THƠ TRẦN MỘNG TÚ

BẠN CÓ THỂ ĐỌC NHỮNG BÀI VIẾT CHÍNH CỦA BÙI CÔNG THUẤN THEO LINK:

buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

THƠ TRẦN MỘNG TÚ

Bùi Công Thuấn

***

(nhà thơ Trần Mộng Tú)

Tôi đã đọc 200 bài thơ của Trần Mộng Tú làm từ 1968 đến năm 2020. Thơ Trần Mộng Tú để lại trong tôi những ấn tượng đẹp về một nhà thơ có cốt cách riêng trong thơ Việt đương đại. Trong hơn 200 bài, có 62 bài thơ tình, 55 bài thơ thể hiện Cái Tôi, 34 bài thơ thế sự, 13 bài thơ tôn giáo, còn lại là những đề tài khác (thiên nhiên, gia đình, tình bạn…). Nhìn vào số lượng bài thơ của mỗi đề tài, người đọc có thể nhận ra hồn thơ Trần Mộng Tú nghiêng về những vùng trời tâm tưởng nào. Thơ Trần Mộng Tú là thơ tự tình –suy tư (thường là những nghĩ suy) có giọng thơ nhẹ nhàng, đẹp thanh cao và có sức hút. Chất liệu thi ca, bút pháp, cảm xúc, nhận thức hiện thực và thái độ diễn ngôn trong thơ Trần Mộng Tú thuộc về thi pháp thơ đương đại.

ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ

Các trang web Wiki, damau.org, thivien.net và một số trang mạng xã hội ghi nhận:

Trần Mộng Tú sinh năm 1943 tại tỉnh Hà Đông. Di cư vào Nam năm 1954.  Là thư ký cho hãng Thông Tấn Associated Press ở Sài Gòn giai đoạn 1968-1975. Bà sang Mỹ tháng 4 năm 1975. Ở Mỹ, bà viết truyện nhi đồng cho báo Los Angeles Times từ năm 2000 và làm thơ Anh Ngữ trong sách giáo khoa Mỹ cho chương trình trung học (American Literature- Glencoe-1999)[1]. Bà đoạt giải về bình luận (Commentary) của The New California Media (NCM) “Ethnic Pulitzers” năm 2003.Bà cũng là chủ Bút cho Nguyệt San Phụ Nữ Gia đình Người Việt ở California (tháng 10 năm 2002 đến tháng 10 năm 2005).

Hiện sống ở Seattle, Washington với gia đình.
Đã xuất bản:
          Thơ Trần Mộng Tú (Tập Thơ-1990) NXB-Người-Việt.
          Câu Chuyện Của Lá Phong( Tập Truyện Ngắn-1994) NXB-Người-Việt
          Để Em Làm Gió (Tập Thơ-1996) NXB-Thế-Kỷ
          Cô Rơm và Những Truyện Ngắn Khác (Tập Truyện Ngắn-1999) NXB-Văn Nghệ
          Ngọn Nến Muộn Màng ( Tập Thơ-2005)NXB-Thư-Hương
          Mưa Sài Gòn Mưa Seattle (Tạp Văn-2006) NXB-Văn Mới

Những sáng tác của Trần Mộng Tú, xuất bản kể từ 1990 về trước, gồm:

          Tuyển Tập Thi Ca, in chung cùng nhiều người, thơ viết trong khoảng thời gian 1975-1977, do Bố Cái tại Hoa Kỳ xuất bản.

          Thơ Việt Nam, Chiến Tranh, Lưu Đày, in chung cùng nhiều người, do Gìn Vàng Giữ Ngọc, Hoa Kỳ xuất bản năm 1976.

          Trăng Đất Khách, tuyển tập truyện ngắn của các cây bút nữ tại hải ngoại, do Làng Văn tại Canada xuất bản năm 1987.

            Bà kể: “Tôi rời Việt Nam vào ngày 2 tháng Tư năm 1975 do hãng thông tấn AP nơi tôi làm việc tại Việt Nam đưa tôi và gia đình ra đi. Lúc đó tôi còn độc thân họ thu xếp cho tôi và bố mẹ đi với nhau.

            Sang Mỹ năm 1975 coi như tôi làm tờ báo đầu tiên là Quê Hương xuất bản. Mấy người tham gia đầu tiên gồm có Du Tử Lê, Trần Mộng Tú, Hoàng Khởi Phong, Hoàng Chính Nghĩa và một vài người nữa làm tờ báo đó chung với nhau.

            Tôi bắt đầu đem những bài thơ của mình ra đăng từ năm 1975, mặc dù trước đó tôi cũng có làm thơ nhưng chưa bao giờ đăng báo vì tôi thấy không có nhu cầu cần đăng báo. Sang tới Mỹ thấy tiếng Việt ngày càng hiếm hoi, thấy anh em gia nhập vào báo chí tôi tham gia theo và từ đó tôi làm rất nhiều thơ về quê hương.”

            (https://giadinhhoangtrong.wordpress.com/2013/08/29/tran-mong-tu-va-tuyen-tap-tho-tuyen-bon-muoi-nam1969-2009/)

            Trong bài Bình Thủy 1969, bà kể về cuộc tình của mình: “Buổi tối của một ngày đầu tháng 8 năm 1969…hai người bước vào buồng khách, cả hai nhìn tôi, rồi cả hai nhìn nhau, không ai muốn là mình nói trước. Tôi linh tính có điều không tốt, nhưng không hiểu chuyện gì. Cuối cùng Carl nói: “Sở nhận được điện thoại từ Rạch Giá gọi về chiều nay, nói là Cung, chồng của cô đã tử trận.” Tôi đứng ngẩn người, nhìn lại cả hai, không nói được tiếng nào…

            Chúng tôi mới cưới nhau sau lễ Phục Sinh vào tháng Tư, Cung tử trận 30 tháng 7, năm 1969. Cung không phải là quân nhân chính gốc, anh tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm, ban Pháp Văn và đã đi dạy được 1 năm, anh bị gọi trong chương trình Tổng Động Viên. Khi nhận giấy báo phải nhập ngũ, anh đến xin cha mẹ tôi cho làm hôn thú, vì sợ sau này sẽ khó khăn khi ở quân đội. Trên giấy tờ, tôi có chồng từ tháng 6-1968… »

Trong bài Người Đàn Bà Thi Sĩ Việt Nam bà kể tiếp:

Tôi người đàn bà thi sĩ Việt Nam
Bỏ lại trên quê hương
Một mối tình
Một mối tình được gắn huy chương
Huy chương anh dũng bội tinh…

Tôi người đàn bà thi sĩ Việt Nam
Đang sống trên đất Mỹ
Chồng tôi người bản xứ
Chúng tôi có ba con chưa đến tuổi thành niên
Đời sống êm đềm
Trong một thành phố nhỏ…

Sự mất mát của cuộc tình đầu đời cùng với cuộc sống ly hương quấn chặt lấy trái tim và nghĩ suy của Trần Mộng Tú, tạo nên một tiếng thơ có sức lay động lòng người. Tiếng thơ ấy cũng mang những sắc thái tiêu biểu của thơ Việt hải ngoại.

THƠ TÌNH CỦA TRẦN MỘNG TÚ

            Hình ảnh người chồng chết trận cùng với sự mất mát cả một đời hạnh phúc của Trần Mộng Tú đã tạo nên những tứ thơ bi thiết ám ảnh, làm xúc động lòng người. Người đọc hôm nay không thể hình dung nổi nỗi đau lớn lao và sự vô vọng của người góa phụ trong chiến tranh là thế nào khi tuổi xuân vừa mới nở những “Bông hoa đỏ”. Chiến tranh đã cướp đi tất cả (Quà tặng trong chiến tranh). Cho nên trong thơ Trần Mộng Tú mới có những bài oán ghét chiến tranh, mới lật tẩy “Cái bẫy hòa bình”. Xin đọc: Gọi anh mùa xuân, Hoa tai, Sông vẫn nồng nàn, Đường cũ, Giấc mơ hòa bình (1969)…

Mùa mưa đang về giữa Sài Gòn
Con đường Tự Do vỡ oà bong bóng

Em đi dưới trời mưa
Em nhớ anh
Em khóc

Những chiếc taxi nằm im
Sài Gòn trong mưa
Sài Gòn buổi trưa
Sài Gòn như nỗi chết

Sao anh còn trẻ thế
Sao em còn trẻ thế
Sao tình yêu hai ta còn trẻ thế
Lại lăn vào
Một cuộc chiến già nua

Bây giờ một người lính mới
Cầm cây súng cũ xì
Ở tận chi khu Trà Bồng
Một địa danh nghe mà ngơ ngác

Bây giờ một người con gái
Cầm trái tim mình bằng cả hai tay
Đi dưới cơn mưa
Đầy bong bóng nước

Ôi Sài Gòn buổi trưa!

(Buổi trưa Sài Gòn. 1968)

Em tặng anh tuổi ngọc
Của những ngày yêu nhau
Đã chết ngay từ lúc
Em nhận được tin sầu


Anh tặng em mùi máu
Trên áo trận sa trường
Máu anh và máu địch
Xin em cùng xót thương

       (Quà tặng chiến tranh)

            Những tháng ngày còn lại của người góa phụ trẻ là những tháng ngày đẫm nước mắt. Nàng đơn độc, nhớ mong, kiếm tìm, tình buồn, tình xa, dằn vặt thê thiết, hoang vắng, quay quắt (Cối xay trong tim em) trong những nghĩ suy về tình yêu. Em luôn tra hỏi trái tim mình và nhìn vào cõi xa xăm, anh ở đâu? Anh nơi phương nào? Người thơ như đang sống với người yêu trong tâm tưởng, chuyện trò với chàng, độc thoại với mình, vui buồn, hạnh phúc, đau khổ như trong đời thật. Cả không gian thời gian chỉ cò hai người. Bao nhiêu năm tháng vẫn không vơi nồng nàn và ngậm ngùi. Một trời khao khát yêu thương.

Xin đọc: Cối xay trong tim em, Cả một dòng sông đứng lại chờ, Người câu ở sông nào, Lòng nào như suối cạn, Phía bên kia biển, Nhưng anh đâu rồi, Gọi anh mùa xuân, Đố anh, Ly nước và biển mặn, Thanh xuân, Một thời để yêu, Thời gian và tình yêu, Tháng năm và hoa Diên Vỹ, Hoa lửa, Rót xuống hoàng hôn, Bóng trăng và hoa kim ngân, Một nửa vầng trăng, Vì sao trên cao, Ngôi sao và hạt bụi, Hạt bụi, Chùm nho tình yêu, Ngày hạ chí, Đông trắng, Áo Mỵ Châu, Áo tuyết, Giấu, Mở, Mưa Seattle, Trái tim hồng, Cả hồn em chớm đỏ, Trong suốt, Khi về, Viên sỏi (1)…

Trán ngây thơ tương tư mùi khói thuốc
Người không về mắt cũng nhạt màu nâu
Môi bớt đỏ và răng cười bớt trắng
Em nhớ người, em khóc suốt đêm thâu

               (Trái tim hồng)

Tóc bạc anh em giấu vào trong gối
để đêm đêm em không ngủ một mình
trái tim anh em giấu vào trong ngực
để cùng em thức dậy trước bình minh

đôi mắt anh em giấu vào trong mắt
lệ riêng em trong suốt mắt hai ta
môi của anh em giấu vào trong miệng
ngậm hương thơm của một mối tình xa
bàn tay anh em giấu vào trong áo
ngực rất hiền nở vội một đóa hoa

bàn chân anh em giấu vào giày nhỏ
anh sẽ đi cùng em đi thật là xa
khi trở về dẫu tuổi gầy sương tuyết
bốn bàn chân sẽ làm ấm nền nhà

hơi thở anh em giấu vào hơi thở
đời sống chia nhau từng sợi mong manh
mình hà cho nhau một linh hồn mới
Chúa sẽ kêu lên . . . thôi thế cũng đành

                       (Giấu)

Em đứng thẳng cho anh nhìn vào mắt
Anh vớt hộ em những giọt long lanh
Con sông chảy cả một thuyền quá khứ
Trong mắt em ngơ ngác đám lục bình

Em đứng nghiêng cho anh nhìn sóng lượn
Đêm màu xanh hay biển tóc em xanh
Gió thổi ngược tóc bay về dĩ vãng
Có sợi nào còn vướng ngực áo anh

Em cúi xuống cho anh hôn lên gáy
Kỷ niệm gầy như những chiếc xương vai
Hương phấn đó em mang từ tiền kiếp
Cho anh ôm tình cũ một vòng tay

Co chân lên cho anh nâng gót nhỏ
Gót chân son nôn nả nhịp xe đời
Nói cho anh chuyến tàu nào em lỡ
Sân ga nào còn giữ lệ em rơi


Em ngồi xuống đêm không còn trẻ nữa
Cánh chim bay tha hết cọng thời gian
Trên vai anh em gởi đời cát lở
Tình thắp cho em ngọn nến muộn màng
            Ngọn Nến Muộn Màng (Tập thơ 2005, NXB Thư Hương)

            Rồi thời gian phôi pha, cuộc sống đổi thay, và khi nhà thơ tóc đã pha sương tuyết, thì những nỗi day dứt, có nhẹ nhàng hơn, bởi người thơ đã biết rằng rồi tất cả sẽ qua đi (Tình buồn, Đông trắng, Bóng trăng và hoa kim ngân, Vì sao trên cao, Tạ tình…)

Em luôn luôn nghĩ anh là một Vì Sao

Cho nên mặc dù không nhìn thấy anh

Em cũng biết là lúc nào anh cũng vẫn ở đấy

Ở một nơi thật cao thật xa

Mà chúng ta đi song song với nhau    

Năm này sang tháng khác

           (Vì sao trên cao)

Hãy tha thứ cho em
Núi sông ngàn cách trở
Tình đã phụ tình rồi
Xin đừng mong ngóng nữa

            (Tạ tình)

Anh ơi hoa đã héo

Vết thương xưa đã lành

Vuông lụa chồng em giữ

Không còn gì cho anh

       (Bông hoa đỏ)

Trong mảng thơ này, có nhiều bài tuyệt hay và mới lạ: Quà tặng trong chiến tranh, Giấu, Ngọn nến muộn màng, Mưa Seatle, Trái tim hồng,

TIẾNG NÓI CỦA “CÁI TÔI”

            Những bài thơ mà nhân vật Tôi phát ngôn trực tiếp suy nghĩ, cảm xúc, quan điểm của mình, đó là tiếng nói của “Cái Tôi” tác giả.

            Trong thơ Trần Mộng Tú, Tôi nhìn vào hồn mình, nhìn xung quanh mình, truy tìm hiện sinh, truy tìm bản thể và nhận ra nỗi cô đơn hiện sinh (Cô đơn như thượng đế), nhận ra sự vong thân (Thật giả; Tìm mình) và hành trình hư vô.

Sáng nay tôi dậy lúc 3 giờ
Tôi xuống bếp
Cầm chiếc ly lên
Bỏ chiếc ly xuống
Hình như tôi uống nước
Hình như tôi không
Tôi loanh quanh trong bếp
Có tiếng chạm vào nhau
Của những cái nồi cái ấm
Hình như tôi đun một ấm nước
Hình như tôi không làm gì cả

Có ai đứng gần đó không
Cho tôi mượn đôi mắt
Một đôi mắt
Có thể tìm được dưới đáy biển
Tìm thấy trên bầu trời
Những giọt lệ của mình.

                  (Cho tôi mượn đôi mắt)

tôi cúi xuống hồn tôi
nhặt mảnh trăng vừa vỡ
mảnh trăng nhoè trên tay
hạt lệ vàng nức nở.

            (Tôi cúi xuống hồn tôi)

Tôi đi từ chiến tranh

Tôi bước vào Hòa Bình

 Người ta nói tôi đặt chân qua hai thế kỷ

Tôi loanh quanh đi tìm mình

Hết ba phần tư thế kỷ                                

Tôi vẫn chưa tìm thấy tôi.

     (Ngày qua ngày qua)

Cúi xuống nhìn thân thể

Mảnh hình hài như có như không

Tôi đi đâu

Tôi về đâu

            (Hunting house)

Một mai tôi chết rồi sao nữa

Mây vẫn bay và nước vẫn xuôi

            (Giải mây trôi)

            Nhà thơ trăn trở, tôi là người Việt hay người Mỹ và khôn nguôi tâm trạng ly hương, một nỗi nhớ quê nao lòng (Tôi là ai, Người đàn bà thi sĩ Việt Nam, Trăng đất khách, Khi về, Đêm tháng Tư, Tháng Tư quê hương tôi, Mùa xuân và tôi, Khúc xuân hoài, Muối tuyết, Nấu bữa chiều ở Issaquah, ,

nắm rơm giấu bốn mươi năm cũ
vừa nhai vừa khóc nhớ quê xưa

          ( Bốn mươi năm đợi)

Nhưng suốt đời tôi làm thế nào tôi quên được
Những cây cầu trên đất nước Việt Nam
Những cây cầu bắc qua giòng tan tác
Giòng máu, mồ hôi, và nước mắt da vàng

                (Cây cầu và dòng sông)

            Trần Mộng Tú dành cho gia đình, người thân, bạn bè những tình cảm chân thành, hết sức quý mến thương yêu. Xin đọc: Cha già, Xuân không bố, Mẹ, con và hoa cúc, Bài thơ cho cháu ngoại, Yến ơi! Yến ơi (Đỗ Ngọc Yến), Tiếng chim ca, Câu hỏi, Chia tay (Thái Hà Chung), Bây giờ (Nhật Tuấn), Bên kia đường (Du Tử Lê), Như tiếng sách rơi (Nguyễn Mộng Giác), Tiễn bạn Kim Nhung, Chiếc áo của ai (100 ngày của Chi), Gió mùa đông bắc (Gửi anh Sơn, em Cường và anh Ngọc), Mơ thấy bạn về,…

            Trong sự tra vấn về hiện sinh, Trần Mộng Tú tin vào sự vĩnh cửu của thi ca.

Chỉ có THƠ là ống kính vạn hoa                    
ta lắc soi từ thời thơ dại
cho đến tuổi già
vẫn vạn hoa còn đó
trong cái không màu chứa cả muôn màu
trong vô ngôn vẽ ra ngàn cảnh giới.
            (Nỗi không)

Thi sĩ là người duy nhất trên đời
khi chết đi
không mang theo gì cả
nhưng vẫn vĩnh viễn làm chủ sản nghiệp
của mình
Những bài thơ.

            (Khi thi sĩ chết)

            Và vì thế, nhà thơ mơ thấy kiếp sau, dù nghèo, đông con (8 đứa con), vẫn lấy chồng thi sĩ, và cả nhà làm thơ (Kiếp sau).

DIỄN NGÔN THẾ SỰ

Với hai góc nhìn, là một người dân miền Nam trước 1975, dân Sài gòn; và là một Việt kiều sống ở Mỹ, cái nhìn, thái độ nhận thức và diễn ngôn của Trần Mộng Tú sẽ rất khác với người dân trong nước. Đơn giản là, Trần Mộng Tú sống trong một môi trường văn hóa, chính trị, kinh tế khác với môi trường sống ở Việt Nam. Cho nên Trần Mộng Tú có nhiều bài thơ đáp ứng được đòi hỏi chính trị của độc giả Việt ở Mỹ, song những bài ấy không dễ được tiếp nhận ở trong nước, điều ấy có thể hiểu được. Xin đọc: Tiếc thương, Xin lỗi, Văn tế cho những oan hồn cả hai miền nam bắc, Tháng Tư quê hương tôi, Tháng Tư sừng sững đứng, Đêm tháng Tư, Bài thơ sau tháng Tư, Tôi xin tạ lỗi, Trở về biển, Bài hát da vàng, Những lưỡi dao sản xuất từ Việt Nam, Biển đảo hận ca, …

Ngư dân để tang cho biển
Tiều phu để tang cho rừng
Trên những cánh đồng nứt nẻ
Nhà nông mắt lệ khô tròng

Tôi đứng bên ngoài đất nước
Nhìn đâu cũng thấy bóng em
Một em hình thù rất lạ
Như con cá chết nằm nghiêng.

                                    (Gửi người em Vũng Áng)

Tôi cúi đầu thật thấp
nhân danh là người Việt Nam
tôi xin thả xuống dòng nước này
những lời tạ lỗi

Lời tạ lỗi với những đồng bào tôi

những người còn đang sống trên đất nước Việt Nam
một đất nước đang rêu rao
Tự Do Hạnh Phúc Hòa Bình Thịnh Vượng Văn Minh…

Tôi xin tạ lỗi

Vì tôi là người Việt Nam
tôi không làm được điều gì cho chính đất nước mình…

            (Tôi xin tạ lỗi-2019)

            Trần Mộng Tú có nhiều bài bộc lộ một tình yêu thương sâu sắc với các nạn nhân chiến tranh ở Trung Đông, nạn khủng bố 11/9 ở Mỹ (Trả lại tôi), nội chiến ở Syria (Vết thương nội chiến), kỳ thị chủng tộc ở Mỹ (Tôi không thở được), 39 người chết trong chuyến đi tìm sự sống ở Anh Quốc 23-10-2019 (Xin lỗi), Lưu Hiểu Ba, thuyền nhân (Trở về biển, Văn tế tập thể), nạn nhân trên “cánh đồng hoa hướng dương ở làng rozsypne”, người lính chết trận ở hai miền Nam, Bắc Việt Nam (Tiếc thương), Karim Wasfi fights ISIS with music (Âm thanh của hồ cầm),  tưởng niệm nạn nhân ngày 2/12/2015 San Bernadino (Bạo lực vào thành phố), những em bé Mã Lai (Gửi em trong mộ tập thể), người dân Vũng Áng (Gửi em Vũng Áng), người dân A-Phú-Hãn khi tượng Phật bị đập phá (Thơ về A-Phú-Hãn), nạn nhân Covid (Hoa nở mùa Covid, Không còn khoảng cách. 2020)…

Những bài thơ này bộc lộ một tầm nhìn rộng, một tình yêu thương vượt xa trong cộng đồng nhân loại. Tấm lòng ấy có phẩm chất từ bi của Phật và Lòng Thương xót của Chúa.

Chúa Phật đều từ tâm
Tình yêu như tín ngưỡng
Hãy rót vào đời nhau
Nước sông hằng vô lượng.

            (Vẽ hộ em nét mày)

Ta kéo hồi chuông kinh sớm
Ta thắp nén nhang buổi chiều
Chúa Phật cùng về một lúc
Dắt hồn qua bãi hoang liêu

            (Văn tế cho những oan hồn ở cả hai miền nam bắc)

THƠ TÔN GIÁO

            Trần Mộng Tú có nhiều bài thơ về đề tài tôn giáo, hoặc đem tôn giáo vào bài thơ tự tình hoặc thơ luận giải thế sự. Đức tin đem đến sự bình yên. Chính Chúa là cội nguồn thơ. Chúa là Đấng đã đổ máu để cứu rỗi mọi nỗi thống khổ. Nhà thơ khát khao được chia sẻ cuộc khổ nạn của Chúa.

Em về qua cửa giáo đường
Mở trang Cựu Ước nỗi buồn bỗng vui
Chúa trên cao cũng mỉm cười
Bấc chưa thắp, nến đã ngời lửa thiêng
Tâm em nở đoá bình yên…

                 (Kinh thơ)

Sáng nay trời bắt đầu vào đông
con đường ướt đưa tôi đến nhà thờ
trên thánh giá Chúa không có áo
hai vai Người đọng những hạt thơ

Ngày mai tôi sẽ mang áo đến cho Chúa
và nhặt những câu thơ trên vai Người

                        (Mùa đông và Chúa)

Sáng nay chủ nhật, tôi tới nhà thờ
nhìn lên ảnh Chúa
trên thánh giá hai bàn tay Người rỉ máu
tôi hình dung ra những vệt máu trong thành chiếc quan tài

Chiếc quan tài bọc thép
chở 39 hồn điêu linh
chở 39 xác đông lạnh
đông lạnh những lời Kinh…

            (Xin lỗi)

Lên đồi Tôn Giáo tìm an ủi
tìm Phật Bà, tìm Đức Mẹ một thời che chở thuyền nhân
cả hai cùng bị chém cụt đầu
thân vẫn hướng ra khơi
Chúa đã vụn tan chỉ còn trơ thập giá
tôi giang hai tay chờ đóng đinh thế Người…

            (Trở về biển)

Em sẽ chết với mảnh hồn trống đó
Chúa đứng đón em ở cổng Thiên Đàng

            (Trái tim hồng)

            Bài thơ đặc sắc về tôn giáo của Trẩn Mộng Tú là bài Chặt đầu Giêsu

Ô, hôm nay con đã chặt đầu Cha xuống
Chiếc đầu lăn lóc trên mặt đất
Có ai đó vừa nhặt lên
Gắn lại cho Cha

Nhưng con ơi nếu thấy cần phải đập đi
Khối vữa vôi đó sẽ sẵn sàng tan vỡ
Cha còn cả hai cánh tay
Cha còn cả hai ống chân
Cha còn cả thân mình
Nếu thấy thích con cứ tự nhiên đập bỏ
Vì từ hơn hai ngàn năm trước
Loài người đã đập vỡ thịt xương Cha

Này đây cánh tay với bàn tay
Con cứ đem về
Cánh tay Cha cho con ngả đầu vào
Những khi con nhọc nhằn sau hoan hô đả đảo
Sau gào thét đập phá
Hãy đặt cuộc đời trên vai Cha

Bàn tay Cha đây con hãy nắm lấy
Vứt đi chiếc gậy chiếc búa con đang cầm
Hãy đan những ngón tay con vào ngón tay Cha
Con sẽ nguôi ngoai cơn tức giận
Rồi con sẽ hiểu thế nào là truyền cho nhau cảm xúc

Bàn chân Cha bước thấp bước cao
Cha sẽ cùng con đi tới bất cứ nơi nào
Thân mình Cha có thể cõng được con
Trèo qua những cao ốc nhẩy qua tường

Nhưng nếu con muốn ta sẽ đi thong dong qua suối qua rừng
cùng nhau ra biển
Cha và con sẽ ngồi xuống
Cha sẽ giao cho con việc lấy đất lấy cát trộn vào nhau
Làm thành một con người
Con có thể muốn sơn bất cứ màu gì vào con người đó
Trắng Đen Vàng và ngay cả một kẻ không màu
Con sẽ đặt tên, mặc áo quần cho pho tượng theo ý của con
Rồi Cha sẽ phà cho pho tượng một linh hồn
Vì việc linh hồn của tượng con không bao giờ làm được

Cũng như con chỉ có thể cắt đầu hay đập nát một pho tượng
Vì đó chỉ là vôi cát vô tri
Linh hồn của pho tượng con không bao giờ đập nát được

Vì nơi đó là nơi con tìm đến để được Thương Yêu.
                               (tmt – Tháng 7/20/2020)

Chú thích: Đó là bức tượng Chúa Giesu Chăn Chiên ở nhà Thờ The Good

Shepherd Church, Miami Florida.. Họ đập gẫy đầu tượng vứt xuống đất vào ban đêm ngày 7/15/2020

            Bài thơ là lời của tượng Chúa (cũng là tác giả nhập thân vào Chúa) để nói lời thứ tha, lời yêu thương; đồng thời chỉ ra chân lý về quyền năng vô biên của Chúa với một lòng xác tín thật hân hoan. Hiếm lắm tôi mới gặp được một bài thơ tôn giáo mà tư tưởng, tình cảm và đức tin mạnh mẽ đến vậy. Tin Mừng được diễn giải thật tinh tế, đẹp đẽ: “hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” (Mt. 5,38-48) bằng một nghệ thuật ngôn ngữ đầy sức thuyết phục.

            Thực ra, nhiều bài thơ của Trần Mộng Tú đã thấm rất sâu tinh thần của Tin Mừng. Đó là lòng yêu thương con người, sự sẽ chia mọi niềm vui nỗi buồn với mọi thân phận bất hạnh, ở cái tâm bình an, và sự vượt qua những bế tắc tư tưởng và nhữn vần đề của hiện sinh.

Em về qua cửa giáo đường
Mở trang Cựu Ước nỗi buồn bỗng vui
Chúa trên cao cũng mỉm cười…

            (Kinh thơ)

Có phải đau đớn tôi
Người xuống chia lệ nhỏ
Có phải lưu đày tôi
Người ghé vai gánh hộ

Ôi đêm vô tận này
Cầu xin người ở lại
Trên thánh giá tinh khôi
            (Đêm vô tận)

MỘT CỐT CÁCH THƠ HIỆN ĐẠI

            Tôi không dùng chữ “hiện đại” với nghĩa của thuật ngữ “Hiện đại chủ nghĩa” để phân biệt với trào lưu “Hậu hiện đại”; mà dùng với nghĩa “hiện đại” tương phản với “cổ điển”, tức là thơ của hôm nay, phân biệt với các thời kỳ thơ trước (thí dụ thơ trước 1945, thơ kháng chiến 1945-1975).

            Trần Mộng Tú có những bài viết bằng thể thơ, cảm xúc thơ của thơ Lãng mạn 1930-1945) song tình yêu trong những bài thơ này là tình yêu của con người ở miền Nam trong cuộc chiến 1955-1975 (Buổi trưa ở Sài Gòn, Quà tặng trong chiến tranh…)

            Trần mộng Tú cũng có những bài Tứ tuyệt ánh lên cái đẹp của thơ Lãng mạn, không thuộc về thi pháp của Tứ tuyệt Đường luật (Sáng nay thu về phố cũ, Trăng xanh, Tuyết tan, Sợi tóc, Đông trắng, Áo Mỵ Châu, Tuyết Trọng hủy…)

            Thơ lục bát của Trần Mộng Tú vừa đẹp, vừa sang trọng, song lại rất ít chất ca dao (Tình gọi, Mưa Seatle,…)

            Những bài Văn tế của Trần Mộng Tú không theo khuôn phép của văn tế cổ điển (Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, hay Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu). Đó là những bài thơ được đặt tên Văn tế.

            Đa phần thơ Trần Mộng Tú là thơ tự do, thơ kể chuyện tự tình. Phần đầu tác giả kể chuyện (nhiều khi là chuyện đời thường xung quanh mình), như một câu chuyện văn xuôi không thơ. Khổ cuối thường vỡ làm cho câu chuyện kể bằng văn xuôi trở thành thơ. Chất thơ nằm trong tư tưởng và tình cảm, không nằm trong chất liệu ngôn ngữ hay tứ thơ (Xin đọc: Kiếp sau, Cuối năm giấu tuổi trong rau, Hoa cỏ, Trở về biển, Đuốc tình, Hình như là thu phân, Ai điếu Trần Viết Minh Thanh, Đường cũ, Hỏi chàng, Thơ sinh nhật, Âm thanh của Hồ cầm, Xóm tôi, Hunting house,

            Tôi mơ hồ cảm nhận vẻ đẹp chuẩn mực thơ Bà Huyện Thanh Quan trong thơ Trần Mộng Tú, cũng nhận ra cái đẹp tinh khôi mới lạ mà hồn thơ Trần Mộng Tú trong thơ Lãng Mạn, và đặc biệt là sự khám phá những tứ thơ trong những sự vật, sự việc đời thường được Trần Mộng Tú tạo nên những hình ảnh ấn tượng. Tôi cho đó là tài năng và là phẩm chất thi sĩ ở Trần Mộng Tú. Giữa những xô bồ của việc cách tân thơ, của sex và phong trào nữ quyền, của Hậu hiện đại lật đổ những “đại tự sự” về thơ, Trần Mộng Tú vẫn khẳng định được giá trị của thơ truyền thống và đóng góp thêm những giá trị thật quý báu.

Tháng 8/2021

_______________________________________

[1] Bài thơ được dịch ra tiếng Anh và đưa vào sách giáo khoa dậy văn chương “Glencoe Literature” do nhà xuất bản McGraw Hill ấn hành, là bài The Gift in Wartime,  “Quà Tặng Trong Chiến Tranh.”

“THUẬT TÍCH VIỆC ĐẠO NƯỚC NAM”-Lm Đặng Đức Tuấn

BẠN CÓ THỂ ĐỌC NHỮNG BÀI VIẾT CHÍNH CỦA BÙI CO6NBG THUẤN THEO LINK:

buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

THUẬT TÍCH VIỆC ĐẠO NƯỚC NAM

Lm. Gioakim Đặng Đức Tuấn (1806-1874)

Giới thiệu:

Lm. Gioakim Đặng Đức Tuấn (1806-1874) sinh tại Làng Qui Hoà (ngày nay là thôn Qui Thuận, xã Hoài Châu Bắc, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định). Năm Ất Dậu (1825), ông dự khoa thi Hương tại Thừa Thiên, vào đến Tam trường. Khoảng giữa thập niên 1840, ông được giới thiệu đến Giám mục Cuénot Thể làm giáo sư Hán văn tại Chủng viên Pénang (thuộc Malaysia). Ở đây, ông trở thành chủng sinh. Sau 7 năm tu học, ông được phong chức Phó tế và trở về quê. Năm 1856, Giám mục Cuénot Thể đã truyền chức linh mục cho ông tại Tòa Giám mục Gò Thị và bổ nhiệm ông làm việc tại Tư Ngãi (Tư Nghĩa, Quảng Ngãi ngày nay).

Thời này, Vua Tự Đức cấm đạo gắt gao. Cuối năm 1861, ông bị triều đình bắt giữ ở Nga Mân (Quảng Ngãi), rồi bị giải về Huế. Ở Huế, ông bị Thượng thư Bộ Binh Lâm Duy Hiệp cùng Hiệp biện Phan Thanh Giản tra vấn về đạo Công giáo và về việc quân Pháp đánh phá Đại Nam. Ông đã viết 6 bản điều trần trình bày tâm huyết của mình. Ông được triều đình sai tháp tùng sứ bộ Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Gia Định thương nghị với Pháp. Sau hòa nghị năm 1862, ông được triều đình cho về quê. Năm 1865, Giám mục Eugène Charbonnier Trí bổ nhiệm ông làm cha sở Nước Nhỉ (nay thuộc huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định).

Tất cả những chi tiết về cuộc đời mình, Lm Đặng Đức Tuấn đều kể lại trong Thuật tích việc Đạo nước Nam. Bản trường ca này dài 1182 câu lục bát, có xen lẫn câu song thất và các bài thơ thất ngôn. Bản in 1911 là bản quốc ngữ, có lẽ là bản chuyển ngữ của Thuật tích việc nước Nam được viết bằng chữ Nôm do Vũ Thu Hà và Nguyễn Ngọc Quỳnh (Viện nghiên cứu tôn giáo giới thiệu)[1].Trong cuốn Cuộc đời và tác phẩm của Linh mục Đặng Đức Tuấn [2], Nguyễn Văn Thoa không nói gì đến bản quốc ngữThuật tích việc Đạo nước Nam in năm 1911 này.

Điểm đặc sắc của Thuật tích việc Đạo nước Nam là ghi lại quá trình đạo Công giáo truyền vào nước Nam, đặc biệt là thời vua Tự Đức cấm đạo bằng chỉ dụ Phân sáp khốc liệt (1861). Lm Đặng Đức Tuấn bị triều đình bắt giam, tra khảo. Bằng nhận thức sâu sắc về lẽ đạo và lòng yêu nước, ông thuyết phục được Thượng thư Bộ Binh Lâm Duy Hiệp cùng Hiệp biện Phan Thanh Giản, sau đó được vua Tự Đức cử ông đi theo phái đoàn của Phan Thanh Giản vào Gia định thương thuyết hòa ước 1862. Những bản điều trần của ông có thể đã góp phần vào việc vua Tự Đức giảm nhẹ việc cấm đạo.

Thuật tích việc Đạo nước Nam cũng ghi lại việc phái đoàn nhà Nguyễn (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp) từ Huế vào Gia định ký kết hòa ước 1862 với Pháp. Cảnh đón tiếp hòa nghị được ghi nhận khá sinh động. Tính chất “nhật ký” tạo nên giá trị hiện thực của tác phẩm. Trong khi hòa nghị, Hai ông Phan, Lâm đều hỏi ý kiến Đặng Đức Tuấn về những yêu sách của Pháp. Mặc dù có sự cảnh báo của Đặng Đức Tuấn song hai ông Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp đã nhượng bộ Pháp quá nhiều, khiến cho sau này Vua Tự Đức lên án hai ông là “tội nhân của bản triều mà còn là tội nhân của muôn đời”.

Điều đáng khâm phục là sự dấn thân, thái độ thẳng thắn trung thực, sự hiểu thấu lẽ đạo và lòng yêu nước của Lm Đặng Đức Tuấn có sức cảm hóa nhà Nguyễn (vua Tự Đức) ngay cả trong tình hình cấm đạo khốc liệt (chỉ dụ Phân sáp toàn diện năm 1861).

Về văn chương, Thuật tích việc Đạo nước Nam thuộc văn chương bình dân, tuy vậy văn bản cũng có nhiều câu hay của văn chương bác học. Nghệ thuât kể truyện mạch lạc, tốc độ nhanh. Tác giả vừa kể vừa phân tích sự việc bằng thái độ khá khách quan, óc quan sát tinh tế, với tầm bao quát không gian, thời gian khá rộng. Tuy thuật lại nhiều chuyện đau buồn của thời cấm đạo song Lm Đặng Đức Tuấn luôn kiên định một lòng tin đầy lạc quan.

Văn bản Thuật tích việc Đạo nước Nam bằng chữ Quốc ngữ này so với ngày nay có nhiều chữ  sai chính tả, và nhiều chữ đã cổ không còn dùng. Những chú thích của tác giả được ghi dưới mỗi trang. Những chú thích về chính tả để trong ngoặc vuông […] do BCT ghi bên cạnh câu thơ. BCT đánh máy lại từ bản in 1911 của Nxb Phát Toán Sài Gòn.

***

VĂN BẢN TÁC PHẨM

***

THUẬT TÍCH VIỆC ĐẠO NƯỚC NAM

Par Linh mục Khâm, Quý Hợi niên tạo

Édité par: Đinh Thái Sơn

Maison: Phát Toán – Sài gòn – Sèbtembre 1911.

Phân loại TVQG (NLV): X375

(National Library of Viet Nam)

***

1.Đạo thánh Chúa giảng truyền nam thổ

Lê hoàng trào vịnh bổ cữu niên

Thới bàng ngôi báu đạt yên,

Dằm nhạn một tiếng viễn biên không trần.

5.Nữa ngàn gặp hội phong vân,

Nước nhà thạnh trị muôn dân an hòa.

Các thầy nước Buttuca,

Vâng lịnh Tòa thánh trẩy qua đàng ngoài.

Giảng truyền đạo Chúa thiên thai,

10.Vén mây vẹt ngút phát gai tìm đàng.

Đội ơn Chúa cả thiên vàng,

Kiếm tìm chiên lạc mở mang đạo lành.

Làng An-trường trước đành thọ giáo,

Dẫu hết đà hướng đạo hồi tâm.

15.Từ xưa nẻo lặc đàng lầm, [lạc]

Điều răn tạc dạ phước âm ghi lòng.

Non cao biển thẳm mấy trùng,

Ngữa mầng yến sáng khắp trong bầu trời.[mừng]

An thạnh sấn sướt mọi nơi,

20.Rày còn bia tạc để đời hậu lai.

                       Có thơ rằng:

Bia tạc công dành để hậu lai,

Hoa-lang giảng đạo mở đàng ngoài.

Trời Nam tiếp thấy xông mây ngút,

Đất Bắc đè miền phát gốc gai.

25.Nơi lũng nay đà vâng lịnh Chúa,

Phàm trần có thuở tới thiên thai.

Núi sông còn đó công linh đó,

Ngãi Chúa ơn thầy dễ lợt phai [nghĩa]

Ơn thầy ngãi Chúa nào phai,

30.Lần hồi mở đạo trong ngoài khắp nơi.

Bắc Nam hai ngã một trời,

Nhiều nơi xiêu lạc lời nghe chánh chơn.

Hai trăm năm đã có hơn,

Thiệu-Thống kế vị Tây-sơn dấy loàn.

35.Cho hay thiên vận tuần hoàn,

Thạnh suy biến dị nguy an đổi dời.

Lê-thiệu-Thống tìm nơi cầu viện,[vua Lê Chiêu Thống]

Qua Thanh-trào đình kiết giá băng.

Tây-sơn mặc sức hung hăng,

40.Phân chia cõi đất chiếm ngăn ngôi trời.

Bụi bay khắp chốn đòi nơi,

Gío nghiên thế nước nhặc hơi gian hùng,

Thới-đức Cảnh-thạnh Quang-trung,[Triều đại Tây Sơn: Thái Đức, Cảnh Thịnh, Quang Trung]

Hai trăm sông núi ngàn trùng phong ba.

45.Bắc Nam lừng lẩy binh qua,

Xây nên đảng ngụy đốt tòa vương công,[Nhà Nguyễn gọi Tây Sơn là đảng ngụy]

Đàng ngoài nhẩn đến đàng trong,

Lê gia thành quách quạnh không tro tàn.[Lê gia: Triều nhà Lê]

Nguyễn chúa tị loạn giang quang,

50.Đã qua Phú-quất lại hoàn Trấn-tiên [Phú quốc, Hà Tiên]

Giáo nhơn thấy ưu phiền khắp xứ,

Đời loạn ly ai giữ đoàn chiên?

Cảnh-hưng hoàn hiệu ngươn niên,[Cảnh Hưng-Lê Hiển Tông 1740-1787]

Nước Langsa mới nối truyền giảng rao.

55.Không cùng đất rộng trời cao,

Ơn Chúa dạ tạc lẽ nào lòng quê.

                      Có thơ rằng:

Ơn trên dạ tạc dám lòng quên,

Nối tiếp khai quang đạo vững bề.

Nhựt thựt một hồi đâu mất sáng,

60.Đạo truyền muôn kiếp có quyền trên.

Dầu cho thì biến Lê ngang dọc,

Há để trời Nam ngụy đắp nền.

Tiêu tán sự đời đời khiến vậy,

Đạo hằng có Chúa dựng gầy nên.

65.Đạo truyền có Chúa gầy nên,

Langsa nối giảng khắp miền Việt-nam.

Bá-đa-Lộc quyền làm giám mục,[Pierre Pigneau de Behaine]

 Chăn chiên lành dưỡng dục khi song.

Vốn người dòng dõi vương công,

70.Lánh mình thế phước quyết lòng thiên hương.

Qua Nam-việt một phương vội vội,

Đèn thiêng liêng cõi tối hằng chong.

Gặp đời thảo mụi long đong,

Mình làm cột đá giữa dòng muôn lang.

75.Ra tay tá quấc an bang,

Vực phò Nguyễn chúa đam sang Xiêm thành.

Vua tôi thầy tớ xuất hành,[Giám mục Bá Đa Lộc]

Mấy trùng non nước tất thành kiêm lang.

Nguyễn chúa ở lại Xiêm bang,

80.Đức thầy chịu mạng lại hoàng Tây-dương.[hoàn]

Bôn lo khôi phục cố cương,

Một phen toan tính một trường phân ly.

Đông cung niên thiếu ra đi,[1]

Thát cô gánh nặng kinh quyền ngãi thông.

85.Trèo non vượt biển mấy trùng,

Một lòng ái kỷ một lòng ái nhơn.

Về cố quấc thiệt hơn bày tỏ,

Xin viện binh giúp bổ Nguyễn gia

Chí lâm cả sáng danh Cha,

90.Giữa dân ngoại đạo mở tòa hội công.

Đam sang binh thủy thuyền đồng,

Quyết trừ đảng dữ dẹp xong mối loàn,

Lại từ kinh quấc Phalang,

Nghiêm bày đội ngũ sửa sang thành trì.

____________

[1] Đông cung thọ lịnh Nguyễn Chúa cùng đức thầy Bá Đa Lộc vãng Tây dương quấc

BCT:Đông cung: Hoàng tử Cảnh, con Nguyễn Ánh, đi theo Bá Đa Lộc sang Pháp 1784

(Trang 4)

95.Vua tôi sum hiệp một khi,

Phong vân hội mở thuần thì thới lai.

Quyền thái phó khâm sai đạt mạng,

Điều chiến binh thủy bộ viện binh.

Việc vua việc Chúa trên mình,

100.Hai vai gánh nặng một tình ái ưu.

Máy binh đồ trận cơ mưu,

Kinh luân vương tá phong lưu vương hào,

Đang cơn khói lửa mưa đào,

Vững trồng cột đá, chẳng xao lòng vàng.

105.Ghe phen tân khổ gian nan,

Đã xua đảng cáo lại hoàn an trư.

Cõi Nam đất cũ an cư,

Trước thâu Gia Định, sau trừ Quang Trung.

Hùng binh hổ tướng rùng rùng,

110.Lên trận Thị -nội vào cung bàn xà.

Tây-sơn đảng tặc lánh xa,

Quy Nhơn trở lại Nam đà vẹn thâu.

Đến bến-đá đêm hầu giờ tí,

Một trận nầy binh ngụy nát tan.[quân Tây Sơn]

115.Nực cười thiểu truyện lớn gan,

Lấy ngao lường biển bẻ cang chống trời.

Đàng ngoài cõi đất vơi vơi,

Một phen con đỏ còn nơi nịch thần.

Lòng giúp nước cứu dân mệt mỏi,

120.Việc giảng truyền mọi nỗi chưa an.

Nào hay biến cuộc thương tàn,

Cõi trần từ tạ thiên đàng nghỉ ngơi.[Bá Đa Lộc mất 1799]

Đức vua thương tiếc rụng rời,

Mất tay tả hữu mất người phúc tâm.

125.Núi Kỳ-sơn ngàn trùng chất thảm,

Thành Quy-nhơn ám dặp phong sương.

Ngừa than hai chữ vô thường (1)

Ngàn năm ly biệt một trường bi ai.

(Trang 5 bản in:)

Cám công đất rộng trời dài,

130.Ngự bày điếu tế ngự bày sắc phong.

Về Gia-định đàng trong an táng,

Lập lăng mồ biêu rạng công cao [2]

Đông Cung lụy nhỏ thâm bàu,

Tống chung một thuở ngậm sầu ba thu.

135.Ngùi ngùi cám kiểng tan du,

Khách tinh lờ lệch gió thu lạnh lùng.

Sử xanh ghi chép tinh trung,

Đá bia còn đó cột đồng còn đây.

______

[2] Nam Việt quấc vương điếu tế 5 chức đạo sắc phong tữ đạo kiêm nhựt thượng tồn Giám mực Bá-đa-lộc lăng táng tại Gia-định cụ hữu sắc thạch minh công kiêm nhựt thượng tồn.

                      Có thơ rằng:

Bia tạc lăng mồ để nhớ công,

140.Sử xanh ghi chép chữ tinh trung.

Hết lòng kính Chúa chăn chiên lạc,

Trải dạ phò vua đỡ cột đồng,

Mũ gậy sáng ngời biêu đạo thánh,

Ngọn cờ mây tỏa sắc vương công.

145.Ngãi nhơn còn đó giang sơn đó.

Đất rộng trời cao dạ dễ cùng.

Trời cao đất rộng không cùng,

Giang sơn còn đó tấm lòng còn đây.

Việc tống táng Đức thầy đã đoạn,[Đức Thầy: Giám mục Bá Đa Lộc]

150.Lịnh vua ra dẹp loạn ngoài trong.

Tùng chinh Minh, Tính, Phụng, Long,

Cánh vây lừng lẩy chín trùng cao bay.

Trừ giặc Quảng trong tay một mối,

Ra đàng ngoài đánh tội cứu dân.

155.Gió oai thổi bóng ẻo hy,

Tây-sơn bặt dấu Bắc thì soán ngôi.

Lũ ngụy đảng nảy chồi nứt mộng

Rút đòng khai chẳng động tất binh

(trang 6 bản in:)

Mở nền hao hạ thinh thinh,

160.An dân dưới chiếu tảo trình trở quân.

Về đô kinh quấc Phú-xuân,[Gia Long lên ngôi 1802]

Trên an đế nghiệp dưới mừng thới lai.

Muôn dân vui đặng nghỉ vai,

Phủ trong một mối sử ngoài bốn phương.

165.Vua cám thương công ơn tái tạo,

Chỉ truyền cho giảng đạo mọi nơi.

Lang-sa Nam-việt hai trời,

Một lòng hòa hảo không lời cấm ngắn.

Thì lòng hai chữ tải căng,

170.Các thầy qua lại đạo hằng giảng khuyên.

Trải đời Giám mục tiếp quyền,

Dưới thì Linh mục chức quyền phân tư.

Khắp miền lạc nghiệp an cư, [5]

Dưới tôn vương pháp trên thờ Chúa Cha.

175.Thái bình một khúc cao ca,

Nhơn dân chuyên quản nước nhà an ninh.

                             Có thơ rằng:

Muôn dân chuyên quản nước an ninh,

Đời chốn vui ca khúc thái bình,

Bờ cõi vắng tăm hơi khói lửa,

180.Biển sông bạt tích giọng nghê kình.

Ơn vua mưa rưới nhuần trăm họ,

Đạo Chúa sáng soi tĩnh chúng sanh,

No ấm phĩ lòng mừng vận trị,

Muôn dân chuyên quản nước anh ninh.

185.Dân chuyên quản nước an ninh,

Toại bề nhạn thích phỉ tình thì cư.

Đinh, Lê, Trần, Lý đến giờ,

Thới hòa một thấy xa thơ ba đồng.

Năm Minh-mạng cửu trùng kế vị [6][Vua Minh Mạng 1821]

190.Đời thái bình tức chỉ cang qua

______________ 

[5] Đàng trong Giám mục Gioang, Giám mục Từ

[6] Cao hoàng tại vị thập bát niên băng

(trang 7 bản in:)

An nhàn khắp cõi gần xa,

Biển sông trong nước tuyết hoa rực ngời.

Kính vua thờ Chúa mọi nơi,

Vui vầy nước trị vẽ vời đàng ngay.

195.Giảng rao đạo Chúa cao dày,

Giãi dịch kinh sách vẽ bày khôn ngoan.

Nước nhà càng thạnh giàu sang,

Ngõa nguê tứ thú an nhàn tứ dân.

200.Máy theo tạo hóa xây vần,

Không cùng ý nhiệm không phân lẽ mầu.

Dang-sơn, Cổ-lão cơ cầu,

Kiện nhau giải hạng tranh nhau đất làng.

Dang-sơn có đạo vẹn toàn,

205.Cổ-lão không đạo quyết toan mưu thù.

Bỡi lòng giận ghét phao vu,

Trước thưa phủ huyện sau vô pháp đường.

Rằng: đạo ỉ thế Tây-dương,

Phan kinh đạo trưởng mối dường so đo.

210.Cao minh chậu úp không dò,

Việc đầu thì nhỏ sau to bằng trời.

Chỉ truyền cấm đạo mọi nơi,

Minh-mạng trị đời năm thứ mười ba.[1833]

Bắc nam khắp cõi gần xa,

215.Đạo đường triệc hạ các cha tử hình.[triệt]

Giáo nhơn ai chẳng thuận tình,

Trảm quyết lập tức lôi đình oan gia.

Ai mà thập tự bước qua

Ấy là thiên thiện chĩ qua về nhà.

220.Chúa cao xa mở khoa thi hội,

Bao nhiêu người yếu đuối rớt đi.

Bạc vàng lộn lạo thao chì,

Một phen vào lửa thử thì thấy pha.[lửa thử vàng]

Chúa dùng sự khó thử ta,

225.Gian nan dưới thế nghiệp hoa trên trời.

Hội này trảm quyết nhiều người,

Từ trong đất Huế đến nơi Bắc-thành.

(trang 8 bản in:)

Những hàng đạo đức thinh danh,

Những hàng chức sắc quân binh dân thường.

230.Tử hình nhiều cách oan ươn,

Quyết lòng liều sống đền ơn tạo thành.

                            Có thơ rằng:

Khoa trời mở hội rộng thanh thanh,

Liều sống đền ơn Chúa tạo thành,

Mũi bạc bay qua miền tạm thế,

235.Cờ điều thẳng chỉ cõi trường sanh,

Hồn thiêng đã đặng nơi cung thánh,

Nhỏ máu còn deo giống đạo lành,

Rạng tuyết tôi con cơn bãng đãng,

Muôn đời hưởng phước lại thơm danh.

240.Muôn đời hưởng phước thơm danh,

Đầy lòng vui vẻ phỉ tình cậy trông.

Tư, Đức vọng đàng trong Giám mục,

Chăn chiên đời khoản khúc gian nan.

Đang cơn bóng tối đầy tràng,

245.Giữ gìn đèn sáng khai quan lòng người.

Cúi mình ẩn yến khắp nơi,

Uống ăn cay đắng nghỉ ngơi hang hầm.

Ghe phen ở tối đi thầm,

250.Sói hùm chi quảng sơn lâm chi nài.[quản]

Ra tay phát gốc ruồng gai,

Vườn nho vung quén người tài dưỡng nuôi.[vun]

Trải năm nhen nhúm lần hồi,

Dịch in kinh sách trao dồi đoàn chiên.

255.Bỗn quấc Linh mục chức truyền,

Trong thì nghèo hiểm khắp miền giữ chăn.

Gởi nhiều người đến Pinăng,

Học lẽ thông thái để hằng giảng khuyên.

Lại chia gánh nặng đoàn chiên [ 7 ]

260.Gia-định một mối Thừa-thiên một quyền.

____________________

[ 7 ] Gia-định Giám-mục Ngải, Thừa-thiên Giám-mục Phan

(trang 9 bản in)

Trong ngoài đều có mối giềng,

Đạo tuy nghiêm cấm đèn thiêng sáng ngời.

Giáo nhơn ở các phương trời,

Thấy gương phước đức nhiều lời ũi an.

265.Bắc Nam ngàn dặm quan san,

Quyền trên có đủ ân ban cũng đồng.

Đâu đâu chức thánh hằng phong,

Toại lòng người thế ước mong phước trời.

Đang cơn ly tiết dưới đời,

270. Đã nhiều thánh cả về nơi thiên đàng.

Đội ơn Chúa cả cao quang,

Hằng hà phước trọng muôn vàng ơn riêng.[vàn]

Trải qua Thiệu-Trị thất niên, [1847]

Việc đời nghiêm nhặt việc thiêng đượm nhuần.

275.Tuy còn nhiều nỗi gian chuân

Đã từng bắt bớ đã từng lao đao.

Ghe phen biển dậy ba đào,

Chiếc thuyền Hội-thánh chẳng xao chẳng chìm.

Chữ rằng: Dĩ hỏa thí kim,[lấy lửa thử vàng]

280.Gian nan thử đức khảo kềm thử gan.

Chúa là cội rễ khôn ngoan,

Dùng phương tập luyện mở đàng thiêng liêng.

Đễ hằng gặp khó liên liên,

Ngọn roi khôn khéo cha hiền dạy răn.

285.Ai mà biết tội ăn năn,

Nay tuy tạm khó sau hằng nghỉ an.

Ai mà lòng đạo mơ màng,

Lao đao thân phận rõ ràng phải chăng.

Năm Tự-Đức vị đăng cữu ngũ, [Tự Đức: 1847-1883]

290.Đời thừa bình quy cũ giữ noi.

Trãi năm khoan giãng lần hồi,

Muôn dân khác thói một cơi đồng bào.

Lòng nhơn biển thẩm non cao,

Chẩn bần tha thuế rưới đào đòi phương.

295.Tuy rằng đạo cấm như thường,

Nhiều nơi thuyết lập đạo trường giãng rao.[thiết lập]

(trang 10 bản in:)

Nhiều người biết đạo sâu cao,

Lánh lui đàng lạc trở vào đàng ngay.

300.Nhiều người chẳng nệ đắng cay,

Bỏ phần sung sướng trông ngày thiên chung.

Đang khi thanh lặng biển sông,

Bỗng nghe tiếng súng đùng đùng vang tai.

Nhộn nhàn xao xác trong ngoài,

305.Người người thất vía ai ai kinh hoàng.

Ít ngày nghe chuyện rõ ràng,

Tây-dương tàu lại cửa Hàn ghẹo chơi.[Pháp đánh Cửa Hàn (Đà Nẵng) 1857]

Trước đà gây chuyện báo đời,

Rày còn tái lại trời ôi là trời [8].

______________________

[8 ]Thiệu-Trị thất niên (1847) dương tuyền lại nhứt thứ, Tự-Đức thập nhứt niên hựu lại nhứt thứ (1858).

310.Quan quân thôi đã hết hơi,

Kẻ bị cách chức người dời thê nô.

Kẻ thì chuyền của dọn nhà,

Sợ e giặc đến hóa ra tro tàn.

Kẻ súng vác người gươm mang,

315.Vâng lịnh tướng soái ở đàng phong sương.

Người thì tụ hội binh lương,

Tập rèn nghề võ quyết đường quan gia.

Vốn tâu xin [1 chữ mờ]…giao hòa

Xin cho giảng [1 chữ mờ]… cùng là hội thương.

320.Trào đình [2 chữ mờ]…tư lương

Sai binh thủ ngụ chiến trường gian nan.

Tàu tây nổi nóng làm ngang,

Ỹ nhiều thuốc đạn bắn càng quân quan.

Lên lập phố xá tại Hàn,[Hàn: Đà Nẵng 1858]

325.Ở vài năm đó chẳng toan ra gì.

Rũ nhau kéo hết mà đi,

Gia-định thẳng tới thành trì bắn tan.[1859]

Quân chết tính ước dư ngàn,

Súng giáo mất hết kho tàng còn chi.

