Nguyên Tiêu-Đọc thơ Thiền Trần Ngọc Tuấn

Thơ Thiền Trần Ngọc Tuấn

(Đọc tập thơ Chân Thân của Trần Ngọc Tuấn. Nxb HNV 2018)

Bùi Công Thuấn

            Trần Ngọc Tuấn là một nhà thơ Thiền độc đáo trong dòng chảy thơ ca hôm nay. Bởi vì sau Phạm Thiên Thư (nhà thơ Thiền ở miền Nam trước 1975), tôi chỉ thấy có Trần Ngọc Tuấn là người tiếp bước trên con đường thi ca – tư tưởng này. Ngọn nguồn của thơ Thiền Việt Nam là thơ Thiền thời Lý- Trần. Thời Lý-Trần, thơ Thiền đã triển nở một mùa rực rỡ, tạo nên một dòng thi ca-tư tưởng duy nhất trong thi ca dân tộc. Trần Ngọc Tuấn không phải là một Thiền sư, anh lại làm thơ giữa thời toàn cẩu hóa, nên thơ Thiền của Trần Ngọc Tuấn có nhiều cái riêng. Trần Ngọc Tuấn đã in Suối reo (2006), Hiện hữu (2013) và Chân thân (2018). Đó là những đóng góp giá trị vào những nỗ lực cách tân suốt mấy chục năm qua của thơ ca Việt Nam đương đại.

THƠ CỦA NGƯỜI HÀNH THIỀN

            Nếu không phải là một Hành giả (người thực hành Thiền) thì không thể làm thơ Thiền. Thiền vừa là “trí huệ” vừa là “tâm Bát Nhã”. Người làm thơ là để nói “tiếng lòng”. Nguyễn Du đã chạm đến căn gốc của thơ khi ông viết: “Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.  Kết thúc truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) ông lại khẳng định: “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài”. “Chữ Tâm” là thơ và “chữ Tâm” cũng là Thiền. Nói đến Thiền là nói đến Tâm (Tâm tức Phật/ Phật tức Tâm), là nỗ lực hàng phục Tâman trụ Tâm (Kinh Kim Cang). Bởi vì “Vạn pháp do Tâm” (Kinh Hoa Nghiêm).

            Đọc thơ Trần Ngọc Tuấn, người đọc nhận ra anh hành Thiền theo Tịnh Độ Tông. Mở đầu tập Suối reo, Trần Ngọc Tuấn có bài thơ diễn tả trạng thái hành thiền rất tuyệt của anh. Đó là một trạng thái trong veo, thanh khiết, đầy sức sống, trong một cảnh giới mà con người đã vượt thoát để an nhiên trong vạn vật. Đó là trạng thái “Pháp giới tánh với tâm là một, Vạn pháp đồng nhất thể” (Kinh Hoa Nghiêm)

            Sáng nay lên đồi Tịnh Độ

            Giọt sương tan trên lá xanh

            Trưa nay lên đồi Tịnh Độ

            Nghe cây chuyển nhựa lên cành

            Chiều nay lên đồi Tịnh Độ

            Mây vàng từng áng mong manh

            Tối nay lên đồi Tịnh Độ

            Trăng non đầu núi an lành

                        (Suối reo-Lên đồi Tịnh Độ)

Và đây là niềm hoan hỷ của Trần Ngọc Tuấn trên đường hành Thiền trong tập thơ Chân Thân

Chợt lòng

Tín giải

Vui sao

Như chàng cùng tử

Được trao gia tài

            (Chân thân-Tín giải)

Niềm hỷ hoan của Trần Ngọc Tuấn khi xác tín được chân lý Thiền cũng giống như niềm vui của chàng cùng tử trong Kinh Pháp Hoa.

Truyện kể rằng:  Chàng cùng tử rất nghèo. Từ nhỏ anh đã bỏ nhà đi, lưu lạc tha phương cầu thực hai ba chục năm. Rồi tình cờ anh trở về quê mà không biết. Anh không biết gốc tích của gia đình mình. Cha anh là người rất giàu. Mấy chục năm thương xót con, ông luôn dõi tìm nhưng không thấy. Hôm ấy, chàng cùng tử tình cờ đi tới nhà người giàu (cha anh) để xin làm thuê. Ông nhà giàu nhận ra ngay đứa con ông đang tìm, còn chàng cùng tử thấy sự giàu sang quá đỗi của nhà ông chủ thì sợ và bỏ chạy. Anh bị ông chủ bắt lại, sau đó được trả tự do và đi làm chỗ khác. Ông nhà giàu đến chỗ anh làm thuê, gặp gỡ trò truyện rồi nhận anh làm con nuôi. Ông vẫn giữ bí mật cha con với anh. Nhưng ông âm thầm đối xử hết sức yêu thương với anh và giao cho anh trọng trách quản gia. Đến khi ông lâm bệnh, biết mình không qua khỏi, ông quyết định nói sự thật cho con. Chàng cùng khổ vô cùng hạnh phúc. Anh không ngờ mình là con của một người quyền quý và giàu có như vậy.

Niềm hạnh phúc của chàng cùng tử giống hạnh phúc của muôn chúng sinh giây phút Phật thuyết kinh Pháp Hoa, nói cho biết ai cũng đều có thể thành Phật được[1]. Nhưng điều kỳ diệu là Trần Ngọc Tuấn lại cảm nhận được niềm hạnh phúc ấy khi lòng anh “Tín giải” những chân lý của Phật ngay trong thời đại này (rất khác với thờ Phật thuyết kinh Pháp Hoa).

 Người hành thiền Tịnh Độ phải thực hiện 3 giới luật lớn: Tín, NguyệnHành. Tín là tin Phật, tin Pháp và tin mình. Nguyện là mong muốn thực hiện những điều chân chính (như 48 đại nguyện của Phật A Di Đà). Hành là chuyên tâm niệm Phật cầu được vãng sanh vào cõi Cực lạc của Phật A Di Đà. Hành giả Trần Ngọc Tuấn đã đắm mình trong cõi Thiền ấy.

Quanh đây/ Quyến thuộc Bồ đề

Tám phương trăng sáng/ Bốn bề hoa thơm

                (Miền Tịnh Độ)

Những điều tưởng như giản dị ấy lại không dễ dàng. Trong tập thơ Chân Thân, Trần Ngọc Tuấn có nhiều bài thơ trăn trở về quá trình hành Thiền của mình, cũng đồng thời anh thể hiện nhiều trạng thái trải nghiệm tâm linh như dấu chỉ của hạnh ngộ. Thơ Thiền thường là diệu âm (tiếng tâm linh) trong khoảnh khắc đốn ngộ của hành giả. Những bài thơ như thế nằm trong dòng chảy thơ Thiền. Những bài trực tiếp nói đến Phật, Pháp có nhiều đặc điểm của Kệ (một thể loại Thiền sư dùng để Thị đệ tử về Phật)

Trần Ngọc Tuấn tra hỏi về Chân thân tức là nỗ lực trí tuệ nhận thức về bản thể của tồn tại, về Tự tánh của vạn pháp, nhưng anh bế tắc:

Người trong gương có phải mình

hay là ảo ảnh hiện hình chân thân

                        (Chân thân)

Tra hỏi như thế là chạm đến cốt tủy của tư tưởng Phật. Sự tồn tại của bản thân (thân xác, bản ngã, tử-sinh, có –không) là thật hay là ảo ảnh? Sự tồn tại của mọi vật ta nhìn thấy, của cả vũ trụ này, là thật hay cũng là ảo ảnh?

Ý tưởng này được Tổ sư Long Thọ (Nagajuna) diễn giải rất sâu sắc:

“Nếu pháp nhân duyên sanh,

Pháp ấy, tánh thật không.

Nếu pháp ấy chẳng không,

Không từ nhân duyên có.

Thí như bóng trong gương,…”

Thầy Thích Hạnh Bình giải thích như sau: “Long Thọ đã lấy ví dụ ‘bóng trong gương’ thuyết minh các pháp là duyên khởi tính. Cái bóng trong gương ấy, không phải do gương tạo ra, cũng không phải do mặt tạo ra, cũng không phải người làm gương tạo ra, không phải do mình tạo ra, cũng không phải do người khác tạo ra. Như vậy, ai là chủ nhân tạo ra ‘bóng’ này?Không có một chủ nhân nào tạo ra cả. Sở dĩ cái ‘bóng’ có trong gương là do tất cả những yếu tố này hình thành, nếu thiếu một trong những yếu tố đó thì ‘bóng’ ấy không xuất hiện. Như vậy, cái ‘bóng’ là do nhân duyên tạo thành. Cái gì do nhân duyên tạo thành, không làm chủ, thì cái ấy mang tính vô thường “[2]

            Và Phật dạy: cái gì vô thường đều là khổ (Kinh Vô Ngã tướng). Để thoát khỏi cái vô thường, phá bỏ Ngã chấp, người hành Thiền phải đi con đường Trung đạo. Phật dạy: “Có hai cực đoan này, này các Tỳ-khưu, một người xuất gia không nên thực hành theo. Thế nào là hai? Một là đắm say trong các dục (kàmesu), hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Hai là tự hành khổ mình, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Tránh xa hai cực đoan này, này các Tỳ-khưu, là con đường Trung đạo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”(Kinh Chuyển Pháp Luân-Dhammacakkappavattana Sutta).

            Người hành Thiền phải vượt qua vô thường, mới “vô ngã vô ưu”(không còn cái Ta thì không đau khổ). Trần Ngọc Tuấn khám phá những tư tưởng này bằng nhiều tứ thơ rất thuyết phục:

 Vượt qua/ Đường hiểm/ Oan sai

Tự do/ Sải cánh/ Chim bay/ Giữa trời

                (Vượt thoát)

 Vui gì mấy đóa hoa rơi

Mấy thân mục rữa, mấy lời ngoa ngôn

Về ngồi giữa đĩnh núi non

Nghe tâm thanh lọc mất-còn, có-không

            (Giữa núi)

 Giã từ gánh nặng sân si

Dứt tình tham ái từ bi dâng tràn

Chỉ còn tâm thức nhẹ nhàng

Lặng trong cõi tịnh, niệt bàn, chân như

                (Điều còn lại)

Miệt mài/ Trì niệm/ Pháp KHÔNG

Phận mình dun dế/ Vẫn mong một ngày…

                (Thân phận)

Đường dài/ Mù mịt/ Đêm đen

Tự mình thắp sáng/ Ngọc đèn/ Chân như

                (Tự tâm)

Lang thang/ Trong cuộc lữ hành

Con đường trung đạo/ Đã thành lối quen”

                (Trung đạo)

Con đường trung đạo là tu tập theo Bát chánh đạo. Khi đã đi con đường trung đạo, Hành giả đạt đến niềm hạnh phúc an nhiên

Một mình/ Một núi Thiên Thai

Gương sen soi sáng/ Sương mai/ An lành

                    (Trên núi Thiên Thai)

Núi Thiên Thai là nơi Trí Khải Thiền sư tu tập (năm 575 đời Trần Tuyên Đế-TQ). Nhắc đến núi Thiên Thai, Trần Ngọc Tuấn thể hiện niềm vui của một cuộc hạnh ngộ Thiền; Tuyệt nhiên không có cảm giác cô đơn, tự mãn, cao ngạo như Xuân Diệu trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn (bài thơ Hy Mã Lạp Sơn).

Tôi chia sẻ được niềm vui của Hành giả Trần Ngọc Tuấn trải khắp không gian-thời gian:

Trên tay/ Một đóa sen hồng

Hương tâm/ Dịu nỗi có-không kiếp người

                (Hương tâm)

Không chấp người/ Không chấp ta

Rừng hoang/ Thu vắng/ Vào ra nhẹ nhàng

                (Vô chấp)

Đất lành/ Rừng lại thêm xanh

Chim muông về tụ/ Trên cành nhân tâm

                (Đất lành)

 Đường đời/ Hội ngộ/ Phân ly

 Niềm vui/ Ngay bước chân đi/ Một mình

                      (Hành hương)

                Đèo cao/ Vạn dặm muôn trùng

Pháp âm vi diệu/ Sáng bừng núi non

                 (Diệu âm)

Tùy duyên/ Đây đó/ Tiêu dao

Hương sen/ Dẫn dắt/ chốn nào không an

            (Tiêu dao)

Thong dong/ Một chiếc thuyền không

Mặc thu vàng lá/ Mặc đông buốt chiều

                (Thuyền không)

Sống vui/ Hàng thuận chúng sanh

Ngày đêm soi mặt/ gương lành Pháp Hoa

                (Đối diện)

Ngôi nhà bên suối/ Tịch liêu

Một vần trăng sáng /Thương yêu bên thềm

                (Về)

Cái Tâm trong những bài thơ trên đã rất “an lành thơm tho” và “sáng bừng lên” niềm vui đầy hào quang Thiên, không còn là “cái Tâm sai biệt”. “Cái Tâm” ấy đã bao trùm được vạn pháp trong một hạt cải (Kinh Hoa Nghiêm).

Tôi đặc biệt chú ý những bài thơ Trần Ngọc Tuấn hướng về tha nhân. Những bài thơ này có sức lay động sâu xa lòng người và chứa đựng sự mầu nhiệm của tư tưởng Thiền. Thơ Trần Ngọc Tuấn trở nên rất lạ, rất mới thể hiện cái bao la từ bi Phật.

Đi trong/ Hoang vắng/ Khô cằn

Thương cho cây cỏ/ Nhọc nhằn tử sinh

                (Thương)

Cây thối rễ/ Còn mong gì/ Hoa lá

Tội nghiệp người/ Ngồi nhớ/ Thuở còn xanh

            (Vô thường)

Vãn tuồng/ Màn khép/ Rèm buông

Lơ ngơ đào kép/ Buồn buồn xướng ca

            (Thấy)

Nguyện xin/ Ở lại nơi này

Những mong tận thấy/ Hoa bay cùng người

                (Ở lại nơi này)

Phải chăng đó là tâm nguyện của Phật A Di Đà, ngài có 48 lời nguyện khi ở lại cõi nhân gian để cứu độ chúng sinh?

Nhà thơ Trần Ngọc Tuấn ở Đại hội-Hội Nhà văn lần thứ X-năm 2020

TRẦN NGỌC TUẤN –NHÀ THƠ TÀI HOA

            Thiền chỉ là tư tưởng trong thơ Trần Ngọc Tuấn, và nhà thơ có phải là người hành Thiên (Hành giả) hay không, điều ấy không quan trọng. Vấn đề là người làm thơ có viết được những bài thơ hay, độc đáo về tứ hay không?

            Nhưng để đọc những bài thơ Thiền của Trần Ngọc Tuấn, người đọc không thể tiếp nhận thơ như một văn bản nghệ thuật bình thường. Thơ Trần Ngọc Tuấn có nhiều tri thức, thuật ngữ  Phật học, chứa đựng cốt tủy tư tưởng Phật trong các Kinh văn. Những tri thức tư tưởng ấy được chuyển hóa từ tâm nhà thơ, một cách rất tinh tế, thành những tứ thơ độc đáo.

 Như tôi đã trình bày ở trên, Trần Ngọc Tuấn đã thâm nhập rất sâu vào Kinh Chuyển Pháp Luân, Kinh Vô Ngã tướng, Bài Kinh ngắn về Tính Không của Phật; Kinh Kim Cang, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, …Anh cũng đã hành Thiền theo Tịnh Độ Tông và vận dụng phép biện chứng “Bát Bất” của Long Thọ (Bất sinh, bất diệt/ Bất thường, bất đoạn/ Bất nhứt, bất dị/ Bất lai, bất khứ). Người đọc cần có sự hiểu biết tối thiểu văn hóa, tư tưởng Phật  mới có thể cảm nhận được cái hay của thơ Thiền Trần Ngọc Tuấn. Chẳng hạn, những hình ảnh “Hoa sen nghìn cánh”, câu chuyện “Chàng cùng tử”, hoặc tư tưởng “Tự mình thắp sáng”, kiểu ngôn ngữ “Vô ngôn”…đều hàm chứa những ý tứ sâu xa trong kinh điển Phật giáo. Nếu không nắm được những tri thức ấy, và nếu không “thành Tâm”, người đọc sẽ không cảm được cái hay của thơ Thiền.

Trần Ngọc Tuấn có nhiều tứ thơ đẹp, mới lạ làm ngỡ ngàng người đọc. Rất tiếc trong phạm vi một bài viết ngắn, tôi không chia sẻ lời bình được với bạn đọc, nhưng tôi tin cái hay của thơ Trần Ngọc Tuấn một khi đã thấm vào tâm, bạn đọc sẽ thấy lòng mình tự sáng lên.

