dấu ấn riêng cho thành phố. Công giáo cũng có những lễ hội góp phần làm phong phú văn hóa Việt (Giáng Sinh, Phục Sinh, tháng các linh hồn để tưởng nhớ và cầu nguyện cho tổ tiên…)

Công Giáo cũng đã tạo ra những cộng đồng dân cư, ở đó có nếp sống văn hoá riêng, mà cốt lõi là cùng một đức Tin, tinh thần bác ái, cùng sinh hoạt lễ hội, cùng bảo vệ các giá trị tuyền thống, giá trị nhân bản và “sống phúc âm giữa lòng dân tộc”…

Dầu vậy, hàng trăm năm qua, đạo Công giáo ở Việt Nam vẫn chỉ dậm chân tại chỗ. Xin đọc Bản góp ý của Caritas Việt Nam với Đại hội Dân Chúa 2010.

Trong vòng 50 năm qua, số giáo dân tăng từ 2 triệu vào năm 1960 đến 6 triệu vào năm 2010. Nhưng số tăng này chỉ tương ứng với số sinh tự nhiên và tỷ lệ dân Công giáo so với dân số cả nước vẫn ở mức 7%. Nếu tính theo số liệu Tổng Điều tra Dân số 2009 thì chỉ có 6, 61%. Con số này đã có từ năm 1885: nghĩa là 125 năm qua GHCG VIỆT NAM chưa truyền giáo có hiệu quả.”[9]

Vì sao có tình trạng đó?

Theo tôi, đạo Công giáo vẫn duy trì tính chất phương Tây trong văn hoá, tách biệt với văn hoá dân tộc. Các nhà truyền giáo người Pháp, người Bồ Đào Nha… đã đem văn hoá phương Tây đến truyền đạo ở Việt Nam, mặc dù các ngài đã nỗ lực hội nhập với văn hóa Việt, song vô tình, hay cố ý, đã gây ra những ngộ nhận đối với người Việt. Alexandre de Rhodes trong Phép Giảng Tám Ngày gọi đạo Phật là đạo Bụt. Ông cho rằng Thích Ca chỉ dạy những điều gian trá. A.Rhodes đưa ra giải pháp: ”Như thể có chém cây nào đúc cho ngã, các ngành cây ấy tự nhiên cùng ngã với. Vậy thì ta làm cho Thích Ca, là … hay dối người ta, ngã xuống, thì mọi truyện dối trong đạo bụt bởi Thích Ca mà ra, có ngã với thì đã tỏ.” A.Rhodes, cũng công kích kịch liệt việc thờ cúng tổ tiên, điều này đụng chạm đến tâm linh Việt.

Nhà Nguyễn bách hại người theo đạo và coi Công giáo là “tả đạo”.

Năm 1832, Minh Mạng ra dụ: “Cái thuyết thiên đường, tóm lại chỉ là chuyện hoang đường, không có bằng chứng. Hơn nữa nếu không kính thần minh, không thờ tiên tổ thì rất trái với chính đạo. Những việc trái luân lý, hại phong hóa, điều ấy kể ra còn nhiều, thực đã phạm đến pháp luật. Đạo ấy quy là tà đạo hơn đạo nào hết.

Năm 1833 vua Minh Mệnh lại chỉ dụ: “Ta, hoàng đế Minh Mệnh, truyền lệnh như sau: Từ nhiều năm nay, những người Tây phương đến đây truyền bá đạo Giatô làm mê hoặc thường dân bằng lời rao giảng có thiên đàng hạnh phúc và hỏa ngục khổ sở. Chúng không trọng kính đức Phật cũng không thờ cúng Tổ Tiên. Đó là một trọng tội phạm đến chính đạo… Vậy ta truyền cho tất cả những người theo đạo này, từ quan cho chí đến dân đen phải thực tâm từ bỏ nếu họ nhìn biết quyền uy của ta. Trẫm muốn rằng tất cả các quan hãy tỉ mỉ xem xét có còn người Kitô nào sống trong địa hạt của mình và bắt họ tuân phục mệnh lệnh, bắt họ đạp lên ảnh tượng ngay trước mặt mình. Nếu họ làm theo thì sẽ được ân xá. Đối với các nhà thờ và nhà đạo trưởng các quan phải tịch thu làm kho chung. Từ nay về sau nếu có người nào bị nhận diện hay tố cáo là thực hành những thói tục đáng ghét này sẽ bị trừng trị với hình phạt nghiêm nhặt nhất, ngõ hầu có thể tiêu diệt thứ đạo này tận gốc rễ.”

Ngày nay, trong nhiều sách vở người ta vẫn coi những nhà truyền giáo trong Hội Thừa Sai Paris (Pallu, Lefèbvere, Puginnier, Retord, Pigneau de Béhaine…), đi trước do thám, mở đường cho Pháp xâm lược  Việt Nam. Sử gia Pháp Georges Coulet đã viết trong tác phẩm của ông Cultes et Religions de l’Indochine Annamite (Saigon, p. 99) như sau: “Thiên Chúa giáo đã mở cửa cho quân đội Pháp và đã là nguyên nhân trực tiếp của cuộc xâm lược đất nước này”…

Với những định kiến lịch sử và với vai trò thiểu số trong cộng đồng dân tộc, Công giáo Việt Nam khó có thể phúc âm hoá môi trường nếu không hội nhập văn hoá.

III. THỰC TRẠNG VĂN HOÁ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Từ đổi mới (1986) đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong nỗ lực xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nhiều di sản văn hóa được Unesco công nhận. Sinh hoạt tôn giáo-tín ngưỡng đã trở lại bình thường trong phạm vi luật pháp. Giáo dục đáp ứng cho hơn hai chục triệu người có nhu cầu nâng cao dân trí. Việc xây dựng ấp – khu phố văn hóa, gia đình văn hóa tạo ra bộ mặt đời sống mới. Nhân dân mọi miền, kể cả vùng sâu vùng xa được hưởng thụ văn hóa nhiều hơn, phong phú hơn. Giao lưu văn hóa với thế giới, Việt Nam thoát khỏi ảnh hưởng hàng ngàn năm văn hóa Trung Hoa, hàng trăm năm văn hóa thực dân Pháp. Khoảng cách văn hóa giữa nông thôn và thành thị, giữa người Việt trong nước và người Việt hải ngoại thu ngắn lại. Tinh thần dân chủ thay thế cho ý thức phong kiến trong sinh hoạt xã hội. Toàn cầu hóa đem đến ý thức bình đẳng giữa các nền văn hóa, giữa các quốc gia và dân tộc, đồng thời giúp phát huy bản sắc dân tộc, khắc phục cái nhìn hẹp hòi thiển cận, hoặc thái độ mặc cảm tự ty hoặc tự tôn. Sự phát triển những ngành truyền thông đa phương tiện và kết nối Internet tạo ra những cộng đồng xã hội mới, làm cho người gần nhau hơn. Khoảng cách địa lý không còn là vấn đề trở ngại. Văn hóa làng xã ngày xưa cùng với những tập tục làng xã bị phá vỡ do tình trạng di dân và chuyển đổi công nghiệp hóa. Văn hóa Việt Nam từ một nền văn hóa nông nghiệp (cục bộ, bảo thủ, gia trưởng, chậm chạp, phép vua thua lệ làng) đang chuyển sang văn hóa công nghiệp (tác phong công nghiệp, tinh thần sáng tạo, tinh thần dân chủ, năng động, thích ứng, đổi mới…)

Hội nhập toàn cầu hóa, và phát triển kinh tế thị trường, Việt Nam đồng thời phải chấp nhận những hệ quả cả tốt lẫn xấu ảnh hưởng đến văn hóa truyền thống. Các công ty nước ngoài đến đầu tư ở Việt Nam lợi dụng lao động rẻ và tài nguyên dồi dào của Việt Nam dẫn đến tình trạng bóc lột, bất công. Lấy lợi nhuận làm mục tiêu, người ta bất chấp mọi thủ đoạn phi pháp. Một cuộc xâm lăng văn hóa tràn vào với bao nhiêu rác rưởi làm ô nhiễm môi trường văn hóa.

Trong bối cảnh ấy, người Công Giáo phải chịu đựng những thách đố dữ dội hơn trong hành trình đức tin của mình.

Về tư tưởng, Chủ nghĩa thế tục, Thuyết Darwin, Di truyền học, Khảo cổ học, Nhân chủng học đang làm lung lay đức tin người Công Giáo. Người ta cổ vũ cho một thế giới tại thế không cần có Thượng Đế. Nhân chủng học cho rằng người hiện đại (Homo Sapiens) xuất phát từ đông Phi rồi tỏa đi khắp thế giới, không có vườn địa đàng, không có Adam, Eva. Sáng Thế Ký chỉ là huyền thoại như thần thoại của các dân tộc, như truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên của người Việt. “Tôn giáo học” cho rằng tôn giáo chỉ là một sinh hoạt tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh, bởi tôn giáo ra đời rất muộn so với lịch sử xuất hiện của con người. Tôn giáo cổ nhất cũng chỉ mới có lịch sử 10 ngàn năm, trong khi con người hiện đại đã tồn tại 200 ngàn năm. Hộp sọ Homo Georgicus được tìm thấy là của giống người tiền sử cách nay 1,8 triệu năm. Những tư tưởng như thế thâm nhập vào não trạng người trẻ có học, gây ra những khủng hoảng đức tin không tránh khỏi.

Về lối sống,…. chủ nghiã thực dụng, chủ nghiã cá nhân vị kỷ, chủ nghĩa hưởng thụ vật chất làm tha hoá con người, phá huỷ mọi nền tảng đạo lý. Người ta theo đạo là vì mục đích xã hội, không phải mục đích tâm linh (thí dụ, chuyện cải đạo để kết hôn, sau đó bỏ đạo). Câu chuyện về một cặp tình nhân trẻ lúc chia tay, anh đòi lại quà; và clip chế “anh không đòi lại quà” làm nóng cộng đồng mạng là một thí dụ. Mode “sống thử” trở thành lối sống của sinh viên, công nhân ở trọ. Một nam sinh viên ở Hải Phòng rao trên mạng rằng, bốn năm nay tớ không tốn tiền thuê ô sin, mà còn có chỗ giải quyết sinh lý không sợ SIDA. Mỗi năm tớ sống thử với một em, chẳng hạp với em nào cả, cuối năm đá đít. Cách sống như thế thật không có gì vô luân và tàn nhẫn hơn.

Sự xâm lăng của văn hoá suy đồi (phim ảnh, ca nhạc, Internet…), đặc biệt là sex núp dưới danh nghĩa văn hóa đang làm hỏng một bộ phận giới trẻ. Lối sống thoải mái, buông thả, sống cơ hội, làm sụp đổ những giá trị văn hoá truyền thống, làm tan vỡ gia đình, mà tình trạng ly dị trong hôn nhân trẻ Công giáo đã đến lúc phải báo động. Nạn nạo phá thai ở Việt Nam thật kinh hoàng. Báo Công an TP HCM ngày 9/11/06 đưa tin, hàng năm ở Việt Nam có 1,4 triệu ca nạo phá thai, trong đó có 5000 ca vị thành niên chưa lập gia đình. Ngày 31.03.2011. Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam đã công bố mỗi năm ở nước ta có khoảng từ 1,2 đến 1,6 triệu ca nạo phá thai trong đó hơn 20% ở lứa tuổi vị thành niên. Đến năm 2013, trong một cuộc hội thảo ở thành phố HCM, có sự tham gia của hơn 150 nhà khoa học, dược sỹ, bác sĩ sản phụ khoa đến từ của 8 nước châu Á-Thái Bình Dương, Hội Kế hoạch hóa gia đình lại công bố trung bình mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 300.000 ca nạo hút thai ở độ tuổi 15-19, trong đó 60-70% là học sinh, sinh viên. Điều ấy phản ánh sự xuống cấp trầm trọng về đạo đức, trong người trẻ, hậu quả của lối sống buông thả theo chủ nghĩa hưởng thụ khoái lạc vật chất.

Nền giáo dục đang bị khủng hoảng trầm trọng khiến cho nhà trường không còn là nơi cha mẹ học sinh yên tâm gửi con mình. Tiêu cực trong giáo dục không chỉ ở phạm vi nhà trường mà ở cấp Bộ giáo dục, cấp tỉnh (thí dụ tiêu cực thi cử 2018). Giáo dục Đại học trở thành môi trường kinh doanh béo bở. Chương trình giáo dục phổ thông thiếu hẳn phần giáo dục nhân bản, lại chạy theo thành tích ảo, khiến cho trẻ nhiễm thói giả dối, thực dụng ngay từ nhỏ. Môn Giáo dục Công dân từ lớp 6 đến 12 không có bài nào dạy về đạo Hiếu, học sinh mất gốc ngay từ trong gia đình. Tình trạng suy đồi đạo đức và nạn bạo hành trong nhà trường ngày càng vô nhân tính. Môi trường xã hội, môi trường thiên nhiên bị ô nhiễm trầm trọng. Chưa bao giờ người ta chửi bới nhau trên mạng, xúc phạm nhau đến thế, đến nỗi thầy cô giáo ở Hải Phòng lo thom thóp, giờ ra chơi lên facebook xem học trò có chửi mình không.

Văn chương thị trường đầy dẫy sex bẩn : Bóng Đè, Sợi Xích, Dại tình, I’m Đàn Bà, Nháp, Dị Bản… Cũng không thiếu những tác phẩm xuyên tạc tôn giáo như Cơn Cám Dỗ Cuối Cùng của Chúa, Những Con Chim Ẩn Mình Chờ Chết, Mật mã Da Vinci, phim 2012…Nạn buôn bán phụ nữ sang Trung Quốc, Cambodia làm nô lệ tình dục là một thảm trạng nhức nhối. Sự lai căng văn hoá ngày càng trầm trọng. Nhiều diễn viên, ca sĩ, người mẫu chân dài bị phát hiện trong đường dây bán dâm. Nhà hàng vũ trường đang lôi kéo người trẻ vào lối sống thác loạn. Tội ác giết người man rợ xả ra hàng ngày…

Nhiều vấn đề văn hóa đang thách thức lương tâm Công giáo và đòi buộc người Công giáo phải hành động vì đức tin và vì xã hội.

IV.XÂY DỰNG VĂN HOÁ CÔNG GIÁO TRONG LÒNG VĂN HOÁ DÂN TỘC

 Đến nay đời sống tôn giáo đã được bình thường hóa. Nhận thức về tôn giáo đã có nhiều hướng cách tiếp cận.

Sinh hoạt tôn giáo được luật hóa bằng Luật Tôn giáo, Tín ngưỡng 2016 của quốc hội. Tôn giáo được coi là sinh hoạt văn hoá, và được dùng để xây dựng đời sống tinh thần cho xã hội. Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…”.