330.Kéo lên chiếm cứ Nam-kỳ, [1862-1867]

Nghinh ngang xe ngựa li bì nguyệt hoa.

(trang 11 bản in:)

Khéo là tội báo oan gia,

Tính bề giục lợi lại pha việc lành.

Mượn câu giảng đạo làm danh,

335.Làm cho giáo hữu tan tành phen ni.

Làm cho Nhà nước sanh nghi,

Giam cầm đầu mục khinh khi đạo trời.

Làm cho xao xác trong đời,

Rúng động đất nước đổi dời gió trăng.

340.Núi Ải-vân khói giăng mấy khúc,

Cõi Đồng-nai gió thúc ngọn sầu!

Khôn cùng mọi nỗi lo âu,

Một mình ở giữa hai đầu bắn nhau.

Nghĩ suy mà sợ ngày sau,

345.Bá tòng đã đốn sậy lau nào chừa.

Ngạn rằng: quà quạ ăn đưa,

Bắt cò phơi nắng người xưa để lời.

Canh giam nghiêm nhặt khắp nơi,

Giữa đàng mang ách lạ đời oan ươn.

                            Có thơ rằng:

350.Giữa đàng mang ách ách khi không,

Ách tắc lạ đời ách quá xung.

Kẻ ở Tây-dương qua bắn súng,

Người bên Nam-việt lại mang gông.

Trời cao cổ vắng không kêu thấu [cổ vắn, nghĩa là cổ ngắn]

355.Lẽ vạy tình ngay phải xét công.

Đồng đạo nào hề đồng chước móc,

Khác trời khác biển khác Tây Đông.

Khác trời khác biển Tây Đông,

Vì giữ đạo Chúa cũng đồng vấn vương.

360.Mật truyền tỉnh phủ huyện đường

Đạo nhơn tận số tế tường báo khai.

Chẳng kỳ già trẻ gái trai,

Mỗi tháng đòi bắt điểm hoài lao đao.

Những đi lên xuống ra vào,

365.Cửa nhà bỏ đó hư hao kể gì.

(trang 12 bản in:)

Đến quan dạy bảo một khi,

Bay mà xuất giáo tao thì tha cho.

Đứa nào cứng cổ cương co,

Giày roi có đó nọc vồ có đây.

370.Bay đừng quen thói dại ngây,

Đạo Ta thì bỏ đạo Tây thì thờ.

Khá tua cải quá bây giờ,

Bước qua thập tự ngõ ngờ ơn tha.

Chẳng nghe tao cũng xẻ da,

375.Phước đâu chưa thấy tội đà nhuốt nha.[nhuốc nhơ]

Thảm thay con nít đờn bà,

Phen nầy mới biết huyện nha dường nào.

Quan quân roi vọt hùng hào,

Hết hồn hết vía hết tao hết mầy.

380.Ai ai đều phải đến đây,

Ít lâu rồi cũng xầm xầy như không.

Những người lòng vững cậy trông,

Bẩm quan đáp lẻ chưa cùng lời khai.

Roi to roi nhỏ đánh bừa,

385.Chẳng kiêng lưng cổ chẳng chừa đầu đuôi.

Đứa thì bắt cổ kéo lôi,

Kéo qua thập tự cho rồi phui pha.

Kẻ thì vồ nọc căng ra,

Đánh chơi vài chập kêu la vang trời.

390.Người thì lo sợ hết hơi,

Giả đó đau bịnh ma trơi lèn xèn.

Kể chi là phận sang hèn,

Ai chê mặc thích ai khen mặc tình.

Những người đạo đức linh chinh,

395.Lo sợ xác đất u minh phước trời.

Vào quan chưa hỏi một lời,

Đà lo xuất giáo ở đời cho an.

Nghĩ rằng liều mạng bước ngang,

Mai sau thỉnh thoản sẻ toan lo liều.

400.Tiếc người chịu cực đã nhiều,

Trải qua mấy trận chưa xiêu tất lòng.

(trang 13 bản in)

Lâu ngày chịu đựng không xong,

Uổng công xe cát lấp dòng thương lang.

Lửa nóng thì biết tuổi vàng,

405.Khá khen mấy kẻ vẹn toàn thĩ chung.

Nước loạn mới biết tôi trung,

Phong ba gặp trận anh hùng biêu danh.

Sấm truyền Chúa phán đinh ninh,

Húy tử thì lỗ xá sanh lại lời.

410.Sao nói cho hết chuyện đời,

Trải qua bão lụt rã rời cỏ cây.

Phen nẩy ta tác cha thầy,

Mấy ông tử đạo lúc nầy đã an [9]

_________________

[9] Gia-định cậu Minh, cậu Dỏng. Bình-thuận cậu Các, Bình-định cậu Chung. Quảng-nam cậu Lợi, Thới, Bộc. Quảng-binh cậu Chung các cậu tử đạo.

Cực người còn ở dương gian,

415.Chông gai chi xiết gian nan chi cùng.

Tuần do tập nỏa tứ tung,

Ông lo thế trốn ông dùng phương đi.

Ông thì giả bộ dị lỳ,

Phơi ngoài trời nắng đen sì nước da.

420.Ông thì giả dạng xấu xa,

Khăn vãi cũ rách áo dà vàng hoe.

Ông thì làm cách nhà quê,

Tóc râu xờ xạc nón cời lang thang.

Ông thì giả bộ giàu sang,

425.Ăn mặc coi khá dạo càng cũng xong.

Hoán danh cải tánh ròng ròng,

Giả dại qua ải thoát vòng gian nguy.

Ăn theo thuở ở theo thì,

Muốn chết vì Chúa nệ gì thế gian.

430.Nhưng phải giữ lời khôn ngoan,

Bắt bớ thành nọ trốn sang thành nầy.

Đã buồn lại phải làm khuây,

Vảy tróc cũng chịu vi trầy cũng cam.

(trang 14 bản in:)

Thảm thương mấy kẻ lưu giam,

435.Hồ Việc phụ tử Bắc Nam tớ thầy [Hồ Việt].

Vì ai nên cớ sự nầy?

Cá ao khát nước chim bầy lạc cây.

Hoa trời bát ngát mưa mây,

Biển đông để giận gió tây đưa sầu.

440.Xưa nay đạo cấm đã lâu,

Khoan thai vừa phải có đâu quá chừng?

Cực nầy chưa thấy chưa từng,

Tưởng âu tận thế đến tuần gian nan.

Đạo ta rày khó ở an,

445.Phần quan bắt bớ phần làng thắt eo.

Lạ chi lịnh ít lạc nhiều,

Mấy anh đảng cáo nương theo oai hùng.

Nghe hơi cậu xã chú trùm,

Cơn sợ chẳng khác trời gầm bên tai.

450.Nhiều tay văn vật trí tài,

Nhiều người lịch lãm thanh bai sang giàu.

Nhiều tay lý sự kỳ cào,

Thấy bà cậu mợ mày tao với đời.

Cầm kỳ thi họa ăn chơi,

455.Phủ phê mọi nỗi thảnh thơi mọi đường.

Cũng vì một khoản Tây-dương,

Hết ruộng hết đất hết lương hết tiền.

Những khai những điểm liền liền,

Mặt nào cũng chẳng ở yên đặng rày.

460.Quan bắt làng ăn no say,

Nong nia đã nát cối xay lại mòn.

Cực thay lại phải cúi lòn,

Gia-tô mềm mỏng ăn ngon quá chừng.

Tưởng là cực cũng có tầng,

465.Hay đâu còn lúc gian khuân quá đầu.

Có thân thì phải lo âu,

Tan thương dời đổi ưu sầu chứa chan.

Trác ra cho các xã làng,[trát]

Tựu nha lập tức đợi quan mật truyền.

(trang 15 bản in:)

470.Đạo rày phân sáp các miền, [Tháng năm 1861 vua Tự Đức ký lệnh phân sáp toàn diện]

Ngày đêm canh nhặt giữ liền chớ tha.

Làng nào để nó trốn ra,

Tội tình chẳng ít oan gia chẳng vừa.

Bình dân lớn nhỏ bắt bừa,

475.Dẫn ra khắt tự chẳng chừa gái trai [Khắc tự: khắc chữ]

Tội chi nào biết hỏi ai,

Xẻ mày xẻ mặt chịu chai chịu lỳ.

Cực cho các ả các dì,

Kẻ thì xin lãnh đứa thì đòi mua.

480.Lụt lội rồi cũng giơ cua,

Lá rụng về cội xôi chùa khó ăn.

Khắt rồi quan dạy răng răng,[khắc]

Nạp tờ giao lãnh vi bằng một khi.

Các làng cứ sổ lãng đi,

485.Giở nhà lập tức giẫn tùy liền tay.

Ngặc ngào trăm nổi đắng cay,[ngặt nghèo]

Mưa sa hàng lụy gió day mạch sầu.

Sáo ngã lại dập thuyền câu,

Ta đà liên lụy ai đâu yêu vì.

490.Điếm đàng bợm bải thiếu chi,

Miệng thăm cô bác lòng thì tham ô.

Hỏi thăm bồn chậu giẻ tô,

Ngựa ván ghế tủ gửi mô cho rồi.

Thôi thôi để lại cho tôi,

495.Của đáng vài chục giao hồi ít quan.

Thảo nào mèo lại ăn thang,

Kẻ rinh cái nọ người mang cái nầy.

Đến thăm đông đảo dậm dầy,

Ngoài miệng mếu máo trong tay quơ đồ.

500.Thảm thương anh chị cậu cô,

Ra thân thể ấy thuở mô tái hoàn?

Vườn đất để đó mặc làng,

Sau mà về đặng sẽ hoàn lại cho.

Ra đi không xiết nỗi lo,

505.Lúa thóc gửi lại đói no mặc trời.

(trang 16 sách in:)

Lang thang gánh xách nón tơi,

Giã từ cố cựu tới nơi giam cầm.

Ngập ngừng châu lụy lăm dăm,

Trí khôn đậu mắt tạng tâm chẳng còn.

510.Mịt mù mây phủ nước non,

Phân cha làng nọ sáp con làng nầy [Phân sáp]

Chông gai hào lũy phủ vây,

Gông cùm ngang dọc đó đây chật đày.

Ngậm ngùi trời đất cỏ cây,

515.Núi nam chất thảm biển tây giăng sầu.

Băng xăng mọi nỗi lo âu,

Kinh đọc thầm thỉ lòng đâu mơ màng.

Kẻ khóc lóc người than van,

Lạ lùng xứ sở ngở ngàn bà con. [Ngỡ ngàng]

520.Gẫm thân cũng đã thon von,

Dọn mình mà chết chẳng còn trông ra.

Khắc canh mõ ông thanh la,

Trộm cướp mấy án nhuốt nha thế nầy.[nhuốc nha]

Xin đi một phút một giây,

525.Có người vác gậy cầm cây theo hầu.

Chòi mòng phía trước phía sau,

Nhìn xem quan [chữ bị mờ]…nên đau đớn lòng.

Lấy ai an ủi bề trong,

Gẫm thân lá rụng giữa dòng nước qua.

530.Sáp lần trước cực đà bỏ mẹ, [Phân sáp]

Còn sáp phen nay phải bỏ cha.

Mới làm quen lớn tốn hao,

Ở ăn vừa dễ ra vào bớt nghi.

Lại phải bỏ đó mà đi,

535.Sáp qua làng khác sầu bi bàng hoàng.

Loi ngoi lạch ạch ngoài đàng,

Kẻ gánh trẻ nhỏ người mang đồ tề.

Cực sao mà cực gớm ghê,

Một mình tấc bạc tứ bề ăn chơi.

540.Ai ai là cũng người đời,

Bế tệ dường ấy đất trời hay chăng?

        (tr.17 sách in:)

Nghĩ buồn lại biếng nói năng,

Làm thinh ngồi đó biết ăn đí gì.

Sầu bi lại dập sầu bi,

545.Thảm thương mấy kẽ ở vi qua đời.

Lâm cơn chích mác đòi nơi,

Không ai đọc sách không người rước cha.

Lẽ sống sống thì nhuốt nha,

Tay không đồng sức bụng thì xóp khô.

550.Đói thôi đầu gối hay bò,

Kẻ đi mần mướn người lo bán đồ.

Kẻ đi thăm cậu viếng cô,

Nhờ thép nhiều ít đói no đỡ lòng,

Dầu kẻ có một hai đồng,

555.Khai điểm lúc trước tốn ròng còn chi.

Phen này ai cũng chịu lỳ,

Bất qua thí chết còn gì nữa đâu.

                   Phân sáp thơ kỳ nhứt

Một phen vực thảm hóa công giâu,

Muỗi chết oan tình hỡi hỡi trâu.[Thành ngữ: trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết]

560.Vạn lý cù lao đâu há ví,

Một trường ly tiết dám hầu xin.

Gẫm thân xài xạc thân không cánh,

Tủi phận bỏ ngơ rắn đứt đầu.

Tưởng những cây trôi không trở lại,

565.Quê xưa thổn thức chạnh lòng âu.

Đầu tằm đã biết đổ trăm giâu,[Thành ngữ: trăm dâu đổ đầu tằm]

Lịnh dạy ra đi dẹp ruộng trâu,

Đêm ngủ nhờ làng canh lối cửa

Ngày đi mặc kẻ chạy theo hầu.

570.Cửa nhà cao lớn xem ngang mặt

Quan khách vào ra thảy cúi đầu.

Nội ngoại mấy trùng hào lũy chắc,

Mặc ai làm giặc chẳng lo âu.

Kẻ phân sáp cực đà xong phận

575.Người trốn còn lận đận lao đao.

(trang 18 bản in:)

Hết phương ẩn yểng nhà nào,

Kẻ lên trên núi người vào vườn hoang.

Kẻ thì thơ thẩn ngoài đàng,

Sợ quan có một sợ làng bằng ba.

580.Lúc này hiếm đứa gian tà,

Duồng theo trận gió u hoà bẻ măng.

Vậy nên đổi lốt thay chăn,

Nghèo đà cháy cánh còn ăn đặng gì.

Đói rách cũng phải chịu lỳ,

585.Bà con cách mặt sầu bi thống tình.

Ba chìm bảy nổi linh đinh,

Nay ở chỗ nọ mai rinh chỗ nầy.

Khác chi chim đã lạc bầy,

Tìm cây nương ẩn kiếm cây đỗ nhờ.

590.Nghĩ đà thất sở thân sơ,

Phải trước khai sáp bây giờ đã xong.

Chẳng còn nhiều lúc cực lòng,

Nghe ai lớn tiếng chạy cong thở dài.

Kể chi bờ bụi chông gai,

595.Gặp ai có hỏi thưa ngài bẩm ông.

Trong lưng còn lại mầy đồng,

Bị bắt ít chiến sạch không như chùi.

Nghĩ suy cho thấu đầu đuôi,

Đọc khai cho rồi đi sáp với nhau.

600.Lúc nầy ai ở lại sau,

Dài tóc cũng mắc trọc đầu cũng mang.

Cực vì các cậu biện bang,

Thổi lòng tìm vít đạp đàng bẻ măng.

Vỏng lên vỏng xuống lăng xăng,

605.Thấy bóng các cậu sợ bằng quan to.

Lỗ chi vàng gánh vào kho,

Bắc đặng tả đạo thưởng cho bạc tiền [bắt]

Gặp thì gặp vận gặp duyên,

Mấy nhà cấm cố đặng quyền khảo tra.

610.Ma bắt coi mặt người ta,

Mấy người nghèo đói đem ra đánh liền.

(trang 19 bản in:)

Đã cùng lại ở chẳng yên,

Những sợ bang biện tới miềng nhà giam.[miền]

Thầy nghe lời nói việc làm,

615.Đâu đó một cách Bắc Nam một tuồng.

Vườn nhà phá trông luôn tuồng,

Lặn lội ở cạng thuồng luồng nào quen. [ở cạn]

Cha thầy khác thể như đèn,

Giấu giếm sao kính chúc chen sao rồi [10]

620.Các cha bắt đặng lần hổi,

Đức thầy bắt đặng gò bồi thị Lưu

Số là có đứa gian cừu,

Điểm chị cậu Thọ tạm lưu lối nầy.

Quan quân hỏa tốc đến vây,

625.Xét nhà lái Sỉ thấy thầy ở mô.

Tịch phong ba chữ Gia-tô,

Quan quân ở đó ra vô ba ngày.

Xét đặng áo lễ đồ Tây,

Hỏ tra ông Quả phải thầy hay không.

630.Anh ta chối vái ròng ròng,

Tôi là bổn đạo biết còng gì đấu.

Quan quân tính việc còn lâu,

Dạy đóng gông giải để hầu tỉnh tra.

Đức thầy khát nước thiết tha,

635.Ở trong lẩm lúa bước ra bề ngoài.

Quan quân xem thấy kinh oai,

Kêu la truyền báo dậy tay vang làng.

Thanh la mõ ống tứ phan,

Dùi gậy giáo mát kéo đoàn phủ vây [mác]

640.Lâu nay mới thấy ông tây,

Bá quan thiên hạ dậm đầy đến coi.

Quan dạy đóng cũi cho rồi,

Bỏ vào trong ấy để ngồi nhắm chơi.

Mấy người tùng dã rụng rời,

645.Bấy lâu mới thấy việc đời quá hung.

[10] Cậu Thành, cậu Quạn, cậu Châu, cậu Sự, cậu hơn, cậu Bữu

(trang 20 bản in:)

Đã trói rồi lại đóng gông,

Bà con lái Sĩ đều đồng gia gian.

Đánh dây xâu lại một đoàn,

Tịch phong của cải giao làng lảnh canh.

650.Tốc sai phi báo tỉnh thành,

Xin cho tỉnh phái tùy hành khỏi lo.

Trời lụt nước hãy còn to,

Quan truyền khiêng cũi lần dò đi lên.

Nam nữ hai mười bốn tên,

655.Dẫn lên một lược còn chuyên dọc đàng [lượt].

Giải lên trình nạp tỉnh quan,

Lịnh truyền các trại phân tan giam cầm.

Gần xa nghe đã kinh tâm,

660.Tứ phương thiên hạ rầm rầm chạy coi.

Truyền canh nghiêm nhặt vô hổi,

Các bác đầu mục đứng ngồi tái xanh.

Quan đòi ông Quả vào dinh,

Nọc căng roi khảo nát mình xé da.

665.Thầy Tuyền cũng bị khảo tra,

Đau đớn quá sức kêu la dậy trời.

Hỏi qua sao khẩu ít lời,

Đều đặng đều mất rã rời chưa yên,

Đức thầy quá nỗi ưu phiền,

670.Bịnh mang đã năng quan truyền khoan tra.

Đòi thầy đầu thuốc điều hòa,

Kỳ mười lăm bữa hoặc là bịnh thuyên.

Nào hay mạng tạo hồ thiên,

Đủ ngày kỳ hẹn bỏ miềng dương gian.[miền]

675.Cám thương mọi nỗi bàng hoàng,

Làm thơ để kính tất hoàn công lao.

                        Có thơ rằng:

Cõi Nam đạo thánh rạng công lao,

Sấm sét tư bề chẳng chuyển nao.

Trăm trận ba đào tay lái vững,

680.Một lòng kính mến ngọn cờ cao.

(trang 21 bản in)

Đã cam vì Chúa trăm phen thác,

Còn tiếc đền ơn một lưỡi đao.

Hài cốt biết đâu tìm kiếm đặng,

Dòng quyên bay hãy trả cho tao.

685.Đức cha quan đã tán rồi [táng]

Mấy người còn lại ngậm ngùi than van.

Phần thương phần sợ hai đàng,

Cha về quê kiễng bỏ đoàn con chiên.

Quan đòi ông Quả thầy Tuyền,

690.Bắt khai làm án phát liền về kinh.

Đòi các đạo trưởng vào dinh,

Dạy khai sự tích sự tình do lai.

Tỉnh quan hội các lời khai,

Đều kết án nặng sớ lai ngự tiền.

695.Ít lâu có chỉ về liền,

Kẻ xử trảm giảo người truyền canh giam.

Không cùng mọi nỗi  khổ cam,

Chép qua hòa lượt để làm gương soi.[11]

____________ 

[11]xử trảm các cậu bắt đặng lúc trước

                  Có thơ rằng:

Đàng hẹp đã từng chịu khổ lao,

700.Lâm cơn bỉ cực há lòng nao.

Phú mình chịu phép vua truyền lịnh,

Đổ máu đền ơn Chúa ngự cao.

Thắng trận chói lòa đầu đội mũ,

Toàn công chớ nệ cổ mang đao.

705.Chúa đà phán hứa khi lâm nạn,

Quan hồi trình thưa đã có tao.

Trong cả nước cực đà đủ đổi,

Ba tỉnh nầy còn rối hơn xa.

Một là trong tỉnh Biên-Hòa,

710.Tàu Tây lên đánh quan Ta đốt liều.

(trang 22 bản in:)

Mấy nhà cầm cố cháy thiêu,

Bổn đạo ở đó chết nhiều thương thay.

Hai là Tư ngãi cũng cay,[Quảng Ngãi]

Các ông đầu mục giải đày lên cơ.

715.Bị chói nước độc ngất ngơ,

Lần hồi chết hết ráo hơ không còn.

Chết thâm đến kẻ bà con,

Những người lên đó thăm lom mà về [nom]

Ba là Nam-định quá ghê,

720.Nhận nước bổn đạo no nê ngư hà.

Kẻ thì cho voi vật chà,

Người thì trảm quyết biết là mấy muôn.

Thảm thương châu lụy nhỏ tuông [tuôn]

Một thơ để kính mấy muôn người nầy.

                          Có thơ rằng:

725.Đàng ngay đạo chính giữ noi làm,

Gặp hội rồng mây chết cũng cam.

Vì Chúa một lòng đền đất Việt,

Tử hình trăm cách rạng trời Nam.

Công linh cao tạc miền thiên quấc,

730.Ngãi khí bây tham cõi thế phàm.

Một cuộc cờ cao đà thủ thắng,

Phù sanh đời tạm chẳng lòng tham.

Đặng Đức Tuấn đang hồi bảng đảng,

Thuật lại đây truyện vãn cho cùng.

735.Tứ vi sấm sét đùng đùng,

Giam cầm khắp chốn gông cùm khắp nơi.

Nghe trong Bình-thuận thảnh thơi,

Tính vào trong ấy trốn chơi ít ngày.

Thấy trong thì sự đắng cay,

740.Điều trần một tập tỏ bày căng duyên [căn]

Làm rồi lại ở chẳng yên,

Buộc lưng đi trốn ra miền Nga-mân.[xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi].

Đi đến ở nhà bình dân,

Đặng hơn mười bữa tứ lân hay rồi.

(trang 23 bản in:)

745.Bang biện Tú-Quối đến coi,

Truyện vãn tử tế nằm ngồi làm quen.

Ít lâu nghe việc chẳng hèn,

Sợ tội vốn có tham tiền thưởng không.

Ngở ngàn khó bắt đóng gông [ngỡ ngàng]

750.Biểu làng đến hỏi thử ông xứ nào.

Đang buổi thiên hạ lao xao,

Làng không dám chứa bắt ào giải quan.

Kê gông kêu trói chàng ràng,

Tú-Quới mới lãnh xin làng miễn đi.

755.Ta là người biết thị phi.

Bằng làng muốn giải đừng thì gia gian.

Để ra đó mặc lượng quan,

Hoặc là phân sáp về làng ta chơi.

Tú –Quới rước về nghỉ ngơi,

760.Trà thuốc cơm nước việc đời cũng ngoan.

Sớm mai đủ mặc cả làng [mặt]

Ba người tùng dã một đoàn giải đi.

Đến huyện Mộ-đức một khi,

Quan ra ngồi khách tức thì đam vô. [đem]

765.Quan hỏi chú nầy ở mô,

Đi trốn thế ấy có đồ chi không.

Tuần rằng: dám bẩm lịnh ông,

Tôi ở Bình-định làng trong Quy-hòa.

Trong ấy quan giở hết nhà,

770.Nên tôi túng thế lần ra ngoài nầy.

Đồ chi cũng chẳng có đây,

Vật dùng ít cái tớ thầy tứ nhân.

Quan dạy lính lại coi gần,

Xét trong bao tấu điều trần sáu chương.

775.Lấy đam ra trước huyện đường,

Quan coi ngẫm nghĩ chưa tường căn duyên.

Tối lại quan đòi hỏi riêng,

Tuấn phải đạo trưởng chịu liền cho xong.

Ban đầu nói trở ròng ròng,

780.Quan đòi tra khảo trong lòng e lo.

(tr. 24 bản in:)

Nghĩ suy khó nỗi đôi co,

Liền chịu đạo-trưởng quan cho ra ngoài.

Tập giấy với người cả hai,

Huyện làm tờ bẩm giải lai tỉnh thành.

785.Đến nơi án sát tả dinh,

Truyền gông thiếp diệp bình minh đam vào.

Sáng ngày bố án ngồi cao,

Đòi Tuấn vào đó lẽ nào cứ khai.

Dạy đem sách lễ ra ngoài,

790.Giở nơi có ảnh hình nài Chúa tôi.

Quan rằng Tuấn hãy bước qua,

Chẳng làm thì phải khảo tra bây giờ.

Tuấn rằng: bẩm ông xuống phước tôi nhờ.

Ảnh nầy hình Chúa tôi thờ xưa nay,

795.Thờ vua còn phải hết ngay,

Thờ Chúa đâu dám đạp giày thế ni.

Ngày xưa lòng đã kính vì,

Ngày nay trở mặt đạp đi sao đành.

Ông lớn rộng lượng thẫm tình,

800.Vốn tôi chẳng dám mạng khinh trào đình.

Bố rằng: hắn nói cũng minh,

Dạy đam sách lễ ngoài dinh trở vào.

Ăn nói giọng thấp giọng cao.

Tuấn đi học đạo chỗ nào phải khai.

805.Chịu chức thầy đạo với ai,

Đã đi dạy đạo đàng ngoài hay đây.

Chú nầy thế có đi Tây,

Phải sao chịu vậy cho ngay cho tường.

Tuấn rằng: ông lớn khá thương,

810.Ban cho giấy viết tại trường tôi khai.

Quan truyền giấy viết tương lai,

Bắt ngồi tại đó viết khai cho rồi.

                     Lời khai rằng:

Quê tôi Bình-định làng chính Quy-hòa,

Giữ đạo truyền gia mẹ cha đã mất.

(trang 25 bản in:)

815.Còn thật một tôi, anh em chết rồi không còn ai cả,

Đang buổi thong thả, tôi có học văn,

Sao qua Pi-năng, học hành đạo lý [sau]

Latinh chữ ấy, giảng tập bảy năm.[Giảng dạy Hán văn]

Lực đá công thẳm phong làm Linh-mục,

820.Ông cụ Y-núc phong chức cho tôi,[Giám mục Cuénot Thể truyền chức linh mục]

Rồi mới phản hồi, nước Nam truyền giáo.

Đi về thủy đạo, tàu khách Dũ –hưng.

Chú ấy đã từng, đàng đi lui tới.

Nhà tại phố mới, rày chẳng có đây.

825.Còn sự đi Tây, tôi không hề biết.

Chỉ có một việc, ở tại Pi-năng,[Pénang, Malaysia]

Học đạo lẽ hằng, bất tri thế cuộc.

Tứ phương Nam Bắc, tới đó học hành,

Nhựt-bổn, Đạc-thanh, Xiêm-la, Triều-tiển.

830.Đủ người bốn biển học tại trường nầy.

Học đặng làm thầy, dạy người thiên hạ.

Những việc giặt giả vốn chẳng biết tường [giặc giã]

Người cõi Tây-dương cũng không quen lớn.

Những việc dữ tợn, cũng chẳng hề làm.

835.Khi về nước Nam, tôi ra Tư-ngãi,[Quảng Ngãi ngày nay]

Ở đây ngũ tải, giảng đạo Chúa trời.

Đi đủ khắp nơi, rao truyền thánh giáo.

Hễ nhà có đạo, thì tôi vãn lai.

Bất luận nhà ai, tôi đều có ở.

840.Nhà đạo quan giở, tôi trở về trong.

Trốn lánh không xong, tôi liền ra lại.

Đến nhà kẻ ngoại, bắt giải ra đây.[bị bắt cuối năm 1861]

Trước sau làm vầy, vốn không sai chậy.

Năm kia tàu lại, đánh giặc ngoài Hàn.[Quân Pháp và Tây Ban Nha tấn công cửa Hàn, Đà Nẵng]

845.Chúng tôi vô cang, xin quan thẩm truất. [can]

Nghĩ đều oan ức tôi mới điều trần,

Đợi dịp mà dâng, lượng trên minh chiếu.

Xét suy thì hiểu, đạo có tình ngay.

Đạo không vẽ bày thông mưu với giặc.

(trang 26 bản in)

850.Tứ phương nam bắc, đạo dạy lẽ công.

Đạo dạy thuận tùng quấc vương thủy thổ.

Trải qua kiêm cổ, đạo dạy nhiều nơi.[kim cổ]

Thờ phượng Chúa trời, trung quân hiếu phụ.

Ai ai tôn thủ chẳng dám sai ngoa.

855.Mọi việc thật thà, gian khai cam tội.

Lời khai nạp đó vi bằng,

Quan coi rồi hỏi Pi-năng nước nào.[Pénăng, Malaysia]

Tuấn rằng: là đất Hồng-mao,

Thuở xưa vốn thiệt cù lao Chà-và.

860.Khách thương buôn bán lại qua,

Hồng-mao chiếm cứ lập nhà hội thương.

Latinh lập một học đường,

Để cho các nước dựa nương học hành.

Ở đó học chữ Latinh,

865.Vốn tôi không biết sự tình Langsa.[Pháp]

Giáo-tông đạo chính Rôma,

Ấy là chính gốc truyền ra đạo trời.

Muôn dân muôn nước dưới đời,

Nước nào giữ đạo vưng lời ngài khuyên.

870.Trong đạo có chức có quyền,

Cội gốc là cũng người truyền phong ra.

Quan thấy lời khai khó tra,

Dẹp lại để đó đặng ba bốn ngày.

Đợi quan tuần phủ về đây,

875.Công đồng hiệp nghị tỏ bày thỉ chung.

Đến ngày đủ mặt ba ông,

Đòi vào tra khảo quá hung phen nầy.

Nói rằng: đạo-trưởng khai đây,

Những đều xa lắc làm vầy sao xong?

880.Tuấn cứ khai vậy ròng ròng,

Quan truyền tra khảo hai vòng quá đau.

Máu ra đà đỏ xóm sau,

Phải thêm ít chuyện lao đao cho rồi.

           (tr. 27 bản in:)

Ba chiến ba mươi sáu roi,

885.Mỗi roi lấy thịt cha ôi là trơi.

Khai rồi về trại nghỉ ngơi,

Nằm ngồi đau đớn khó chơi phen nầy.

Các ông đầu-mục tỉnh đây,

Sợ đà dởn ốc e lây đến mình.

890.Ít ngày có quan ngoài kinh,

Vua sai thám thính thình lình địa phương.

Ghé vào Tư-ngãi tỉnh đường,[12]

_____________ 

[12] Huỳnh bộ quan biện lý học

Bố án đem trẻ sáu trương điều trần.

Quan kinh coi rồi mới phân,

895.Điều trần đắc lực phải dưng trào đình.

Mặc ý bố án hai dinh,

Muốn phát thì phát không mình phát cho.

Sai quân đòi Đức-Tuấn vô,

900.Xem qua diện mạo hỏi giò sơ qua.

Quan tỉnh dạy mở gông ra,

Viết điều trần lại cùng hòa lời khai.

Tỉnh làm sớ tấu và hai,

Chạy về cơ mật dâng ngay ngự tiền.

905.Năm ngày có chỉ về liền,

Dạy giải Đức-Tuấn ra miền kinh đô.

Dạy ban lộ phí dịch do,

Truyền quân các tỉnh đều vô đón ngừa.

Việc vua cẩn mật chằng vừa,

910.Mỗi tỉnh ba mươi quân đưa dọc đàng.

Gông cụt cổ hãy còn mang,

Quân đưa gươm võng dường quan về triều.

Coi qua truyện đã trớ trêu,

Giải ra tới Huế mới chiều xế qua.

915.Kinh thành đồn khắp gần xa,

Bá quan thiên hạ coi đà quá kinh.

Trước đam vào tại bộ binh,

Thấy quan Lâm đó một mình mà thôi.[Lâm Duy Hiệp]

     (tr. 28 bản in:)

Thượng binh nhập nội tấu rồi,

920.Một chập kéo tới vô hồi quân gia.

Biết là mấy vạn người ta,

Đến coi thì sự thử là làm sao.

Phan Lâm quan lớn ngồi cao,[Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp]

Các quan bề dưới ngồi bao hai hàng.

925.Trào đình thể diện nghiêm trang,

Gươm hầu giáo đóng chật đàng đầy sân.

Quan truyền trải chiếu cho gần,

Biểu Tuấn ngồi đó hỏi lần căng nguyên [căn]

Rằng: vua có chỉ phán truyền,

930.Dạy đòi đạo-trưởng xét riêng hai đều.[điều]

Một là hỏi đạo Chúa-Dêu,[Chúa Israel]

Nghe trong đạo ấy nhiều điều minh mang.

Hai là hỏi việc Tây-dang, [Tây-dương]

Đến đây khuấy rối làm ngan cớ gì.[ngang]

935.Biết sao nói thiệt đừng khi,

Mặc lượng Hoàng-đế rộng suy thẩm tình.

Tuấn rằng: nhờ lượng trào đình,

Phận tôi ti thiểu một mình đến đây.

Ông lớn cho phép nói ngay,

940.Thì tôi mới dám tỏ bày đạo nguyên.

Đạo dạy thờ Chúa thiêng liêng,

Dựng nên trời đất cầm quyền tử sinh.

Hễ người thì có tính linh,

Giữ noi đạo chính thường sinh cõi trời.

945.Đạo dạy thờ vua dưới đời,

Vì vua thay mặt Chúa-Trời trị dân.

Đạo dạy thảo kính song thân,

Cù lao bát ngát ân cần đền ơn.

Ấy là ba đấng trọng hơn,

950.Gọi là tam phụ có quờn khác nhau.[quyền]

Đạo hằng giảng tập dồi trau,

Đời nay vưng giữ đời sau hưởng nhờ.

Thánh kinh thánh giáo chư thơ,

Rành rành lẽ thật sờ sờ đàng ngay.

(tr. 29 bản in:)

955.Dễ tôi đâu dám vẽ bày,

Đâu đó một lẽ xưa nay một đàng.

Rôma có một Giáo-hoàng,

Cội đầu Hội-thánh mối mang đạo trời.

Tuy rằng đạo giảng nhiều nơi,

960.Giáo hữu chốn chốn vưng lời Pha-pha.

Như giặc bởi nước Rôma,

Thì tôi cam chịu đạo qua phá rầy.

Vốn nay chẳng phải làm vầy,

Langsa nước khác đến gây chiến trường.

965.Giặc nầy tôi chưa biết tường,

Nhưng mà ước cũng tìm đường lợi danh.

Vậy nên gây cuộc chiến tranh,

Nếu đi giảng đạo hoành hành sao nên.

Xin suy lấy việc năm trên,

970.Đạo mà nội ứng với thuyền Langsa.

Thì khi tàu ấy mới qua,

Đua nhau bỏ xứ chạy hòa theo Tây.[13]

________________

[13] BCT: khi Đô đốc Rigault de Genouilly đưa 14 chiến thuyền với 3000 quân Pháp và Tây Ban Nha xuống đánh vào Cửa Hàn thì cố đạo Pellerin đã quả quyết với vị đô đốc nầy là có 600 ngàn giáo dân sẵn sàng trợ giúp. Nhưng khi trận chiến nổ ra, đã không những không có giáo dân nào đứng ra “nối giáo cho giặc” mà, trái lại, có một số giáo dân đã gia nhập cuộc kháng chiến của nhân dân địa phương cùng với khoảng 2000 quân của quan Lê Đình Lý đánh trả (Dẫn theo GS Ngô Vĩnh Long-Oscar Chapuis, The Last Emperors of Vietnam: From Tu Duc to Bao Dai)

Vốn đạo không có lòng nầy,

Đâu đó bình tịnh xưa nay như thường.

975.Phụng công thủ pháp mọi đường,

Binh thuế như chúng kiều lương như người.

Không lòng mạng phát dễ ngươi,

Không làm trộm giặc không lời khinh khi.

Chẳng dám khóa quá qua thì,

980.Là vì đạo Chúa chẳng vì Langsa.

Trào đình là lượng mẹ cha,

Bắt bớ thì chịu thứ tha thì nhờ.

Dễ tôi đâu dám nói vơ,

Việc việc đều có sờ sờ chẳng không.

985.Quan rằng: đạo-trưởng nói thông,

Ta cho về nghỉ mai hòng đòi lên.

Các quan lớn nhỏ hai bên,

Ngó theo gục gặc miệng khen rầm rì.

Truyền đam Đức-Tuấn ra đi,

990.Đam vào hình bộ một khi nạp tờ.

          (tr. 30 bản in:)

Đòi quân trấn thủ chực hờ,

Lãnh về chỗ ấy để chờ chỉ trên.

Ngày sau quan thượng đòi lên,

Đam vào mật thất một bên dạy ngồi.

995.Hỏi hang cớ sự đẩu đuôi,[han]

Truyền dọn cơm nước xong rồi mới ăn.

Ăn rồi quan mới nói năn, [năng]

Trào đình nhiều kẻ băng xăng nghi ngờ.

Bề trên cũng đã làm ngơ,

1000.Cực vì các tỉnh sớ tờ hằng tâu.

Xin làm nhiều sự hiểm sâu,

Bề trên chẳng chịu tự lâu đến rày.

Như nay đạo-trưởng ra đây,

Làm điều trần nữa dưng ngay ngự tiền.

1005.Nói rõ sự tích căn nguyên,

Lượng vua biết đặng việc hiền chớ lo.

Dạy lấy giấy viết ban cho,

Tuấn lãnh về phủ tò mò viết đêm.

Viết rồi sáng lại đam lên,

1010.Mật phong hai chữ dưng lên ngự đình.

Ngày sau sắc hạ phân minh,

Giải gông thiết diệp suy tình liễn ban.

Việc này tại Chúa cao quan,

Mình vốn người tội ai màng sá chi.

1015.Quan quân thấy việc dị kỳ,

Đồng đải khắp xứ lạ chi người đời.[đồn đại]

Ở trong trấn phủ thảnh thơi,

Để đi thong thả dạo chơi ngoài thành.

Mấy nhà cấm cố xung quanh,

1020.Đặng đi thăm viếng kẻ lành người đau.

Ai ai quen lạ mặc dầu,

Gặp đặng thì cũng như nhau vui mừng.

Kinh thành thiên hạ quan quân,

Kính nhường đạo-trưởng khen tưng đạo trời.

1025.Những người xấc lấc dễ ngươi,

Dẹp thói cười nhạo không lời khinh khi.

                           (tr.31 bản in:)

A dua nói dọc tức thì,

Đạo ở ngay thẳng không chi lỗi lầm.

Không làm trộm cướp gian tham,

1030.Dầu người xa lạ nhứt tâm thương vì.

Nghĩ câu thố tử hồ bi,[thố từ hồ bi: thỏ chết chồn cũng đau buồn]

Động lòng thương kẻ ở vi các làng.

Kể sao cho xiết gian nan,

Trăm bề tất bạc một đoàn tù lao.

1035.Làm hai tập nữa dưng vào,

Vua trên ngự giám định giao cuộc hòa.

Dạy quan cơ mật truyền ra,

Tư cho các tỉnh hay qua sự nầy.

Trào đình đã tính làm vầy,

1040.Sai Đặng –đức-Tuấn vào Tây xin hòa.

Tỉnh nào Đức Tuấn trải qua,

Người đạo tỉnh ấy giải già cho đi.

Tờ vô quân thứ một khi,

Các quan ở đó bắt đi sự nầy.

1045.Rằng: quân tả đạo với Tây,

Một lòng sanh sự phá rầy biên cương.

Trào đình lại khó tư lương,

Dẹp chuyện ấy lại tìm đường lo toan.

Tháng ba có chỉ rõ ràng,

1050.Phụ nữ lão ấu giải giang cho về.

Bộ đà sao đặng bộn bề,

Nghe tàu Tây đến chẳng hề tuông ra [tuôn]

Tàu Tây ra đó tháng ba,

Hỏi trào đình có chịu hòa hay không?

1055.Vua sai quan xuống hội đồng,

Chịu giao hòa cuộc cho xong nước nhà.

Quan Tây xin chữ quan Ta,

Hẹn về mười bữa rồi ra bây giờ.

Đến ngày mười bốn tháng tư,

1060.Tàu Tây ra lại gởi thơ lên thành.

Xin cho quan lớn xuất hành,

Vào trong Gia-định lập thành lời giao.[14]

_____________

[14 ]BCT: Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Gia định ký hòa ước 1962 với Pháp. Lm Đặng Đức Tuấn làm thông ngôn.

                          (tr. 32 bản in:)

Trào đình bàn luận lao xao,

Khó sai khó định ông nào ra đi.

1065.Vì còn nhiều lẽ sinh nghi,

Chưa biết bàn luận lẽ gì cho hay.

Quan Lâm đòi Tuấn hỏi ngay,

Tàu Tây xin vậy Tuấn bày làm sao.

Tuấn rằng: ông lớn lượng cao,

1070.Sớ tâu Hoàng-đế xin vào Đồng-nai.

Cho tôi tùng phái với ngài,

Tôi dám quả quyết không ai làm gì.

Hòa đặng thì ta hòa đi,

Bằng hòa chẳng đặng ta thì về ngay.

1075.Quan Lâm vào tấu nội ngày, [Lâm Duy Hiệp]

Vua ban sắc hạ y rày lời xin.

Quan Phan ở cửa nghe tin, [Phan Thanh Giản]

Cũng vào xin chỉ đặng in như lời.

Phen nầy Đức-Tuần phải vời,

1080.Vào trong tả thị là nơi hoàng thành.

Cung môn cơ mật thông hành,

Cẩm y thị vệ chư dinh bẩm ngài.

Ra vô lên xuống hoài hoài,

Hết ai cơ hỏi hết ai ngăn ngừa.

1085.Chỉ truyền tả vệ thủy sư,

Dọn tàu Thoại-Phụng mùa đưa quan triều.

Hoàng ân ban thưởng cũng nhiều,

Truyền đãi yến trọng bấy nhiêu sứ thần.

Quân gia cờ trống rân rân,

1090.Đưa quan sai phái đỏ rần kinh sư.

Ngày hai mươi bốn tháng tư,

Tàu Tây ngoài cửa chực chờ tàu Ta.

Hai bên mừng rỡ lại qua,

Cột dây dắc thẳng chạy ba đêm ngày [dắt]

1095.Đến cửa Cần-giờ vào ngay,

Tàu đi như bắn khói bay nữa lừng.

Đến thành Gia-định tàu ngừng,

Quan Tây bắn súng chào mừng vang tai.

                               (tr. 33 bản in:)

Nam-kỳ thiên hạ ai ai,

1100.Nghe tàu vua đến ra ngoài ngóng trông.

Các dân các nước quá đông,

Dập dều tàu lửa tàu đồng bốn phương.

Nghinh ngang phố xá kiều lương,

Giang sơn chốn cũ khách thương lạ lùng.

1105.Định hội đồng tháng năm mồng một,

Ba nước đều triều phục y quan.

Quân gia cờ súng nhiêm trang,

Thủy quân nghiêm chỉnh rước quan lên thuyền.

Ba nước ba sắc toàn quyền,

1110.Hiệp nhau khán nghiệm quả nhiên chẳng lầm.

Trống kèn ca nhạc rầm rầm,

Quan Tây đưa xá Phan Lâm về thuyền.

Xin bồi ngũ bá vạn nguyên.

Xin giao sáu tỉnh cho yên mọi đàng.

1115.Phan Lâm đòi Tuấn hỏi han,

Tây xin nhiều quá tính bàn làm sao.

Tuấn rằng: ông lớn lượng cao,

Đòi bồi thì chịu đừng giao tỉnh thành.

Ý tôi thì vậy đã đành,

1120.Mặc lượng ông lớn quyết hành chủ trương.

Quan mới nói với Tây-dương,

Xin phải nghĩ lại khoản thường khoản giao.

Sao cho đừng thấp đừng cao,

Định cho vừa phải lẽ nào mới an.

1125.Như lời xin trước khó toan,

Mặc lượng Nguyên soái định bàn làm sao.

Sáng ngày Giám đốc xuống tàu,

Đam tập hòa ước xin hầu quan ta.

Làm lời ba nước giao hòa,

1130.Mười hai điều khoản phân hai ba điều.

Quan Ta thấy bớt đã nhiều,

Chịu đi cho rảnh hồi triều cho xong.

Hẹn ngày mười chín hội đồng,

Trên bờ binh mã dưới sông binh thuyền.

                           (tr. 34 bản in:)

1135.Rước quan Khâm-mạng toàn quyền,

Hiệp nhau đóng ấn cho yên cuộc hòa.[Hiệp ước 1862]

Rập rình binh mã nhạc ca,

Thiên hạ tụ hội biết là mấy muôn.

Xong rồi bắn súng tiếp luôn,

1140.Rầm rầm trời đất ùng ùng khói mây.

Kéo cờ ngũ sắc đông tây,

Thủy bộ rực rỡ cỏ cây ánh ngời.

***

Việc rồi Tuấn mới dạo chơi,

Thăm đức cha Ngãi với người cố tri.

1145.Gặp nhau mừng rỡ xiết chi,

Giã từ cố cựu Tuấn thì về kinh.

Dạo chơi rồi xuống tàu mình,

Đền ngày mười một khởi trình ra khơi.

Tàu vua về Huế đến nơi,

1150.Chính đêm mười bốn nước trời rạng chưn.

Hải đài bắn súng chào mừng,

Dưới tàu đáp lại vang lừng kinh đô.

Ngày rằm chuyên chở các đồ,

Quan làm sớ tấu việc vô giao hòa.

1155.Mười chín tháng năm chỉ ra,

Phụ nữ lão ấu đều tha trở về.

Dọn dẹp gánh xách về quê,

Nam tráng đầu mục một bề còn giam.

Ngày hai mươi bốn tháng năm,

1160. Sắc cho Đức-Tuấn về thăm quê mình.

Các ông xin ở lại kinh,

Gắng lại soi thử sự tình làm sao.

Chuyến nầy giáo hữu lại hao,

Thấy còn giam cấm lại nao tấm lòng.

1165.Nhiều người xuất giáo cho xong,

Về cùng thê tử lo trong cửa nhà.

Mười bảy tháng sáu chỉ ra, [chiếu chỉ của vua]

Nam tráng đầu mục thảy tha phản hồi.

Nơi nơi che rạp che chòi,

1170.Trụi trơn vườn đất loi ngoi trại lều.

                        (tr. 35 bản in:)

***

Tuấn về thăm viếng đã nhiều,

Mười phần cố cựu tàn xiêu bảy phần.

Chỉ đòi ra Huề vài lần,

Lại cho hồi quản phân vân đi liền.

1175.Gẫm mình đầy dẫy tội khiên,

Chúa chưa kêu gọi lên miền nghỉ an.

Trải qua một hội gian nan,

Nghĩ xem ít kẻ vẹn toàn thỉ chung.

Chúa tôi nhơn thứ khoan dong,

1180.Nếu cứ còng thẳng ai hòng dám đang.

Thấy trong thiên vận tuần hoàn,

1182.Thuật tích việc đạo để truyền hậu lai.

Chung.

_________________________

[1]http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=496&Catid=225

[2] Nguyễn Văn Thoa-Cuộc đời và tác phẩm của Linh mục Đặng Đức Tuấn. Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh 2017

VĂN CHƯƠNG MÙA ĐẠI DỊCH 2021

BẠN CÓ THỂ ĐỌC CÁC BÀI VIẾT CHÍNH CỦA BÙI CÔNG THUẤN THEO LINK:

buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

VĂN CHƯƠNG MÙA ĐẠI DỊCH 2021

(Điểm tin)

Bùi Công Thuấn

NHỮNG DẤU HIỆU CỦA ĐỔI MỚI

Hội nghị toàn thể lần thứ hai của BCH Hội Nhà văn Việt Nam khóa X ngày 04 và 05/01/2021 [1] đã đề ra chương trình hoạt động của cả nhiệm kỳ 2020-2025 như sau:

Bám sát nhiệm vụ chính trị, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả sáng tác; kết nạp hội viên, nghiên cứu, lý luận phê bình, đẩy mạnh quảng bá tác phẩm; xây dựng Hội vững mạnh toàn diện theo hướng tinh gọn và chuyên nghiệp; kiện toàn tổ chức bộ máy và đổi mới phương thức hoạt động các Chi hội Nhà văn Việt Nam và các Hội đồng chuyên môn và các Ban công tác của Hội. Tiến hành cải cách toàn diện báo Văn Nghệ; tổ chức thêm giải thưởng văn học trẻ và văn học thiếu nhi, tổ chức Hội nghị những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ X vào Quý III năm 2021

Hội Nhà văn Việt Nam có 4 Hội đồng chuyên môn và 2 Ban công tác. Mỗi Hội đồng chuyên môn có 9 thành viên, nhiệm kỳ 5 năm.

Hầu hết các thành viên Hội đồng chuyên môn và các Ban công tác là những nhà văn trẻ (tuổi trung niên), một số người đã thành danh, song về tài năng, có người chưa phải là khuôn mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại, tôi nghĩ sẽ khó thuyết phục công chúng khi họ tham gia vào việc đánh giá văn học. Dù vậy, chúng ta tin tưởng vào người trẻ. Hy vọng họ sẽ đem đến sự năng động và những giá trị mới cho các hoạt động của Hội Nhà văn Việt Nam, và nhất là tránh được những vết xe tai tiếng của những người đi trước (đặc biệt trong việc xét kết nạp hội viên mới, và xét giải thưởng của Hội Nhà văn).

Ban Chấp hành Hội chủ trương “tinh gọn và chuyên nghiệp”, nhưng xem ra các Hội đồng chuyên môn và các Ban công tác vẫn là một bộ máy hành chính cồng kềnh (lên đến 54 người).

Cho đến cuối năm 2021, do tình hình dịch Covid còn nhiều nguy cơ, Hội đã hoãn việc tổ chức Ngày Thơ Việt Nam, hoãn Hội nghị những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ X. Các Hội đồng chuyên môn cũng phải họp trực tuyến. Cuối tháng 12/2021, tôi chưa thấy BCH Hội công bố kết quả kết nạp hội viên 2021 và công bố Giải thưởng của HNV 2021.

Tại lễ ra mắt trang thông tin điện tử vanvn.vn do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 18-3-21 ở Hà Nội, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cho biết ông dự định tổ chức nhiều giải thưởng văn học bằng nguồn xã hội hóa, trong đó đặc biệt săn sóc tới cuộc thi dành cho các cây viết trẻ và cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi. Ông cũng mong muốn người trẻ ý thức hơn về sáng tạo của mình, đào sâu về nghệ thuật, đào sâu sứ mệnh của mình với xã hội, phản biện xã hội, lên tiếng cho sự thật, lẽ công bằng, để văn nghệ trở lên sống động hơn, tạo ra nhịp điệu khác trong sinh hoạt của các nhà văn, nhà thơ. Nhà thơ Phan Hoàng – người được giao phụ trách trang thông tin này – cho biết, trang thông tin này sẽ tổ chức cuộc thi văn học Nam Bộ, và sau đó là cuộc thi văn học Tây Nguyên bằng nguồn kinh phí xã hội hóa.[2]

Những ý tưởng, những sáng kiến của lãnh đạo Hội chứa đựng nhiều điều mới mẻ và tâm huyết, song “mong muốn người trẻ lên tiếng cho sự thật, lẽ công bằng để văn nghệ trở nên sống động, tạo ra nhịp điệu khác…” tôi e rằng chỉ là mơ ước. Ngày xưa, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Huy Thiệp đã phải trầy trật thế nào khi muốn “lên tiếng cho sự thật và lẽ công bằng” (tiểu thuyết Chuyện ngõ nghèo của Nguyên Xuân Khánh phải 35 năm mới xuất bản được).

Tất cả những kế hoạch của Hội mới chỉ là dự định của năm 2021. Mong những kế hoạch ấy thành hiện thực trong những năm sắp tới. Riêng việc đổi mới tờ Văn nghệ và tạp chí Nhà văn & Đời sống cũng mới chỉ là những bước khởi đầu, nhưng xem ra, tính chất phong trào vẫn lấn át tính chuyên nghiệp. Tôi nghĩ, muốn nâng chất lượng, tờ Văn nghệ và trang web vanvn.vn cuả Hội Nhà văn Việt Nam chỉ nên đăng những bài có phẩm chất văn chương học thuật. Những bài văn chương phong trào (viết theo quán tính bắt chước, không sáng tạo) nên để cho tác giả đăng ở chỗ khác, tạp chí của Hội VHNT địa phương chẳng hạn (tôi không có ý nói tạp chí VHNT địa phương không có bài giá trị).

Một trong những “đổi mới” của vanvn.vn mà tôi nhận thấy là sự giới thiệu nhiều tác giả trẻ khắp miền đất nước, đồng thời nhắc đến những tác giả miền Nam trước 1975 như Du Tử Lê Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Tô hùy Yên, Phạm Công Thiện…và những tác giả từng gây tranh cãi trong một thời gian dài như Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí. Đó cũng là phải lẽ, bởi đã hòa bình thống nhất gần 50 năm rồi, chúng ta đã có đủ thời gian để suy nghĩ về văn chương và dân tộc. Những gì thuộc về dân tộc và nhân loại thì sẽ còn mãi. Văn học miền Nam trước 1975 cũng là một bộ phận của văn học dân tộc, cần phải được khám phá, tôn trọng và giữ gìn để làm giàu có tài sản chung. Trong tầm nhìn dân tộc, nào ai phân biệt văn học Đàng Ngoài hay văn học Đàng Trong thời Trịnh-Nguyễn bao giờ. Vì thế, trả lại giá trị đích thực cho Phạm Quỳnh hay khẳng định những đóng góp của văn học miền Nam trước 1975 là một việc cần phải được nghiên cứu sâu rộng hơn.

Các Hội đồng chuyên môn và các Ban công tác đã kiện toàn, song tình hình văn học năm 2021 vẫn im ắng. Không có tác phẩm văn học nào tạo nên một hiện tượng mới thu hút sự quan tâm của xã hội, liệu BCH Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội đồng chuyên môn, các Ban công tác  làm gì để “đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả sáng tác”?

Sáng tác văn học nghệ thuật đâu có giống với sản xuất hàng hóa vật chất, hễ cứ đông người, cứ có kế hoạch là có tác phẩm chất lượng! Tài năng là thiên phú. Và thiên tài tự tìm lấy lối đi dưới chân mình, không ai dạy dỗ họ được. Làm văn học theo kế hoạch, phục vụ nhiệm vụ chính trị trực tiếp thì chỉ có “văn học phong trào” mà thôi. Điều này đã được minh chứng qua bao nhiêu năm rồi. Đã có bao nhiêu trại sáng tác từ trung ương đến địa phương, đã có bao nhiêu chủ đề sáng tác định hướng cho nhà văn, có cả những tọa đàm “dạy dỗ” nhà văn, và đã có rất nhiều tác phẩm từ các trại sáng tác này, nhưng cho đến nay văn chương Việt Nam chưa thấy bóng dáng của những tác phẩm lớn. Văn chương phong trào chỉ là phong trào.

Riêng về việc phát hành tờ Văn nghệ và tạp chí Nhà văn & Đời sống cho đến cuối năm 2021 vẫn trục trặc. Ngày 24/12/21, trên FB, nhà văn Khôi Vũ đã phải có THƯ NGỎ GỬI BAN CHẤP HÀNH HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM về việc này. Bản thân tôi đến nay cũng chỉ nhận được số 1 tạp chí Nhà văn & Đời sống, các số khác chưa nhận được. Báo Văn nghệ cũng lác đác vài số. Không biết bộ phận phát hành báo có cải thiện được việc phát hành trong năm 2022 hay không?

Ngày 22/12/2021 Chủ tịch HNV thông báo đến hội viên rằng: BCH Hội Nhà văn khóa 10 đã quyết định sử dụng một phần kinh phí (trước kia dùng để mua Tạp chí Thơ và Tạp chí Hồn Việt, nay hai tạp chí này đã đình bản) để mua ấn phẩm Viết & Đọc cho hội viên, bắt đầu từ số chuyên đề mùa đông 2021. Hình như có sự “lấn cấn” nào đó trong việc này. Bởi Tạp chí Thơ và Hồn Việt là tạp chí của HNV, còn tạp chí Viết & Đọc không phải là tạp chí của HNV. Liệu tất cả hội viên HNV có thích đọc Viết & Đọc không? Tôi nghĩ rằng ai thích đọc thì mua. Ban Chấp hành Hội nên để tiền mua Viết & Đọc đầu tư cho việc khác có lẽ tốt hơn (nhẩm tính, 1 số là 180.000đ x 4 số/năm x 1000 hội viên = 720 triệu đồng /một năm).

Ở CÁC HỘI NHÀ VĂN  ĐỊA PHƯƠNG

Xin ghi nhận (một cách phiến diện) những sinh hoạt tôi quan sát được ở Hội VHNT địa phương.