Bao năm/ Ở núi/ Quên trò chuyện

Nên tiếng của người/ Như tiếng chim

                (Ở núi)

Vừa xong/ Một giấc mơ hoa

Ơ hay!/ Chợp mắt/ Đò qua sông rồi

                (Ngày đẹp)

Trăm con đom đóm/ Tự tình

Chợt đêm huyền ảo/ Chợt mình rỗng không

                                (Tự tình)

Chim bay/ Chim đã bay rồi

Đừng mong tiếng hót/ Trên đồi quạnh hiu

                (Dõi cánh chim bay)

Dọc ngang/ Xuôi ngược/ Mỏi mòn

Bên dòng sông cạn/ Sao còn buông câu

                                (Bể dâu)

Bài thơ Hồn nhiên xanh tập trung đầy đủ những phẩm chất của một Hành giả đã vượt qua những bão giông của Ngã chấp để tới bến bờ bên kia (đáo bỉ ngạn) của Miền Tịnh Độ; vừa bung nở những nét tài hoa vốn có trong thơ Trần Ngọc Tuấn. Tôi gọi là “Tài hoa” vì Trần Ngọc Tuấn sáng tạo những tứ thơ độc đáo để chuyển tải tư tưởng Thiền, góp thêm vào làm giàu có thơ Thiền Việt Nam.

Hồn nhiên xanh lá trên cành

Không hay sâu bọ loanh quanh bóng mình

Hồn nhiên xanh suối lặng thinh

Không hay sấm chớp thình lình bão giông

Hồn nhiên xanh biển mênh mông

Không hay sóng cả trải lòng trùng khơi

Hồn nhiên xanh nắng bên trời

Không hay mây trắng cất lời hư vô

Hồn nhiên xanh cỏ ngây ngô

Không hay giun dế dưới mồ niệm kinh

Hồn nhiên xanh đến hết mình

Không hay cơn gió bội tình vừa qua

                (Hồn nhiên)

Trạng thái “Hồn nhiên xanh ” tương phản với thực tại vô thường của Trần Ngọc Tuấn không phải là thái độ sống “vô vi”(Vi vô vi, sự vô sự) vủa Lão Trang thường thấy trong thơ trung đại Việt Nam. Hồn nhiên xanh là vượt qua bão giông tư tưởng, vượt qua cái tâm sai biệt nhị nguyên; vượt qua những bể khổ tử-sinh; vượt qua những hư huyễn ảo giác; những ác nghiệp. Hình ảnh thiên nhiên cây cỏ, nắng bên trời, giun dế niệm kinh dưới mồ vừa gợi ra một cảnh sắc thực tại, là vừa là cảnh sắc ẩn dụ để chuyển tải tư tưởng Thiền, tư tưởng của một Hành giả đã như cánh chim bay vút lên, thoát khỏi những nghiệt ngã dữ dội của Thân, Nghiệp (“Đã mang lấy nghiệp vào thân”-Nguyễn Du).

Tôi rất thích bài thơ nhỏ này

Bên đồi

Một ngọn khói bay

Ai ngồi đốt lửa

cho ai sáng lòng

                                (Ánh lửa hồng)

                Bài thơ chỉ là một cặp Lục bát được ngắt ra để tạo thành một bài Tứ tuyệt, thế nên có 2 cách đọc. Đọc bài thơ như Tứ tuyệt, và đọc bài thơ như Lục bát.

Tôi thích đọc Lục bát, bởi Lục bát có nhạc, có vần, cấu trúc tứ thơ tròn đầy, hình tượng trong thơ hiển lộ; nhờ đó tình ý vang lên, cộng hưởng với những rung động trong tim phát ra những vòng hào quang rất đẹp của trí tuệ.

            Bên đồi/ Một ngọn khói bay

Ai ngồi đốt lửa/ cho ai sáng lòng

                                (Ánh lửa hồng)

Đọc theo cách đọc một văn bản nghệ thuật hiện thực: Bài thơ là một cảnh hiện thực, một lát cắt không-thời gian. Ai đó đốt lửa bên đồi làm khói bay lên. Một cảnh vừa quen thuộc vừa lạ. Quen bởi vì hình ảnh đốt lửa làm khói bay ai cũng từng gặp: chẳng hạn cảnh đốt đồng ở miền Tây sau mùa gặt, hoặc khói cơm chiều ở thôn quê (“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” Huy Cận)…Nó gợi ra sự thanh bình, yên ả và ấm cúng nhàn nhã sau những ngày làm lụng vất vả.  Đại từ”Ai” trong “Ai ngồi đốt lửa” là tha nhân, còn “ai” trong “cho ai ấm lòng” lạ chính là nhà thơ, người hành Thiền. Vì có lửa của người khác chia sẻ nên nhà thơ cảm thấy ấm lòng, ấm lòng vì có tha nhân ở bên, ấm lòng vì tình người như lửa (Khác với J.P.Sartre: “Tha nhân là địa ngục”).

Nhưng bài thơ trở nên lạ trong trường mỹ học Thiền. Khói là hình ảnh hư huyễn của vạn vật. Nó gợi ra cả một trời suy tưởng về tồn tại, về những nuối tiếc cuộc đời khi con người biết rằng tất cả rồi sẽ qua đi, sẽ tan đi và biến mất như làn khói kia. Con người phải đối mặt với hư vô và tan vào hư vô hay là phải nỗ lực nhảy qua hố thẳm (Hố thẳm tư tưởng-Phạm Công Thiện).

Nhưng bài thơ đột ngột chuyển ý. Câu Lục là sự vật, câu Bát là con người. Tâm điểm chú ý của bài thơ không phải là khói mà là tha nhân, là lửa, bởi hai nhân tố này đem đến một giác ngộ:  “Ai ngồi đốt lửa/ cho ai sáng lòng”.

Nhà thơ-người hành Thiền, nhìn khói mà ngộ ra chân lý vô thường của sự vật, càng ngộ ra Thân-Nghiệp của Ngã. Mỗi người là quả nghiệp của chính mình, của cha mẹ, của kiếp trước nhưng cũng của tha nhân. Chính người đốt lửa tạo nghiệp phúc làm cho nhà thơ giác ngộ (sáng lòng).

Đức Phật từng dạy: “Vậy nên này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình (atta-dipà viharatha), hãy tự mình y tựa chính mình (attàsaranà) chớ y tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác”.

Có thể hiểu người đốt lửa ấy là người đem đến chánh pháp (Đức Phật) cho hành giả, để rồi nhà thơ tự sáng.

Ung dung/ Từng bước du hành

KHẢI-THỊ-NGỘ-NHẬP/ Rành rành dấu chân

            (Tự sáng)

KHẢI- THỊ -NGỘ- NHẬP là từ dùng trong Kinh Pháp Hoa. Phật vì một đại sự nhân duyên mà ra đời: khiến chúng sinh được giác ngộ, và nhập vào tri kiến của Phật. Khai thị là làm cho thấy, mở ra, chỉ cho thấy[3].

Bài thơ chỉ có 16 chữ nhưng chứa đựng những tư tưởng lớn về con người (quan hệ Ta với Tha nhân), về hiện thực, về chứng ngộ Thiền; hơn thế còn hiển lộ phẩm chất Hành giả an nhiên và cốt cách của một nhà thơ tài hoa. Đó là chỗ đặc sắc của thơ Thiền Trần Ngọc Tuấn.

NGÀY XUÂN ĐỌC THƠ THIỀN

Tôi viết những dòng này trong những ngày xuân Tân Sửu, bởi có lẽ, ngày xuân đọc thơ Thiền thì hạnh phúc hơn cả. Cám ơn nhà thơ Trần Ngọc Tuấn đã giúp tôi cảm nhận được niềm hạnh phúc Tịnh Độ

Nguyện xin/ Ở lại nơi này

Những mong tận thấy/ Hoa bay cùng người

                (Ở lại nơi này)

Cỏ hoa rực rỡ niềm vui, con người hân hoan gần gũi. Người ta chúc nhau bao nhiêu điều tốt đẹp, phải chăng đó cũng là đại nguyện của Phật A Di Đà (xin đọc đại nguyện số 32).

***

Xuân Tân Sửu

(Ngày 30 tháng chạp Canh Tý)

[1] Trích sách Sen nở trời phương ngoại của HT Làng Mai

[2] Thích Hạnh Bình-Tư tưởng Không của Phật giao Đại Thừa:

https://thuvienhoasen.org/p25a7139/2/tu-tuong-khong-cua-phat-giao-dai-thua

[3] http://www.hoalinhthoai.com/buddhistdictionary/detail/char-1184/.html

HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG

HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ.

Chúng tôi không cần nhiều người vào hội mà chúng tôi cần những nhà văn tên tuổi, có đóng góp cho văn học, những người sáng tác nghiêm cẩn, có tác động xã hội”

***

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều-Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam

(Trích)

Hãy ngồi xuống, với cảm xúc thật lớn

Pv:-Vậy chức chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam với ông là gì? Một trọng trách xã hội?

NQT: Đó là trọng trách cùng với những người khác, với những hội viên cùng nhau làm điều gì đó tốt lên, một trọng trách đáng yêu, xúc động. Hội Nhà văn không thò tay, bước chân được vào phòng viết của bất cứ nhà văn nào, không giúp ai viết được một tác phẩm hay.

Hội chỉ có thể nói với họ hãy ngồi xuống, với lòng kiên nhẫn và kiêu hãnh, với một cảm xúc thật lớn để viết một tác phẩm hay. Và hội phải biết phát hiện ra giá trị thật và tôn vinh nó, công bằng với nó, bảo vệ nó.

Pv: Giai đoạn trước đây Hội Nhà văn Việt Nam đã làm được những nhiệm vụ này chưa, theo ông?

NQT: Hội cũng đã nỗ lực làm. Nhưng cái gì trước mắt cũng đẹp đẽ hơn cái hiện tại. Chúng tôi thấy ngày mai sẽ khác đi, tốt hơn ngày hôm nay. Xưa hội cũng đã làm được rất nhiều điều quan trọng nhưng có những điều chưa làm được, hoặc có khả năng làm được mà chưa làm thì bây giờ những người kế tiếp phải làm những việc đó.

Tôi vẫn nói với các nhà văn tôi không làm thơ giỏi hơn các bạn nhưng tôi có khả năng “kích động” các bạn để làm việc một cách mê đắm.

Tất nhiên Hội Nhà văn cũng chỉ là một cơn cớ, thúc đẩy nhà văn viết. Có những người không vào hội nhưng họ vẫn viết tuyệt vời, nhưng nếu vào hội để cùng nhau làm điều gì đó thì cũng rất cần thiết.

PV: Mục tiêu lớn nhất của ông trong vai trò chủ tịch Hội Nhà văn là gì?

NQT: Là kích thích sáng tạo của nhà văn, phát hiện, bảo vệ, làm lan tỏa những giá trị thật trong văn chương, bởi vì lâu nay chúng ta chưa làm đầy đủ.

Chúng tôi đặt rất nhiều vào thế hệ trẻ, chúng tôi tìm mọi cách để làm cho thế hệ trẻ thấy rằng khi họ hạ bút xuống là có thể liên can đến số phận bên cạnh họ, hay làm một cái gì đó tốt hơn.

Có những hội viên không xứng đáng

Pv: Lâu nay có ý kiến rằng các giải thưởng văn chương của Hội Nhà văn Việt Nam chưa tạo được uy tín lớn trong xã hội, bỏ sót nhiều tác phẩm xứng đáng và tôn vinh những giá trị đôi lúc có phần xoàng xĩnh. Ông sẽ làm gì để nâng uy tín các giải thưởng của hội?

NQT: Trước đây giải thưởng có thể bỏ sót tác phẩm hay là vì tác giả không tham gia dự giải hoặc không ai đề cử cho họ. Còn hội đồng chấm giải chỉ tới cuối tháng 10 mới làm việc, tháng 12 công bố giải thưởng, họ không có thời gian rà soát các tác phẩm tốt để không bỏ sót.

Từ bây giờ tôi sẽ tạo cho hội đồng có cách thức làm việc trong cả năm, phải thăm dò các tác phẩm. Hội đồng phải thường xuyên làm việc với các nhà xuất bản để chính các nhà xuất bản đề cử cho hội đồng những cuốn sách hay.

Hội đồng cũng phải tiếp cận những người đọc có khả năng đọc tốt, quan sát tốt, để họ nói cho biết những cuốn sách hay để tìm đến chúng chứ không phải chỉ ngồi đợi chúng đến với mình.

Tóm lại, chúng tôi sẽ giám sát, theo dõi các phong trào sáng tác, tìm hiểu, lắng nghe dư luận, lắng nghe báo chí, lắng nghe các nhà xuất bản, dám trao giải cho những cuốn sách gai góc xứng đáng.

Pv: Ông có tự tin là trong nhiệm kỳ của mình, ông có thể tổ chức những giải thưởng uy tín?

NQT: Tôi tự tin sẽ không bỏ sót những tác phẩm đáng được tôn vinh, trao giải thưởng. Nhưng tôi phải đặt câu hỏi ngược lại với các nhà văn rằng: Các anh đã làm ra những gì thực sự xứng đáng để chúng tôi tôn vinh chưa?

Có những tác phẩm hay nhưng chúng tôi bỏ qua, chúng tôi không bảo vệ được để trao giải thì đó là sai lầm, khiếm khuyết của chúng tôi, nhưng nếu chúng tôi tìm mọi cách trọng thị nhất mà không có tác phẩm hay để trao giải thì đành chịu.

Những thay đổi

Pv: Còn việc kết nạp hội viên có lẽ cũng cần thay đổi, thưa ông?

NQT: Kết nạp hội viên cũng sẽ phải thay đổi. Các nhà văn có tên tuổi, đóng góp cho văn học nhưng không vào hội như Nguyễn Việt Hà trong văn xuôi, Nguyễn Phúc Lộc Thành trong thơ, Trần Tiễn Cao Đăng trong dịch thuật, Trần Ngọc Vương trong nghiên cứu văn học, Huỳnh Như Phương trong lý luận phê bình văn học…

Họ là những người xuất sắc trong lĩnh vực của họ nhưng tại sao họ lại không là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam để cùng xây dựng hội tốt hơn? Bây giờ chúng tôi phải tìm đến họ, mời họ tham gia với chúng tôi. Tất nhiên thuyết phục họ không dễ, nhưng với sự thịnh tình, thiện chí, tôi tin chúng tôi sẽ thuyết phục được họ.

Đồng thời, chúng tôi phải ngăn cản tất cả những thứ không đáng “tràn” vào hội. Mấy năm vừa rồi Hội Nhà văn Việt Nam kết nạp nhiều hội viên và trong đó có những trường hợp không xứng đáng. Tất nhiên điều này là lỗi của tất cả những người liên quan như các thành viên hội đồng xét kết nạp hội viên, thành viên ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam chứ không phải của riêng ai.

Chúng tôi không cần nhiều người vào hội mà chúng tôi cần những nhà văn tên tuổi, có đóng góp cho văn học, những người sáng tác nghiêm cẩn, có tác động xã hội. Chúng tôi không bắt họ viết đơn vào hội nữa. Chúng tôi trân trọng mời họ vào hội. Chúng tôi đã bắt đầu triển khai trong ban chấp hành hội và tôi đã gặp ít nhất ba người để mời vào hội.

Pv: Gần đây xã hội bắt đầu nói đến yêu cầu phải xã hội hóa các hội nghề nghiệp giống như Hội Nhà văn hay các hội văn học nghệ thuật khác, ông nghĩ sao về điều này?

NQT: Tôi nghĩ rằng có rất nhiều dạng hội, câu lạc bộ. Câu lạc bộ Thơ Việt Nam rất đông. Ngay Hội Nhà văn, chúng tôi đang bàn tới thành lập câu lạc bộ những nhà văn trẻ. Các khuynh hướng, quan điểm sáng tác giống nhau có thể tập hợp lại, ngồi cùng với nhau, và Hội Nhà văn sẽ tìm cách giúp đỡ họ.

Những câu lạc bộ như thế là việc bình thường, nhưng thành lập hội thì khác, phải tuân theo quy định của luật pháp. Tính đa dạng của xã hội, của nghề nghiệp và tính đa dạng của hoạt động văn học nghệ thuật nói riêng lâu nay đã được mở rộng rất nhiều.

Pv: Hội Nhà văn đã có nhiều nỗ lực hòa hợp, hòa giải dân tộc thông qua văn chương như xuất bản các tác phẩm có giá trị trước 1975 ở miền Nam và có nhiều gặp gỡ, làm việc với các tác giả hải ngoại… Trong nhiệm kỳ mới của ông, ông sẽ tiếp tục nhiệm vụ này như thế nào?

NQT: Trong lời phát biểu của ông Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung Ương, tại Đại hội Hội Nhà văn khóa X có nhấn mạnh sứ mệnh hòa hợp, hòa giải dân tộc thông qua văn học.

Từ lâu văn học đã làm điều đó cho dù còn mờ nhạt. Mấy năm gần đây tác phẩm của các nhà văn ở miền Nam trước 1975 và các nhà văn sinh sống ở nước ngoài đã xuất hiện nhiều hơn trên những ấn phẩm của Hội Nhà văn như báo Văn Nghệ, tạp chí Nhà Văn & Tác Phẩm, đặc biệt trên ấn phẩm Viết & Đọc của Nhà xuất bản Hội Nhà Văn. Ban chấp hành khóa X sẽ tiếp tục đẩy mạnh vấn đề này một cách cụ thể trên một chiến lược lâu dài.