Để xây dựng văn hóa Công Giáo trong lòng văn hóa dân tộc thì việc hội nhập văn hóa là yêu cầu cốt tủy. Tông huấn Giáo Hội ở Châu Á ghi rõ:” Trong tiến trình gặp gỡ các nền văn hóa khác nhau của thế giới, Giáo Hội không những truyền đạt các chân lý và giá trị của mình, cũng như đổi mới các nền văn hóa ấy từ bên trong, mà còn thu dụng những yếu tố tích cực có sẵn từ các nền văn hóa ấy. Đây là con đường buộc các nhà truyền giáo phải đi qua khi giới thiệu đức tin Kitô Giáo và biến nó thành một phần trong di sản văn hóa của một dân tộc”( 21§2)

Trong các yếu tố văn hóa thì tư tưởng, đạo đức, lối sống có vai trò đặc biệt. Xây dựng văn hóa Công giáo phải làm triển nở tư tưởng Nhân văn Công Giáo kết hợp với tư tưởng nhân ái và lối sống tình nghĩa truyền thống. Tư tưởng này được trình bày sâu sắc trong Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội. Các Kitô hữu làm việc và xả thân phục vụ cho sự phát triển con người, phục vụ sự sống, đặc biệt là người nghèo, trẻ em, phụ nữ, những người bị chà đạp nhân phẩm, “phải chịu sự kỳ thị, bóc lột, nghèo đói và bị gạt ra bên lề xã hội”; xây dựng nền văn minh tình thương; phát huy những mặt tốt của đạo lý dân tộc. Thực ra những nhận thức trên có căn gốc từ Kinh Thánh và người Kitô hữu nào cũng biết, vấn đề là thái độ hành động để biến những nhận thức ấy thành hành động, đúng với tinh thần “muối trong đất, men trong bột

Trong các mặt khác của văn hóa, văn hóa Công giáo phải phát triển trong văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Cần phải hội nhập sâu sắc hơn nữa vào văn hóa dân tộc, khắc phục ảnh hưởng phương Tây trong các sinh hoạt tôn giáo. Bởi vì trước đây:” Tin Mừng được loan báo bởi các nhà truyền giáo Tây Phương nên hẳn có bị ảnh hưởng bởi những nền văn hóa tại nơi xuất xứ của họ”(nhận định của Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á). Những ảnh hưởng văn hóa ấy ngày nay vẫn còn ngăn cách người Công Giáo với dân tộc.

Thí dụ, Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), nhưng người Công giáo không tham gia một lễ hội nào. Ngay cả giỗ tổ Hùng Vương, cũng không có nghi thức gì để kính nhớ tổ tiên, mà thực chất là giáo dục lòng yêu nước. Ai cũng biết yêu nước là một truyền thống vẻ vang của dân tộc, truyền thống đã có suốt mấy ngàn năm lịch sử.  Cũng vậy truyền thống nhân ái, nhân nghĩa là một truyền thống làm nên bản sắc dân tộc. Trong năm có nhiều ngày được dành để tôn vinh người lao động như Ngày Nhà Giáo  Việt Nam, Ngày Thầy Thuốc  Việt Nam, Ngày báo chí, Ngày Phụ nữ, Ngày Người Cao Tuổi, nhưng người Công Giáo nhiều nơi không có bất cứ sự hội nhập nào. Có nơi lại du nhập Ngày của Mẹ, Ngày của Cha từ văn hoá phương Tây làm ngày hội của mình. Rõ ràng người Công Giáo vẫn sống xa lạ với chính cội nguồn của mình.

Văn chương, nghệ thuật Công giáo không phát triển và không hội nhập được với sự phát triển văn chương nghệ thuật dân tộc. Điều này có nguyên do. Giáo hội chỉ tập trung phát triển nghệ thuật thánh dùng trong phụng tự. Và vì thế Giáo hội phải hứng chịu sự thiệt thòi khi văn nghệ thị trường thiên về giải trí và chứa đựng nhiều yếu tố độc hại tấn công làm sói mòn đức tin người trẻ. Một nguyên nhân khác là các tác giả Công giáo cũng tự giới hạn đề tài, cảm hứng sáng tác trong phạm vi phụng tự. Không khai thác tư tưởng Nhân văn Công Giáo trong từng cảnh ngộ cụ thể của đời sống. Ngày xưa trên đường rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu đã kể những câu chuyện rất hay về nội dung tư tưởng và nghệ thuật. Có thể nói khó có nhà văn nào có thể sáng tác tại chỗ, trong những hoàn cảnh cụ thể những câu chuyện như thế. Chuyện người Samari tốt lành (Lc 10, 30-37), chuyện người cha nhân hậu (Lc 15, 11-32), chuyện ông nhà giàu và Lazarô nghèo khó (Lc 16, 19-31)…là những khuôn mẫu mà các tác giả Công giáo có thể học tập.

Xây dựng nền văn hóa Công Giáo trong lòng văn hóa dân tộc là nhiệm vụ của mọi thành phần dân Chúa. Họ vừa là Kitô hữu, vừa là công dân Việt Nam, vừa phải thấm nhuần văn hóa dân tộc vừa phải làm cho đức tin Kitô giáo trở thành một phần trong di sản văn hóa ấy. Con đường còn rất dài ở phía trước.

 

_______________________________________________

 

  • Luận Ngữ, chương 20, câu 8
  • Lão Tử, Đạo Đức Kinh- kinh hạ, chương 26
  • Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Tiêu Dao Du
  • Trang Tử, Nam Hoa Kinh, tề Vật Luận : “Thiên điạ dữ ngã tịnh sanh, nhi vạn vật dữ ngã vi nhất”: Trời đất cùng ta đồng sanh,vạn vật cùng ta là một
  • Cao bá Quát :

Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy/

Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười/

Thôi công đâu chuốc lấy sự đời/

   Tiêu khiển một vài chung lếu láo

Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu

Trầm tư bách kế bất như nhàn…

(Uống Rượu Tiêu Sầu )

  • Pháp Thuận Thiền sư, 915-990, bài Quốc Tộ- Không Lộ Thiền sư, 1119 , bài Ngôn Hoài – Vạn Hạnh Thiền sư, 1018, Thị Đệ Tử – Mãn Giác Thiền Sư,1052-1096, Cáo tật Thị Chúng.

 

Lâm Tế Nghĩa Huyền (? – 867 ): tr.181 “Này, quý ông cầu chân lý! muốn ngộ vào chánh tông (Thiền), chớ để thiên hạ phỉnh mình. Trong cũng như ngoài, gặp chướng ngại nào cứ đạp ngã ngay; gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, gặp La Hán hoặc họ hàng thân thiết, giết hết, chớ ngần ngại: đó là con đường độc nhất để giải thoát. Đừng để bất cứ ngoại vật nào trói buộc mình, hãy vượt lên, hãy bước qua, hãy tự do.

 

(*)  Tiến sĩ Phạm Huy Thông Đại học Đông Đô- Những đóng góp của đạo Công Giáo với văn hoá Việt. http://nhacthanh.net/diendan/showthread.php?t=8584

 

  • GS Nguyễn Văn Trung: “Chữ quốc ngữ viết theo mẫu tự La Tinh do các thừa sai sáng chế ra từ thế kỷ 17 thực ra chỉ nhằm phục vụ các thừa sai trong thời gian họ học tiếng Việt và tìm hiểu văn hóa Việt Nam; vì chữ Nho chữ Nôm đã khó học đối với chính người Việt nam, dĩ nhiên càng khó hơn đối với người ngoại quốc. Khi họ nói viết được tiếng Việt họ buộc phải dùng chữ Nho nhất là chữ Nôm vì đó là chữ viết quốc gia ; Do đó những gì họ viết về đạo Chúa từ thế kỷ 17 đến khi Việt nam thu hồi được độc lập năm 1945 đều được viết ra bằng chữ Nôm; nếu có bằng quốc ngữ phần lớn chỉ là phiên âm chữ Nôm. Sau 1910 các trường tư công giáo, chủng viện vẫn tiếp tục sử dụng chữ Nho chữ Nôm.”( Đưa tư tưởng , văn học truyền thống VIỆT NAM vào diễn đàn  tư tưởng văn học thế giới )
  • Nhận xét về ĐGM Bùi Tuần :” Ngài là một nhà giáo uyên bác, nhà đạo đức có nền tảng nội tâm sâu sắc, nhà văn với tư tưởng thâm sâu với lối hành văn nhẹ nhàng lôi cuốn không thể lẫn lộn với ai khác, một nhà báo luôn đi sát với thời cuộc, một nhà tiên tri…”SGGP- http://tintuc.xalo. Việt Nam/00-422441557/duc_giam_muc_nha_van_bui_tuan.html
  • Lm Anton Nguyễn Ngoc Sơn- daihoidanchua.net

 

_______________________________________________

vanchuongphuongnam giới thiệu tác giả

Website vanchuongphuongnam.vn giới thiệu tác giả

Nhà văn Bùi Công Thuấn

Nhà văn Bùi Công Thuấn

44

(Vanchuongphuongnam.vn) – Nhà văn Bùi Công Thuấn sinh ngày 24. 2. 1949, Quê quán: Thái Bình. Tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Lý luận văn học năm 1988 tại trường ĐH Sư Phạm Tp HCM. Giảng dạy Ngữ Văn PTTH (đã về hưu). Hiện anh đang sống và viết  tại Thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, Hội Nhà văn Việt Nam năm 2015.

         

                                                      Nhà văn Bùi Công Thuấn 

Tác phẩm đã xuất bản: 

  1. HẠNH. Tập truyện ngắn. Nxb HNV 2005.
  2. Chút tình tri âm. LLPB. Nxb HNV 2009.
  3. Những tìm tòi nghệ thuật của Anh Đức. LLPB. Nxb Đồng Nai 2009.
  4. Những dòng sông vẫn chảy. LLPB. Nxb HNV 2011.
  5. Hoa đỏ bên sông. LLPB. Nxb HNV 2014.
  6. Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. LLPB. Nxb HNV 2014
  7. Văn chương Việt Nam-Những gì còn với mai sau. LLPB. Nxb HNV 2016
  8. Nhà văn Đồng Nai. LLPB. Nxb Đồng Nai 2018.

GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC: 

– Giải C của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 2011 với tác phẩm Những dòng sông vẫn chảy.

– Giải thưởng 5 năm Trịnh Hoài Đức lần thứ III (2010) với các tác phẩm: Chút tình tri âm, lần thứ IV (2015) với tác phẩm: Những dòng sông vẫn chảy & Hoa đỏ bên sông

Quan niệm văn học:

Phê bình văn chương cũng là khám phá sáng tạo. Nhà phê bình và nhà văn là tri âm tri kỷ.

ẢNH TƯ LIỆU

BCT với đoàn nhà văn TP HCM

 

bìa 8 tp BCT

TRONG CƠN LỐC XOÁY” VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ…

TRONG CƠN LỐC XOÁY” VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ…

(Đọc tiểu thuyết Trong cơn lốc xoáy của Trầm Hương. Nxb Phụ nữ 2016)

Bùi Công Thuấn

trong cơn lốc xoáy

 

Tiểu thuyết “Trong cơn lốc xoáy” của Trầm Hương được giải A của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trong cuộc thi sáng tác về đề tài cách mạng và kháng chiến (giai đoạn 1930-1975) vào tháng 8 năm 2015. Tập tiểu thuyết này dài 1.024 trang. Nhà xuất bản Phụ nữ in thành hai cuốn. Đọc một tác phẩm dài hàng ngàn trang là một việc khó, nhưng điều thú vị là Trong cơn lốc xoáy đặt ra nhiều vấn đề lý luận phê bình, và tôi muốn chia sẻ với các nhà phê bình ý nghĩ của mình, vì lâu nay phê bình văn chương có vẻ lặng lẽ quá (!).

CẢM GIÁC CHẠM BÓNG

Các nhà bình luận bóng đá hay dùng chữ “cảm giác bóng” để nhận xét về cách đá bóng của một cầu thủ. Tôi xin mượn chữ này để ghi lại “cảm giác” của mình khi tiếp cận Trong cơn lốc xoáy. Nói đến “cảm giác” là nói cái riêng của mỗi người đọc. Và sự khác biệt là điều bình thường. Nói bằng cách của phê bình văn học, để thưởng thức tác phẩm, tôi đọc bằng trực giác cảm tính.

Thực lòng, tôi vô cùng ngán ngại (ái ngại và ngán ngẩm) khi nhìn tập tiểu thuyết dày hơn 1000 trang. Tôi không biết mình có đủ sức, đủ kiên nhẫn để đọc không. Đọc sách tốn nhiều thời gian và sức lực. Liệu cuốn sách có đáng với công tôi bỏ ra để đọc không? (Điều này là nguyên nhân của bệnh lười đọc của nhiều người). Để vượt qua sự cản trở của một bức tường thành, tôi tự nhủ mình rằng, tác giả bỏ ra 10 năm để viết, chẳng lẽ mình không bỏ ra được một quỹ thời gian nhỏ để đọc sao? Và rồi tôi tự luận rằng, cứ coi tiểu thuyết Trong cơn lốc xoáy là một bộ phim truyền hình nhiều tập, mỗi ngày xem vài tập thì sẽ “thấm” hơn. Vì có người đã nhận xét Trong cơn lốc xoáy có chất điện ảnh. Vâng, và điều đáng nói là, “Trong cơn lốc xoáy” đã cuốn hút tôi từ đầu đến dòng chữ cuối cùng của tác phẩm. Gấp cuốn sách lại, tôi nói với lòng mình, thật đáng khâm phục tác giả cả về tài năng và tâm huyết. Trong cơn lốc xoáy là một tiểu thuyết hay và đáng đọc.

Sở dĩ tôi đọc được đến trang cuối cùng của cuốn sách vì Trầm Hương có cách viết rất mạch lạc, trong sáng. Trang văn có chất “say” của cảm xúc và sự hấp dẫn của văn chương. Tôi tự hỏi, làm thế nào nhà văn giữ được chất “say” này trong suốt 10 năm để viết tác phẩm và trải ra trong hơn 1000 trang văn, và rồi và làm cho người đọc “say” theo? Với một rừng, biển tư liệu, làm thế nào tác giả khai thác được để tạo nên một thế giới nghệ thuật riêng? Và tôi nhận ra điều này, năng lực đọc, phân tích, tổng hợp, chọn lựa tư liệu; khả năng hư cấu, kiến tạo tác phẩm cùng với sự nhập thân của tác giả vào lịch sử, hóa thân vào số phận nhân vật để làm nên một tác phẩm văn chương của Trầm Hương không phải nhà tiểu thuyết nào cũng có được.

Nếu ghi lại hết cảm giác của tôi khi đọc Trong cơn lốc xoáy, có lẽ sẽ làm mất thời gian của bạn đọc. Nhưng có điều này, tôi nghĩ nên chia sẻ, ấy là tác phẩm dẫn người đọc vào những không gian, thời gian đặc biệt của lịch sử và những hoàn cảnh, những tình huống hết sức “khó gỡ”(điều này tạo ra sự hấp dẫn), vì thế cần phải có vốn hiểu biết rộng về văn hóa, lịch sử mới cảm nhận được cái hay của tác phẩm. Chẳng hạn đời sống xã hội ở Phnom Penh đầu thế kỷ XX hay ở Paris, California sau 1975. Đặc biệt phải có trải nghiệm về tình hình chính trị xã hội Sài Gòn ngày khởi nghĩa 25/8/1945, Sài Gòn ngày toàn thắng ngày 30/4/1975. Và trải nghiệm về đời sống ở bưng biền trong kháng chiến, những khó khăn khi người dân phải bỏ thành phố đi “kinh tế mới”, những cuộc vượt biên đầy chết chóc, sợ hãi cùng với những khủng hoảng của đời sống xã hội sau 1975…Không có những trải nghiệm ấy, bạn đọc sẽ mất đi một nửa “cảm giác văn chương” khi đọc tác phẩm.