Hội nhà văn Tp Hồ Chí Minh có các hoạt động khá sôi nổi. Sau ba lần tạm hoãn, ngày14/1/221 Đại hội Hội Nhà văn TPHCM nhiệm kỳ VIII (2020-2025) đã bầu ra được Ban chấp hành nhiệm kỳ mới gồm 11 thành viên trong Ban chấp hành. Chủ tịch là nhà văn Bích Ngân. 3 Hội đồng chuyên môn gồm: Thơ, Văn xuôi và Lý luận Phê Bình, mỗi hội đồng có 5 nhà văn.

Ngoài ra còn có 7 ban công tác gồm: Ban kiểm tra (5 người) Ban Tổ chức hội viên (7 người), Ban Sáng tác văn học (6 người), Ban Văn học thiếu nhi (7 người), Ban Nhà văn trẻ (8 người), Ban Nhà văn nữ (6 người) Ban Công tác CLB Văn học (7 người) và Ban Truyền thông (3 người).

Như vậy kể cả Ban Chấp hành, các Hội đồng chuyên môn và các Ban công tác, Hội Nhà văn Tp HCM có 75 người để làm việc phục vụ cho 466 hội viên (Trong khi nhân sự Ban Chấp hành HNV Việt Nam có 65 người phục vụ cho hơn 1000 hội viên).

Tôi cho rằng bộ máy càng cồng kềnh thì hiệu quả vận hành càng kém. Bằng chứng là ngày 05.05.2021 Hội Nhà văn Tp HCM đã quyết định ngưng hoạt động của các Chi hội vì sau 3 năm triển khai không hiệu quả.

Đáng ghi nhận là, trong Mùa Côvid 2021, Hội Nhà văn Tp HCM đã tổ chức cuộc thi thơ “Nhân nghĩa đất phương nam”. Sau 45 ngày phát động, Ban tổ chức đã nhận được 1.500 bài thơ của gần 700 tác giả dự thi. 60 bài thơ vào vòng chung kết và 20 bài thơ hay đã được in thành một tập thơ phát hành vào dịp Tổng kết và trao giải cuộc thi thơ. Quả là lực lượng văn chương phong trào ở Tp HCM rất mạnh.

Hội Nhà văn TP HCM cũng xét kết nạp 16 hội viên mới và công bố giải thưởng năm 2021. Giải cống hiến là nhà văn Lê Văn Nghĩa và nhà thơ Đoàn Vị Thượng. Các giải khác gồm: tiểu thuyết Nghiệp chướng của Lưu Vĩ Lân, tập thơ Ở đậu trong nhau của Khét (Trần Đức Tín).  Tặng thưởng cho: Sóng đồng và cây núi (tập tiểu luận và phê bình của Lê Quang Trang); Chiều bình yên (tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Mộc); Sự đành hanh của số phận (tập truyện ngắn của Hoàng Phương Nhâm); Hai phía một đời sông (tập thơ của Nguyễn Vĩnh Bảo). Sau kết nạp hội viên mới và trao giải văn học năm 2021, mọi việc đã qua đi lặng lẽ.

Hội Nhà văn Hà Nội có 731 hội viên. Nhiệm kỳ mới hướng tới mục tiêu trở thành một tổ chức văn học có lý tưởng chính trị, lý tưởng nhân văn cao đẹp, tập hợp, đoàn kết tài năng. Hội sẽ đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng giải thưởng, tổ chức các cuộc thi văn học về đề tài Hà Nội, lập Quỹ sáng tác Hà Nội, thành lập Trung tâm Bồi dưỡng viết văn Hà Nội…

Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2021 trao cho tập thơ Lục bát mỗi ngày của nhà thơ Đặng Vương Hưng (Nhà xuất bản Văn học, 2021) và tập sách lý luận phê bình Đa mang một cõi lòng không yên định của tác giả Chu Văn Sơn (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2021). Tặng thưởng “Thành tựu văn học trọn đời” tôn vinh nhà văn Vũ Bão.

Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh là hai thành phố tập trung nhiều nhân tài văn nghệ. Ban Chấp hành của hai Hội đã được bầu lại và trẻ trung hóa. Cả hai đều có chương trình hành động đầy tham vọng, song nhìn vào giải thưởng và danh sách kết nạp hội viên mới, người ta vẫn chưa thấy những tài năng nổi trội. Những tác phẩm đoạt giải cũng không gây được tiếng vang. Chúng ta đã có những nỗ lực, và vẫn phải tiếp tục chờ đợi.

VỀ CÁC GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC

Cuộc thi Thơ báo Văn nghệ (2019-2020) có hơn 10.000 bài thơ của 3.500 tác giả tham dự,  12 tác giả được trao giải vào sáng 9/4/2021, tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam. Chùm 3 bài thơ: Làm rể, Mẹ tôi chửi kẻ trộm, Nhà dưới nhà trên củaTác giả Tòng Văn Hân được trao giải. Riêng bài thơ Mẹ tôi chửi kẻ trộm đã gây ra những luồng dư luận trái chiều về việc trao giải. Nếu nhìn vào chất lượng bài thơ, so sánh với 10.000 bài thơ thì người ta phải thất vọng về thơ Việt Nam hiện nay. Bài thơ Mẹ tôi chửi kẻ trộm không thể sánh được với Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật đạt giải thơ báo Văn nghệ năm 1969. Trao giải như thế này, Hội Nhà văn tự đánh mất giá trị của mình và làm mất lòng tin của công chúng về các giải thưởng [3].

Cũng có các giải thưởng âm thầm hơn nhưng có thể góp vào đời sống văn học hiện nay đôi điều suy nghĩ. Giải thưởng Văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Thi lần thứ 2 (trao ngày 05/2/2021), dành cho hai nhà thơ Đỗ Nam Cao và Hoàng Vũ Thuật với “Thành tựu trọn đời”. Giải thưởng không có hiện kim chỉ có bằng và tượng đúc đồng do nhà điêu khắc hàng đầu Tạ Quang Bạo sáng tác và giải.

Giải trannhuong.com năm nay (12/2021) trao cho nhà văn Vũ Ngọc Tiến với tiểu thuyết Quỷ Vương và nhà văn Nguyễn Hiếu với tiểu thuyết Con Ngố. Giải này vinh danh các tác giả được người đọc yêu mến! Giá trị của giải thưởng chỉ là tượng trưng (1.000 VND). Nhà nghiên cứu Lai Nguyên Ân nhận xét: “Tôi nghĩ cái giải thưởng, đặt tên là trannhuong.com, do một nhà văn, là nhà văn Trần Nhương chủ trì, nó gây một cảm giác thú vị, và một cái gì ngạc nhiên…Những năm gần đây, việc xét các giải [chính thống] đó, nó đang bộc lộ những điều có thể nói là gây dư luận hết sức là không tốt. Người ta thấy là, những người đáng trao giải lại không được đưa vào xét trao giải. Thế rồi, trong việc trao giải, tưởng như là những dịp để vinh danh một cách xứng đáng các văn nghệ sĩ có những đóng góp cho nền văn học, thì nổi lên trong quá trình trao giải lại là cái quyền của bộ máy quan liêu, thao túng cái đời sống văn hóa, văn nghệ. Những cái giải đó, ngay trong khi đang xét, cho thấy là cái bộ máy quan liêu đó lên mặt cửa quyền hơn hẳn, thậm chí át hẳn vai trò của các văn nghệ sĩ xứng đáng được nhận các giải đó…Thành ra, đặt trong không khí ấy, thì những giải thưởng, như kiểu giải thưởng Trần Nhương, có một sức kích thích, để cho dư luận thấy là : Nên nhìn như thế nào về vấn đề giải thưởng đối với các hoạt động nghệ thuật. »[4]

Cuộc thi truyện ngắn “Làng Việt thời hội nhập” do Báo Nông thôn Ngày nay, kết hợp với Hội Nhà văn Việt Nam, Ban Văn học Nghệ thuật VOV6, Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức. Có 1.256 tác phẩm dự thi (trong đó, có 800 tác phẩm hợp lệ và 456 tác phẩm không hợp lệ). Hội đồng giám khảo gồm các nhà thơ nhà văn: Trần Đăng Khoa, Phạm Xuân Nguyên, Đỗ Tiến Thụy, Lê Minh Khuê, Y Ban.

16 tác phẩm được trao giải (ngày 11/11/2021).

Giải nhất: tác phẩm “Con chú con bác” của Trần Chiến

Giải nhì: tác phẩm “Xóm cồn” của Nguyễn Thị Minh Thúy (bút danh An Thư) và “Cô Sáu Cam” của Lê Ngọc Hạnh

Giải Ba: tác phẩm “Vân tay mắt Phật” (Trần Nhã Thụy); “Trò săn vịt” (Phát Dương) và “Hoa mía” (Ngô Hòa Bình).

Giải Tư:  10 tác phẩm:  “Dân cạp đất” (Nguyễn Quốc Trung); “Tắm Tết” (Nguyễn Hiệp); “Cánh diều đã bay lên” (Trần Văn Thước); “Về nhà” (Hoàng Cúc) “Nhỏ mà lớn” (Nguyễn Trí); “Hương bưởi ổi” (Nguyễn Thái Hải)…

Giá trị của giải thưởng khá lớn.  1 giải nhất trị giá 50 triệu đồng; 2 giải nhì trị giá 20 triệu đồng/giải; 3 giải ba trị giá 10 triệu đồng/giải; 10 giải khuyến khích trị giá 3 triệu đồng/giải.

Lướt qua một vài giải thưởng văn học năm 2021 (chưa có giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam), người đọc thấy những khuynh hướng và màu sắc khác nhau của giải. Ngoại trừ giải của báo Văn nghệ là giải thưởng Nhà nước, còn lại là 3 giải “tư nhân”, khuynh hướng “xã hội hóa” đã rõ nét. Sức hút của giải có cả hai yếu tố: giá trị tiền thưởng và danh giá.  Nhưng chưa giải nào thực sự thu hút được những tài năng vượt trội, chưa giải nào tìm được những tác phẩm có tư tưởng và nghệ thuật mở ra một con đường mới giải phóng sự trì trệ hiện nay. Dù vậy các giải thưởng văn học cũng cho thấy lực lượng những người viết văn phong trào rất đông đảo. Đó là một tiềm năng.

Để giải thưởng văn học có sức thu hút, tôi nghĩ, ngoài điều kiện vất chất, Ban tổ chức cần chọn được một ban giám khảo gồm những nhà văn tài năng, công tâm, có năng lực đọc tác phẩm dưới ánh sáng những tư tưởng tiến bộ và phương pháp khoa học. Cuộc thi phải hướng đến mục đích tìm tài năng, tìm những sáng tạo mới về tư tưởng và nghệ thuật, không phải trao giải phong trào. Có một ban giám khảo uy tín thì những nhà văn tài năng mới yên tâm tham gia cuộc thi. Nhà văn tài năng sẽ không tham gia cuộc thi khi nhìn thấy ban giám khảo là những người “thấp” hơn mình.

NHỮNG GỢN SÓNG

Sự ra đi của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp năm 2021 có tạo được chút gợn sóng (người ta tụng ca ông lên mây). Những tranh cãi về ông không còn như ngày xưa khi ông mới xuất hiện. Lúc ấy ông có cách viết lạ, đặc biệt là ở thái độ phủ định phương pháp Hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nhưng khi nghị quyết 23/BCT ra đời, tạo điều kiện cho nhà văn mạnh dạn tìm tòi sáng tạo, không còn bắt buộc nhà văn phải viết theo phương pháp Hiện thục Xã hội chủ nghĩa nữa, các nhà văn trẻ chạy theo Hậu Hiện đại thì Nguyễn Huy Thiệp trở thành quá khứ. Hơn nữa ông chỉ thành công ở truyện ngắn, và ông gây sốc bằng cách chửi thiên hạ, cho nên nếu phải chọn giữa ông Thiện (Nam Cao) và ông Ác (Nguyễn Huy Thiệp) thì người ta có thiện cảm với ông Thiện hơn.

Đã có lúc, một vài người tung hứng “thể thơ 1-2-3”, chỉ vì nó được “khởi xướng” từ nhà thơ Phan Hoàng, người đang có sự “thăng tiến” ngoạn mục, từ Hội Nhà văn Tp Hồ Chí Minh lên Ban Chấp hành Hội Nhà văn và phụ trách trang web vanvn.vn. Thực ra thơ 1-2-3 (6 câu) hay thơ Namkau (thơ 5 câu của nhà thơ Trần Quang Quý); thơ Tứ tuyệt Đường luật (4 câu), hay thơ Haiku (3 câu của Nhật), và cả Lục bát 2 câu, chỉ là hính thức. Tứ tuyệt, Haiku là thơ tư tưởng với nhửng thi luật nghiêm nhặt. Nếu muốn thơ 1-2-3 và thơ Namkau tồn tại được, nó cũng phải có tư tưởng và thi pháp riêng, hơn hẳn Haiku và Tứ tuyệt. Nó còn cần những nhà thơ tài năng khai phá, và được công chúng chấp nhận thì may ra mới có cơ phát triển. Ngay cả thơ Tân Hình thức đã xuất hiện một thời gian dài với những quy tắc thi pháp nghiêm nhặt, đã được nhiều người thử nghiệm, song Tân Hình thức vẫn còn là thể thơ được ít tác giả trong nước sử dụng, và công chúng phổ thông không tiếp cận được. Dù sao những thể nghiệm thơ 1-2-3, thơ Namkau là đáng trân trọng, và công chúng có quyền hy vọng.

Kỳ họp Đại hội đồng UNESCO lần thứ 41 (từ ngày 9 đến 24/11/2021 tại Paris) đã thông qua danh sách các Danh nhân văn hóa và sự kiện lịch sử niên khóa 2022 – 2023. Hồ sơ kỷ niệm 200 năm ngày sinh của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu và kỷ niệm 250 năm ngày sinh, 200 năm ngày mất của Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã được thông qua. Tiêu chí của UNESCO là danh nhân được đề cử phải phù hợp với lý tưởng và sứ mệnh của tổ chức UNESCO trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, khoa học, thông tin truyền thông, góp phần thúc đẩy hòa bình, đối thoại văn hóa, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, đồng thời mỗi sự kiện, nhân vật đề cử  phải có tầm ảnh hưởng rộng rãi, được biết đến cả ở bên ngoài quốc gia đề cử. Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là gương sáng về lòng yêu nước, về tư tưởng nhân nghĩa và về lối sống phục vụ nhân dân (dù bị mù, ông vẫn dạy học, làm nghề thuốc, sáng tác thơ văn chuyên chở đạo lý). Nguyễn Đình Chiểu có uy tín sâu rộng trong nhân dân và với quốc tế.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương tiêu biểu cho tư tưởng bình đẳng giới, cho sự đấu tranh giải phóng phụ nữ, cho những khát vọng nhân văn, cho sự khẳng định những giá trị tự thân. Hồ Xuân Hương là một hiện tượng văn học, tư tưởng độc đáo ở Việt Nam mà trên thế giới cũng rất ít nhà thơ như Hồ Xuân Hương. Vinh danh hai nhà thơ này, Unesco đã là vinh danh những nhà thơ có đời sống, tư tưởng và tác phẩm làm nên những giá trị văn hóa Việt Nam.

Không biết đến bao giờ một nhà văn Việt Nam đương đại lại được Unesco vinh danh!

HỘI NGHỊ VĂN HÓA TOÀN QUỐC 2021

Ngày 24/11/2021 tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021 để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng về lĩnh vực văn hóa.

Nhớ lại, trong Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (Ngày 24/11/1946) chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. “

Nhớ lại, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai (Ngày16 /7/1948), Trường Chinh đọc bản báo cáo Chủ nghĩa Mác – Lên nin và văn hóa Việt Nam, khẳng định: “Về xã hội, lấy giai cấp công nhân làm gốc. Về chính trị, lấy độc lập dân tộc, dân chủ nhân dân và chủ nghĩa xã hội làm gốc. Về tư tưởng, lấy học thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm gốc. Về sáng tác văn nghệ, lấy Chủ nghĩa Hiện thực Xã hội chủ nghĩa làm gốc“.

Từ đó, Chủ nghĩa Hiện thực Xã hội chủ nghĩa là phương pháp sáng tác chính của văn học (60 năm) suốt từ 1948 đến 2008 khi có Nghị quyết 23 của Bộ chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”.

Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc 2021, Tổng Bí thư nhắc lại các nghị quyết của Đảng về văn hóa và nhấn mạnh “Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội…”. Đồng chí cũng nhắc đến những yếu kém về văn hóa, Thiếu những tác phẩm văn hoá, văn học, nghệ thuật lớn, tầm cỡ, phản ánh được tầm vóc của sự nghiệp đổi mới, có tác dụng tích cực đối với việc xây dựng đất nước, xây dựng con người. Môi trường văn hóa vẫn bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã hội, tham nhũng, tiêu cực…”

Với tầm nhìn từ nay cho đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước, Tổng bí thư nói đến một cuộc chấn hưng văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới; tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự là “nền tảng tinh thần”, “động lực phát triển”, và “soi đường cho quốc dân đi”…[5]

Quả thực, đối mặt với những vấn đề văn hóa, văn nghệ hiện nay, chúng ta cần một cuộc “chấn hưng văn hóa”. Hy vọng Ban Chấp hành hội Nhà văn Việt Nam có những chương trình hành động hiệu quả đưa văn học tham gia vào “cuộc chấn hưng” này. Sự nghiệp còn lâu dài.

Cũng cần nhắc tới một cuộc hội thảo. Sáng 15-12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương đã tổ chức hội thảo khoa học toàn quốc “Văn học, nghệ thuật với những vấn đề quan trọng, cấp thiết của đất nước hôm nay”. Có sự tham gia 180 đại biểu với 97 tham luận. Hội thảo đánh giá thực trạng về vai trò, đóng góp của văn học, nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sĩ với 5 vấn đề quan trọng, cấp thiết của đất nước hôm nay:

1. Phòng, chống đại dịch Covid-19;

2. Bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo của Tổ quốc;

3. Xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước;

4. Giới thiệu, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra nước ngoài;

5. Tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.[6]

Ngoài vấn đề phòng chống Covid, những vấn đề còn lại đã được nói đến nhiều lần trong nhiều cuộc hội thảo trước của Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương.

PGS, TS Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam khẳng định “văn học nghệ thuật luôn là vũ khí sắc bén trên mặt trận văn hóa-tư tưởng”.

PGS, TS Đào Duy Quát, nguyên Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nhắc đến nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Ông nhận xét: “35 năm sau đổi mới, văn học nghệ thuật đã đưa ra xã hội quá nhiều tác phẩm chạy theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận công chúng./ Quá nhiều tác phẩm tầm thường cả về giá trị tư tưởng và nghệ thuật với những biểu hiện chủ yếu xa lánh những vấn đề lớn của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chạy theo các đề tài nhỏ nhặt tầm thường, chiều theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận công chúng, buông bỏ chức năng giáo dục của văn học nghệ thuật./ Đã có không ít những tác phẩm truyền bá lối sống vô văn hóa, phản văn hóa, một số tác phẩm truyền bá những tư tưởng độc hại, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, đất nước“.

Nhà phê bình Ngô Thảo đặt điều kiện: “Chúng ta cứ nói văn hóa nghệ thuật quan trọng nhưng thực ra cũng chẳng quan trọng lắm đâu. Vì như cuốn Mối chúa bán lay lắt 1.000 – 2.000 bản.

Muốn phát triển văn hóa văn nghệ thì phải làm sao tất cả học sinh Việt Nam biết cầm đến tờ báo Văn Nghệ, một cuốn sách văn học mà đọc. 11 triệu cán bộ của mình cũng phải đọc sách. 500 đại biểu Quốc hội cũng phải có tủ sách trong nhà, để họ trở thành những người gieo mầm văn hóa. Phải tạo ra nhu cầu lớn về văn hóa thì tiếng nói của văn nghệ mới đi vào cuộc sống và phát triển mạnh mẽ

Tôi không rõ Ban Chấp hành Hội Nhà văn nghĩ gì về những ý kiến trên. Riêng tôi cũng đã được nghe những ý kiến ấy nhiều lần ở nhiều hội nghị, và có lẽ những ý kiến ấy sẽ còn được nhắc lại nhiều lần nữa, bởi thực tại văn học, thực tại văn hóa vẫn thế, và có cơ xấu đi mà chưa có “thuốc” chữa đúng bệnh. Dù sao gióng lên một lời cảnh báo, nhắc nhở cũng là một điều cần thiết.

***

GIÃ TỪ NĂM CŨ

Dù Ban Chấp hành Hội nhà văn Việt Nam Và Ban Chấp hành của các Hội VHNT địa phương đã có nhiều nỗ lực và nhiều hoạt động văn học, song đại dịch Covid đang làm cho văn chương 2021 trì trệ, càng trì trệ thêm.

Mọi kế hoạch hành động đang chờ ở phía trước.

Và chúng ta lại tiếp tục hy vọng.

29/12/2021

________________

[1] http://vanvn.net/tin-tuc/thong-bao-hoi-nghi-ban-chap-hanh-hoi-nha-van-viet-nam-lan-thu-hainhiem-ky-2021-2025/43103

[2]https://vanvn.vn/chu-tich-hoi-nha-van-viet-nam-xin-tien-la-viec-nhe-nhang-hon-cac-nhiem-vu-khac/

[3] http://trannhuong.top/tin-tuc-55401/xin-dung-bao-bien-nua%E2%80%A6tho-oi.vhtm 

[4] http://trannhuong.net/tin-tuc-55698/dai-rfi-trannhuongcom-giai-doc-lap-dau-tien-o-vn-danh-cho-van-xuoi.vhtm

[5]https://vanvn.vn/toan-van-bai-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tai-hoi-nghi-van-hoa-toan-quoc/

[6]  https://www.qdnd.vn/van-hoa/van-hoc-nghe-thuat/hoi-thao-khoa-hoc-toan-quoc-van-hoc-nghe-thuat-voi-nhung-van-de-quan-trong-cap-thiet-cua-dat-nuoc-hom-nay-680522

https://tuoitre.vn/tranh-luan-ve-trach-nhiem-cua-van-hoc-nghe-thuat-20211215211014934.htm

BÀI VIẾT NĂM 2021 CỦA BÙI CÔNG THUẤN

BẠN CÓ THỂ ĐỌC NHỮNG BÀI VIẾT CHÍNH CỦA BÙI CÔNG THUẤN THEO LINK:

buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

Bài viết về các nhà văn nhà thơ

BÀI VIẾT NĂM 2021 CỦA BÙI CÔNG THUẤN

1.TÔI ĐỌC TRANH NGUYỄN QUANG THIỀU. (1/2021)

   http://trannhuong.net/tin-tuc-55262/toi-doc-tranh-nguyen-quang-thieu.vhtm

2.BẾN VĂN CHƯƠNG

   (Đọc Bến văn và những vòng sóng-Hữu Thỉnh) (01/2021)

   http://trannhuong.top/tin-tuc-55264/ben-van-chuong.vhtm

   http://hvhnt.dongnai.gov.vn/Pages/newsdetail.aspx?NewsId=2407&CatId=83

3.KHÔI VŨ-NGUYỄN THÁI HẢI- Người dấn thân vì văn chương. (7/2021)

    http://hvhnt.dongnai.gov.vn/Pages/newsdetail.aspx?NewsId=2701&CatId=83

4.NHÀ VĂN TRẦN THÚC HÀ-“MỘT TIẾNG CHIM RỪNG

     (Đọc Một tiếng chim rừng, tập truyện ngắn của Trần Thúc Hà. (2/2021)

    http://hvhnt.dongnai.gov.vn/Pages/newsdetail.aspx?NewsId=2437&CatId=87

5. Ngày xuân đọc thơ Thiền Trần Ngọc Tuấn

      (Đọc tập thơ Chân Thân của Trần Ngọc Tuấn) 2/2021

     http://hvhnt.dongnai.gov.vn/Pages/newsdetail.aspx?NewsId=2728&CatId=83

6.THƠ TRẦN VẠN GIÃ (10/2021)

https://www.vanthoconggiao.net/2021/10/cam-nhan-tho-tran-van-gia-tac-gia-bui.html

7.CHUYỆN NGÕ NGHÈO thử nghiệm “Lý thuyết trò chơi”(12/2021)

   http://trannhuong.top/tin-tuc-55705/doc-chuyen-ngo-ngheo–mot-thu-nghiem-%E2%80%9Cly-thuyet-tro-choi%E2%80%9D—.vhtm

12.MIỀN HOANG TƯỞNG & Những thử nghiệm của Nguyễn Xuân Khánh (12/2021)

8.ĐỌC LẠI TIỂU THUYẾT “MỘT LINH HỒN” CỦA THỤY AN (6/2021)

https://www.vanthoconggiao.net/2021/06/oc-lai-tieu-thuyet-mot-linh-hon-cua.html

9. THƠ TRẦN MỘNG TÚ. (8/2021)

     http://buicongthuan.vn102.space/2021/08/31/th_tr_n_m_ng_tu

10.XIN ĐỪNG BAO BIỆN NỮA, THƠ ƠI! (4/2021)

     http://trannhuong.top/tin-tuc-55401/xin-dung-bao-bien-nua%E2%80%A6tho-oi.vhtm

11.TRUYỆN NGẮN ĐOẠT GIẢI  In trên Văn nghệ Đồng Nai số Xuân Tân Sửu (Số 41 năm 42) (2/2021

     http://buicongthuan.vn102.space/2021/07/30/v_n_ch_ng_ng_nai_truy_n_ng_n_o_t_gi_i

13.KINH BUỒN VÀ HÀNH TRÌNH TƯ TƯỞNG CỦA LÊ ĐÌNH BẢNG

   (Đọc tập thơ Kinh buồn của Lê Đình Bảng) 6/2021

https://www.vanthoconggiao.net/2021/06/kinh-buon-va-hanh-trinh-tu-tuong-cua-le.html

14.LỜI TỰ TÌNH CỦA BẾN TRẦN GIAN-Lê Đình Bảng (5/2021)

15.NÉT ĐẸP VĂN HÓA CÔNG GIÁO TRONG THƠ LÊ ĐÌNH BẢNG

   (Đọc Ơn đời một cõi mênh mang. 2014 (6/2021)

https://www.vanthoconggiao.net/2021/06/ve-ep-van-hoa-cong-giao-trong-tho-le.html

16.Ghi nhận về cuốn sách

  VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM-Những chặng đường của Lê Đình Bảng (10/2021)

https://www.vanthoconggiao.net/2021/10/ghi-nhan-ve-cuon-sach-van-hoc-cong-giao.html

17. INÊ TỬ ĐẠO VÃN-Những vấn đề nhìn từ văn bản.(8/2021)

https://www.vanthoconggiao.net/2021/08/i-ne-tu-ao-van-tac-gia-bui-cong-thuan-2.html

18.TÂY DƯƠNG GIA TÔ BÍ LỤC Những nghi vấn (10/2021)

http://buicongthuan.vn102.space/2021/10/04/nghien_c_u_tay_d_ng_gia_to_bi_l_c_nh_ng_

19. THƠ SƠN CA LINH (11/2021)

https://www.vanthoconggiao.net/2021/11/khuon-mat-tho-cong-giao-uong-ai-tho-son.html

20.TRUYỆN NGẮN NGUYỄN TRUNG TÂY-truyền thống và hiện đại. (11/2021)

https://www.vanthoconggiao.net/2021/11/khuon-mat-van-chuong-cong-giao-uong-ai.html

21.NĂM 1533, TIN MỪNG TRUYỀN VÀO VIỆT NAM (11/2021)

https://gpquinhon.org/q/muc-vu-tong-hop/nam-1533-tin-mung-truyen-vao-viet-nam-4951.html

22.THAM GIA TRẠI SÁNG TÁC ĐÀ NẴNG (Hội VHNT Đồng Nai)

     Với 2 ca khúc: Bài ca người lính đảo & Vòng tròn Gạc Ma bất tử

MIỀN HOANG TƯỞNG & Những thử nghiệm…

BẠN CÓ THỂ ĐỌC NHỮNG BÀI VIẾT CHÍNH CỦA BÙI CÔNG THUẤN THEO LINJK:

buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

***

MIỀN HOANG TƯỞNG

& Những thử nghiệm của Nguyễn Xuân Khánh

Bùi Công Thuấn

***

Nguyễn Xuân Khánh viết Miền hoang tưởng năm 1973-1974. Nhà xuất bản Đà Nẵng in năm 1990. Nhà xuất bản Hội Nhà văn in 2015 với tên Hoang Tưởng Trắng. Như vậy, Miền Hoang tưởng đã được viết cách chúng ta rất xa (48 năm). Người đọc hôm nay (2021) tiếp nhận Miền Hoang tưởng thế nào? Liệu những vấn đề tác phẩm đặt ra còn liên hệ với chúng ta? Và nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh có đóng góp gì cho sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại?

MIỀN HOANG TƯỞNG

Miền hoang tưởng là truyện của Tư, nhân vật xưng “Tôi”  tự tường thuật đời mình. Tôi sống và làm việc ở Tây Bắc. Tôi yêu Ngà. Nhưng để thực hiện ước mơ âm nhạc, Tôi đành chia tay Ngà về Hà Nội học nhạc và kiếm sống.

Ở Hà Nội, lúc đầu, Tôi ở với anh chị Trần, sau đó Tôi đến nhà thầy giáo Hưng, rồi sang nhà họa sĩ Minh. Tất cả họ đều khó khăn, tôi không đến nhà ai nữa, lang thang, đến nhà ga Hàng Cỏ. Ở đây Tôi kết bạn với Ngọ, một thương binh, vô gia cư. Ngọ chỉ cho tôi cách bán máu để có tiền.

Nhiều lần Ngà viết thư gọi tôi về Tây Bắc, nhưng Tôi không về vì trong túi không có tiền. Sau đó Ngà đã lấy Mai, đội trưởng của Tôi. Tình yêu ấy làm tôi đau khổ khôn nguôi.

 Để có tiền “trả nợ” ân nghĩa với Hưng, Tôi đã bán máu 2 lần.  Sau lần bán máu thứ hai, tôi bị ốm rất nặng, nóng sốt mê sảng với nhiều cơn ác mộng.

Tôi hồi tỉnh, gặp lại Ngà. Ngà gầy ốm khổ sở vì Mai nổi cơn điên hành hạ cô. Vợ chồng Ngọ lên rừng sinh sống. Hưng đem cho Tôi bản vẽ về một ngôi nhà tương lai đẹp và tiện lợi. Minh đã vẽ xong sery tranh Nước Mắt. Con anh Trần, thằng Lê đi bộ đội giờ được đi Liên xô. Còn Tôi, “Chỉ ít bữa nữa tôi và Ngà sẽ đến nơi đau buồn nhất”.

Hoang tưởng là những nhận thức, ý nghĩ hoang đường, không thực tế nhưng người hoang tưởng lại tin chắc là thật, và theo đuổi những ý nghĩ ấy như theo đuổi con đường chân lý. Đó là một căn bệnh.  Minh nhận xét về Tôi: “Đầu óc cậu toàn là mộng mị. Cậu mắc bệnh hoang tưởng”. Tôi “mắc bệnh” nhưng vẫn tin mình khỏe mạnh và nhận thức đúng bản chất hiện thực, và anh hành động theo “nhận thức đúng” ấy.

Truyện hoang tưởng là truyện của nhân vật Tôi (Tư).

            Trước hết Tôi hoang tưởng về tình yêu của Ngà. Tôi tin rằng Ngà yêu tôi, sẽ chờ tôi nên tôi mới bỏ Tây Bắc về Hà Nội đi học nhạc. Tôi tưởng tượng sau khi học xong, Tôi sẽ về làm nhạc và cày ruộng. Mặc dù Ngà khẩn thiết gọi tôi về  và chị Trần cũng thúc giục tôi lấy Ngà, nhưng tôi định sau hai năm, khi tôi có tiền tôi sẽ lấy Ngà, vì tôi không muốn Ngà khổ.

Nhưng rồi hoàn cảnh thực tiễn đã xảy ra, khác hoàn toàn với mọi dự định của Tôi. Tôi đã không hành động để giữ lấy tình yêu. Mẹ Ngà ốm nặng, Ngà một thân một mình, Tôi lại vô trách nhiệm với người yêu. Mai đã đến giúp đỡ Ngà. Sau đó Ngà lấy Mai. Đó là một quy luật ai cũng hiều. Tình yêu và tình bạn của Tôi trở thành tình thù. Vết thương tâm của Tôi không sao lành được, nó trở thành một vết thâm thù trong Tôi, hành hạ tôi khôn nguôi và là một trong nhiều nguyên nhân đẩy tôi vào tình trạng “trầm cảm” về sau.

            Rời Tây Bắc, tôi lao vào một một con đường hoang tưởng khác. Tôi định về Hà Nội thi vào Đại học âm nhạc, rồi trở thành một tài năng. Nhưng Tây Bắc không cho Tôi đi nên Tôi không thể vào học trường nhạc. Tôi tìm thầy học. Tôi đã đưa thầy coi 100 bài nhạc tôi viết. Ông động viên Tôi và chỉ ra 2 khuynh hướng: hướng “mức độ”, và hướng “phá phách”. Ông khuyên Tôi: “Em hãy tự chế ngự mình. Hãy học hỏi cái tinh thần mức độ của người Pháp. Đừng thái quá. Trương Chi của em có cái giọng bí ẩn của kẻ chán đời. Đừng đi vào Trương chi-Một đề tài khó-Một vực thẳm kề bên núi cao. Khéo thì đứng trên đỉnh núi, không khéo thì sa xuống vực thẳm. Em có thể đứng trên đỉnh núi cao, cô độc như chim đại bàng không? Em có thấy choáng váng khi nhìn xuống vực thẳm không? Hãy chú ý! Sự choáng váng bên bờ vực thẳm cũng có lực hấp dẫn. Một ma lực để tạo nên những kỳ tích, nhưng cũng để làm tan xác. Hãy tự hiểu mình là kẻ bình thường”.

Lời khuyên của ông thầy dạy nhạc rất chân tình và thực tiễn, nhưng Tôi đã không nghe theo. Tôi tiếp tục viết “giao hưởng Trương Chi”, và tự hóa thân vào khổ mệnh của Trương Chi. Tôi vận tình yêu của mình vào thân phận của Trương Chi. Lẽ ra Tôi cần phải hiểu, Tôi chỉ là người bình thường, nhưng tôi đã hoang tưởng mình là một thiên tài trên đỉnh núi cao. và Tôi rơi xuống vực thẳm với những cơn “nhập đồng” vào giao hưởng Trương Chi ma quái.

            Tôi cũng hoang tưởng về con đường kiếm sống như hoang tưởng về con đường âm nhạc. Tôi định về Hà Nội kiếm tiền, sau đó trở lại Tây Bắc cưới Mai. Nhưng ở Hà Nội, Tôi là một kẻ không nhà ở, không nghề nghiệp, không hộ khẩu, không tem phiếu. Tôi phải nương nhờ người khác. Ở nhà anh chị Trần, giữa Tôi và anh Trần có một cuộc chiền tranh lạnh, tôi phải ra đi. “Dạo này chẳng có việc làm, thóc gạo lại tăng giá vùn vụt. Cả tháng trời, Tôi đi rửa ảnh thuê cho người bạn chỉ được hơn hai chục, chưa đủ tiền đong 10 cân gạo… tôi không về nhà anh chị, vì thế Tôi phải sống thất thường bữa no bữa đói”. Tôi đến nương nhờ nhà thầy giáo Hưng “với tâm trạng thằng ăn mày”. Vợ chồng Hưng ở trong một cái nhà đồng nát và Hưng là một người đồng nát, Tôi ở được vài ngày thì ra đi. Tôi cảm nhận được “đôi mắt đầy hận thù” của chị Hưng nhìn Tôi. Tôi hiểu: “Chị ấy căm thù mình là phải, tại sao lại đến ăn cướp miếng cơm, miếng thịt của con chị?”. Tôi xấu hổ và buồn phiền bước nhanh ra khỏi nhà Hưng.

            Tôi không đến nhà Minh vì biết Minh đã cạn tiền. Minh đã làm đủ nghề kiếm sống: Thợ quét vôi, phu khuân vác, thợ nề, đi theo xe bò kéo, làm người chào hàng, đi đưa thuốc lá và kẹo bánh cho hàng chè chén. Tôi cũng không đến nhà ai khác nữa.

Tôi ra ga Hàng Cỏ.“Tôi ngồi ở thềm ga, vừa nghe vừa ngắm những cảnh đời thê thảm”. Ở đây Tôi gặp Ngọ, một “phó thường dân”, một thằng “ma cà bông kiểu mới”, “không hộ khẩu, không sổ gạo, không gia đình”; một “kẻ lưu manh hiện đại”; “mất hết khả năng kiếm sống”. Nghĩa là cũng giống như Tôi, một kẻ trần trụi, “quyền làm người thường dân tôi cũng chẳng còn”. Tôi trở thành bạn của Ngọ. “Hai chàng cựu bính Trường Sơn chia nhau mẩu bánh mì rồi bẻ đôi điếu thuốc Điện Biên phì phèo hút và tâm sự”.

 Sau lần bán máu thứ 2, Tôi ốm nặng, đã kề cận bờ tử sinh. Không rõ sau khi vợ chồng Ngọ được xe Nhà nước chở lên rừng sinh sống thì Tôi sẽ sống thế nào?

Trong nhiều “hoang tưởng” thì hoang tưởng về niềm tin, hoang tưởng về lý tưởng làm cho Tôi suy sụp. Tôi tin vào Anh Trần, thế thệ đàn anh, tin anh những con người Cách mạng chân chính. Anh Trần, một trung đoàn trưởng, tham gia đấu tranh từ 1938, rồi trải qua cách mạng tháng Tám, Điện Biên Phủ. Tôi thần tượng hóa anh, tin theo lời kêu gọi của anh và đi theo anh, dấn thân vào con đường chiến đấu. Tôi tin vào thế hệ trẻ mà Lê, con anh Trần, là niềm hy vọng. Lê nói với Tôi: từ lớp 7 đến giờ cháu đã thấy nhiều điều bất bình khó hiểu. Có nhiều kẻ bỉ ổi, họ sống bằng sự dối trá, bợ đỡ và những kẻ ấy phần động thành công ở đời, cháu đâm ra chán nản. Thú thật, cháu thiếu cả lòng tin vào bố cháu. Cháu chán nhà trường, cháu đi vào cuộc sống để thử nghiệm, học võ, làm thơ, chơi bời với bạn bè lưu manh. Cháu kiên quyết sống theo suy nghĩ riêng của mìnhCháu sẽ đi bộ đội”. Thằng bé có lòng tự trọng, có bản lĩnh, biết phản đối quyết định “không công bằng” của bố. Anh Trần lo cho Lê đi học ở Đức. Lê tự quyết định đi bộ đội, từ chối cái “đặc quyền” con của một người có công với Cách mạng. Nhưng sau cùng Lê vẫn đi Liên xô. Tôi nhận ra, anh Trần đã vận động những đồng đội cấp cao của mình cho thằng con đi học, và nhận ra Lê, một người tuổi trẻ, lại đi con đường quanh co ấy để che giấu sự thực  dụng mà lúc đầu anh tưởng Lê là người tuổi trẻ tự do, có bản lĩnh. Niềm tin của Tôi sụp đổ. Nhưng Tôi không nhận ra Thái độ của anh Trần và của Lê là thái độ đã có trong trường kỳ lịch sử, đời cha cống hiến đời con phải được “đặc quyền”. Anh Trần đã nói thế và làm thế.

            Tôi cũng hoang tưởng về lý tưởng. Tôi muốn sống công bằng. Tôi nói với anh Trần: “Thực ra khi còn sự hy sinh vì công bằng, người ta còn là người Cách mạng. Khi lòng đã dửng dưng đối với lý tưởng công bằng, người ta hết là người Cách mạng…”. Đấy là cách Tôi phủ định anh Trần (cũng là phủ định lý tưởng). Việc anh lo cho thằng Lê đi Đức bằng sự “đặc quyền” là không công bằng. Nhưng rồi, dù thằng Lê đã đi bộ đội, thì sau cùng anh Trần cũng lo cho nó đi Liên Xô. Cái thực tiễn ấy biến lý tưởng công bằng của Tôi thành hoang tưởng. Trong mắt Tôi, những lý tưởng của anh Trần là giả dối, Những đàn anh như anh Trần, Mai, cũng là những kẻ giả dối. Họ “hết là người Cách mạng” vậy mà tôi cứ nghĩ “họ là người Cách mạng”. Lý tưởng của Tôi trở thành hoang tưởng khi Tôi khám phá ra sự trái ngược giữa bản chất và hiện tượng. Điều này làm Tôi thất vọng và đau khổ, tâm hồn tràn ngập nỗi buồn. Tôi chìm sâu hơn vào trạng thái trầm cảm.           

Tôi muốn sống yêu thương. Tôi phản đối con vượn đòi trả thù cho chồng, con bị Mai giết. Tôi tự hào về niềm tin của Tôi gửi trong tiếng đàn: “Ta là đói nghèo, hèn kém, ta là con đò nát. Tiếng hát ta run rẩy trăng vàng. Ta yêu thương. Tình yêu ta chấn động quỷ thần. Những ngôi sao xa nghe giọng hát ta cũng rưng rưng nước mắt…”. Trong suốt tác phẩm, Tôi đã cảm thương con vượn mất chồng mất con. Cảm thương chị Trần bao năm chờ đợi. Cảm thương chị Hưng bị tâm thần khi nghe tin thằng con chết ở chiến trường. Cảm thương cho cô sinh viên y khoa tên Lan, lấy Ngọ, bị gia đình từ bỏ. Họ sống không nhà cửa, phải yêu nhau ở ngoài đồng. Lan khao khát một mái nhà. Tôi cảm thương cho bao cảnh đời ở nhà ga Hàng Cỏ, cảm thương những người bạn nghèo tốt bụng (Hưng, Minh, Ngọ) và cảm thương chính tôi.

Một con người đầy cảm thương như thế nhưng trong thực tế, khi đi chiến đấu, có lần Tôi đã cùng với đội trưởng Mai trực tiếp giết chết hơn hai chục tù binh ngụy bên vũng nước. Tôi bóp cổ tù binh và Mai dùng gậy đập đầu những tù binh như đập đầu con bò, trong đó có cả người lính yếu đuối, có bố là Việt Minh tập kết ra bắc. Việc ấy làm Tôi khủng hoảng và Mai phát điên. Tiếng đàn của Tôi ám ảnh: “Có  thấy gì không? Một khúc sông lạnh mênh mông. Những xác chết gục bên bờ nước. Quan quân sang đò. Phải giết nốt những tên tù cho đỡ vướng”. Tôi muốn sống yêu thương nhưng phải đối mặt với sự tàn nhẫn. Trong mảnh giấy Ngọ viết về “Nạn hồng thủy”, Ngọ đã chỉ cho Tôi thực tế này: “Con người chỉ chăm lo dòm ngó đố kỵ đồng loại, dẫm đạp lên xác đồng loại mà tiến. Tâm lý ác được khơi gợi và dung túng dẫn đến chỗ phá tan rường cột đạo lý. Con tố cáo cha, vợ tố cáo chồng. rồi lường thầy phản bạn…Tâm lý độc ác dã thú thống trị”.  Tôi không phủ định được thực tiễn: “Ở nước ta bao nhiêu là đau khổ! Nỗi đau này chồng lên nỗi đau khác. Những thây đau lớp lớp chồng lên thành núi..” Và tôi đã phải thốt lên: “Phải chăng sự tàn nhẫn đã thắng thế?

Và sự hoang tưởng của nhà văn. Những năm 1973-1974, khi Nguyễn Xuân Khánh viết tác phẩm này, hiệp định Paris đã được ký kết. Chiến tranh phá hoại miền bắc của Mỹ đã chấm dứt, bao nhiêu đổ nát, bao nhiêu khó khăn chất chồng; lúc ấy miền Nam vẫn đang là chiến trường lửa. Dù vậy, âm vang của “Điện Biên Phủ  trên không” của Hà Nội, của Hiệp định Paris, của khắp các mặt trận miền Nam vẫn là âm chủ đạo của cuộc sống. Tiểu thuyết Miền hoang tưởng nói gì về thực tại ấy?

Miền hoang tưởng không phản ánh gì không khí và xu thế của thời đại. Không gian Miền hoang tưởng bình lặng, chật chội trong một vòng rất nhỏ, từ nhà anh Trần sang nhà Hưng, sang nhà Minh, ra nhà ga Hàng Cỏ. Đường phố Hà Nội yên tĩnh. Nội dung xã hội cũng chỉ là những sinh hoạt kiếm sống của các gia đình ấy. Hưng muốn làm lại căn nhà đồng nát. Anh Trần lo cho con đi du học. Minh chăm lo vẽ để bán lấy tiền (Minh nghèo, say mê vẽ, bị vợ bỏ). Ngọ ở nhà ga, làm đủ mọi việc, cả việc bán máu. Một vài hình ảnh lam lũ trên sân ga:  Một người đàn bà đang ôm một đứa trẻ gầy gò nhễ nhại khóc, một đoàn nông dân đi mua sắm chống đói từ mạn ngược trở về, một bà cụ già ôm một chú lợn nơi ngực rao bán, người bán gà, người bán dừa Thanh, Ngỗng Sư tử, lợn lai kinh tế, người bán mì bị mời lên đồn Công an…và thu hẹp lại là chính cuộc sống của Tư (nhân vật Tôi) lang thang, vô gia cư, thất nghiệp. Nguyễn Xuân Khánh đã vẽ nên một xã hội không phản ánh cái thực tại lúc bấy giờ.

Trong xã hội ấy nhà văn tô đậm hình ảnh bộ đội từ chiến trường trở về. Anh Trần -Trung đoàn trưởng thời chống Pháp, hiện là Bí thư Đảng ở một xí nghiệp lớn. Theo nhân vật Tôi, anh đã không còn là “người Cách mạng”, vì anh theo đuổi cái mục đích “đặc quyền” cho con anh. Đội trưởng Mai hiện lên như một điển hình của cái ác và sự bị trừng phạt. Trong chiến đấu, Mai đã dùng gậy đập đầu giết chết hơn hai chục tù binh Ngụy. Sau chuyện đó Mai bị bệnh tâm thần, bệnh khóc. Khi ở Tây Bắc, Mai trở thành kẻ cướp mất tình yêu của Tôi, kẻ phản bội đồng đội, đi thương lượng tình yêu với Tôi, Mai đem theo súng. Ngọ cho biết, anh là lính đi B năm 1965. Năm 1969 bị thương về Bắc. Học Tổng hợp, làm thơ, bị kết tội “tư tưởng phản động bị đưa đi cải tạo” hơn 1 năm. Được thả, anh bị đuổi về Nam Định làm ruộng. Nhưng nhà Ngọ 3 đời ở Hà Nội. Anh ra Hà Nội ở với cha mẹ.“Tôi ở nhà bố mẹ, không được nhập hộ tịch, không có gạo ăn, không có tiền lương rồi tự kiếm sống: lao động, dắt bò thuê, khuân vác… và trở thành “kẻ lưu manh hiện đại”; “mất hết khả năng kiếm sống”phải thường xuyên bán máu. Thầy giáo Hưng ở trong cái “nhà đồng nát” và trở thành “người đồng nát”. Con anh chết ở chiến trường. Vợ anh thương nhớ con mà bị điên, vì suốt đời con chị ao ước một cái quần simili. Hưng bảo, có lẽ anh cũng là một kẻ điên. Cũng cần kể đến người lính liên lạc của anh Trần. Trong chiến hào, khi bom nổ, anh liên lạc đã lấy thân mình che cho anh Trần. Anh liên lạc bị thương mất bàn tay. Ông có 5 người con: 2 là liệt sĩ. Đứa thứ ba 15 tuổi phải đi cải tạo vì tội giết người.

Chúng ta cũng chú ý đến thân phận những người phụ nữ. Trước hết là chị Trần. Chị lấy anh năm 17. Năm chị 19 anh bị Tây bắt. Chị tôi chờ đợi. Sau CM tháng tám, anh Nam tiến. mãi đến 1952 anh chị mới sum họp. Nhân vật “bà hàng xóm, người đã giúp Chị Trần lúc chị sinh đứa con đầu. Bà cho chị ngô non để nhai. Hôm sau bà lại ra đồng kiếm thức ăn cho chị và 5 đứa con của bà. Một viên đạn đã bắn vào tim bà. Bà chết. Thằng con lớn bò ra ruộng kéo xác bà về. Giờ 3 đứa con lớn đi bộ đội, một người đã hy sinh. Đứa con gái nuôi lợn, thằng con út học nghề thợ tiện ở Hà Nội. Vợ Minh là một diễn viên. Cô chán ngấy những bức tranh quái dị của Minh. Cô cần niềm vui và sự thành thật. Cô chia tay Minh và dẫn con đi. Ba tháng sau lấy chồng. Lan, vợ Ngọ, một cô sinh viên Y khoa năm thứ ba, yêu Ngọ, tự nguyện lấy Ngọ và đi theo anh. Lan bị gia đình từ bỏ. Lan ở nhờ nhà bạn, đan kiếm sống. Một người bạn định dìu dắt Lan đi chợ cua ốc, nhưng không có vốn. Sau Lan đổi sang bán hoa quả, rồi theo Ngọ lên rừng.

Bức tranh xã hội ấy đúng như nhận thức của Tôi (cũng là của nhà văn) về thực tại: “Ở nước ta bao nhiêu là đau khổ! Nỗi đau này chồng lên nỗi đau khác. Những thây đau lớp lớp chồng lên thành núi..”;Phải chăng sự tàn nhẫn đã thắng thế?

            Có thể hiểu được, đó chính là lý do tại sao Miền Hoang tưởng không được xuất bản ở thời điểm tác giả viết xong (1973-1974). Nhà văn không nói gì về nguyên nhân đói nghèo khó khăn của miền Bắc là do chiến tranh phá hoại của Mỹ gây ra. Nhà văn tô đậm cái ác (Mai), cái đau khổ (Hưng), cái “thảm hại” (Ngọ), “đặc quyền” (anh Trần) của chiến tranh cùng với những thiệt thòi của người vợ, người mẹ và người dân trong chiến tranh phải chịu. Những “đại tự sự” của thời đại về chủ nghĩa yêu nước trong kháng chiến chống Mỹ vĩ đại, về lý tưởng “không có gì quý hơn độc lập tự do”, về vẻ đẹp của “chủ nghĩa anh hùng cách mạng”, về sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội…đều vắng bóng trong tác phẩm này.

Nói cách khác, tác giả miêu tả một xã hội hoang tưởng so với hiện thực. Nó có thể là một góc của hiện thực, nhưng không phải là phần hiện thực chứa đựng những yếu tố của sự phát triển của tương lai. Nó phản ánh chính sự hoang tưởng trong ngòi bút của nhà văn. Lưu ý rằng đây là thời của những tác phẩm như Hàm Rồng (1968) và Sóng Hòn Mê (1971) của Hoàng Văn Bổn; Vầng trăng và những quần lửa (1970) của Phạm Tiến Duật, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu (1972),  Những ngôi sao xa xôi (1973) Lê Minh Khuê…

NHỮNG CHIẾN LƯỢC

1.Chiến lược kiến tạo tác phẩm

            Nguyễn Xuân Khánh chia tác phẩm làm 2 phần. Phần I là những lá thư tình qua lại giữa Tư (nhân vật trần thuật xưng Tôi) và Ngà. Tư ở Hà Nội, Ngà ở Tây Bắc. Ngoài những lá thư gửi cho Ngà, còn có những lá thư Tư không gửi. Thư gửi cho Ngà nói những điều theo cung cách giao tiếp công khai. “Thư không gửi” là những lời “ tự thú” về sự thật cuộc sống của Tư. Thí dụ, Thư thứ nhất gửi cho Ngà, Tư nói anh đã vào Đại học âm nhạc và có việc làm, vừa học vừa làm. Trong “Thư không gửi”, Tư nói anh không vào Đại học nhạc, hiện nay anh là thằng lang thang. Chúa bảo những ước mơ của anh chỉ là hoang tưởng. Thư thứ hai gửi Ngà, Tư nói Anh đã viết xong bài hát đầu tiên tặng em. Đó là bài hát “Tiếng rừng”. Tư còn dặn Ngà làm thịt gà bồi dưỡng cho mẹ và nói anh gửi mẹ ít thuốc. “Thư không gửi” thứ hai, Tư kể lại việc anh đã mua cây đàn Piano, và im lặng trước những lời anh Trần huênh hoang như: –Mỹ sắp hết máy bay, –Lê ơi con chuẩn bị sang Đức học; –Cách mạng Việt Nam…vĩ đại chẳng kém gì các mạng Pháp 1789 và cách mạng tháng 10 Nga…           Phần thứ nhất chấm dứt khi Ngà lấy Mai và Tư làm bạn với Ngọ, lưu lạc ở nhà ga Hàng Cỏ.

Phần thứ hai là tâm trạng ngày càng “trầm cảm” của Tư. Trong vai trần thuật Tôi, Tư kể lại sự việc, tự phân tích tâm lý của mình, của người đối diện. Anh đứng trên lập trường của riêng mình để đánh giá người đối diện và từ đó đưa ra hành động. Chẳng hạn lúc ở nhà anh Trần, nhận ra anh Trần không còn là “người Cách mạng”, Tư bỏ đi. Hoặc, lúc ở nhà Hưng, Tư thấy trong ánh mắt chị Hưng có sự căm thù Tư đã ăn cướp cá thịt của con chị, anh đã xấu hổ bỏ đi. Hoặc, khi hiểu ra bản chất của Mai là một kẻ ác, kẻ cướp tình yêu của anh, phản bội tình bạn, anh coi Mai là kẻ thù. Trong cơn mê sảng hai người đã đánh nhau để tiêu diệt nhau. Những lúc tỉnh và những lúc chìm trong hoang tưởng như vậy của Tư đan xen nhau liên tục. Có cả những trường hợp nhà văn trộn lẫn những cơn mơ hoang tưởng với thực tại. Ấy là lúc Tư sốt cao, lạc vào mê loạn, và có người lay tỉnh Tư dậy. Trạng thái mê và tỉnh của Tư có thể xảy ra bất cứ lúc nào, lúc nhớ Ngà, lúc nhìn bức tranh “Chúa chơi chim” hay pho tượng Chúa của Minh, hoặc lúc Tư chơi đàn, anh chìm vào tâm trạng của Trương Chi, hát những lời của Trương Chi đầy ẩn dụ.

Việc kiến tạo tác phẩm như thế đem đến hiệu quả gì? Đó là giản lược ngôi vị trần thuật đến mức gọn nhất. Chỉ có một nhân vật Tư, xưng là Tôi, một người trầm cảm, một người hoang tưởng, một nguồi luôn trong “những cơn thoát phàm kỳ dị” kể chuyện từ đầu đến cuối tác phẩm. Con người này không phải chịu trách nhiệm gì về những  tư tưởng và hành động của mình, vì anh ta là một dạng tâm thần.

Không gian truyện rất hẹp (Tư chỉ quanh quẩn ở nhà chị Trần, đến nhà thầy giáo Hưng, sang nhà Minh, ra nhà ga Hàng cỏ, vào quán rượu của Râu Xồm), nhờ kết hợp với những cơn mơ hoang tưởng, siêu thực, tạo ra một không gian đa tầng, người đọc khó mà thoát ra bên ngoài để nhận thức về hiện thực cuộc sống đang diễn ra song song với các nhân vật. Thí dụ, hiện thực Tư đang sống (trong tác phẩm) được trộn với tiếng vượn hú, tiếng đàn, tiếng la hét của những “người điên”, sự nhốn nháo ở nhà ga Hàng Cỏ với thế giới siêu hình: sự xuất hiện liên tục của nhiều Chúa (Chúa thương xót, Chúa hiền, Chúa hai mặt…), của con quỷ đầu trâu cầm đinh ba, của con chim sơn ca hát lời tụng ca, của Trương Chi với con đò nát, chén trà, vầng trăng và điệu hát buồn thương u uất…Trong cái không gian nửa hư nửa thực ấy nhà văn đã dùng sương mờ trăng trắng che khuất cái hiện thực miền Bắc vừa sau hiệp định Paris ngoài kia. Để từ đó tô đậm cái “mặt trái” hiện thực Xã hội chủ nghĩa lúc đó.

Miền hoang tưởng có cấu trúc lỏng lẻo, hành động truyện rất nghèo, phần lớn trang văn là đối thoại của nhân vật và tâm trạng của nhân vật Tư (cũng là của tác giả), những suy nghĩ rối rắm, những nhận thức phiến diện bướng bỉnh, những mê tỉnh hỗn độn, khiến cho tác phẩm như một khu rừng um tùm cây cỏ, rất dễ mất dấu,  vì thế nó làm nản lòng người đọc khi muốn đi vào khu rừng ấy.

2.Chiến lược dụng binh

            Như trên đã trình bày. Lớp nhân vật chính thứ nhất là những người lính, hai thế hệ, kháng chiến chống Pháp (Anh Trần- một Trung đoàn trưởng, một Chính ủy, và người lính liên lạc) và chống Mỹ (Mai, Tư, Ngọ). Tác giả sử dụng “đội quân” này như thế nào và với mục đích gì?