Văn học nghệ thuật đúng bản chất của nó là phi biên giới, là dân chủ, bình đẳng, là kêu gọi tình yêu thương của con người và tôn trọng mọi sự khác biệt của con người. Chính thế mà văn học nghệ thuật phải là người tiên phong để từng bước xóa bỏ đi những khác biệt và cách biệt.

https://tuoitre.vn/chu-tich-hoi-nha-van-viet-nam-nguyen-quang-thieu-cac-nha-van-hay-viet-that-me-dam-20210114092132869.htm

THIÊN ĐIỂU thực hiện

HỮU THỈNH & BẾN VĂN CHƯƠNG

BẾN VĂN CHƯƠNG

(Đọc Bến văn và những vòng sóng-Hữu Thỉnh. Tiểu luận & Phê bình. Nxb HNV 2020)

Bùi Công Thuấn

***

Bến văn và những vòng sóng là tập Tiểu luận và Phê bình của nhà thơ Hữu Thỉnh in quý I năm 2020. Cuốn sách có thể giúp người đọc nhận ra nhiều mặt tài năng của ông, đồng thời có thể lý giải do đâu ông được rất nhiều người yêu mến.

NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HỌC

Phần thứ nhất của cuốn sách tập hợp các bài “diễn văn”, Chủ tịch Hữu Thỉnh “phát biểu” trước một cử tọa chọn lọc trong các hội nghị. Đó là các bài:

Tổng kết hội thảo 2014: “Xây dựng con người Việt Nam hôm nay và trách nhiệm của Văn học Nghệ thuật”; Đề dẫn Hội nghị Lý luận Phê bình lần II, Đồ Sơn 3,4,5/10/2006; Khai mạc Hội nghị Viết văn trẻ lần VIII. 2011; Diễn văn kỷ niệm 60 năm xây dựng và phát triển Hội Nhà văn Việt Nam (1957-2017); Diễn văn khai mạc Hội nghị đại biểu những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX. 2015; Báo cáo tổng kết Công tác văn học 5 năm (2000-2004); Phát biểu tổng kết hội thảo “Bồi dưỡng chăm sóc tài năng văn học nghệ thuật trong tình hình mới”. 2012; Tham luận tại cuộc hội thảo giao lưu văn hóa tại Đà Loan; Diễn văn khai mạc Liên hoan  Thơ chấu Á-Thái Bình Dương lần thứ nhất 2-7/2/2012 tại Quảng Ninh –Hà Nội; Diễn văn khai mạc Hội nghị Quảng bá Văn học Việt Nam lần thứ III tại Hà Nội từ 2-7/3/2015…Phát biểutại hội thảo thơ Mai Văn Phấn-Đồng Đức Bốn: Khác biệt và thành công, tổ chức tại Hải Phòng ngày 15/512017…

Trong những hội nghị, diễn văn của nhà thơ Hữu Thỉnh (Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam) có sức hấp dẫn đặc biệt, bởi ông vừa là nhà thơ, vừa ở cương vị lãnh đạo Hội Nhà văn (một Hội nghề nghiệp có tiếng xưa nay). Người ta chờ được nghe những thông tin mới, những điều riêng tư mà thông tin báo chí không có. Hơn nữa sức thuyết phục của những “phát biểu” này còn toát ra từ giọng điệu và thái độ diễn ngôn của tác giả. Ông khai thác triệt để thế mạnh của ngôn ngữ nói, lời văn của ông giàu hình ảnh, cảm xúc; ông nắm được tâm lý của người nghe và đáp ứng những mong muốn ở họ. Ông đem đến niềm vui, niềm hy vọng, và trên hết là sự thân thiện, là bạn hữu nhưng người có hoài bão lớn.

Đọc văn bản in giấy (chữ – ký hiệu thị giác), những “diễn văn” của nhà thơ Hữu Thỉnh chỉ còn sức thuyết phục ở nghệ thuật lập luận và nghệ thuật biểu đạt tư tưởng tình cảm.

Bỏ qua những yếu tố có tính xã giao, những “diễn văn” này chứa đựng nhiều vấn để văn học nghệ thuật mà nhà thơ Hữu Thỉnh với tư cách Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam quan tâm. Những vấn đề này ông có cách lý giải thuyết phục.

1.Trước hết, nhà thơ Hữu Thỉnh là một đảng viên. Ở cương vị lãnh đạo, ông có nhiệm vụ trực tiếp triển khai  nội dung các Nghị quyết về văn hóa, văn nghệ của Đảng.

Tổng kết hội thảo 2014: “Xây dựng con người VN hôm nay và trách nhiệm của VHNT”, ông nhấn mạnh: “Cuộc hội thảo của chúng ta hôm nay là bước khởi động…triển khai Nghị quyết 33 của Hội nghị Trung ương lần thứ 9, khóa XI Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước’”.

Đề dẫn Hội nghị LLPB lần II, Đồ Sơn 3,4,5/10/2006, ông nói rõ mục đích: “Hội nghị lần này là hoạt động mở đầu cho chương trình hành động của toàn giới nhà văn nhằm đưa Nghị quyết Đại hội X của Đảng vào đời sống văn học” (tr.17).

Ông nhấn mạnh đoạn Nghị quyết này: “Phát huy tiềm năng, khuyến khích sáng tạo văn học nghệ thuật, tạo ra những giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật…Bảo đảm tự do, dân chủ cho mọi hoạt động sáng tạo văn hóa, văn học, nghệ thuật đi đôi với phát huy trách nhiệm công dân của văn nghệ sĩ. Có chính sách trọng dụng các tài năng văn hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của văn nghệ sĩ. Đẩy mạnh hoạt động lý luận phê bình văn học, nghệ thuật.”(tr.21).

Trong bài Văn học với nhiệm vụ đưa văn hóa thấm sâu vào đời sống (tr.38), ông cũng xác định rõ nhiệm vụ: ”làm chuyển biến nhận thức, quan điểm và tìm các biện pháp khả thi nhầm phát triển văn học nghệ thuật trong tình hình mới theo Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị khóa X…” (tr.43)

Trong phát biểu tại Cuộc gặp mặt lần thứ nhất: Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc (tr.444), Chủ tịch Hữu Thỉnh đã triển khai sâu sắc và thuyết phục Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Ông làm rõ truyền thống đoàn kết dân tộc. Ông nhân mạnh nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc theo quan điểm của Đảng:”Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc mở rộng cánh cửa đón nhận mọi tài năng văn học từ mọi chân trời” (tr.446);”đời sống văn học của cộng đồng người Việt ờ nước ngoài là một bộ phận khăn khít của văn học nước nhà (tr.445); Chúng ta xin gửi thông điệp khẩn thiết này đến tất cả các nhà văn Việt Nam, với tư cách là người cầm bút của ngày hôm nay, bây giờ, ở bất cứ đâu, không kể đến xuất xứ và quá khứ của họ. Trước sứ mệnh của tổ quốc, mọi người đều bình đẳng về trách nhiệm và nghĩa vụ (tr.447).

Nhưng ông cũng xác định rõ những giới hạn: “Chúng ta tôn trọng mọi khác biệt…Nhưng tuyệt đối hóa sự khác biệt thì cuộc sống không còn là cuộc sống.(tr.450); viết về chiến tranh cũng cần có cái nhìn đổi mới…nhưng đổi mới thế nào cũng không thể làm biến dạng bản chất chính nghĩa, tầm cao vĩ đại, và phẩm giá anh hùng của nhân dân ta” (tr.447).

Cuộc gặp mặt lần thứ nhất: Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc được tổ chức thành công dù vẫn còn nhiều vấn đề cần thời gian để thu ngắn sự khác biệt. Ở sự kiện này, Chủ tịch Hữu Thỉnh tỏ rõ một bản lĩnh chính trị vững vàng, tài thu phục nhân tâm, tài tổ chức và năng lực ngôn ngữ có chiều rất sâu của văn hóa dân tộc và tầm rất rộng của sự hiểu biết tinh thần của thời đại toàn cầu hóa, hơn thế, còn là một nhà ngoại giao dày dạn kinh nghiệm trong việc thực hiện quan điểm đường lối của Đảng.

Có thể nói phẩm chất một đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là phẩm chất hàng đầu của Chủ tịch Hữu Thỉnh. Ông đã giữ gìn phẩm chất này từ trong ý thức-tư tưởng đến mọi hoạt động, mọi giao tiếp. Xin đọc thêm bài Phép thần diệu của lương tâm (tr. 134), ông kể về chuyến đi Mỹ; đọc phát biểu tại hội thảo thơ Đồng Đức Bốn-Mai Văn Phấn, ông đính chính một chữ của Đỗ Quyên (về Vy Thùy Linh và thơ của nhóm Mở Miệng). Ông nói rõ “…Người đọc bình thường cũng nhận ra ngay thái độ chống đối, vu cáo, kích động của những bài thơ độc địa này”(tr.272). 

Hữu Thỉnh đã giữ gìn trọn vẹn phẩm chất Đảng viên cho đến Đại hội lần thứ X Hội Nhà văn Việt Nam (2020), khi ông rút lui khỏi đề cử vào Ban Chấp hành. Ông nói: là một đảng viên, tôi phải nêu gương chấp hành Nghị quyết của Đảng.

2. Ở phương diện “đối ngoại”, dân tộcnhân lọai là 2 nền tảng để ông đối thoại

với những vị khách nước ngoài đủ mọi thành phần. Ông không đề cập đến sự khác biệt chính trị, kinh tế giữa các quốc gia. Ông triển khai vấn đề trong tinh thần hòa bình, hữu nghịhội nhập văn hóa. Ông cho đó là một “lẽ phải lớn”:

“…ở đâu và khi nào thì tiếng gọi của hòa bình, của tình bằng hữu cũng có sức tập hợp to lớn. Đó là một lẽ phải lớn…”(tr.107). “Hòa bình là tài sản vô giá của loài người…Hòa bình là khởi nguồn cho mọi khởi nguồn, là điều kiện của mọi điều kiện…Với thơ ca, hòa bình là một niềm say mê, một cảm hứng sáng tạo vô hạn trong tình yêu con người”(tr.111).

Ông tự hào về lịch sử dân tộc, ông xác định giá trị văn học Việt trong tầm vóc nhân loại. Những câu văn của ông hào sảng, ông khái quát lên tư thế một dân tộc ở đỉnh cao chiến thắng, đỉnh cao lịch sử và chân lý:

“…cuộc chiến đấu cho tự do độc lập trên đất nước chúng tôi cũng đồng thời là cuộc chiến đấu cho văn hóa dân tộc. Đó còn là cuộc chiến đấu cho nhân loại, vì Việt Nam kiên cường chống lại sự hủy diệt văn hóa trên quy mô lớn (tr.93).

“Là các nhà văn bước ra từ chiến tranh, và đi lên từ những vết thương xé lòng, chúng tôi hiểu ánh sáng không bao giờ cũ. Máu không bao giờ cũ. Tình bạn không bao giờ cũ”(tr.95)

Trong bài Vẻ đẹp thơ ca và hơi ấm của tình hữu nghị (tr.107), diễn văn khai mạc Liên hoan  Thơ châu Á-Thái Bình Dương lần thứ nhất 2-7/2/2012 tại Quảng Ninh –Hà Nội, trước đại diện của 28 quốc gia Chấu Á-Thái Bình Dương, ông nói:

“Chúng tôi được biết rằng, dưới tác động của nhiều nguyên nhân khách quan và do sự đòi hỏi của cuộc sống, thơ ca của các quốc gia đang cùng có sự chuyển động, tự cách tân mạnh mẽ. Thơ ca của đất nước chúng tôi không nằm ngoài xu thế đó. Hoặc rút vào tháp ngà hoặc là trở thành người đồng hành với nhân dân. Thơ ca của chúng tôi chọn phương án thứ hai. Sự lựa chọn đó là tuyệt đối. Và đó cũng chính là truyền thống của thơ ca Việt Nam qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước. Nhờ bám rễ rất sâu vào đời sống của nhân dân, nên thơ ca của đất nước chúng tôi có truyền thống là một trong những loại hỉnh nghệ thuật có khả năng lưu giữ và chưng cất kỳ diệu nhất vẻ đẹp tâm hồn dân tộc…Mở với đời sống. Mở với nhân loại… Đại diện ưu tú nhất về sự kết hợp các giá trị dân tộc và nhân loại là chủ tịch Hồ Chí Minh, người mà cuộc đời và sự nghiệp đã thuộc về những giá trị chung nhất của loài người…Người đã chứng minh một cách tuyệt đẹp thơ ca là khí phách, lương tâm và danh dự dân tộc”(tr.110)

Ông ca ngợi nền văn học Việt Nam: “…nền văn học Việt Nam có lịch sử lâu đời, độc đáo về bản sắc và luôn luôn phát triển theo xu hướng mở. Đó là một nền văn học thấm nhuần tư tưởng nhập thế tích cực và chủ nghĩa nhân văn sâu đậm luôn luôn gắn bó với số phận con người; chia sẻ, nâng đỡ những bất hạnh trong cuộc sống, không ngừng chống lại mọi cái xấu cái ác góp phần hoàn thiện con người và đạo đức xã hội. Đó là một nền văn học xả thân vì vận mệnh  Tổ quốc, rực cháy chủ nghĩa yêu nước, khát vọng độc lập, tự do và hạnh phúc con người, kiên cường chống lại mọi sự áp đặt và xâm lược bất kể từ đâu tới…”(tr.126)

Các vị khách nước ngoài nghe Chủ tịch Hữu Thỉnh phát biểu, chắc họ có thể đồng thuận được ở những “lẽ phải lớn”, những tình cảm lớn và những vấn đề lớn mà ông đặt ra. Đồng thời qua ông, họ cũng nhận ra tầm vóc con người Việt Nam trong quá khứ và con người Việt Nam hôm nay. Ở ông, tỏa sáng trí tuệ của dân tộc, cháy bừng lên lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Một tư thế văn hóa Việt, đĩnh đạc bước vào toàn cầu hóa. 

 Ông nói đến sứ mệnh nhà văn toàn cầu: “Chúng ta sẽ cùng nhau làm tất cả những gì mà một nhà văn có thể làm được để giảm bớt sự qúa tải của những nguy cơ đang đè nặng lên hành tinh nóng bỏng của chúng ta.”(tr.126).

Ông kể về một kinh nghiệm và kêu gọi: “Đối mặt với sợ hãi phải được thay thế bằng đối mặt với hy vọng. Kinh nghiệm này không còn mới. Tồn tại dạy chúng ta điều đó….Nào, chúng ta hãy cùng nhau mở ra những trang mới”(tr.124).

Ông nói đến chân lý và tình người: “…Cuộc sống có thay đổi bao nhiêu thì chân lý và tình người cũng không bao giờ cũ. Trong mọi hình thức giao tiếp, không có hình thức nào giúp con ngưởi bắt gặp chính mình và bắt gặp đồng loại kỹ càng và say đắm như văn chương. Còn có ở đâu, không đi mà vẫn đến, không hỏi mà vẫn biết, không hẹn ước mà vẫn thành tri kỷ như tiếp nhận văn chương (tr.129)… Vì chất lượng cuộc sống mà con người mãi mãi cần đến văn chương. Đó là một xác tín.”(tr.130).

 Xét về chính trị, ông đã thực hiện rất tốt nhiệm vụ góp phần đưa Việt Nam hội nhập văn hóa với toàn cầu, quảng bá văn học Việt Nam ra thế giới. Và đây là một kết quả cụ thể: qua sự tác động của trung tâm William Joiner, “nhằm phá bỏ hàng rào cấm vận của Chính phủ Mỹ chống Việt Nam” (tr.116);  “…làm thay đổi cách nhìn của ngưới Mỹ với Việt Nam, tranh thủ sự ủng hộ của họ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam”(tr.118).

            3. Làm chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam 4 nhiệm kỳ (2000-2020) nhà thơ Hữu Thỉnh đã làm được nhiều việc cho Hội Nhà văn. Những công việc cụ thể hàng năm ông báo cáo trong Hội nghị công tác văn học, và trong báo cáo cuối mỗi nhiệm kỳ 5 năm. Những báo cáo này không in trong Bến văn và những vòng sóng.Duy nhất có một Báo cáo tổng kết Công tác văn học 5 năm (2000-2004), và bài Diễn văn kỷ niệm 60 năm xây dựng và phát triển Hội Nhà văn (1957-2017), vì thế người đọc không hình dung được cụ thể những đóng góp của ông cho văn học.

            Với Những “diễn văn” in trong Bến văn và những vòng sóng, hướng về cáchội viên Hội Nhà văn Việt Nam (đặc biệt các nhà văn trẻ), Chủ tịch Hữu Thỉnh đề cập đến nhiều vấn đề văn học. Ông trình bày những nhận thức về thực tại hoạt động văn học, gợi mở những cách hiểu, ông đề xuất những giải pháp hành động. Phương pháp luận của ông là phương pháp luận Marxist, nhờ thế khi trình bày vấn đề văn học trong tương quan với thực tại xã hội, những ý kiến của ông có sức thuyết phục, quan điểm của ông rạch ròi, dứt khoát.