Đôi khi tôi bị “choáng” với một vài chi tiết. Và tôi tự hỏi, tác giả có hư cấu quá tay hay không? Và phải chăng đó là “thật”? Chẳng hạn, Jeannette đang tắm thì Vạn tới. Jeannette bảo Vạn vào tắm chung, rồi bảo Vạn kỳ ngực cho mình. Khi thấy Vạn còn mặc quần đùi, Jeannette nói: “Sao không cởi ra, sao cù lần thế?” Vừa nói Jeannette vừa kéo phăng chiếc quần đùi của Vạn”(cuốn I. tr.401). Tất nhiên là văn hóa Việt không thể chấp nhận hành vi ấy của Jeannette!

Một chi tiết khác. Khi Vạn tuyệt thực ở chuồng cọp, phổi của Vạn bị dập nát vì cú đá của một tên lính Pháp. Vật lộn với tử sinh, Vạn phải uống nước tiểu của mình. “Hơn 10 ngày tuyệt thực, Vạn không còn cả nước tiểu để uống. Anh dùng một sợi dây kẽm nhỏ mài nhọn, chọc vào động mạch cánh tay trái hút máu. Những giọt máu thấm vào cổ họng, ngọt kỳ lạ…Nhưng máu rồi cũng kiệt. Anh chọc mãi vào động mạch, đau điếng mà vẫn không hút được giọt máu nào!”(I. tr.107). Oh My God! (Trời ơi!) Không còn giọt máu nào thì sao Vạn có thể sống được! Dùng dây kẽm chọc vào động mạch, nếu bị nhiễm trùng, Vạn làm sao không sống nổi! Tôi sững người tự hỏi, Trong cơn lốc xoáy viết về “người thực việc thực” hay tiểu thuyết hư cấu lãng mạn?

Có một chữ tác giả sử dụng làm tôi băn khoăn mãi. Tác giả viết:Quân đội của Hà Nội đã vô tới sài Gòn”(cuốn II.tr.311); ”Đa phần người Việt Nam đều mong muốn Bắc Việt vào Sài Gòn, thống nhất hai miền”(II.tr.313). Sao không là Quân giải phóng, vì theo hiệp định Paris 1972, quân Bắc Việt là quân ngoại nhập, phải rút khỏi miền Nam!

MỘT TRUYỆN TÌNH

Có thể nói ngay, Trong cơn lốc xoáy là tiểu thuyết viết về cuộc đời của bà Jeannette, một nguyên mẫu người Pháp. Số phận của Jeannette bị chi phối bởi người thân trong gia đình trước các biến động xã hội và lịch sử. Jeannette không thiếu cơ hội để chọn lựa một cuộc sống sung sướng, hạnh phúc nhưng cô có lối đi riêng của mình.

Truyện mở đầu khi cô bé Jeannette được 5 tuổi sống ở Phnom Pênh với cha mẹ nuôi là ông Joseph và bà Luisa đầu thế kỷ XX. Cô được chăm sóc như một công chúa. Ông Joseph Casabiarca là giám đốc kiểm toán quan thuế ba miền Đông Dương. Khi Joseph được điều về Việt Nam, Jeannette cũng theo về. Khi cha mẹ nuôi chết, Jeannette về sống với cha mẹ ruột là ông Antoine Villarial và bà Nguyễn Thị Hai ở Thủ Đức.

Ở Sài Gòn, Jeannette đi học rồi yêu, lấy chồng và làm ăn.

Thời kháng chiến chống Pháp, gia đình Jeannette bị Đội quân Cao Đài thân Nhật của Hoàng Huy bắt. Nhờ Nagamoto cứu giúp, gia đình ông Antoine thoát nạn, nhưng Jeannette lại bị Nagamoto, chiếm đoạt, có thai. Nagamoto là mật thám của Nhật, hắn gửi Jeannette ở nhà bà Năm Sương Thu. Ở đây Jeannette gặp Vạn và yêu Vạn. Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Nagamoto sụp đổ và bị bắt. Jeannette sinh con, đứa con chết.

Jeannette và Vạn yêu nhau. Jean trở thành đội viên chi đội 12. Công việc của cô là lấy tin từ sĩ quan Pháp. Cô lần ra đường giây mua vũ khí của bọn lính mũ đỏ rồi cùng Vạn chở vũ khí ra bưng biền cho kháng chiến. Một lần Jeannette tìm đến địa điểm bí mật ở Chợ Lớn để gặp Vạn, cả hai đang bày tỏ tình yêu thì lính bót Pô Lô Chợ Lớn ập vào bắt Vạn đi. Jeannette bị mời về đồn. Ở đây Jeannette bị Cala, phó sếp bót Pô-lô và Theodor, anh trai cô bạn Micheline liên tiếp cưỡng hiếp. Theodor đưa Jeannette về nhà bà Hai.

Để cứu Vạn, Jeannette liên hệ với dược sĩ Cao. Cao giúp đỡ tiền bạc để Jeannette lo lót cho bọn mật thám Pháp, song Jeannette lại bị Cao chiếm đoạt. Cao bị cò Bazin sờ gáy vì có tiếp tế cho Việt Minh. Sợ bị liên lụy, Cao bỏ về Pháp. Ông ta mua nhà và chu cấp cho Jeannette đầy đủ. Jeannette sinh con, dược sĩ Cao ở Pháp đặt tên con là Eveline. Khi Vạn bị tuyên án 15 năm tù khổ sai và bị đày đi Côn Đảo vì tội lừa đảo, Jeannette lấy Quý và làm ăn với anh trai Pierre (sau biến cố Mậu Thân ở Sài Gòn, cả gia đình Pierre về Pháp).

Đến năm 1960, Jeannette có 5 con với Quý là Chance, Lee, Măng, Cúc, Lan. Thời chống Mỹ, để lo cho tương lai các con, Jeannette giao tiếp với Merryl Clifford, Đại tá sư đoàn 1 Mỹ và được Clip giúp đỡ cho vào căn cứ Long Bình kinh doanh phục vụ cho lính Mỹ. Jeannette kiếm được nhiều tiền. Sau 30/4/1975, cuối năm 1976 bà cùng con, cháu về Pháp (II.tr.343). Ở Paris, bà lo việc học, việc đám cưới cho các con là Eveline, Chance, Lan. Cho Măng vào trường quân đội để chữa ma túy, đăng ký đi lính Pháp cho Lee… Sau khi ông Quý là chồng bà chết, bà về Việt Nam, sống ở Long Hải.

Viết về cuộc đời bà Jeannette, nhà văn Trầm Hương chú tâm vào tình yêu và tình mẹ của bà. Cả hai tình cảm này Jeannette đều sống với “những vết thương sâu trong lòng của những con người trong cơn biến động của lịch sử.”

Về vai trò và trách nhiệm làm mẹ, Jeannette viết cho chị Lucia rằng: Em là một bà mẹ thất bại, một bà ngoại đau đớn bất lực nhìn đứa cháu gái của mình đi dần vào cái chết trắng, chẳng còn có tương lai/ Em đã sống cùng những vết thương sâu cho đến hết cuộc đời mình”(II.tr.468).

Eveline, đứa con của Jeannette với Dược sĩ Cao được Jeannette gửi cho hai bà chị của ông Cao nuôi dạy. Bị giáo dục trong một môi trường nghiêm khắc và cô độc, Eveline bị trầm cảm, đồng tính, và yêu cô bạn gái tên Nhường. Muốn thoát khỏi hai bà cô, Eveline tìm học bổng sang Pháp du học. Ở Pháp, Jeannette lấy Trịnh Ngọc, sinh được đứa con trai đặt tên là Rồng. Nhưng rồi Eveline lại bị “thầy chùa” Ngân lừa cả tình và tiền, bịnh đồng tính trở lại. Eveline uống thuốc ngủ tự tử (II.tr.426).

Cả Chance và Lan, con của Jeannette đều quậy ngang bỏ học. Lúc ấy, Jeannette đang kinh doanh phục vụ lính Mỹ trong căn cứ Long Bình. Chance có thai ba tháng với lính Mỹ, Jeannette phải dẫn đi giải quyết (II.tr.263), còn Lan, bỏ học, dẫn bạn trai là lính Mỹ về nhà. Jeannette phải làm đám cưới cho hai cô con gái khi hai cô đã có bầu ba tháng (Đám cưới. II.tr.271). Măng hiếp dâm con Bảy, bà quản lý dẫn đi phá thai (II.tr.457). Măng còn nghiện ma túy, Jeannette phải đưa sang Pháp đăng ký học trường quân đội để cai nghiện. Sau đó Măng lấy Cherry (II.tr.302). Cả đến đứa cháu con của Lan tên là Kitty ở Mỹ cũng nghiện ma túy và bỏ nhà đi (II.tr.399)…

Trước những tình huống như thế, Jeannette bất lực. Bà đau đớn quằn quại với số phận. Khi Eveline chết, Bà Jeannette kêu lên: “Chính mẹ đã gây ra bi kịch này cho Eveline! Ôi lạy Chúa, Người hãy tiếp tục trừng phạt con! Eveline đâu muốn có mặt trên đời. Nó sinh ra là vì con. Eveline vô tội mà!”(II.tr. 427).

Tôi thật ngạc nhiên về điều này. Lúc Eveline ngoại tình với “thầy chùa” Ngân ngay trong nhà mình, Jeannette gặp Eveline, định khuyên bảo con thì Eveline nói với mẹ rằng: “Xin mẹ đừng kinh ngạc, đừng lên án khi con đến với thầy Ngân…Tình yêu có những lý lẽ riêng, như xưa kia mẹ đã từng yêu một anh Việt Minh, bị cả gia đình lên án…”(II.tr. 386). Phải chăng đó là nhân quả, gieo nhân nào gặt quả đó, như chính Jeannette đổ lỗi cho ông Quý, chồng bà, vì ăn chơi với đĩ điếm mà các con gái của ông là Chance, Lan hư hỏng?

Phải chăng các con của Jeannette “kế thừa” khí chất của người mẹ, đúng như Eveline nói. Xưa kia, lúc mới 13 tuổi Jeannette đã yêu Henry (I.tr.203). Jeannette học trường Marie Curie, để trả thù người cha là ông Antoine, Jean quậy phá và bị đuổi học nhiều lần. Tình cờ gặp lại Lucien, và thất thân với Lucien (I.tr.250), nhưng chị của Lucien không đồng ý cho Lucien cưới Jeannette. Sau Jeannette lại quen thân với cậu Tú Minh nhưng bà Hội đồng, mẹ của Minh không đồng ý vì không “môn đăng hộ đối”. Minh chết vì thương hàn.

Cuộc đời Jeannette cuốn đi với rất nhiều người đàn ông: Jeannette yêu Henry nhưng lại thất thân với Lucien nhưng hôn nhân không thành. Jeannette bị Nagamoto chiếm đoạt, nhưng lại hiến thân với Vạn. Jeannette bị Cala và Theodor hãm hiếp, rồi lại bị dược sĩ Cao chiếm đoạt. Còn nhiều người khác yêu Jeannette và muốn có Jeannette. Đó là mật thám Trần Nhơn, luật sư Gaston. Lúc Jeannette sang Pháp tìm ông Cao để đòi lẽ công bằng cho Eveline, De Marcelange dòng Bá tước cầu hôn bà, nhưng Jeannette từ chối. Thời Mỹ ở Sài Gòn, Merryl Clifford trước khi về Mỹ đã tỏ tình với Jeannette nhưng bà cũng từ chối (II.tr.220). Jeannette chỉ yêu Vạn nhưng lại lấy ông Quý.

Trong những mối quan hệ do sự vần xoay của số phận ấy, Jeannette không biết là phúc hay họa. Jean tự đánh giá mình: “Mình rắc rối quá! Tự mình nhận ra điều ấy…Mình sống không giống ai, chẳng làm theo khuôn mẫu phép tắc của một phụ nữ đã có chồng” (II.tr.459). Hai bà chị dược sĩ Cao khẳng định với em về Jeannette: “Cậu nghĩ xem, chưa tròn 20 tuổi mà cái cô Jeannette đã lăng nhăng đủ loại đàn ông Pháp, Nhật, lính kín đủ loại, giờ tới cậu” (I.tr.354); “Cậu mê muôi nên không biết con Jeannette đó là hồ ly. Mấy thầy chú kia bị nó quyến rũ vô tù, tán gia bại sản hết, giờ nó dùng sắc đẹp mê hoặc để cậu cung phụng cho nó, chớ nó có yêu gì cậu!”(I.tr.535), còn Lài, chị dâu của Vạn cho rằng Jeannette là một con quỷ, là “người đàn bà nguy hiểm, không khéo cô ta sẽ tiếp tục đưa chú vào hỏa ngục” (II.tr.203)

Và đây là lời tố cáo của ông Quý, chồng của bà Jeannette: “ông Vạn và Nét (Jeannette) gặp lại nhau năm 1962. Bà nét đem ông Vạn về trong gia đình nói là ông thầy giáo để dạy học cho mấy đứa nhỏ một thời gian ngắn, có lẽ do sợ đổ bể hay không kín đáo nên bà ta mới đem ông Vạn đến làm việc cho hãng của ông Pierre Villarial…bà ta sống cuộc đời hai mặt mãi đến ngày 30/4, tôi vẫn không hay biết gì…/ Bà Nét và ông Vạn đã lén lút sống như thế trong lúc tôi vẫn tin tưởng và hoàn toàn tin cậy bà ta. Họ đã lường gạt và phản bội tôi từ bấy lâu nay…Còn một việc quan trọng nữa là nếu bà muốn biết (?). Ông Vạn đã lợi dụng cách mạng để làm nhiều việc mà nếu là một người cách mạng chân chính không thể làm được”(II.tr.381).

Bạn đọc Việt Nam nghĩ gì về số phận dâu bể như thế của bà Jeannette. Phải chăng những đứa con bà “hư hỏng” là do kế thừa tính khí và cách sống của bà? Bà tự nhận thức mình sai lầm trong cách giáo dục con và bất lực trước hoàn cảnh. Hai bà chị Ông Cao nhận xét về Eveline: “Thật là héréditaire, mẹ nào con nấy” (II.tr.390), Bạn đọc Việt Nam có người sẽ nghĩ: “Mẹ nào con nấy”!