Nhà văn không miêu tả kỳ tích anh hùng của họ mà tập trung khai thác một đăc điểm nào đó. Anh Trần đại diện cho tư tưởng công thần hưởng “đặc quyền”. Cả hai con anh đều được đi học Liên Xô. Mai là hiện thân cho cái “tàn nhẫn”, của cái ác trong chiến tranh. Nhà văn miêu tả rất chi tiết, rất sinh động cảnh Mai đập đầu hơn hai chục người lính ngụy tù binh bằng gậy ở bãi nước, trước khi đơn vị của Mai rời đi nơi khác. Nhà văn cũng miêu tả thêm cảnh Mai giết chó làm tiết canh mà người đọc cũng phải rợn người về sự lạnh lùng tàn ác của Mai. Nhân vật Ngọ, một người lính ở chiến trường B năm 1965, bị thương năm 1969, trở về đi học Đại học Tổng hợp, làm thơ bày tỏ thái độ trước hiện thực, bị bắt cải tạo hơn một năm, ra trại bị đuổi về quê. Ngọ trở về Hà Nội, không nhà ở, không hộ khẩu, không tem phiếu, “mất hết khả năng kiếm sống”, phải bán máu để sống.

Tại sao Nguyễn Xuân Khánh lại chọn người lính và tộ đậm họ lên? Vì người lính là nhân vật trung tâm của thời đại của một đất nước đang chiến tranh, bởi những gì liên quan đến người lính thì người ta đều tin là thật. Và vì người lính là con em nhân dân, nói đến họ là động đến trái tim của nhân dân. Vì thế, khi Nguyễn Xuân Khánh tô đậm nhân vật người lính (nhất là lúc còn đang chiến tranh, đang cần sự dũng cảm hy sinh), thì người đọc có thể hiều điều nhà văn muốn:  người lính, những người đã chiến đấu và hy sinh, khi trở về họ được đối xử như thế. “Một thế hệ ngây thơ…và đẹp đẽ”bị lừa dối. Đúng như nhân vật Tư khẳng định: “phần Tôi cũng bị lừa lọc mất hết”.

Lớp nhân vật chính thứ hai là những người phụ nữ. Chị Trần chờ đợi chồng nhiều năm trong kháng chiến chống Pháp. Chị Hưng thương con, hóa điên khi đứa con chết ở chiến trường B. Bà hàng xóm của chị Trần bị một viên đạn trúng tim, thằng con phải bò ra đồng lôi xác mẹ về, bà để lại 5 đứa con. Lan, con một gia đình nề nếp, một cô sinh viên Y khoa, yêu và lấy Ngọ, bị gia định từ bỏ. Để kiếm sống Lan theo bạn bán cua ốc, rồi bán trái cây. Sau cùng, Lan theo Ngọ lên rừng sống vì nơi ấy, Ngọ nói,  có cây có thể làm nhà, dù chỉ là một cái vòm mà Lan mơ ước. Ngà đã đánh mất tình yêu, đánh mất cuộc đời khi lấy Mai và bị hành hạ. Trên sân ga, một người đàn bà đang ôm một đứa trẻ gầy gò nhễ nhại khóc, một bà cụ già ôm một chú lợn nơi ngực rao bán…Tất cả những người phụ nữ ấy đều có những phẩm chất truyền thống, thủy chung, thương chồng thương con cần cù chịu thương chịu khó. Họ sống thực tiễn nhưng đói nghèo và lâm vào những tình cảnh đau thương. Họ cũng tràn đầy khát vọng. Lan khao khát một mái vòm, dù chỉ là một túp lều để Ngọ và Lan trở thành vợ chồng thực sự. Họ không phải yêu nhau ở ngoài đồng. …

Miêu tả như vậy, Nguyễn Xuân Khánh dễ lấy được tình cảm của người đọc. Bởi thân phận người phụ nữ từ xưa đến nay là thân phận khổ và thiệt thòi. Trong chiến tranh và đói nghèo, họ đau khổ và hy sinh nhiều hơn. Dù vậy Miền hoang tưởng chưa cho thấy con đường tương lai của họ.

Nhân vật trung tâm là Tư, người xưng Tôi, đứng ở ngôi thứ nhất trần thuật. Tư là Tiểu đội trưởng trong đơn vị của Mai. Anh đã tham gia vào việc Mai trực tiếp giết chết hơn hai chục người lính ngụy tù binh. Khi về nông trường Tây Bắc, Tư là thầy thuốc và trong một dịp đỡ đẻ cho con bò sừng hươu của Ngà, hai người quen nhau và yêu nhau. Sau đó Tư về Hà Nội với dự định học Đại học nhạc. Nhưng Tây Bắc không cho đi nên anh không thể thực hiện được dự định. Ở Hà Nội, lúc đầu Tư ở nhà chị Trần, nhưng vì xung khắc với anh Trần, Tư bỏ đi. Anh đến nhà thầy giáo Hưng, rồi lại sang nhà họa sĩ Minh, và sau cùng sống lang thang ở ga Hàng Cỏ. Lúc quá cần tiền anh đã phải bán máu. Tư bị ốm nặng sau đợt bán máu lần thứ hai. Anh gặp lại Ngà.

Đến đây câu chuyện về Tư kết thúc. Không rõ nhà văn sẽ  cho Tư làm gì để có cơm ăn, có nhà ở mà thực hiện ước mơ là tình yêu với Ngà và khát vọng sáng tác âm nhạc? Hiện tại, Tư không có hộ khẩu, không tem phiếu, không nghề nghiệp, không có cách gì kiếm tiền. Có lẽ đó là điều nhà văn muốn nói: Tư hoang tưởng trước thực tiễn. Anh bỏ cái đang có (ở Tây Bắc, anh là thầy thuốc, cuộc sống ổn, lại có ngưởi yêu), đi tìm cái viển vông là học nhạc và làm nhạc ở Hà Nội. Dù anh chị Trần đã cảnh tỉnh, dù thầy dạy nhạc đã khuyên Tư “Hãy tự hiểu mình là người bình thường”, và Chúa đã can ngăn: “Mi sẽ bị trừng phạt. Mi tưởng âm nhạc sẽ đem đến cho mi hạnh phúc sao? Nó sẽ dẫn mi đến những bến bờ xa lạ, ở đó mi sẽ chìm trong những băn khoăn dày vò”. Lần thứ 5 Chúa hiện ra trong giấc mơ của Tư, Ngài cảnh cáo:  “Anh sẽ bị đuổi khỏi vườn địa đàng,những nét nhạc lông bông, nét nhạc đang bị quỷ ám”. Nói cách khác, đó là những dự cảm của Tư về những tháng ngày lang thang, đói khát, đau khổ ở tương lai khi anh rời khỏi Tây Bắc. Nhưng Tư vẫn bướng bỉnh dấn thân vào con đường trầm luân ấy.

Tại sao Tư quyết tâm thực hiện dự định của mình?Anh dự địnhsau khi học xong sẽ “làm nhạc và cày ruộng”. Khi rời nhà anh Trần, Tư nói: Tôi chỉ muốn làm người; Tôi sẽ tự nặn ra tôi”, tức là Tư không muốn nghe lời khuyên của bất kỳ ai. Tư tinh tế, sâu sắc. Anh dễ dàng nhận ra thái độ của người đối diện. Anh cũng có lý luận sắc xảo để bảo vệ ý kiến của mình. Tư chống lại tư tưởng “đặc quyền” của anh Trần và đòi hỏi sự công bằng. Anh cũng chống lại sự áp đặt của Chúa: “Con không chịu giã từ những ý nghĩ điên rồ, không chịu noi theo đường ta, nên bây giờ con là kẻ thất bại”. Anh cũng có lòng tự trọng khi sự hiện diện của anh làm anh Trần, chị Hưng khó chịu. Tư cũng biết sống tình nghĩa khi bán máu để có tiền “trả nợ” ân nghĩa cho Hưng. Anh cũng có tài làm nhạc, đã từng đưa cho thầy dạy nhạc 100 bài và viết giao hưởng Trương Chi. Và có lúc phản tỉnh, anh tự hỏi: “Phải chăng căn bệnh tàn nhẫn đã nhập và tôi dưới dạng hình thức: nhìn cảm khắt khe?”. Sau cùng, người đọc nhận ra Tư là người trầm cảm, anh sống nửa mơ nửa thực, anh chìm đắm triền miên trong những “cơn thoát phàm kỳ lạ”, anh tự tra vấnhoang tưởng:Tại sao người ta cứ muốn nuốt sống ta? Tại sao ta là kẻ bị săn đuổi?;Hoang tưởng thơ ngây. Tôi vẫn là một kẻ bần cùng. Một thằng vô danh tiểu tốt trên đời như tôi lại muốn đòi hỏi sự bình đẳng và cứ tin như điều ấy có trong đời sống”.

Những vấn đề Tư đặt ra có thấp thoáng bóng dáng xã hội, nhưng chưa cụ thể, chưa mạnh mẽ. Thí dụ vấn đề “đặc quyền” của con em cán bộ, vấn đề thế hệ trẻ không còn tin tưởng thế hệ cha anh (Lê); sự  không quan tâm đãi ngộ những người đã chiến đấu, hy sinh (Ngọ, Hùng con chị Hưng chết trận) và, vì Tư là người trầm cảm, một “người điên”, một người hoang tưởng, nên những vấn đề ấy không được quan tâm. Ai lại đi tin một kẻ tâm thần. Cái tâm thần nằm trong tư tưởng “Tôi nặn ra tôi”, mà không quan tâm đến xã hội đang vận động để thích ứng. Anh Trần đã thay đổi. Cháu Lê cũng thay đổi. Minh đã đổi đề tài vẽ liên tục. Hưng đã làm lại các gác xép căn nhà đồng nát. Ngọ đã lên rừng. Còn Tư, vẫn chìm đắm trong những giấc mơ, vẫn sống giữa làn ranh thực và ảo.

Tại sao nhà văn muốn Tư mãi là một người hoang tưởng, mà không tạo cơ hội cho Tư thức tỉnh? Có lẽ những vấn đề của hiện thực vẫn còn đó, không được giải quyết, nên Tư cứ hoang tưởng: Đó là vấn đề “đặc quyền” của con em cán bộ, càng về sau càng trở nên hiển nhiên. Vấn đề người nghệ sĩ  (Ngọ khi còn là sinh viên, làm thơ, bị kết tội “tư tưởng phản động”), họ bị theo dõi, xung quanh họ nhìn đâu cũng thấy “mú”, “mú chim”, “mú văn hóa”. Vấn đề sự tha hóa của người trẻ. Lê nói với Tư: “bây giờ con người dễ dàng giết nhau chỉ vì một cớ rất nhỏ nhoi…Cháu để ý hỏi, có đứa trả lời: Máu bốc lên thế là đâm ngay”. Vấn đề đói nghèo, đến bao giờ mới  mới hết tình trạng “xóa đói giảm nghèo”? (Tuần qua thiếu gạo, bệnh la hét của Hưng trở nên trầm trọng). Trong thực tế, dân ta đã chịu đói nghèo quá lâu, từ những năm trước 1945 đến những năm 1990.  Vấn đề tự do, con người tự định đoạt số phận mình (Tư muốn: “Tôi nặn ra tôi… Tôi không cần theo con đường của Chúa). Vấn đề thực hiện khát vọng(Tư muốn học nhạc, Lan tự do yêu và lấy Ngọ). Vấn đề “nhân nghĩa”. “Nhân nghĩa là gì? Cái gì có lợi cho nhà vua, cái đó là nhân nghĩa”.

Tất cả vấn đề còn đó, có cái ngày càng trầm trọng hơn, nhưng Tư vẫn chờ đợi, “trái tim tôi đang chờ đợi”;Tôi chờ đợi những điều mới mẻđợi chờ một cái gì rất huyền diệu sẽ đến”…thành ra là hoang tưởng. Tất nhiên nhà văn không chỉ nói một mình Tư hoang tưởng, mà cả một thế hệ, một thời đại hoang tưởng. Tư nói với anh Trần, thế hệ đi trước: “Có lẽ anh thuộc một thế hệ khác,  một thế hệ ngây thơ… và đẹp đẽ”; Tư nói với Lê, thế hệ đi sau:Thế hệ trẻ đang trong cơn mê…những bộ óc non dại đang tìm chất kích thích trong cái hoang dại và tàn nhẫn”…Phải chăng nhà văn gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh?

3.Những chiến thuật

            Nguyễn Xuân Khánh miêu tả nhân vật Chúa thế nào và sử dụng với mục đích gì?

Nhân vật Chúa xuất hiện rất nhiều lần trong những giấc mơ, những cơn mê sảng, những lúc Tư chìm đắm miên man trong suy tư. Đó là  “một con người đầy hào quang. Tư cho biết: “Dạo này anh đang đọc Kinh thánh với một niềm say mê kỳ lạ. Anh đang cố nhen nhùm lên trong lòng mình nỗi khát vọng của con người[Thư thứ nhất Tư gửi cho Ngà]. Chi tiết này khiến người đọc nghĩ ngay đến đức Giêsu trong Kinh thánh. Ở lá thư thứ II (thư không gửi) Tư viết: “Chúa Giêsu với ánh hào quang rực rỡ trên đầu lại hiện về trong giấc chiêm bao”. Minh vẽ Chúa Giêsumặc áo đen, đầu tỏa hào quang. “Chúa đang quỳ gối ngửa mặt lên trời cầu nguyện, vẻ mặt hiền từ, kính cẩn. Sau lưng Chúa một con chim trắng đang bay, con chim bị gắn liền với Chúa bằng một sợi dây. Sợi dây, một đầu buộc vào chân chim, một đầu buộc vào chân Chúa.”[Thư thứ V-thư không gửi]. Như vậy, tác giả xác định rõ nhân vật Chúa trong Miền hoang tưởng là đức Giêsu trong Kinh thánh.

Nhưng theo dõi nhân vật Chúa trong cả tác phẩm, người đọc sẽ nhận ra đó là một nhân vật do tác giả sáng tạo, dù đôi khi có vài chi tiết mượn danh như bức tranh Minh vẽ (ở trên). Bức tranh này lấy lại hình ảnh Chúa trong Vườn dầu, nhưng lại bịa ra Chúa mặc áo màu đen và có con chim buộc ở chân.

            Gọi nhân vật Chúa trong Miền hoang tưởng là nhân vật sáng tạo bởi vì, theo truyền thống hai ngàn năm của giáo hội Kitô giáo, Chúa Giêsu không bao giờ hiện ra với bất cứ ai. Vì thế không có chuyện đức Giêsu xuất hiện, dù trong giấc mơ, hay trong cơn mê sảng của Tư (lưu ý, Tư là người không tôn giáo). Trong truyện, Nguyễn Xuân Khánh rất ít khi trích dẫn Kinh thánh. Thấp thoáng cũng đôi khi nhại theo Kinh thánh. Chẳng hạn, ở lá thư thứ 3, khi Tư bảo Chúa: “Ông không phải là Giê su”, thì Chúa nói: “Ta là nẻo đường, ta là hạnh phúc, ta là chân lý. Những ai nói đến điều ấy đều là ta cả”; hoặcNguyễn Xuân Khánh cho con sơn ca hát: “Cảm ơn thượng đế đã cho ta cuộc sống./ Cảm ơn người đã vạch lối ta đi./ Cảm ơn Chúa Trời người là chân lý[XII]. Những trường hợp này lấy ý từ Kinh thánh: Đức Giêsu nói: “Chính Thầy là đường, là sự thật và là sự sống (Ga 14, 6).

Đây là những dòng miêu tả của nhà văn về những lần Chúa xuất hiện nói chuyện với Tư: Mặt Ngài mang dáng nét con người thế kỷ XX.  Khi Tư rời Tây Bắc, Chúa cảnh báo anh sẽ bị đuổi khỏi vườn địa đàng. Chúa Giêsu tiên báo số phận của Tư. “Tư là Trương Chi. Gia tài của anh là con đò nát cộng thêm tiếng hát” [Thư thứ 3, thư không gửi]. Một con quỷ đầu trâu tay cầm đinh ba đến nói với Tư: Chúa trừng phạt anh vì anh dám chống lại những khuôn phép của Chúa, dám báng bổ xứ thiên đàng…; nhạc của anh làm cho người ta chỉ nghĩ đến mình.[Thư thứ VI]. Tư cũng thấy Chúa từ trong bức vẽ “Chúa chơi chim” của Minh bước ra. Chúa cũng xuất hiện trong giấc ngủ mơ của Tư ở nhà ga Hàng Cỏ, Người an ủi anh. Người chỉ đường cho anh: “Các con không biết đổi thay những quan niệm cố hữu, cổ xưa” (VIII).

Nguyễn Xuân Khánh miêu tả Chúa có hai mặt[IX]. Hình ảnh con chim bị buộc dây vào chân Chúa giúp Tư hiểu: “chúng ta đang bị Chúa cầm tù bằng sự ngọt ngào”. Sau một cơn mê sảng toàn những chuyện man rợ, Tư được Chúa hiện về an ủi: “Lòng con đã vơi nhẹ rồi ư? Con đã khôn ngoan hơn. Nếu nỗi buồn cao thượng làm lòng con trong sạch, thì con cứ buồn. Miễn là con đừng bướng bỉnh với ta”[X]. Trong những ngày Tư chờ trích máu, Chúa thường xuyên hiện ra khuyên nhủ: “Con định bán thể xác con đi sao? Tội nghiệp! Tại sao con lại đi theo nẻo ấy? Tại sao cứ cưỡng lại ý của Cha các con? Hãy theo lời khuyên của ta. Đừng cứng, hãy mềm. Hãy làm theo như mọi người. Sự khiêm nhường cam chịu: đó là cội nguồn hạnh phúc, đó là bằng an vĩnh hằng. Nếu con cứ cố ý cưỡng lại mãi linh hồn con sẽ sa hỏa ngục”[XII]. Khi Tư bán máu lần thứ 2, một thiên thần ẩn mặt nói: “ngủ đi con. Hãy cứ mơ màng. Hãy cứ nuôi dưỡng tâm hồn con bằng những hoang tưởng…ngây thơ…”[XII].Và trong một cơn mê sảng khi nhìn bức tranh đám ma của Minh, Tư nghe thấy tiếng một ông cố đạo, một vị sư và nhiều tiếng thoang thoảng, đoàn người không đầu, say sưa hát một bài ma quái: Chúa chết cả rồi!/ Chúa xưa chúa nay!/ Chúa Đông chúa Tây/ Chúa Nam chúa Bắc/ Chúa hiền chúa ác/ Cũng đều chết sạch/ Chúa chết cả rồi/ Ta cười ta hát”. Sau tiếng hát là cơn mưa máu. Có tiếng an ủi: “Tỉnh lại con ơi. Chúa chết ư? Chớ lo. Con người sẽ có những thượng đế mới”. Con chim trong bức tranh của Minh nói trong vũ trụ có nhiều Chúa [XII]. Chương XIV còn có ông chúa sương, ông Chúa lành hiện ra an ủi Tư: “lòng con đã vơi nhẹ. Con hãy vui những ngày vui hiếm có của cuộc đời. Ta hiểu, giận hờn trong lòng con chỉ là những cơn bão ngắn”. Ông Chúa chơi chim ghé về thì thầm trong những phút ân ái của Tư: “Cậu thua Mai rồi. Cậu làm gì có sức mạnh”. Trong một cơn mê sảng, Tư đánh nhau với Mai. Chúa chơi chim lại nói: “Con chẳng nghe lời ta. Con đã thấy chưa? Sự tàn nhẫn đã nổi khùng”…      

Tôi dẫn hơi dài về nhân vật Chúa để nhìn rõ “chiến thuật” của Nguyễn Xuân Khánh. Trước hết đó không phải là nhân vật tôn giáo thực hiện những nhiệm vụ tâm linh. Nguyễn Xuân Khánh không thâm nhập thế giới tâm linh. Nhân vật Chúa chỉ là sự phân thân của Tư trước lẽ thiện ác, là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa tự do và trói buộc, những dự cảm về tương lai, và là một biện pháp tinh thần để Tư cân bằng tâm trí sau những cơn sốt mê man, quằn quại trong những cơn ác mộng (thí dụ khi xem bức tranh đám ma, Tư đánh nhau với Mai, và cơn mưa máu đầy xác người). Về tư tưởng, phải chăng Nguyễn Xuân Khánh lặp lại những luận điểm của chủ nghĩa Marx, rằng, Tôn giáo là thuốc phiện. Chúa ru ngủ Tư, bảo Tư khiêm nhường cam chịu đi theo con đường Chúa đã định.

Về mặt nghệ thuật, Nguyễn Xuân Khánh sử dụng nhân vật Chúa thay cho bóng dáng những Bụt, tiên, ma quỷ, chằng tinh trong truyện dân gian (thí dụ con quỷ đầu trâu tay cầm đinh ba), sử dụng lại thủ pháp ngườitừ trong tranh bước ra như trong truyện Bích câu kỳ ngộ (Chúa trong bức tranh của Minh bước ra nói chuyện với Tư). Tất cả những miêu tả như thế là để phù hợp với trạng thái tinh thần hoảng loạn của người bịnh (Tư), và phần nào là biểu tượng mang ý nghĩa ẩn dụ. Chúa biểu tượng cho sự trói buộc tinh thần mà con người cố chống lại. Và Chúa cũng là những thế lực thống trị: “Chúa chết ư? Chớ lo. Con người sẽ có những thượng đế mới”. Tư tưởng “Chúa chết” (Gott ist tot) là của Friedrich Nietzsche. Sự lắp ghép tư tưởng Nietzsche vào bối cảnh này không tạo ra hiệu quả gì.

            Bản “giao hưởng Trương Chi của Tư cũng là một “yếu tố chiến thuật” phụ trợ cho nhân vật Tư. Sau ba tháng xa Ngà, Tư đã viết cho Ngà bài hát “Tiếng rừng” và gửi ông thầy dạy nhạc 100 bài khác [lá thư thứ III]. Đêm ấy anh đọc truyện Trương Chi, và có ý định sẽ viết thành giao hưởng. “Bản giao hưởng” này (thực ra là một trường ca) được viết từng phần theo nhịp điệu cuộc sống của Tư. Trong lá thư thứ 5 gửi cho Ngà, anh dạo khúc mở đầu giao hưởng Trương Chi cho cô nghe. Khi rời nhà anh Trần [Thư thứ V], Tư dạo khúc ly biệt. Tư ở với Hưng. Lúc Hưng có tin con chết, nhà thiếu gạo, Hưng nổi điên, Tư về nhà chị Trần, anh dạo khúc Trương Chi dang dở [IX]. Ở nhà anh Trần, sau khi tranh luận với anh, Tư đã dùng tiếng đàn để kể cho Lê (con anh Trần) nghe về cuộc đời bố mẹ Lê, kể chuyện anh Mai đập đầu hơn hai chục lính ngụy. Cảm giác của Tư sau khi chơi đàn: “Những phiền muộn tích tụ từ lâu hôm nay được giải phóng. Tiếng đàn đã nói hộ tôi phần nào. Tôi vẫn cảm thấy chút buồn, nhưng lòng đã thanh thản phần nào. Cảm giác được trút bỏ một phần gánh nặng[X]. Ở quán Râu Xồm, Tư gảy khúc giã từ [XIII]. Khi gặp lại Ngà, Tư đánh “toàn bộ khúc Trương Chi”[XIV]. Sống với Ngà một tuần, Tư ngỡ là hạnh phúc, nhưng những “cơn mơ điên” vẫn đến và Tư lại sống trong phập phồng, khắc khoải, lo sợ. Khúc Trương Chi chưa kết thúc, bản nhạc của Tư vẫn còn viết dở…

            Có thể “giao hưởng Trương Chi” là sự nhập thân của Tư vào định mệnh đau khổ của Trương Chi. Chính Chúa đã mách bảo điều này. Nó cũng là cách Tư tự giãi bày để cân bằng tinh thần khi không chia sẻ được với ai. Ngoài ra, tiếng đàn của Tư (Piano và Guitar) cũng là cách Tư giao cảm với mọi người, đặc biệt Tư dùng đàn kể lại lịch sử cuộc đời anh chị Trần cho Lê nghe, kể lại việc anh Mai giết hơn hai chục lính ngụy…sau những giãi bày như thế Tư thấy nhẹ lòng một phần. Tại sao Tư dùng tiếng đàn để kể chuyện, bởi vì đó là những chuyện không nên nói thành lời công khai. Nhưng tại sao Chúa lại đuổi Tư khỏi địa đàng vì những nét nhạc lông bông, nét nhạc đang bị quỷ ám? Đó chỉ là những dự cảm về tương lai bấp bên của Tư khi rời Tây Bắc. Nói cho đúng, giao hưởng Trương Chi và tiếng đàn của Tư là cách Nguyễn Xuân Khánh khám phá một phần đời sống tinh thần của Tư. Có thể, Tư dùng Giao hưởng Trương Chi để bộc bạch lòng mình còn dùng tiếng đàn để giao cảm với người.

            Những giấc mơ của Tư là công cụ đắc lực được Nguyễn Xuân Khánh sử dụng để khám phá nội tâm của nhân vật Tư. Lúc đầu chỉ là những giấc mơ bình thường, trong giấc ngũ ban đêm. Sau là những “cơn mơ điên” trong trạng thái bịnh hoạn.

Tư mơ thấy một con người đầy hào quang đến cười và bảo anh: “Mi sẽ bị trừng phạt. Mi tưởng âm nhạc sẽ đem đến cho mi hạnh phúc sao? Nó sẽ dẫn mi đến những bế bờ xa lạ, ở đó mi sẽ chìm trong những băn khoăn dày vò”[Thư thứ nhất gửi Ngà]. Tư không tin, anh tự nhận thức mình là người không tôn giáo. Trong những lần mơ sau, “cái con người rạng ánh hào quang vẫn hiện về trong giấc ngủ của anh có thể là Giê su, có thể là Phật Thích Ca. Chúa bảo ước mơ của anh chỉ là hoang tưởng”.”[Thư thứ nhất, thư không gửi]. Từ thư thứ III trở đi, Tư lạc vào những cơn “mơ sảng”, đêm nào Tư cũng mơ thấy Chúa [thư thứ IV], Rồi Tư mơ thấy con quỷ đầu trâu tay cầm đinh ba đến cảnh cáo anh [Thư thứ VI]. Lúc Tư tuyệt vọng, anh ra nhà ga Hàng Cỏ. Trong giấc ngủ anh lại mơ thấy Chúa [Thư thứ VII, thư không gửi]. Chúa bảo:  con đang thất vọng. Nhưng anh phản kháng: Ông lầm rồi, Tôi không hề thất vọng, trái tim tôi đang chờ đợi. Mỗi lần thất bại giống như một lần nhỡ tàu.

Từ phần VIII, Tư bắt đầu sốt, bắt đầu “ốm to”. Suốt 2 ngày Tư mê mệt, sau đó anh dưỡng phải bệnh 1 tuần lễ ở nhà Hưng. Ở nhà họa sĩ Minh, Tư nhìn thấy hai con chim biết nói và Chúa từ trong bức tranh của Minh bước ra. Anh tự hỏi, mình ốm chăng hay tại bức tranh của Minh?[IX]. Trong những ngày chờ Trích máu, bệnh khắc khoải của Tư ngày càng trầm trọng, anh có thể hóa điên. Tư thường xuyên mơ thấy Chúa trong giấc ngủ [XII]. Sau lần bán máu thứ nhất, đêm ấy Tư mơ thấy toàn máu, những con người đầm đìa máu me đi vào quán của lão Râu Xồm. Sau lần bán máu thứ hai, Tư ốm rất nặng, anh không còn kiểm soát được ý thức. Trong  đầu anh xuất hiện những “cơn mơ điên”, những “cơn mơ thoát phàm kỳ dị”. Đặc biệt khi Tư  ngắm bức tranh đám ma Minh đang vẽ. Tư thấy một đám tang đủ mọi giống người: Mễ Tây Cơ, Ý , Cao bồi, sư Tầu, đạo sĩ Bà La Môn, người VN, Pháp, người Phi châu xích xiềng loảng xoảng. Tư hét to lên: Mưa máu! Vô vàn thây người nằm trên những vũng máu đỏ. Tư xỉu đi ngất lặng. Từ đây đến hết tác phẩm,Tư thảng thốt với những giấc mơ điên kinh hoàng.

Có thể nhận thấy, “những giấc mơ”, ban đầu là cuộc đấu tranh tư tưởng trong nội tâm của Tư về quyết định anh rời Tây Bắc về Hà Nội để thực hiện ước mơ âm nhạc. Những giấc mơ này là dự cảm của Tư về tương lai bấp bênh đau khổ, cái giá ban đầu Tư phải trả cho sự hoang tưởng. Từ khi Tư bị “ốm to”, nóng sốt, mê sảng và suy kiệt vì lo nghĩ, vì đói khát vô vọng, bệnh “khắc khoải” trở nên trầm trọng thì những cơn mơ sảng đến bất cứ lúc nào, kể cả ban ngày. Nhìn bức tranh của Minh là anh chìm ngay vào cơn mê sảng. Những cơn mơ bệnh hoạn này có thể là một bức tranh siêu thực vô nghĩa, đó là trạng thái rối loạn ý thức; cũng có thể nó phản ánh cái phần tiềm thức mà Tư che dấu do hoàn cảnh không thể nói ra. Thí dụ cơn mơ về đám ma đủ mọi dân tộc trên thế giới và cơn mưa máu đầy xác người. Nó là ám ảnh việc Mai giết tù bình, Mai cắt cổ chó làm tiết canh, cũng là ám ảnh việc Tư bán máu và gặp nhiều người bán máu ở quán Râu Xồm. Nguyễn Xuân Khánh dùng những cơn mơ này làm biểu tượng cho một thực tại. “Mưa máu đầy xác người” phải chăng là biểu tượng của chiến tranh!

TIỂU THUYẾT MIỀN HOANG TƯỞNG VÀ LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI

            Khi phân tích “chiến lược” kiến tạo tác phẩm, “chiến lược” dụng binh và các chiến thuật triển khai “trò chơi” chữ nghĩa của Nguyễn Xuân Khánh, tôi đã đặt tiểu thuyết Miền hoang tưởng trong cái nhìn của Lý thuyết trò chơi (Game Theory).

            Nguyễn Xuân  Khánh đã bày ra một sân chơi (tác phẩm Miền hoang tưởng) với những binh tướng đặt ở những vị trí then chốt (Tư và Ngà, anh chị Trần, vợ chồng Hưng, Minh, vợ chồng Ngọ, Mai). Khi người đọc dấn thân vào tác phẩm thì cũng là lúc “cuộc chơi” được mở ra và mở ra các nhân vật, giữa tác phẩm với người đọc và giữa tác giả với ngưởi đọc.

Chẳng hạn, người đọc sẽ dự đoán xem cuộc tình của Tư và Ngà sẽ tiến triển thế nào, tại sao Ngà bỏ Tư lấy Mai, tại sao Tư là người thua cuộc, điều ấy chuyên chở thông điệp gì? Chính số phận của Tư cũng là một “cuộc chơi” trong tay nhà văn. Nhà văn muốn Tư chuyên chở những thông điệp gì và tạo mọi phương cách cho Tư hành động để thể hiện thông điệp ấy. Dường như, Tư phải cõng trên lưng quá nhiều thông điệp “hoang tưởng” của nhà văn, nhưng Tư lại đuối sức, thành ra tất cả các thông điệp trong tác phẩm cuộn rối vào nhau, không thông điệp nào đủ sức thuyết phục người đọc.

Giữa Tư còn có “cuộc chơi” ngầm với Chúa, với chị Hưng và với chính mình.

 Cũng vậy “cuộc chơi” giữa anh Trần và Tư, rất căng thăng. Tư muốn lật tẩy cái ý thức công thần “đặc quyền” của anh Trần. Theo Tư, đó là không công bằng, và nó bộc lộ sự tha hóa, đánh mất lý tưởng cách mạng của anh Trần. Điểm mạnh của Tư để anh bám vào là, chính anh Trần là thần tượng lý tưởng của Tư để Tư đi theo, vậy mà anh lại phản bội lý tưởng, cho nên khi thua Tư, anh Trần đã tỏ ra căm thù Tư.

“Cuộc chơi” của Ngọ là cuộc chơi ở một sân khác. Ngọ là “một phần tử trí thức sa cơ[VII]. Anh dấn thân vào thời cuộc, anh bị loại ra, bị tù cải tạo, bị xua đuổi khỏi Hà Nội, bị dồn đến sự cùng cực: không nhà ở, không hộ khầu, không tem phiếu, hết cách kiếm sống phải bán máu, phải tự ăn thịt mình để sống. May mắn cho anh còn có tình yêu của Lan để vượt qua số phận.

Và sau cùng là “cuộc chơi” của tác giả với người đọc. Bạn đọc Miền hoang tường, cảm nhận của bạn thế nào? Thú thực, tôi thấy nản, truyện không hay. Chật chội, tù túng, và xa lạ với hiện thực những năm 1973-1974 ở miền Bắc. Cốt truyện đơn giản, hành động truyện nghèo nàn, kiểu văn “nông dân” cà kê dê ngỗng từ chuyện này kéo sang chuyện kia lê thê rối rắm. Những cơn mơ, những hình ảnh biểu tượng chưa đủ sức thể hiện chủ đề. Trái lại và có quá nhiều vấn đề được nói đến trong tác phẩm mà người đọc ngỡ rằng, tác giả không đủ sức cầm cương con ngựa tư tưởng-nghệ thuật, vì những chủ đề này, gặp chỗ nào, tác giả vung vãi ra chỗ ấy (thí dụ, đọc mảnh “Nhận dạng người”của Ngọ, Tư lại nghĩ đến lý thuyết chính trị của Hàn Phi Tử. Mơ thấy đám ma, nghe tiếng kêu của lũ thây ma không đầu: “Chúa đã chết”, người đọc hiểu tác giả muốn cài vào tác phẩm tư tưởng của Nietzsche. Nhưng Chuyện Hàn Phi Tư hay Nietzsche sau đó lại không được phát triển thành một vấn đề xã hội.

Về văn phong, Nguyễn Xuân Khánh chưa thoát khỏi ảnh hưởng của Nam Cao (quanh quẩn trong cái đói nghèo, miêu tả những cuộc đấu tranh nội tâm). Nguyễn Xuân Khánh thử nghiệm kiểu viết hai lá thư, một gửi, một không gửi để lộn trái hiện thực; thử nghiệm miêu tả Phân tâm học để Tư tự phân tích tâm hồn mình, nhưng anh lại không tự giải quyết được vấn đề về số phận mình. Khi gặp lại Ngà, anh nghĩ mình sẽ ở đâu, sẽ làm gì để kiếm sống…và Tư không có câu trả lời. Những hình ảnh biểu tượng như nhân vật Chúa, “giao hưởng Trương Chi”, những cơn mơ, con vượn trả thù Mai, những “hoàn cảnh điển hình” của Hưng, của Minh, của Ngọ…chưa bao quát được hiện thực lúc bấy giờ. Nguyễn Xuân Khánh chưa đủ sức xây dựng nhân vật Chúa, hoặc đúng như Chúa trong tôn giáo, hoặc như những nhân vật Bụt, tiên trong văn học dân gian. Nguyễn Xuân Khánh miêu tả Chúa có hai mặt, và Chúa có nhiều mặt. Chúa chỉ dọa nạt và ngọt ngào với Tư là để cầm tù Tư. Chúa lại sử dụng tên quỷ đầu trâu cầm đinh ba cảnh báo Tư… những miêu tả như thế là mất thiện cảm của người đọc truyền thống.

Như vậy, cả chiến lược kiến tạo tác phẩm, chiến lược chinh phục người đọc và việc triển khai “cuộc chơi” chữ nghĩa trong Miền hoang tưởng, Nguyễn Xuân Khánh đều chưa đạt tới cái mục đích mong muốn. Những điều này ông khắc phục được ở tác phẩm viết sau là Chuyện ngõ nghèo. Ở Chuyện ngõ nghèo, những chủ đề-tư tưởng được đẩy cao hơn, có tính thống nhất và triệt để hơn. Hệ thống hình ảnh biểu tượng sinh động và hàm nghĩa hơn, khái quát được một hiện thực khốc liệt hơn. Dù vẫn còn ảnh hưởng Nam Cao, song Nguyễn Xuân Khánh bộc lộ một cốt cách nhà văn tài năng hơn, bản lĩnh hơn.

Tháng 12/ 2021

CHUYỆN NGÕ NGHÈO & “Lý thuyết trò chơi”

Đọc CHUYỆN NGÕ NGHÈO,

Một thử nghiệm “Lý thuyết trò chơi

***

Bùi Công Thuấn

Một bàn cờ thế

            Việc áp dụng Lý thuyết trò chơi (Game Theory) vào phê bình văn học ở Việt Nam còn mới mẻ và không tránh được những ngộ nhận về lý thuyết này [1]. Người ta đánh đồng Lý thuyết trò chơi (Game Theory), lĩnh vực toán học ứng dụng nghiên cứu các tình huống phụ thuộc lẫn nhau giữa các tác nhân thích ứng, với sự chơi (giải trí) trong văn hoc (playing in Litterature) [2]. Bài viết này như một thử nghiệm áp dụng Lý thuyết trò chơi vào phê bình một tác phẩm văn học cụ thể là tiểu thuyết Chuyện ngõ nghèo (Trư Cuồng) của Nguyễn Xuân Khánh. Để từ đó, may ra rút ra được điều gì có thể góp thêm vào các phương pháp phê bình văn học đã quen thuộc ở Việt Nam.

SƠ LƯỢC VỀ LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI

Trước hết cần xác lập nội hàm các thuật ngữ:  “chơi” (Play), “sự chơi” (Playing), trò chơi (Game), Lý thuyết chơi (Theories of Play) và “Lý thuyết trò chơi”(Game Theory).

Theo nghĩa tiếng Việt, “chơi” là hành động giả định, không thật, mục đích đem đến

sự khoái cảm, niềm vui, sự giải trí (đi chơi, nói chơi, “làm chơi ăn thật”, chơi đàn, chơi cờ, chơi chữ, chơi tranh, chơi thể thao…)…

Trò chơi là trò diễn để chơi. Quan sát trò chơi, người ta rút ra những quy tắc tổ chức, vận hành một cuộc chơi, đặt ra luật chơi, huấn luyện cách chơi, ràng buộc những điều kiện để định thắng thua…Tất cả những điều ấy khi được khái quát lên thành những nguyên tắc, những tư tưởng chỉ đạo, thì trở thành “Lý thuyết trò chơi”.

Khi đã trở thành một “lý thuyết” (tức là có tư tưởng, có hệ thống lý luận, có phương pháp, có thử nghiệm thực tiễn…) Lý thuyến trò chơi trở lại thực tế đem áp dụng vào nhiều lĩnh vực xã hội khác nhau như kinh doanh, quân sự, kể cả văn học…để giải quyết những vấn đề của cuộc sống.

Xin đọc:

An Introduction to Game Theory – Martin J. Osborne-University of Toronto;

A Primer in Game Theory – Robert Gibbons ;

An Introduction to Game Theory – Levent Koc¸kesen Koc¸ University-Efe A. Ok New York University;

Game Theoy and Litterature – Steven J.Brams – New York Universdity

Applying Game Theory in Literature – Herbert de Ley- University of Wisconsin Press  

1.Những đặc điểm của “trò chơi”

            Có nhiều yếu tố tạo thành một trò chơi.

Kiểu trò chơi. Mỗi trò chơi có hình thức “diễn” nhất định tùy theo mục đích chơi.

Hình thức “diễn” được quy định bằng luật chơi, các nguyên tắc chơi; bởi vì, cách tổ chức cuộc chơi, các đối tượng chơi khác nhau (trò chơi trẻ con, trò chơi vận động ở trại, chơi cờ tướng, chơi bóng đá, chơi chứng khoán..). Hình thức ”diễn” của trò chơi luôn là giả định cho một thực tế nào đó. Thí dụ: Bàn cờ, cuộc cờ là giả định của bàn cờ cuộc đời, hoặc giả định cho bàn cờ chiến cuộc). Sự thắng thua đem đến niềm vui.

“Người chơi” là người tham gia trò chơi (có thể hai người hoặc nhiều người). “Người chơi” là một thành tố quan trọng vì không có “người chơi” thì dù cuộc chơi có bày ra vẫn chưa thành một trò chơi; và hơn thế, người chơi quyết định cả cuộc chơi. Trước hết, người chơi là “lực lượng” trực tiếp chiến đấu trong cuộc chơi. Thí dụ: nhìn bàn cờ hai bên, mỗi bên có bao nhiêu quân, các quân ấy là quân mạnh (Xe, Pháo, Mã) hay quân yếu (Tốt, Sĩ, Tượng…), các quân ấy đứng ở vị trí nào, vị trí chiến lược hay bị vây ép? 

Người chơi xác định chiến lược, chiến thuật, kế họach hành động, triển khai các bước đi. Trong quá trình “chơi”, người chơi luôn phân tích chiến thuật chiến lược và kế hoạch hành động của đối phương để có những giải pháp phù hợp, thích ứng được với thực tế cuộc cờ đang diễn ra, đang biến hóa, đang phát triển, từ đó nắm bắt các cơ hội mới hoặc khắc phục những hậu quả yếu kém. Thí dụ trong chiến tranh Việt Nam, 5 đời tổng thống Mỹ đã thay đổi 5 chiến lược chiến tranh…

“Sân chơi” (bàn cờ, sân bóng, chiến trường, thị trường..) là nơi diễn ra cuộc chơi. Sân

chơi cũng là một yếu tố quan trọng. Một đội bóng chơi ở sân nhà có lợi thế hơn. Một nhà đầu tư khi đi đầu tư ở một thị trường lạ thường gặp khó. Chiến tranh ở rừng khác với chiến tranh ở đồng bằng và thành phố. “Sân chơi” cùng với nhiều yếu tố xã hội xung quanh (lịch sử, địa lý, văn hóa, chính trị, thiên nhiên…) gây ảnh hưởng rất lớn đối với cuộc chơi. Sách Việt khó thâm nhập thị trường Âu, Mỹ vì trước hết là sự khác biệt văn hóa, khác biệt về “cộng đồng diễn dịch”.

Cuộc chơi nào cũng có “luật chơi”, tức là những nguyên tắc, những điều buộc mà

người chơi phải tuân thủ để bảo đảm cho cuộc chơi công bằng, minh bạch. Vi phạm luật chơi người chơi sẽ bị phạt hoặc bị loại. Cầu thủ phạm luật có thể bị phạt thẻ đỏ đuổi khỏi sân. Một người viết văn, anh ta phải biết dùng từ, đặt câu, xây dựng văn bản, kỹ năng tả tình, cả cảnh, viết đối thoại, thành thạo các thể loại, các bút pháp…và không được”đạo văn”, không được vi phạm luật xuất bản…

Trong cuộc chơi, các bên tham gia đều có các “chiến lược” chơi để giành phần thắng.

Sai lầm về chiến lược tất yếu sẽ dẫn đến thất bại. Chiến lược là tư tưởng, là con đường dẫn đến mục tiêu. Từ chiến lược, người ta hoạch định kế hoạch, nội dung, phương pháp hành động, triển khai các bước, các chiến thuật cụ thể thực hiện kế hoạch. Và khi nhận ra chiến lược bị sai, người chơi phải kịp thời thay đổi chiến lược. Trong kháng chiến chống Pháp, Quân Pháp muốn đánh nhanh thắng nhanh, Việt Minh sử dựng chiến lược “trường kỳ kháng chiến”, đánh lâu dài, với 3 giai đọan, sử dụng nhiều chiến thuật đánh du kích

“Đấu pháp” là cách chơi cụ thể trong từng mặt trận cụ thể (tức là chiến thuật). Trong

Tác chiến, người ta có thể đánh tổng lực (không quân, pháo binh, xe tăng, lục quân…) hay đánh du kích theo kiểu “tránh voi chẳng xấu mặt nào” để tránh tổn thất. Trong bóng đá, người ta có thể dùng cách đá áp sát, hoặc phòng thủ-tấn công, dùng đội hình 4-4-2 hay đội hình 3-5-2; chuyền bóng dài hay đá bật tường, tấn công biên hay tấn công trung lộ…Trong cờ tướng người ta dùng chiến thuật pháo đầu hay song xa…

Mục tiêu và chiến thắng. Bất cứ trò chơi nào cũng có mục tiêu và mục đích giành

chiến thắng. Trên bàn cờ tướng, mục tiêu là con cờ Tướng của phe bên kia. Người chơi cờ làm sao chiếu tướng mà phe bên kia không còn lối đi thì chiến thắng. Tất nhiên có khi hòa.

Sơ đồ đội hình chiến thuật bóng đá

2.Lý thuyết trò chơi (Game Theory)

Từ những đặc điểm sơ lược trên của trò chơi, người ta rút ra các nguyên tắc tổng quát,

hợp thành “Lý thuyết trò chơi”

Thí dụ:

Đề cương môn học Lý thuyết trò chơi của Đại học Luật TP HCM xác định mục tiêu cụ thể của môn học như sau: “Mục tiêu kiến thức:

Giới thiệu một số khái niệm cơ bản của Lý thuyết trò chơi. Phân tích một số “luật chơi” và chiến lược chơi trong kinh doanh qua tình huống thực tiễn.

Phân tích hành vi của các đối tác (đặc biệt là các doanh nghiệp) trên thị trường qua các vấn đề: Cạnh tranh hay hợp tác kinh doanh; chiếm lĩnh hay chèn ép thị trường; ra quyết định kinh doanh phù hợp

Trình bày các kỹ thuật sàng lọc thông tin, đánh tín hiệu.

Cung cấp các chiến lược đàm phán trên cơ sở phân tích hành vi đối tác, các yếu tố tạo nên sức mạnh đàm phán.

Đưa ra “ứng dụng Lý thuyết trò chơi” trong việc vạch chính sách: xây dựng một thể

chế lánh mạnh trợ lực cho nền kinh tế phát triển trong thời kỳ hội nhập”.

            Nhìn tổng quát, khi triển khai một kế hoạch theo Lý thuyết trò chơi, người ta căn cứ vào việc phân tích các yếu tố thực tiễn của trò chơi như đối tác, thị trường, …để từ đó xác lập chiến lược, vạch các chính sách, bố trí nhân sự, sử dụng các kỹ thuật triển khai kế hoạch hành động sao cho đạt được mục tiêu đã đề ra.…Chiến lược là yếu tố quan trọng bậc nhất. Sai lầm về chiến lược sẽ dẫn đến thất bại.

3.Áp dụng Lý thuyết trò chơi vào phê bình văn học

Người ta có thể áp dụng Lý thuyết trò chơi vào kinh doanh sách, quảng bá sách,

nghiên cứu thị trường sách, nghiên cứu các khuynh hướng độc giả…Bài viết này tập trung áp dụng Lý thuyết trò chơi vào phê bình văn học.

            Đã có nhiều phương pháp nghiên cứu văn học và phê bình văn học như: Phương pháp tiểu sử, Chủ nghĩa Hình thức, Phê bình Mới Anh, Mỹ. Ký hiệu học, Phân tâm học, Cấu trúc luận, Giải cấu trúc, Xã hội học văn chương của Bakhtin, Lý thuyết người đọc, Phê bình sinh thái, Phê bình Nữ quyền luận, phê bình văn hóa

            Áp dụng lý thuyết trò chơi vào phê bình văn học như thế nào.

Bước thứ nhất là phân tích các yếu tố của “trò chơi”.

Văn học gồm 3 yếu tố cơ bản: Nhà văn – Tác phẩm – Người đọc.

Tác phẩm là “sân chơi”.

Nhà văn và người đọc là “người chơi”.

Nhà văn khi viết tác phẩm là bày ra “cuộc chơi”, ông ta có mục tiêu gì, mục đích gì?

Ông ta bày binh bố trận ra sao? Ông ta có chiến lược gì để đạt mục đích?

Mục đích của nhà văn là in được tác phẩm và chinh phục người đọc (tác phẩm có nhiều người đọc), điều này chi phối quá trình sáng tạo của nhà văn.

Tại sao lại đặt mục tiêu in tác phẩm? Vì trong bối cảnh xã hội Việt Nam, việc in tác phẩm chịu sự ràng buộc của Luật xuất bản, sự thẩm định của Biên tập viên, sự quyết định của Nhà xuất bản…Đã có những tác phẩm không xin được giấy phép xuất bản. Chính vì thế, nhà văn phải định liệu xem nội dung sẽ viết những gì để không bị cấm? Tìm những cách ngụy trang nào nào có thể ”lách luật”? (thí dụ viết biểu tượng, ẩn dụ).

Tác phẩm in ra cần có người đọc, muốn thế, cuốn sách phải hấp dẫn nhiều đối tượng. Nhà văn luôn bận tâm viết thế nào để tạo ra sự hấp dẫn (từ câu văn đến nghệ thuật tả tình, tả cảnh, xây dựng nhân vật, chọn lựa bút pháp, sáng tạo những kiểu viết cá tính…). Mỗi nhà văn tự biết tìm ra cách viết hấp dẫn. Tóm lại, nhà văn phải có tài năng.

Mục tiêu của người đọc khi đọc tác phẩm là gì? Đọc giải trí hay đọc khám phá sáng

tạo… Làm thế nào để thâm nhập tác phẩm, để giải mã những ký hiệu, để khám phá những tầng những vỉa của ý thức sáng tạo, tư tưởng và nghệ thuật của nhà văn và giá trị của tác phẩm và để cảm thụ được hạnh phúc từ tác phẩm đem lại…Tóm lại, người đọc phải có năng lực đọc tác phẩm, phải thủ đắc các phương pháp phẫu thuật, giải mã tác phẩm.

Tác phẩm là một “sân chơi” thụ động. Vì khi bày xong cuộc chơi, thì “Tác giả

đã chết” (R. Barthes). Như vậy, trong cuộc “chơi tác phẩm” chỉ còn người đọc, là người chơi chủ động. Thuyết người đọc cho rằng nghĩa của tác phẩm là nghĩa của người đọc khi tiếp cận tác phẩm, nghĩa này có khi khác với chủ đích của tác giả. Nghĩa của tác phẩm tùy thuộc vào “Tầm đón đợi” và tùy thuộc vào “cộng đống diễn dịch”.

Sơ lược như thế để thấy rằng, khi áp dụng Lý thuyết trò chơi vào phê bình văn học,

nhà nghiên cứu phải thực hiện nhiều công đoạn. Đó là phân tích kỹ tác giả-độc giả (đối tác), phân tích tác phẩm (sân chơi: các yếu tố của tác phẩm như ngôn ngữ, cấu trúc, nhân vật, bút pháp, kiểu tư duy nghệ thuật, phong cách…); phân tích cuộc chơi (để tìm ra các chiến lược, các chiến thuật, của cả tác giả và người đọc) tập trung ở khả năng sáng tạo của nhà văn và khả năng tiếp cận, giải mã tác phẩm của người đọc; phân tích môi trường chính trị, lịch sử văn hóa là bối cảnh của văn học, đồng thời phải xem xét tác phẩm trong “môi trường cạnh tranh” với các tác phẩm đi trước hay cùng thời. Trong các công đọan phân tích theo Lý thuyết trò chơi thì việc tìm ra  các chiến lược, chiến thuật của nhà văn và của người đọc, là yêu cầu tiên quyết.

            Để làm được điều ấy, nhà phê bình phải sử dụng các phương pháp phê bình khác làm công cụ. phương pháp Tiểu sử của Saint Beuve là dùng tiểu sử tác giả để lý giải tác phẩm. Chủ nghĩa Hình thứcPhê Bình Mới  tập trung vào văn bản tác phẩm, vào sự “lạ hoá’, để tìm ra những phẩm chất văn chương. Ký hiệu học tìm ý nghĩa của những ký hiệu của ngôn ngữ và tìm cách giải mã các biểu tượng, các hình tượng văn học. Xã hội học văn chương của Barkhtin hoặc Phân tâm học, Cấu trúc luận,  Giải Cấu trúc sẽ giúp nhà phê bình phân tích những mặt khác nhau của tác phẩm. Lý thuyết người đọc đem lại một cách nhìn mới về tác phẩm văn học từ phía người đọc…

            Có thể nói, có một cuộc đấu trí giữa người đọc và tác giả trong trò chơi trí tuệ là tác phẩm văn học, bởi đó là thế giới tư tưởng-thẩm mỹ. Tác giả gói rất kỹ chủ đề, tư tưởng, thái độ diễn ngôn trong nhiều tầng lớp ngôn ngữ nghệ thuật. Người đọc phải tìm ra con đường tiếp cận đúng nhất để thâm nhập tác phẩm. Điều này không phải người đọc nào cũng làm được. Xin thử đọc truyện ngắn của F.Kafka. Nhà phê bình Hoài Thanh đã từng bất lực trước thơ Siêu thực.

Vậy Lý thuyết trò chơi áp dụng vào văn học đem lại điều gì mới?

Nó giúp nhà phê bình tìm ra “chiến lược” sáng tác và tiếp cận tác phẩm văn học, từ

đó lý giải các yếu tố khác của tác phẩm, soi rọi sâu hơn vào những tầng ý nghĩa mà tác giả không trực tiếp nói ra, và đọc những “mật ngữ” mọi người đều có thể biết nhưng giữ im lặng…

LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI VỚI CHUYỆN NGÕ NGHÈO của Nguyễn Xuân Khánh

1.Chuyện ngõ nghèo và những “Đại tự sự”.

Chuyện ngõ nghèo (Trư cuồng) của Nguyễn Xuân Khánh viết từ 1982, mãi đến 2016 (gần 35 năm ) mới in được. Trong một thời gian dài như vậy, khát vọng in tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh lớn như thế nào, bởi vì Nhà văn viết tác phẩm với mục đích viết về Hà Nội, nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình”.

Tại sao phải mất 35 năm tác phẩm mới được in? Câu trả lời rõ ràng là khi bối cảnh xã hội đã thay đổi, khi những vấn đề tác giả đặt ra đã qua đi không còn khả năng “gây hại” cho xã hội, và khi “cộng đồng diễn dịch” đã nhận thức khác, đã tiếp nhận tác phẩm khác đi, người ta thấy “an toàn” thì Chuyện ngõ nghèo được in.

Có người cho rằng cái tên Chuyện ngõ nghèo, nghe nó nhẹ nhàng, hiền lành hơn cái nhan đề “Trư cuồng”, nên nó dễ được nhà xuất bản cho qua! Bởi vì Chuyện ngõ nghèo chỉ là chuyện dân Hà Nội nuôi heo những năm 1980, chẳng có gì to tát. Bây giờ là thời toàn cầu hóa với những công ty, những dự án hàng ngàn tỷ đồng, chuyện nuôi vài con heo chỉ giá vài trăm bạc đã là “cổ tích”. Đấy là nói về cái “môi trường”chính trị xã hội nơi tác phẩm sinh ra.

Nhưng nội dung cuốn sách nói gì khiến cho các nhà xuất bản phải e ngại, chùn bước khi định in?

Nội dung Chuyện Ngõ nghèo là những gì ghi trong cuốn nhật ký của nhân vật Hoàng. Cuốn nhật ký ghi lại quá trình Hoàng nuôi heo. Hoàng nuôi mấy con ỉ và con Lợn Bò trong cái chuồng cạnh nhà. Con này mau lớn nên Hoàng đặt tất cả sự say mê kỳ vọng và dồn hết sức cho nó. Rồi Hoàng bị ốm. Anh hôn mê, chập chờn trong những ký ức, những các mộng. Anh đi vào Hỗn Mang, đi qua Bãi Chết, tới xứ sở Cực Thiên Thai. Sau 30 ngày, anh hồi tỉnh và dần bình phục. Anh hỏi thằng con về tình hình gia đình lúc anh ốm. Nó nói đã phải bán tất cả lợn anh nuôi để lo thuốc men cho anh. Thế là công cốc. Nuôi heo để kiếm sống ai ngờ công nuôi heo chỉ đủ tiền thuốc cho anh.

Vâng, nội dung  triểu thuyết Chuyện Ngõ nghèo là “rất hiền lành”. Chuyện của một nhân vật chính (Hoàng), của một gia đình lao động nhỏ, chồng nuôi heo, vợ đi làm, con đi học. Tức là bối cảnh của truyện rất hẹp. Tác giả không mở rộng miêu tả trực tiếp bất cứ bối cảnh hiện thực nào khác; ngoại trừ trong những giấc mơ sảng, Hoàng có “nhớ lại” hình ảnh những con người, những sự việc thời Cải cách ruộng đất (chuyện của anh cán bộ Thái, của Tí Giò, đồ tể Hợi), hoặc vài chi tiết về chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ (anh bộ độ “B quay” tên Lan).

Vậy điều gì trong Chuyện Ngõ nghèo cản trở sự xuất hiện của tác phẩm?

Đó là những quan điểm chính trị, quan điểm sống, quan điểm triết học của Nguyễn Xuân Khánh được nói thẳng ra qua lời của nhân vật Hoàng và hai người bạn là Lân và Tám. Những quan điểm này, cho đến tận bây giờ (2021) vẫn trái ngược với những quan điểm “chính thống” của Đảng.