Trước hết ông khẳng định sự đúng đắn của đường lối văn nghệ của Đảng:

“Thời gian đã chứng tỏ sức sống của các Nghị quyết quan trọng của Đảng về văn hóa, văn học nghệ thuật. Nhưng chúng ta còn nợ nhiều vấn đề quá. Bao nhiêu giải pháp rất hay, nhưng chưa được thể chế hóa. Bao nhiêu hạt giống trí tuệ quý báu nhưng chưa tỏa bóng bát trong hiện thực.(tr.68).

Ông xác định nhiệm vụ cho Hội Nhà văn: “Đại hội Nhà văn lần thứ VII xác định mục tiêu của toàn giới nhà văn là phấn đấu để có thêm nhiều tác phẩm có chất lượng cao về tư tưởng và nghệ thuật…Đây là nhiệm vụ chính trị số một, quyết tâm số một của tất cả chúng ta”.(tr.21)

Ông khẳng định đóng góp của văn nghệ sĩ: “Sự ổn định của văn nghệ đem đến sự ổn

định chung của đất nước, một dòng chảy lành mạnh của văn nghệ góp vào tính tích cực của xã hội, đó là cống hiến rất quan trọng của giới văn học nghệ thuật nước nhà đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta”(tr.64)

Ông nhận định về thành tựu 20 năm đổi mới văn học: “Có thể nói 20 năm đổi mới đi vào lịch sử như một trong những thời kỳ thăng hoa nhất của văn học dân tộc. Đó là thời kỳ phát triển cộng sinh của nhiều phương pháp sáng tác. Đường biên văn học được mở rộng. Tâm lý sáng tạo được giải phóng. Một sự thông thoáng chưa từng có trong lựa chọn đề tài, chủ đề, nhân vật. Đạo đức xã hội trở thành trung tâm chú ý của các nhà văn. Con người được miêu tả như chính nó với thân phận, nỗi niềm những ẩn khuất vừa hiểu được vừa không thể hiều hết, vừa cao cả vừa phàm tục, vừa gần gũi vừa kỳ bí. Những cố gắng đổi mới hình thức diễn ra ở tất cả các thể loại. Những cây vút trẻ xuất hiện ngày càng nhiều, đem đến những giọng điệu mới. Ưu điểm nổi bật của sáng tác là tính đa dạng” (tr.17-18; Báo cáo đề dẫn Hội nghị Lý luận phê bình lần thứ hai-Đồ Sơn-Hải Phòng-3,4,5/10/2006)

Tuy vậy, ông cũng thấy rõ vấn đề: “Cái thiếu nhất, theo tôi đối với người sáng tác hiện nay là cơ sở triết học. Ngại triết học, thiếu triết học là một trong những nguyên nhân và hạn chế tầm nhìn, tầm tư tưởng và sự khái quát con người và thời đại”(tr76).

Ông đề xuất: “Lý luận cho nhà văn là lý luận nào? Đó là Mỹ học Mac- xít, tư tưởng Hồ Chí Minh và tinh hoa văn hóa dân tộc” (tr.77); “Nói gì thì nói, và bất luận thế nào, triết học Mác-xít vẫn là đỉnh cao khoa học cuả thời đại chúng ta mà không phải ai cũng có thể chiếm lĩnh. Mỹ học Mác-xít là sự vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào lĩnh vực mỹ học. Ngày nay…chủ nghĩa Mac-Lênin, Mỹ học Mac-xít vẫn là ngọn cờ tiên phong là nhận thức luận đúng đắn nhất giúp cho con người đi tới” (tr.77)

Ông nói về tác phẩm đỉnh cao: “Đó là những tác phẩm đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ và nhu cầu xã hội của thời đại, thỏa mãn nhu cầu về tình cảm, đạo đức, tư tưởng của con người. Nó mở rộng không gian tinh thần của con người, giúp con người vượt khỏi cá nhân chật hẹp để vươn tới những vấn đề có tầm nhân loại, và đó là những tác phẩm giúp cho bạn đọc vừa cảm thụ văn học vừa tự soi chiếu, tự đối thoại, tự điều chỉnh bản thân mình…Đó là những tác phẩm góp phần tạo nên chất lượng sống của con người và xã hội” (tr.21)

Ông thực sự ưu tư:

“Sáng tạo được tác phẩm hay, có ích là khát vọng muôn đời của nghệ sĩ. Nhưng khát vọng đó hiện nay đang vấp phải một nghịch lý. Tự do sáng tạo, điều kiện sáng tác được mở rộng nhưng chất lượng hiệu quả lại không tương ứng…Văn học nghệ thuật có những mặt suy thoái”(tr.12)

Tình trạng trung bình, làng nhàng là căn bệnh trầm kha nhất của văn học ta hiện nay không được phê phán đến nơi đến chốn” (tr. 20)

“Đội quân nghệ thuật hiện nay thật đông đảo. Nhưng nhìn thẳng vào sự thật, chúng ta thấy chất lượng không tương xứng với số lượng. Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị khóa X báo động một nguy cơ có thật, đó là tình trạng nghiệp dư.(tr.69)

“Một trong những nguy cơ ấy đã xuất hiện, là số người đọc văn học bây giờ thấp đến mức báo động…

Ông nhận xét về hiện trạng thơ:

Người làm thơ đông hơn người đọc. Và thậm chí dẫn đến cái chết của thơ ca” (tr.42)

Thơ của ta hiện nay đang có nhiều vấn đề thật. Người làm thơ rất đông nhưng công chúng thơ thì teo lại. Trên báo chí, chúng ta gặp một cánh đồng bất tận những lời khen…”; “Thơ ta hiện nay có 2 trọng bệnh, một là ca hát véo von, hai là xa lông hóa. Véo von là tự bằng lòng, lặp lại mãi giai điệu cũ… Xa lông hóa là rơi vào sự nhấm nháp cá nhân, ngắm vuốt xiêm áo, tuyệt đối hóa hình thức, bịt kín mọi mối giao cảm vớ quần chúng” (tr 270).

Ông nói đến “Những vấn đề có tính muôn thuở”:

Tài năng là Trời cho nên Trời cũng có thể lấy đi bất cứ lúc nào”(tr.34).

Tài năng thực sự thời nào và ở đâu cũng luôn luôn hiếm và quý. Đó là câu chuyện muôn một. Tài năng là thiên bẩm, không thể ban phát, không thể vay mượn. Tài năng là sở hữu cá nhân, nhưng lại mang tính xã hội”(tr.54).

“Từ khi Con người trở thành Con người, nó phải đối mặt với 2 sự bất công truyền kiếp. Đó là sự bất công về tài năng và sự bất công về nhan sắc. Đến một ngày nào đó, mọi bất công xã hội sẽ bị xóa bỏ, thì sự bất công về tài năng và nhan sắc vẫn còn.”(tr.67).

Nói cho cùng, các trường phái không thể thay thế được tài năng, trong thơ không co1ta2i thì còn làm nên được cái gí? (tr.271)

Đây là quan điểm của ông về cách tân thơ: “Tiếp thu thế giới là tiếp thu các tinh hoa, không nên họ có lãng mạn, tượng trưng, siêu thực, tân hình thức, hậu hiện đại, ta cũng phải lặp lại y chang…cách tân không phải là cắt đứt với truyền thống, mà để nghe truyền thống rõ hơn, nhân cái truyền thống ấy trong hiện đại” (tr. 271)

Ông bày tỏ sự tin tưởng:

“Hy vọng, bằng con đường văn học, các nhà văn chúng ta cùng nhau thiết lập quyết định luận của trật tự thế giới mới, lấy tình hữu nghị thay thế choi triết lý sức mạnh,lấy văn hóa thay cho vũ khí”(tr.95)

“Châu Á đang chứng minh rằng, người ta có thể xây dựng những thiên đường ngay trên cõi trần gian”(tr.108)

Trong sứ mệnh chinh phục con người, thơ ca có những phép màu nhiệm đặc biệtThi ca có sức mạnh đặc biệt…Nó làm cho mỗi con người tự tin cất bước trong quyền năng của cái đẹp và điều thiện. Nó luôn đặt con người trong trạng thái tự do suy tư và chiêm nghiệm. Chừng nào con người còn khả năng tư do duy tư và chiêm nghiệm thì hiểm họa vẫn còn có  khả năng được ngăn chặn nhờ những con đê của đạo đức. (tr.109)

                “…thơ ca không hề muốn cạnh tranh với tôn giáo, bởi chính thơ ca đã là một tôn giáo. Tôn giáo cuả niềm tôn vinh con người…Vì thế còn con người đúng nghĩa của nó thì còn thơ ca”(tr.109)

Về kinh tế thị trường, ông nói: “Nghệ thuật dứt khoát không thể làm tay sai cho thị trường”(tr.70). Nhưng ông nói thêm: “Tất cả đã thay đổi. Tất cả đòi hỏi được thay đổi”…”Một khi đã hình thành và được chấp nhận có một thị trường văn học nghệ thuật thì không thể không chấp nhận các thượng đế của thị trường ấy”(tr.75)

Về phê bình văn học, ông nhận định: “Nhiều vấn đề lý luận chưa được tổng kết nghiêm túc, còn tồn nghi nhiều ngộ nhận. Việc giới thiệu lý luận của nước ngoài làm khá đậm, nhưng đề xuất, kiến tạo, xây dựng lý luận văn học đổi mới của Việt Nam, cho Việt Nam thì chưa làm được bao nhiêu “(tr.19).

Ông cũng đề cấp đến tính hiện đại (tr.35), về “Cái mới” trong văn học (tr.55), về thị trường, về “quyền lực mềm” (tr.70), về chống suy thoái văn hóa…(tr.71). Theo ông, “Quyền lực của văn hóa là quyền lực của  lương tâm, của điều thiện” (tr.70).

Ông cũng đưa ra những quan điểm có tính uốn nắn với những sai lầm của sáng tác và phê bình. Chẳng hạn, ông nói về khuynh hướng “Tuyệt đối hóa phương pháp sáng tác”. “Lấy thi pháp thay cho tài năng. Thực chất là tuyệt đối hóa hình thức” (tr.73); “Nếu tuyệt đối hóa hình thức mà có tiền đồ thì nhóm Xuân Thu Nhã Tập đã thành một dòng thơ lớn tồi. Nhưng nó biến mất và chỉ để lại một tấm biển báo nguy hiểm bên cạnh đường thơ: ‘Chủ nghĩa hình tức, cẩn thận, có mìn’”(tr.272)

Có thể nhận thấy Chủ tịch Hữu Thỉnh đã bám sát thực tiễn văn học, có tầm bao quát sâu rộng, đứng trên lập trường văn nghệ Marxist ông đáng giá đúng bản chất chính trị-xã hội của các vấn đề văn học và một nhiệt tình bền bỉ thực hiện tốt các Nghị quyết của Đảng về văn hóa văn nghệ. Văn học Việt Nam 45 năm qua (1975-2020) đã đạt nhiều thành tựu trong nhiệm vụ xây dựng văn hóa, xây dựng con người góp phần cào công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, đặc biệt là sự quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài.

Chủ tịch Hữu Thỉnh khẳng định: “Sự ổn định của văn nghệ đem đến sự ổn định chung của đất nước, một dòng chảy lành mạnh của văn nghệ góp vào tính tích cực của xã hội, đó là cống hiến rất quan trọng của giới văn học nghệ thuật nước nhà đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta”(tr.64).

4. “Diễn văn” của Hữu Thỉnh có tính hùng biện. Tính hùng biện thể hiện trước hết ở sức thuyết phục người nghe, người đọc bằng cả chiều sâu tư tưởng và tình cảm. Ông phát biểu với thái độ hết sức tự tin. Ông tin vào lịch sử 4000 năm hào hùng chống ngoại xâm của dân tộc, tin vào nền văn hóa có bản lĩnh dung hợp mọi yếu tố từ bên ngoài vào của cha ông, tin vào một nền văn học gắn bó với nhân dân, thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo, và căn bản là ông tin vào kháng chiến và cách mạng, tin tưởng sâu sắc đường lối văn nghệ của Đảng, vào chân lý của chủ nghĩa Mác-Lênin. Sự tự tin kết hợp với vốn văn hóa, văn học sâu rộng, được soi sáng bởi triết học Mac-Lênin, cùng với khả năng bẩm sinh về ngôn ngữ, về sự hiểu biết sâu sắc về con người, khiến cho những phát biểu của ông trong bản chất đã đủ tính thuyết phục.

Nhưng không chỉ có vậy. Hữu Thỉnh luôn có những câu văn “đóng đinh” vào trí nhớ người nghe. Những câu văn này chứa đựng những chân lý hiển nhiên và có thể đứng một mình. Nó có sức gây ấn tượng và tạo nên nhiều mỹ cảm (tương đồng với những lời bình ngoại đề có tính minh triết trong Truyện Kiều). Xin đọc:

Ông nhận xét về văn trẻ:

“Dàn đồng ca khá mạnh nhưng còn ít những giọng lĩnh xướng vang xa”.

“Thêu thùa cho cá nhân thì khéo, may cắt cho thiên hạ còn ít dụng công.(tr.32)

 “Tài năng là Trời cho nên Trời cũng có thể lấy đi bất cứ lúc nào”(tr.34).

 Đây là trải nghiệm chân lý:

“Là các nhà văn bước ra từ chiến tranh, và đi lên từ những vết thương xé lòng, chúng tôi hiểu ánh sáng không bao giờ cũ. Máu không bao giờ cũ. Tình bạn không bao giờ cũ”(tr.95)

Đối mặt với sợ hãi phải được thay thế bằng đối mặt với hy vọng. Kinh nghiệm này không còn mới. Tồn tại dạy chúng ta điều đó”(tr. 124).

Nhìn thẳng vào sự thật:

“Thiếu cá tính sáng tạo có 2 nguyên nhân, một là bất tài, hai là sợ hãi”(tr.65).

Nói về ứng xử văn hóa:

“Ứng xử với tài năng cần một tài năng, ứng xử với tấm lòng cần một tấm lòng” (tr.63)

Nói về phương pháp sáng tác:

“Không cần phương pháp gì cả là một phương pháp cao nhất. Vì thơ đã đụng đến tâm hồn” (tr.121)

            Trong nghệ thuật biểu đạt, Hữu Thỉnh dùng nhiều thủ pháp viết văn tác động trực tiếp tâm lý  người nghe (bằng cả thị giác, thính giác, cảm giác…):

            Sử dụng phép trùng điệp cấu trúc kết hợp với tăng cấp, kết hợp lý trí và cảm xúc, hình ảnh thực với hình ảnh ẩn dụ: “Là các nhà văn bước ra từ chiến tranh, và đi lên từ những vết thương xé lòng, chúng tôi hiểu ánh sáng không bao giờ cũ. Máu không bao giờ cũ. Tình bạn không bao giờ cũ”(tr.95).

                Lập luận nâng lên và mở rộng dần tầm tư tưởng: “…cuộc chiến đấu cho tự do độc lập trên đất nước chúng tôi cũng đồng thời là cuộc chiến đấu cho văn hóa dân tộc. Đó còn là cuộc chiến đấu cho nhân loại, vì Việt Nam kiên cường chống lại sự hủy diệt văn hóa trên quy mô lớn”(tr.93).

Sử dụng tính từ kết hợp với phép trùng điệp cấu trúc câu tạo nên hiệu quả bất ngờ: “Cuộc sống chào đón họ và có thể nói dành cho họ điều kiện sáng tạo tốt nhất mà

không thế hệ nào trước đó có được. Một không gian tinh thần rộng thoáng, một hiện thực vạm vỡ, mới mẻ đến ngỡ ngàng, một công chúng đông đảo mà dân trí được nâng cao từng ngày, tất cả tạo nên một ‘cánh đồng bất tận’ cho các tài năng trẻ nảy nở và phát triển” (tr.52).

Sử dụng so sánh bằng hình ảnh (gợi âm thanh, cảm xúc, trí tưởng tượng) cũng tạo nên hiệu quả hùng biện của văn Hữu Thỉnh:

 “Tuyệt đối hóa hình thức, tách rời hình thức ra khỏi chỉnh thể văn học, chẳng khác nào đập vỡ chiếc cốc pha lê, biến nó thành những mảnh vụn mà tác dụng duy nhất chỉ có thể là sát thương văn học và nhiễm trùng văn học”(tr.37).

            Có thể nói “diễn văn” của Hữu Thỉnh vừa hùng biện, vừa tài hoa. Điều này có căn gốc từ sự kết hợp nghệ thuật lập luận với kiểu ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, cảm xúc và giàu sức gợi, tạo nên sự độc đáo của cá tính sáng tạo. Nói cho đúng, “diễn văn” của Hữu Thỉnh còn tập trung toàn bộ thế giới tâm hồn, lý tưởng, vốn sống, tính cách, bí mật của tài năng và sự trải nghiệm của ông.

Nền tảng “Lý luận văn học” ông sử dụng là “lý luận văn học truyền thống”(chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và văn hóa dân tộc). Không thấy ông vận dụng những lý thuyết văn học đương đại để phân tích những vấn đề của thời đại mới. Phải chăng ông bảo vệ “truyền thống” một cách cực đoan khi ông nói về phương pháp sáng tác: “Không cần phương pháp gì cả là một phương pháp cao nhất. Vì thơ đã đụng đến tâm hồn” (tr.121)?