Về tình yêu với Vạn, từ ngày đầu đến ngày cuối, trong đầu Jeannette có một bàn thờ Vạn (II.tr.380), mà có lúc Jeannette tưởng đã đạp đổ, nhưng ước vọng sau cùng của Jeannette là được bên Vạn, được hòa tro cốt mình với tro cốt Vạn rải vào lòng biển xanh, để cả hai sóng bước bên nhau dạo chơi cùng những con sóng của biển xanh không ngừng (II.tr.463).

Tình yêu của Jeannette và Vạn bắt đầu từ lần hai người gặp nhau ở nhà Bà Năm Sương Thu. Lúc ấy Vạn đang làm thầy giáo để lọt vào “hang ổ” làm phân rã lực lượng của bà Năm Sương Thu thân Nhật. Nagamoto dẫn Jeannette đến gửi ở nhà bà Năm Sương Thu nhờ che chở. Khi bà Năm Sương Thu giới thiệu, Vạn và Jeannette nhìn nhau. Họ cảm nhau ngay ở cái nhìn đầu tiên ấy, dù lúc ấy Jeannette mới bị Nagamoto chiếm đoạt và đang có thai: “Cô ngước nhìn lên. Như có một luồng điện từ mắt chàng trai truyền dẫn vào sóng mắt cô, dừng lại ở đó. Rồi những tia sáng từ ánh mắt anh chạy dọc theo sống lưng Jeannette. Cô thu hết can đảm nhìn lại anh. Một chàng trai trạc 24 tuổi, cao lớn, ngực nở, với những bắp thịt rắn chắc dưới áo sơ mi ngắn tay màu xanh nước biển, da ngăm đen và nụ cười rộng mở”…”Vạn chợt nghe tim mình đau nhói  trước vẻ đẹp hoàn hảo và đôi mắt màu hạt dẻ sâu thẳm nỗi buồn…”(I.tr.320)..”Mắt vạn lướt nhanh qua thân hình yêu kiều của Jeannette, dừng lại ở khuôn bụng gợn một đường cong e ấp dưới làn áo Kimono”(I.tr.321).

Cả hai đều bị quyến rũ bởi vẻ đẹp thân xác của nhau. Sau khi Nagamoto bị bắt đi, Jeannette ngã vào vòng tay Vạn. Một đêm mưa, Jeannette đang cô đơn. Có tiếng chim cú kêu. Vạn xuất hiện. Sau đó hai người lao vào nhau làm tình nhiều lần.”Anh tự nguyện hiến thân cho cô”; “có sự hòa hợp hoàn toàn giữa hai thân thể, hai tâm hồn. Anh và cô cứ thế thiếp đi trong hoan lạc(I.tr.383).

Người đọc có thể hiểu hai người yêu nhau hoàn toàn là cảm xúc xác thịt và sự cảm thông hoàn cảnh, đó không phải là tình yêu từ trái tim? Bằng chứng là khi Vạn đang trong hoàn cảnh phải sống bí mật, Jeannette tìm đến chỗ Vạn ở Chợ Lớn. Hai người bày tỏ tình yêu. Cả hai cùng khóc. Jeannette chỉ có ước muốn nhỏ nhoi là “được yêu và sống bên người mình yêu”. Sau khi nghe Vạn giải thích, hai người “hạnh phúc tột cùng được dâng hiến, cho đi nhận lại hòa nhau làm một của đôi trai gái đang dồn nén khao khát” (I.tr.457).

Lưu ý rằng Jeannette đang có thai với Nagamoto và ông ta vừa bị mật thám Pháp bắt. Nagamoto có ơn cứu cả gia đình Jeannette khỏi sự tàn sát của Hoàng Huy. Chính vì điều này, khi bị bà Năm Sương Thu chất vấn, Vạn đã cứng họng: “Cướp vợ một người đàn ông đang thất thế, bị tống giam trong tù không phải là vô đạo sao?!”(I.tr.441).

Người đọc không thể hiểu Vạn yêu Jeannette vì điều gì trong khi anh đang thực hiện nhiệm vụ cách mạng rất khó khăn và nguy hiểm là mua vũ khí và chuyển cho kháng chiến. Dù Jeannette có giúp Vạn mua được súng của bọn lính mũ đỏ cần tiền, song vì Jeannette mà Vạn bị mật thám Pháp bắt. Anh thiếu cảnh giác. Anh đã phải trả giá cho tình yêu này bằng 15 năm khổ sai và đày Côn Đảo. Vạn bị kết tội lừa đảo và cướp tài sản, không phải tội mua súng cho Việt Minh. Về sâu xa, Vạn bị tù là do lòng ghen tức của mật thám Trần Nhơn và luật sư Gasto khi cả hai không chiếm đoạt được Jeannette. Gasto nói với Jeannette: “Mà nếu như cô có chấp thuận ngủ với tôi đi chăng nữa thì thằng Việt Minh đó cũng không bao giờ được trở về. Tôi muốn nó mãi mãi không còn được gặp lại cô”(II.tr.27).

Gasto nhận xét về tình yêu của Jeannette với Vạn: “Thật ra, cô đi theo tên Việt Minh ấy chỉ vì cô mê anh ta, mê theo kiểu đàn bà theo đàn ông nên sẵn sàng làm theo những điều anh ta xúi giục”(I.tr.546). Jeannette yêu Vạn không phải xuất phát từ tình yêu với lý tưởng cách mạng của Vạn, với công tác anh làm cho kháng chiến. Trái lại, có lúc Jeannette thốt lên rằng: “Cách mạng là gì? Kháng chiến là gì?Tại sao lại khắc nghiệt với chúng ta như vậy?”(I.tr.455).

Ta hiểu được vì sao ngay sau khi biết tin Vạn bị tù 15 năm, Jeannette đã lấy Quý. Vì Jeannette sinh ra không phải là để chờ đợi một người ở tù. Jeannette đã sinh cho Quý 5 đứa con, cùng Quý làm ăn, và chung sống với ông ta cho đến khi Quý chết, Jeannette mới về Việt Nam. Jeannette thú nhận với Vạn: “Em đã không chờ được anh suốt 15 năm xuân sắc. Em sống bản năng với những ham muốn tầm thường”(II.tr.440)

Tôi cũng không hiểu được “tình yêu” Jeannette dành cho Vạn sau khi ông ra tù. Jeannette dẫn ông đi mua quần áo, mua sách, tìm việc cho ông làm. Cả khi Jean biết Vạn đã bị 15 năm tù Côn Đảo làm biến dạng, không còn khả năng sinh lý, Jeannette vẫn gắn bó với Vạn, bất chấp mọi hệ lụy. Jeannette tự hỏi: “Ta chịu đựng cuộc sống này đến lúc nào đây?! Cam chịu cho đến suốt đời sao?! Gia đình, những đứa con, danh dự. Tất cả những thứ đó làm thành sợi dây thít chặt số phận ta. Ta hiểu nó mà tại sao không vùng thoát ra khỏi nó”(II.tr.199).

Khi người yêu bị tù thì Jeannette bỏ đi lấy chồng, rồi khi người yêu ra tù, Jeannette lại bỏ chồng, bỏ 5 con để trở lại với người yêu cũ, hẳn độc giả Việt Nam không dễ chia sẻ cách sống này với Jeannette! Cho nên ta hiểu sao ông Quý tố cáo vợ phản bội và sống hai mặt, và Hoa, vợ sau của Vạn, đã tỏ thái độ lạnh lùng ngay khi Jeannette tới nhà. Nhìn thấy gia đình Vạn hạnh phúc, Jeannette vội ra khỏi tổ ấm của Hoa (II.tr.398). Ít ra bà cũng con biết tự trọng. Nhưng Jeannette bị sốc vì thái độ của Hoa, bà viết cho Vạn: “Anh không biết dạy vợ.Tôi giờ chỉ có sự thương xót anh. Cái bàn thờ anh trong đầu tôi, vợ anh đạp đổ hết rồi!” (II.tr.380).

Sau cùng thì cả hai cùng tha thứ cho nhau, Jeannette tìm về bên Vạn vừa kịp khi Vạn lìa đời, đúng như ước nguyện tình yêu của ông. Cái chết của Vạn được miêu tả khá cải lương! (II.tr.441)

Những gì không thể giải thích được về tình yêu của Jeannette và Vạn bằng cảm quan của bút pháp hiện thực thì lại là vùng trời mở rất rộng cho sự sáng tạo của ngòi bút lãng mạn. Tôi nghĩ, Trong cơn lốc xoáy là một truyện tình lãng mạn (có màu sắc cải lương).

HAY “TIỂU THUYẾT VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG”?

             Mặc dù Trong cơn lốc xoáy được giải A của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trong cuộc thi sáng tác về đề tài cách mạng và kháng chiến (giai đoạn 1930-1975) vào tháng 8 năm 2015, và điều này cũng gợi cho tôi vài vấn đề lý luận..

Nhà văn Trầm Hương cho rằng: để hiểu bi kịch tình yêu và phụ nữ với vẻ đẹp của lòng nhân hậu, đa cảm, hy sinh, chịu đựng luôn là đề tài bất tận của văn học.”[1] Chị cho biết thêm: “Tôi muốn chia sẻ với các độc giả của mình thông điệp về những vết thương sâu trong lòng của những con người trong cơn biến động của lịch sử[2]

Như vậy nhà văn Trầm Hương viết Trong cơn lốc xoáy là để nói về “bi kịch tính yêu và phụ nữ”, qua đó chia sẻ thông điệp về “những vết thương sâu trong lòng của những con người trong cơn biến động của lịch sử. Vì toàn bộ cuốn tiểu thuyết là cuộc đời của bà Jeannette, chuyện “người thật việc thật” (trong cuốn sách, còn in kèm hình ảnh Jeannette từ nhỏ đế khi về già, cùng với gia đình bà). Người đọc có thể nhận thấy bối cảnh lịch sử, cách mạng và kháng chiến được nhắc đến là để xác định các mốc thời gian cuộc đời của nhân vật.

Những sự kiện, những biến cố lớn lao của Lịch sử, cách mạng và kháng chiến Việt Nam không được dựng lại như một dòng chảy suốt từ đầu thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI. Tác giả chỉ chọn thuật lại một vài sự kiện lịch sử như một bản tin báo chí. Cũng có thể đây là góc nhìn rất hẹp của một phụ nữ Pháp quanh quẩn gia đình mình, không quan tâm đến tình hình chính trị bên ngoài.

Đây là một đoạn thuật lại những ngày cách mạng tháng 8 năm 1945 ở Sài Gòn: “Bí thư xứ ủy Nam kỳ chọn ngày 25 tháng 8 năm 1945 làm cuộc cách mạng giành chính quyền ở Sài Gòn…Một kế hoạch khẩn cấp giành chính quyền của cách mạng đã được bí mật gửi đến các cơ sở lực lượng “Thanh niên Tiền Phong”. Họ tranh thủ ngày đêm tìm vũ khí, từ mua lén, vận động lính Nhật ném vũ khí xuống sông rồi cho người lặn xuống sông vớt lên, không loại trừ cả cướp giật từ quân Nhật. Ngày 25 tháng 8 năm 1945, một cuộc biểu tình kỳ diệu hơn một triệu người từ các cửa Bắc, Nam, Đông, Tây đến các vùng xa xôi của Nam kỳ lục tỉnh đổ về Sài Gòn…cuộc khởi nghĩa lạ lùng và kỳ diệu thành công ở Sài Gòn rồi lan ra khắp các tỉnh Nam kỳ như thế” (I.tr.335). Xin chú ý đến đại từ nhân xưng “họ”, ngôi thứ ba, để chỉ lực lượng cách mạng. Không có dòng nào miêu tả cuộc cách mạng thắng lợi trong cả nước và bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945 ở Ba Đình. Cũng không có tin tức gì về cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm (1946-1954), sự ra đời của cách mạng miền Nam (1960) và cuộc kháng chiến chống Mỹ 20 năm (1955-1975).

Ngày 30/4/1945 ở Sài Gòn cũng được thuật lại như như vậy: “…cách sài Gòn chỉ 12 cây số, đêm 27 rạng 28 tháng 4, một tiểu đoàn đặc công quân cách mạng đã quyết tử đánh chiếm cầu Rạch Chiếc. Quân đội Sài Gòn phản ứng quyết liệt bằng đại liên, trung liên, được cả hỏa lực cối, pháo chi viện…Suốt ngày 29 và 30 tháng 4 năm 1975, sau nhiều đợt chiến đấu giằng dai ác liệt, quân cách mạng mới làm chủ được cây cầu, mở đường cho những chiếc xe tăng tiến vào thành phố”(II.tr. 317). “…Big Minh không làm gì. Ngày 10 tháng 3, mất Buôn Mê Thuột. Năm mươi hai ngày sau, xe tăng Bắc Việt đã vào được Dinh Độc lập. Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ nhanh...”(II.tr.324). Tác phẩm không có dòng nào bao quát tình hình chính trị quân sự mùa xuân 1975 và về chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam.

Theo dõi nhân vật Vạn, người Đảng viên, chiến sĩ họat động bí mật nội thành, người đọc càng thấy rõ hơn việc tác giả không đặt mục đích xây dựng tiểu thuyết viết về cách mạng và kháng chiến.

Lý lịch cuộc đời của Vạn được viết trong điếu văn (II. Tr.441-442), xin trích những họat động chính như sau: “đồng chí sớm giác ngộ, tham gia phong trào học sinh, sinh viên chống chế độ thống trị Pháp-Nhật. Đồng chí được tổ chức phân công hoạt động bí mật, chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa cướp chính quyền năm 1945 ở Sài Gòn…Tháng 8 năm 1947 đồng chí bị địch bắt tra tấn, đánh đập, qua các cửa nhà lao Catinat, Khám Lớn Sài Gòn,  đày ra Côn Đảo. Trong thời gian 15 năm bị giam cầm, tù đày, tra tấn cực hình đến mức độ nào vẫn giữ được khí tiết trung kiên…Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng chí một lòng một dạ trung thành với cách mạng…Ra tù, đồng chí chữa bệnh và móc nối với tổ chức cách mạng H159 nhận nhiệm vụ tổ trưởng tổ dân vận xây dựng cơ sở cách mạng ở Bến cảng, rải truyền đơn vận động công nhân khuân vác phá chìm nhiều chiếc xà lan chở đạn vào Nhà Bè và tham gia hướng dẫn đoàn xe tăng quân giải phóng qua cầu Phan Thanh Giản, tiến vào Dinh Độc Lập giải phóng Sài Gòn ngày 30/4/1975”.