Đây là diễn ngôn chính trị của nhà văn:

Đấu tranh giai cấp” là hạt nhân của học thuyết Mác Lê nin. Nguyễn Xuân Khánh diễu nhại: “Chuồng lợn cũng là một sân khấu chính trị”; “Lò mổ cũng là sân khấu chính trị”; có cả đấu tranh giai cấp trong chuồng lợn? [Nhật ký ngày thứ 26]. Triết học Mác Lê Nin về Chủ nghiã Duy vật cũng bị diễu nhại. Hoàng nói chuyện với Đốt: “Chúng tôi đã trở nên con người cuồng tín, những kẻ cực đoan. Chúng tôi đã đạp đổ các thần linh và đem con người lên địa vị thần linh. Chúng tôi muốn đi tới chỗ hoàn thiện hoàn mỹ. Và chính đấy là bi kịch mà chúng tôi không biết[Nhật ký ngày thứ 62]. Hoàng nói về Cách mạng: “cách mạng sẽ chỉ đẹp đẽ và hấp dẫn khi nó nhân đạo hơn, dân chủ hơn, vừa tầm vóc con người hơn mọi lý tưởng khác”;”…Cách mạng cần phải được thiên khải[Nhật ký ngày thứ 50]. Hoàng nói về lý tưởng: “Ôi! Cái thế hệ ngây thơ, lý tưởng chủ nghĩa của tôi đã bỏ cả tuổi xanh đẹp đẽ của mình và đầu óc đầy những ảo tưởng đẹp đẽ. Bây giờ, chúng tôi còn cần gì nửa đâu. Chúng ta đang đứng trước một ngõ cụt”.”[Nhật ký ngày thứ 50].

Cực Thiên Thai cũng là một hình ảnh diễu nhại về cái gọi là “một nơi người ta đang thực hiện những mơ ước tốt đẹp nhất của loài người” mà người đọc có thể liên tưởng đến cái gọi là “thiên đường cộng sản” trong học thuyết Marx. “nó là Xứ-Không-Nước-Mắt”,” “là một xứ cực kỳ khoa học”. Các nhà bác học có thể tạo ra những con người theo đơn đặt hàng. Ví dụ, em thích có một đứa con tóc đen, mắt xanh mũi dọc dừa, hát hay và có năng khiếu về cơ khí. Như vậy em sẽ đến viện sinh đẻ, đưa ra yêu cầu đó”. “Ở đây, chúng tôi quản lý xí nghiệp bằng sinh học, bằng hóa học, bằng vật lý học …”; “người ta còn dùng cả hóa học vào pháp luật”. “Gia đình cũ gồm hai vợ chồng và con cái nay đã bị phá bỏ”; “Vấn đề sinh đẻ thuộc về kế hoạch nhà nước…Ví dụ, nhà nước năm nay cần đẻ thêm mười nghìn dân, trong đó, chín nghìn công nhân, mười nhà bác học, chín trăm kỹ sư và chín mươi người làm nghệ thuật các loại. Những người đàn bà phải đến viện sinh đẻ nơi mình ở để đăng ký thực hiện nghĩa vụ sinh đẻ”; “Có những người đàn bà và đàn ông siêu đẳng về một mặt nào đó, thường hàng tháng phải đến cung cấp trứng và tinh trùng cho trại giống nhân chủng”. “Nói thực, chúng tôi ở đây chẳng tin ai.”;” Ai cũng là người theo dõi kẻ khác, đồng thời là người bị theo dõi. Nhưng may thay cơ quan mật vụ ở đây đã sản xuất ra được những viên gạch thám tử”… “Người đứng đầu Cực – Thiên – Thai tên là A1, hay còn gọi là công dân số 1. A1 xây dựng đất nước này trên nền tảng triết học gọi là: chủ nghĩa cực kinh tế – cực duy lý – cực khoa học”… chủ nghĩa sinh học, một lọai “khoa học phản bội con người”… Và bất ngờ thay, kẻ thống trị, công dân A1 ấy, lộ nguyên hình là con Lợn Bò khi bị “Chân tướng kính” của Tám soi chiếu.

Đây là nhận thức của nhà văn về thân phận con người trong thời đại của mình:

Qua những lần Hoàng bị thẩm vấn, cả trong thực tế lúc anh nuôi lợn và trong mơ, thời năm 1953, hình ảnh người sĩ quan thẩm vấn hiện lên như một biểu tượng của thời đại, đeo bám,  ám ảnh suốt đời anh. Lúc nào Hoàng cũng cảm thấy bị rình mò, theo dõi, trấn áp. Hoàng nói về chính mình khi soi chiếu với vợ: “Một người đàn bà phải lấy một người chồng lúc nào cũng ngay ngáy những theo dõi, thẩm vấn, những đe dọa tù đày!”[Nhật ký ngày thứ 45]. Có lúc Hoàng phải kêu lên khi thấy con Lợn Bò nhìn mình: “Tại sao người cứ rình mò ta? Sao người không để ta yên. Đây là chuồng lợn, hãy nhớ đây là chuồng lợn”[Nhật ký ngày thứ 34].Tại sao? Câu trả lời là: vì anh là người cầm bút viết để “nói lên sự thật”, để giữ lấy một chút “nhân phẩm”[Nhật ký ngày thứ 49].

 Những người như Hoàng, Tám, bị quy kết là những kẻ có tư tưởng chống Đảng [Nhật ký ngày thứ 45] phải bị cải tạo, bị tẩy não [3].Và vì thế anh sống trong bóng tối dày đặc, trong cô đơn tuyệt vọng, trong bất lực và sợ hãi, triền miên trong nỗi buồn muôn thuở. Trong một bầu khí xã hội như thế, những người lương thiện như Hoàng, Lân, Tám đều trở nên điên khùng, cả với nghĩa ẩn dụ và trong đời thực. “Tám đang học năm thứ ba khoa sinh vật trường đại học tổng hợp thì chúng tôi được gọi nhập ngũ. Năm ấy là năm 1967; chúng tôi vào Nam chiến đấu. Người ta phân chúng tôi vào một đon vị đặc công. “Tám gàn” bây giờ lại được bớt dấu huyền để trở thành “Tám gan”.Tám thương bạn và giỏi trèo cây. Năm 1970, Tám bị thương vào đầu được giải ngũ. Quay trở về hậu phương, Tám học xong Tổng hợp. Hình như anh có trải qua một cuộc tình đầy bất hạnh, và hình như Tám cũng trải qua oan trái và vào tù, nhưng Tám không nói cho ai biết. Kết thúc tác phẩm là hình ảnh Tám, anh bộ đội thời chống Mỹ, lưng đeo ba lô bị điên, bay từ trên cây cao xuống đất chết. Riêng một mình Hoàng biết Tám đã bị móc mất não.

Trong mắt nhìn của Hoàng, qua hình ảnh những con lợn thì xã hội Hoang đang sống là xã hội của những Lợn ngườiNgười Lợn.

Chương viết về Tí Giò trong Cải cách ruộng đất có thể là một điển hình cho tình cảnh của bao người sống nhục chết oan do những chính sách “sai lầm” gây ra. Cái chết của người cán bộ trung kiên tên Thái mà trước khi bị bắn anh còn hô to “Đảng Công sản muôn năm”. Cái chết đầy uất hận của Lan, người lính đi B trở về bị dồn vào con đường chết, Lan thề sau khi chết hồn sẽ hiện về giết chết Tí Giò; tiếng kêu bi thiết của ngưởi đàn bà xin được trói tay lỏng một chút để bồng con… Thế nhưng những oan sai ấy lại được “đồng chí cán bộ sửa sai” Cải cách ruộng đất biểu dương rất đẹp: “Phải hiểu rằng các đồng chí cốt cán rất triệt để cách mạng. Họ sai bởi vì họ quá triệt để. Nhưng triệt để cách mạng là một phẩm giá cao quý nhất”.

Cái sai của họ là “Ác”. Nguyễn Xuân Khánh tô đậm cách giết người bằng dao lá lúa như giết lợn. Cách tô đậm này để tố cáo cái ác và làm cho người đọc thấy kinh sợ cái ác.  Hành động giết lợn bằng dao lá lúa được miêu tả từ lúc học nghề đồ tể của Hợi, của Tí Giò đến thực tập đồ tể của Linh (con của Hoàng), và sau đó là hành động giết người man rợ của Tí Giò.

Tí đã nằm phục trong chuồng heo 13 ngày để giết lão Chánh Hưng. Đây là cách Tí giết lão Chánh Hưng: “Tí, lập tức chồm ngay dậy và lưỡi dao lá lúa đã sáng loáng vung lên thọc trúng tim lão quản. Lão chánh rống lên ồ ồ, hai tay ôm lấy ngực, chạy vào nhà và chết ngay dưới chân giường vợ bé”.

Đây là tính cách đồ tể của Tí với anh Thái: “Tí đã dũng mãnh xông lên, rút con dao đồ tể mỏng như lá lúa mà anh thường giắt bên người. Bằng một đường dao chính xác, ngọt ngào, anh đã đâm từ cổ thọc xuống tim người đội trưởng du kích người dẫn đường anh khi xưa. Thái ngoẹo đầu xuống, hình dáng hệt như chúa Giê Su chịu nạn. Lúc chết, mắt Thái vẫn mở to. Đôi mắt như ngơ ngác, như băn khoăn, như bàng hoàng, vì chưa hiểu ra một điều gì đó thật kỳ quái. Khi Tí rút con dao lá lúa ra, dòng máu ở cổ Thái vọt dài”.

 Đây là cách Tí dùng trói lợn để bịt mồm bịt miệng người lính “B quay” tên Lan. Bị trói vào cọc nhưng Lan giãy giua, nói to và mở to mắt kêu oan: “Tí cầm chiếc dây cao su quấn ghì đầu Lan vào chiếc cọc tre. Ông vòng dây cao su ngang mồm Lan; Lan há mồm định nói, nhưng chiếc dây đã lanh lẹn ngáng qua, chịt hàm răng lại. Quấn hai vòng cao su xong, Lan bặt nói, nhưng chiếc khăn đen bịt mắt lại tụt xuống. Ánh mắt lúc này còn sáng quắc hơn lần trước. Có lẽ bị bịt hết cửa biểu hiện rồi nên toàn thể tinh lực căm giận phải tuôn trào hết ra ánh mắt. Tinh lực ấy làm ngầu đôi mắt, nó đẩy hai nhãn cầu lồi ra phía trước”.

Và khi Hoàng định nhổ cái cọc trói tử tội đi thì Tí Giò “vung con dao lá lúa đâm thẳng vào trái tim tôi. Tôi thét to và ngất lịm …”

Sau khi Hoàng tỉnh lại, Hoàng lại nghe Hợi hướng dẫn cho Linh cách giết con Lợn Bò:

 “- Bình tĩnh nhé. Cắt ngang chỗ này, rồi thọc dao vào chính giữa, đâm thẳng dao

chui vào lồng ngực, sau đó lách nghiêng sang trái. Nó nặng đầy tạ, khổ mỡ dầy, nên phải đâm thật sâu…- Quấn dây cao su vào mồm, cho nó khỏi kêu… Xong chưa? Đừng có run tay… đâm cho thật chính xác, kẻo rồi dao lại chui vào nách lợn. Tốt! Tốt! Cứ như thế… Tiến lưỡi dao về phía ức. Khá lắm! Trúng rồi! Dao chui vào ngực rồi… Nhích mũi dao sang trái, về phía tim. Có thể ngoáy dao cho đứt hết mọi mạch máu chằng chịt quanh tim… Chúa lắm! Đè mạnh vào chuôi dao, tạo lỗ cho máu chảy ra…”

            Việc tô đậm cảnh giết chóc này hẳn là có mục đích. Nguyễn Xuân Khánh khái quát cái thời đại ông sống: “Trong trái tim ai cũng lấp ló một anh đồ tể”; “Té ra tôi là một anh đồ tể, tôi đã chọc tiết vợ con tôi”.

Nguyễn Xuân Khánh nói về thế hệ mình:

    Thế hệ chúng tôi là thế hệ những người anh hùng và cả những người sắm vai anh hùng…bừng bừng ở những khung cảnh vĩ mô, ngột ngạt sặc sụa ở những khung cảnh vi mô, đến nỗi chúng tôi không phân biệt nổi khi nào ta thực, khi nào ta giả. Chúng tôi lên đồng đến nỗi không nhìn ra được cái ngô nghê thảm hại khi mình rởm ấy…lắm lúc ngẩn ngơ thấy trong mình thiếu vắng một cái gì rất cơ bản mà mình không xác định nổi; run rẩy vì chợt có lúc thoáng thấy nỗi sợ hãi của phi nhân“.

Nguyễn Xuân Khánh còn nói về nhiều vấn đề khác. Chẳng hạn,  hoàn cảnh đói nghèo làm tha hóa con người, tình trạng khùng điên bế tắc của người trí thức, sự đổ vỡ của gia đình…”Lại thiếu gạo. Lại hốt hoảng chạy vạy…Lại eo óc, gắt gỏng cấu xéc càu nhàu. Lại bực bội vì tiền vì miếng cơm. Lại tính toán ti tiện. Cái tế nhị âu yếm thời xưa, vợ chồng tôi đánh mất lúc nào chẳng hay…Tôi nghẹn lại, tắc lại. Tiếng nói của tôi biến mất[Nhật ký ngày thứ 20]

Hoàng kêu lên: Tôi, một con vật người nhai rau đang nghĩ suy về đạm. Ở bên kia vách, con lợn Bò của tôi cũng đang tóp tép nhai rau. Lợn ơi ! Mày có nghĩ ngợi gì khi mày cắn một cọng rau, một lá bèo trong miệng? Không biết, vào giờ này, có con người đạm nào còn thức và đang trằn trọc như ta không?”[Nhật ký ngày thứ 21]

Trong cái nhìn của nhân vật Hoàng (tức nhà văn Nguyễn Xuân Khánh). Chính môi trường kinh tế, chính trị xã hội thời bấy giờ (trước đổi mới 1986) đã dồn ép con người vào đường cùng, làm tha hóa họ, làm họ khùng điên và sau cùng giết chết họ một các dã man. Cái chết của Lan và của Tám là hết sức thương tâm. Một người bị tước hết quyền sống, một người bị phẫu thuật đầu người mình khỉ, bị móc mất não.

Tất nhiên với cái nhìn như thế về thực tại Hà Nội những năm 1980, thì Chuyện ngõ nghèo không thể in được. Bởi những diễn ngôn của nhà văn trái với những “đại tự sự” của thời đại.

2. Chiến lược kiến tạo Chuyện ngõ nghèo.

Nguyễn Xuân Khánh làm thế nào để Chuyện ngõ nghèo có thể đến được với độc giả? Điều này chính là chiến lược kiến tạo tác phẩm của nhà văn. Và người đọc phải có chiến lược giải kiến tạo tác phẩm.

Chuyện ngõ nghèo là một cuốn nhật ký. Đây là lời giới thiệu của tác giả Nguyễn Xuân Khánh:

    Nhật ký này là của ông Nguyễn Hoàng; ông Nguyễn Hoàng làm nghề viết báo , kiêm nghề nuôi lợn .

Có lẽ, khi làm nghề cầm bút, ông đã phạm một cái cái “húy” gì đó nên bị thất sủng, phải về nghỉ hưu tuy chưa đến tuổi. Ông là ngươì lớn tuổi, lại mắc bệnh nghề nghiệp nên thích ghi chép. Ông đã ghi lại khá tường tận, thú vị công việc chăn nuôi của mình.

Xét thấy nhật ký này có điều hay hay, nên cố sưu góp lại để các bạn cùng đọc.”

Lời giới thiệu này nhắc người đọc rằng đây không phải là truyện của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, mà là truyện của một ông nhà báo nào đó tên Hoàng, không cần biết nhân thân cụ thể (vì là truyện). Mọi suy nghĩ, nhận thức, phát ngôn là của Hoàng, không phải của Nguyễn Xuân Khánh, và không được quy kết cho Nguyễn Xuân Khánh. Xin lưu ý, nhân vật văn học không phải là tác giả, ngay cả khi tác giả đặt mình làm nhân vật như nhân vật đồng chí Khải trong truyện Một người Hà Nội của Nguyễn Khải.

Cuốn nhật ký Chuyện ngõ nghèo có cấu trúc như sau: phần 1: nhật ký nuôi lợn của Hoàng. Phần 2, Hoàng ốm, mê man, lạc vào Hỗn mang, vào Bãi chết, vào Cực Thiên Thai. Phần Ba: Hoàng tỉnh lại và bình phục, tiếp tục ghi nhật ký.

Như vậy, ngoài phần ghi nhật ký việc nuôi con Lợn Bò từ nhỏ đến khi lớn và thằng Linh giết Lợn Bò để có tiền thuốc cho Hoàng, các phần còn lại là “hiện thực” trong những cơn mê sảng, những ác mộng đan xen với ký ức. Tất cả những “hiện thực ảo” này Hoàng không phải chịu trách nhiệm, vì nó xảy ra trong lúc anh hôn mê, ngoài tầm kiểm soát của ý thức. Thế nghĩa là tác giả Nguyễn Xuân Khánh không liên quan gì.

Ngoài phần  ghi chép 83 ngày về nuôi lợn là hiện thực, tất cả những ghi chép khác về cõi Hỗn Mang, về Bãi Chết, về xứ Cực Thiên Thai chỉ là ảo, là biểu tượng, là viễn tưởng. Nơi nào còn có con Nhân Trư – mình người đầu lợn, bắt người ta phải giải câu đố: Con gì sáng ăn thịt người, trưa nghỉ, tối ăn thịt người? Làm gì có nơi nào gọi là Cực Thiên Thai, con người ở nơi ấy chỉ vui, lãnh đạo nơi ấy điều khiển bằng khoa học, bằng chủ nghĩa sinh học? Nơi ấy, mỗi con người đều rình rập người khác và bị rình rập, mỗi viên gạch đều là thám tử? Nơi nào người ta có thể tạo ra giống người như ý muốn! Làm gì có chuyện ráp đầu người vào mình khỉ để làm thay đổi tư duy Người, và khi không thay đổi được thì móc não người đi (Tám là người như thế). Thế có nghĩa là, tất cả những cảnh, những vật, những sự việc xảy ra ở Hỗn Mang, về Bãi Chết, về xứ Cực Thiên Thai dù có mang bóng dáng đời thực (như là Cải cách ruộng đất) thì vẫn là biểu tượng.

Chuyện ngõ nghèo là một hệ thống biểu tượng, vừa ảo, vừa thực. Thí dụ, trong Cải cách ruộng đất, Tí Giò phục kích giết Chánh Hưng, Tí Giò đấu tố ông chú Hương Tẹo, giết anh cán bộ Thái, giết anh bộ đội “B quay” tên Lan, tất cả là thực, thì ngay cả những “việc thực” ấy cũng trở thành biều tượng mang nghĩa khái quát cao hơn, thâm hơn. Và như thế, chuồng lợn, đàn lợn, con Lợn Bò, việc nuôi lợn cũng trở thành biểu tượng đa nghĩa. Ngay cả cách giết lợn bằng dao lá lúa, hình ảnh người sĩ quan thẩm vấn, các nghiên cứu Bách khoa toàn thư Lợn của Lân, cái Kính chiếu Trư, “Chân tướng kính”, virus Poóc xi nô ma ni ! cũng là biều tượng. Đã là biểu tượng, không phải thật, lại là trong cơn mê sảng của Hoàng, một người không rõ nhân thân, thì không thể quy kết cho tác giả Nguyễn Xuân Khánh được.

Chiều sâu của ý thức sáng tạo của Nguyễn Xuân Khánh là khát vọng tự do, khát vọng nhân bản, khát vọng hạnh phúc, khát vọng Cách mạng tốt đẹp hơn, khát vọng một thế giới đầy tình người, không phải là Cực Thiên Thai chỉ là khoa học, máy móc và man rợ. Đây là những khát vọng:

Cuộc cách mạng của chúng ta mới chỉ làm được công việc phá vỡ xong cái vỏ. Thoái khỏi ách đế quốc mới chỉ là thoát cái vỏ nô lệ. Còn cái cốt lõi của sự nô lệ, nó nằm trong tâm hồn ta, …quá trình rối loạn, tan rã trong xã hội hiện nay chính là quá trình đập vỡ sự nô lệ bên trong ta, để cho những mầm mới nảy sinh..[Người khổng lồ vác nặng]

Đất nước chúng ta đang rơi vào một chủ nghĩa hư vô. Người ta đã dè bỉu, rồi xóa tất cả những cái nhân đạo xưa, để thay vào đó bằng một thứ chủ nghĩa nhân đạo mới, ở đó bóng dáng con người mờ nhạt. Người ta vẫn rao giảng một cái gì đó quá ư khoa trương, đẹp như một ống kính vạn hoa, để rồi con người soi mình vào đó và không thấy khuôn mặt mình ở đâu cả. Cái áo quá đẹp ấy không hợp với kích cỡ con người. Chúng tôi chán ngấy sự ồn ào mĩ miều và chỉ thèm một thứ nhân đạo đích thực, ở đó người nào nhìn vào cũng thấy khuôn mặt của mình.[Nhật ký ngày thứ 50]

Trong “chiến lược kiến tạo tác phẩm” thì Nguyễn Xuân Khánh sử dụng một sách lược xây dựng nhân vật” khá biến hóa.

Ở tuyến nhân vật chính có Hoàng và vợ, Linh là con; hai người bạn là Tám và Lân. Họ là những con người hiền lành lương thiện với nhiều khát vọng, có thể họ là những người “ngây thơ” về lý tưởng. Hoàng là người viết văn, muốn nói lên sự thật và quyết giữ lấy nhân phẩm, giữ lấy chút hy vọng về một thời đại tốt đẹp. Vợ Hoàng là công nhân, một người đàn bà truyền thống, cần cù nhẫn nhục và thực tiễn. Nhiều lần chị khuyên chồng bỏ viết. Chị cũng là người chăm sóc anh tận tình. Linh là đứa con đang học đại học, lại say mê đọc Trang Tử, Linh cũng có những tra vấn về hiện thực. Cậu cũng thường có những suy nghĩ trái ngược với Hoàng. Lân là một nhà nghiên cứu Bách Khoa về lợn, anh muốn tìm ra bản chất vấn đề Lợn người-Người Lợn. “có một luận điểm nói rằng, một chiều kích của bản chất người là lợn”. Những “khám phá” của anh có giúp soi sáng cái nhìn của Hoàng. Tám là anh bộ độ chống Mỹ, bị thương, là người đã chế ra “kính chiếu Trư” và “Chân tướng kính” giúp Hoàng nhìn rõ bản chất Lợn trong những kẻ xấu, kẻ ác. Cũng phải kể đến anh cán bộ kháng chiến tên Thái và anh bộ đội “B quay” tên Lan, hai người này bị Tí Giò giết, và anh bội đội tên Vinh chết trong nỗi chờ đợi, hy vọng Liên xô sẽ giúp Việt Nam thay đổi.  Những con người “lương thiện” này” đã bị “thời đại” (môi trường kinh tế, bầu khí chính trị) vây khốn. Hoàng, Tám, Thái, Lan phải nhận lấy số phận bi thảm oan sai.

Ở tuyến phản diện có nhân vật viên sĩ quan thẩm vấn, Đồ tể Hợi, phụ tá trường bắn Tí Giò…Các nhân vật này được miêu tả chân dung rất kỹ. Tác giả muốn khắc họa khuôn mặt “Cái ác” của thời đại. Sĩ quan thẩm vấn đeo bám Hoàng riết suốt từ thời kháng chiến chống Pháp (1953) đến thời hiện tại (Hoàng nuôi lợn và viết văn). Anh ta dùng đủ mọi kiểu “lý luận” để quy kết Hoàng tội chống Đảng, mặc dù anh ta không có chứng cớ cụ thể. Nhân vật này là một kiểu nhân vật khủng bố tinh thần. Tuy anh ta không đưa được Hoàng vào trại giam, song làm cho Hoàng bị ám ảnh mọi nơi, mọi lúc, cả trong lúc hôn mê lạc vào Cực Thiên Thai. Bóng dáng anh ta có mặt trong khắp tác phẩm. Nhân vật Tí Giò là một điển hình cho cái ác thời Cải cách ruộng đất, còn nhân vật Hợi là điển hình cho loại “Đồ tể” thời đại. Những nhân vật này được xây dựng ở tư thế “người chiến thắng”, ngoại trừ Tí Giò bị ám ảnh ở những cái chết oan sai mà chết. Chính sự chiến thắng của các nhân vật đại diện cho “cái Ác” này làm nghiêng lệch chủ đề và làm rõ thái độ diễn ngôn của tác giả. Đó là một “chiến lược dụng binh” của nhà văn.

Dù vậy, người đọc cảm thương rất nhiều cho các nhân vật bị “oan sai”. Sự kiên định lý tưởng viết của Hoàng trước người sĩ quan an ninh, cái chết “trung liệt, bất khuất” của người cán bộ kháng chiến tên Thái, cái chết dữ dội căm thù của Lan trước oan sai , cái chết bi thảm của Tám (con người bị phẫu thuật đầu người mình khỉ và bị móc mất não), cái chết đầy hy vọng (ảo tưởng) của Vinh, thái độ mạnh mẽ, thực tiễn của vợ con Hoàng…tất cả những điều ấy được miêu tả hết sức thương cảm và với lòng bao dung đem đến những giá trị tích cực cho tác phẩm.

Trong mắt Hoàng, người bạn chiến đấu, Tám là một bồ tát:

“Nhắm mắt, bóng Tám hiện ra. Mở mắt, bóng Tám vẫn hiện ra. Anh đứng giữa đêm đen chuộc lỗi cho thế gian.

Thật hay mơ? Dù là một giấc mơ thì cũng là một niềm an ủi. Bởi vì chưa thấy một Thích Ca, nhưng đã thấy một Bồ Tát, đã thấy một luân hồi đội đá phù sinh.”[Nhật ký ngày thứ 4 sau khi Hoàng tỉnh lại]

Chính giọng văn trầm tĩnh hiền hòa, cùng với tấm lòng nặng trĩu tình người, kết hợp với những nhận thức minh triết, diễn ngôn của Nguyễn Xuân Khánh đã làm thăng hoa cái hiện thực “đen tối” được nói đến trong tác phẩm. Cái cảm giác “phê phán hiện thực”(bằng diễu nhại nhẹ nhàng, hoặc bằng những biểu tượng dữ dội) nhường chỗ cho ý thức xây dựng những điều tốt đẹp. Hoàng bị theo dõi, bị thẩm vấn cụ thể về vấn đề gì, cả cuốn tiểu thuyết của Hoàng gửi bên nhà Lân, nội dung viết gì cũng không được tác giả nói công khai, vì thế, người đọc hiểu rằng, đó chỉ là cách nhà văn đặt vấn đề, không phải là “sự tố cáo hiện thực” trong một trường hợp cụ thể.  Tác phẩm đã vượt qua rào cản đến với người dọc.

Nguyễn Xuân Khánh tổng hợp nhiều kiểu bút pháp để tạo ra hiệu quả nghệ thuật đa sắc điệu. Phần “Nhật ký” (83 ngày, dài 118/203 trang, chiếm 58,1% dung lượng tiểu thuyết). Nhật ký là thể loại ghi lại “người thực việc thực”. Với dung lượng trên 58%, phần nhật ký tạo nên cảm tưởng rằng cuốn sách là truyện thật. Những gì còn lại, dù trong cơn mơ của Hoàng cũng chỉ là phản chiếu của những hình ảnh đời thật trong não trạng của Hoàng. Chẳng hạn, công dân A1 ở Cực Thiên Thai chính là con Lợn Bò trong đời thực mà Hoàng nuôi. Cô hướng dẫn viên tên Mi trong Cực Thiên Thai cũng chính là Hồ Ly trong đời thực của Hoàng. Phần đời thực được ghi trong nhận ký có nội dung đơn giản là chuyện Hoàng nuôi lợn, bỏ bao nhiêu công, cuối cùng công cốc. Nội dung ấy vô hại.

Sau Nhật ký là kiểu bút pháp truyện phiêu lưu thần tiên (như truyện Từ Thức lên tiên chẳng hạn). Hoàng sốt hôn mê, hồn anh lạc vào những cơn ác mộng, những vùng ký ức nào đó. Hoàng dẫn người đọc đi lang thang vào một thế giới khác do nhà văn tạo dựng. Lưu ý rằng, Nguyễn Xuân Khánh không miêu tả thế giới tâm linh tôn giáo như Thiên đường, Địa ngục. Bút pháp truyện phiêu lưu giúp giải phóng sức sáng tạo của nhà văn. Trong không gian “tưởng tượng” đó, các nhân vật đều là siêu nhân, các tình huống, cảnh sắc đều siêu việt, các mối quan hệ đều do nhà văn chủ động tạo ra không theo quy luật của bút pháp hiện thực. Diễn ngôn của nhà văn mở rộng ra nhiều chiều kích mà bút pháp hiện thực bị giới hạn. Chẳng hạn, việc tái hiện những con người, những xáo trộn, những “tội ác” trong trong Cải cách ruộng đất (1953-1956) đều diễn ra trong cơn mê của Hoàng. Phần nhật ký (những năm 1980) không thể tái hiện giai đoạn lịch sử này. Ở Cực Thiên Thai, Nguyễn Xuân Khánh sử dụng một ít kiến thức khoa học về lai tạo, về quản lý, về phẫu thuật, về xã hội học…để tạo nên cô Mi, hướng dẫn viên là “công chúa khoa học” con của công dân A1, họăc tạo ra những “viên gạch thám tử”, hoặc chọn lọc sinh sản để có thể sinh ra những thế hệ người theo ý muốn, hoặc phá bỏ cấu trúc gia đình, vì gia đình làm mất thì giờ ảnh hưởng đến kinh tế…Những “sáng tạo” như thế không nhằm vào việc tiên đoán tương lai mà chỉ là phương tiện để nhà văn nói lên chính kiến của mình về hiện thực.

Tức là bằng chiến lược kiến tạo tác phẩm (cấu trúc kiểu ghi nhật ký thực-ảo, kiểu truyện phiêu lưu thần tiên, hệ thống biểu tượng, cách trần thuật và phân tích tâm lý chân thực tỉnh táo, tình cảm nhân đạo sâu sắc cùng với vốn sống đầy đặn…), Nguyễn Xuân Khánh tạo ra sự hấp dẫn, đưa được thông điệp tới người đọc, tác phẩm chinh phục được người đọc.

Nói cho đúng, nhiều vấn đề Nguyễn Xuân Khánh nói đến thì Nam Cao trước đó đã nói rồi, nên ông không phải chịu trách nhiệm. Thí dụ, những vấn đề như cái nghèo đói làm tha hóa con người (Một bữa no), bi kịch của người trí thức sống mòn (Đời thừa, Sống mòn), khát vọng lương thiện (Chí Phèo), hoặc cái nhìn của nhân vật Hoàng trong Đôi mắt một thời bị phê phán (Cái nhìn của Hoàng trong Chuyện ngõ nghèo bị theo dõi, thẩm vấn trấn áp, kết tội chống Đảng); hoặc vấn đề về những sai lầm trong Cải cách ruộng đất cũng đã được nhiều nhà văn khác nói đến…

Vì thế, tiếng nói của nguyễn Xuân Khánh lẫn vào trong diễn ngôn của các nhà văn khác. Chuyện ngõ nghèo viết trước nhưng lại in sau Ba người khác của Tô Hoài. Chuyện ngõ nghèo (Nguyễn Xuân Khánh viết 1982-in 2016), Thời xa vắng (1986-Lê Lựu) Thiên Sứ (1988-Phạm Thị Hoài), Ba người khác (Tô Hoài viết 1992- in 2006), Thời của thánh thần (2008-Hoàng Minh Tường) và sau này là Mối chúa (2017- Đãng Khấu-Tạ Duy Anh), Kiến, Chuột và ruồi (2019-Nguyễn Quang Lập)..

LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI ĐEM ĐẾN ĐIỀU GÌ CHO PHÊ BÌNH VĂN HỌC?

            Nhà văn có chiến lược kiến tạo tác phẩm, người đọc cũng phải có chiến lược tiếp cận và giải mã tác phẩm. Lý thuyết trò chơi hướng đến khám phá các chiến lược ấy.

Và để khám phá được các “chiến lược” của nhà văn trong trò chơi văn chương, người đọc phải thủ đắc nhiều phương pháp phê bình (Chủ nghĩa Hình thức, Phê bình mới, Cấu trúc luận, Giải cấu trúc, Ký hiệu học, Phê bình xã hội học, văn hóa học, phân tâm học…) và áp dụng những phương pháp ấy theo một chiến lược khôn ngoan. Trong đời thực, tất cả mọi “chiến lược” của bất cứ “trò chơi” hay của một hoạt động xã hội nào (chiến lược kinh doanh, chiến lược quân sự…) đề được giữ bí mật. Nhà văn và người đọc cũng dấu kín chìa khóa chiến lược của mình.

Việc đọc những nhà văn lớn, những tác phẩm tư tưởng, những cây bút tiên phong thật không dễ dàng. Bởi sự sáng tạo của nhà văn luôn đi trước và nằm ngoài mọi cách tiếp cận của người đọc. Thế nên, Lý thuyết trò chơi có giới hạn của nó. Nó không giúp người đọc khám phá những giá trị của tác phẩm, những sáng tạo của nhà văn và những âm vọng nơi người đọc, những vang dội trong thời đại.

Thử tìm chiến lược chơi theo Lý thuyết trò chơi áp dụng vào việc đọc bài thơ sau đây của Văn Cầm Hải:

QUÊN LÃNG

Chiếc nôi lật ngược
Tiếng khóc rơi xuống
tã lót rách bươm, lời mẹ ru không khâu vá nổi
tôi và em đi xa
sa mạc
con Sphanh buồn bã
khi bọn cướp đục thủng lấy mất quả tim
tôi và em
trên da bụng em nườm nượp tiếng khóc
theo nhau thành dòng nước lũ
cả căn hầm chữ A
chiếc áo nâu thế hệ
mà nỗi đau vo ve từng hạt máu
đong đầy nghĩa địa.

             
Huế và mưa 92
           

***

Tháng 12 năm 2021

_____________________________________

[1] Lý thuyết trò chơi-Bùi Công Thuấn:

      http://trannhuong.net/tin-tuc-42148/ly-thuyet-tro-choi-game-theory.vhtm

      Trần Ngọc Hiếu: Tiếp cận bản chất trò chơi của văn học (Những gợi mở từ công trình Homo Ludens của JohanHuizinga)

– https://hieutn1979.wordpress.com/2012/01/04/ti%E1%BA%BFp-c%E1%BA%ADn-b%E1%BA%A3n-ch%E1%BA%A5t-tro-ch%C6%A1i-c%E1%BB%A7a-van-h%E1%BB%8Dc-nh%E1%BB%AFng-g%E1%BB%A3i-m%E1%BB%9F-t%E1%BB%AB-cong-trinh-homo-ludens-c%E1%BB%A7a-johan-huizinga/

[2] Đọc thêm:

     -Martin J. Osborne: An Introduction to Game Theory – Oxford UniversityPress

     – Levent Koc¸kesen Koc& Efe A. Ok : An Introduction to Game TheoryNew York University

     – Robert Gibbons: A Primer in Game Theory

     – Essentials of Game Theory -Concise, Multidisciplinary Introduction. By:

       KevinLeyton-Brown University of British Columbia, Vancouver, BC, Canada

       YoavShoham Stanford University, Palo Alto, CA, USA

     –William Spaniel: Game Theory 101: Introduction

[3] Nhật ký ngày thứ 2 sau khi Hoàng tỉnh lại. Hoàng nhớ lại hình ảnh Tám bị phẫu thuật, lấy đầu Tám lắp vào mình khỉ. Tám không thay đổi liền bị đục não. Lúc Tám chết, chỉ mình Hoàng biết Tám là người bị đục mất não.

Nhà văn-Lm Nguyễn Trung Tây

Bạn có thể đọc tất cả những bài viết chính của Bùi Công Thuấn theo link:

buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

***

Khuôn mặt văn chương Công giáo đương đại

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN TRUNG TÂY-

truyền thống và hiện đại

***

Bùi Công Thuấn

Nhà văn-Lm Nguyễn Trung Tây làngười nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2010 với bài viết“Mẹ, Mẹ Tôi. Tác giả tự sơ lược về mình “Sinh tại Saigon, trưởng thành tại Sàigòn và San Jose, CA. Hiện đang làm việc tại Melbourne, Úc Châu.”  

  Thông tấn xã Công giáo  VietCatholics cho biết: “Nhà văn Linh mục Nguyễn Trung

Tây thuộc dòng Truyền Giáo Ngôi Lời, tỉnh dòng Chicago.” Hiện làm Giáo sư Kinh Thánh tại Đại Học Thần Học Yarra Theological Union, Melbourne, Úc Châu.”

            Đó là những dòng giới thiệu tác giả của Viêt báo đăng trên đầu mỗi truyện ngắn của Lm. Nguyễn Trung Tây[1].

TỰ TRUYỆN NGUYỄN TRUNG TÂY

Đọc một tác phẩm văn học, người đọc thường muốn biết về tác giả. Bởi tác phẩm là đứa con tinh thần của nhà văn. Tác phẩm chứa đựng những trải nghiệm, những suy tư, những đặc điểm riêng về cá tính sáng tạo của nhà văn. Bối cảnh lịch sử xã hội và hoàn cảnh sống của nhà văn cũng chi phối quá trình sáng tác (việc chọn đề tài, nội dung, nhân vật, chủ đề, bút pháp, kiểu ngôn ngữ…). Một nhà văn Linh mục sẽ viết khác với nhà văn thế tục, bởi Linh mục viết dưới ánh sáng tư tưởng Thần học và Mỹ học Kitô giáo. Tác phẩm của nhà văn Linh mục là diễn ngôn loan báo Tin Mừng. Và một nhà văn hải ngoại sống tại Mỹ sẽ viết khác với một nhà văn trong nước, bởi sự khác biệt môi trường văn hóa, khác về những vấn đề xã hội được quan tâm, và đặc biệt là khác về độc giả. Nhà văn khi viết tác phẩm luôn hình dung ra đối tượng độc giả của mình. Độc giả Việt Nam ở Mỹ, sống trong môi trường văn hóa thực dụng Mỹ, có những mối quan tâm khác với người đọc Việt Nam trong nước. Cho nên phương pháp tiểu sử (Sainte Beuve-1804-1869) được dùng trong phê bình văn học sẽ giúp soi sáng nhiều điều.

Truyện ngắn của Lm Nguyễn Trung Tây ghi lại khá rõ cuộc sống của nhà văn. Nhiều truyện ngắn gần như là “tự truyện”. Hãy nghe nhà văn kể về cuộc đời mình:

“Tôi, Công giáo, ngôn ngữ bình dân gọi đạo gốc. Chào đời được mấy ngày, tôi được mang tới nhà thờ Châu Nam đổ nước trên trán, nhận phép thanh tẩy. Sinh ra tại bệnh viện Hùng Vương, rửa tội tại Hốc Môn, trưởng thành tại chợ Ông Tạ,…” (Truyện: 911 và sự thật).

“…tôi sinh ra tại bệnh viện Hùng Vương, Chợ Quán. Những tháng ngày cuối của chín tháng mười ngày, Bố tôi ở trên Đà Lạt về không kịp. Mấy ngày liền, những cô y tá thấy chỉ có Mẹ và tôi (bơ vơ?) trong bảo sanh viện. Có lẽ mấy cô tiên áo trắng gọi, họp, bàn, và đoán: chắc cái cô (Bắc kỳ) này một lần (lầm) lỡ… “Hội đồng” họp, hội đồng quyết nghị! Cuối cùng một cô áo trắng, đại diện hội đồng, cầm tờ giấy Khai Sinh của tôi trịnh trọng mang vào phòng tặng Mẹ và tôi… Trên tờ khai sinh trắng tinh có con mộc đỏ chói, tên Bố để trống (đương nhiên). Tên Mẹ ghi rõ họ và tên: Hà… Tôi sinh ra tại bệnh viện Hùng Vương. Tên đầy đủ trên giấy Khai Sinh viết rõ: Hà Hùng Vương.”; “Bố tôi cũng đã từng bơ vơ nơi đất khách quê người sau một lần bỏ làng Sài Thị, Hưng Yên xuôi Nam bởi biến cố 54”.(Truyện: Bố).

Tháng 5 năm 1985 Bố tôi mất!…xương cốt, và hiện giờ là bụi tro trong hũ sành đặt tại nguyện đường Phục Sinh của giáo xứ Lộc Hưng, Sài Gòn.

“Tôi, tuổi mười ba, đã lạc khi nhìn thấy xe tăng T-54 lăn bánh trên đường Lê Văn Duyệt, một trong những đại lộ thủ đô Sài Gòn dẫn về tổng hành dinh của Nam Việt Nam, chính quyền hai đời Tổng Thống (nhân vật giờ thứ 25, không tính) mới vừa tuyên bố trên đài phát thanh, chúng tôi đầu hàng. Sài Gòn, 30 tháng 4, bầu trời xanh lơ trưa mùa xuân bỗng dưng mây đen kéo tới, xám đen âm u cả một góc trời thủ đô (đừng hỏi tại sao, tôi không dị đoan mê tín, tôi chỉ diễn tả những chi mình đã nhìn thấy vào giây phút ấy). Thành phố hỗn loạn trong cơn tháo chạy! Những cột khói bốc cao! Những khuôn mặt hốt hoảng! Những giọt lệ buồn tủi! Những tiếng kêu tuyệt vọng! Những tiếng hét kinh hoàng! Những tiếng đạn nổ tung xé rách toang thịt da! Tiếng đạn súng lục xuyên thẳng đầu người nghĩa khí chết theo thành! Những hàng người nối dài cho một chỗ ngồi trên chiếc trực thăng đậu cao trên nóc tòa nhà Đại Sứ Mỹ. Tựa như những chú ruồi nhằng bay rối loạn tung tóe trên một thân xác bắt đầu lạnh, bầu trời Sài Gòn bỗng dưng ngập tràn trực thăng di tản người thân ruột thịt!…” (Truyện: 40 năm hồn đi lạc).

Ngày 30 tháng Tư năm 75, anh tôi, lính Thủy Quân Lục Chiến bước chân lên tàu tỵ nạn tại bến cảng Vũng Tàu ngay giờ phút Sài Gòn hấp hối (Truyện: 30 tháng Tư chữ trầm chữ thăng.). “…cuối thập niên 70, khi đó tôi vào tù ra khám như cơm bữa bởi tội vượt biên. Tệ hại nhất là lần bị bắt giam tại trại tù Tiền Giang năm 1978. Khi tôi được thả, trên người thiếu niên mới lớn chỉ còn trơ trọi bộ quần áo tù và một tờ giấy Lệnh Tạm Tha. Không có một đồng lận trong người để mua vé xe về lại Sài Gòn, tôi không còn chọn lựa nào khác, đành phải chìa tay…ăn mày…”(Truyện: Đám tang tử tế)

Trong truyện Dấu chấm hỏi, tác giả nói rõ hơn: “… Nó sinh ra trong Nam, thế là lãnh đủ, dính trấu, dính nợ, dính nguyên con đuôi sao chổi bay qua quẹt ngang mặt, nát đời thanh niên! Từ những năm 1978 cho tới năm 1982, nó vào tù ra khám vì tội vượt biên như cơm bữa. Tù Gò Công, tù Tiền Giang, tù Hàm Tân. Bột mì trại giam nó ăn trắng con mắt. Hồi đó, bước chân ra khỏi nhà tù Tiền Giang, nó thanh niên trắng cả hai tay. Gia sản duy nhất dính trên người chỉ còn cái quần jean bạc thếch, áo thun lủng lỗ, và tờ giấy Lệnh Tạm Tha cầm chặt.

Ơi bần cố nông đời tù!

Bước chân ra khỏi nhà tù, nó không có tiền để mua vé về lại Sài Gòn. Niềm vui được thả giờ biến mất. Trời xanh, mặt nó cũng xanh, xanh xao vì thời gian tù, xanh xao vì đói, xanh xao vì không có tiền mua vé xe đò.

Và nó mặt dầy mặt dạn lần bước ra chợ Mỹ Tho chìa tay ăn mày! Ơi quê! Ơi độn thổ! Nhưng biết sao bây giờ” Cứ giữ sĩ diện thì cầm chắc cái vé đi bộ một lèo từ Mỹ Tho về lại Sài Gòn”.

“…Rồi năm 1979 phương Bắc, Đặng Tiểu Bình thực hiện câu đe dọa dạy cho Việt Nam bài học. Phương Nam, Pôn Pốt dàn quân chặt đầu Thanh Niên Xung Phong. Hai mặt trận cùng đánh, trên chọc xuống, dưới đâm ngang. Bạn thân cùng thời, mấy tên phủi chân nhảy lên bàn thờ biến thành ma không đầu hưởng nhang khói và chuối sứ. Nó, 18 tuổi, bị tổng động viên. Nhưng bởi nhát, sợ chết, nó trốn quân dịch. Lại một thời vất vả lao đao, chốn chui chốn nhủi như những con chuột sống dưới ống cống hầm cầu!”.

Tác giả nói về tuổi 20 của mình: Tôi cũng đã từng ở tuổi 20. Nhưng (tiếc quá!) tuổi 20 của một thời bể dâu; tuổi 20 mất niềm tin vào mình và vào người; tuổi 20 sợ hãi học đường và xã hội; tuổi 20 cương quyết bỏ đi, để lại sau lưng một quá khứ và hiện tại xám buồn trộn lẫn với một viễn ảnh tương lai bấp bênh. Sau mỗi lần vượt biên thất bại, thuyền gỗ lênh đênh trôi dạt về lại đất Mẹ, tuổi 20 chân đất bước xuống thuyền, hai tay bị còng, công an áp giải dẫn thẳng vào nhà tù Gò Công, Tiền Giang, và Hàm Tân; tuổi 20 làm bạn với muỗi, rệp, rán, chuột của xà lim và nhà tù ẩm thấp chật nghẹt tù nhân. ”(truyện: Duyên trời)

Năm 1982 tác giả vượt biên:

Bữa hôm đó, tôi vượt biên…chuyến tàu Rạch Sỏi ngày 12/10/1982 (Truyện: Mẹ. Mẹ tôi). “…Khi đó thuyền gỗ không số nhổ neo tại Rạch Sỏi. Sau bốn ngày lênh đênh trên sóng biển xanh đậm đặc Vịnh Thái, thuyền viễn xứ đặt chân tới bến cảng Marang. Sau cùng, thuyền tỵ nạn đặt chân tới đảo Bidong, khoác lên người mã số PB 706 (Truyện: 30 tháng Tư chữ trầm chữ thăng). Nó sống trong trại tỵ nạn Pulau Bidong, Sungai Besi của Mã Lai, rồi bay sang Bataan của Phi Luật Tân,..”;”Tháng 4 năm 1984, tôi đặt chân tới Thung Lũng Hoa Vàng, San Jose”(truyện: Dấu chấm hỏi).

Trong truyện Gốc Phi châu, tác giả kể lại công việc đi dạy thiện nguyện trong thời gian học ở Mỹ. Đó là một ngôi trường mà 98% là gốc Phi châu: “…cuối tuần thứ Sáu, em đón xe bus đi vào ghetto Nam Chicago, hướng dẫn Computer cho lớp Năm trường St. Elizabeth./ Năm sau, em thiên di về phiá đông nam, lái xe ba tiếng từ Phố Gió Chicago tiểu bang Illinois sang thẳng tới thủ phủ Indianapolis tiểu bang Indiana tham dự chương trình Internship. Lần này cũng dạy học, từ Mẫu Giáo cho tới lớp Tám tại trường St. Rita, tọa lạc trên đường Dr. Andrew Brown”.Tại đây tác giả gặp khó đủ điều. Nhiều học sinh “cá biệt”, tưởng phải bó tay, nhưng rồi cũng tìm ra “sách lược” cảm hóa bọn trẻ. Phụ huynh học sinh cũng “cá biệt” không kém, họ kiện lên Hiệu trưởng, và Hiệu trưởng “nói nhỏ” thầy, nhường nhịn phụ huynh.

Trả lởi phỏng vấn của Lan Vi ngày 05.01.2013 trên Vietcatholics, tác giả cho biết: “năm  1991 rời bỏ tất cả lên đường theo tiếng gọi của Thiên đàng”…”Tôi Bước lên bàn thánh 2002 tại Chicago, được biệt phái dạy học cho các thầy Ngôi Lời…”

Đã có lần tác giả trở lại quê nhà. “…năm 2005 nó quay về… Bạn bè, nghe tin, rủ nhau hội ngộ ở công viên Lê Thị Riêng, Sài Gòn. Hai mươi năm không gặp. thời xưa. Trong lớp 10C3, khoảng bốn mươi mấy tên, nó học dốt nhất. Môn nào cũng đội sổ! Cuối lớp! Hạng bét! Dốt dột! Dốt đặc! Trong giờ thi, thi lớn thi nhỏ, thi giữa khóa, thi cuối năm, thi tú tài, thi vô đại học, nó chuyên viên chìa tay năn nỉ bạn trai cũng như bạn gái 10C3 cho cọp dê bài! Ôi thôi, thật là xấu hổ! Thế đấy! Nhưng, tình thiệt mà nói, những người bạn 10C3, nếu có cơ hội tới Mỹ như nó, giờ này, nói theo ngôn từ mắng mỏ mẹ nó hay mắng, “Mày chỉ có nước mà đi xách dép cho người ta!”(Truyện: Dấu chấm hỏi).

Sau đó quay lại Mỹ, Lm Nguyễn Trung Tây đi phục vụ. “…hiện giờ tôi đang làm việc tại Úc Châu, từ những ngày của năm 2006. Và bây giờ 2016… Làm việc ở phố Melbourne được ba năm. Và bởi ngạt thở với đời sống chật chội phố phường, nhưng lại ước mơ được hít thở bầu trời mới, giữa tháng 12 năm 2009, tôi dọn nhà về Central Australia, sa mạc bao la, đất của người thổ dân Arrernte. Tôi đã dần dần biến thành thổ dân sa mạc: trời nóng, bật quạt và mặc quần đùi; trời lạnh, mặc vào áo khoác dầy cộm và đội mũ len lên đầu…”(Truyện: Tôi từ thiên đàng tới).

Trả lởi phỏng vấn của Lan Vi tác giả nói cụ thể hơn (đd): Cuối 2009, tôi đã hoàn thành công tác mục vụ tại Melbourg. Sau đó tôi xin chuyển về vùng sa mạc trung tâm Úc châu, thành phố Alice Springs. Bắt đầu từ đó đến ngày hôm nay hơn 3 năm rồi, tôi làm việc với thổ dân.Tôi hiện sống với cộng đồng Ngôi Lời nhà thở Trái tim Đức Mẹ của phố Alice Springs. Tôi là phó xứ. Có một linh mục Ngôi Lời chánh xứ gốc Ba Lan và một cha Tuyên úy gốc người Nam Dương, coi sóc 2 giáo xứ: Trái tim Đức Mẹ và thánh Têrêsa. 3 năm truyền giáo, Chúa thương vẫn mạnh khỏe và ngọn lửa truyền giáo vẫn đang bùng bùng cháy trong hồn. Ở đây có 10 gia đình VN, có 3 gia đình Công giáo. Tôi đã sống San Jose (mũi phía Nam của Vịnh San Francisco), San Diego (nam Cali), Chicago (đông bắc bộ tiểu bang Illinois)”.

Sau đó tác giả đến Philippines: Sau nhiều năm phục vụ tại vùng sa mạc đất đỏ Úc Châu, nhiệm sở truyền giáo mới của Linh mục là Tagaytay, Philippinnes…(lời giới thiệu truyện: 30 tháng 4 chữ trầm chữ thăng).

“Có thời nó phụ trách môn Kinh Thánh tại Đại Chủng Viện Ngôi Lời, Iowa. Trường cũng có nhiều sinh viên gốc Việt Nam. Có mấy cậu hay đi theo chọc, “Cha mà ở Việt Nam, giờ dám làm giám mục“.

-“Có mà! Giờ còn ở Việt Nam, dám chỉ cũng trà đá mía ghim!”

“Ông Trời mà không mang mi đặt chân tới Mỹ, nặng lắm thì giờ này cũng đã nhảy lên bàn thờ ăn xôi nghe kèn, nhẹ lắm thì cũng trà đá mía ghim”.(Truyện: Dấu chấm hỏi)

Và nhà văn tự nhận xét về mình: Tôi giờ tu sĩ bình bát, lang thang đó đây sống giữa và sống với những đời sống bên lề xã hội. Chín người con, trong đó, tôi thứ tám”(truyện: Bố)

Phần “tự truyện” của tác giả kể trên vừa là câu truyện sinh mệnh của một người Việt di dân cuối thế kỷ XX, vừa giúp lý giải những giá trị của truyện ngắn Nguyễn Trung Tây.

NHÀ VĂN CỦA NHỮNG VẤN ĐỀ DI DÂN

Tường thuật của tác giả về cuộc đời mình trong các truyện ngắn (trích dẫn ở trên) đã khắc họa một nhân vật “di dân” tiêu biểu của lịch sử Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX. Tác giả trở thành nhân vật của chính mình, nhưng nhân vật lại mang những đặc điểm, phẩm chất con người của một thời, cả những điều bi đát và những thăng hoa thành đạt ở xứ người. Nhân vật “di dân” ấy cũng đau đáu những vấn đề tư tưởng, văn hóa và thân phận (xin đọc: Tôi hét lên, Dấu chấm hỏi, 911 và sự thật, Chuyện 40 năm: Hồn đi lạc, 30 tháng Tư chữ trầm chữ thăng, Tôi từ thiên đàng tới, Hành trình Văn Lang, Cơn mơ và giấc mộng…)

Vì sao tác giả ra đi để nhiều lần chịu cảnh tù đày trong các trại giam và nhiều lần kề cận tử sinh khi lênh đênh trên biển. Ra đi, bỏ lại tổ quốc, bỏ lại nơi chôn nhau cắt rốn, chấp nhận đánh đổi cả sinh mệnh với rủi ro, quyết định ấy thật không dễ dàng. Phải có một động lực ghê gớm thúc đẩy. Tác giả lý giải: “Ông Trời mà không mang mi đặt chân tới Mỹ, nặng lắm thì giờ này cũng đã nhảy lên bàn thờ ăn xôi nghe kèn, nhẹ lắm thì cũng trà đá mía ghim”(Truyện: Dấu chấm hỏi).

Người Việt bỏ nước ra đi cuối thế kỷ XX có nhiều đối tượng. Nhưng tựu trung, ra đi là để tìm một con đường sống mà ở trong nước họ không có lối thoát. Những năm sau 1975, Nhà nước thực hiện nhiều chính sách “cải tạo Xã hội chủ nghĩa” đối với miền Nam. Trước hết là tập trung “đánh tư sản”, rồi đưa dân đi Kinh tế mới, đổi tiền. Chính sách cải tạo đối với những người lính Cộng hòa hoặc làm việc cho chính quyền Cộng Hòa. Con cái của hàng triệu gia đình ấy bị phân biệt đối xử…Thời gian ấy, tình hình chính trị có những biến động nghiêm trọng: chiến tranh biên giới 1979; Khối Đông âu và Liên xô sụp đổ đã đưa Việt Nam đến bờ vực khủng hoảng trầm trọng. Hậu quả của những chính sách “cải tạo” miền nam đã làm cho nền kinh tế Việt Nam suy sụp, đẩy hàng triệu người ra đi bằng những con thuyền nhỏ vượt biển. Hàng vạn người đã chết trên biển, cũng hàng vạn người bị hải tặc Thái Lan làm nhục và sát hại. Thảm cảnh “thuyền nhân Việt Nam” trở thành một vấn đề mà thế giới phải quan tâm. Sau đó mới có chương trình “ra đi trong trật tự”(ODP) tiến hành từ năm 1979 dưới sự hỗ trợ của Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn.

Khác với nhà văn thế tục, Nhà văn-Lm Nguyễn Trung Tây nhìn những dâu bể của cuộc sống dưới “lăng kính tôn giáo” (truyện 911và sự thật), nhìn bằng con mắt đức tin, không xuất phát từ thái độ chính trị của “bên thua cuộc”.

Đây là cảnh “thuyền nhân” gặp nạn được kể lại trong truyện Đường tử tức:

“…chuyến tàu hôm đó, con gái đụng hải tặc bị bắt hết, con trai bị chém bay đầu, chỉ còn sót lại những người già da mồi tóc bạc. Máy tàu bị gỡ, thuyền lênh đênh trên biển, không lương thực, không nước uống, người ta ăn thịt người tỉnh bơ như ăn sáng một ổ bánh mì kẹp chả lụa. Tôi nhớ bà cụ khoảng sáu mươi tuổi, đầu vấn khăn nhung gọn gàng, ngồi yên, đưa vào miệng miếng thịt nhai sần sật. Nhai hết miếng thịt, bà cụ cúi xuống, lấy gấu quần lau miệng như một thói quen thường lệ. Thấy tôi nằm mê mệt trên khoang thuyền, nhiều cặp mắt trầm tĩnh đợi chờ giây phút sẽ tới. Nhưng không, như một phép lạ, tôi đặt chân lên bờ biển Trengganu của Mã Lai với đôi mắt vàng sền sệt mầu nghệ, người ta nói bởi vì những miếng thịt người! Cao Ủy Tỵ Nạn đưa thẳng tôi vào phòng Cấp Cứu bệnh viện Sick Bay trên đảo Pulau Bidong…”.