Nếu vậy thì khó thuyết phục được người viết văn trẻ khi họ say mê đi tìm “cái mới” và ít nhiều họ đã góp phần làm mới văn học Việt hôm nay. Chính ông cũng đã từng phàn nàn về tình trạng cũ quá của văn học Việt: “Còn rất hiếm sự đột khởi táo bạo về ngôn ngữ tiểu thuyết, về cấu trúc tác phẩm, đặc biệt là về triết lý nghệ thuật…Yếu tố thể nghiệm làm mới tiểu thuyết ít được quan tâm. Sau bao nhiêu năm, nhịp điệu tiểu thuyết vẫn chậm chạp, kề cà, rậm rạp, dẫn đến tình trạng số trang thì dày nhưng dung lượng thì mỏng” (tr.73).

MỘT TẤM LÒNG VỚI NHỮNG TẤM LÒNG

Trong Bến văn và những vòng sóng có 34 bài viết về các nhà thơ, nhà văn gồm nhiều thế hệ. Có những bài đọc trong dịp kỷ niệm 100 năm một tác giả trước 1945. Có bài viết về các nhà thơ cách mạng, về những người bạn, người anh trong kháng chiến, viết về các tác giả đương đại. Có cả bài như “điếu văn” trong tang lễ, và bài giới thiệu tác phẩm.

Những bài phê bình tác giả này được viết như một tiểu luận. Nhà thơ Hữu Thỉnh nói rõ thói quen “Đọc ngược văn bản. Nghĩa là qua thơ, tôi đi tìm tác giả… hiểu hành trình thơ của tác giả (tr.409). Văn tiểu luận của Hữu Thỉnh có sự kết hợp rất nhuần nhiễn giữa trực giác cảm thụ nghệ thuật tinh tế với cách viết tùy bút, nghiên cứu và phê bình. Ông tạo ra một phong cách rất riêng.

Hữu Thỉnh sử dụng phương pháp phê bình Marxist khi “đi tìm tác giả”. Trước hết ông quan tâm đến bối cảnh lịch sử xã hội của nhà thơ nhà văn. Ông dựng lại cuộc đời của họ trong bối cảnh đó. Rồi đứng trên yêu cầu nhiệm vụ Cách mạng của văn học, ông đánh giá những giá trị văn học mà nhà văn ấy cống hiến. Yêu cầu ấy là: Văn học là vũ khi đấu tranh cách mạng. Nhiệm vụ ấy là, nhà văn là chiến sĩ của Đảng  trực tiếp góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tất nhiên là tùy từng tác giả cụ thể mà Hữu Thỉnh vận dụng linh hoạt phương pháp phê bình này.

Nhìn chung, những tiều luận về tác giả văn học của Hữu Thỉnh đọc hấp dẫn và rất thuyết phục. Ông thực hiện nhiệm vụ chính trị bằng cái tâm chân thành, bằng sự trân trọng rất mực đối với người hiền tài và bằng sự thấu hiểu, bao dung nhân hậu đối với những phận người. Những nhận xét của ông vừa có bề rộng của tầm khái quát lịch sử thời đại, lại vừa rất cụ thể, chân tình đến gan ruột, tri âm tri kỷ. Những trang bình thơ như có men say, bay bổng tuyệt vời của một tâm hồn nghệ sĩ. Hữu Thỉnh có trực giác nghệ thuật rất mạnh và rất tinh; Ông phát hiện được ngay cái thần thái tinh anh của tài năng. Ông tỏ ra tài hoa, giàu có và độc đáo vô cùng trong diễn đạt ngôn ngữ, ý tứ, người khác khó học theo ông được. Thế nên bài viết nào của ông cũng đem đến nhiều thú vị cho người đọc.

Thú vị nhất là những kỷ niệm riêng tư của ông với từng tác giả. Ông sống rất sâu và hiểu rất rõ từng người. Ông có cách kể gọn, sinh động, tỉ mỉ và chọn được những tình tiết đắt giá để làm nổi bật cái tình của ông với bạn văn. Nhưng dù là chuyện riêng tư, ông vẫn giữ được sự mực thước chính trị, vẻ đẹp nhân văn và sự chân thành tri kỷ của tình bạn. Phương pháp tiểu sử của ông giúp ích rất nhiều cho những nhà nghiên cứu văn học, những thầy cô giáo dạy Văn. Thế giới văn chương của ông có bao nhiêu là tài năng, bao nhiêu là cái đẹp, bao nhiêu là giá trị trân quý, dù những cuộc đời ông nói đến có chìm nổi, bi đát thế nào thì qua tấm lòng của Hữu Thỉnh, thế giới văn chương là thế giới của cái đẹp, của những con người đẹp, mà đẹp nhất là tình yêu tổ quốc, nhiệt tình cách mạng và sự đồng điệu văn chương.

Đối với những nhà văn tiền bối như Nguyên Hồng, Nam Cao,… ông dành cho họ sự tôn kính bậc thầy. Ông viết: “Nguyên Hồng là một nhân cách văn hóa đáng kính trọng;… ông ở trong một số ít người đã đến gần nhất hai chữ hoàn hảo”(tr.385). Ông gọi Nam Cao là một bậc thầy: “Tên tuổi Nam Cao là niềm tự hào của  văn học nước nhà. Các thế hệ nhà văn Việt Nam mãi mãi nhớ ơn và noi theo tấm gương của người thầy lớn Nam Cao (tr.296)

Với những nhà thơ nhà văn cách mạng như Lê Đức Thọ, Tố Hữu, Lê Quang Đạo, Hữu Thỉnh khẳng định những giá trị tuyệt vời của cách mạng. Ông viết về thơ của đồng chí Lê Đức Thọ: “Thơ Lê Đức Thọ là thơ trữ tình chính trị…;  Lê Đức Thọ là nhà cách mạng làm thơ, ông coi thơ như là một vĩ khí thêm vào các vũ khí, một phương tiện thêm vào các phương tiện để thực hiện lý tưởng của mình…; Tôi đọc thơ ông cũng trên một nhận thức ấy.(tr.312).

Nhận xét về thơ Tố Hữu, ông viết: “Tố Hữu hơn một lần chứng minh rằng, tình ca và tráng ca hoàn toàn có thể và cần thiết kết hợp với nhau để tạo nên hòa điệu đẹp đẽ của lòng yêu nước. Thơ Tố Hữu là cách mạng hóa tình cảm, tình cảm hóa cách mạng…” (tr.163); về phẩm chất nhà thơ, Hữu Thỉnh nhận xét “Tố Hữu chứng minh rằng, nhà thơ chân chính rất cần sự tiên phong về chính trị và tư tưởng (tr.167)

Với những nhà văn nhà thơ một thời (trước đổi mới) “có vấn đề” như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu,…Hữu Thỉnh với tấm lòng trân trọng người tài đã khẳng định tài năng và đóng góp của họ với văn học nước nhà. Ông không nhắc lại những nặng nề thuở trước, thay vào đó ông làm sáng lên tài năng, nhân cách và những nỗ lực của bản thân nhà văn nhà thơ. Bài viết về Nguyễn Đình Thi (tr.171), về Chính Hữu (tr.194) có chất say đặc biệt.

Ông nói về Con nai đen của Nguyễn Đình Thi một thời bị phê phán: “Vấn đề Con Nai Đen chỉ là vấn đề báo động sớm sự leo thang của cái giả cái ác khi tiếng nói trung thực bị đặt ra ngoài vùng ngoại diên của đời sống công quyền”(tr.179) “. Với Chính Hữu, người viết bài Ngày về, một thời bị phê phán, ông không chỉ khẳng định giá trị của Chính Hữu, mà có cả sự tri ân:“Anh Chính Hữu ơi! Anh là niềm hạnh phúc là may mắn lớn nhất trong cuộc đời cầm bút của em”(tr.196); Hỡi các anh em Vân Hồ, Nếu không có anh Chính Hữu hồi đó thì chúng mình tan tác chim muông từ khuya rồi”(tr.197)

Đây là những lời chân thành ông viết về Vũ Trọng Phụng: “Có một dạo, trong trạng thái lạc quan có phần hơi thái quá, chúng ta suýt nữa quên mất Vũ Trọng Phụng, tưởng như cuộc sống không cần đến ông nữa.. Chúng ta vui vẻ một cách bồng bột xếp nhà văn họ Vũ yên ổn một chỗ trong quá khứ, trong kỷ niệm” (tr. 292). Cũng may, nhờ “đổi mới”, những giá trị văn học của Vũ Trọng Phụng, và của nhiều nhà thơ nhà văn khác như Phan Khôi, Quang Dũng, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Trần Dần… đã được tôn vinh trong nền văn học dân tộc. Hữu Thỉnh đã viết về những nhà thơ nhà văn “có vấn đề” này trong tinh thần “đổi mới” ấy của Đảng.

            Viết về các tác giả đương đại (Nguyễn Quang Thiều, Thanh Thảo, Mai Văn Phấn…), ngòi bút của Hữu Thỉnh có đắn đo, rào đón hơn; và không phải là không có lúng túng. Bởi ông không thể tiếp cận họ bằng hệ thống mỹ học và thi pháp truyền thống (phương pháp phê bình Marxist). Ông chỉ còn trông nhờ vào trực giác mẫn cảm của mình, cùng với kinh nghiệm đọc thơ. Và Ông nỗ lực vận dụng ánh sáng lý luận trong các Nghị quyết của Đảng.

Chính ông thú nhận mình phải thay đổi cách đọc, cách tiếp cận khi đọc thơ Nguyễn Quang Thiều: “Trong Châu thổ, còn có những bài thơ ngắn… như tôi nói ngay ở đầu bài viết này, cần phải thay đổi thói quen của sự tiếp nhận để đọc những bài thơ này” (tr.330). Mở đầu bài viết, Hữu Thỉnh xác định vấn đề là : “Thay đổi thói quen để tiếp nhận Nguyễn Qiang Thiều” (tr.320).  Ông mơ hồ nhận ra thơ Nguyễn Quang Thiều là thơ Siêu thực nhưng không gọi tên ra được. Ông viết: “Nguyễn Quang Thiều đã tạo ra một trường thẩm mỹ cho riêng mình, khước từ mọi ước lệ, khước từ mọi véo von nhễ nhại…Nguyễn Quang Thiều huy động tối đa những ngẫu nhiên…”(tr.323).

Đây là khám phá của Hữu Thỉnh về bút pháp của Nguyễn Quang Thiều: “Dò tìm, tôi thử phác ra bút pháp của Nguyễn Quang Thiều (tr.328): “Bắt đầu anh treo lên tường một bức tranh. Rồi anh tháo bộ khung đó ra, bức tường trở thành một bộ khung mới. Rồi đến lượt nó, bức tường cũng bị tháo ra và không gian của bức tranh cứ mở rộng thêm mãi ra hầu như vô tận để cho cái vô tận của thế giới ùa vào. Và bức tranh bây giờ vừa là nguyên gốc vừa được vẽ thêm với bao nhiêu màu sắc lạ. Đã hẳn đây là bút pháp phi tuyền thống, cảm hứng theo dõi dãn nở. Mọi yếu tố vần điệu âm nhạc câu chữ đều bị tháo tung ra thay vào đó là các yếu tố ẩn dụ, biểu hiện, ấn tượng, tân hình thức (tr.329). Và ông khuyên nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: “Anh nên quan tâm hơn đến cấu trúc. Thơ có thể có yếu tố phi lý, nhưng cấu trúc phải hợp lý một cách có nghệ thuật.”Cách nói của ông thật sinh động. Ông dùng ẩn dụ để tránh nói thẳng vào bút pháp của Nguyễn Quang Thiều, vì biết đâu việc “dò tìm” và “thử sức” của ông chưa đạt tới chân lý?

            Thực ra, chủ nghĩa Siêu thực phá vỡ logic lý trí, phá vỡ cấu trúc truyền thống, đưa vào nhiều yếu tố ngẫu nhiên, phi lý, hoang tưởng. Ông khuyên Nguyễn Quang Thiều chú ý đến cấu trúc, chú ý đến tính “hợp lý”, là khuyên Thiều trở về với truyền thống. Dõi theo thơ Nguyễn Quang Thiều, tôi chưa bắt gặp bài nào Thiều làm theo thể thơ Tân hình thức cả. Nguyễn Quang Thiều đi từ truyền thống đến hiện đại, từ kiểu thơ lãng mạn (Thơ Mới), thơ hiện thực Xã hội Chủ nghĩa, thơ giàu âm điệu dân gian, đến thơ Siêu Thực. Nguyễn Quang Thiều thực sự góp phần cách tân thơ Việt ở kiểu thơ tư tưởng viết theo bút pháp Siêu thực có ảnh hưởng của F.Kafka và R. Tagore (xin đọc Linh hồn những con bò và bài Dưới cái cây ánh sáng). Điều này Hữu Thỉnh chưa đọc được (?).

Một lần nữa Hữu Thỉnh lại lúng túng trong việc sử dụng hai khái niệm “cách tân” và “đổi mới”. Nguyễn Quang Thiều là nhà thơ thực sự cách tân nhưng Hữu Thỉnh lại định vị rằng: Nguyễn Quang Thiều là truyền thống, bởi anh luôn đi tìm những cái mới” (tr.323), và có khi ông gọi một nhà thơ viết theo thi pháp truyền thống là nhà thơ cách tân. Chẳng hạn, ông viết về Chính Hữu: Chính Hữu là nhà cách tân thơ rất sớm, đi theo một hướng hoàn toàn khác với trường phái “phu chữ” sau này. (tr.211). Ông cũng nhận xét vềNguyễn Đình Thi: “Một quá trình đổi mới từ rất sớm, cách tân không ngừng, đối với Nguyễn Đình Thi, đó là sự cách tân toàn diện về tầm nhìn, về tư tưởng, về nghệ thuật về mài dũa tài năng”(tr.181). Tôi nghĩ Hữu Thỉnh đã hiểu khái niệm “cách tân” khác rất xa với yêu cầu học thuật của từ này.

MỘT TẤM LÒNG TRI ÂM.

Nhà thơ Hữu Thỉnh đã từng ước mơ: “Tôi luôn coi sự đồng điệu giữa sáng tác và phê bình là một giấc mơ”(tr.66), và ông đã viết tiểu luận phê bình trên tinh thần ấy.

Điều tôi tâm đắc ở ngòi bút phê bình của Hữu Thỉnh là sự chân thành, tính trung thực rất mực trong cuộc sống và trên trang văn. Ông thổ lộ điều này: “Những phút riêng tư đau buồn nhất, tôi luôn có Phật”(tr.373). Tôi hiểu thế này. Kệ viết: Tâm tức Phật/ Phật tức tâm”. Nguyễn Du viết: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Ông nói “Tôi luôn có Phật” tức là sự thể hiện một tấm lòng. 

Ông chịu khó đọc. Năng lực tổng hợp và trí nhớ của ông thật tuyệt vời. Ông đã đọc lại Nguyễn Đình Thi, “gần 4000 trang tuyển tập và đọc thêm những trang nhà xuất bản để ra ngoài, tôi thức với nhiều ngạc nhiên”(tr.183). Cũng vậy, với Chính Hữu, ông nói:“Tôi dành đọc trọn vẹn tác phẩm (nhiều lần) và tất cả những bài phê bình về thơ anh”(tr.198). Trong Hội thảo thơ Nguyễn Đình Ảnh (tr.352), ông nói: “Tôi nhận thấy mình không đủ tư cách nếu không đọc mà chỉ nói bâng quơ ”(tr.355). Ông không chỉ đọc kỹ, ông còn nhớ từng chi tiết kỷ niệm với mỗi người ông quen biết, dù cách xa đến hàng nửa thế kỷ (tr. 259).

Đọc Bến văn và những vòng sóng, người đọc có thể hình dung ra hành trình cuộc đời của Hữu Thỉnh. Những ngày còn bé, có thể Hữu Thỉnh đã cùng với Dương Thị Xuân Quý đi chợ phiên Phú Vinh-Vĩnh Phúc (tr.386). Những ngày làm lính, ông chờ Phạm Ngọc Cảnh ở nhà số 4 Lý Nam Đế-Hà Nội để được in thơ (tr.348); được Chính Hữu dìu dắt và làm việc chung với ông hàng mấy chục năm (tr.195). Rồi đi học Liên Xô với Nguyễn Thanh (tr.253); vào Tây Nguyên, mặt trận B5 để gặp Thu Bồn (tr.277). Đi học trường viết văn Nguyễn Du, dự những cuộc vui với Nguyễn Quang Sáng ở An Giang, bị kẹt ở BangKok khi sang Hoa kỳ dự hội thảo Mùa hè của trung tâm William Joiner (tr.103;131). Ông ghi lại cả hương vị món bánh có mật ong và hạnh nhân do nhà thơ Martha Collins làm đãi khách…

 Sự trân trọng tài năng của ông thể hiện trong mọi việc làm, trong những lời chia sẻ và ở thái độ ứng xử rất mực tình nghĩa. Bởi ông ý thức rất rõ:“Tài năng thực sự thời nào và ở đâu cũng luôn luôn hiếm và quý(tr.54). Ông là hiện thân của con người Việt Nam truyền thống và hiện đại. Tưởng niệm nhà thơ Dương Thị Xuân Quý, người đã hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ lúc mới 28 tuổi, để lại con thơ, Hữu Thỉnh viết:“Tôi đã khóc khi viết những dòng này, và tôi tự hào thấy rằng, trong thế hệ chúng tôi có một người như Dương Thị Xuân Quý…(tr.388). Ông đối thoại với Anh Đức: “Tôi viết những dòng này với lòng cảm phục, thương tiếc sâu sắc và biết ơn anh, một nhà văn đã đạt đến độ trưng cất tài hoa trong tác phẩm…”(tr.319)    

Và hơn thế, Hữu Thỉnh xác tín nhiệm vụ xây dựng một đội quân văn hóa đủ sức chuẩn bị cho nhân dân ta bước vào ngôi nhà của xã hội công nghiệp và xã hội thông tin”.(tr.53). Ông đã điểm danh một đội ngũ đông đảo, hùng hậu tài năng của thi ca Việt Nam (bài Một nền thơ đang chuyển, tr 141).