Nhà văn Trầm Hương đã không khắc họa được nhân vật Vạn như một chiến sĩ cách mạng trong đời thực giai đoạn từ trước cách mạng tháng 8/1945, đến kháng chiến chống Mỹ. Vạn chỉ liên lạc và nhận nhiệm vụ từ 2 người là luật sư Thành (I.tr.143) và bác sĩ Nghĩa (I.tr.159). BS Nghĩa “đã chỉ đạo Vạn kết thân với Nagamoto, sẽ cài Vạn vào một lực lượng thân Nhật…Đó cũng là sứ mạng của Vạn trong đường dây thầm lặng của người luật sư Cộng Sản” (I.tr.227). Luật sư Thành ra tù, bí mật gặp Vạn, giao nhiệm vụ: “cậu phải đột nhập vào sao huyệt võ trang thân Nhật của bà Năm Sương Thu. Cậu phải tìm cách ngăn chặn sự tác hại của đội quân này, đưa họ về với con đường dân tộc” (I.tr.274). “Công việc của cậu là khoác lên vỏ bọc thân Nhật… hóa giải những bi kịch lầm đường, tìm cách thu và chôn giấu vũ khí Nhật cướp được từ Pháp để khi cần là chúng ta đã có vũ khí” (I.tr.274-275). Tác phẩm có miêu tả một chuyến Vạn cùng Jeannette chở vũ khí mua được vào bưng biền, nhưng không thấy Vạn thực hiện nhiệm vụ làm tan rã đội quân của bà Năm Sương Thu như thế nào. Ở trong nhà bà Năm Sương Thu, Vạn chỉ là thầy giáo thầm lặng.

Thời gian Vạn ở trong tù, chỉ có mình Jeannette xoay sở để cứu ông. Tuyệt nhiên không có tổ chức cơ sở Đảng nào hỗ trợ ông.

Cũng vậy, sau khi ra tù, ông được đưa về Tổng nha cảnh sát, “ông thấy mình cô đơn, lạc lõng, không người thân”(II.tr.180). “Ông bước đi một cách vô định”(II.tr.181). Sau cùng ông đón xích lô đến nhà Jeannette. Vạn rơi vào tình trạng trầm cảm và suy kiệt, Jeannette phải tìm cách hồi sinh ông. Trong cuộc hội ngộ giữa Jeannette và Vạn, tác giả tường thuật: “Sự hy sinh lớn nhất của ông là mất Jeannette” (II.tr.191),”Mất tình yêu làm ông trống rỗng” (II.tr.192). Không có đồng chí hay tổ chức Đảng nào đón ông, để ông nối lại với tổ chức tiếp tục công tác cách mạng. Phải chăng do quan hệ “lén lút” với Jeannette gây ra hậu quả nghiêm trọng, Vạn đã bị tổ chức bỏ rơi?

Sau đó Vạn được Jeannette tìm việc làm. Ông làm quản lý cho Việt Nam Stevedore. Một cơ sở làm ăn của anh Pierre (II.tr.202). Ở đây, “Vạn cũng biết tìm gái cho những ông chủ Mỹ”(II.tr.226). Rồi Vạn chung sống với Hoa, một cô gái bị lính Mỹ hiếp. Đến cuối năm 1990, Hoa và 3 đứa con của ông đi Mỹ diện con lai (Đoan Trang là con lai Mỹ, con riêng của Hoa). Vạn không đi.”Vạn lang thang vô định trên những con đường ngang dọc...”(II.tr 394). Vạn bán nhà cũ (nơi có 2 con bị sát hại) mua nhà nhỏ ở Thủ Đức. Ông cho cô Tím ở trọ phía sau và từ chối tình yêu của cô.

Ông viết nhật ký, nhưng không nhắc lại đời họat động, chỉ nhắc tình yêu với Jean (II.tr.415). Ông triết lý:Ôi, lý tưởng, hoài bão, ước mơ vá biển lấp trời của ta rốt cuộc đều thua trước thực tế đàn bà. Không có cái thực tế ấy, đôi cánh chim bằng thế là bị cắt rụng. Những người đàn ông không thể sống thiếu đàn bà” (II.tr.420).

Do đâu nhân vật Vạn, một chiến sĩ cách mạng trung kiên, đến cuối đời lại cô độc và có cái nhìn bi đát như vậy. Quý là chồng Jeannette đã nhận xét về Vạn: “Ông Vạn đã lợi dụng cách mạng để làm nhiều việc mà nếu là một người cách mạng chân chính không thể làm được”(II.tr.381).

Sau khi Vạn qua đời, Jeannette phải lo hậu sự cho ông. Jeannette không biết tính toán làm sao, vì người thân của Vạn chẳng còn ai (vợ con đã đi Mỹ). Sau có người bạn tù của Vạn đề nghị đưa tro cốt Vạn vào nghĩa trang liệt sĩ. Ông ta nói: “Tiêu chuẩn xây mộ ở đây thì khó chớ chỉ để cái hũ thì dễ. Nhiều bạn tù của ông Vạn cũng được đặt trong tòa nhà tưởng niệm ở nghĩa trang. Bà cho ông quản trang chút đỉnh tiền, đảm bảo bạn tôi được hương khói đầy đủ” (II.tr.447). Nghĩa là muốn được để tro cốt của Vạn trong nghĩa trang liệt sĩ, Jeannette cũng phải lo lót tiền cho ông quản trang. Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, hoạt động từ trước 1945 sao lại được đối xử như vậy?

Nhân vật luật sư Thành và bác sĩ Nghĩa (hai lãnh đạo cách mạng trực tiếp của Vạn) mất hút trong tác phẩm. Người đọc không biết hai người này là ai, trong tổ chức nào của Đảng. Tác phẩm không miêu tả quan hệ gì của hai ông với Vạn kể từ khi Vạn bị mật thám bắt đày ra Côn Đảo. Tổ chức Đảng và các hoạt động của Đảng cũng không được nói đến. Nhà văn chỉ viết chung về “những người cộng sản”, có nhắc đến tên (mà không miêu tả hoạt động) của những người trí thức dấn thân cách mạng (I.tr.475) như Huỳnh Tấn Phát, Hà Huy Giáp, Phạm Ngọc Thuần, Nguyễn Văn Hưởng, BS Phạm Ngọc Thạch… qua suy nghĩ của Nagamoto, có nhắc đến việc Bí thư xứ ủy Trần Văn Giàu diễn thuyết hùng hồn trong ngày 2/9/1945 tại đại lộ Norodom (I.tr.347).

Như vậy, xét cả việc miêu tả bối cảnh lịch sử, cùng với việc xây dựng nhân vật người chiến sĩ cách mạng, ngòi bút Trầm Hương đã không phản ánh được chân thực quá trình cách mạng và kháng chiến nhiều thập kỷ của dân tộc. Đến cuối tác phẩm, tác giả vẫn khẳng định Trong cơn lốc xoáy là một truyện tình lãng mạn. Vạn đã viết cho Jeannette: “Anh không biết mình sẽ ra đi vào lúc nào. Nhưng còn sống, còn thở anh vẫn yêu em, nhớ đến em. Anh chỉ có một lời khẩn cầu duy nhất với cuộc đời là trước khi ra đi, được em tha thứ…”(II.tr.439).Anh ước nguyện trước khi chết được gặp em…hãy yêu thương anh”(II.tr.440).

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ

             Trong cơn lốc xoáy viết về “người thật việc thật” (thể ký) là bà Jeannette lại trở thành tiểu thuyết tình cảm lãng mạn; tiểu thuyết được giải thưởng về đề tài cách mạng và kháng chiến, nhưng tác giả lại không có chủ đích viết về cách mạng và kháng chiến… Do đâu có những mâu thuẫn như vậy?

Sự lúng túng của nhà văn bắt nguồn từ cách viết trung thành với cuộc đời thực của nguyên mẫu (từ nhỏ đến khi già) trái với những nguyên tắc của hư cấu nghệ thuật về một chuyện tình lãng mạn.

Nhân vật Vạn Trong cơn lốc xoáy là một nhân tố để tác giả thực hiện chủ đề “vết thương sâu” trong lòng Jeannette, và bên cạnh còn những nhân tố khác là Henry, Lucien, Nagamoto, Trần Nhơn, Gasto, Cala, Theodor, dược sĩ Cao và ông Quý cùng với các đứa con của Jeannette.

Nhưng cũng phải thấy rằng, Jeannette có nhiều điều kiện để chọn lựa một cuộc đời hạnh phúc. Ngay từ tình yêu đầu tiên, nếu Jeannette lấy Henry “Cô có thể trở thành một mệnh phụ giàu có, vợ một vị tướng quyền uy, sống trong yên bình hạnh phúc(I.tr.216), hoặc sau này khi sang Paris, Jeannette cũng có thể lấy De Marcelange và cả khi đã lớn tuổi, Jeannette cũng có thể đi chung con đường hạnh phúc với Merryl Clifford về Mỹ. (Thúy Kiều trong Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du không được quyền chọn lựa hạnh phúc).

Lý giải về cuộc đời Jeannette, tác giả vin vào “số phận”. “Jeannette như một cánh bèo trôi dạt theo dòng thời cuộc…”(I.tr.315). Bà Hai Antoine, mẹ ruột Jeannette cho rằng Jeannette “hồng nhan bạc phận” (II.tr.43). Tác giả bình luận: “Số phận đẩy họ xa nhau, quăng họ vào cơn lốc xoáy cuộc đời,…họ gặp lại nhau,... Một người đàn ông bị biến dạng sau 15 năm tù ở Côn Đảo. Một người đàn bà không còn vú, không còn tử cung. Họ chỉ còn nước mắt…” (II.tr.332). Và khi cô Hai Berth Minh, chị của ông Cao chết, Jeannette còn cảm nhận “sự vô thường của cuộc đời” (II.tr.392). Sự gắn ghép tư tưởng phương Đông vào tính cách một nhân vật phương Tây thực dụng như Jeannette Trong cơn lốc xoáy có chỗ còn “sượng”, phải chăng ngòi bút Trầm Hương chưa đủ “chín”để viết một tác phẩm tư tưởng? Điều này khác rất xa với Nguyễn Du khi ông xây dựng nhân vật Thúy Kiều thành một nhân vật tư tưởng chuyển tải thuyết “Tài mệnh tương đố”, sau đó Nguyễn Du dùng thuyết Thiên mệnh và chữ “Tâm” của Phật giáo để lý giải những bể dâu của kiếp người.

Nếu chỉ viết về cuộc đời “hồng nhan bạc phận” của Jeannette, thì cuốn tiểu thuyết có thể rút gọn được hàng trăm trang. Tuổi thơ của Jeannette và tuổi thơ của Vạn (30 chương đầu) chỉ cần viết gọn trong một chương. Những chương viết về Eveline. Chance, Lan, Măng,…gây ra đau khổ cho Jeannette cũng có thể rút gọn thành một chương. Cả những chương Vạn làm việc cho Việt Nam Stevedore, “biết tìm gái cho những ông chủ Mỹ”, rồi lấy Hoa, một cô gái làm sở Mỹ bị lính Mỹ hiếp có thai, và việc hai đứa con Vạn bị sát hại cũng không cần thiết, vì chỉ làm hỏng giá trị nhân vật “người chiến sĩ cách mạng” của Vạn. Việc Jeannette gặp lại Vạn, sống “lén lút” với Vạn, dù chẳng còn gì cho nhau mà dẫn đến đổ vỡ, cũng làm tổn hại đến cuộc tình lý tưởng của hai người.

Cái thiếu nhất của tác phẩm là vắng bóng một tư tưởng có ý nghĩa triết học làm nền để Trong cơn lốc xoáy trở thành một tác phẩm lớn. Tại sao cuộc đời Jeannette lại diễn ra như vậy? Tác giả không lý giải được. Viết lại cuộc đời bà Jeannette, ngòi bút Trẩm Hương kể truyện một cách tự nhiên chủ nghĩa, vì thế tác giả không thể hư cấu thành một tác phẩm văn chương chứa đựng tư tưởng riêng của mình. Trong cơn lốc xoáy có những trang văn không thuyết phục là do sự mâu thuẫn giữa cách viết về người thật việc thật và ước muốn xây dựng một tác phẩm tư tưởng về thân phận người phụ nữ trong cơn dâu bể.

Điều này cũng gây ra những cảm nhận trái chiều trong “tầm đón đợi” của bạn đọc. Người Việt đã quen yêu mến những nhân vật có phẩm chất văn hóa Việt, nhưng Jeannette xa lạ với những truyền thống văn hóa ấy. Việc Jeannette chung đụng xác thịt với nhiều người đàn ông, yêu một người lại sống hai mặt với một người khác và nhiều lần dẫn con đi phá thai, Jeanette đã sống rất khác với văn hóa Việt, tôi nghĩ Jeannette khó chinh phục được thiện cảm của bạn đọc Việt! Nhân vật Vạn cũng xa lạ với kiểu nhân vật “người chiến sĩ cách mạng” đã quen trong Văn học cách mạng Việt Nam. Những cách xây dựng nhân vật như thế tuy có “mới” trong tiểu thuyệt Việt đương đại, song không khỏi gây ra những nghi ngại (tuy không nói ra). Nếu Trong cơn lốc xoáy là tác phẩm viết cho công chúng Pháp hoặc cho công chúng của văn chương thị trường thì không cần phải đặt ra bất cứ vấn đề lý luận nào.

              Trong cơn lốc xoáy là tác phẩm tâm huyết viết trong 10 năm của tác giả, tôi nghĩ, bạn đọc cần hiểu mục đích viết của tác giả hơn là “kỳ vọng” về những gì mình mong muốn ở tác phẩm. Đó là “thông điệp về những vết thương sâu trong lòng của những con người trong cơn biến động của lịch sử.

Tôi chú ý đến chỗ độc đáo này của ngòi bút Trầm Hương. Đó là tác giả trình bày một hiện thực với những góc nhìn trái ngược nhau (bút pháp hiện thực), cùng với những nhân vật có cá tính không giống với đời thường (bút pháp lãng mạn). Cách viết này tạo ra sự hấp dẫn, và gợi được nhiều vấn đề để người đọc suy gẫm. Trong tác phẩm, ngòi bút của tác giả nghiêng về phía “truyền thống” (ngợi ca cách mạng, ngợi ca tình yêu thủy chung, ngợi ca tự do…) thì nhân vật lại làm ngược lại. Giữa những điều trái ngược, người đọc phải tự mình chọn lựa một thái độ tiếp cận tác phẩm.

Chẳng hạn, tác phẩm văn học “truyền thống” luôn ca ngợi cách mạng và kháng chiến thì Jeannette lại cho rằng: “Cách mạng là gì? Kháng chiến là gì?Tại sao lại khắc nghiệt với chúng ta như vậy?”(I.tr.455).Trong khi tác giả khẳng định Vạn là chiến sĩ cách mạng trung kiên thì Quý, chồng Jeannette đã nhận xét: “Ông Vạn đã lợi dụng cách mạng để làm nhiều việc mà nếu là một người cách mạng chân chính không thể làm được” (II.tr.381). Nhân vật Jeannette tập trung nhiều đánh giá trái ngược nhau gay gắt.

Đọc Trong cơn lốc xoáy, tôi thấy thấp thoáng cách viết của V. Hugo. Trong Những người khốn khổ (Les Misérables), V. Hugo viết về  những con người khốn khổ trên nền của cách mạng Pháp với một tư tưởng nhân văn sâu sắc. Trầm Hương cũng khai thác những vết thương sâu trong lòng của những con người trong cơn biến động của lịch sử Việt Nam (rất tiếc, cách viết còn bị giới hạn). Dù sao, việc tác giả giữ được cảm xúc của ngòi bút trong 10 năm để viết 1024 trang truyện đã là một nỗ lực đáng khâm phục và trân trọng. Sự hấp dẫn của tác phẩm đối với bạn đọc là sự thành công của tài năng và tâm huyết. Và “những vấn đề” mà Trong cơn lốc xoáy đặt ra sẽ còn gợi ra được nhiều điều cho các nhà phê bình văn học trong tương lai.