Và đây là thảm cảnh cá nhân: “trong khi hải tặc bò lổm ngổm như cua càng trên khoang thuyền, con gái bị bắt, từng người đang bị xô đẩy lôi kéo sang tàu Thái, con trai đã bị chém đứt cần cổ mấy tên rồi. Tới phiên tôi, tên hải tặc giơ cao mã tấu xuống, tôi nhìn lên bầu trời, chỉ kịp lẩm nhẩm mấy lời thật nhanh xin lỗi bố mẹ cho những lầm lỗi. Nhưng nàng đã nhào tới, cản ngang lại đường mã tấu. Lưng người tình trung học của tôi hứng trọn đường dao. Máu đỏ vọt ra có vòi từ bờ vai thanh xuân con gái mười chín. Người đẹp tranh vẽ nhìn tôi, nàng không nhăn một vết nhăn trên trán bởi đường chém, nhưng mỉm cười, mắt từ từ nhắm lại, thân hình đổ xuống che cản lại thân xác tôi. Tôi hét lên, ngã xuống, bất tỉnh!”.

“Ngày này nối tiếp ngày kia, hết đêm dài lại tới đêm thâu, bao nhiêu con tàu quốc tế đi ngang qua nhắm mắt làm ngơ…”

Những hình ảnh thương tâm ấy sẽ làm cho trái tim “thuyền nhân” đau đớn suốt đời. Nhân vật Tôi nói với chị: “- Chị ơi, vợ em hồi đó đã có thai, hai tháng rồi…Chị tôi ôm tôi vào lòng, hai chị em cùng khóc”.Nghĩa là cả vợ lẫn đứa con hai tháng tuổi của nhân vật tôi bị hải tặc Thái Lan giết dã man.

Vấn đề tư tưởng thứ hai của người Việt tị nạn là thân phận của mình: -“Ông bạn từ đâu tới vậy?”. Người việt di dân tự hỏi: Tôi là người Việt hay tôi là người Mỹ?-Không có câu trả lời rành mạch. Văn hóa Việt vẫn còn trong huyết quản, trong não trạng, trong hơi thở. Kỷ niệm với quê hương, với người thân vẫn sống động trong ký ức. Mồ mả cha ông, tổ tiên vẫn chôn vùi trên đất Việt. Nhưng nơi ấy giờ đã thành quá khứ. Trước mặt là nước Mỹ, xung quanh là lối sống Mỹ, văn hóa Mỹ mà người Việt phải hội nhập. Đứng ở hai bờ văn hóa, những người Việt thế hệ 1 không sao tìm được sự an tâm. Họ chông chênh trong thân phận lưu vong, không có quê hương.

Truyện “Tôi tới từ thiên đàng” là nỗi trăn trở khôn nguôi về quê hương, về ngôi nhà của mình. Không sao tìm được câu trả lời cho câu hỏi:  -“Ông bạn từ đâu tới vậy?”. Bế tắc trong đời thực, tác giả hướng lên trời tìm câu trả lời bằng con mắt đức tin.

            -“Ông bạn từ đâu tới vậy?”

Một câu hỏi đơn giản như thế thông thường được trả lời với một câu bắt đầu với chủ từ “Tôi”, theo sau là động từ “là” (trong trường hợp này động từ “là” nằm ở thì hiện tại, ngôi thứ nhất, số ít, đọc là “từ”), cuối câu là túc từ (tên của một quốc gia nào đó). Dựa vào những nét Đông phương trên khuôn mặt, thiên hạ thông thường vẫn chờ đợi tôi sẽ điền vào chỗ trống của túc từ với một danh từ, hoặc “Thái Lan” hoặc “Cambuchia” hoặc “Trung Hoa”. Nhưng nếu tôi thành thật và ngây thơ nói,- “Hiệp Chủng Quốc…”, thiên hạ đã rất nhiều lần phản ứng ngay với giọng điệu mỉa mai,
            -“Ông thần? Ông đâu phải là Mỹ!…”

“Câu chuyện “Bạn từ đâu tới?” không chấm dứt ở đây… Bởi đã có những lần quay về Việt Nam công tác, tôi đã từng được/bị (người Việt) nhìn hoặc đối xử hoặc coi như một người ngoại quốc ngay trên vùng đất chôn nhau cắt rốn…”

            “…Vâng! 20 năm hít thở không khí Việt Nam! 2 năm làm người vô tổ quốc lang thang trại cấm Mã Lai và trại tỵ nạn Phi! 21 năm lang thang ở Mỹ! 10 năm làm việc tại Úc Châu! Và bây giờ bạn hỏi tôi, “Anh từ đâu tới?”. Và bạn chờ đợi một câu trả lời đơn giản. Nghiêm chỉnh đi ông bạn! Đừng nói chuyện bỡn!…”

            “Tôi chỉ ngón tay lên trời, bầu trời xanh xanh màu ngọc bích, khẳng đinh, “Tôi từ thiên đàng mà tới”.

Nói vậy chỉ là một cách nói cho nhẹ lòng một chút. Bởi vì, người Việt là dân định cư định canh, không phải dân du mục, nên tình quê hương là một trong những giá trị thiêng liêng. Mảnh đất cha ông để lại là tài sản vô giá con cháu phải giữ gìn. Ngày tết, con cháu đi đâu xa mấy cũng phải về quê thắp nhang đón ông bà về cùng con cháu. Vì thế thân phận “lưu vong” là một thân phận bi đát. Nó trở thành một chủ đề lớn trong dòng văn học của người Việt ở hải ngoại.

Ở Mỹ, nhà văn buộc phải thay đổi, phải thích ứng với văn hóa Mỹ. Nhưng chính sự thay đổi này lại nảy sinh nhiều bi kịch.

Từ những năm 1984 cho tới 2006 trước khi bỏ đi xa, nó liên tục hít thở và trưởng thành trong bầu không khí Mỹ. Nó học hỏi tư tưởng thực dụng của văn hóa Mỹ. Nó học hỏi lòng tự trọng, kính trọng chính mình và kính trọng người khác, dù có là khác mầu da và tôn giáo. Nó học được tinh thần tự tin, tin vào khả năng do Ông Trời ban cho chính mình. Nó chấp nhận có những điều không thay đổi được; riêng những điều được trao tặng, nó trân trọng giữ gìn. Nếu phải ngồi làm những bài tính cho công bằng, nó nhận thấy, bà mẹ Mỹ đã cho riêng nó nhiều điều, óc thực dụng, lòng tự trọng, tính tự tin, biết chấp nhận, và tâm tri ân” (Truyện: Dấu chấm hỏi).

Và nhờ tinh thần nhập cuộc, người Việt tị nạn ở Mỹ đã thành công trong nhiều lĩnh vực: “Bởi quyết tâm và say mê xây dựng lại một đời sống mới tinh trên vùng đất mới, gia đình Việt Nam, cả bố cả mẹ lên đường nhập cuộc. Trời thu cũng như trời đông, bố mẹ tị nạn chở con tị nạn tới trường; khi con biến mất sau khung cửa, bố mẹ quay ra nhập vào dòng xe cộ ngược xuôi hướng thẳng tới công xưởng làm Technician, Assembler, bưng tô Phở, nửa đêm về sáng quét dọn quán rượu Mễ, và đủ các nghề để kiếm tiền nuôi con Việt. Ngày thứ Bẩy, Chúa Nhật, bố mẹ chở con tới trường Việt Ngữ học tiếng Việt. Bởi quyết tâm và say mê xây dựng một tương lai vững chắc cho mình và cho con cái, bố mẹ Việt Nam hy sinh tất cả. Bởi thế, tị nạn Việt Nam thuở xưa biến hình. Hành trình Việt Nam hải ngoại, 40 năm viễn xứ, hành trình thành công

Tác giả vẫn nhìn mọi việc dưới con mắt đức tin:

Những con thuyền tị nạn đã cương quyết lên đường mặc dù biết trước hành trình tị nạn nhiều nỗi gian nan, tù tội, sóng biển, ngư phủ Thái, và xua đuổi từ phía chính quyền của những nước lân bang. Mà thật sự là như vậy, nhiều con thuyền gỗ xuất phát từ cửa biển Việt Nam đã không bao giờ cặp bến. Biển xanh đã biến thành mộ phần cho nhiều mảng thuyền tị nạn và thân xác Việt Nam, những máu đỏ da vàng quyết tâm lên đường bởi mê say hít thở không khí tự do. Những con thuyền còn lại cặp bến (dù có là rách nát!) hoàn toàn nhờ vào Ơn Trời. Không có Ơn Trời, thuyền tỵ nạn và thuyền nhân sẽ không bao giờ có cơ hội đặt chân lên bờ, bước đi những bước chân tự do” (truyện: Duyên Trời).

Tuy nhiên, người Việt sống tình nghĩa thủy chung. “Óc thực dụng” là điều trái với văn hóa và đạo đức Việt. Nhiều bi kịch xảy ra với người Việt tị nạn khi đối mặt với xã hội thực dụng Mỹ.

Trong truyện Bố Việt Nam và những đức tình bố, tác giả trình bày thực trạng một gia đình Việt Nam. Trong gia đình ấy, bà vợ hai tay hai máy ở sòng bài. ”…bây giờ gặp bà vợ cầm guốc gỗ đập chan chát vào đầu ông chồng giữa nơi thanh thiên bạch nhật, thiên hạ vẫn thản nhiên tỉnh bơ bỏ đi một nước”. “thằng con hỗn như gấu mấy roi cũng phải cẩn thận, bởi coi chừng nó nhấc phôn gọi cảnh sát. Tù mọt gông!

Rồi tác giả khuyên những ông bố:

“Ngoài kiên nhẫn, tôi nghĩ bố Việt Nam ở hải ngoại cũng không nên bắt chước thói trăng hoa của ông cựu Tổng Thống Bill Clinton…Cho nên, bố Việt Nam, làm ơn, cũng nên cẩn thận. Về Việt Nam tìm cô Tấm, kiếm hoa thơm, ngoài bệnh Aids, Sida, mồng gà trái khế, cũng hãy coi chừng có ngày dẫm lên vết xe đổ của ông nhà giàu vô danh!”

Tác giả còn khuyên những ông bố cần phải hiểu biết:

“Ông thần nước mặn ơi! Bố Việt Nam ở hải ngoại ngoài kiên nhẫn và thủy chung là những đức tính cần phải có, ông ta cũng nên hiểu biết một chút. Bây giờ đang sống ở Mỹ, mà ông cứ nằm dài ở trong nhà, đi ra đi vào sai vợ sai con như sai người ở con sen của cái thời trước năm 75. Lời thật thì ưa mích lòng, nhưng nói thì vẫn phải nói…Ông thì khó tính như quỷ, mà con trai của ông nó chỉ mới trốn biệt ở trong phòng chát chát với bạn bè; còn con gái của ông thì nó chỉ mới son phấn sức nước hoa CK bỏ đi chơi với bạn bè của nó… quanh năm suốt tháng lúc nào cái mặt của ông cũng hầm hầm giống như thù cha chưa trả, như mắc bệnh táo bón kinh niên! Hèn chi con cái nó né gặp mặt ông tối đa. Chẳng trách chi, đi làm vừa mới về, vợ ông không bỏ đi tếch thẳng một nước tới sòng bài cũng uổng!”.

Và đây là những bi kịch.

Truyện Cây thánh giá gỗ mùa giáng sinh kể rằng, bà Tân qua Mỹ diện con lai. Bà ở với chồng và 5 đứa con. Bà nghiêm nhặt trong giáo dục con cái và siêng năng việc nhà thờ… Đùng một cái, chồng và thằng con lai chết cùng một lúc. Một người hàng xóm qua Mỹ sau bà, biết rõ bà là “me Mỹ”. Họ “tám” chuyện: Ông Tân là chồng thứ nhất. “Hai thằng Mỹ trước đâu có đám cưới đám hỏi gì mà chồng với vợ. Hồi đó con mụ đi làm sở Mỹ, rồi vác cái bụng bầu. Ông bố cấm cửa không cho quay về nhà. Sau khi sanh ra con Hương, con mẹ thuê nhà trên Sài Gòn, mướn người vú em trông con. Mấy năm sau, trước 75 mấy tháng, con mụ lại vác cái ba lô ngược. Lần này sinh ra thằng Dương. Con Hương với thằng Dương là hai chị em cùng mẹ khác cha. Ba đứa còn lại là con của ông Tân. -Bà Tân gặp ông Tân lúc nào vậy? – Hồi đó thằng cha đi bán xổ số, con mẹ bán cà-phê. Rổ rá cạp lại sinh ra ba đứa con. Rồi được đi Mỹ theo diện con lai.” Trước miệng đời ác độc, bà Tân chỉ im lặng và khóc.

Trong truyện Xuân bất tái lai, bi kịch là của một người đàn ông bị vợ bỏ vì “tình dục đã hết”:

“Ba mặt con, bon chen kèn cựa tới lui, Thái vẫn không vượt quá khỏi bàn giấy văn phòng. Quay đi quẩn lại cũng vẫn chỉ loay hoay với dân thất nghiệp, dân chửa hoang, dân tái định cư của Sở An Sinh Xã Hội. Tình yêu biến mất. Nàng bỏ đi không lời giã từ. Một năm sau, nàng ghé nhà nói hai đứa lên tòa ký giấy. Thái nói: Không!

Tối hôm đó Thái trằn trọc trên giường. Hồi xưa cứ tưởng tình yêu bền vững đời đời…Lấy nhau, ở với nhau, biết tẩy nhau, bỏ nhau. Tình nghĩa vợ chồng nên giải thích theo một cách khác. Tình đây không phải tình yêu mà tình dục…Thái biết tình dục đã hết, tình nghĩa bốc hơi. Thì thôi! Giữ lại gót sen làm chi? Thái quyết định giữ ba đứa con…”; ”Gần năm năm trôi qua, vợ Thái đã lên xe hoa với người khác”.

Đây là bi kịch của một người trẻ tuổi: Trong truyện Quán rượu nửa đêm, nhân vật Đình đã kể cho người Bartender nghe “câu chuyện của một người có bố có mẹ, nhưng trở thành mồ côi. Sau cùng nó gặp lại mẹ, nhưng vẫn cảm thấy lạc loài không có bố. Đình hay tới quán uống rượu. Cậu ta đang học Cử nhân ngành tâm lý. Đình kể:

“…Bố tôi vượt biển, bỏ lại mẹ tôi và tôi khi đó đang còn là một bào thai. Ông ta tới trại tỵ nạn, sau đó định cư ở Hoa Kỳ. Trong gần 10 trời ông không viết thư về cho gia đình ngoại trừ lá thư báo tin đã tới đảo Pulao Bidong. Sau khi sinh ra tôi, mẹ tôi xoay sở làm đủ nghề. Nhưng bà ấy hiền quá, bị hết người này tới người kia gạt gẫm. Cuối cùng gia tài và sản nghiệp nhỏ nhoi của một cặp vợ chồng mới cưới tan theo mây khói. Túng quẫn, mẹ tôi đi ở đợ, làm mướn, sau cùng bế tôi đi…đi…đi ăn xin. Một thời gian đủ dài tôi được nuôi sống bởi những hạt cơm bố thí của thiên hạ. Bà ngoại tôi, một góa phụ từ hồi còn trẻ, một tay nuôi hai cô con gái nên người, không đồng ý cho mẹ tôi lấy người đó. Nhưng mẹ tôi cãi lại lời bà ngoại. Ngày hai người làm đám cưới, bà ngoại nằm ở trong nhà, quyết định không nhận mặt con rể. Sau khi cưới, bố mẹ tôi dọn nhà lên thành phố. Nghe bà con lối xóm kể chuyện gặp con gái bế thằng cháu ngoại đi ăn xin, bà ngoại đón xe lên thành phố ngồi đợi ở chợ nơi mẹ tôi ngày ngày ngửa tay xin tiền của thiên hạ. Mẹ tôi không chịu về làng nhưng chấp nhận để bà ngoại mang thằng cháu đi. Theo lời Dì Hoa, em gái duy nhất của mẹ tôi kể lại, khi đó tôi được 2 tuổi, sài đụi, ghẻ lở, xanh lét như những lá trầu không bà tôi hằng ngày mang ra chợ bán. Bồng tôi về, bà ngoại nấu nước tắm với sả và phèn chua chữa bệnh ghẻ cho tôi. Bà nấu cháo pha đường, mua sữa hộp nuôi thằng cháu. Dì Hoa ngày ngày chạy qua cho tôi bú thép. Tôi lớn lên bên vườn trầu không xanh tươi sau nhà. Nhưng, hai năm sau khi tôi được 4 tuổi, bà ngoại qua đời. Dì Hoa mang tôi về nhà nuôi với ba đứa con. Ở với dì được khoảng 2 năm, cả nhà dì tôi được đi sang Mỹ theo diện H.O. của chú tôi, dượng Ba. Một người bạn thân của mẹ tôi, bà ta có hai người con đang ở ngoại quốc, mang tôi về nhà. Một năm sau, bà ta bay sang Pháp đoàn tụ với con gái của mình. Cuối cùng người ta bỏ tôi vào Viện Cô Nhi Tình Thương do mấy Sơ Áo Trắng Dòng Thánh Phaolô phụ trách.

Ngày mẹ tôi nhận được giấy bảo lãnh, bà đến Viện Cô Nhi xin lại con mình. Khi đó tôi đã được 12 tuổi. Nhìn người đàn bà xa lạ, tôi không chịu đi theo…”

Đình kể tiếp: Năm 13 tuổi, anh sang Mỹ. Nhưng mãi đến khi anh 17 tuổi anh mới nhận mẹ:  “tôi giơ tay ra nắm bàn tay của người đàn bà đã sinh ra tôi, bế tôi đi ăn xin 2 năm trời, và tôi mở miệng gọi “Mẹ ơi” ”.

Còn người bố, Đình kể tiếp: “Bố tôi? Người đã bỏ mẹ tôi và tôi gần 10 năm, không một lần liên lạc ngoại trừ lá thư khi mới tới đảo và giấy tờ bảo lãnh; hồi xưa, tôi tưởng bởi vì ông ta cực nhọc vất vả với đời sống mới. Về sau tôi mới biết có một thời ông ta ở với một người đàn bà, một người tình nhân cũ. Hai người chung vốn mở tiệm Phở. Tiệm ăn đông khách lắm. Nhưng cuối cùng người đàn bà gạt ông ta qua một bên, chiếm lấy tiệm Phở. Thế là ông ta trắng tay. Sau biến cố đó, ông làm giấy tờ bảo lãnh mẹ con tôi qua Mỹ”.

Đình đã sống trong dằn vặt khôn nguôi của nỗi bất hạnh. Mãi đến năm thứ ba Đại học, khi học lớp Triết, Đình được Linh mục dạy triết tên là Tiến khai ngộ: “Nếu con nhắm mắt lại, đời con tràn đầy bóng tối, con hóa thành bóng tối, con là hiện thân của bóng tối. Nhưng nếu con mở mắt ra, đời con tràn đầy ánh sáng, con hóa thành ánh sáng, con là hiện thân của ánh sáng, con thành ánh sáng cho nhiều người”.

Nhà văn Lm Nguyễn Trung Tây đã nhìn những số phận bất hạnh vì dâu bể dưới ánh sáng của Tin Mừng, nhờ đó những bi kịch mà ông kể lại đã mở ra về phía ánh sáng (chẳng hạn cuộc đới tiếp theo của Đình).

Độc giả cũng nên dõi theo các nhân vật Linh mục trong truyện của Nguyễn Trung Tây để thấy vẻ đẹp của tư tưởng Thần học và Mỹ học Kitô giáo thể hiện trong các nhân vật này.

Đó là Lm Tiến, người dạy Triết cho Đình năm thứ ba Đại học, ngài đã khai mở bóng đêm bất hạnh để Đình nhìn về phia ánh sáng (truyện: Quán rượu nửa đêm), đó là Cha Quang nhà thờ Chula Vista một ngày 4 lần xúc tuyết, người đã làm cho “Tiếng chuông sinh nhật của hân hoan và mừng vui tiếp tục vang xa xé rách toang màn đêm của sầu tủi và nước mắt. (truyện: Thị trấn Chula Vista). Cố Hân với chuỗi Mân Công cùng giáo dân đọc Kinh Kính Mừng, dẹp yên bọn thủy quái (những thế lực bóng tối) hiển hiện trong cây Thuồng luồng và cây Con gái trên sông Cái (truyện: Giấy bạc con công). Cha “Tâm lác” cho sinh viên làm bài kiểm tra đột xuất, ngài nghĩ đến chữ ác. Vì thế khi một người sinh viên làm bài bị điểm thấp đến xin, cha cho về nhà học bài lại (truyện: Chữ Lác vần ác). Cha sở nhà thờ ABồ ở Alice Springs chịu hàm oan bao nhiêu năm. Ngài đã giải quyết được 2 việc quá khó là nạn cờ bạc và gái điếm, trong đó có cả giáo dân (truyện Phố ABồ).Ôngcố đạo Bắc Mỹ” và linh mục giáo sư lớp Triết đã gợi mở những suy tư về tính hợp nhất của dân tộc Việt: “mọi người Việt Nam từ Ải Nam Quan cho tới Mũi Cà Mâu đều tỉnh giấc cùng một lúc và nhận ra chân lý, một sự thật đã từ lâu bị nhện thực dân, nhện đế quốc, và nhện chủ nghĩa cùng xúm lại giăng tơ, phủ mờ. Từ trong bụng Mẹ Âu Cơ, chúng mình vẫn là con của Bố Lạc Long Quân; là anh chị em ruột thịt với tóc đen nhánh, mắt nâu đậm của Văn Lang, của chim Lạc Việt, và của Mười Tám Đời Vua Hùng Vương”(tạp ghi: Hành trình Văn Lang)…

Qua các nhân vật Linh mục, tinh thần loan báo Tin Mừng trong văn chương Nguyễn Trung Tây thể hiện ở tư tưởng nhập thế, như chính Lm Nguyễn Trung Tây tỏ lộ: Tôi giờ tu sĩ bình bát, lang thang đó đây sống giữa và sống với những đời sống bên lề xã hội.” (truyện Bố).

NHỮNG ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT

1.Nguyễn Trung Tây có những “truyện tư tưởng”.

            Truyện không chỉ phản ánh hiện thực đời sống người người Việt tị nạn ở Mỹ sau 1975. Ở những truyện tư tưởng, chủ đề khá sâu kín. Ngôn ngữ  văn chương mang tính ẩn dụ, những vấn đề nhà văn gửi gắm được gói rất chặt trong nhiều lớp kết cấu của tác phẩm. Có những hình tượng mới mẻ. Xin đọc: Cây thánh giá gỗ mùa giáng sinh, Giấy bạc con công, Thần cây đa, Hành trình Văn Lang (tạp ghi), Cơn mơ và giấc mộng. Sâu, Nhộng, Bướm, Thanh hỏa trà, Quán rượu nửa đêm, Tôi hét lên, 911 và sự thật.

            Truyện Cây thánh giá gỗ mùa giáng sinh kể: gần ngày Lễ Giáng Sinh, cây thánh giá gỗ trên cung thánh trong nhà thờ bỗng dưng rơi xuống. Tượng Chúa chịu đóng đinh úp mặt xuống nền gạch. “Cha Nghi (cha xứ) lấy hết sức lực của tuổi 30 tập tạ hằng ngày nhấc cây thánh giá lên. Nhưng lần này cây thánh giá không hề di chuyển dù chỉ là một phân!”. Gần 3 ngày, người ta tấp nập đến xem sự lạ, nhưng không ai có thể lay chuyển được cây Thánh giá. Bà Tân, một giáo dân thầm lặng, nhiệt thành. Bị người đời đàm tiếu “me Mỹ”, bà chỉ im lặng; Một người “tội lỗi” như bà lại có thể nâng Thánh giá lên được. ”Sáng nay trên đường đi làm, bà ta ghé vào nhà thờ. Khi bà nâng cây thánh giá gỗ lên, cây thánh giá 60 pound nhẹ nhàng chuyển mình dưới đôi tay của bà ta”. Phải chăng tác giả muốn gửi đến người đọc thông điệp của Kinh thánh. Chúa nói với người Pha-ri-sêu về người phụ nữ xức dầu thơm lên chân Chúa: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít”.(Lc 7, 36-50).

            Truyện Cơn mơ và giấc mộng có chủ đề tương đồng với Giấc Nam Kha khá quen trong văn chương cổ điển. Truyện lấy bối cảnh chùa chiền để thể hiện tư tưởng Thiền: đời hư huyễn.

            Truyện 911 và sự thật đặt vấn đề về Ơn Cứu Rỗi đối với những người chưa biết Chúa: Càng học càng đọc, tôi mới lại càng hiểu thêm là niềm tin Công giáo, theo tài liệu lịch sử, chỉ mới đặt chân tới lãnh thổ Việt Nam vào năm 1533. Hóa ra trước đó, người Việt Nam, có ai tin theo Chúa và được đổ nước trên đầu rửa tội đâu. Nếu vậy Trần Hưng Đạo, Trần Nhân Tôn, Lê Thánh Tôn, Quang Trung Đại Đế, không tin vào Chúa, không được rửa tội, vậy họ không nhận được ơn cứu rỗi hay sao?”

            Truyện Giấy bạc con công được mã hóa bằng nhiều ẩn dụ, mà nếu giải mã, rất dễ gây ra những tranh cãi về lịch sử, về tôn giáo, về Việt Minh…

Truyện Thanh Hỏa Trà thuật lại việc vua Quang Trung đến thăm và hỏi ý kiến Nguyễn Thiếp. Những điều như thế sử sách đều nói đến, duy cái chết của Quang Trung còn là một nghi vấn: “Có người suy đoán nói hoàng đế Quang Trung do làm việc nhiều, suy nghĩ nhiều, bị cao huyết áp, đứt mạch máu não mà chết. Có người nghi vấn đặt vấn đề có thể hoàng đế bị đầu độc hoặc đã từng bị đầu độc trong quá khứ. Nếu đúng là như vậy, ai là người có khả năng đến gần long thể để đầu độc được hoàng đế nước Nam? Đọc truyện, người đọc hiểu chính Nguyễn Thiếp là người đầu độc Quang Trung bằng Thanh hỏa trà và khói trầm lúc tiếp kiến Quang Trung. Cách lý giải này của Nguyễn Trung Tây có thể gây ra những nghi ngại!..

Như vậy có thể nhận thấy nhà văn-Lm Nguyễn Trung Tây đặt ra khá nhiều vấn đề tư tưởng, cả về lịch sử, văn hóa và đức tin. Nhà văn tỏ ra có cái nhìn “thoáng” và gợi mở. “Biến cố 9/11 đã dạy tôi bài học bớt quá khích về tôn giáo, bởi có ai trên cõi nhân sinh biết sự thật nằm ở đâu; Hãy tôn trọng cái cá nhân và sự khác nhau(truyện: 911 và sự thật)

            2. Một “văn phong” vừa dân tộc vừa hiện đại.

Đó là cách kể truyện có duyên. Truyện thường có những đoạn tả thiên nhiên rất đẹp. Thiên nhiên vừa là bối cảnh, vừa tạo nên chất văn chương, từ đó câu chuyện diễn ra. Nhà văn liên tưởng một cách tự nhiên từ chuyện này sang chuyện khác, từ hiện tại tới quá khứ, từ giấc mơ tới hiện thực, từ thực tiễn tới nhận thức, từ chuyện dưới đất đến chuyện trên trời. Truyện trôi chảy cuốn người đọc vào thế giới nghệ thuật của Nguyễn Trung Tây. Mỗi truyện thường khởi đầu bằng một “tứ” truyện . “Tứ” truyện này được nhắc lại ở cuối truyện tạo nên một cấu trúc truyện chặt chẽ, bám sát chủ đề (Thí dụ: Phố ABồ, Giấy bạc con công, Đường tử tức). Nét “duyên tía lia” của ngòi bút Nguyễn Trung Tây còn thể hiện ở chất “hài” trong sử dụng ngôn ngữ và diễn đạt hàm ý, cách nói “tưng tửng” nửa thật nửa đùa. Đây là cái “khôi hài”, cười vui tế  nhị, không phải cái cười phê phán (Chuyện bố chuyện con, Ngũ đổ tường, Bố Việt Nam và đức tính bố, Đường tử tức…).

Câu văn Nguyễn Trung Tây là câu ngắn, mạch văn nhanh. Giọng văn là giọng của ngôn ngữ nói, với nhiều khẩu ngữ, thành ngữ dân gian (thí dụ, trong Chuyện Bố chuyện con có những câu: đụng nhau xẹt lửa, ngỡ ngàng như gái ngồi phải cọc, Thằng bố gãi gãi như bị nguyên quân đoàn chí rận đóng lô cốt trên đầu; mừng seeing momma! (Seeing: thấy, momma: mẹ), đến là vãi tội! Vãi; dấm dẳng tựa chó cắn ma,…). Nhiều truyện mang đặc điểm ngôn ngữ Nam bộ (truyện: Đừng đánh con đau, Chuyện ông Tư dì Tư, Chữ tài chữ tâm) hoặc Bắc bộ (truyện: Bố Việt Nam và đức tính bố, Cơn mơ và giấc mộng) rất sống động. Do đặc điểm này, truyện Thần cây đa viết chung với Trần Nguyên Đán có giọng văn khác hẳn. Có lẽ phần viết của Trần Nguyên Đán là chính.

Phải là người sống rất sâu đời sống các vùng miền Việt Nam mới viết được những truyện ghi tạc sống động tính cách con ngưới, ngôn ngữ, văn hóa từng vùng miền Việt Nam như vậy. Những truyện này góp phần gìn giữ văn hóa Việt, vừa có thể đem văn chương Việt Nam quảng bá với thế giới. Và nếu đem dạy trong môn tiếng Việt cho học sinh người Việt ở nước ngoài thì thật thú vị.

Nhà văn có một vốn sống, vốn tri thức văn hóa và trải nghiệm rất dày thể hiện trong truyện ngắn. Có những truyện đòi hỏi người đọc phải có tri thức về văn hóa, tư tưởng triết học mới có thể đọc được (Thần cây đa, Giấy bạc con công, Thanh hỏa trà, Hành trình Văn Lang…). Trái lại, trong nhiều truyện tác giả thâm nhập rất sâu vào cộng đồng, nói tiếng nói của công chúng (Thị trấn Chula Vista, Phố ABồ, Chợ trời Dandenong, Ngũ đổ tường…).  Truyện nào cũng có nhân vật cộng đồng, cả nhân vật phiếm chỉ tham gia vào truyện. Đây là một đặc điểm phong cách.

Tính dân chủ là một đặc điểm của văn chương hiện đại thể hiện ở sự chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt, tôn trọng cái khác (The Others). Cho nên, là một nhà văn Công giáo, Lm Nguyễn Trung Tây viết nhiều truyện có tư tưởng Phật giáo (Thức tỉnh, Cơn mơ và giấc mộng) và cùng với tác giả Trần Nguyên Đán, một Mục sư viết chung truyện Thần Cây Đa (đăng trên Hợp Lưu). Tính dân chủ của truyện ngắn Nguyễn Trung Tây cũng thể hiện ở sự chấp nhận bình đằng tư tưởng thực dụng Mỹ với những truyền thống Nhân-Nghĩa Việt. Tác giả vừa hết sức giữ gìn truyền thống Việt, vừa cổ vũ cho sự hội nhập văn hóa Mỹ, và triệt để chống sự kỳ thị. Ngòi bút dân chủ của Nguyễn Trung Tây mạnh dạn khai phá nhiều đề tài ở nhiều hoàn cảnh khác nhau mà không can dự chủ quan để gán ghép tư tưởng của cá nhân áp đặt lên người đọc. Cho nên, trong truyện rất ít có những lời bình ngoại đề.

Nguyễn Trung Tây kết hợp nhiều bút pháp trên nền của chủ nghĩa hiện thực. Hầu hết truyện của Nguyễn Trung Tây là truyện chắt lọc từ đời sống hiện thực nơi tác giả đã sống, đã trải qua, đã suy nghiệm, đã gặp gỡ ngững con người, những cảnh sắc. Nhưng có truyện hiện thực kết hợp với huyền thoại, với giấc mơ, với những sự kỳ lạ (Thần cây đa, Cơn mơ và giấc mộng, Cây Thánh giá gỗ mùa Giáng Sinh). Có truyện viết bằng ngôn ngữ mộc của đời sống cộng đồng nhưng có truyện lại viết bằng ngôn ngữ ẩn dụ rất uyên thâm, khiến cho thông điệp chuyển tải trở nên sâu kín. Những truyện này tạo thành một mảng văn chương đặc sắc của Nguyễn Trung Tây (Quán rượu nửa đêm, Giấy bạc con công, Thần cây đa, Hành trình Văn lang, Người máu lạnh, Thanh hỏa trà, Tôi hét lên). Cũng có truyện pha trộn hiện tại với lịch sử, với tư tưởng triết học, với suy tư để chủ đề thăng hoa khỏi những bế tắc bi kịch của thực tại (Tôi từ thiên đàng tới, Hành trình Văn Lang, Giấy bạc con công…)

            Diễn ngôn về Tin Mừng được trình bày như không trình bày. Người đọc có cái thú vị khi thưởng thức những truyện hay của Nguyễn Trung Tây mà không bị ám ảnh rằng đang bị ông Linh mục truyền đạo hay áp đặt tư tưởng tôn giáo. Hình tượng các Linh mục trong truyện được khắc họa là một người bình thường như mọi người, thậm chí giao tiếp với cả bọn cờ bạc và gái điếm (truyện Phố ABồ). Nhưng các ngài khai sáng về tư tưởng, khai sáng bằng đời sống, bằng sự chia sẻ, bằng sự nhận lấy những khốn khó của tha nhân và bằng một lòng tin vững vàng, kiên định (Thị trấn Chula Vista, Phố ABồ). Nằm sâu bên dưới câu chuyện là tư tưởng Thần học và Mỹ học Kitô giáo, cùng với chủ nghĩa Nhân văn đặt trên nền tảng Kinh thánh. Đó là cái nhìn về Con người: Con người là một tuyệt tác của Thiên Chúa (Sáng thế ký), đó là lòng thương yêu vô hạn mọi cảnh đời của Lòng Chúa Thương Xót, là sự nâng đỡ con người vượt qua bể dâu (Đám tang hồn ma, Quán rượu nửa đêm, Cây Thánh giá gỗ mùa Giáng Sinh, Gốc Phi châu, Phố ABồ, Trên một khoang thuyền, Vợ bỏ, Thứ Ba Béo, Thằng Linh thằng Lượm, Đừng đánh con đau…).

 Tính dân chủ cùa văn chương cùng với các kể rất “thoáng” của Lm Nguyễn Trung Tây có thể gây “dị ứng” với bạn đọc trong nước (vì tác giả là Linh mục). Dù vậy, với tư cách nhà văn Công giáo, tác giả có thể kể mọi chuyện về mọi cảnh ngộ, như Đức Giêsu ngày xưa, đi khắp nơi, gặp gỡ, nói chuyện với mọi phận người và ban ơn Cứu độ cho họ. Nhà văn Công giáo cần tiếp bước Đức Giêsu, kể tiếp những câu chuyện Chúa đã kể để đem đến ánh sáng cho cuộc sống hôm nay.

THAY LỜI KẾT

            Gọi là “thay lời kết”bởi vì tác giả còn đang sáng tác. Hành trình sáng tạo còn dài phía trước, những khám phá tư tưởng và nghệ thuật còn đang mở ra rất rộng. Cho nên bài viết này chưa thể nói đến một đời văn, một văn nghiệp, một cốt cách văn chương Nguyễn Trung Tây.

            Nhưng điều có thể khẳng định nhà văn-Lm Nguyễn Trung Tây là một “nhà văn Công giáo” đặc sắc đương đại, có nhiều đóng góp cho văn học Công giáo hôm nay. Truyện Nguyễn Trung Tây phản ánh một mảng hiện thực rộng của người Việt hải ngoại, đặt được những vấn đề xã hội, vấn đề văn hóa, tư tưởng liên quan mật thiết với đời sống người Việt, và đóng góp những đặc sắc về bút pháp, về sự thể hiện tư tưởng Thần học và Mỹ học Kitô giáo trong văn chương. Điều dễ nhận thấy ở trang văn Nguyễn Trung Tây là tính truyền thống và chất hiện đại, tính phóng khoáng về tư tưởng (tính dân chủ) song vẫn hết sức giữ gìn những giá trị dân tộc. Những cây bút văn xuôi Công giáo còn hiếm. Truyện ngắn của Nguyễn Trung Tây có thể gợi mở nhiều điều cả về tư tưởng và thi pháp cho các cây bút văn xuôi Công giáo hôm nay. Đó là điều rất quý.

Nói như nhà văn: tất cả là ơn Trời: Bao nhiêu lận đận, bao nhiêu đoạn trường, tôi đã nếm đủ, trải qua. Nhưng mưa Trời vẫn cứ đổ xuống tưới mát tâm hồn có lúc đã cạn khô. Với   đức tin và hai bàn tay nhỏ bé giơ ra, xin hứng lấy mưa Trời (nói theo thi hào Tagore), khuôn mặt riêng tôi vẫn nguyên vẹn không hề đổi thay một nụ cười, và hồn tôi vẫn xanh mướt lộc non” (Ơn trời ơn người).

Tháng 11/2021

______________________________

[1] https://vvnm.vietbao.com/a164764/goc-phi-chau

Muốn biết thêm về tác giả, mời vào Webpage: www.nguyentrungtay.com.

***

PHỤ LỤC

Truyện ngắn

CÂY THÁNH GIÁ GỖ MÙA GIÁNG SINH

Nguyễn Trung Tây

Bà Tân, da bắt đầu lấm tấm những vết đồi mồi, dáng người mảnh khảnh, khuôn mặt thuôn, tóc cắt ngắn ngang vai, hơi xơ xác, lấm chấm điểm bạc. Gần đây con Hương mua lọ thuốc nhuộm burgundy black. Tóc con Hương nâu ngắn. Một lọ thuốc mua ở tiệm Walmart dư dùng cho hai người. Con Hương nhuộm luôn cho mẹ. Ban đầu bà hơi ngần ngại. Nhưng tiếc thuốc nhuộm đổ đi phí quá, bà cúi xuống cho con Hương nhuộm luôn. Tóc mầu burgundy black không nhận ra trong bóng râm. Nhưng ra ngoài nắng, tóc đen nhìn hung hung đỏ. Đi chợ hay mua sắm trong tiệm Mỹ, bà Tân tự nhiên thoải mái; nhưng nếu phải đi mua gạo, nước mắm, hay thức ăn Á Đông trong khu thương xá Việt Nam, bà e dè với mái tóc nhuộm. Nhưng soi gương, nhận ra những nét trẻ trung của mái tóc burgundy black, bà đâm ra thích. Thỉnh thoảng bà đưa tiền cho con Hương. Hai mẹ con cùng nhuộm.

Bà Tân chịu chơi, nhưng nghiêm khắc với con nhất là về vấn đề học vấn. Bà bắt mấy đứa con phải học hành đàng hoàng, có thời khóa biểu hẳn hoi. Ban tối bà cấm không cho đứa nào được lảng vảng trong phòng khách có màn ảnh TV khá lớn. 10 giờ đêm bà mới cho tụi nó coi TV. Đứa nào léng phéng cầm cái remote trước 10 giờ, bà cự cho tắt đài. Từ hồi mới qua Mỹ tới nay, ba năm rồi bà làm ở nhà hàng. Chạy bàn, nấu ăn, thái rau, lau nhà, rửa chén, tất cả mọi công việc trong tiệm bà không nề hà. Người quản lý nhà hàng Tây Đô nói gì, bà làm đó, làm gọn gàng, làm sạch sẽ. Chiều, 4 giờ, về tới nhà, bà nấu cơm cho ông chồng và 5 đứa con. Hai đứa lớn đi làm. Con Hương làm móng tay. Thằng Dương làm chung với ông Tân trong hãng điện tử. Ba đứa còn lại, xe bus mầu vàng của trường trung học sáng đón đi, chiều chở về tới đầu ngõ. Chiều, 5 giờ, về tới nhà, con Hương phụ bà Tân nấu cơm. Thằng Dương ngồi học bài cho lớp tối tại trường đại học cộng đồng gần nhà. Ba đứa còn lại, hai thằng, đứa lớp Chín, thằng lớp Bẩy, lái xe đạp đi bỏ báo chiều; đứa con gái lớp Mười Một ngồi học trong phòng. Bà cấm không cho đứa nào đi chơi trước giờ ăn cơm kể cả con Hương với thằng Dương. 6 giờ, cả nhà ngồi ăn cơm tối trong căn phòng nhỏ. Sau bữa cơm, mấy đứa con, đứa rửa chén, đứa dọn dẹp bàn ăn, đứa hút bụi trong nhà. Làm xong việc, đứa nào muốn làm gì thì làm. 8 giờ tối, giờ giới nghiêm, cả đám lại phải học. Lâu lâu bà mở cửa phòng bất tử xem chúng nó học hay đang ôm phone nói chuyện. Bị mấy đứa con phản đối ầm ỹ, bà Tân nạt liền,

-Tụi bay là con tao. Tao là mẹ. Không có prai-vai-xi cái con khỉ khô gì hết

10 giờ tối, giới nghiêm mới hết. Mấy đứa chạy ra phòng khách coi TV, phim Mỹ. Bà cấm phim Tàu

-Mấy thằng mấy con Hồng Kông nhìn mặt đẹp nhưng tụi nó nói tiếng Việt giọng lơ lớ nghe như ngọng.

12 giờ đêm, cả nhà tắt đèn đi ngủ. Hết một ngày. Sáng, bà dậy sớm, pha cà-phê cho ông Tân và thằng Dương, rồi lái xe tới nhà hàng Tây Đô. Một ngày mới bắt đầu.

Hai đứa con lớn của bà, con Hương 30, thằng Dương 27. Mặt, mũi, tóc, và hình dáng của cả hai không lẫn lộn trong đám đông người Việt. Có tin đồn nói bà mua con lai. Có người đoán hai đứa con lai chính là con ruột của bà.

Bà Tân đi lễ Chúa Nhật thường xuyên. Ngày thường, sáng, 7:30, bà đi làm. Khi lái xe ngang qua ngôi thánh đường, bà làm dấu thánh giá đọc một câu kinh. Năm đứa con, từ con Hương cho tới thằng Út, đứa nào không chịu đi lễ, bà chửi cho tắt đèn,

-Tụi bay đừng có giở quẻ. Qua được tới đây rồi là õng ẹo, đòi quyền tự do. Tao nói cho mà biết, không có tự do với tự lực gì hết. Không đi lễ, tao tống cổ hết ra ngoài đường cho tụi bay tự do với đám hôm-lết.

Thời gian đầu tiên lễ Chúa Nhật bà và ông Tân cùng năm đứa con ngồi chung một ghế, hàng ghế cuối cùng. Đến khi ba đứa nhỏ vào ca đoàn của giáo xứ, phải tới nhà thờ sớm tập hát, bà mới thôi không bắt mấy đứa con ngồi chung. Con Hương tuy thế vẫn ngồi với mẹ và dượng ở hàng ghế cuối cùng. Thằng Dương ngồi một mình, trong thánh lễ mắt đảo lia lịa về phía mấy cô.

Bà Tân đóng góp cho nhà thờ khá mạnh tay. Những lúc nhà thờ quyên tiền hoặc cho giáo xứ hoặc cho nạn nhân bão lụt miền Trung, bà móc bóp thả vào rổ tờ giấy xanh lớn. Bà nói,

-Không nên tiếc tiền với Chúa, với người nghèo.

Là một giáo xứ nhỏ, nằm ở tiểu bang đèo heo hút gió không có nhiều người Việt, ông cha xứ kêu gọi các gia đình sau giờ lễ xuống hội trường ăn uống, chuyện trò, hát karaoke. Mỗi gia đình góp một món ăn nhỏ. Tất cả cộng lại thành một bữa tiệc lớn. Tuần nào bà Tân cũng nấu một món cho bữa ăn chung. Khi thì xôi, lúc bún canh, hoặc bánh cuốn nhân thịt. Trước giờ ăn, bà đứng sau quầy lấy thức ăn cho từng người. Sau giờ ăn, bà ở lại dọn dẹp, rửa chén. Lần nào cũng vậy đợi cho tất cả mọi người trong hội trường bắt đầu cầm đũa, bà Tân mới lấy cho riêng mình một đĩa. Bao giờ bà cũng là một trong những người cuối cùng lái xe rời bỏ sân đậu xe rộng thêng thang vắng vẻ của ngôi giáo đường vào một buổi chiều cuối tuần.

Thấy cha xứ không có bà bếp phải ăn thức ăn Mỹ, nóng, nổi mụn đầy mặt, bà nấu những món ăn Việt Nam, canh chua cá bông lau, khổ qua nhồi thịt heo, hoặc thịt heo với cá bông lau kho tộ. Gói ghém cẩn thận, bà lái xe, tự tay mang vào nhà xứ cho ông cha.

Hồi mới tới Mỹ trước giờ lễ, ông cha nói với ông bà Tân,

-Sau thánh lễ, tôi sẽ giới thiệu gia đình ông bà với mọi người nhé.

Bà Tân ngần ngại, từ chối liền,

-Thôi… Xin cha… Con xin cha bỏ qua phần giới thiệu.

-Ủa! Sao vậy?

-Con… Tụi con không quen. Cả gia đình được qua tới bên này là mừng rồi. Tụi con, thiệt tình tụi con không quen… Con xin cha miễn cho phần giới thiệu. Nhưng nếu cha cần gì, cứ nói con một tiếng.

Ông cha liếc nhìn con Hương và thằng Tân. Ông suy nghĩ, rồi đồng ý.

Sau thánh lễ của ngày hôm đó, cả gia đình kéo nhau ra bãi đậu xe. Trên đường bà thấy trăm con mắt nhìn ngó vào hai đứa con lớn của bà. Bà cúi xuống. Bà yên lặng. Khi người hàng xóm ngày xưa bên Việt Nam, từ Cali dọn sang mở tiệm móng tay, bà ta xác nhận với mọi người về mối liên hệ ruột thịt của hai đứa con lai với bà Tân. Bản tin rồi cũng tới tai bà. Bà Tân không phản ứng, không nói gì, nhưng trở nên yên lặng mặc dù vẫn sinh hoạt trong giáo xứ như xưa. Bà vẫn đi lễ. Bà vẫn đóng góp tiền bạc rộng tay cho giáo xứ. Bà vẫn đóng góp thức ăn vào bữa ăn chung hằng tuần. Bà vẫn thường xuyên nấu ăn, tự tay mang vào cho cha Nghi. Nhưng sau thánh lễ bà không làm gì nữa. Bà yên lặng ngồi ăn với ông chồng dưới hội trường, rồi yên lặng lái xe về nhà, khi với ông Tân, khi với mấy đứa con. Tối tối ông Tân nghe tiếng vợ thở dài, tiếng cục cựa lăn qua lăn lại cả đêm.

***

Tin ông Tân và thằng Dương bị xe đụng chết trên đường đi làm lan chuyền nhanh chóng trong giáo xứ. Bà Tân nhận được tin dữ trong khi đang đứng rửa chén trong tiệm ăn. Bà té xỉu! Người cảnh sát gọi xe cứu thương tới, nhưng bà đã tỉnh dậy. Ông quản lý của tiệm ăn chở bà tới nhà xác. Trên xe bà yên lặng, bà không khóc.

Hôm đám tang chôn cất, ba đứa nhỏ khóc như mưa, con Hương lăn lộn trước cỗ áo quan của thằng Dương. Riêng bà Tân, bà im lìm, mắt ráo khô, môi mím chặt nhìn hai khối gỗ mầu vàng sậm từ từ biến mất sau lớp cát. Theo lời kêu gọi của ông cha xứ, nghĩa tử là nghĩa tận, nhiều người giáo dân nghỉ làm, tham dự tang lễ tiễn chân hai người quá cố tới tận nghĩa trang.

Trong khi ông cha xứ đang cử hành những nghi thức tại nghĩa địa, trời nắng mùa thu hanh vàng dịu dàng buông xuống vùng đất thánh. Nhiều người giơ tay ngáp, cố gắng che miệng trong khi ông cha xứ đang giảng, một bài giảng dài ngoằng. Người đàn bà hàng xóm ngày xưa của bà Tân quay sang người bên cạnh,

-Chồng và thằng con lai chết cùng một lúc. Hai cái mặt nát bấy!

-Sao chị biết?

-Nghe thằng cha quản lý tiệm ăn Tây Đô nói. Mà mụ này cũng lỳ ghê. Suốt từ hôm đó cho tới bây giờ, con mẹ không buông một giọt nước mắt.

-Nghe nói ông này là chồng thứ ba rồi đó.

-Chồng thứ nhất chứ chồng thứ ba cái mốc xì. Hai thằng Mỹ trước đâu có đám cưới đám hỏi gì mà chồng với vợ. Hồi đó con mụ đi làm sở Mỹ, rồi vác cái bụng bầu. Ông bố cấm cửa không cho quay về nhà. Ông ấy nói nếu để ông thấy mặt, ông sẽ cạo đầu bôi vôi liền. Sau khi sanh ra con Hương, con mẹ thuê nhà trên Sài Gòn, mướn người vú em trông con. Mấy năm sau trước 75 mấy tháng, con mụ lại vác cái ba lô ngược. Lần này sinh ra thằng Dương. Con Hương với thằng Dương là hai chị em cùng mẹ khác cha. Ba đứa còn lại là con của ông Tân.

-Bà Tân gặp ông Tân lúc nào vậy?

-Hồi đó thằng cha đi bán xổ số, con mẹ bán cà-phê. Rổ rá cạp lại sinh ra ba đứa con. Rồi được đi Mỹ theo diện con lai.

Người hàng xóm thuở xưa tiếp tục,

-Bà có thấy con mẹ nhuộm tóc không? Tóc đỏ hung hung. Già rồi mà còn xí xọn… Làm như mình còn con gái nheo nhẻo.

Bà ta trề môi buông giọng,

-Me Mỹ mà. Làm sao giấu được tung tích của mình. Giấu đầu rồi cũng lại lòi đuôi.

Liếc nhìn ông cha xứ đang rẩy nước phép lên hai cỗ áo quan, bà che miệng, cố gắng nói nhỏ lại, giọng gần như thì thào vào tai người đàn bà đứng bên cạnh,

-Tôi thấy con mẹ thậm thụt đi tới đi lui vào phòng cha Nghi mấy lần rồi.

-Thật không? Đừng nói giỡn chơi!

-Tui thấy tận mắt mà. Con mẹ lái xe tới nhà xứ. Lấm lét đi tới đi lui, rồi gõ cửa phòng cha Nghi.

Nhặt chiếc lá vàng rơi bám trên mái tóc, người hàng xóm nói,

-Nghe nói, hồi mới tới Mỹ con mẹ đâu dám lên rước lễ. Bây giờ không hiểu sao dám thè lưỡi ra nhận bánh thánh. Mà ông cha Nghi cũng kỳ khôi. Biết con mẹ là gái bán bar, nhưng vẫn cho rước lễ. Chúa phạt là phải! Thằng chồng với thằng con lai chết tại chỗ. Còn ông cha Nghi, kỳ này cũng đau ốm liên miên.

Tối hôm đó trong căn phòng một mình một bóng, bà Tân mới chịu để nước mắt buông rơi. Thoạt tiên bà chỉ sụt sùi, sau cùng vỡ nghẹn trong tiếng nấc. Con Hương nằm với đứa em gái trong căn phòng bên cạnh. Mệt lả người sau mấy ngày tang của dượng và thằng em, nó đã thiu thiu ngủ. Những tiếng nấc nho nhỏ từ phòng bên cạnh đánh thức con Hương dậy. Nó lắng nghe. Nó rón rén đi ra, gõ nhẹ cửa phòng mẹ nó. Tiếng nấc ngừng hẳn, nhưng bà Tân không trả lời. Con Hương liều. Nó xoay nhẹ nắm cửa. Cửa không khóa. Trong làn ánh sáng mờ mờ của ánh đèn ngủ, con Hương thấy mẹ nó đang ngồi trên giường, hai tay ôm mặt. Nó bước tới, ngồi xuống cạnh mẹ. Bà Tân quay sang, ôm con. Những giọt nước mắt tuôn rơi thấm ướt bờ vai của đứa con đầu lòng,

-Hương ơi!… Chắc Chúa phạt mẹ!

***

Noel chuẩn bị tới. Tuyết rơi đầy đường. Năm nay cha Nghi tổ chức Lễ Giáng Sinh lớn. Trong nhà thờ ông quyết định làm cái hang đá lớn kiểu Việt Nam. Thánh lễ nửa đêm sẽ được cử hành vào 8 giờ tối. Trước lễ, ca đoàn trình diễn liên tục mười bài thánh ca Giáng Sinh. Sau lễ Noel, mọi người tụ họp dưới hội trường ăn uống. Trẻ em dưới mười hai tuổi được phát quà. Chương trình văn nghệ tiếp theo sau do những ca sĩ địa phương và hai danh ca từ thủ đô Quận Cam bay sang phụ trách.

Từ đầu tháng 12 ông kêu gọi nhiều người giáo dân, vào những ngày cuối tuần tới nhà thờ quét dọn, lau cửa, chùi sàn nhà thờ, đánh vẹc-ni bóng loáng hai hàng ghế, làm hang đá, dựng ngôi sao thật lớn trên ngọn tháp chuông cao vút.

Chỉ còn mấy ngày nữa lễ Giáng Sinh sẽ tới. Mọi việc gần như hoàn chỉnh. Nhà thờ, bên trong, nhờ bàn tay của bao nhiêu người, giờ này sạch sẽ bóng lộn. Hang đá Giáng Sinh sơn mầu kim tuyến chiếm gọn một góc phía bên trái khu cung thánh. Chung quanh hang đá, những cây thông xanh ngắt cao hơn 6 feet được trang hoàng với bao nhiêu bóng điện mầu trắng. Tối tối điện bật lên. Bóng đèn trắng chớp sáng trên những cây thông tương tự như những ngôi sao bạc lấp lánh trên nền trời đêm đen. Mùi lá thông thơm nồng bay tỏa khắp ngôi thánh đường. Trên gác đàn, ca đoàn liên tục tập dượt những bài thánh ca bất hủ cho chương trình Vọng Giáng Sinh. Dưới hội trường, sân khấu với màn kéo bằng nhung đỏ cũng đã dựng xong. Trên ngọn tháp chuông cao vút của ngôi thánh đường, đèn cao thế của ngôi sao bằng nhựa trắng thật lớn tự động bật sáng khi màn đêm buông xuống.

Tháng 12 tuyết rơi. Gió lạnh từ phương Bắc rủ nhau kéo về thổi trắng thành phố. Bầu không khí Noel ngập tràn ngôi thánh đường nhỏ bé của người Việt Nam trên vùng đất mới.

Và tự nhiên cây thánh giá lớn treo trên cung thánh rớt xuống đất!

Sáng ngày 22 tháng 12. Cha xứ bước vào nhà thờ chuẩn bị cho thánh lễ lúc 7:30 sáng. Ông nhận ra ánh sáng của ngọn nến chầu leo lét trong cung thánh đã tắt. Bật đèn lên, ông giật mình,

-Lạy Chúa tôi!

Ông kêu lớn tiếng bởi ông nhìn thấy cây thánh giá lớn được treo bằng bốn sợi giây cáp đang nằm sõng soài ngay trên nền đá của cung thánh. Tượng Chúa chịu đóng đinh úp mặt xuống nền gạch. Ngẩng mặt lên, ông thấy bốn sợi dây cáp đang đong đưa qua lại. Rợn người, nổi da gà, ông tỉnh ngủ. Nhẹ nhàng đi tới, ông quỳ xuống bái gối trước cây thánh giá. Với cả hai tay, ông nhấc cây thánh giá lên. Cây thánh giá nhích đi một chút, rồi lại nằm yên. Một lần nữa hít một hơi dài, cha Nghi lấy hết sức lực của tuổi ba mươi tập tạ hằng ngày nhấc cây thánh giá lên. Nhưng lần này cây thánh giá không hề di chuyển dù chỉ là một phân! Cha Nghi có cảm tưởng mình đang ôm trong lòng nguyên một núi đá phủ đầy băng tuyết.

Chỉ còn 10 phút nữa là 7:30 sáng, giáo dân đi lễ lác đác xuất hiện. Người người bàng hoàng nhận ra cây thánh giá đang nằm úp mặt xuống nền gạch. Không ai bảo ai, hai ba người đàn ông phụ nhau nhấc cây thánh giá lên. Nhưng cây thánh giá không lay chuyển. Sau cùng khoảng hai mươi người, cả đàn ông lẫn đàn bà, tất cả mọi người có mặt trong nhà thờ cùng xúm vào. Cây thánh giá vẫn im lìm. Tượng Chúa chịu nạn vẫn cúi mặt xuống nền gạch lạnh giá của một ngày cuối tháng 12 của mùa Giáng Sinh.

Câu chuyện cây thánh giá chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ lan ra khắp thành phố. Tất cả những đài truyền hình, truyền thanh địa phương đồng loại lên tiếng, “Cây thánh giá gỗ rớt úp mặt xuống nền cung thánh! Không ai nhấc nổi!” Bỗng dưng ngôi thánh đường vô danh nhỏ bé ngập tràn tiếng động. Tiếng người phỏng vấn những giáo dân có mặt vào những giây phút đầu tiên. Tiếng đọc kinh của những người đàn bà trong nhà thờ. Tiếng chân chạy tới chạy lui của những người phóng viên ôm dàn máy lớn loay hoay chụp hình cây thánh giá lạ kỳ từ nhiều góc. Ngôi giáo đường, bình thường vắng bóng người, giờ này tấp nập người ra người vào. Cha Nghi quyết định đóng cửa nhà thờ, ngoại trừ cửa chính dành cho những người muốn thử, nâng cây thánh giá lên. Giờ này từ phía cuối nhà thờ, người có đạo cũng như không, đang xếp hai hàng dài dẫn lên tới cung thánh. Hết người này tới người kia, cây thánh giá gỗ vẫn nằm im lìm.