Nói một lời cặn kẽ, Hữu Thỉnh là nhà thơ tài hoa, một nhà thơ tư tưởng. Ông còn là cán bộ lãnh đạo văn nghệ kiên định lý tưởng, có bản lĩnh vững vàng, giàu tài năng và trải nghiệm. Nghệ thuật ngôn ngữ của ông rất tuyệt. Sức thuyết phục của ông toát ra mạnh mẽ. Nhìn ông bạn bè quốc tế thấy được tầm vóc nhà văn Việt Nam. Những “diễn văn” và những tiểu luận phê bình của ông có nhiều giá trị, cả về lý luận và thực tiễn, về một thời đại văn học rất quan trọng. Đó là văn học thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay) mà ông là người trực tiếp có những đóng góp, những tổng kết, những khai mở.

Trong Bến văn và những vòng sóng, Hữu Thỉnh đã giải quyết nhiều vấn đề văn học của một thời, song có những vấn đề muôn thuở của văn học cần được tiếp tục thảo luận sâu rộng. Bài viết này mới chỉ tiếp cận một cách sơ lược cuốn sách. Kính mong được trao đổi.

Kính chúc nhà thơ Hữu Thỉnh (Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam 2000-2020) sức khỏe, niềm vui và trọn vẹn một tấm lòng tri âm với văn chương.

Ngày 10/01/2021

____________________ 

Bài viết này đã đăng trên các trang web:

trannhuong.com ngày11/01/21.

http://trannhuong.top/tin-tuc-55264/ben-van-chuong.vhtm

Trang web của Hội VHNT Đồng Nai ngày 15/01/21.

Hội Nhà văn Tp HCM: vanchuongphuongnam lên trang ngày 16/01/2021:

TÔI ĐỌC TRANH NGUYỄN QUANG THIỀU

TÔI ĐỌC TRANH NGUYỄN QUANG THIỀU

Bùi Công Thuấn

Sáng 7/1/2021 tại Trung tâm Art Space, ĐH Mỹ Thuật, Hà Nội, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam) đã khai mạc triển lãm cá nhân có tên Người thổi sáo.  Hơn 53 bức tranh triển lãm được vẽ với các chất liệu sơn dầu, màu nước, pastel và được Nguyễn Quang Thiều thực hiện trong 3 năm gần đây. Triển lãm này do nhóm Nhân sĩ Hà Đông đứng ra tổ chức. Tôi không có điều kiện trực tiếp tham dự buổi khai mạc này. Những thông tin tôi có được là qua video ghi hình lại buổi khai mạc của nhà thơ Trần Nhương, các bức tranh được báo chí chụp lại và tranh trên FB của nhà thơ Nguyễn Quqang Thiều. Đó là những thông tin gián tiếp, tôi sẽ không tránh khỏi những ngộ nhận khi đọc tranh

ENTRANCE

Xin xác định là tôi đọc tranh Nguyễn Quang Thiều như đọc một văn bản, chỉ khác trong văn bản là ký hiệu chữ, còn tranh là ký hiệu hình ảnh, màu sắc, bố cục, đường nét…

            Nhiều người đã xem tranh Nguyễn Quang Thiều, song cho đến lúc này, tôi chưa thấy ai đọc tranh của người họa sĩ tài hoa này[1].

            Hoạ sĩ Lê Thiết Cương nhận xét: Nguyễn Quang Thiều mộng du qua cánh đồng hội hoạ. Nguyễn Quang Thiều đã chọn chính xác cho giọng hội hoạ của mình là giọng mộng du…Đấy là cái đẹp của Nguyễn Quang Thiều

Hoạ sĩ Đào Hải Phong bày tỏ cảm giác này: “Tranh của Nguyễn Quang Thiều nhìn không bị mệt mặc dù ông ấy vẽ đôi khi rất ẩn chứa điều gì đó. Nhưng quan trọng nhất đối với tôi vẽ để Nguyễn Quang Thiều giải thoát chính mình”.

Hoạ sĩ Thành Chương lý giải điều này: “…ông (NQT) là con người của chữ nghĩa, là con người của cội nguồn gốc rễ quê hương làng xóm sâu nặng. Nên trong tranh của Nguyễn Quang Thiều đậm chất làng xóm quê hương.”

Cả ba họa sĩ đã xem tranh nhưng không ai nói rõ ra “ẩn chứa điều gì đó”trong tranhNguyễn Quang Thiều là điều gì? Và nếu xem kỹ tranh của Thiều, người xem tranh phải hoài nghi về cái “chất làng quê” mà họa sĩ Thành Chương gán cho tranh của Thiều. Người mộng du là  người đi trong lúc ngủ, tôi chưa nghe thấy “giọng mộng du” là giọng thế nào! (phải chăng “giọng mộng du” là một thuật ngữ chuyên môn của hội họa mà tôi là dân ngoại đạo không biết?)

Tôi đã chuẩn bị cho mình cổng vào phòng tranh của Nguyễn Quang Thiều như thế này.

Tranh của Thiều là tranh Siêu thực. Nghệ thuật Siêu thực phá vỡ cấu trúc logic của sự vật, đưa vào tranh những hoang tưởng, những phi lý, những ngẫu nhiên; phá vỡ nhận thức logic của người xem tranh, lật nhào mọi thói quen nhận thức theo kiểu lấy logic hiện thực đo chân lý nghệ thuật. Vì thế nếu đọc tranh của Thiều bằng cái nhìn hiện thực, quán chiếu theo logic lý trí thì sẽ thất bại. Bởi tất cả hình ảnh trong tranh Thiều, dù có mang bóng dáng của hiện thực, đều là những hình ảnh biểu tượng trong liên tưởng vô thức của tác giả. Không có không gian thực, không có thời gian thực, và những gì được vẽ ra không phải là đời thực. Vấn đề là khám phá cho ra những hình ảnh ấy biều tượng cho cái gì và người họa sĩ vẽ tranh dùng nó để nói điều gì?

Hình ảnh Siêu thực cũng là một hệ thống “mở”, cho phép người đọc dùng mọi chìa khóa văn hóa để liên tưởng, mở ra những cách hiểu, lấp đầy những khoảng trống văn bản, hoặc khám phá ra những ý nghĩa khác của ký hiệu mà tác giả không ngờ tới. Nói cách khác, người đọc hiện đại đọc tác phẩm theo cách tiếp cận của mình, và vì thế nhiều khi họ khám ra những điều không phải là thông điệp của tác giả. Nghĩa của văn bản là nghĩa của người đọc khi đọc đọc ký hiệu văn bản.

Công việc của tôi là, dùng Ký hiệu học để giải mã những hình ảnh Nguyễn Quang Thiều đã chuyển thành biểu tượng nghệ thuật. Tôi cũng dùng Cấu trúc luận để tìm cấu trúc tổng thể trong ý thức sáng tạo của người họa sĩ. Chính cấu trúc này giúp việc tìm ra ý nghĩa, bởi nghĩa nằm trong cấu trúc. Và dùng Giải Cấu trúc để lấp đầy những khoảng trống văn bản theo những quy chiếu của Cộng đồng diễn dịch Tầm đón đợi của người đọc. Tất nhiên là không thể thiếu tri thức về các trường phái hội họa…

Nhan đề Người thổi sáogợi cho tôi tên bài hát The Piper của Abba. Bài hát có hình ảnh này nhưng trong tranh Nguyễn Quang Thiều không có:

We’re all following the piper

And we dance beneath the moon

      (Tạm dịch:Tất cả chúng tôi đang theo  người thổi sáo/ Và chúng tôi khiêu vũ dưới mặt trăng).

           Tôi rời Abba để lần theo truyện dân gian Trương Chi thổi sáo bên sông làm Mỵ Nương đắm say. Nhưng tranh của Thiều, người thổi sáo không ngồi bên sông, và cũng không có dòng sông nào. Tôi lại lần theo chuyện anh Điều mù thổi sáo bài Tiến quân ca mà nhà thơ Hữu Thỉnh cho rằng đó là “cả vũ trụ đau đớn bi thương sát kề khiến chúng ta không thể quay mặt” (Hữu Thỉnh, Bến văn & Những vòng sóng. Nxb HNV 2020, tr.406). Nhìn bức tranh người mù thổi sáo của Nguyễn Quang Thiều, tôi cũng không thấy “vũ trụ bi thương” này.

Nói như thế để thấy Nguyễn Quang Thiều không chịu ảnh hưởng phương Tây hay phương Đông khi sáng tạo hình tượng Người thổi sáo này. Người thổi sáo là hình tượng sáng tạo riêng của nhà thơ Nguyễn Quag Thiều trong trong thế giới nghệ thuật của riêng ông.

 Và may mắn tôi tìm được lời giải thích.

Người mù thổi sáo có nguyên mẫu là một người thực. Thông tin của Nhóm Nhân sĩ Hà Đông cho biết: Người Thổi Sáo cũng liên quan đến một câu chuyện trong đời của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều. Đó là những ngày tháng ông mang một nỗi phiền muộn mà không thể thoát ra được. Một sáng có một người thổi sáo mù đi qua nơi ông ngồi uống cà phê ở thị xã Hà Đông. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã cầu khẩn người thổi sáo mù thổi cho ông một khúc nào đó mà người thổi sáo mù muốn. Người thổi sáo mù ấy đã nhìn ông rất lâu bằng đôi mắt mù và nâng sáo lên thổi. Giai điệu của khúc sáo ấy đã chạm vào một nơi chốn nào đó trong con người ông và thay đổi ông. Những phiền muộn trong lòng ông bấy lâu nay đã tan biến. Những tháng ngày sau, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã luôn ngồi ở quán cà phê vỉa hè ấy để mong gặp lại người thổi sáo mù. Nhưng ông không bao giờ thấy người thổi sáo mù đi qua nữa. Có lẽ mỗi người trong đời chỉ được một lần nghe thấy giai điệu ấy”.[2]

Câu chuyện này có thể giúp ta đọc tranh của Nguyễn Quang Thiều. Những mảng màu sậm (đen, nâu, tím đen, xanh đen, nâu đen. Có rất ít màu đỏ) chiếm đa phần trong tranh của Thiều chính là sự trầm tư và “một nỗi phiền muộn mà không thể thoát ra đượcvà người thổi sáo mù đã làm tan đi những nỗi muộn phiền ấy (mảng màu sáng: Màu vàng, màu xanh, màu trắng). Còn lại, những hình ảnh trong tranh có thể hé lộ Nguyễn Quang Thiều trầm tư về những vấn đề gì. “Triển lãm của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều chỉ là sự bày tỏ con người ông, một con người như mọi con người trên mặt đất này và không có gì hơn nữa.”[2.đd]

Như vậy, vấn đề trung tâm của tranh Nguyễn Quang Thiều là vấn đề ”Con Người”.

CHIM, CÁ – BƯỚM VÀ ỐNG SÁO

            Trong rất nhiều tranh của Nguyễn Quang Thiều, hình ảnh chim, cá, bướm, ống sáo luôn hiện diện. Và kèm theo đó là hình ảnh người đàn ông, hoặc người đàn bà hoặc hình ảnh nam nữ đang giao hoan. Có bức tranh vẽ người đàn bà, con cá và một con chim lớn. Có tranh vẽ người đàn ông khỏa thân với đầu chim, rắn và con cá. Có bức tranh vẽ đôi nam nữ với có hai con chim, trên người nhân vật nữ là những con bướm; có tranh vẽ một phụ nữ khỏa thân với con bướm và con chim gần đó…(xem hình 2)

          Trong dân gian, chim được dùng để gọi bộ phận sinh dục nam. Cá, bướm dùng để gọi bộ phận sinh dục nữ. Như vậy trong tranh của Nguyễn Quang Thiều, hình ảnh chim, ống sáo là biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam. Hình ảnh bướm và cá là biều tượng bộ phận sinh dục nữ. Tranh nào cũng có những biểu tượng này, đó chính là sự bộc lộ những ẩn ức tính dục. Con người lừ lúc sinh ra cho đến hết cuộc đời, luôn bị ám ảnh, chi phối bởi bản năng tính dục. Đấy là sự thật, và chính tính dục đã gây nên bao tội lỗi. Cho nên bức tranh người đàn ông thổi sáo, xung quanh rất nhiều bướm, trước hết anh ta bị bao vây bởi tính dục. Đó là Con Người. Bức tranh có hình con rắn phải chăng là sự cám dỗ tính dục (trong Kinh Thánh: Eva bị con rắn dụ dỗ ăn trái cấm sau đó rủ Adam ăn theo, và cả hai phạm tội bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng).

            Nhưng cần lưu ý rằng, Nguyễn Quang Thiều không vẽ những biều tượng sinh dục hoặc vẽ tranh khỏa thân để miêu tả tính dục (mặc dù có hình ảnh nam khỏa thân, nữ khỏa thân và đôi nam nữ nằm bên nhau khỏa thân). Tính dục trong tranh Nguyễn Quang Thiều đã thăng hoa thành “Cái đẹp”. Vì thế người xem tranh cảm nhận được ngay cái đẹp mà không bị chi phối bởi bất cứ cảm giác tính dục nào. Đó chính là nghệ thuật. Điều này Phân Tâm học đã lý giải. Chẳng hạn, hình ảnh bướm-chim trở thành biểu tượng đa nghĩa. Trong tranh của Thiều, chim có thể là bồ câu đá, hay bồ câu trắng, chim sáo hay con quạ đen. Những hình ảnh này vận động trong những trường nghĩa khác nhau tương quan cấu trúc với những hình ảnh khác.

NGƯỜI THỔI SÁO

Người đàn ông thổi sáo trong tranh Nguyễn Quang Thiều đều đầu trọc. Tục ngữ có câu: Nắm thằng có tóc ai nắm thằng trọc đầu. Hình ảnh người đàn ông trọc đầu là biểu tượng cho Con người trần trụi (không có gì cả). Hình ảnh người đàn ông mặc áo vàng, áo nâu có thể gợi ra Thiền sư (con người giác ngộ), và ngay cả con người giác ngộ ấy cũng vẫn bị “Chim /ống sáo – Cá/ bướm” ám ảnh (tức là ám ảnh tính dục. Trong thực tế đã có những người tu hành sa ngã vì tính dục). Tất nhiên, người đàn ông trong tranh Nguyễn Quang Thiều không chỉ có thế.

            Tranh vẽ người đàn ông nhắm mắt (mù) hay mắt dán miếng giấy báo (tranh1, 3-thông tin), hoặc ở vị trí hai con mắt là hình ảnh đàn cá (tranh 2)…Họ không có chân dung riêng nên hình ảnh họ là biểu tượng cho Con Người hiện đại (vì tin tức cập nhật hàng ngày). Họ bị vong thân bởi thông tin (mắt bị dán những dòng tin) hoặc họ bận tâm những vấn đề đương đại (chuyện Formosa cá chết chẳng hạn) hoặc giả rằng, họ có thấy nhiều vấn đề xã hội song cứ nhắm mắt lại (hình ảnh con sâu, con chuộc, con chim đen, con rắn…là biểu tượng cho cái xấu (ảnh 3) …; cây thập tự biểu tượng cho vấn đề tôn giáo; cái đầu rỗng biểu tượng cho sự vô vảm, vô nhân tính. Có cả một mặt người đen với 2 con mắt sáng, như những kẻ rình rập trong bóng tối, hay một sự đe dọa mà Con người không thể trốn thoát được.

Người thổi sáo làm thức tỉnh, làm thăng hoa mọi hoàn cảnh (ảnh 5). Khi người thổi sáo ngưng thổi (ảnh 8 từ trên xuống), tất cả chỉ còn lại là chim bồ câu trắng đậu trên đầu (hòa bình trong tâm hồn), và chim bồ câu trắng trên ống sáo (cái đẹp an lành). Bức tranh người đàn ông mặc áo vàng tay ôm cái hũ nhỏ (ảnh 9 từ trên xuống)), không rõ đó là hũ nước, hũ rựơu, hũ đựng hạt giống hay hũ đựng tro cốt? Tôi nghĩ vị Thiền sư đang ôm hũ cốt tro của mình (điều này có thể không đúng với chủ ý của Nguyễn Quang Thiều).