 

Tháng 7/ 2019

__________________

[1] vanchuongphuongnam

[2] Ngọc Bích.

https://voh.com.vn/van-hoa-giai-tri/10-nam-cho-bo-tieu-thuyet-trong-con-loc-xoay-203352.html

PHẢN HỒI CỦA NHÀ VĂN TRẦM HƯƠNG VỀ BÀI VIẾT (qua email ngày 06/7/2019)

Cảm ơn anh đã chịu khó đọc hơn 1000 trang “Trong cơn lốc xoáy”

Cảm ơn anh đã có những phản biện.

Vài chi tiết, mong anh đọc lại kỹ. Vạn thực sự đến với Jeannette khi cô đã sinh con và con cô chết trong bệnh viện. Nagamoto  bị  bắt vào nhà giam. Jeannette không  hề có tình yêu sâu đậm với Nagomoto, nên việc cô đến với Vạn cũng là điều có thể hiểu được.

Việc dùng từ “quân đội Bắc Việt” và “Họ” ở đây là Trầm Hương đứng dưới góc quan sát của nhân vật.

Jeannette chỉ là một phụ nữ bình thường,  Nhưng cô sinh ra trong một xã hội đầy biến động. Cô lúng túng, bị lốc xoáy cuốn đi cũng là điều dễ hiểu

Trầm Hương không muốn giải thích rạch ròi những điều anh đưa ra vì nếu làm được vậy thì xã hội ngày nay đã là thiên đường. Nghịch lý cuộc đời những nhân vật là cảm hứng để nhà văn cầm bút. Dưới góc nhìn một phụ nữ, Trầm Hương có những đồng cảm với nhân vật Jeannette để viết. Trong âm nhạc có những nốt lặng. Văn chương cũng vậy thôi. Nếu luật pháp, chính sách làm được hết, làm được rạch ròi thì Trầm Hương đã không phải dành hơn 10 năm đề đọc, tiếp xúc nhân vật, suy ngẫm và viết “Trong cơn lốc xoáy”

Khi cho ra đời :Trong cơn lốc xoáy”, Trầm Hương cũng hiểu sẽ có những cái nhìn nhiều chiều về tác phẩm của mình. Nhân vật Jeannette và một nhân vật đa tính cách. Cả Vạn cũng vậy. Họ là những con người bình thường. Vạn như bao thanh niên trí thức thời mất nước, sẵn sàng xếp bút nghiên, lao vào cuộc chiến đấu cho nền độc lập, Lòng yêu nước đã giúp vạn làm được những việc khó. Ông đã làm được nhiều việc lớn: phá rã đội quân Cao Đài thân Nhật, đưa đội quân ấy gia nhập kháng chiến; cung cấp tiền bạc, thuốc men, vũ khí cho kháng chiến… Ông đã làm được những việc khó ấy trong bối cảnh cuộc kháng chiến cũng rất khó khăn, phức tạp. Nhưng ông cũng là một người đàn ông có những giằng xé: vừa muốn giữ Jeannette riêng cho mình, vừa muốn cô được sống một cuộc đời bình yên…

Chắc hẳn anh cũng thông cảm cho Trầm Hương khi tác phẩm của mình bỏ lững nhiều nhân vật. Lịch sử đất nước mình có biết bao điều biến động hơn một thế kỷ. Có những người hôm qua còn tôn thờ hình mẫu nhân vật nào đó, vài chục năm sau họ  đã quay lưng.

Nhưng vào thời điểm cách mạng tháng tám, rõ ràng quá hào khí!

Tóm lại, Trầm Hương viết về góc nhìn một phụ nữ bé nhỏ trong dòng chảy lịch sử. bối cảnh xã hội quá khốc liệt, xin đừng quá  khe khắt với những đứa con hư của Jeanette, vì cả xã hội miền Nam thời ấy cũng quá đảo điên. Chính sự đổ vỡ, thất bại làm mẹ của Jeannette cho chúng ta nhìn thấy để được làm một người phụ nữ bình thường trên đất nước trải qua quá nhiều biến động của chiến tranh là điều thật  không dễ dàng. Cuối đời, bà đã về Việt Nam, chỉ để chết trên mãnh đất bà  sinh ra, cũng đủ cho chúng ta nhìn thấy khát vọng hạnh phúc và nỗ lực hàn gắn những vết thương sâu trong lòng mỗi người.

Ông Quý có cái nhìn về Jeannette và Vạn đầy cay nghiệt cũng là điều dễ hiểu khi đó là cái nhìn của một người đàn ông nhận ra trái tim người vợ không có chỗ dành cho mình. Khi lấy Jeannette ông hứa nếu “Anh Sáu trở về thì tôi sẽ trả em lại cho anh ấy”. Nhưng có được Jeannette rồi,  ông cũng ích kỷ và ghen tuông thường tình…

Trầm Hương không xây dựng nhân vật điển hình để mọi người noi gương vì văn học thời chiến tranh cách mạng đã làm rất tốt nhiệm vụ này.

Trầm Hương lớn lên sau chiến tranh, là phụ nữ nên dễ đồng cảm với thân  phận và những giọt nước mắt của phụ nữ. Điều hạnh phúc của Tràm Hương  là khi khép lại trang sách, độc giả còn suy ngẫm và thắc mắc. Kiều của Nguyễn Du cũng được nhiều người hiểu ở nhiều góc cạnh…

Cũng thật lòng cảm ơn những phản biện để biết thêm khuynh hướng của nhiều độc giả.

***

“THẾ GIỚI XÔ LỆCH” VÀ NHỮNG GÓC TIẾP CẬN- BÙI CÔNG THUẤN

THẾ GIỚI XÔ LỆCH” VÀ NHỮNG GÓC TIẾP CẬN

Bùi Công Thuấn

Thế giới xô lệch

 

Đến nay (2019) Thế giới xô lệch của nhà văn Bích Ngân đã xuất bản được 10 năm (tháng 12.2009) và được tái bản nhiều lần. Đó là quãng thời gian đủ để một tác phẩm văn chương sống trong lòng người đọc thế nào, cũng là quãng thời gian để tác phẩm có còn nói được tiếng nói của hôm nay hay đã trở thành tiếng nói một thời quá vãng. Tôi chú ý đến các hướng tiếp cận tác phẩm và xem những góc nhìn nào khả dĩ đọc được tác phẩm?

SỰ NGỘ NHẬN CỦA MỘT GÓC NHÌN

Cuộc tọa đàm 17/3/2010 về tiểu thuyết Thế giới xô lệch có mặt nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu với những góc nhìn khác nhau, soi rọi khá toàn diện về nhiều vấn đề. Đó là các nhà văn Trung Trung Đỉnh, Dạ Ngân, Lý Lan, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Khôi Vũ, Mai Sơn, Trần Thùy Mai; các dịch giả Phạm Viêm Phương, Nguyễn Lệ Chi; nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên; nhà nghiên cứu văn học Nhật Chiêu; và các nhà văn nhà thơ trẻ như: Trần Nhã Thụy, Dương Bình Nguyên, Vũ Đình Giang, Phan Hồn Nhiên, Trương Trọng Nghĩa…

Nhà văn Trung Trung Đỉnh cho rằng tiểu thuyết Thế giới xô lệch nằm trong

luồng tiểu thuyết mới viết về thế sự. Nhà văn Dạ Ngân nhận xét: “Xô lệch như vậy là còn ít, là chưa thấm tháp gì so với hiện thực hay so với sự chưng cất nếu người đọc đòi hỏi cao hơn.”…” tác giả dường như vẫn còn hơi chần chừ, do dự, rón rén trong sự triển khai. Đáng lẽ ra những nhân vật, số phận trong tiểu thuyết cần phải “xô lệch” hơn nữa thì tuyệt vời biết bao Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: “Thế giới xô lệch” chỉ mới “xô” chứ chưa “lệch”. Bích Ngân đã chọn được ý tưởng hay, đặc sắc để triển khai nhưng chưa đẩy đến tận cùng”. [1]

Nhà văn Bích Ngân, tác giả, nói về chất liệu sáng tác: Chất liệu viết nên cuốn tiểu thuyết này được tôi manh nha sau những lần đến thăm một quân y viện, lúc đó tôi là phóng viên của một tờ báo. Khi thăm hai trại thương binh (một trại dành riêng cho người mất chân trái và một trại dành cho người mất chân phải), tôi nấn ná thật lâu ở trại thương binh toàn người trai trẻ bị mất hết hai chân do vướng bom mìn. Nhìn gương mặt trẻ măng và cặp mắt trong veo của họ, lòng tôi đau nhói, rồi tôi không sao cầm được nước mắt khi nghĩ, nếu họ là anh trai, em trai hay là người yêu của tôi. Hình ảnh và ý nghĩ đó ám ảnh tôi và nhân vật của tôi dần hình thành.”

Chủ đích của tác giả là: Điều tôi muốn viết về thương binh không phải là chiến tranh, thứ đã cướp đi một phần thân thể họ mà là cuộc sống sau đó, cuộc sống vốn dĩ bình thường lại trở nên bất thường vì sự thay đổi của chính người lính Với thương binh, chiến tranh vẫn còn đó, một cuộc chiến khác, cuộc chiến của sự hòa nhập, cuộc chiến của sự tồn tại…”[2]

Có thể nhận thấy những ý kiến tôi vửa dẫn ra ở trên đều xuất phát từ góc nhìn “văn học phản ánh hiện thực”. Vì thế có ý kiến yêu cầu tác giả cần phải “xô lệch hơn nữa”, nghĩa là đòi hỏi nhà văn phải phản ánh cho được hiện thực xô lệch lớn lao hơn nữa, triệt để hơn nữa của cuộc sống hôm nay.

Tôi cho rằng đây là một ngộ nhận. Bích Ngân viết Thế giới xô lệch không phải là để  “phản ánh hiện thực”, đành rằng chất liệu tiểu thuyết là hiện thực.

Câu truyện chỉ gói gọn trong một gia đình, không có những quan hệ xã hội chằng chịt. Gia đình ấy có nhân vật Tôi, cha mẹ, anh chị, cùng với ký ức về ông nội, bà nội, người chú vượt biên mất tích, người em chết non. “Những nhân vật ấy xét cho cùng, đều thẳng thớm và lành lặn..”(Dạ Ngân). Chính tác giả cũng xác nhận: Các thành viên của gia đình trong Thế giới xô lệch, nhìn ở một góc hết sức bình thường thì đều là những con người tử tế, thậm chí họ còn có lối sống mẫu mực. Họ đều có chữ nghĩa, biết đọc sách, biết thưởng thức âm nhạc, biết lưu giữ ký ức, biết phản biện, biết tự vấn và biết thương yêu nhau.”[3]

Những gì gọi là “hiện thực” được miêu tả chỉ là những “hiện tượng” được nhìn thấy và nhận thức qua con mắt của nhân vật Tôi, người ngồi trong xe lăn, ở một góc nhà. Đó là “hiện tượng” chị gái ngoại tình bị anh rể tra vấn, nhưng thực hư người đàn ông của chị là ai, ở đâu, Tôi không biết. Sau này Tôi hỏi chị, chị chỉ nói người tình ấy “chết rồi”. Đó là “hiện tượng” anh trai làm ăn thế nào mà có cửa nhà khang trang, xe hơi bóng loáng, Tôi cũng không biết. Đó là “hiện tượng” người vợ đua đòi, mua xe Honda trả góp, rồi học nhảy, Tôi cũng chỉ nghe vợ nói. Tôi không biết sự việc cụ thể sinh hoạt của vợ như thế nào. Những chuyện về người chú, về ông nội cũng chỉ là nghe kể lại. Nhân vật Tôi như một người bị bịt mắt mà mãi về sau mới đượctháo ra tấm băng che mắt.”(tr.276. Thế giới xô lệch, Nxb HNV 2009).

Người đọc không tìm thấy địa chỉ cụ thể của gia đình này ở đâu. Hình như đâu đó ở miền tây. Trong truyện có một địa danh duy nhất là kênh Dừa, cũng không rõ ở tỉnh nào. Nhân vật người cha cũng chỉ được hé lộ vài nét. Ông là một quan chức liêm chính. “Ba tôi giống ông nội, gương mặt vuông, vầng trán cao, mắt sâu, mũi thẳng. và đôi tay nữa” (tr.43 sđd). Ông sắp tuổi hưu (tr.44 sđd). Ba tôi biết đàn, biết hát, biết viết kịch, biết làm thơ (tr. 59 sđd). Ông tin hoa thơm lấn dần cỏ dại. Ông tin cái thiện luôn thắng cái ác. Ông tin con đường ngắn nhất để con người đến với nhau là con đường từ trái tim đến trái tim. Và ông tin vào sự trong sạch, trước hết là của chính mình”(tr.183 sđd). Đó là nhận thức của Tôi về cha. Còn ông ta làm việc gì, cơ quan của ông ở đâu, nhân thân xã hội của ông thế nào không được tác giả nói đến.

Nhân vật Tôi, trong gia đình gọi là Út, sinh ra ở vùng sông nước miền tây. Từng đậu Đại học Hàng hải, ước mơ chỉ huy con tàu hiện đại, con tàu đưa Tôi tới những xứ sở mới (tr.136, sđd). Tôi đầu quân sang Campuchia. Chuyến ra quân đầu tiên tôi đã vướng mìn, dù chưa một lần ra trận. Tác giả không cho biết Tôi ở đơn vị nào, bị mìn ở chiến trường nào bên Campuchia. Trở về đời thường, Tôi là một thương binh cụt hai chân, có sổ thương binh, nhưng Tôi không hề có bất cứ quan hệ xã hội nào, không sinh hoạt trong hội thương binh. Nhân vật Tôi chỉ ở trong nhà, phụ má việc may quần áo. Có đi xem kịch với má và lăn xe đến chỗ chị ở để chia sẻ tâm sự. Những lần như thế Tôi qua phố, nhìn vu vơ.

Với một nội dung truyện như thế, người đọc muốn tìm xem nhà văn Bích Ngân phản ánh hiện thực gì, thì đó sẽ là phiến diện, và nói đến “giá trị phản ánh hiện thực”của tác phẩm là không thể.

Đành rằng, văn học luôn phản ánh hiện thực. Thế nên, người đọc mơ hồ thấy có bóng dáng những chuyện tiêu cực xã hội như chuyện ăn cắp điện của người chú, tài xế ăn cắp xăng và kê không tiền sửa xe, người anh chiếm hữu tài sản công nhờ đó giàu lên rất nhanh, và ngay chính sự liêm chính của người cha cũng trở thành mối lợi cho nhiều người khác…Đúng như nhà văn Dạ Ngân nhận xét, những chuyện tiêu cực như thế là chưa thấm tháp gì so với hiện thực hôm nay. “Giá trị hiện thực” không phải là giá trị của Thế giới xô lệch, càng không phải là yếu tố cuốn hút người đọc.