Nguyên một ngày dài sân đậu xe của ngôi thánh đường hẻo lánh tấp nập với bao nhiêu xe cộ ngược xuôi của khách thập phương hiếu kỳ ghé tới tìm hiểu câu chuyện lạ. Dưới mái hiên của nhà thờ, những gian hàng nho nhỏ nhanh chóng được dựng lên. Người ta buôn bán những cây thánh giá gỗ nhỏ được khắc sơ sài theo hình dạng của cây thánh giá lạ kỳ. Người ta treo bảng on sale cho những chiếc áo sweatshirt in hình chụp cây thánh giá nằm úp mặt. Cửa nhà thờ đã khóa lại lúc 11 giờ đêm, tuyết rơi ngập đường xá, nhưng ánh đèn xe cộ vẫn chiếu sáng khu đậu xe của ngôi thánh đường vào lúc nửa đêm về sáng. Trên ngọn tháp chuông cao vút, ánh đèn sáng chói của ngôi sao lạ soi đường dẫn lối cho những người khách phương xa vẫn đang nối đuôi tìm tới ngôi thánh đường.

Tối hôm đó đài CNN phỏng vấn ba người. Một người là thợ chính có trách nhiệm treo cây thánh giá lên trên trần của cung thánh. Người kia là giáo dân, một trong những người đầu tiên có mặt ngay khi câu chuyện lạ kỳ được khám phá. Người còn lại là điêu khắc gia đã làm cây thánh giá gỗ cho nhà thờ,

-Ông là người thợ chính có trách nhiệm treo cây thánh giá lên cách đây bốn năm. Theo như ông, trong trường hợp nào cây thánh giá gỗ có thể bị rơi xuống?

Người thợ trầm ngâm, nhíu mày, lắc đầu, điệu bộ cương quyết,

-Cây thánh giá…cây thánh giá không thể nào rơi xuống được…trừ khi…trừ khi có người cố tình tháo hoặc vặn lỏng bốn cái đinh ốc lớn giữ chặt bốn sợi dây cáp với cây đà ngang trên mái vòm của cung thánh. Bốn sợi dây cáp này được buộc chết vào cây gỗ ngang của cây thánh giá.

Người giáo dân xác định câu nói của người thợ chính,

-Sáng nay khi nhìn lên bốn sợi dây cáp còn treo lủng lẳng trên trần cung thánh, tôi đoán hình như có bàn tay của ai đó nhúng vào vụ này. Người này đã dùng cái kéo lớn cắt đứt bốn sợi dây cáp, bởi tôi thấy rõ ràng bốn đoạn dây cáp nhỏ khoảng một gang tay bị cắt đứt vẫn còn dính liền với cây thánh giá.

Người phóng viên quay sang người giáo dân,

-Ông có nghi ai là thủ phạm đã cắt đứt bốn sợi dây cáp không?

-Không, tôi không biết. Nhưng để làm được chuyện cắt đứt những sợi dây cáp lớn, người này phải có một cái thang cao lắm.

Hướng về người điêu khắc, người phóng viên hỏi,

-Theo tôi được biết, cây thánh giá làm bằng gỗ.

Người điêu khắc gật đầu xác nhận,

-Cây thánh giá làm bằng gỗ sồi. Chiều dài 6.6 feet, chiều ngang 4.9 feet. Tượng Chúa chịu nạn làm bằng thạch cao. Cây thánh giá nặng 40 pound. Tượng Chúa, tôi còn nhớ khoảng 20 pound thôi. Tổng cộng lại, cây thánh giá không thể nào nặng hơn 60 pound.

Người phóng viên ngắt lời của nhà điêu khắc gia,

-Nếu vậy, tại sao không ai nhấc nổi cây thánh giá lên?

-Tôi không hiểu. Với một trọng lượng không quá 60 pound, một người đàn ông bình thường dư thừa khả năng nhấc cây thánh giá gỗ lên. Có một điểm lạ kỳ, cây thánh giá rớt từ trên cao, úp mặt xuống nền gạch, nhưng tượng Chúa bằng thạch cao không hề bị sứt mẻ dù chỉ là một miếng bể nhỏ.

***

Sáng ngày 23 tháng 12 đã tới. Tuyết lại rơi. Những hạt tuyết êm đềm rớt xuống phủ lấp những dấu chân, những vết bánh xe kéo dài ngang dọc trên thảm tuyết trắng của ngày hôm trước. Những vết chân mới lại xuất hiện khắp nơi trên sân nhà thờ. Người ta tiếp tục kéo về ngôi thánh đường nhỏ bé. Nhà thờ vang lên những tiếng đọc kinh nho nhỏ thầm thì của những cụ già da mồi tóc trắng, những người trung niên cổ quấn khăn hoặc cà vạt, áo bỏ vào quần, và luôn cả những người thanh niên thiếu nữ tóc nhuộm xanh nhuộm đỏ, tai, mũi, và môi xỏ nhiều tòng teng, cổ đeo đầy dây chuyền vàng lóng lánh.

Tương tự như ngày hôm qua, hai hàng người vẫn tiếp nối nhau kéo dài vào tới khu cung thánh nơi có cây thánh giá gỗ không nặng hơn 60 pound. Bầu không khí trang nghiêm của ngôi giáo đường và hình ảnh cây thánh giá nằm úp mặt cúi xuống của khu cung thánh khiến mọi người có mặt trong nhà thờ, giáo hay lương, đều e dè khép nép yên lặng trong khi chờ đợi tới phiên mình. Từng người rồi từng người, họ cung kính bái gối trước cây thánh giá, họ mím môi vận dụng sức lực trên đôi bàn tay, họ hít hơi căng phồng những bắp thịt lực lưỡng trên đôi vai, họ nhấc cây thánh giá lên, và rồi họ thất bại. Cuối cùng họ quay xuống, nhập chung với những người đang quỳ trên những hàng ghế gỗ được đánh bóng loáng. Họ cầu nguyện. Họ đọc kinh. Có người khóc nho nhỏ trong miệng. Có người sụt sùi. Có người nấc nghẹn. Nhưng cây thánh giá vẫn không chuyển động dưới bất cứ một đôi tay nào.

Ngay trên trang nhất của báo The New York Times, người ta chạy một hàng tít lớn, “Ngày cuối cùng của nhân loại đã tới?” Những trang kế tiếp ngập tràn bài phỏng vấn những người giáo dân của ngôi thánh đường nhỏ bé. Những trang Websites của Yahoo, Netscape, AOL, những đại công ty điện toán trên thế giới đồng loạt in tấm hình của cây thánh giá đang nằm úp mặt xuống nền gạch. Cạnh tấm hình là những hàng chữ, “Ngày Tận Thế?” hoặc “Lại một trò mới của nhà thờ La Mã?” hoặc “Điềm lạ chi đây?” Tất cả những hàng tít lớn đều được tô đậm với mầu đỏ, mầu máu đỏ tươi. Đài CNN, ABC, FOX News, PBS, và BBC liên tiếp bình luận về cây thánh giá gỗ. Người ta vẫn không hiểu ai đã cắt đứt những sợi dây cáp cứng hơn thép. Người ta vẫn không hiểu tại sao không ai có thể di chuyển nổi cây thánh giá 60 pound. Người ta nghĩ có lẽ những ngày cuối cùng của trái đất và của vũ trụ đã tới. Có người nói họ thấy rõ ràng mặt trời xoay tròn quay tít trên bầu trời. Có người nói mặt trăng tròn của những ngày rằm hiện ra bất ngờ trên nền trời tối đen cuối tháng 12, mặt trăng tròn đỏ như máu. Có người nói ngay giữa ban ngày họ nhìn thấy những đám mây đỏ như lửa mang hình dáng của quỷ vương với hai cái sừng nhọn lững lờ bay trên nền trời xám đen của một ngày cuối tháng 12. Có người nói nước lạnh băng của dòng sông Mississippi, đoạn sông chạy ngang qua thành phố có ngôi thánh đường với cây thánh giá gỗ, tự nhiên đổi sang mầu đỏ của máu; cá tôm chết ngập nổi lềnh bềnh trên mặt sông đỏ đậm. Có người nói trong xứ có thằng bé ba năm nay không nói được một câu sau khi bị xe đụng vào đầu, chấn thương sọ não; giờ này tự nhiên mở miệng nói như sáo. Có người nói ông cha xứ bị cây thánh giá gỗ rớt xuống đập ngay đỉnh đầu trong khi đang chuẩn bị bàn thánh cho thánh lễ sáng sớm của ngày hôm đó; cho nên đã mấy ngày rồi, không ai thấy bóng dáng của ông. Có người nói tối tối có những con chó sói đen tuyền từ khu rừng thông kéo về; từng bầy rồi lại từng bầy chạy nhảy chung quanh nhà thờ; cả bầy sói đen thi nhau ngửa cổ lên nền trời tối, hú vang nghe như tiếng con nít khóc. Có người nói đêm đêm những vết thương trên người của tượng Chúa chịu nạn tự nhiên ứa tràn máu, máu chảy ra loang đỏ cả sàn gạch của cung thánh; nhưng khi trời bình minh tới, máu biến đi; ai vô được nhà thờ vào ban tối, hứng lấy được những giọt máu thánh, người đó sẽ được cứu độ; riêng những giọt máu đỏ, ai đụng vào mọi bịnh tật nan y sẽ biến mất.

Chỉ còn một ngày nữa, ngày 24 tháng 12 sẽ tới. Ba ngày nay ngôi giáo đường được chuẩn bị kỹ lưỡng cho một mùa Giáng Sinh đã hoàn toàn biến mất bầu không khí rộn ràng của mùa Noel, ngoại trừ ngọn đèn cao thế trong lòng ngôi sao lớn trên nóc tháp chuông. Đêm đêm ngọn đèn vẫn tung ra những tia sáng chiếu rọi một khoảng trời tối đen của tháng 12. Không ai buồn cắm điện, hang đá kim tuyến và những cây thông xanh mướt vắng ngắt những ngọn đèn. Ngôi nhà thờ tối om ngoại trừ khu cung thánh, nơi thánh giá gỗ vẫn nằm im lìm buồn thiu. Nhiều người phóng viên muốn gặp ông cha xứ nhưng cửa phòng đóng kín. Bên ngoài, một miếng giấy treo lên, “Please, do not disturb”. Mọi công chuyện trong nhà thờ do ông Trùm của giáo xứ, một người trung niên khoảng bốn mươi tuổi đảm nhiệm.

Hàng người vẫn dài, người ta cố gắng lay chuyển thánh giá. Và người ta tiếp tục thất bại. Hàng người chỉ tan biến lúc 11 giờ đêm là giờ nhà thờ đóng cửa. Cửa nhà thờ đóng lại, người người vẫn không bỏ về. Mãi đến khi những chiếc xe cảnh sát bật đèn, hú còi, đám đông mới chịu giải tán.

Tuyết vẫn rơi. Màn đêm buông xuống. Đêm đen dầy đặc bao phủ. Một ngày nữa, ngày 23 tháng 12 đã trôi qua.

Sáng 24 tháng 12, trời ngưng rơi tuyết. Mầu xám biến mất. Sáng 24, mặt trời đẩy sang một bên những khối mây xám xịt dầy đặc đã liên tục che kín mít bầu trời của tháng 12 hơn một tuần lễ. Những tia nắng bình minh đầu tiên nhẹ nhàng buông xuống rọi sáng tháp chuông nhà thờ. Ngôi sao Noel của tháp chuông vươn cao đón nhận những tia nắng bình minh như muốn tẩy sạch những hạt tuyết đang bám cứng trên mình.

7 giờ 30 buổi sáng, cánh cửa chính của nhà thờ được ông Trùm mở rộng. Những người đầu tiên trong hàng người dài bắt đầu tiến lên cung thánh. Hai người đầu tiên, cây thánh giá vẫn nằm im không động đậy.

Tới người thứ ba, rồi người thứ tư, thứ năm, cây thánh giá gỗ tiếp tục lặng câm. Và người thứ sáu… Mọi người giật mình, sững sờ nhìn lên cung thánh!

Ông Trùm tự tay giật chuông nhà thờ. Ba ngày nay tiếng chuông lặng câm. Giờ này tiếng chuông bừng dậy, hoan ca, reo vui! Chuông ngân dài! Chuông thánh thót! Chuông mừng vui! Tiếng chuông ngân dài vang xa trong bầu trời sáng sớm. Tiếng chuông thánh thót quyện tròn nhảy múa với những tia nắng lung linh rực rỡ. Tiếng chuông mừng vui báo hiệu một ngày mới đã bắt đầu.

8 giờ sáng, những màn ảnh truyền hình đang ngập tràn tin tức của thế giới với nhiều biến động bỗng nhiên dừng lại. Người xướng ngôn viên đài CNN xuất hiện trên màn ảnh nhỏ, thông báo bản tin đặc biệt,

-Gần ba ngày rồi cây thánh giá gỗ trong nhà thờ không ai lay chuyển nổi. Sáng nay lúc 7:45 buổi sáng cây thánh giá gỗ đã được nâng dậy. Hiện giờ chúng tôi chưa biết tên của người này. Theo lời của những giáo dân trong xứ đạo sáng nay trên đường đi làm, bà ta ghé vào nhà thờ. Khi bà nâng cây thánh giá gỗ lên, cây thánh giá 60 pound nhẹ nhàng chuyển mình dưới đôi tay của bà ta. Theo như phóng viên của bản đài đang có mặt tại ngôi thánh đường, cây thánh giá đang được những người giáo dân treo vào vị trí cũ. Theo như chúng tôi được biết, chồng của người đàn bà và đứa con thứ hai vừa qua đời vào tháng 10 vừa qua, sau một tai nạn xe cộ trên xa lộ…

Tuyết lại rơi. Những hạt bông gòn trắng toát nhè nhẹ bay xuống. Chỉ trong thoáng chốc tuyết lại phủ trắng ngôi thánh đường, tuyết thổi trắng tháp chuông, và tuyết bám chặt những hàng cây thông xanh trong khu công viên nhà thờ. Tiếng chuông tiếp tục ngân nga. Chuông của mừng vui. Chuông của hạnh phúc. Chuông của bình an. Bình an ngập tràn trong tâm hồn của từng người trên trái địa cầu mầu xanh lơ vào những ngày cuối cùng của tháng 12. Mùa thanh bình lại ghé về thăm hỏi từng mái ngói, nhẹ nhàng gõ cửa từng căn nhà.

*** 

NĂM 1533, TIN MỪNG ĐƯỢC TRUYỀN VÀO VIỆT NAM

BẠN CÓ THỂ ĐỌC CÁC BÀI VIẾT CHÍNH CỦA BÙI CÔNG THUẤN THEO ĐƯỜNG LINK:

buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

***

NĂM 1533, TIN MỪNG TRUYỀN VÀO VIỆT NAM

Bùi Công Thuấn

           

Các nhà sử học Công giáo như Phan Phát Huồn CssR, Hồng Lam, Lm Trần Anh Dũng (Paris)… và Giáo hội Công giáo Việt Nam đều lấy năm 1533 là mốc lịch sử Tin Mừng truyền vào Việt Nam [1]. Căn cứ để chọn năm 1533 là thông tin trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, quyển XXXIII, trang 6 B (1856-1884), một chính sử của Việt Nam [2].      

NHỮNG KIẾN GIẢI CỦA LM VÕ ĐÌNH ĐỆ

            Trong bài viết: “Thực hư có giáo sĩ I-nê-xu lén truyền giáo ở Đại Việt năm 1533”[3], Lm Võ Đình Đệ đặt vấn đề về “mốc điểm truyền giáo ở Việt Nam”ghi trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục là “bịa đặt”. Ông viết:

            Tóm lại, sự kiện và nhân vật mà Tây Dương Gia Tô Bí Lục và Khâm Định Việt Sử viết về mốc điểm truyền giáo ở Việt Nam là một vấn đề tồn nghi lịch sử, thậm chí là sự bịa đặt của Tây Dương Gia Tô Bí lục, không thể tin tưởng”.

            Để đi đến một kết luận “chắc nịch” như vậy, trong bài viết trên, Lm Võ Đình Đệ lập luận như sau: Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục chép lại Tây Dương Gia Tô bí lục, mà cuốn sách này toàn những điều sai, thế nên điều Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục chép lại về năm 1533 cũng là sai.

            Các bước Lm Võ Đình Đệ triển khai lập luận như sau:

            Trước hết ông dẫn Đại Việt Sử Ký toàn thư, tiếp theo dẫn Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Sau đó dẫn ý kiến của Chu Thiên và Đinh Xuân Lâm. Ông cũng dẫn ý kiến của Trần Thanh Ái và Lm Bùi Đức Sinh O.P.

Mượn ý của Trần Thanh Ái, ông nhận định:

Một trong những lý do mà các nhà nghiên cứu nại vào để đưa ra quan điểm Khâm Định Việt Sử đã lấy nguồn từ Tây Dương Gia Tô Bí Lục về sự kiện I-nê-xu lén vào truyền giáo ở Đại Việt vào năm 1533 là dựa vào mốc điểm ra đời của hai tác phẩm và sự trùng hợp về chi tiết sự kiện. Tây Dương Gia Tô Bí Lục ra đời trước, được khởi thảo từ năm 1794 và được in năm Nhâm Thân, Gia Long 11 (1812). Khâm Định Việt Sử được bắt đầu biên soạn theo lệnh vua Tự Đức từ năm 1856, viết xong 1881, khắc in 1884.”           

Tiếp theo, Lm Võ Đình Đệ “điều tra” nguồn gốc lịch sử, địa lý của  nhân vật I-nê-xu và các địa danh Nam Chân, Quần Anh, Trà Lũ, Ninh Cường. Ông chứng mình rằng những nhân vật và địa danh ấy là không đúng với sự thật. Ông kết luận: “Xét về phương diện lịch sử truyền giáo của Giáo hội toàn cầu nói chung và Giáo hội Việt Nam nói riêng, Tây Dương Gia tô Bí Lục đầy dẫy những nhân vật và sự kiện lịch sử không có trong lịch sử mà không thể liệt kê dài dòng trong bài viết nầy. Ở đây chỉ nêu nhân vật Ingatio mà bài viết nầy đã đề cập”.

            Và từ nhận định ấy, Lm Võ Đình Đệ đã đặt vấn đề “về mốc điểm truyền giáo ở Việt Nam là một vấn đề tồn nghi lịch sử, thậm chí là sự bịa đặt của Tây Dương Gia Tô Bí lục, không thể tin tưởng”.

            Rất tiếc là tác giả không đưa ra một mốc lịch sử truyền giáo nào khác thay thế năm 1533.

THỰC CHẤT CỦA VẤN ĐỀ

  1. Mối quan hệ giữa Đại Việt Sử Ký Toàn Thư với Khâm Định Việt Sử Thông  Giám Cương Mục và Tây Dương Gia Tô Bí Lục.

            Đại Việt sử ký toàn thư (1697),Huyền Tông Mục Hoàng đế, năm thứ nhất (1663) viết:

            “Mùa đông, tháng 10, cấm người trong nước học đạo Hoa Lang. Trước đây, có người nước Hoa Lang vào ở nước ta, lập ra đạo lạ để lừa phỉnh dân ngu. Bọn đàn ông, đàn bà ngu dốt nhiều kẻ tin mộ. Trường giảng đạo người ở hỗn tạp, trai gái không phân biệt. Trước đã đuổi người giảng đạo đi rồi mà  sách đạo và nơi giảng hãy còn, thói tệ chưa đổi. Đến đây lại nghiêm cấm.”

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (1856), quyển XXXIII viết:

“Trước đây, có người Tây Dương gọi là Hoa lang di, vào ở trong nước ta đem đạo dị đoan của Gia tô lừa dối dụ dỗ làm ngu muội dân chúng, những người quê mùa nông nổi phần nhiều tin mộ đạo ấy, họ lập tòa giảng nghe giảng đạo, sự mê hoặc đắm đuối mỗi ngày càng sâu rộng. Trước đã hạ lệnh đuổi người truyền đạo ấy đi, nhưng còn bọn tiểu nhân thấm sâu vào tập tục ấy chưa thay đổi được, nên đến nay lại hạ lệnh cấm.”

Lời chua : Gia – tô: Theo sách Dã Lục, thì ngày tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533) đời Lê Trang Tông, người Tây Dương tên là Y-nê-xu lén lút đến xã Ninh Cường, xã Quần Anh huyện Nam Chân và xã Trà Lũ huyện Giao Thủy, ngấm ngầm truyền giáo về tả đạo Gia tô”.

Nhìn vào văn bản hai đoạn văn, người đọc nhận ra ngay Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục đã viết lại từ Đại Việt sử ký toàn thư, sau đó thêm phần chú giải (Lời chua) cho rõ. Chính văn ghi: “trước đây” không xác định thời gian thì phần chú giải ghi rõ thời gian là “tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ nhất “(1533). Chính văn ghi ”Người Tây Dương” không cụ thể, phần chú thích ghi rõ “người Tây Dương” ấy là Y-nê-xu.           

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục là chính sử, nên nếu có “tục biên” cũng phải căn cứ vào Chính sử (là Đại Việt sử ký toàn thư) không thể “sao chép” lại một “dã sử” như Tây Dương Gia tô Bí lục. Vì những lẽ sau:

Đại Việt sử ký toàn thư được in 1697, trước Tây Dương Gia tô Bí lục (1812).

Tây Dương Gia tô Bí lục là một “ngụy thư” (sách giả) hoàn toàn bịa đặt, xuyên tạc với mục đích chống Ki tô giáo [4]. Nó không phải là một “sử liệu quý giá” như một vài người cố ý ngộ nhận vì mục đích chính trị. Hơn nữa cuốn sách này khi được khắc in năm 1812, tác giả Văn Hoằng cho biết:  ông đã “đóng cửa không ra khỏi nhà, tham khảo rộng thêm các sách truyện ký của người Tây Dương, dọn lại sách này một lần nữa, rồi thuê người viết chữ, khắc bản gỗ đem in để lưu hành cho công chúng đọc. Sách in xong, các nhà hàng bày bán ở các phố chợ trong thành Thăng Long (Năm Gia Long thứ 11 -1812).  Giám mục đốc chính cả kinh, liền xuất 30 nén bạc để mua hết số sách đã in ra và mua luôn cả bản khắc gỗ đem về tòa Tổng giám mục tiêu hủy. Văn Hoằng căm giận, giấu kín trong nhà một bản sao để dành cho hậu thế”[5]

Như vậy chính tác giả Văn Hoằng chỉ còn 1 “bản sao” để dành. Vấn đề là văn bản của Tây Dương Gia tô Bí lục chúng ta có hôm nay có phải là “bản sao” mà Văn Hoằng giữ hay không? Và cuốn sách này truyền đến hôm nay như thế nào? 

Ông Ngô Văn Thọ, người dịch Tây Dương Gia Tô bí lục cũng đặt vấn đề: “Chưa rõ bản sách do Nguyễn Văn Hoằng cất giữ đó có còn đến ngày nay hay không. Chỉ biết rằng về sau sách đó đã được lưu truyền và một truyền bản của nó đã đến với chúng ta. Đó là cuốn sách hiện lưu giữ tại Thư viện khoa Sử Trường đại học Tổng hợp Hà Nội mang ký hiệu HV26. Từ bản đó, năm 1962, Thư viện Khoa học trung ương (nay là Viện Thông tin khoa học xã hội) đã sao chép thêm một bản để tại thư viện ấy (ký hiệu VHv 2137)”.

Về khoa học nghiên cứu lịch sử, Tây Dương Gia Tô bí lục không phải là một văn bản khả tín để tham khảo. Quốc sử quán triều Nguyễn khi viết Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục không thể dựa vào một văn bản không có thật (bởi Văn Hoằng-tác giả của Tây Dương Giatô bí lục chỉ có một bản sao và đã cất giấu đi không ai biết) để viết lịch sử.

2.Xin đối chiếu 3 tác phẩm

  Lm Võ Đính Đệ dẫn ý kiến của  Trần Thanh Ái:các chi tiết liên quan đến việc các nhà truyền đạo Thiên chúa vào nước Đại Việt của hai tài liệu này trùng khớp với nhau hoàn toàn”. Điều này đúng hay sai?

  Bây giờ so sánh 3 đoạn văn:

 Đại Việt sử ký toàn thư (1697)cho biết: vào năm 1663 Lê Huyền Tông (1663-1671) cấm đạo Hoa Lang truyền bá ở nước ta:

            “Mùa đông, tháng 10, cấm người trong nước học đạo Hoa Lang. Trước đây, có người nước Hoa Lang vào ở nước ta, lập ra đạo lạ để lừa phỉnh dân ngu. Bọn đàn ông, đàn bà ngu dốt nhiều kẻ tin mộ. Trường giảng đạo người ở hỗn tạp, trai gái không phân biệt. Trước đã đuổi người giảng đạo đi rồi mà  sách đạo và nơi giảng hãy còn, thói tệ chưa đổi. Đến đây lại nghiêm cấm.”

  Tây Dương Giam Tô bí lục (1812) viết:

“Nước ta về thời Hậu Lê đời vua Trang Tông Dụ hoàng đế, năm Quý Tị niên hiệu Nguyên Hòa thứ I (1533), giặc Tây sai giám mục khâm mạng là Ingatiô lẻn vào lén lút truyền đạo ở làng Ninh Cường, huyện Nam Chân. Trước đó giám mục khâm mạng ở Ma Cao, qua dò la thăm hỏi người Tàu đã biết rõ phong tục và hiện tình nước Nam ta, bèn gửi thư về mật tâu với Giáo hoàng rằng: Nước Nam giáp với nước Thanh, có hai nơi thuận tiện cho việc truyền đạo: một là Gia Định, dân chúng hung hãn, cứng đầu; hai là Nam Chân, phong tục quê mùa cổ lậu. Vả lại ở nước ấy không có lệnh cấm dị ngôn dị phục, mà hiện nay thì hai họ Lê, Mạc đang tranh giành với nhau, trong nước nhiều việc, không ai rỗi mà soát xét những việc nhỏ nhặt. Xin sai giám mục Ingatiô làm khâm mạng, theo thuyền biển mà sang, bảo viên ấy rằng: Nam Chân là nơi phong tục cổ xưa thô lậu, nên đến đó trước”.

Ingatiô sang đến nước ta bèn lẻ vào cư ngụ ở các làng Quần Anh, Trà Lũ, Ninh Cường, đến đâu đều cho tiền, phát thuốc, khiến cho những kẻ ngu khờ phải mang ơn mà chịu nghe giảng đạo. Từ đó đạo Gia Tô mới bắt đầu lan đến nước ta. Về sau môn đồ của Ingatiô đều được phong làm giám mục, xin được lấy tên thánh của thầy làm tên của dòng đạo. Nhưng Ingatiô khiêm tốn không dám nghe theo, chỉ lấy tên Jêsu làm tên gọi của dòng. Từ đó nước ta bắt đầu có giặc Tây Dương lẻn vào cai quản”.

Và đây: Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục viết:

“Trước đây, có người Tây Dương gọi là Hoa lang di, vào ở trong nước ta đem đạo dị đoan của Gia tô lừa dối dụ dỗ làm ngu muội dân chúng, những người quê mùa nông nổi phần nhiều tin mộ đạo ấy, họ lập tòa giảng nghe giảng đạo, sự mê hoặc đắm đuối mỗi ngày càng sâu rộng. Trước đã hạ lệnh đuổi người truyền đạo ấy đi, nhưng còn bọn tiểu nhân thấm sâu vào tập tục ấy chưa thay đổi được, nên đến nay lại hạ lệnh cấm.”

Lời chua: Gia – tô: Theo sách Dã Lục, thì ngày tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533) đời Lê Trang Tông, người Tây Dương tên là Y-nê-xu lén lút đến xã Ninh Cường, xã Quần Anh huyện Nam Chân và xã Trà Lũ huyện Giao Thủy, ngấm ngầm truyền giáo về tả đạo Gia tô

So sánh 3 đọan văn trên, người đọc thấy rõ Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục viết lại từ Đại Việt sử ký toàn thư. Phần chính văn được viết lại gần như nguyên văn. Phần “Lời chua” thì giống với Tây Dương Gia tô bí lục, căn cứ vào “Dã lục”.

Vấn đề là chi tiết về “dã lục”. Lm Võ Đình Đệ dẫn lời của Trần Thanh Ái nhận định rằng: “…nhiều chi tiết cho phép nghĩ rằng dã lục mà Khâm định Việt sử thông giám cương mục sử dụng để nói về việc người Tây dương đến truyền đạo chính là tài liệu Tây dương Gia tô bí lục…”.

Nhận định cho rằng “Dã lục” trong Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục chính là Tây dương Gia tô bí lục không thể thuyết phục vì:

Như tôi đã nói ở trên, sau năm 1812, Tây dương Gia tô bí lục chỉ còn một “bản sao” do Văn Hoằng giữ.  Quốc sử quán triều Nguyễn  không thể dựa vào một văn bản không có thật (bởi Văn Hoằng-tác giả của Tây Dương Giatô bí lục đã cất giấu đi không ai biết) để viết chính sử.

Xin lưu ý rằng, Phạm Công Trứ và các cộng sự của ông được Chúa Trịnh Tạc giao cho khảo đính và viết tiếp Đại Việt Sử Ký Toàn thư. Phạm Công Trứ viết từ năm 1533 đầu đời Lê Trang Tông đến năm 1662 cuối đời Lê Thần Tông. “Nguồn tư liệu mà nhóm Phạm Công Trứ dựa vào để biên soạn giai đoạn lịch sử này gồm “dã sử của Đăng Bính“,sách sót lại của người đương thời dâng hiến“[6]. Trong Đại Việt Sử Ký Toàn thư giai đoạn này có nhiều lời bình của Đăng Bính.

Vậy nếu Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục có ghi “lời chua” về “dã lục”, chắc chắn đó là dã sử của Đăng Bính. Bởi vì phần chính sử đã chép của Đại Việt Sử Ký Toàn thư, thì phần chú thích (Lời chua) cũng sẽ lấy nguồn “dã sử” từ chính sử. Không thể chép phần đầu của Đại Việt Sử Ký Toàn thư , còn phần “Lời chua” lại chép của Tây Dương Gia Tô bí lục.

Hơn nữa, năm 1812 chỉ Văn Hoằng còn duy nhất một “bảo sao” Tây dương Gia Tô bí lục, thì ai còn bản nào khác để Quốc sử quán triều Nguyễn mượn mà viết  Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục (1856-1884).

Và sau 70 năm (Tây dương Gia Tô bí lục in năm 1812. Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục được khắc in 1884), liệu lúc ấy Văn Hoằng có còn sống mà cho Quốc sử quán triều Nguyễn mượn không?

Nói vắn tắt, Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục là chính sử, thì chỉ có thể viết tiếp nối chính sử trước đó là Đại Việt Sử Ký Toàn thư. Không có chuyện Quốc sử quán triều Nguyễn lại dựa vào một loại “ngụy thư” như Tây Dương Gia Tô Bí lục để viết chính sử.

3.Một sử liệu khác:

Năm 1931, khi in lại cuốn Xứ Đàng Trong [7] của Borri (1631), trong “Lời nói đầu”, A. Bonifacy- Đặc phái viên của Trường Viễn Đông bác cổ tại Việt Nam, cũng là giáo sư lịch sử bản xứ tại Trường Đại học Hà Nội -đã viết:

“Năm Nguyên Hòa nguyên niên (đời vua Lê Trang Tông), tức năm 1533, có chỉ dụ cấm một người đến từ vùng biển (Dương nhân) nhân danh Jésus (Gia-tô giảng đạo trong các làng Ninh Cường và Quân Anh thuộc huyện Nam Chân, nay là Nam Trực và trong làng Trà Lũ huyện Giao Thủy, tỉnh Sơn Nam, nay là Nam Định. Người đàn ông đó tên I-ni-khu, có nghĩa là Inigo (Ignace). Đó có lẽ là một vị thừa sai đến từ Malacca”.

Rất tiếc A. Bonifacy không ghi nguồn của sử liệu này. Ông viết như một điều đã thành hiển nhiên. Chúng ta cần lưu ý đến nhân thân của ông là Đặc phái viên của Trường Viễn Đông bác cổ tại Việt Nam, và là giáo sư lịch sử bản xứ tại Trường Đại học Hà Nội. Bài viết của ông trong cuốn Xứ Đàng Trong tiếp ngay dưới bài của L. Cadière, một nhà Việt Nam học uy tín.

Trường hợp của A. Bonifacy viết về năm 1533, chúng ta đánh giá thế nào? Liệu có thể kết luận như Lm. Võ Đình Đệ rằng A. Bonifacy cũng lấy nguồn từ Tây Dương Gia Tô bí lục không? Một “giáo sư lịch sử” như A. Bonifacy chắc chắn phải dựa trên một cứ liệu đáng tin cậy để viết (lúc ấy không ai biết cuốn Tây Dương Gia Tô bí lục đang lưu lạc ở đâu).

KẾT LUẬN

Có thể xác định điều này: Phần lịch sử trong quyển IX của Tây Dương Gia Tô bí lục là do người sau viết thêm vào, vì có nhắc đến những sự kiện sau 1812 như chiến tranh nha phiến ở Trung Quốc (1840-1842) và (1856-1860)…Vì thế, phần viết về năm 1533 cũng là phần do người khác viết thêm vào sau này, chắc chắn là sau chiến tranh nha phiến ở Trung Quốc (1860).

Khâm Định Việt sử thông giám cương mục được khởi viết từ 1856. Như đã trình bày ở trên,  nó độc lập với Tây Dương Gia tô bí lục. Những ý kiến cho rằng “Khâm Định Việt Sử đã lấy nguồn từ Tây Dương Gia Tô Bí Lục” chỉ là những võ đoán.

Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim viết năm 1919 (cuốn sách lịch sử đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ), phần “Tự chủ thời đại”, chương VII: “Người Âu sang nước Nam”, mục: “Sự đi truyền đạo” cũng trích Khâm Định Việt sử thông giám cương mục nói về năm 1533.

Bộ Lịch sử Việt Nam của Viện Sử học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Tập 4: Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII. Nxb Khoa học xã hội- 2017, tr. 500 cũng ghi:

            “Đến thế kỷ XVI, việc truyền giáo vào Việt Nam đã được xúc tiến mạnh hơn. Sách Việt sừ thông giám cương mục còn ghi lại sự kiện vào năm 1533, dưới đời vua Lê Trang Tông có một giáo sĩ phương Tây tên là Inêkhu (Ignatio) đã lén lút đến các xã Ninh Cường, Quần Anh (huyện Nam Chân) và Trà Lũ (huyện Giao Thủy) thuộc ven biển Nam Định để bí mật truyền đạo, nhưng không thu được kết quả”.( Cương mục, quyển 33, tập II, Sđd, tr. 301)

Năm 1533, Tin Mừng được truyền vào Việt Nam là năm được chính sử của Việt Nam ghi nhận, đó là một cứ liệu đáng tin cậy.

Bùi Công Thuấn tháng 11/2021

   ________________________

[1] Lm. Phanxicô Đào Trung Hiệu, OP: Lược Sử Giáo Hội Việt Nam -Dấu Ấn 350 Năm Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Nhà Xuất Bản Đông Phương, 2010
-Lm Trần Anh Dũng, Paris: SỬ LƯỢC GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM ( 1533 – 2000 )

http://www.simonhoadalat.com/hochoi/giaohoivn/LichSu/LichSuGHCGVN.htm

-Hồng Lam: Lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam-chú giải của L. Cadière-Đại Việt Thiện bản Huế 1944

-Phan Phát Huồn CssR: Việt Nam Giáo sử, quyển 1, in lần II, năm 1965 tr. 35

-Lm Vinc Bùi Đức Sinh OP: Lịch sử giáo hội Công Giáo.Nxb Chân Lý, Sài Gòn 1972, được tái bản có hiệu đính, tại California, USA năm 2001.

[2] Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mụcq. XXXIII, tập II, tr. 301, Viện Sử học, NXB. Giáo dục 1988

[3] Võ Đình Đệ: “Thực hư có giáo sĩ I-nê-xu lén truyền giáo ở Đại Việt năm 1533

https://gpquinhon.org/q/truyen-giao/thuc-hu-co-giao-si-inexu-len-truyen-giao-o-dai-viet-nam-1533-4918.html

[4] Bùi Công Thuấn: Tây Dương Gia Tô bí lục-Những nghi vấn

[5] Tây Dương Gia Tô bí lục: Quyể IX

[6] Đại Việt Sử ký toàn thư-https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_s%E1%BB%AD_k%C3%BD_to%C3%A0n_th%C6%B0

[7] Cristoforo Borri: Xứ Đàng Trong-Thanh Thư dịch-Nxb Tổng hợp TpHCM. 2019

THƠ SƠN CA LINH

Giới thiệu những khuôn mặt thơ Công giáo đương đại

THƠ SƠN CA LINH

Bùi Công Thuấn

***

Nhà thơ Sơn Ca Linh

Sơn Ca Linh là bút danh ghi dưới tên những bài thơ của Lm Giuse Trương Đình Hiền [1]. Ngài hiện là Tổng Đại diện Giáo phận Quy Nhơn. Tôi cần giới thiệu rõ điều này, bởi vì là một Linh mục, khi diễn ngôn, nhà thơ Sơn Ca Linh sẽ phải tự giới hạn đề tài, phạm vi phản ánh cuộc sống, và thái độ với hiện thực. Linh mục là người của Chúa, là hiện thân của Đức Giêsu giữa đời thường hôm nay, vì thế một nhà thơ Linh mục không thể viết như một người thế tục. Sự chọn lựa đề tài, nội dung, cách thể hiện tư tưởng và nghệ thuật của nhà thơ Linh mục đều kín múc từ Kinh thánh và hướng đến mục đích loan báo Tin Mừng. Nhưng một nhà thơ loan báo Tin Mừng sẽ khác với một Linh mục giảng Kinh thánh trên tòa giảng.

Tôi sẽ chỉ nói đến phẩm chất thi nhân của Sơn Ca Linh trong thơ. Tôi đã đọc hơn 200 bài thơ của Sơn Ca Linh đăng trên trang web của Giáo phận Quy Nhơn. Quả thực thơ Sơn Ca Linh có nhiều điều cuốn hút tôi. Đó là một cánh đồng nghệ thuật phong phú sắc màu, trên đó hiện lên khuôn mặt nhà thơ vừa thâm trầm sâu sắc vừa dung dị hồn nhiên và có nhiều đường nét mới lạ.

CÁNH ĐỒNG NGHỆ THUẬT ĐA SẮC MÀU

Phẩm chất thi nhân của một người làm thơ (nhà thơ) được xác định trước hết là ở sự sáng tạo những tứ thơ mới lạ giàu thẩm mỹ, ở những quan sát tinh tế, những xúc cảm mãnh liệt của một trái tim ngân rung tình yêu Con người và ở khả năng làm mới ngôn ngữ để thể hiện Cái Đẹp. Nhà thơ, người sáng tạo Cái Đẹp. Trái lại, Thợ thơ (chữ của Nam Cao), là người làm theo quán tính bắt chước, hô những khẩu hiệu nhạt nhẽo.

Thơ Sơn Ca Linh có những hạt châu ngọc của ca dao. Bài ca dao “Trâu ơi” là một bài ca dân dã rất đẹp cả về hình tượng và tư tưởng. Sơn Ca Linh có bài “Gọi trâu” cũng với vẻ đẹp trân quý như vậy. Sự sáng tạo là ở khả năng khám phá và nâng cao tư tưởng cánh đồng cỏ với con trâu trong thơ ca dân tộc thành cánh đồng truyền giáo.

GỌI TRÂU
(Chút cảm nhận về “Trâu” và “cánh đồng truyền giáo”)

“Trâu ơi ta bảo trâu nầy,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta”
Kẻo mùa xuân lại đi qua,
Hạ về đông lại nước ra đầy đồng…
Cây xoan vừa mới trổ bông,
Bờ quê vạn thọ đã hồng môi xinh.
Gió mùa xuân nắng thuỷ tinh,
Luống sâu chân bước có mình với ta.
Bùn lầy nước đọng nẻo xa,
Con chim én liệng reo ca lưng trời.
Bây giờ vất vả đầy vơi,
Mùa lên trĩu hạt… trâu ơi, ngại gì!

Thơ Sơn Ca Linh cũng có những bài mang vẻ đẹp của thơ Lãng mạn: giàu có về nhạc điệu. Tứ thơ đầy sắc màu và cái tôi trữ tình tha thiết mênh mang. Sự khác biệt với thơ Lãng mạn là ở chỗ thơ Lãng mạn đẩy Cái Tôi cá nhân lên mức cực đoan, còn thơ lãng mạn của Sơn Ca Linh lại lấp lánh vẻ đẹp Đời Dâng hiến.

Yên lặng lắm mới nghe lời thỏ thẻ,
Và lắng tai mới rõ tiếng thì thầm.
Có ai qua xin bước dùm bước nhẹ,
Kẻo giật mình mà cỏ lại lặng câm!…
            (Lời thì thầm của cỏ)

Mỗi mùa thu trở lại,
Ta nghe rộn ràng những bước đi xa…
Chẳng phải lá vàng, như những khúc tình ca,
Về cội đất như một lần vĩnh biệt.

Chẳng phải sông kia, lời tạ tình tha thiết,
Xa biệt bãi bờ để tan biến giữa đại dương.
Chẳng phải áng mây lãng đãng tím hoàng hôn,
Chợt mất hút cuối chân trời biêng biếc…
            (Mùa thu và những chuyến đi xa – Mến tặng các nữ tu qua những lần “chuyển xứ” vào mỗi dịp mùa thu-tháng 9)

Thơ Đường luật của Sơn Linh Ca rất chuẩn mực về niêm luật nhưng lại rất mới ở nội dung Kinh thánh. Đường luật cổ điển đầy dẫy điển tích Trung Quốc. Đường luật của Sơn Ca Linh dung dị với những điển ngữ “nhà đạo”.

“Phố thánh vườn thiêng” rạng đỉnh đồi (1),
Trinh nguyên e ấp đoá “Môi Khôi” (2),
Rạng ngời sắc thắm soi muôn cõi,
Bát ngát hương thiêng toả khắp nơi.
“Bốn Sự nhiệm mầu” (3) ơn Cứu độ,
“Mười Kinh thánh đức” (4) phúc Tin Vui.
Hoa hồng muôn cánh dung nhan Mẹ,
Ngập lối linh ân mãi tận trời !
            (Đường luật Mân Côi)[2]

Đặc sắc thơ Sơn Linh Ca là những bài thơ tự do. Những bài thơ này phá cách về số câu số chữ nhưng vẫn giữ âm điệu của thể thơ 7- 8 chữ. Bài thơ có cấu trúc lập luận. Có khi là lập luận tương phản: tương phản giữa Kinh thánh và thế tục; có khi là lập luận theo tuyến tính “xưa-nay”; nhiều bài có cấu trúc quy nạp, các luận cứ dẫn đến kết luận ở cuối bài. Sơn Ca Linh kết hợp cấu trúc lập luận với tự sự (kể truyện) và “cảm nhận” vấn đề, vì thế bài thơ được kiến tạo đa tầng: kết nối lịch sử với hiện tại, kết nối Kinh thánh với cuộc đời, kết nối những vấn đề chung với “cảm nhận” riêng của tác giả. Những bài thơ này định vị một phong cách thơ rất riêng của Sơn Ca Linh so với thơ Xuân Ly Băng, Trăng Thập Tự, Lê Đình Bảng.

Sơn Ca Linh cũng khai phá một con đường nghệ thuật mới mẻ so với thể “Diễn ca” và thể “Huấn ca” truyền thống của thơ ca Công giáo. Con đường này vượt trội so với kiểu “Thơ ca cầu nguyện” mà nhiều tác giả giáo dân hiện nay đang theo đuổi. “Diễn ca” là diễn Kinh thánh (văn xuôi) thành ca vè để dễ học dễ thuộc. “Thơ ca cầu nguyện” cũng diễn ca Kinh thánh, từ đó viết thêm phần cầu nguyện (thường là theo một công thức nhất định). Cả hai lối thơ “Diễn ca” và “thơ ca cầu nguyện” đòi buộc người viết phải giữ trung thực ý và lời của Kinh Thánh, vì đó là Lời Chúa. Nếu viết khác (chẳng hạn, chỉ lấy ý không giữ Lời) thì sẽ là sự xuyên tạc. “Cảm nhận” cho phép nhà thơ hoàn toàn xây dựng hình tượng, kiến tạo tác phẩm theo ý của mình. Sức hấp dẫn của thơ Sơn Ca Linh chính là ở những “cảm nhận” rất riêng, rất mới và những sáng tạo có tính đột phá này. Xin đọc:

ĐÊM, VÀ NHỮNG BƯỚC CHÂN BUỒN !
(Chút cảm nhận Tin Mừng thứ Ba Tuần Thánh : Ga 13,21-33.36-38)

Trang Tin Mừng “Thứ Ba Tuần Thánh”,
Tông Đồ Gioan kể câu chuyện sắp vào đêm:
“Nhóm Mười Hai” với Thầy, bữa cơm chiều ấm êm,
người tựa ngực, kẻ kề vai, chén thù chén tạc…

Đang giữa bữa bỗng mọi người ngơ ngác
“Giữa anh em đang có kẻ nộp Thầy”!
Không lẽ… Không lẽ…. chính là đây?
“Người nhận chính tấm bánh Thầy trao đó!”

Tiếng cười vẫn râm ran, giờ bỏ ngỏ…
Khi Giu-đa vừa lặng lẽ ra đi.
Hoàng hôn đen chợt ùa đến tức thì,
Theo bén gót nhạt nhoà sâu mất hút !

Thế giới muôn nơi, vẫn những đêm dài côi cút,
Những bữa cơm chiều của phản bội, chia xa.
Những bước liu xiu ngập bóng tối lạc loà,
Chồng bỏ vợ, mẹ lìa con, thầy trò chối bỏ…

Chuyện “Bữa cơm chiều” của ngày xưa còn đó,
Bước chân buồn Giu-đa lại trở về!
“Mái ấm Tiệc Ly”, câu chuyện tình duyên nợ!
Nhắc ai đừng chọn “bóng tối chia ly”!
           (Thứ Ba Tuần Thánh 2019)

Ba khổ thơ đầu là kể chuyện Kinh thánh (tự sự), là luận cứ thứ nhất. Khổ thơ thứ tư kể chuyện thế giới hôm nay, là luận cứ thứ hai (tuyến tính thời gian “xưa-nay”). Hai câu kết là chủ đề. Luận cứ 1 và luận cứ 2 dẫn đến chủ đề, đó là cấu trúc quy nạp. Nhạc thơ là nhạc của thể thơ 7-8 chữ phá cách. Bút pháp kể chuyện (tự sự) kết hợp với “cảm nhận” tạo nên sự sinh động của nội dung và sâu sắc về tư tưởng. Khổ thơ thứ 3 là một tứ thơ rất mới lạ gây ấn tượng mạnh. Diễn ngôn của thơ là loan báo Tin Mừng (kể lại chuyện Kinh Thánh) và thuyết phục (không phải là giáo huấn kiểu “Huấn ca”) người đọc tin vào Kinh thánh.

Một đặc sắc khác của thơ Sơn Ca Linh là không có sự xuất hiện chủ thể diễn ngôn (“Cái Tôi”) cá nhân. Điều này rất khác với thơ trữ tình. Nhân vật “Tôi” trong thơ trữ tình che khuất cả bài thơ. Nguyễn Bính: “Nắng mưa là bệnh của trời/ Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. “Tôi” sánh ngang với “trời”. Trong thơ Sơn Ca Linh, nhà thơ (tác giả) hóa thân vào nhân vật, nói tiếng nói của nhân vật. Vì thế tiếng thơ là tiếng nói của đông đảo công chúng. Ta nghe được tiếng của người xưa và tiếng của ngày hôm nay. Thời gian và không gian thơ là một thế giới đồng hiện.

Trong thơ Sơn Ca Linh, khi “Tôi “lên tiếng, có khi là tiếng nói của các tông đồ (Cứ ngỡ là dư ảnh), có khi là tiếng nói của đám đông (Bình minh “ngày thứ nhất trong tuần”), là lời trò chuyện của đôi uyên ương (Thỏ thẻ mùa xuân), là “tụi tui”, một lũ bạn bè lúc nhỏ (Tết và mùi hương hoa cũ; Chuyện kể “Têrêsa nước ra đầy đồng”), là lời của Đức Giêsu (Biết đến bao giờ), lời của “một người khô đạo” (Xin mời Ngài nán lại), lời của bà mẹ buôn gánh bán bưng (Ai sầu hơn ai), lời của công chúng luận tội Giuđa (Nghĩ…tội Giuđa), lời của chậu hoa mãn nguyện vì có một mùa xuân thánh thiện (Tâm sự chậu hoa tết ở nhà thờ), lời của Đức cha Vinc Nguyễn Văn Bản về thăm Làng Sông (Bỗng dưng nghe lời của mẹ); lời của Cái Ta hòa trong nhiều con người (Khúc niệm ca Tuần Thánh; Lời phán xét chiều nay). Cũng có khi Sơn Ca Linh bộc lộ trức tiếp “Cái Tôi trữ tình”, nhưng rất hiếm, nhưng Cái Tôi ấy mang phẩm chất của Đức tin, không phải là “Cái tôi” vị kỷ trong thơ Lãng mạn (Ta mừng tuổi ta; Chiêm niệm; Như cánh hoa vừa rụng; Ta tìm trở lại con đường ấy). Sự đa dạng của “Cái Tôi” trữ tình trong thơ Sơn Ca Linh là một đặc điểm phong cách, tạo nên sự phong phú nghệ thuật của giọng điệu thơ, giọng đa thanh hiện đại.

Xin đọc Dẫu đời anh mang nhiều vết sẹo. Đây là lời tự tình của “Anh” nói với “Em”. Bài thơ xây dựng được hình tượng Đức Giêsu qua một góc “cảm nhận” rất trung thực, nhưng rất lạ. Giọng thơ (giọng của Đức Giêsu) cũng là giọng khác hẳn với những gì người giáo dân quen được nghe Chúa nói trong Kinh thánh (Chúa phán, Chúa nói, Ta bảo thật các ngươi. Người mở miệng dạy họ, Người bảo các ông…): Câu Kinh thánh dùng làm đề từ là: (Rồi Người bảo ông Tô-ma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Ga 20,17)

Chẳng giấu gì em,
Quá khứ đời anh cả một trời bất hạnh,
Long đong nhiều ngay tự buổi mới sinh.
Giữa mùa đông lạnh máng cỏ hôi tanh,
Mẹ mượn đỡ chút hơi lừa sưởi ấm…

Chưa dứt sữa phải lao lung lận đận,
Theo mẹ cha trôi nổi kiếp di cư.
Hết bị người đời truy sát loại trừ,
Lại phải phận nghèo mồ hôi ướt áo…

Tay chai sạn đổi bát cơm hạt gạo,
Sáng cưa chiều đục, mưa nắng dãi dầu
Kiếp thợ nghèo luôn thiếu trước hụt sau,
Thân bèo bọt mãi trầy vi tróc vảy…

Chẳng giấu gì em,
Tuổi 33 mà công chưa thành danh chưa toại,
Hết bị đồng hương ném đá khinh chê,
Người thông luật, giới tăng lữ, kết án đủ bề,
Cả môn sinh cũng hè nhau chối từ phản bội…

Và cuộc đời anh, bây giờ em thấy đó,
Ghi trên thân mình hằn đủ vết thương đau,
Tay chân, cạnh sườn in vết sẹo sâu,
Là chứng tích của câu chuyện dài “Thập Giá” !

Thân xác phục sinh,
Mà mang toàn vết sẹo, quả là chuyện lạ !
Nhưng lại là chứng tích oai hùng của Vượt Qua.
Dấu tình yêu muôn đời và khắp cõi bao la,
Nên em ơi,
Có yêu anh, tin anh,
Em hãy đón nhận anh với muôn ngàn vết sẹo !
            (Tuần Bát Nhật Phục Sinh 2019)

Ngôn ngữ trong thơ Sơn Ca Linh là ngôn ngữ hướng về công chúng, có nhiều “khẩu ngữ”, có nhiều trích dẫn và đôi khi là “chơi chữ” dân gian, có tính hài. Khi nhà thơ hướng về công chúng, nói chuyện, chia sẻ với công chúng; kêu gọi, cổ vũ công chúng, hoặc nhắc nhở thân tình, thì nguyên tắc giao tiếp cần có là dùng ngôn ngữ của công chúng, ngôn ngữ đương đại với nhiều khẩu ngữ. Đây cũng là đặc trưng nổi trội của thơ ca dân gian. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, có sức gây ấn tượng lâu dài. Tuy nhiên, nếu không cẩn trọng, khẩu ngữ sẽ làm mất đi vẻ đẹp ngôn ngữ thơ ca. Điều ấy tùy thuộc vào tài năng của nhà thơ. Bài thơ sau đây, khẩu ngữ được sử dụng rất hay:

“Thích quá đi thôi,
Những cành lá xanh, gần gũi, dung dị tự thuở nào,
Vừa che mát, vừa biểu cảm tâm tình đơn sơ chân chất.

Chúa cũng thích mà,
Chỉ một “chú lừa con”, đâu cần lọng vàng, cờ quạt.
Những cành lá xanh, đủ rồi, cho một cuộc “Giá lâm”!
“Hổng phải sao”, 33 năm trước, nơi hang lừa máng cỏ tối tăm,
Ngài đã đến, đã bỏ ngai trời giáng thế.

Rồi suốt 30 năm,
Cái đục, cái cưa, cái chàng, cái búa…,
Kiếp thợ mộc nghèo, nào “Thượng Đế có từ nan”!
3 năm rao giảng, hết lên bắc lại xuống nam,
Đôi chân đất, nhiều phen đói lòng, khô khát…!
Bên bờ giếng Samari : “Chúa mà xin nước!”
Trên thuyền Phêrô, “ngủ gà ngủ gật”, thấy mà thương!

Chim sẻ trên cây, cánh huệ bên đường,
Hèn chi, Ngài đã mượn làm “dụ ngôn phó thác”!
Vì đã hiểu, quyền lực, giàu sang… chẳng qua là cỏ rác,
Nên Chúa hồn nhiên yêu chuộng kiếp sống nghèo.

Nên đến cuối đường,
phụ nữ, trẻ em, bọn cùng đinh…vung cành lá vang reo:
“Hoan hô Đấng Nhân Danh Chúa mà đến” !…”

                            (Nét hồn nhiên của Chúa)

NHỮNG VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG

Sơn Ca Linh làm thơ về các mùa phụng vụ, về những sự kiện, những sinh hoạt tôn giáo; hoặc những vấn đề đời thường thách thức lương tâm Công giáo. Đó là những “cảm nhận” Kinh thánh mùa Giáng sinh, mùa Phục Sinh, về Đức Mẹ, các thánh; các sinh hoạt mục vụ đời thường như Mừng thụ phong Linh mục, Mừng lễ khấn dòng, về Đời dâng hiến, Khai mạc Năm Thánh, Đức Giám mục thăm mục vụ, Mừng bổn mạng, đưa tiễn người qua đời, Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng thánh đường và các hiện tượng đời sống hàng ngày như bão lụt, dịch Covid, suy tư về thân phận người phụ nữ, …Mỗi bài thơ thường có một câu Kinh Thánh làm đề từ định hướng người đọc về nội dung, chủ đề thơ, từ đó nhà thơ sáng tạo câu chuyện, xây dựng hình tượng, chọn lựa cách viết và khám phá “sứ điệp’ của Tin Mừng.

Nhưng nếu chỉ là vậy thì thơ Sơn Ca Linh sẽ tan vào dòng thơ “diễn ca”, thơ “Huấn ca” truyền thống, không để lại ấn tượng gì. Xin lưu ý rằng, ngay sau nhan đề bài thơ, tác giả thường ghi: “Chút cảm nhận về sứ điệp Tin Mừng”, “Chút cảm nhận Phục Sinh”, “Chút cảm nghiệm về Chúa Thánh Linh”, “Một thoáng suy niệm về Thánh Giuse”, hoặc “Chút suy tư từ chuyện “cách ly mùa Covid” và “tấm lá của A-đam, E-va”; hoặc “Chiêm niệm”, “Chút hoài niệm về…” , “Chút cảm nhận hoài niệm 45 năm “hải chiến hoàng sa”nghĩa là, thơ Sơn Linh Ca không phải chỉ là “diễn ca”, mà là thơ tư tưởng, là suy tư về những vấn đề tư tưởng.

Vấn đề tư tưởng căn cốt nhất trong thơ Sơn Ca Linh là sự hiện hữu của Đức Giêsu trong thế giới hôm nay. Đức tin Công giáo dạy chúng ta rằng, Đức Giêsu là đấng Cứu độ duy nhất. Người hiện hữu với chúng ta hàng ngày mãi đến ngày tận thế. Nhưng trong nhận thức xã hội, Đức Giêsu chỉ là con người lịch sử, một nhà sáng lập tôn giáo, một nhà tư tưởng, một nhà cách mạng. Đó là một con người đã sống cách nay hơn 2000 năm, một nhân vật của quá khứ như nhiều nhân vật khác. Sơn Ca Linh đã tập trung khắc họa hình tượng Đức Giêsu đang ở giữa chúng ta, trong mọi cảnh ngộ, chia sẻ mọi nỗi niềm với chúng ta, và đem đến cho chúng ta ơn Cứu rỗi.