Con Người đã được giải thoát, tự ôm hũ tro cốt của mình tồn tại trong Cái Đẹp sáng láng. Trong bức tranh này không có bướm hay con cá. Chỉ có màu vàng rực rỡ của sự thăng hoa và màu xanh lá cây của sự sống tràn ngập không gian. Con Người đã “vượt qua” tất cả để đạt đến cõi tịnh không. Con chim đậu trên đầu người là chim bồ câu hiền lành và ống sáo đã thành nghệ thuật (không còn là nhân vật chính với màu sắc đậm). Nguyễn Quang Thiều đã đụng chạm đến nhiều vấn đề tư tưởng và xã hội, song , trên tất cả là tư tưởng: “Cái đẹp cứu rỗi thế giới”(F.M.Dostoyevsky)

THIÊN ĐƯỜNG

(xem hình 4&5. Thứ tự tranh đếm từ trái sang phải, từ trên xuống dưới)

Trong bức tranh (1), con người bị vùi lấp trong bao nhiêu thứ đen tối (màu đen-tối chiếm phần lớn), không gian tranh chật chội vô cùng (có bao nhiêu thứ cùng chen lấn và có nhiều mặt người, có cả bóng người và cây thập tự xiêu vẹo biểu tượng cho nghĩa trang-sự chết), có một bàn tay mà lòng bàn tay có dấu đinh đưa lên. Trên góc trái là chữ Jesus, tôi hiểu đó là tiếng kêu cứu.

Ở bức tranh (2) Có một người trên cây thập tự choán gần hết bức tranh, một chén như thể Chén thánh. Dưới chân Thánh giá là bốn phụ nữ đang mang thai, tay ôm bụng, đi về phía trước (cưu mang sự sống). Trên cùng góc trái có người thổi kèn (trong Kinh Thánh, đó là thiên thần thổi kèn (Mt 24,31) gọi người chết sống lại trong ngày cánh chung). Trên đầu thánh giá có một cành lá (có thể hiểu đó là cành nguyệt quế sự sống lại đã chiến thắng). Toàn bộ không gian tranh toát ra ánh sáng, niềm vui (như niềm vui Phục Sinh; xin đọc các bài thơ Dưới cái cây ánh sángLinh hồn những con bò của Nguyễn Quang Thiều).

Tranh (3) là hạnh phúc trong vườn địa đàng.

Tranh (4) là đoàn người đem theo giỏ hoa chúc mừng

Tranh (5) là thánh đường rực sáng. Tranh (6) là trên trời nở hoa.

Các tranh còn lại là con người bình an trong hạnh phúc, con người bay lên với những ước mơ.

Như vậy Tư tưởng về Con người trong tranh Nguyễn Quang Thiều đã rõ. Đó là một tư tưởng hùng tráng, con người tự giải thoát và tìm lại được vườn địa đàng của mình. Tôi đọc niềm hân hoan vô biên của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều khi từ bóng tối (trầm tư) đi ra ánh sáng của Phục sinh (tự giải thoát) khi ông được người thổi sáo mù lay động. Người ấy chỉ đến một lần rồi đi (không gặp lại), người ấy chỉ thổi một khúc nhạc (không rõ là bài gì) nhưng ta hiểu rằng những gì người ấy truyền cho Nguyễn Quang Thiều phải là chìa khóa mở ra chân lý. Nếu tiếng kèn của Thiên sứ trong Kinh thánh là tiếng gọi Phục sinh thì tiếng sáo của người thổi sáo cũng mang một ý nghĩa ấy. Trong Kinh thánh cũng có người mù được chữa lành (Mt 9, 27-31), và anh ta đi rao truyền Tin Mừng ấy cho mọi người, phải chăng người mù thổi sáo mà Nguyễn Quang Thiều gặp chính là ông ta? Và những bức tranh Thiều vẽ là để truyền đi thông điệp mà người mù thổi sáo đã trao gửi? Thông điệp ấy là: Hãy là người thổi sáo (hình 1) và hãy giữ lấy tro cốt của chính mình (hình 3, ảnh 9) ?

Đọc tranh Nguyễn Quang Thiều như vậy thì thật thú vị, bởi nếu chỉ nhìn thấy cái đẹp của những mảng màu, nhìn thấy những cái “không giống ai” trong tranh Thiều (tức là sự độc đáo sáng tạo) thì nào có ích gì? Tôi tin là với Nguyễn Quang Thiều “Cái đẹp cứu rỗi thế giới”(F.M.Dostoyevsky).

            Xin chúc mừng nhà thơ, người họa sĩ tài hoa Nguyễn Quang Thiều.

            (Có điều gì không phải trong bài viết, xin bỏ quá cho kẻ ngoại đạo với hội họa này)

Tháng 01/2021

__________________________________________ 

Ghi chú

[1] https://vietnamnet.vn/vn/giai-tri/di-san-my-thuat-san-khau/nguyen-quang-thieu-da-chon-giong-chinh-xac-hoi-hoa-cua-minh-la-mong-du-703529.html

[2] http://trannhuong.net/tin-tuc-55250/vai-thong-tin-ve-trien-lam-%E2%80%9Cnguoi-thoi-sao%E2%80%9D-cua-nguyen-quang-thieu.vhtm

THƠ LÊ THÀNH NGHỊ

THƠ LÊ THÀNH NGHỊ*

BÙI CÔNG THUẤN

(Nhà phê bình văn học)

Bài đăng trên trang web của Hội Nhà văn Việt Nam ngày 18/12/2020

Đọc thơ, gặp được những bài thơ hay, với tôi đó là hạnh phúc. Tôi đã rất hạnh phúc khi đọc thơ Lê Thành Nghị qua hai tập Mưa trong thành phố  Mùa không gió**

Tập thơ được Giải thưởng Nhà Nước. Trong tập có in bài viết của Tiến sỹ nhà thơ Nguyễn Sỹ Đại, Ts Lưu Khánh Thơ và nhà phê bình Chu Thị Thơm. Bấy nhiêu đã quá đủ khẳng định giá trị các tập thơ. Hơn nữa nhà thơ Lê Thành Nghị còn là nhà phê bình văn chương, thơ anh thể hiện quan điểm sâu sắc của anh về thơ, vì thế, thật khó có thể chia sẻ thêm được điều gì đó với tác giả và bạn đọc về tập thơ này.

1.Những bài thơ hay và phẩm chất “tài hoa bẩm sinh

Đánh giá tập thơ, Ts Lưu Khánh Thơ nói đến “tâm hồn đa cảm và điềm tĩnh” của nhà thơ Lê Thành Nghị (tr.209). Còn nhà phê bình Chu Thị Thơm thì nhận ra “Lê Thành Nghị là người lữ hành cô đơn, trầm tĩnh, sâu lắng và luôn trăn trở, lo âu” (tr.112). Ts Nguyễn Sỹ Đại cũng nhận xét là “một tài hoa bẩm sinh” và thơ của “một tâm hồn đã được thanh lọc và theo thời gian ngày càng đằm thắm”(tr 16).

Tôi tự hỏi, phải chăng những phẩm chất “trầm tĩnh, đa cảm, đằm thắm” của Lê Thành Nghị chính là “cái hay” của thơ ông? Là giá trị của thơ ông không? Và là cá tính sáng tạo của nhà thơ? Câu trả lời là không. Bởi ở ngoài đời, con người xã hội của Lê Thành Nghị vốn đã là người đằm thắm, sâu sắc. Vậy điều gì giúp Lê Thành Nghị viết nên những bài thơ hay, và điều gì làm nên phẩm chất thi sĩ của Lê Thành Nghị?…

Xin thử khám phá cái hay trong tập thơ Mùa không gió và Mưa trong thành phố.

Lá rụng ngày đi như gió cuốn

Dế kêu tê dại cỏ trong vườn

Ai về tát cạn ao phiền muộn

Để mẹ thôi buồn, thôi ngóng trông

                            (Nhớ mẹ)

Tứ thơ có sức gây ấn tượng mạnh mẽ, chuyển tải được cả tâm tình của nhà thơ và tấm lòng người mẹ. So với nhiều bài thơ viết về Mẹ trong chiến tranh của thơ ca Việt Nam đương đại, bài Nhớ mẹ là bài có những tứ thơ độc đáo.

Núi còn lại một vệt mờ xa thẳm

Tháng ngày đi rách nát cả cây buồm

Hình như chim vẫy cánh ngoài vô tận

Còn ta: bờ lau bạc suốt trăm năm.

                        (Người đi)

Ai đã quen đọc thơ Đường, đặc biệt là Lý Bạch, thích thú với tứ thơ tư tưởng mới lạ phóng khoáng, khí thơ mạnh mẽ, hẳn phải ngẩn ngơ trước vẻ đẹp của bài thơ Người đi. Cũng sẽ không ngạc nhiên khi nhà thơ làm bạn với Lý Bạch:

Ta lạc giữa đám người đơn độc

Ngoài kia trăng như một gã vô hồn

Nghiêng cạn chén: Thi trung càn khôn đại

Cô đơn thay khi Lý Bạch không còn

                      (Quán rượu trên đường Vương Phủ Tỉnh)

Xin hãy cùng nhà thơ quan sát Hồ Tây về đêm:

“Có vạt nắng pha lê chiều rớt xuống

Vỡ tan trên thềm đá, hóa thành trăng.

Hoàng hôn hồ, pha lê sóng, mỏng tang

Giấu một cặp mắt huyền trong lá biếc.

Chừng như gió kéo tiếng chim đi hết

Để làm cây rơi mấy chiếc lá buồn”

                    (Tây Hồ đêm)

Bài thơ này có thể xếp vào những bài thơ lãng mạn hay nhất của thi ca Việt Nam, bởi không chỉ ở sự khám phá tứ thơ đẹp mà còn ở sự tinh tế tài hoa rất mực của hồn thơ.

Bài thơ Một mình là tâm trạng tác giả về thăm thị xã. Những khổ thơ mở đầu thuật lại sự việc một cách tự nhiên, dung dị. Nhưng khổ thơ kết, tứ thơ bỗng bùng nổ, vừa quen thuộc gần gũi, vừa mới lạ, độc đáo không ngờ.

“Lâu lắm lại về thị xã

Chiều không uống rượu mà say

Chân trần buông trên dặm cỏ

Tên mình ai khắc thân cây

.    .    .    .    .    .    .    .    .    .    .    .

Sông như sông rượu đong đầy

Chén nâng một mình sao cạn?

Thương nhớ người đi muôn dặm

Ta với mây bàng hoàng bay”

                   (Một mình)

Có thể kể ra nhiều bài thơ hay khác như: Không đề IHồng Lĩnh, Bến đò Thuận Châu, Trong suốt sông Kỳ Cùng, Ký ức mùa thu Hà Nội ..

Lướt qua một vài bài thơ như vậy, người đọc cũng có thể nhận ra ngay điều làm nên đặc sắc thơ Lê Thành Nghị là ở tứ thơ. Thơ Lê Thành Nghị không mới lạ về lời về nhạc hay nội dung. Giọng điệu thơ Lê Thành Nghị cũng không gây được ấn tượng riêng. Cả về thể loại, bút pháp, thơ Lê Thành Nghị cũng không có sự cách tân nào, vẫn là thơ “truyền thống”. Nhưng Lê Thành Nghị khám phá được nhiều tứ thơ đẹp và lạ. Ở nhiều bài, cấu tứ cũng tạo nên hiệu quả nghệ thuật và tư tưởng. Tứ thơ của Lê Thành Nghị là kiểu tứ thơ Đường, thiên về cái đẹp trí tuệ và tư tưởng, dù rằng Lê Thành Nghị chưa vươn tới thơ tư tưởng. Tuy nhiên tứ thơ của Lê Thành Nghị có sự pha trộn phẩm chất của nhiều thể loại thơ, vừa là trí tuệ vừa là suy tưởng lãng mạn, vừa là tự tình hướng nội vừa vươn xa vào vô tận, vừa thoát lên thực tại vừa trải nghiệm hiện sinh, vừa dung dị dân dã, vừa sang trọng thanh cao. Dẫu thế nào Thơ Lê Thành Nghị có thể đóng đinh vào tâm tưởng người đọc bằng những tứ thơ của riêng ông. Xét ở góc độ này, không phải nhà thơ đương đại nào cũng thành công.

Hồng Lĩnh

Dưới xa suối đổ ầm ào

Gió gào vách đá

Dưới xa ràn rạt cát bay trắng xóa

Xôn xao chân trời hoa lau

Hình như càng lên cao

Bốn bề càng yên lặng

Ngôn ngữ của mây là trắng

Ngôn ngữ của trời là xanh

Có chàng trai về đến Sóc Sơn

Hóa thân thành im lặng

Có miền đất im lìm đứng lên

Tự mình xây núi lớn

Bài thơ Hồng Lĩnh mang được những đặc điểm thi pháp thơ Lê Thành Nghị cùng với cốt cách thi nhân của ông. Khổ thơ đầu chỉ là tả cảnh, phác những nét dung dị. Khổ thứ hai là nhận thức hướng nội, một cảm nhận ai cũng có khi lên cao. Và khổ thứ ba, tứ thơ thật mới lạ, phóng khoáng mạnh mẽ và đằm thắm thâm trầm. Không còn là hình ảnh mà là tư tưởng. Đó là kiểu tứ thơ Đường, tứ thơ thẩm mỹ-tư tưởng. Đọc bài thơ thật chậm, lắng tâm hồn vào cảnh và để cho tư tưởng tan chảy trong mọi góc nẻo nghĩ suy, người đọc sẽ cảm nhận được cái đẹp, cái hay của cảnh, của thơ và của hồn thơ.

2.Thử định vị tiếng thơ Lê Thành Nghị

Thơ Lê Thành Nghị là thơ nhận thức-trữ tình- hướng nội. Xin đọc bài Hồng Lĩnh là một thí dụ. Đặc điểm này chi phối cách cấu tứ và là diễn trình tâm trạng-tư tưởng của bài thơ, cũng có thể coi là kiểu tư duy thơ Lê Thành Nghị. Ở đặc điểm này, nhân vật tữ tình Tôi (Ta) là chủ thể của bài thơ. Cảnh vật, khách thể chỉ là đối tượng nhận thức, khám phá. Phản ứng bên trong của cái Tôi mới làm nên phẩm chất thơ. Vì “cái tôi” là chủ thể tìm kiếm, nhận thức cho “tôi” nên thơ hướng nội. Đọc thơ Lê Thành Nghị để tìm hiểu “giá trị phản ánh hiện thực” như thơ “truyền thống” thì người đọc sẽ thất vọng. Lê Thành Nghị làm thơ không phải để “phản ánh hiện thực” như thơ Hiện thực Xã hội chủ nghĩa. Thơ Lê Thành Nghị vượt lên không gian, thời gian và khác thơ “truyền thống” là ở đặc điểm này.

Xin đọc bài thơ Dưới chân cầu

Dưới chân cầu mây trắng từ cổ tích

Chiếc cá buồn búng chạm phải hư vô

Vòng sóng đến vô cùng bắt đầu từ một chấm

Ta thực ngàn lần nhìn ta trong mơ

Ta thực: đứng trên cầu tóc bạc, gió qua vai

Năm tháng xếp sau lưng, đường dài trước mặt

Bóng gầy guộc đổ về bên ấy dốc

Lòng lặng yên như một mặt hồ đầy

Ta mơ: dưới chân cầu cả bóng mây, bóng cây

Cả bóng hoa, bóng ta và bóng nước

Nước cứ chảy giữa hai bờ hư thực

Nối âm với dương, nối đêm với ngày!

Biển thời gian-nước chảy bao giờ đầy?

Mỗi con người: một tích tắc, tích tắc

Ngày đi như nước xiết

Định đưa ta về đâu đây?

Bài thơ không có chút bóng dáng nào của hiện thực ngoài dòng tâm trạng-tư tưởng của chủ thể Ta khi đứng nhìn chân cầu mà tự nhận thức về Ta. Ta thực và ta mơ. Ta và tất cả chỉ là cái bóng và thời gian không biết sẽ đưa ta về đâu? Câu hỏi gần chạm đến vấn đề triết lý. Gọi bài thơ này là thơ Lãng mạn cũng hoàn toàn đúng, bởi tiếng thơ là tiếng nói nội tâm của chủ thể, trước một khách thể (dưới chân cầu), thoát ra khỏi mọi vấn đề của hiện thực chính trị xã hội. Đứng dưới chân cầu, “Ta thực ngàn lần nhìn ta trong mơ” chứ không nhận thức cuộc sống đang diễn ra dưới chân cầu. Người đọc cũng không rõ là cầu nào, ở đâu, thời gian tác giả đến đó là lúc nào. Nói cách khác, ngoại cảnh đã bị bỏ qua, chỉ còn lại nhận thức và tâm trạng và chủ yếu là nhận thức về Ta.