Có ý kiến cho rằng trong Thế giới xô lệch, Bích Ngân viết về thương binh, viết về đời sống của họ sau chiến tranh, và thông qua đó viết về chiến tranh (tức là phản ánh hiện thực), điều ấy cũng nằm ngoài ý nghĩa của cấu trúc tác phẩm. Bởi nhân vật Tôi, thương binh cụt hai chân, không được miêu tả nhân thân xã hội, tức là những phẩm chất của người lính cách mạng, có lý tưởng, căm thù giặc, gắn bó với nhân dân, chiến thắng gian khổ, không sợ hy sinh…Trong tác phẩm, Tôi có gặp người bạn đào ngũ giờ làm chủ tịch phường. Đó là một hình ảnh tương phản với Tôi và có hàm nghĩa, Và khi Tôi lăn xe trên phố, nhìn xe cộ chạy qua, “Tôi không ngăn được ý nghĩ hằn học tối tăm là, chính bánh xe của những chiếc ô tô bóng loáng như chiếc xe anh tôi đang đi đã cán nát, đã lấy đi đôi chân tôi”(tr. 256 sđd) Những chi tiết như thế không thể được coi là viết về thương binh hay viết về chiến tranh được.

Vậy nếu Thế giới xô lệch không phản ánh hiện thực, không nằm trong dòng văn chương thế sự, không viết về chiến tranh thì tác phẩm thuộc dòng văn chương nào? TS Trần Hoài Anh trong bài viết “ Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong Thế giới xô lệch”(24/3/2016)[4] cho rằng Thế giới xô lệch là một tác phẩm có tính triết luận sâu sắc, nhưng ông cũng nhìn tác phẩm qua góc nhìn “phản ánh hiện thực”. Ông cho rằng với Bích Ngân, “cái nhìn hiện thực đa chiều, đa diện như nó vốn có. Thế giới xô lệch chính là một cuộc “giải phẫu” khá sâu sắc và tinh tế về tâm thức và tâm cảm của con người Việt Nam thời hậu chiến.

Tôi cho rằng Thế giới xô lệch là sự chưng cất những vấn đề của hiện thực để thành một tác phẩm tư tưởng. Sự thành công của tác phẩm tùy thuộc vào tài năng nghệ thuật của tác giả. Nhưng nếu gọi Thế giới xô lệch là một tác phẩm tư tưởng (kiểu triết luận), thì tôi e rằng ngòi bút của Bích Ngân chưa vượt qua được giới hạn. Điều này tôi tin rằng Bích Ngân “nhận ra được những giới hạn, đặc biệt những giới hạn không thể vượt qua của mình” (tr.274, sđd)

NHỮNG VẤN ĐỀ THÚ VỊ CỦA LÝ LUẬN PHÊ BÌNH

Tác phẩm là một cấu trúc, một thế giới nghệ thuật. Nghĩa của tác phẩm là nghĩa do cấu trúc ngôn ngữ nghệ thuật tạo ra, không phải là nghĩa do người đọc gán cho nó. Tác phẩm cũng là một sinh mệnh biệt lập với tác giả, thế nên nếu tác giả có chủ đích đặt vào tác phẩm một nghĩa chủ quan nào đó thì cái ý nghĩa chủ quan ấy, nhiều khi trở thành một bộ phận lắp ghép bị hoại tử. Và ngày nay, “Thuyết Người đọc” chú ý đến nghĩa của “cộng đồng diễn dịch”, nghĩa của “tầm đón đợi”. Thế nghĩa là văn bản tác phẩm trở thành nguồn tạo nghĩa, và sự đa nghĩa của tác phẩm xuất phát từ góc nhìn. Và những lớp nghĩa này nhiều khi không trùng khớp với nhau. Đọc Thế giới xô lệch, tôi không thấy tác giả thực sự hướng ngòi bút của mình về việc phản ánh đời sống thương binh hay có ý thức khám phá chiến tranh như góc nhì văn học phản ánh hiện thực.

Nói nghĩa của tác phẩm nằm trong cấu trúc là nghĩa được tạo ra từ sự tương quan giữa các yếu tố của cấu trúc. Đó là lớp vỏ ngôn ngữ, là hình tượng nhân vật, là tình huống, là cốt truyện, là bút pháp, là tư tưởng thẩm mỹ…Trong Thế giới xô lệch, nghĩa của tác phẩm trước hết xuất phát từ nhân vật Tôi, nhân vật trung tâm, trong tương quan với các thành viên gia đình, trong những tình huống mà Tôi can dự vào, trong thái độ miêu tả và cả trong mục đích diễn ngôn của tác giả…

Bởi vì, trước hết, Tôi là nhân vật trần thuật. Tôi kết nối các nhân vật khác. Tôi phát hiện ra các vấn đề của Tôi và của tha nhân, Tôi tra vấn hiện thực. Tôi cũng là kiểu nhân vật được tác giả chọn lựa, để thực hiện một cách viết và Tôi là diễn ngôn của chính tác giả (tác giả hóa thân vào Tôi).

Nhân vật Tôi là kiểu nhân vật kẻ tật nguyền. Người tật nguyền (do chiến tranh, tai nạn, bệnh tật hay bẩm sinh), theo tôi, thường là những người có thế giới nội tâm không ngừng xê dịch với giằng xé âm thầm và họ chiếm một số lượng không nhỏ trong cộng đồng…”(Bích Ngân, đd). Nhân vật Tôi quan sát hiện tượng và nhận thức để đi đến ý thức. Trong Thế giới xô lệch, nhân vật Tôi là nhân vật ý thức, kiểu nhân vật tư tưởng. Có một dòng tậm trạng luôn trôi chảy trong Tôi, và nhiều khi ngòi bút của Bích Ngân tiếp cận được với cách viết “dòng ý thức” của văn chương Hiện sinh. Tôi ý thức về Tôi, tôi ý thức về tha nhân, ý thức về sự sống, đau khổ và hạnh phúc.

Đối chiếu với mọi người, tôi ý thức sâu sắc về sự tật nguyền, sự đau khổ cả về thể xác và tâm hồn. Hình ảnh chỗ hai ống quần bùng nhùng, hình ảnh về đôi chân bị mất và sự tương phản với những đôi chân lành lặn là điều ám ảnh nhất đối với tôi. Tôi ý thức mình là “con thú tật nguyền” (tr. 6, Sđd). Đoạn văn này cực tả thảm trạng của sự tật nguyền: “…những đứa bạn bị tàn phế mà không chết như tôi, ngoài mấy đứa còn cưới được vợ có con, số còn lại đều mắc thêm một vài tật xấu nào đó. Thằng làm càn, đập phá. Thằng chửi rủa, la hét.  Thằng cạy miệng không nói lời nào.Thằng nằm ngửa hát nghêu ngao. Thằng hứng lên tuột quần khoe “của quý”. Thắng mân mê hình cố nhân rồi tru lên như chó dại…” (tr. 88, sđd).

Và giấc mơ về những đôi chân của Tôi thì thật là khủng khiếp: “…Khi đến gần, tôi nhận ra đó là những hình thù không đầu, không mình, chỉ có chân. Những đôi chân. Vô số những đôi chân./ Những đôi chân trần trụi máu me, những đôi chân trắng lốp vòng băng, những đôi chân lùng nhùng trong ống quần màu cỏ úa./ Chúng hung hăng xô lấn. Chúng lăn xả vào bất kể thứ gì cản trở đường đi của chúng./ Chúng bườn lên người tôi, khiến tôi hét lên./  Tôi toát mồ hôi đầm đìa…” (tr. 90, sđd)

Và tôi ý thức về tôi như một con vật bản năng: “Tôi thấy mình cũng chẳng khác gì con Phèn. Cũng sợ đau, sợ đói, sợ lạnh, sợ bị bỏ rơi và cũng sục sạo tìm cái ăn cái uống khi đói khi khát cũng lùng tìm một cái lỗ để sục vào đó tất cả tinh lực khát thèm, trút vào đó tất cả nỗi uất ức tuyệt vọng để rồi gào lên trong thú đau sung mãn trong cạn kiệt, trong hấp hối, trong loay hoay không lối thoát để rồi lại tự nguyện cột chặt vào cái thói quen khốn khổ khốn nạn của bản năng. Thói quen ấy đã biến gã tật nguyền thiếu hụt thành một kẻ tôi đòi, bạc nhược kéo lê cái sự sống nửa người nửa ngượm” (tr.243-244, sđd).

Ý thức về sự mất mát đôi chân kéo Tôi về thân phận một con thú tật nguyền kéo lê cuộc sống “nửa người, nửa ngợm”. Nhưng cái phần “người “ mới làm cho tôi đau khổ. Người anh bế Tôi vào phòng tắm, nơi ấy, tôi quan sát và ý thức về sự tật nguyền rõ nhất: “Tôi nhìn xuống cái bụng đang đói của mình. Tôi cầm cục xà bông thơm của anh xát khắp bụng, khắp người, rồi cổ, vai, tay, hai khúc đùi còn lại và sau hết chà nhẹ nhẹ vào chùm sinh dục nhão nhẹo./ Đó là chỗ tôi luôn kỳ cọ kỹ lưỡng nhẹ nhàng và âm thầm nhận ra sự khỏe mạnh nguyên vẹn trong cái thân thể tật nguyền của mình… tôi lại cúi xuống, đưa tay nâng đỡ rồi vuốt ve cái bộ phận đàn ông của mình./ Tôi vuốt ve cho đến khi “thằng nhỏ” ấm lên, săn lại, nóng hổi sinh lực… khát khao một thân thể lành lặn. Khao khát một thân thể…khác mình…”(tr. 33, sđd).

Sự khát khao ấy trở thành thách thức cái phẩm chất “người” của Tôi khi người chị nói: “Khi nào em thành một người đàn ông thực sự, khi ấy em sẽ hiểu chị” (tr.120, sđd). Tôi phải trở thành một người đàn ông, bất luận đó là loại đàn ông nào. Có vậy Tôi mới là Người. Tôi biết, “điều kiện để một thàng con trai to xác, tật nguyền nhưng còn nguyên vẹn cái sinh lực giống đực, trở thành một gã đàn ông, đương nhiên phải có sự chung đụng với một sinh thể khác giống. Là giống cái...”(tr. 122, sđd). Thế nhưng, khi có được vợ, Tôi lại để cô dâu nằm co ro bên cạnh, “tỉnh dậy, Tôi biết Tôi đã chưa làm được cái việc của một người chồng trong đêm động phòng”(tr. 172, sđd).

Từ đây, Tôi ý thức sâu xa về nỗi bất an, sự bơ vơ, sự xa cách, sự bất lực của một con thú tật nguyền. Tôi không thể giúp vợ đóng nổi một cái đinh để móc mùng. Vợ tôi “lia mắt từ đầu tóc, mặt mũi tôi đến thân thể tôi và dừng lại chỗ khúc đùi lùng nhùng sẹo vết, mở miệng: Đàn ông…” rồi bỏ lửng câu nói (tr. 194, sđd). Và “Tôi không ngờ mình lại cam chịu như một người câm và còn khốn khổ hơn một người thiếu khả năng nói(tr.220, sđd).

Tôi ý thức về Tôi và nhận ra Tôi chỉ là con thú tật nguyền với tất cả nỗi khốn khổ tủi nhục, bất lực và tuyệt vọng, thì khi Tôi ý thức với tha nhân, Tôi nhận ra Tha nhân là những “kẻ xa lạ”. Miêu tả điều này, Bích Ngân đặt nhân vật Tôi vào bóng dáng của A.Camus (“Kẻ xa lạ”) và của J. Sartre: “Tha nhân ấy là địa ngục”[5]. Tôi là “kẻ xa lạ” ngay cả với con Phèn, một con chó trung thành trong nhà. “Không ai biết tôi là ai. Mà tôi có là ai thì cũng chẳng đem lại một ý nghĩa nào cho ai”(tr.252, sđd). Ngay cả lúc ở bên vợ, “Lúc bên nhau mà không thể chạm được vào nhau tôi bứt rứt không yên…”(tr.187, sđd), “Vợ tôi đã biến thành một người đàn bà mà tôi chưa từng biết” (235, sđd). Trong mắt tôi, mối quan hệ của anh rể tôi với chị tôi là một mối bất hòa không thể hàn gắn, họ chỉ gây đau khổ cho nhau, và cả người đàn ông chị yêu, cũng không đem lại hạnh phúc cho chị. Ấy là tha nhân. Chị tôi có nỗi đau âm thầm, nỗi đau từ một kẻ kiếm tìm, chơi vơi và vấp ngã (tr.254, sđd). Còn anh tôi, “sự hãnh tiến hời hợt của anh không chỉ là chất cồn sát thương mà còn như trêu ngươi, cười cợt đối với kẻ tật nguyền… Anh và tôi cũng không có cùng một niềm vui và cả nỗi đau. “(tr.255, sđd). Thằng bạn đào ngũ giờ là một Chủ tịch phương, “khó tìm được một thứ ngôn ngữ chung giữa hai kẻ không di chuyển cùng một phương tiện” (tr.256, sđd). Cũng vậy, tôi, anh chị tôi, người tài xế và vợ tôi, đều trở thành “địa ngục” cho cha tôi. Những gì ông yêu thương, những gì ông giữ gìn xây dựng, ngay cả niềm tin của ông, cũng bị tha nhân làm cho sụp đổ. Chương 15, phần V (tr.284, sđd) miêu tả khá hay một cảnh “tha nhân ấy là địa ngục”. Trong căn nhà đóng kín cửa, người cha đã không thể chịu đựng được nỗi đau khi phải đối mặt với những đổ vỡ do tha nhân gây ra là thằng con “bất hiếu”, người tài xế phản chủ, đứa con dâu xấc láo. Đến nỗi ông phải đuổi tên tài xế về và đuổi đứa con dâu ra khỏi nhà.

Xây dựng nhân vật Tôi có ý thức Hiện sinh với ý tưởng của A.Camus và của J.Sartre (?), nhưng Bích Ngân vượt qua những triết gia hiện sinh này. Nhà văn để cho nhân vật tự tháo cái miếng bịt mắt mình ra mà tự cứu rỗi. Anh tôi nhất quyết xin thôi việc Nhà nước để tự khởi nghiệp, để không còn ăn cắp của công hoặc dựa dẫm vào uy tín của cha. Tôi tự lăn xe đến nhà chị, không cần nhờ đến má, tự thoát khỏi thân phận nô lệ (tr.189, sđd). Và nhờ việc đi tìm mộ của bà nội, cả gia đình xích lại gần nhau. “Cái thế giới xô lệch chực ngả nghiêng chao đảo, bất ngờ được kéo lại, được vực dậy và được giữ thăng bằng bởi sức mạnh của sự chia sẻ” (tr.302, sđd).