Xin đọc

NGÀI ĐI NGANG QUA NƠI ẤY
Thấy Đức Giêsu đi ngang qua… (Ga 136)

Đâu có tình cờ,
Chẳng phải bàng quan,
Hơn một lần “Ngài đi ngang qua nơi ấy”!

Nơi có những chàng trai mộng đời đang dậy,
Có thuyền, có lưới,
có cha mẹ già có cả người yêu…
Ngài đi ngang qua để lại đôi mắt diễm kiều,
“Con mắt có đuôi” mang tia nhìn vẫy gọi!

Ngài đi ngang qua,
Như để có người “bước theo” và đi tới,
Tìm minh quân, tìm ngọc quý, tìm cả kho tàng…
Hay để có người, khước từ cả “nghĩa tào khang”,
Chỉ để được “ở lại với Ngài” mà thọ giáo!

Ngài đã đi ngang qua trên vạn nẻo đường thế giới,
Để người mù trông thấy, để kẻ què đứng lên,
Để những bọn phần thu, cùi hủi… không tên,
có bánh được chia đều, được tiệc tùng rượu mới…

Ngài đã đi ngang qua để sẵn sàng đứng đợi,
Đợi người con tả tơi phóng đảng quay về,
Đợi Lêvi bỏ bàn thu thuế, đợi tiệc của Giakê
Đợi giọt nước mắt ăn năn của cô nàng gái điếm…

Ngài đi ngang qua,
Để chạnh lòng, để bao dung tìm kiếm,
Tìm những con chiên lạc vai vác mang về,
Để trao con trai
Cho những “bà goá mất con” đẫm lệ tái tê,
Và những “thiếu phụ lộn chồng” được phục hồi phẩm giá…

Ngài đã đi ngang qua,
Để Bắc, Trung, Nam không con là những “Samari xa lạ”,
Và trên vạn nẻo “Giêricô”,
ai cũng chợt nhận mình là lân cận anh em!
Để những người công nhân “giờ thứ mười một” vững tin,
lương bổng đủ đầy trong “Vườn Nho Nước Chúa”…

Và Ngài đã đi qua,
Nơi ấy “Canvê” một chiều nắng úa,
Bụi bặm, hỗn hào, thập giá, máu loang…
Nơi ấy “mộ hoang” một sáng huy hoàng,
Đường Giêrusalem ngập “Tin mừng Sống lại”!

Và hôm nay,
Ngài vẫn đi ngang qua những “con đường xưa ấy”,
Vẫn “ánh mắt có đuôi” vang tiếng gọi mời:
“Hãy đến mà xem”,
Xem gì, chẳng nhà, chẳng chỗ, chẳng nơi…
cả “viên đá gối đầu” cũng không,
vâng, chỉ Ngài thôi, Đường, Sự Thật, Sự Sống!

            Đọc bài thơ, chúng ta nhận ra Đức Giêsu gần gũi biết bao. “Và hôm nay,/ Ngài vẫn đi ngang qua những “con đường xưa ấy”, vẫn vang tiếng gọi mời chúng ta.

Khả năng tổng hợp Kinh thánh của Sơn Linh Ca thật tuyệt vời; những suy niệm, khám phá, cảm nghiệm của nhà thơ đã khắc tạc một cách sống động hình ảnh Đức Giêsu đang ở bên ta mỗi ngày trên vạn nẻo đường. Hình ảnh này, nghiệm suy này làm phong phú hơn những gì người giáo dân được nghe giảng trong nhà thờ về Đức Giêsu, bởi đây là hình tượng văn học, hình tượng tư tưởng-thẩm mỹ, khác với những tín niệm Thần học, triết học về Đức Giêsu. Xin đọc thêm các bài thơ: Nét hồn nhiên của Chúa, Dẫu đời anh mang nhiểu vết sẹo, Dấu chân Ngài trên bãi bờ cuộc sống, Bước chân của đấng Emmanuel, Ta vẫn đợi chờ con, Thiên thu anh vẫn đợi chờ, Nắm lấy bàn tay con, Biết đến bao giờ, Câu chuyện dòng sông, Lỡ một chuyến đò vui, Con thuyền xưa đã quên đâu, Bản xét mình mùa chay, …

Vấn đề tư tưởng thứ hai xuất hiện nhiều trong thơ Sơn Ca Linh là lẽ tử sinh. Nhà thơ chứng kiến cái chết của nhiều người thân yêu và không cầm lòng được:  Cảm nhận về sự chết trong mùa Covid (Chị chết “đẹp” mà ta!), Hạt mầm và bụi tro. Tưởng nhớ 5 linh mục Qui Nhơn liên tiếp qua đời (Bao giờ mới hết mùa “thương”). Ghi niệm ngày cha Phêrô Đặng Son từ giã cõi trần (Anh về). Trong cùng một buổi sáng: Mừng 10 anh em lãnh nhận chức Phó Tế và mừng cha Stêphanô Dương Thành Thăm “về nhà Cha”- Thứ Năm Đầu tháng ngày 1.7.2021 (Đã có một buổi sáng diệu kỳ). Chút cảm nhận về “chuyến về Nhà Cha” của linh mục Luca Nguyễn Huy Kỳ (Mừng anh đã về nhà Cha). Chút cảm nhận về cuộc đời từ sự “qua đời” của cha Hoàng Kym (Một thuở “Hoàng Kim”), Chút cảm nhận về cuộc “ra đi về nhà Cha” của cha Phêrô Hoàng Kym (Một thoáng bây giờ đã thiên thu). Tưởng niệm về anh Gioakim Võ Văn Hào, cựu chức việc – thành viên ban truyền thông giáo xứ Tuy Hoà (Cho một người vừa “đi xa”). Chút suy tư và cảm nhận từ cái chết thương tâm của cô sinh viên tại Điện Biên (Chiếc xương sườn bị đánh cắp). Chia sẻ nỗi buồn của một “Bà Goá Nghèo” vừa mất đứa con trai một tại giáo xứ Hóc Gáo (Lại có một con đường Na-im như thế!), Vọng tưởng những thầy cô đã nằm xuống (Nén hương lặng thầm)…

            Từ xưa đến nay, lẽ tử sinh đã là một vấn đề tư tưởng của tôn giáo và triết học. Lẽ tử sinh nằm trong Khổ đế (chân lý thứ nhất) của Phật giáo: “Sinh, lão, bệnh tử”. Câu thơ của Nguyễn Gia Thiều có sức ám ảnh kỳ lạ: “Trăm năm còn có gì đâu/ Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì”. Lẽ tử sinh cũng là suy tư của triết học Hiện sinh. Hiện sinh là hiện sinh quy tử (Being toward Death-Martin Heidegger). Sống là đi về cõi chết. Lẽ tử sinh cũng nằm trong Thiên mệnh của Nho giáo. Người xưa tin rằng “sống chết có số, phú quý do trời”. Nguyễn Du viết: “Gẫm hay muôn sự tại trời” (Đoạn trường tân thanh). Tất cả những suy tư triết học đó đều dẫn đến bế tắc và hư vô. Sơn Ca Linh nhìn lẽ tử sinh theo Thần học Kitô giáo. Chết là “về nhà Cha”, “quê hương chúng ta ở trên trời”, vì thế, đó là niềm vui. Trong cùng một buổi sáng: Mừng 10 anh em lãnh nhận chức Phó Tế và mừng cha Stêphanô Dương Thành Thăm “về nhà Cha”- thì đó là một bi đát hiện sinh. Nhưng tư tưởng của Sơn Ca Linh thanh thoát vô cùng:

Trên cung Thánh mười anh phủ phục,
Nằm mà nghe khúc nhạc êm đềm.
Nghe tiếng Kinh Cầu ơn “Thánh chức”,
Chết cho đời hiến tế con tim…!

Dưới kia bên nhà hưu lặng lẽ,
Linh mục cuối đời thở hơi ra.
Một chút nữa thôi thành của lễ,
“Về quê hương” mừng lễ Vượt Qua!

Một thoáng người đi, người ở lại,
Tre già, măng mọc, chiếc lá rơi…
Dấn bước vào đời em Phó Tế,
Linh mục anh về chốn nghỉ ngơi!

Cũng cuộc hành hương về vĩnh cửu,
Chồi lên xanh nụ, hạt lúa rơi…
Trẻ hát bài ca yêu cuộc sống,
Già vui mục nát giữa cuộc đời!

Nắng vẫn lên, vẫn rừng thay lá,
Cổ lục thêm buổi sáng diệu kỳ!
Mồng một thứ Năm đầu tháng Bảy,
Sống chết chia đều bữa Tiệc Ly!

            (Đã có một buổi sáng diệu kỳ)

Điều diệu kỳ là ở chỗ tử sinh là quy luật phát triển của cuộc sống, càng diệu kỳ hơn

chính cái chết của đức Giêsu đem đến sự sống cho nhân loại. Những tư tưởng như thế, triết học không vươn tới được.

“…Và Anh đã ra đi, như ngọn đèn dầu lặng lẽ,
Như cánh chim vừa mất hút cõi trời xa!
Đúng hơn, như một người hành lữ mới về nhà,
Sau một chuỗi lênh đênh biển đời vừa bỏ lại.

Thế tạm mà, có chi là mãi mãi,
Tiễn xác Anh về với cát bụi thời gian…
Và hồn Anh cập bến đỗ thiên đàng,
Mừng Anh đã về nhà, nhà Cha đang đón đợi!”

            (Mừng anh đã về nhà Cha-Chút cảm nhận về “chuyến về Nhà Cha” của linh mục Luca Nguyễn Huy Kỳ )

Một vấn đề khác cũng đè nặng trong tim nhà thơ Sơn Ca Linh là vấn đề về thân phận người phụ nữ. Cái nhìn của Sơn Ca Linh là cái nhìn có tầm lịch sử và tư tưởng, cái nhìn của một tấm lòng xót thương âu lo vô bờ (xin đọc: Người phụ nữ Việt Nam da vàng).

Và xin đọc:

CHIẾC XƯƠNG SƯỜN BỊ ĐÁNH CẮP
(Chút suy tư và cảm nhận từ cái chết thương tâm của cô sinh viên tại Điện Biên)

Có phải em,
ngay từ đầu không được tạo nên bằng đất sét?
Mà chỉ là một cái xương sườn,
Xương của một thằng đàn ông bị đánh cắp
Khi đang miệt mài trong giấc ngủ trưa?

Vì thế nên em,
Dẫu quá lời, “chỉ một của dư thừa”,
Là “thứ phẩm” của một thân phận người “nguyên bản”.
Xương sườn mà : thứ bảo vệ của cơ phần nội tạng,
Cho tim gan, phèo phổi an toàn…
Là mái che, phên dậu sẵn sàng,
Để đón lấy những trận đòn, vết đâm, cú đấm…!

Chỉ là xương thôi mà,
Nên cứ phải làm thân cò bán bưng buôn gánh,
Làm con sen, đứa ở, dậy sớm, thức khuya.
Mang nặng, đẻ đau, cay đắng…dư thừa,
Để thằng đàn ông ngẫng đầu dương dương tự đắc.

Là xương,
Nên ở chốn cửa công phải làm thinh im bặt,
Khỏi phải học hành,
xương chỉ cần biết đọc, biết viết đủ rồi!
Lẩn quẩn trong nhà, chỉ kim, bếp núc mà thôi…
Chớ bày đặt nghênh ngang múa rìu đỏng đảnh!

Là xương,
Nên cứ lủi thủi chịu thiệt thòi câm lặng,
Bạo lực gia đình, bị đoạ đày, bị hiếp, bị giết, bất công…
Mà hầu hết là nạn nhân của những thằng đàn ông,
Những “tạo vật”
được vinh dự “mang ảnh hình Thượng Đế”.

Mới đây,
Em, cái xương sườn bị “bỏ quên” giữa những ngày xuân tết,
Lại mấy thằng đàn ông : hiếp, giết, vứt bên đường!
Rồi lại mấy thằng đàn ông sung sướng tưng bừng,
Tự thưởng cho nhau cái trò “thi đua phá án”!

Và rồi, em, mẹ em…
những cái xương sườn bị đánh cắp,
Lại tiếp tục bị đoạ đày,
bị vùi dập trong khổ ải thương đau.
Biết bao giờ, từ đây cho đến mãi ngàn sau,
Những thằng đàn ông,
Học thuộc lời, ứng xử, của một Vị Thầy 2000 năm trước :
Chị hãy ngẫng cao đầu,
đi bình an trên vạn nẻo đường xuôi ngược,
Bởi vì ta không kết án chị đâu”! (Ga 8,1-11)

Bài thơ đặt vấn đề về thân phận người phụ nữ. Đây là một vấn đề tư tưởng mang tính

nhân loại từ ngàn xưa đến nay và “cho mãi đến ngàn sau”. Từ ngày đầu, họ đã là nạn nhân của Những thằng đàn ông. Họphải chịu bao nhiêu khổ ải đau thương, biết bao giờ mới hết kiếp nạn? Nguyễn Du đã từng kêu thương cho họ: “Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”(Đoạn trường tân thanh) và ông đưa ra lời giải pháp dựa trên triết học Phật giáo: Nỗi khổ của Thúy Kiều là do “Thân/ Nghiệp”, chỉ có thể giải thoát bằng Tâm, vì “Tâm tức Phật”: “Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Nhà thơ Công giáo Sơn Ca Linh nhìn rõ những nỗi bất hạnh của người phụ nữ là do tội lỗi của “những thằng đàn ông”(tác giả nhắc lại nhiều lần cụm từ: “Những thằng đàn ông”), và đặt vấn đề, những thằng đàn ông phải học theo Chúa, ứng xử yêu thương với phụ nữ, như Chúa đã xót thương và cứu vớt người đàn bà ngoại tình (Ga 8, 1-11).

Thực ra, nếu cho rằng người phụ nữ ngay từ đầu chỉ là một “cái xương sườn bị đánh cắp”, một vật phụ thuộc, một “của dư thừa”, một “thứ phẩm”, một công cụ, nên “Nên cứ phải làm thân cò bán bưng buôn gánh,/ Làm con sen, đứa ở, dậy sớm, thức khuya./ Mang nặng, đẻ đau, cay đắng…dư thừa”, phải chịu câm lặng, dốt nát tù hãm và đọa đày…thì đó là nguyên nhân gần. Cũng có thể “cái xương sườn bị đánh cắp” là một ẩn dụ hay về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Thực ra, cội nguồn nỗi thống khổ của nhân loại nói chung và người phụ nữ nói riêng là tội lỗi. Sách Sáng Thế Ký, chương 2, câu 16-19 nói rõ điều này. Sau khi Adam và Eva ăn trái cấm, Thiên Chúa nói với họ: “Với người đàn bà, Chúa phán: “Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén; ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con. Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi.”Với con người, Chúa phán: “Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng: “Ngươi đừng ăn nó”, nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi; ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra.Ðất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng. Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất.”

Một vấn đề tư tưởng khác trong thơ Sơn Ca Linh là sự thách thức lương tâm Công giáo trước những vấn đề của hiện thực. Đức Giêsu nói với Philatô rằng: Nước Tôi không thuộc về thế gian này”(Ga 18, 33b-37), nhưng Người cũng nói với các môn đệ: « Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói » (Lc 10, 1-12.17-20). Đó là thực tại đòi buộc nhà thơ phải đối mặt, nói như Nguyễn Du, cuộc sống này là những cuộc bể dâu: “Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Nhà thơ Sơn Ca Linh đã nghe nhịp đập trái tim mình thế nào trước những thách thức lương tâm trong cuộc sống?

Đây là bức tranh thế giới:

Trong cái “hòm tiền bao la” của thế giới,
Hòm tiền “công đức” để nhân danh: dựng xây, phát triển, trừ tà…
Để dán nhãn: thoa dịu, lau khô những giọt nước mắt xót xa,
Và xây lên những chiếc cầu của tương trợ, cảm thông, nhân ái…

Chiếm chỗ nhiều nhất,
Vẫn là những “núi đô-la” của những đại gia lừng lẫy,
Những Bill Gates, Jeff Bezos, Mark Zuckerberg, Jack Ma…
Cùng với những “hợp đồng chằng chịt, ma quái”…bao la,
Mà “võ bọc mĩ miều” luôn mang tên “cứu nhân độ thế”!

Nên, vẫn mãi là những tên nô lệ:
những trẻ con mang súng ở Phi Châu,
Những người mang ma túy ở Mêhicô…
Những cô gái của nạn buôn người đến từ Venezuella, Trung Quốc…

Thế giới hôm nay,
Người ta chỉ thấy những chuyện nhãn tiền trên Twitter, Facebook…
Người ta tôn thờ thần tượng là những “tỉ phú Đô-la”,
“cặp giò miên man” hoa hậu, “chân sút vàng”, “đẳng cấp đại gia”…
Nên, kẻ mạt hạng, cùng đinh,
Mãi ôm phận “quét lá đa” trong thế giới của lặng thầm quên lãng!
                         (“Trời mới đất mới” và “những đồng xu ten!”)

Và đây là thời mạt pháp:

Tháng Chạp năm nay,
Thế giới bỗng nặng nề
như đêm dài của thuở nào “Hồng thuỷ Nô-e”.
Hận thù chiến tranh,
Những tên lửa xé toạc khoảng trời đêm hoang mạc.
Vỡ vụn tàu bay, mấy trăm thường dân tan xác…
Và rồi, “quê hương chuột túi”
Ngọn hoả hào thiêu rụi điệp trùng muông thú, cỏ cây…

Đêm thôn Hoành, Đồng Xênh chưa kịp sang canh,
Hoả pháo, lựu đạn cay,
gót giày đinh…và những thân người đổ gục.
Nào có phải ai đâu, sao lại cứ phải nồi da xáo thịt ?
Như “Cụ Kình”, Bậc trưởng thượng, bóng cả cây cao,
Những ngày cuối năm,
Tưởng đâu được, bên cháu con, nhấp chén rượu đào,
Oái ăm thay, chết không toàn thây,
Bởi cháu con một lũ hổn hào của một thời mạt pháp!

                  (Bồ câu đã về hay “bóng chim tăm cá:)

            Người đọc có thể nghe được tiếng trái tim nhà thơ đau xót trước thực tại những con người thấp cổ bé miệng bị chà đạp, bị hủy diệt. Nhà thơ không thể kềm lòng không lên tiếng trước những nghịch lý, những bất công, những vô luân vô đạo của “thời mạt pháp”. Dù Nước của Chúa không thuộc về thế gian này, nhưng người mục tử của Chúa đang sống giữa thế gian đầy tội ác thì không thể làm ngơ. Dù vậy, Sơn Linh Ca không để mình bị cuốn vào cõi trần tục, mà đặt trái tim mình trong trái tim thương yêu của Chúa. Từ đó nhìn ra “trời mới đất mới” của Kinh thánh.

Ở ngoài kia, nghe nắng xuân đang bước về vội vã,
Mà sao trong hồn vẫn nghe nhịp bâng khuâng?
Xin hãy bay về, Bồ Câu Thánh Linh, cánh én tin xuân,
Để sự sống, để tình yêu, để hoà bình…
Gieo mầm xanh trên mọi nẻo đường thế giới…!

                              (Bồ câu đã về hay “bóng chim tăm cá)

Nhưng thế giới, “thúng bột trần gian”, men Tin Mừng sẽ dậy,
Bởi những đồng xu,
Vâng, những “đồng xu của cả sự sống, của tình yêu”!
Vũ trụ nầy, thế giới nầy, rồi sẽ nên “trời mới đất mới” mĩ miều,
Bởi những góp nhặt, hy sinh…,
những “đồng xu ten”, tầm thường… rất nhỏ!

            (“Trời mới đất mới” và “những đồng xu ten!”)

THAY LỜI KẾT

            Còn nhiều điều để viết về thơ Sơn Ca Linh (có thể viết một chuyên luận), bởi thơ Sơn Ca Linh là bước phát triển mới cả về tư tưởng và nghệ thuật so với các nhà thơ Công giáo đi trước;  song trong phạm vi một bài viết, tôi xin tạm kết ở đây.

Nói thực lòng, nếu thơ Sơn Ca Linh không hay, không đặt được những vấn đề căn cốt cuộc sống hôm nay thì không thể cuốn hút tôi đọc nổi hơn 200 bài thơ. Tôi rất thích những bài lục bát ca dao như châu ngọc về tình yêu quê hương [3], những bài mang cảm xúc êm đềm sâu lắng như thơ Lãng mạn [4]; những chuyện kể sinh động, trẻ trung hấp dẫn [5], những khúc tráng ca mang khí phách cổ điển [6], những bài thơ tự do mang đặc trưng cốt cách thơ Sơn Ca Linh. Tất nhiên, thơ Sơn Ca Linh cũng có những bài ít hấp dẫn. Đó là những bài đầy ắp ý tưởng mà cấu trúc lỏng lẻo dài dòng, tính nghị luận lấn át tính hình tượng – thẩm mỹ, ngôn ngữ công chúng thay cho ngôn ngữ văn chương. Dù vậy, tâm trí tôi đã mở ra nhiều điều khi tiếp cận những “Cảm nhận” Kinh thánh từ những bài thơ của Sơn Ca Linh, và một niềm reo vui hân hoan khi đọc được những bài thơ mà trái tim nhà thơ gắn với cuộc sống này, với anh em, với đồng bào và với cả cộng đồng nhân loại, trái tim Emmanuel.

Những bài thơ ấy giúp người đọc Vượt qua bể dâu để hồn mình an lạc trong niềm tin đầy Ánh sáng.

Tháng 11/ 2021

______________________

[1] Lm. Giuse Trương Đình Hiền sinh ngày 08-7-1952 tại Trà Câu, Quảng Ngãi. Bút danh: Sơn Ca Linh, Cha sở nhà quê.Tác phẩm đã in: 

     – Ngôn ngữ Tin mừng trong dáng đứng Việt Nam (chủ biên một sưu tập); 

     – Anrê Phú Yên, rực sáng một vì sao (chủ biên một sưu tập); 

     – Linh mục, một cuộc đời mắc nợ (thơ, nhạc, ký)

[2] Ghi chú :
     (1) “Phố thánh vườn thiêng” : Hình ảnh Giáo Hội, Giêrusalem mới, theo gợi ý từ câu Thánh vịnh 122,3 : “Giê-ru-sa-lem khác nào đô thị, được xây nên một khối vẹn toàn.”
     (2) “Môi Khôi” : Tên gọi hoa hồng. Chuỗi Môi Khôi (Rosary) là chuỗi kết bằng những lời kinh như những cánh hoa hồng.
     (3) “Bốn sự Nhiệm mầu” : sự “Vui”, sự “Sáng”, sự “Thương”, sự “Mừng”.
     (4) “Mười kinh Thánh đức” : Kinh Kính Mừng, với phần đầu “Kính mừng Maria đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phước lạ hơn mọi người nữ và Giêsu Con lòng Bà gồm phước lạ” lấy lại những lời trong Tin Mừng Luca với hai sự kiện “Truyền Tin” và “Thăm viếng” (Lc 1, 28.42)

[3]  Những bài Lục bát ca dao: Góc chiều, Cần chi, Gọi trâu, Tràng Mân Côi của mẹ tôi, Một chuyến sang bờ, Chỉ cần một chút tình thôi, Từ đây năm tháng lặng thầm, Nghĩ mà thương chị, Chiêm niệm, Thiên thu anh vẫn đợi chờ

[4] Cảm xúc thơ Lãng mạn: Bóng trưa, Lời thì thầm của cỏ, Vì em đã mang lời khấn nhỏ, Anh về, Tại sao tôi khóc, Em và “chuyện tình tháng bảy”, Mùi hương tháng Chạp, Mùi hương xuân cũ, Người thiếu phụ không chồng, Dáng chị, Mùa thu và những chuyến đi xa, Chiều xuân này vắng mẹ, Dấu “Trường Thăng” đã khép, Bỗng dưng nghe mùi của mẹ

[5] Những bài thơ kể chuyện: Huyền thoại chim họa mi ức đỏ, Giọt nước mắt và đóa “hoa hồng tuyết”, Cổ tích “hạt cải”, Chuyện kể “Têrêsa nước ra đầy đồng”, Huyền thoại màu xanh, Chuyện cổ tích “Bà góa, tầm bánh và đồng xu”, Con nợ Mẹ món quà sinh nhật,

[6] Những khúc tráng ca: Chìm theo vận nước cả mùa xuân, Nghe dòng sông kể chuyện, Ta nhớ mãi “tấm áo lông lạc đà” ngày đó…

THƠ TRẦN VẠN GIÃ

THƠ TRẦN VẠN GIÃ

Bùi Công Thuấn

BCT và nhà thơ Trần Vạn Giã ở Đại hội X-Hội Nhà văn Việt Nam 2020

***

Nhà thơ Trần Vạn Giã (Trần Ngọc Ẩn) sinh năm 1945, tại Vạn Ninh (Vạn Giã), tỉnh Khánh Hòa. Trước 1975, ông viết cho các tạp chí Trình Bày, Đối Diện (Đứng Dậy), Bách Khoa, Phổ Thông, Làm Dân …  và một số tờ sinh viên. Ông chủ trương tạp chí Nhân Sinh. Sau năm 1975, ông làm phóng viên báo Khánh Hoà. Trần Vạn Giã là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Cho đến nay (2021), ông đã in 19 tác phẩm [1]

Đã có nhiều người viết về thơ Trần Vạn Giã, đặc biệt là luận văn Thạc sĩ “THƠ TRẦN VẠN GIÃ TỪ GÓC NHÌN TƯ DUY NGHỆ THUẬT”củaLê Thị Oanh – Đại học Quốc gia Hà Nội –Trường Đại học KHXH-NV năm 2017. Tác giả phân tích khá kỹ nội dung, đặc điểm tư duy nghệ thuật và những biểu tượng của thơ Trần Vạn Giã trước và sau 1975. Lê Thị Oanh kết luận: “Tư duy thơ Trần Vạn Giã trước và sau 1975 có sự khác biệt…Trần Vạn Giã xây dựng một hệ thống biểu tượng phong phú và đa dạng. Đồng thời, tư duy thơ cũng vận động theo hướng dân tộc hóa… Ngôn ngữ thơ mộc mạc, chân tình dễ đi vào lòng người… Cũng có lúc ngôn ngữ thơ lại giàu tính chiêm nghiệm – triết lý khiến cho thơ trở nên sâu sắc và giá trị hơn…Thơ Trần Vạn Giã đề cao cái tôi cá nhân gắn bó với hiện thực đời sống… Thành công quan trọng nhất trong sự nghiệp thơ ca của nhà thơ đó là tinh thần giác ngộ và hòa mình vào dòng chảy thơ ca Việt Nam hiện đại”.

Tôi sẽ không nhắc lại những gì người khác đã nói đến mà chỉ ghi nhận những gì mình đọc được ở thơ Trần Vạn Giã.

Tôi đã đọc 258 bài thơ của Trần Vạn Giã. Ở thivien.net có 4 bài. Trên vanchuongviet.org có 6 bài, còn lại là thơ tác giả công bố trên trang Facebook cá nhân. Tuy rằng chưa đầy đủ, song trong một giọt nước chứa cả một đại dương, với 258 bài tôi đã đọc, bước đầu có thể ghi nhận được đôi điều.

HỒN THƠ TRẦN VẠN GIÃ

            258 bài thơ tôi đọc, có 135 bài là tiếng nói của Cái Tôi trữ tình (vànghĩ suy của Tôi về tôn giáo), 56 bài thể hiện tình quê hương, 40 bài thơ tình yêu lứa đôi, 16 bài đề tài thế sự, còn lại là những đề tài khác.

Như vậy hồn thơ Trần Vạn Giã đậm đặc ở sự thể hiện tâm trạng riêng, tình yêu quê hương và gia đình, tình yêu lứa đôi. Thấp thoáng có quan tâm đến vấn đề thế sự. Thơ Trần Vạn Giã không luận bàn đến những vấn đề lớn của hiện thực, như chiến tranh vệ quốc (chiến tranh biên giới, Hoàng Sa, Trường Sa), những thay đổi của xã hội trong thời đại toàn cầu hóa, hay những vấn đề tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống thời đại (chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, chủ nghĩa thế tục, tình trạng bị xâm lăng văn hóa, những bất công xã hội, những tiêu cực trong mọi mặt đời sống…). Đề tài thơ Trần Vạn Giã là những sinh hoạt đời thường:

Bình tâm không có gì nghiêm trọng phải không thơ; Ghi ở quán cóc; Về quê; Về quê ăn tết; Về quê nằm võng; Nói chuyện với bạn ở quê; Trưa ngồi nhìn bẹ cau rụng làm thơ; Ngồi bên sông Chò làm thơ; Hớt tóc chiều 30 tết; Khói chiều; Bên mâm cơm chiều; Hoàng hôn; Mặt trời đã lặn; Đêm ở làng nghe hô Bài Chòi; Uống trà khuya nhớ con; Với ngọn cỏ khô; Với cỏ bên đường; Cuối tháng giêng; Hình như trời đang chuyển mưa; Mưa rào chiều nay; Mưa đầu hạ, Hỏi mưa; Mùi cát; Mùi rơm; Mùi tóc; Cái khay trầu của mẹ; Thưa mẹ con đi; Thưa mẹ con về; Chiều uống cà phê với người tình cũ ở Mỹ về; Đi Sài gòn khám bệnh, Hành hương phương nam khám bệnh tái khám tim; Khám đau nửa đầu; Bác sĩ cho toa thuốc chữ đọc không được bực mình làm thơ; Tạm biệt Sài gòn hẹn ngày tái khám; Điện thoại hẹn thằng bạn ở bến xe miến đông; Tháng chạp đón bạn Việt kiều về ở lại quê nhà và tiễn người thân đi định cư ở nước ngoài; Thơ tặng vợ khổ thời ở vùng kinh tế mới; Gặp lại bạn thơ trước 1975 ở Sài gòn; Thà làm một cốc bia hơi; Tôi khóc; Tôi buồn; Tôi say; Tôi còn; Tôi mất…

Tên những bài thơ gợi ra hình ảnh một nhà thơ xưa về quê sống ẩn dật, lánh xa thế sự, như Nguyến Khuyến ở Vườn Bùi chốn cũ: “Vườn Bùi chốn cũ!/ Bốn mươi năm, lụ khụ lại về đây./Trông ngoài sân đua nở mấy chồi cây,/ Thú khâu hác lâm tuyền âu cũng thế!”. Trần Vạn Giã đã sống những ngày biến động lớn lao của lịch sử năm 1975, đã sống những ngày lo lắng vả gian khổ thiếu thốn ở vùng kinh tế mới Đất Sét, đã lưu lạc tha phương 10 năm (Mười năm) và trở về quê.

Năm bảy mươi lăm con đi biền biệt

Mẹ về trời. Con phiêu bạt nhiều nơi

Sông cứ chảy vào nỗi buồn cố xứ

Con về đau đứt ruột tiếng: à ơi…

                 (Con về mẹ đã đi xa)

Đó là những năm cùng cực

Cơn sốt rét rừng bám vàng da những đứa con

Thời gian bào mòn cuốc, rựa

Mòn cây chày thọc lổ trỉa bắp trên rẩy cao

            (Năm chiếc bánh và hai con cá)

MỘT TÌNH QUÊ THANH KHIẾT

Tình yêu quê hương trong thơ Trần Vạn Giã hiển hiện sâu nặng trong nỗi nhớ nhà, nhớ quê, trong mọi nơi, mọi lúc và mọi hoàn cảnh sống của nhà thơ. Bởi vì:

Tôi là đất của quê nhà

Là than nướng những trái cà dái dê…

            (Nhà quê tôi là nhà quê)

Lớn từ gốc rạ nhà quê

Nhớ làng nên phải trở về cố hương

Cánh cò bay trắng bờ mương

Tay cầm cọng lúa mà thương hương đồng…

            (Mưa rào chiều nay)

            Quê hương hiện lên cụ thể, gắn với hình ảnh người mẹ nghèo, với những địa danh, những kỷ niệm. Hình ảnh quê hương đẹp với những nét truyền thống “Nét quê ngày cũ dịu dàng nét quê”. Dù có bão lụt, có một thời đạn bom, nhưng đó là quê hương thanh bình, thấm đẫm tình người, nơi ấp ủ hồn thơ nồng ấm. Quê hương ấy cũng rất riêng trong thơ Trần Vạn Giã (nhà thơ chỉ chọn những nét tiêu biểu, thí dụ hình ảnh người mẹ, rơm rạ, hàng cau, nắm đất, tiếng dế..), quê hương của riêng nhà thơ (gắn với kỷ niệm tuổi thơ, gắn với tình yêu, với những ngày gian khó…). Không có bóng dáng những hội hè đình đám, không có những sinh hoạt ngày mùa, ngày tết, không có những thảm cảnh xã hội. Quê hương ấy là của “ngày xưa”, không ồn ã đời sống công nghiệp, cũng không có những vết tích lở loét của thời kinh tế thị trường.

Ở xa nhớ bóng cau gầy

Nhớ nồi bánh tét nhớ cây tre làng

Nhớ ai đứng bến đò ngang

Nét quê ngày cũ dịu dàng nét quê

Ở xa náo nức ngày về

(Miếng cơm manh áo nhiêu khê đã đời)

            (Ngày 23 ông Táo về trời bếp gas ở lại chịu lời đắng cay)

Tết này con sẽ trở về

Con không quên mẹ và quê hương mình

Dù nghèo nhưng ấm nghĩa tình

Cây cau, bến nước, sân đình…mẹ ơi

Xa quê gần hết một đời

Làm sao quên được một thời tuổi thơ

            (Về quê ăn tết)

Về quê nằm võng đong đưa

Thương ơi bóng mát cây dừa cố hương

Mỏi chân phiêu bạt phố phường

Người, xe, bụi, khói… càng thương quê nhà

Luống rau, giàn mướp, hàng cà…

Làm sao quên được tiếng gà gáy khuya

Đứng nhìn lên núi Đá Bia

Tu Bông gió hú không lìa tình nhau

            (Về quê nằm võng)

Đêm nay bão đến quê nhà

Luống rau có lụt luống cà có trôi

Hạt mưa rơi ướt chỗ ngồi

Rơi trên ngôi mộ mẹ tôi ngoài đồng…

            (Thơ viết trong mưa chờ bão số 6)

Quê hương cũng là hạnh phúc

Ở đây tìm lại thời chân đất

Thấy ngôi sao sáng những đêm rằm

Thấy mẹ ngồi khâu vai áo cũ

Thấy đời dài dẳng tiếng thơ ngâm

Khúc gọi đò xưa anh hát lại

Ngàn năm hồn đất chẳng tàn phai

Anh cứ tắm mình trên sông cũ

Ôm tình xứ sở những ngày mai

                     (Ở quê nhà)

            Xin đọc: Cố hương, Tuổi thơ tôi đã cháy trong cát, Cau ơi, Nhớ ơi rơm rạ, Khói rạ, Nhớ ơi nồi đất bắp rang, Miền Trung, Vào mùa, Như là cổ tích, Ở đây, Thời yêu dại cô nàng bán sách ven đường, Thưa mẹ con đi, Hành trang có nắm đất làng, Ra đứng ngõ sau, Rằng ta sẽ trở về nhà, tết này con sẽ về, Thưa mẹ con về, Con về mẹ đã đi xa, Đoản khúc viết ở quê nhà, Thơ tặng chị, Thơ tặng chị hai Nghệ An, Tiếng đàn tranh chiều 30 tết, Ơi Nha Trang,  Tình ca về biển, Trà My, Quảng Ngãi, Cổ tích cát của mẹ, Với cỏ bên đường, Bên mâm cơm chiều, Cái khay trầu của mẹ, Chiều trở về vùng kinh tế mới, Gởi về làng biển và mẹ, Mưa rào chiều nay, Bóng chữ, …

Các tập thơ của Trần Vạn Giã

MỘT TÌNH YÊU CHÁY MÃI KHÔN NGUÔI

            Đó là một chuyện tình buồn, người yêu bỏ đi lấy chồng, để lại nỗi nhớ thương ngậm ngùi theo mãi với thời gian. Thơ tình Trần Vạn Giã không có những hẹn hò, không có những kỷ niệm, không có những dỗi hờn, không thành câu chuyện tình. Thơ tình Trần Vạn Giã không có cái lãng mạn của Xuân Diệu, Nguyễn Bính thời Thơ Mới, không có những vòng hào quang đỏ của thơ tình chiến tranh (Núi đôi của Vũ Cao, hay Cuộc Chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ, Hương thầm của Phan Thị Thanh Nhàn…). Thơ tình Trần Vạn Giã là tiếng lòng bộc trực của nhà thơ, là những cảm xúc trực tiếp trong những tình huống đời thường (Chiều uống cà phê với người tình cũ ở Mỹ về; Ngồi bến đò Vạn Giã chợt nhớ người con gái ở quê tên Điệp Sơn; Chồm hỗm…). Nhưng đó là một nỗi trăn trở, ngậm ngùi khôn nguôi và hình như có những nỗi niềm không tỏ lộ. Ngôn ngữ thơ đôi khi không kìm nén được cảm xúc.

            Xin đọc: Bỗng dưng, Ca dao tình số 4, Ca dao tình số 9, Chuyện đời, Tình khúc Kontum, Lá tương tư, Lửa tắt, Lục bát viết ở Vũng Tàu, Mùi tóc, Mười năm, Người đi chân cứng đá mòn, Tình khúc mùa thu, Gởi Nhi, Tìm nhau, Bây giờ, Điều không bao giờ biết trước, Chồm hỗm, Chiều uống cà phê với người tình cũ ở Mỹ về, Vô tư, Nhớ và quên, Thơ tiễn người tình cũ ra sân ga theo chồng đi Pháp…

Bây giờ em của người ta

Bọt bèo đành phải tan ra bọt bèo

Đời anh rơm rạ quê nghèo

Câu thơ lục bát trong veo nhớ tình

           (Nhớ ơi rơm rạ)

Bẹ cau rụng xuống nao lòng

Buồn như em đã có chồng bỏ tôi

          (Trưa ngồi nhìn bẹ cau rụng làm thơ)

Yêu là để khổ cho nhau
Thổi lên khúc cuối muôn sau đắng lòng

            (Tiếng sáo)

Bỏ tôi em thành đàn bà
Còn tôi thành hạt mưa sa một mình
          (Đốt thơ tình trên bờ biển Nha Trang)

Đời anh như đứt dây đờn

Thương con sóng biển cô đơn vào bờ

Cuốn trôi đi những bài thơ

Bến đò thành một bến chờ đời tôi.

            (Ngồi bến đò Vạn Giã chợt nhớ người con gái ở quê tên Điệp Sơn)

Gió khuya lành lạnh sân ga

Em đi bỏ lại quê nhà là đây

Đắng lòng nhìn những bóng mây

Hình như Ngã Sáu vòng vây chuyện tình

            (Ơi Nha Trang)

Cuối cùng rồi cũng nhạt phai

Tóc mai sợi ngắn sợi dài còn đâu…

            (Cuối cùng)

            Trái hẳn với những bài nhà thơ viết cho vợ, đó là những bài thơ nặng nghĩa ân tình. Hình như trong tâm hồn nhà thơ, lý trí và tình cảm có sự phân biệt rạch ròi.

                        Nhớ ơi là nhớ gió rừng

Nhớ em gùi bắp qua bưng biền này

Cùm cum vọng lại tiếng chày

Thương em gian khó những ngày lên non

Thời gian nước chảy đá mòn

Cọng rau, đọt sắn… nuôi con và chồng

Trăng rừng dọi xuống đầu sông

Mười hai bến nước đục trong phận mình

Trời cho còn lại chút tình

Đọng trong quá khứ giật mình câu thơ

            (Thơ tặng vợ khổ thời ở vùng kinh tế mới)

NỖI TRĂN TRỞ  PHẬN NGƯỜI

            Đã có lúc nhà thơ phải tự trấn an mình:

Cũng là cát bụi mà thôi
Chuyện đời xuống chó lên voi lẽ thường

Có gì mà phải giận, thương
Tôi ơi bắt bóng vô thường mà chi
            (Bình tâm không có gì nghiêm trọng phải không thơ)

            Nói là “bình tâm”, nhưng Trần Vạn Giã đã viết những tự tình buồn: Tôi buồn, Tôi khóc, Tôi say, Tôi còn, Tôi mất nhận thức về thân phận mình, về lẽ tử sinh, về những lúc “lên voi xuống chó”, về thành bại dở dang và day dứt mãi trong lẽ “vô thường” (Trần Vạn Giã nhiều lần dùng từ này trong thơ), trong cõi phù vân, trong đời dâu bể và trong cả mặc cảm “bên thua cuộc”.

Tôi buồn trong chút ảo huyền

Đem thơ đi bán khắp miền dân gian

Đời thơ tôi đã dở dang

Ế thơ nên vợ ngày càng ớn thơ

            (Tôi buồn)

Loanh quanh trong cuộc tử sinh
Kiếp người chao động bóng hình cưu mang
         (Bên mâm cơm chiều)

Bên vịnh Vân Phong

Và tôi sống không như con tôm lưng còng và cứt ở trên đầu

Để chịu đòn áp bức

Sĩ khí của một nhà thơ cũng có lúc bất cần đời

Như con cua đi hàng ngang thế thủ

Tôi cháy và cháy đến độ chai lỳ từ thời tuổi thơ trên cát

           (Tuổi thơ tôi đã cháy trong cát)

Thấy gì trên ngọn cỏ non

Bao nhiêu cái mất cái còn trong ta

Mong manh treo ngọn tre già

Chiến tranh kết thúc mẹ cha không còn

Bóng già ngã phía cháu con

Thời gian sống chết biết còn bao lâu

Như trang sách cũ phai màu

Mờ mờ nhân ảnh cuối cầu thời gian

Đêm nay thèm hạt bắp rang

Răng bên thua cuộc đầu hàng mà thương.

            (Cũng có lúc như thế)

            Trần Vạn Giã đã sống giữa hai thế kỷ, sống giữa bờ vực chiến tranh và hòa bình, đã trải qua phận người ở vùng kinh tế mới và không ít hệ lụy những ngày đất nước chưa “đổi mới”. Cái mặc cảm “Răng bên thua cuộc đầu hàng mà thương”, không phải chỉ mình nhà thơ phải chịu đựng mà cả người dân miền Nam sau 1975, đặc biệt nó trở thành nỗi thống khổ đối với giới trí thức, với nghệ sĩ trước 1975 ở Miền Nam. Bởi vì “Tam vạn quyển thư vô dụng xứ”. Tay cầm bút đổi thành tay cầm cuốc. Bế tắc đến cùng cực, không biết rồi sẽ về đâu.

Một đời nhặt bóng nhiêu khê

Tôi đi không biết tôi về hay đi.

            (Không biết)

Cơn mưa rơi trên dòng sông cuồng chảy

Ta về đâu?

Như trôi đời ta ngụp lặn giữa hư vô

            (Đời ai đâu biết trước)

Sông cô lúc như đời tôi có khúc

Đi loanh quanh rồi cạn kiệt lối về

            (Lá trầm tư)

Núi sông đã bạc lời thề

Ba nằm ngoảnh cẳng biết về nơi đâu

            (Tình ca cuốc đất)

“Sông ơi

Tôi thả thơ buồn biết sông chảy về đâu?”

            (Sông ơi)

            Không phải vô tình Trần Vạn Giã viết Bài tụng ca Khuất Nguyên.

            Và đây là tiếng kêu thương trong cô đơn:

                        Ngồi nghe dề đất kêu sương

                        Nghe từ tiếng dế mà thương chính mình

                        Rừng khuya cây đứng lặng thinh

                        Cô đơn tiếng dế gọi tình trong sương

                        Dế ơi cỏ ngủ ven đường

                        Còn tôi gảy khúc đoạn trường đêm nay

                        Cuối đời tay trắng bàn tay

                        Cuối cùng là nắm tro bay ven đường

                        Tôi là con của biền bưng

                        Kêu sương dế đất xin đừng quên tôi

                                    (Về rừng nghe tiếng dế đất kêu sương)

            Nhà thơ tìm về lẽ an nhiên Lão Trang. Thực ra Trần Vạn Giã dung nạp cả Thiền và “Vô vi” của Lão-Trang để tự cứu rỗi tâm hồn mình, để không phải “như con tôm lưng còng”, “như con cua đi hàng ngang thế thủ”. Phật dạy rằng, cái khổ (Khổ đế) là tồn tại của “Thân, Nghiệp” (Tứ Diệu Đế) “Đã mang lấy nghiệp vào thân” (Nguyễn Du). Trần Vạn Giã không bận tâm nữa, cứ “bình tâm” mà bước đi. Cứ sống hồn nhiên như ớt, tương, cà. Từ nay “Tịnh khầu”. Vì thế, ta hiểu tại sao thơ Trần Vạn Giã rất ít nói đến thế sự.

                        Bóng tôi

Chạm lá bồ đề rơi

Chạm cơn đau Tứ Diệu Đế…

Giã từ khoảng lặng mình dắt nhau đi tìm dâu bể

            (Khoảng lặng)

Thì ra trong cõi người ta

Ví như ngọn khói bay qua cuộc đời

            (Khói chiều)

Bình tâm đếm bước ra đi
Bụi trần gian phủi sá gì đâu ta
Hồn nhiên như ớt, tương, cà
Nối vòng tay hát tình ca con người.
            (Mặt trời đã lặn)

Nghiêng vai chạm bóng trăng già
Vỡ tan đại mộng nên ta không lời.

(Tịnh khầu)

            Nhà thơ vịn câu thơ mà đứng lên (ý của nhà thơ Phùng Quán: “Có những phút ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ và đứng dậy”)

                        Người về gần hết cuộc đời

                        Câu thơ đứng dậy từ lời mẹ ru

                                    (Người về)

            Thực ra Trần Vạn Giã không sống thụ động theo triết lý Lão Trang và cam chịu “thân nghiệp” của một sinh mệnh trong cõi bể dâu này. Đức tin KiTô giáo cho nhà thơ sức mạnh vượt qua cuộc khổ nạn để Phục Sinh:

Đó là những năm cùng cực

Cơn sốt rét rừng bám vàng da những đứa con

Thời gian bào mòn cuốc,rựa

Mòn cây chày thọc lổ trỉa bắp trên rẩy cao

Mồ hôi muối dày áo

Cong lưng người đội nắng và mưa

Cái đói thường trực nằm trong tro tàn bếp lạnh

Chỉ có củ mì nấu với lá giang

Mây trời trên vùng kinh tế mới bay lang thang

Tôi cấy câu thơ xuống đất vùng kinh tế mới

Tôi tin nơi bến đợi sông chờ

Nơi tôi sống ngày mai mặt trời vẫn đến

Tin năm con cá và hai chiếc bánh

Sáng lên trong lời kinh Thánh

Ấm lên bên bếp lửa hoàng hôn

Tôi bắt chước Chúa thổi vào xương sườn vợ tôi

Và nói :

“Đất mới

Trời mới

Em hãy cùng anh tin còn mùa gặt mới.”

            (Năm chiếc bánh và hai con cá)

Kinh thánh Tân Ước thuật lại việc Đức Giêsu làm phép lạ dùng hai con cá và năm chiếc bánh nuôi đoàn người theo Chúa. Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con(Mt 14,13-21). Tất nhiên là nhà thơ Trần Vạn Giã hiểu rằng không phải lúc ông cùng cự khó khăn và bế tắc thì Chúa sẽ làm phép lạ cho ông như đã làm cho 5000 người theo Chúa khi xưa, mà tự khẳng định “Em hãy cùng anh tin còn mùa gặt mới.”. Bởi Đức Giêsu khi chữa lành người mù đã nói rằng: “Đức tin của anh đã chữa anh”(Mc 10, 52). Vâng, Đức tin của nhà thơ đã giúp ông đứng vững giữa đời bể dâu đạt tới bến bình yên. Thực ra ông cũng trải qua nhiều suy tư trăn trở về Đức tin (Con đã từng bỏ Chúa, Câu hỏi về đức ái, Đọc thánh Stêphanô suy gẫm sự đời, Con đấm ngực ba lần), đã tự hối, và “Vượt qua”.

Hồn nhiên như ớt, tương, cà
Nối vòng tay hát tình ca con người.

            (Mặt trời đã lặn)

            Tuy “Tịnh khẩu”, song cũng có lúc ông công bố một vài bài thơ thế sự: thơ phản chiến (Bài đồng dao dâng mẹ, Phát rẫy gặp mộ ai đây, Chuyện vùng bất an, Cũng Chuyện vùng bất an, Đếm xác hồi hương, Đợi ngày giải lao từ Lâm Đổng về Khánh Hòa…), Thơ về đại dịch Covid (Đành lòng về quê, Thơ tặng ông bạn lám thơ có con đi đẻ trong mùa ôn dịch Covid 19), thơ về 39 cô gái chết trong container đông lạnh ở Anh (Thương em lạnh xác xứ người). Cũng có thơ về Hoàng Sa, Trường Sa (Mùi rơm), “Thơ gởi thằng bạn đang ở tù”; “Người đàn bá phá thai trên đường đến nhà thờ xưng tội”.

NGHỆ THUẬT THƠ TRUYỀN THỐNG

Về ngồi dưới bóng dừa cao
Ngồi nghe hồn của ca dao êm đềm
Ai ơi máu chảy về tim
Thơ tôi dân dã đi tìm nguồn xưa.

            (Với cỏ bên đường)

            Thơ dân dã là ca dao truyền thống của dân tộc. Thơ Trần Vạn Giã nằm trong nguồn mạch thơ truyền thống nhưng hiện đại. Thơ của ông hầu hết là thơ Lục bát. Lục bát của ông lấp lánh nét tài hoa. Đề tài, nội dung rất quen thuộc như trong thơ dân tộc (tình quê, tình gia đình, bạn bè, những sự việc xảy ra hàng ngày ở chung quanh) cả tư tưởng Thiền kết hợp với Lão Trang cũng là cốt lõi thơ của các nhà Nho xưa. Ông vận dụng rất tự nhiên thi pháp của ca dao: chất liệu làng quê, ngôn ngữ của người nhà quê, cách diễn đạt tình ý mộc mạc chân thành. Hồn thơ là cái tình quê sâu nặng trong mọi cảm xúc, suy nghĩ. Giản dị nhưng tinh tế, sâu sắc.

Ở xa nhớ bóng cau gầy

Nhớ nồi bánh tét nhớ cây tre làng

Nhớ ai đứng bến đò ngang

Nét quê ngày cũ dịu dàng nét quê

Ở xa náo nức ngày về

(Miếng cơm manh áo nhiêu khê đả đời)

            (Ngày 23 ông Táo về trời/ Bếp gas ở lại chịu lời gì đây?)

Qua thời áo rách nón quê

Bạn quê tôi vẫn giữ lề thói quê

Qua sông phải nhớ bến về

Tình người là vậy chớ chê quê mùa

Có làng rồi mới có vua

Bạn quê nửa thật nửa đùa cười vang

                      (Nói chuyện với bạn ở quê)

            Thơ Trần Vạn Giã hiện đại ở những bài thơ tự do, kiểu thơ tự sự có bóng dáng ngôn ngữ Thơ Trẻ đầu thế kỷ XXI. Tôi chỉ gặp một bài viết theo tư duy thơ Hiện thực xã hội chủ nghĩa (Củ mì tôi hát).

Sau 1975 thơ Việt Nam có hai dòng chính: Thơ Cách tân và thơ truyền thống. Trần Vạn Giã nhập vào dòng thơ truyền thống đương đại. Thơ ông viết về sinh hoạt đời thường, về tình quê, về dân quê, cảnh sắc đồng quê. Những bài thơ tình cũng đậm màu sắc quê hương.

            Thơ cách tân, đặc biệt thơ trẻ đầu thế kỷ XXI sử dụng bút pháp của chủ nghĩa Siêu thực, hay các thủ pháp của chủ nghĩa Hậu Hiện đại (phá vỡ  4 yếu tố của thi pháp thơ truyền thống là cấu trúc, không gian, thời gian, nhân vật; đưa vào những yếu tố ngẫu nhiên, hoang tưởng). Trần Vạn Giã không đi theo hướng cách tân này. Ông sử dụng thơ tự do, kể lể liệt kê sự việc và dùng nhiều hình ảnh ẩn dụ. Tuy nhiên ông có ít bài gây được ấn tượng. Xin đọc: Gió không thổi bên bờ sông chiều, Nhã ca I, Sự cóng lạnh của lửa, Cuối tháng Giêng, và tập thơ Chuông nhà thờ mùa vọng (tập thơ này chỉ có những nghĩ suy thuần lý, gần như vô cảm, thiếu hẳn trải nghiệm tâm linh, thành ra rất ít chất thơ)

Trong thơ cách tân theo chủ nghĩa Hậu Hiện đại, có cả những người làm “thơ không thơ”. Họ quan niệm rằng, nghệ thuật không phải là sự sáng tạo cái đẹp. Họ cho rằng ngôn ngữ không có từ thanh, từ tục, từ sang từ hèn. Người “làm thơ” là để lật đổ những “đại tự sự”, những truyền thống nghệ thuật đi trước. Nói cho đúng, đó là khuynh hướng suy đồi ẩn chứa dụng ý chính trị. Bài thơ “Dạ thưa đàn bà” [FB 23/02/2020] của Trần Vạn Giã được viết trong cảm thức này. Tính chất phi nghệ thuật và vô văn hóa của nó có thể lật đổ mọi giá trị thơ của ông từ trước tới giờ.

THAY LỜI KẾT

            Trần Vạn Giã có nhiều trăn trở về thơ: Trên FB ngày 21/3/2021 ông viết: “Đang tiếp tục viết : Lúa chín đầy đồng. (thơ). Đây là tập thơ thứ 19 nhưng in nhiều thơ đâu phải là thơ hay, bạn đọc chưa chắc gì nhớ một câu. Nhà thơ Quang Dũng chỉ có một tập thơ Mây Đầu Ô mà vang tiếng trên thi đàn. Sáng tác là để trả lại những đam mê, khao khát khi mà thơ cứ cựa quậy trong trái tim mình”.

Thực ra, mỗi nhà thơ, dù ít hay nhiều, đều góp phần làm giàu vốn thi ca dân tộc, đều vẽ nên những đường nét của một khuôn mặt văn hóa thời đại, đều là đại diện tinh thần cho cái đẹp của dân tộc này.

Có lúc ông nhận xét về thơ của mình:

Thơ tôi chẳng có ra gì

Ví như một khúc bánh mì bị thiu

            (Không biết)

Đời thơ tôi đã dở dang

Ế thơ nên vợ ngày càng ớn thơ

Tôi buồn Trời cũng làm ngơ

Ôm thơ ngồi dưới trăng mờ buồn ơi

            (Tôi buồn)

Người ta đi hái hoa vàng

Còn anh xin nắm đất làng chôn thơ

            (Chôn thơ)

            Trần Vạn Giã có nhiều bài thơ hay ở thi pháp thơ truyền thống giàu tình tự dân tộc. Rất tiếc thơ ông chưa định hình một phong cách nghệ thuật độc đáo như lục bát của Nguyễn Bính, nhưng ông vẫn có cốt cách riêng. Và ông vẫn “sống chết với thơ” (FB ngày 01/3/2021). Thật đáng quý một tấm lòng với thi ca dân tộc.

Tháng 10 năm 2021

_______________________

[1]Tác phẩm thơ đã in (tính đến năm 2021):

1. Miên ca hòa bình (Tập thơ). Nxb Nhân Sinh (1971).

2.Tình yêu đẹp như bài thơ (Tập thơ). Nxb HNV (1996).

3. Gió đưa khói bếp lên trời (Tập thơ). Hội VHNT tỉnh Khánh Hòa (2004).

4. Trầm tư với lá (Tập thơ). Nxb HNV(2006).

5. Lục bát Trần Vạn Giã (Tập thơ). Nxb Trẻ (2007).

6. Lục bát nhà quê (Tập thơ). Nxb Văn Nghệ (2008).

7. Đi trong rừng biểu ngữ (Tập thơ). Nxb Văn Nghệ (2009).

8. Mạch nguồn thơ vẫn chảy trong lòng xứ sở (Tập thơ). Nxb HNV (2013).

9. Gió cuối ngày tháng chạp (Tập thơ). Nxb HNV(2015).

10. Hồn chữ (Tập thơ). Nxb Hội nhà văn (2016). 

11. Dòng sông không chịu nỗi buồn (Tập thơ). Nxb HNV (2017).

12. Chuông nhà thờ mùa vọng (Tập thơ). Nxb HNV.

13. Tình yêu đẹp như bài thơ (Tập thơ). Nxb HNV.

14. Những bài thơ thời chưa tóc bạc (Tập thơ). Nxb HNV (2020).

15. Hàn Mạc Tử và bóng đêm ở Quy Hòa (Trường ca). Nxb HNV (2020).

16. Sự tái tạo của Đất nâu sau thời ôn dịch (Tập thơ). Nxb HNV (2020).

17. Thơ trên chặng đường thập giá (Tập thơ).

            18. Lời cầu nguyện viết bên bờ sông Chò (Tập thơ). Nxb HNV (2021).

            19. Bài thơ thời đại dịch (trường ca) Nxb HNV (2021).