Để cứu nhân vật thoát khỏi tình cảnh bi đát Hiện sinh, Bích Ngân để các nhân vật đồng cảm, chia sẻ, bao dung lẫn nhau và sự trở về với truyền thống, giữ gìn những truyền thống của cha ông. Người cha đã chăm sóc bà nội nuôi khi bà cụ bị ung thư giai đoạn cuối. Ông cho gọi cả nhà tiễn bà. Anh Tôi thuê một chiếc vỏ lãi và đích thân cõng bà xuống ghe, ngồi với bà đưa bà về. Anh trai Tôi cũng đã chủ động trong mọi công việc đi tìm và bốc mộ bà nội. Ba và anh chị em bốc từng nắm đất xương cốt của bà “cũng tìm kiếm, cũng hy vọng được chạm vào, được lưu giữ những gì từng thuộc về bà” (tr.308, sđd) “Tôi lại nhớ lời nói đều đều vô cảm của vị linh mục về thứ ánh sáng nơi thiên đường./ Và tôi nhận ra thứ ánh sáng ấy, có lẽ không chỉ có ở thiên đường mà đang tràn ngập ở đây, nơi những con người lạc mất nhau đã tìm thấy nhau(tr.309, sđd).

VĂN CHƯƠNG BÍCH NGÂN

Những trang miêu tả “dòng tâm trạng” của nhân vật Tôi là điều đặc biệt gây chú ý trong Thế giới xô lệch.  Có lúc Bích Ngân tiếp cận được với cách miêu tả “dòng ý thức” của văn chương Hiện Sinh. Và vì thế, có những câu văn rất dài, bởi mạch ý nghĩ của nhân vật trôi đi miên man. Những câu văn như thế chuyển tải được sự say mê của ngòi bút Bích Ngân cùng với những gẫm suy giàu chất triết lý. (Tất nhiên Bích Ngân không phải là nhà văn tư tưởng).

Đọc Thế giới xô lệch, cái đọng lại là tư tưởng. Xin đọc: “Con vật nào càng dễ thỏa mãn với miếng ăn, con vật đó càng trung thành(tr.261, sđd). “Cuộc đời này, có lẽ giống như một bản nháp khổng lồ. Một bản nháp không ngừng tẩy xóa”(tr.269, sđd). “Khi thật sự trưởng thành là lúc họ nhận ra được những giới hạn, đặc biệt những giới hạn không thể vượt qua (tr.274, sđd). “…đôi khi thói quen cũng là một thứ giới hạn khiến con người hèn yếu và vô tâm” (tr.275, sđd)

Vì cách miêu tả gần với cách viết “dòng ý thức” của văn chương Hiện sinh nên ngòi bút của Bích Ngân soi vào hiện tượng đến từng chi tiết rất nhỏ, như thể cách soi hiện thực của Hiện tượng luận. Nhân vật Tôi nhìn ngắm rất kỹ, rất lâu và suy nghĩ rất sâu về một chi tiết nào đó như khám phá một hiện thể.

Hình ảnh cái ống quần bèo nhèo chỗ mất cặp chân luôn là một ám ảnh của Tôi. Lúc tắm, Tôi nhìn ngắm, nâng niu bộ phận sinh dục của Tôi và đánh thức cái khát khao một thân thể lành lặn. Con đường Tôi đi qua, sợi tóc của vợ vương trên gối, cái mùi người già và cái mùi hôi hôi của thịt ươn nơi bà nội nuôi được Tôi cảm nhận với tất cả sự ngạc nhiên của lần đầu tiên Tôi nhìn thấy.

Trước một “hiện tượng” nào đó, Tôi cũng lặng im quan sát, nhận thức và ý thức về nó như một tồn tại trong tương qua với tha nhân. Chẳng hạn, việc người chú xoay đồng hồ ăn cắp điện được nhắc đến 3 lần trong những hồi tưởng của Tôi về Chú (Chương 3 phần I, Chương 2 phần II, chương 6 phần II, chương 15 phần V…). Đó là những trải nghiệm của Tôi về sự tồn tại của một con người, dù rằng con người ấy có thể đã chết trên đường vượt biên nhưng nó không được quyền chết trong tương quan với người sống (cha Tôi, ông Tôi, má Tôi, anh Tôi, chị Tôi và Tôi). Nó phải sống, cả trong hai chiều kích trái ngược, tình thương yêu của gia đình, để kết nối mọi người lại, và để làm gương cho tha nhân không được chết vì những sai lầm!

Chẳng hạn, việc ba chỉ ngồi ở cái ghế riêng của ông ở trong nhà, là sự kiên định không đổi của một tính cách, một nguyên tắc sống, một lý tưởng sống, dù sóng đời có thể làm xô lệch đi mọi thứ.

Chẳng hạn, việc cả nhà Tôi tìm chuỗi tràng hạt và bức chân dung Đức Mẹ của ông nội, hình như là một ẩn dụ cho việc tìm kiếm một niềm tin đã mất mà không thể tìm lại; hoặc bản Sonat Ánh trăng cùa Beethoven mà người cha hay mở như là một ẩn dụ cho sự cứu rỗi khỏi những tình huống hiểm nghèo làm mất đi nhân tính. Và lời giảng của vị linh mục về ánh sáng thiên đường tưởng chỉ là vu vơ lại chợt sáng lên cả chủ đề tư tưởng của tác phẩm khi người đọc gấp cuốn sách lại…Tất cả những sự việc ấy được Tôi ý thức nhiều lần như ý thức về tồn tại của Tôi trong tương quan với tha nhân.

Màu sắc thẩm mỹ của trang văn Bích Ngân khá phong phú. Độ say của ngòi bút tạo nên chất thơ của câu chữ (chương 9, phần III, tr.142, sđd). Những gẫm suy trải nghiệm sâu sắc tạo nên những trang viết giàu tính triết luận (chương 13, phần V, tr 265, sđd). Ngòi bút mổ xẻ hiện thực về bà nội nuôi khía vào trái tim người đọc những vết đau nhói (Chương 6, phần V, tr. 228, sđd) có sức mạnh làm thức tỉnh những tâm hồn vô cảm. Và viết về sex, Bích Ngân chứng tỏ một bản lĩnh văn chương vượt trội. Sex trong Thế giới xô lệch được soi ở góc nhìn trần trụi bản năng nhục thể của con vật giống đực và con vật giống cái; nhưng sex cũng là nhân tính, là khát khao hạnh phúc, là phẩm chất đàn ông mà Tôi “đang kiệt sức…vì không thể trở thành người đàn ông như chị nói”(tr. 273, sđd)…

Vì miêu tả “dòng tâm trạng” của nhân vật Tôi nên tiểu thuyết của Bích Ngân làm mờ nhòe thời gian và không gian. Nhưng Bích Ngân có cách nối kết các chương, cách kiến tạo tác phẩm rất chặt chẽ. Kết nối liền mạch của tình huống giữa các chương, hoặc dùng ký ức kết nối quá khứ với hiện tại; hoặc nhắc lại một lời thách đố, một sợi tóc, một bản nhạc, như một chất keo làm liền mạch truyện. Đặc biệt có sự tái hiện quá khứ đồng thời với hiện thực đang diễn ra. Những người, những việc của quá khứ (người chú, ông nội, bà nội) cùng sống với con cháu ở hiện tại. Trên chuyến xe chở cô Tôi về, mọi người cùng nhắc đến chú. Anh Tôi nói: “Lần cuối cùng con cũng đi cùng với chú út trong một chuyến xe gặp mưa gió dai dẳng như vậy”. Cô Tôi nói: “Bữa cơm cuối cùng cô nấu cho chú út con ăn chỉ có mắm kho chấm rau luộc, vậy mà chú ăn sạch cả nồi cơm”. Má Tôi nói: “Còn chị, chị đã không kịp làm một bữa cơm đãi chú”. Còn Tôi, “Tôi nhận ra anh tôi cũng giống chú. Cũng mái tóc dày hất ngược ra sau. Cũng cái trán vừa rộng, vừa cao. Cũng gương mặt vuông chữ điền. Gương mặt của ông Tôi, gương mặt ba Tôi và gương mặt Tôi”, “hình như chú cũng đang hiện diện” (tr. 70, sđd)… Tôi còn có thể nói đến những điều thú vị khác trong nghệ thuật tiểu thuyết của Bích Ngân, nhưng xin để dành bạn đọc thưởng lãm khi đọc tác phẩm.

XIN CHIA SẺ VỚI NHÀ VĂN

Thế giới xô lệch có những thành công đáng trân trọng về tư tưởng và nghệ thuật, song tôi vẫn thấy sự chênh vênh của ngòi bút tác giả. Đó là sự chênh vênh giữa ý thức về Hiện sinh của nhận vật Tôi và những “hiện tượng”xã hội mà Tôi ý thức về. Những “hiện tượng” này chưa đủ sức để nâng ý thức của Tôi lên thành tư tưởng thẩm mỹ. Hiện tượng chị Tôi ngoại tình, hiện tượng chú Tôi ăn cắp điện, hiện tượng vợ Tôi đua đòi khiến Tôi bất an, hiện tượng người tài xế của cha Tôi khéo xoay sở, hiện tượng anh Tôi phất lên bằng cách làm ăn mờ ám (nói cách khác, đó là những “hiện tượng” tiêu cực của xã hôi), những hiện tượng này chứa đựng tư tưởng gì trong tác phẩm?

Và vì thế dẫn đến cách kết thúc phần nào có thể gây ra sự hụt hẫng nơi người đọc. (Cũng có thể tác giả chọn cách kết có hậu như văn chương truyền thống). Các vấn đề của hiện thực chưa được giải quyết triệt để. Vấn đề chiến tranh cho đến nay vẫn còn nhiều trăn trở không nói thành lời: “Chẳng ai được cả, kể cả người thắng cuộc. Tổn thương và mất mát…Mất mát hiện diện mọi nơi”(tr.74, sđd), Cuộc tìm kiếm tình yêu của chị tôi vẫn vô vọng. Nỗi bất an của Tôi về việc người vợ có nhiều nhu cầu khác mà tôi không thể đáp ứng vẫn còn nguyên đó. Vợ Tôi vẫn tiếp tục đua đòi lối sống thực dụng và ngày càng coi thường gia đình Tôi, xấc láo với ba Tôi. Chú Tôi mất tích vẫn chưa tìm thấy. Chuỗi tràng hạt và bức ảnh Đức Mẹ của ông tôi vẫn không tìm thấy. Ba Tôi sẽ làm gì để mẹ Tôi đỡ phải gò lưng ngồi may, và Tôi sẽ phải làm gì để có thể là một người đàn ông như mong mỏi của người vợ (trước đó Tôi vẫn chưa hoàn thành việc đánh máy thuê tập bản thảo do chị đưa cho, thay vào đó Tôi chỉ chơi game). Nếu vợ Tôi bỏ, Tôi biết đi đâu khi“Tôi biết tôi sẽ không chịu nổi khi phải sống trong cái trại thương binh với sái chiếc giường sắt đặt trong cùng một căn phòng ba chục mét vuông cùng với sáu chiếc xe lăn, sáu cái cà mèn, sáu cái chén ăn cơm, sáu đôi đũa, sáu cái ly uống nước, sáu cái bô có nắp đậy…và một cái phòng vệ sinh chật hẹp”(tr 93, sđd).

Sự chênh vênh này của ngòi bút Bích Ngân là có thể hiểu được bởi vì đây là tiểu thuyết đầu tay của chị, chị lại viết về một đối tượng khó (người tật nguyền), lại chọn lựa một cách viết đòi hỏi trình độ tư tưởng và trải nghiệm nào đấy.

Vì thế, tác phẩm cũng treo lơ lửng giữa bờ hiện thực với những đòi hỏi tích cực của một sứ mệnh văn chương, và giữa bờ Hiện sinh là một cuộc tra vấn tư tưởng. Làm thế nào để chữa lành Con Người Tật Nguyền giữa thế giới còn sự hiện diện của cái ác (tr. 268, sđd).

Cả hai bờ vực này ngòi bút Bích Ngân chưa vượt qua được.

***

Tôi tin rằng các nhà phê bình sẽ còn nói đến tác phẩm này nhiều nữa, bởi Thế giới xô lệch còn nhiều khoảng trống đòi buộc người đọc phải lấp đầy, và tác phẩm này có khả năng đáp ứng những “tầm đón đợi” mới ở tương lai.

Tôi nghe được tiếng kêu bi thiết của CON NGƯỜI TẬT NGUYỀN trong Thế giới xô lệch, ngay cả khi họ còn đủ tứ chi. Nhân vật người anh nói: “nhiều lúc con thấy mình còn quẻ quặt, tật nguyền hơn cả thằng út nữa” (tr.290, sđd). Và người chị, “Chắc cũng không khác gì tôi, chị cũng mang thương tích, cũng cắn răng chịu đau. Và, có lẽ chị cũng đang sống cùng với nỗi đau” (tr.254, sđd). Khi nào những “con người tật nguyền” trong xã hội này chưa được băng bó vết thương, được chia sẻ nỗi đau, được yêu thương chăm sóc thì người ta còn phải tra vấn về sự tồn tại của kiếp người. Thế giới xô lệch là một chia sẻ giàu tính nhân văn, chia sẻ về “thứ ánh sáng…không chỉ có ở thiên đường mà đang tràn ngập ở đây, nơi những con người lạc mất nhau đã tìm thấy nhau” (tr.309, sđd).

Tiếp cận được kiểu loại tác phẩm tư tưởng, Thế giới xô lệch là một đóng góp có giá trị cho văn chương Việt Nam đương đại, bởi kiểu loại tác phẩm này còn thưa thớt (Cùng thời với Thế giới xô lệch có tiểu thuyết Song Song của Vũ Đình Giang. 2007, tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc của Nguyễn Danh Lam, 2010). Điều này giúp ta hiểu được, dù đã được xuất bản 10 năm trước đây, Thế giới xô lệch vẫn mang nguyên vẹn hơi thở của thời đại.

Tháng 6. 2019

___________________

[1] Thế giới xô lệch nhưng Bích Ngân vẫn hiền lành:

http://toquoc.vn/the-gioi-xo-lech-nhung-bich-ngan-van-hien-lanh-99105865.htm

[2] Nhà văn Bích Ngân viết về cuộc chiến thời bình của thương binh

http://sankhau.com.vn/news/nha-van-bich-ngan-viet-ve-cuoc-chien-thoi-binh-cua-thuong-binh.aspx

[3] Bích Ngân trả lời phỏng vấn

https://vnexpress.net/giai-tri/bich-ngan-con-nguoi-ai-cung-co-luc-xo-lech-2136982.html

[4] Tham luận Hội thảo khoa học quốc gia Thế hệ nhà văn sau 1975, 

       do Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tổ chức 28/4/2016

https://trieuxuan.info/?pg=tpdetail&id=15493&catid=6

[5]  trong vở kịch No Exit, nhân vật Garcin đã thốt lên: “Tha nhân là đa ngc.”

“Hell is other people” (Jean-Paul Sartre, No Exit, translated by Stuart Gilbert).