Những bài thơ có đề tài về đời sống thực trong tập thơ khá nhiều, song nhận thức của cái Ta xóa nhòa mọi đường nét của hiện thực. Xin đọc: Người bán hương trầm năm ngoái, Những người chết trẻ, Bến đò Thuận Chân, Quán rượu trên đường Vương Phủ Tỉnh, Đêm ngoại thành, Trong rạp xiếc, Miền đất quê hương, Tạm biệt Nha Trang, Mùa lá xanh, Bất tử, Sông Nghèn gặp lại,…Nhan đề những bài thơ trên gợi ra chỗ đông người, có thể nơi ấy dồn tụ vấn đề của hiện thực, có thể nơi ấy lộ ra những đợt sóng, và có thể nơi ấy là một mặt cắt khuôn mặt thời đại. Nhưng đọc những bài thơ ấy, người đọc vẫn chỉ bắt gặp nhân vật trữ tình Tôi nhận thức suy nghiệm và nhìn vào lòng mình.

Tại bến đò Thuận Chân, Ta đứng trong xa lắc mịt mù:

Bờ vắng vẻ, chỉ mình ta đứng đợi

Vai mang lời hẹn cũ, sáng nay về

Buồm nhỏ xíu-người đi đâu mãi mãi

Xa lắc bờ, thăm thẳm nước, mịt mù mưa

                      (Bến đò Thuận Chân)

Tại Quán rượu trên đường Vương Phủ Tỉnh, dù đông người, Ta vẫn cô đơn:

Ta lạc giữa đám người đơn độc

Ngoài kia trăng như một gã vô hồn

Nghiêng cạn chén: Thi trung càn khôn đại

Cô đơn thay khi Lý Bạch không còn!

(Quán rượu trên đường Vương Phủ Tỉnh)

Ở ngoại thành: “Chỉ còn tôi một mình/ Ra ngoại thành với gió nội/ Với hương đồng/ Xa dần phố bụi…/ Lâu lắm rổi lại ngồi ngắm mây cao/ Tôi thầm lặng và hình như đã khóc/ Có thể chẳng bao giờ còn ai hiểu được/ Nỗi cô đơn ngay giữa phố ồn ào”. Ở trong rạp xiếc với rất nhiều trò diễn, nhưng Tôi chỉ nghĩ suy về những trò diễn đó. Miền đất quê hương là bài thơ kể chuyện về quê, nhưng tuyệt nhiên không có bóng người nhà quê, làng quê, đời sống dân quê, với những vấn đề của “Tam nông”, mà chỉ có tự nhận thức tâm trạng của thi nhân: ”Trở về làm cơn mưa sạch, Trở về miền thương nhớ, Miền đất lửa, Miền cỏ biếc, Trở về làm cơn gió mát”…Rượu quê là bài thơ có tứ rất hay, cảm xúc dạt dào chếnh choáng, nhưng vẫn vắng bóng đời sống hôm nay, chỉ có cái nhìn và cảm xúc của thi nhân, một mình, lãng mạn: ”Núi cao say đứng, núi thấp say nằm/ Sỏi đá và mặt trời cùng nhòe dưới suối/ Vạt lau mùa không gió thổi/ Ngả nghiêng trong trăng!”

Tập thơ có nhiều bài viết về hoa, cỏ, về chùa chiền, về biển, về đêm, nhưng tất cả chỉ là cớ để nhà thơ nhận thức và suy tư. Và đôi khi tìm ra được một chân lý nào đó của cuộc sống. Xin đọc các bài:  Triết lý của hoa, Hoa cúc rừng Cúc Phương, Hoa Ngọc Hà, Bốn bông hồng bất hạnh, Hoa thuở ban đầu, Hoa đại, Hoa loa kèn, Hoa xương rồng, Mùa hoa xoan, Mùa Hoàng Lan, Hoa gạo, Gửi biển, Cỏ, Trúc, Vô thức tiếng chim đêm, Trong cỏ,Yên Tử, Vãng chùa Trấn Quốc, Chiều Hồ Tây, Chùa Hương, Ở chùa Quang Tự,…

Đây là tự nhận thức của nhà thơ về Hoa ở rừng Cúc Phương: “Trong bóng tối/ Một nhánh lan vàng/ Hương ngập tràn mặt suối!/ Ừ nhỉ/ Hoa đâu chỉ đẹp và thơm/ Chỗ đông bàn chân tới”. Đây là sự khám phá tư tưởng của nhà thơ về cỏ: “Vô hạn những triền sông, ngút ngát những chân đê/ Một nền xanh dưới chân mây…là cỏ/ Em nhớ không dưới nền xanh lặng đó/ Nhân loại ngủ im lìm”(Trong cỏ). Biển gợi ra sự tương quan vũ trụ và con người, để từ đó con người cần có thái độ đúng:“Biển có thể làm tiêu tan những con tàu, nhận chìm những đỉnh núi/ Làm gió cuồng phong, làm mặt trăng mờ/ Biển có thể lấp nghìn mặt trời đang cháy/ Khi chàng Thủy Tinh đến muộn giờ./ Nhưng so với giải Ngân hà/ Trái đất không đáng là hạt bụi/ Biển là gì trong lòng hạt bụi ấy/ mà giận dữ, kiêu sa!”(Gửi biển). Đến chùa Quang Tự, nhà thơ chỉ là kẻ lữ hành lãng mạn, tuyệt nhiên không đến chùa để tìm kiếm Phật: ”Nắng loang trên sân chùa/ Trên vòm xanh cổ thụ/ Mùa thu về từ đó/ Mùa thu từ mái cong…/ Ta là kẻ tha hương/ Mỏi chân bên chùa cổ”. Chùa Yên Tử là nơi linh thiêng, nơi “nến cháy thôi miên cùng kinh kệ/ Lung linh mờ tỏ những nhang đèn”, nhưng lòng trần của nhà thơ lại chưa dễ tắt, thành ra nhà thơ vãn cảnh chùa không phải để tìm sự thanh tịnh siêu thoát, viếng chùa chỉ là sự vô tình của khách lãng du: ”Lòng trải vô biên cùng dương thế/ Bóng chiều chưa dễ tắt ngoài hiên/ Ta về ngẩn ngơ cùng tre trúc/ Kìa lối vào mây đến cửa Thiền”(Yên Tử)

Vì là thơ hướng nội, Lê Thành Nghị viết về chiến tranh cũng khác với các nhà thơ thời chống Mỹ. Thơ chống Mỹ là tiếng nói của tập thể, là thơ kể người kể việc, kể những sự tích anh hùng, kể những nỗi gian lao hùng tráng. Trên khắp mọi chiến trường, thơ là tiếng ca hát cổ vũ, là tiếng gọi đồng chí đồng đội để sẻ chia. Thơ cũng là những hồi kèn xung trận ào ạt (“Tiến lên chiến sĩ đồng bào/ Bắc nam sum họp xuân nào vui hơn”-Hồ Chí Minh). Thơ hướng nội của Lê Thanh Nghị không kể lại đời chiến đấu gian khổ hào hùng, không tụng ca sử thi hay tô đậm sự hy sinh trở thành bất tử. Ngay cả sự bất tử cũng là lặng im.Viếng nghĩa trang Đồng Lộc, nhà thơ nhận thức: ”Bốn bề lặng im lặng im lặng im/ Hình như những gì hóa thành bất tử/ Đều lặng im!”. Chiến tranh được thể hiện qua tấm lòng người mẹ với những đứa con đi xa: “Ôi để hiểu giá của một ngày hòa bìnhHãy sinh những đứa con trai/ Và như mẹ/ Đêm đêm ngồi chờ từ mặt trận”. Chiến tranh đọng lại những gì sâu sắc nhất, nặng lòng nhất, dù là hùng tráng hay bi thương, dù là hy vọng hay tuyệt vọng, tất cả đều chất đầy nỗi ưu tư trong lòng mẹ; và dù không nghe tiếng súng thì những vết đạn trong tim mẹ vẫn không thôi máu chảy.

Lê Thành Nghị nói chuyện với Chế Lan Viên bằng chính loại thơ suy tưởng chính luận của Chế, cũng với giọng điệu thơ Chế, nhưng là thơ hướng nội, Lê Thành Nghị suy nghiệm về đời thơ và thân phận thi sỹ cho mình. Những suy nghĩ được ẩn dụ hóa trở thành ngôn ngữ ẩn mật để nói những vấn đề của hiện thực. Xin đọc:

Thi sỹ

(tưởng nhớ Chế Lan Viên)

Người ta đẩy quan tài anh về gần ngọn lửa

Càng lúc Chế càng xa nước-mắt-cuộc-đời

Anh đến: đột ngột… như một niềm kinh dị

Anh đi: bàng hoàng như trái đất đang rơi!

Người vẫn nói về lửa và tro đã nhẹ cánh bay

Hạt bụi bay một vòng trước khi là mãi mãi

Có những câu thơ dù thiêu cũng không thể cháy

Như thể lửa càng to, thảm cỏ mọc càng dầy.

Sống cạnh trăng sao chết hóa trăng sao

Cảm ơn cuộc đời đã dâng ta đôi cánh

Đôi khi ngước nhìn trời: một nền lấp lánh

Thi nhân vẫn sáng đèn giữa đêm thâu”

3. Còn ta: bờ lau bạc suốt trăm năm”.

Cái tôi trữ tình trong thơ (Ta, Tôi) có thể là một yếu tố giúp ta nhận diện thơ. Sự khác biệt giữa thơ cũ và Thơ Mới (1930-1945) được Hoài Thanh phân biệt: “Cứ đại thể thì tất cả tinh thần thời xưa – hay thơ cũ – và thời nay – hay thơ mới – có thể gồm lại trong hai chữ tôi và ta. Ngày trước là thời chữ ta, bây giờ là thời chữ tôi”; “Đời chứng ta đã nằm trong vòng chữ tôi..” “Ta” trong thơ cũ dù có cái khí phách tung hoành nhưng là “cái Ta” đầu đội Thiên Mệnh vai gánh đạo trung hiếu (Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ) và nhuốm màu Lão-Trang. “Cái Tôi” trong Thơ Mới là cái Tôi cá nhân chủ nghĩa phương Tây: “Với tôi tất cả như vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”(Xuân-Chế Lan Viên). Thơ Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ trở lại với “cái Ta”, nhưng là “cái Ta” quần chúng, cái Ta công dân. Điều này khởi đi từ Tuyên Ngôn Độc Lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến nhân dân ta, đồng bào ta, nòi giống ta, dân tộc ta, nước ta, cuộc khởi nghĩa của ta. Trần Mai Ninh viết Nhớ máu: ”Còn mấy bước tới Nha Trang /- A, gần lắm!/ Ta gần máu,/ Ta gần người / Ta gần quyết liệt.” Nguyễn Đình Thi viết: “Nước chúng ta/ Nước của những người chưa bao giờ khuất…”(Đất Nước). Và Tố Hữu: “Khi ta đứng lên cầm khẩu súng / Ta vì ta, ba chục triệu người/ Cũng vì ba ngàn triệu trên đời!”(Miền Nam)

Và đọc những bài thơ Một mình, Người đi, Vô thức triếng chim đêm, Dưới chân cầu, Đêm ngoại thành, Mẹ trên cao… người đọc sẽ nhận ra cái riêng của nhân vật trữ tình Tôi/ Ta trong thơ Lê Thành Nghị.

Sông như sông rượu đong đầy

Chén nâng một mình sao cạn?

Thương nhớ người đi muôn dặm

Ta với mây bàng hoàng bay

                 (Một mình)

Núi còn lại một vệt mờ xa thẳm

Tháng ngày đi rách nát cả cây buồm

Hình như chim vẫy cánh ngoài vô tận

Còn ta: bờ lau bạc suốt trăm năm

                            (Người đi)

Nhân vật Tôi (Ta) đi nhiều nơi: Ngồi trong Quán rượu trên đường Vương Phủ Tỉnh mà nhớ Lý Bạch hay ở Tử Cấm Thành Bắc Kinh để thấy rõ lẽ hưng phế của lịch sử; trên Hồng trường Matxcơva mùa đông tuyết đang tan, và biết rằng Matxcova không tin vào những giọt nước mắt. Ở rừng Cúc Phương, một nhánh Lan vàng tỏa hương đủ nhận ra một giá trị, lên Yên Tử mà ngẩn ngơ vì cảnh sắc, vãng chùa Trấn Quốc để đắm mình trong cõi sắc không, lá rụng, rêu phong. Hồ Tây chiều và đêm làm say lòng thi nhân với một bồ sương, hoa sữa, “hoàng hôn hồ, pha lê sóng, mỏng tang” và nghe mấy chiếc lá buồn rơi. Nhưng khi thăm Quảng trị, một thoáng mùa hè, nhà thơ cùng với các liệt sĩ, sống những ngày lửa đạn ác liệt hy, nơi Thành cổ ”mỗi lá cỏ một cây buồm, một lời thề, một ngọn nến, một linh hồn từ đất nhô lên…”để cùng với nhà thơ “nhận ra thông điệp của hòa bình”. Ai đã đến Nha Trang thì có thể chia sẻ những tiếc nuối của nhà thơ khi từ biệt Nha Trang không biết bao giờ về, bao giờ về với biển, dù biết chắc sẽ có ngày trở lại. Phong Châu, đền Hùng là nơi linh thiêng của dân tộc, nhà thơ đã đến đây thắp nén hương trải lòng mình cùng non nước. Cái cảm thức lịch sử của mỗi người dân Việt khi qua ải Chi Lăng là niềm tự hào vô biên khi đứng ngay tại nơi kẻ thù bị đánh bại. Nhà thơ thể hiện niềm tự hào ấy khi hình tượng hóa cô hồn Liễu Thăng chỉ còn là cánh dơi bay trong chiều vì đã quên đường về phương bắc. Trở về vùng đất quê hương, thi nhân để lòng mình cháy lên niềm thương nhớ với một miền đất lửa. Gặp lại Sông Nghèn người thơ khẳng định đất nước này trường tồn mãi, dù nghìn năm trước hay nghìn năm tới “sông vẫn thì thầm điềm tĩnh chảy giữa bờ ngô”. Thi nhân có khi đứng đợi ở bến đò, ở dưới chân cầu để tự chiêm ngắm mình, hoặc trở về bờ sông nghe tiếng chim đêm, hoặc nghe tiếng dế đêm hòa nhạc; Có khi ngồi ở ngoại ô, “Tôi thầm lặng và hình như đã khóc/ Có thể chẳng bao giờ còn ai hiểu được/ Nỗi cô đơn ngay giữa phố ồn ào”. Lại có khi người thơ ngắm hoa mà suy ngẫm về triết lý của hoa, hoặc ngắm mưa mà nhớ bạn ngã xuống ở Tây nguyên năm nào ”Giữa mịt mù miên man mưa rừng. Bom dội trong mưa, rừng cháy trong mưa”. Nói chuyện với thi sỹ, với Nam Cao, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, với thi đàn là tiếng nói tri kỷ; nói chuyện với biển, với cát, với mùa thu…là để lòng mình yên tĩnh.

Theo chân nhà thơ trên mọi miền của hiện thực hẳn người đọc đã nhận ra những phẩm chất thẩm mỹ riêng của nhân vật trữ tình Ta/ Tôi trong thơ Lê Thành Nghị. Đó là một “cái Tôi” gắn bó sâu nặng với lịch sử (Qua Chi Lăng gặp Liễu Thăng), với dân tộc (Về Phong Châu), với quê hương (Miền đất quê hương, Rượu quê, Bãi đá quê hương, Chợ huyện), với gia đình, đồng đội (Bất tử, Mưa trong thành phố, Quảng Trị, Bên đài liệt sĩ vô danh), và với cuộc sống xung quanh (Đêm gió lớn, Người bán hương trầm năm ngoái, Những người chết trẻ). Cái Tôi luôn nhận thức, suy tư và không ít trăn trở về nhiều vấn đề. “Bao nhiêu câu hỏi/ Ai trả lời tôi/ Gió thì mải thổi/ Nước thì bận trôi!” (Những câu hỏi thường ngày). Cánh buồm đỏ thắm là một loạt câu hỏi nặng lòng trước sự thật “không thể khóc thêm được nữa, không thể mềm hơn được nữa, không thể xót xa hơn được nữa, bao giờ…bao giờ?. Bài thơ Triết lý của hoa là nghĩ suy về thói hư danh. Bài Hoa xương rồng, Hoa gạo, Trước đài hóa thân hoàn vũ có những tứ thơ nói về lý tưởng sống: ”Đã hóa thân làm lửaCháy hết mình mới thôi/ Dù trong mưa trong gió”, “Xin được cháy cùng một nghìn ngọn nến/ Hóa tro tàn với bạn để lên mây”.. Bài Thi Đàn, Thi sĩ là sự bày tỏ quan điểm về thi ca về người làm thơ:“Nhưng bạn ạ đừng mang theo cái ác/ Sợ đêm dài bóng tối sẽ dài thêm/ Những ồn ào, những hỏa mù phù vân/ Và cái ác sẽ hóa thành tro bụi”, dù vậy,“Cái ác bao giờ cũng ngụy trang rất kỹ/ Và hết sức đê hèn, rút cục: ác chỉ vì ăn”(Discovery). Cũng có những câu hỏi không có câu trả lời: “Biển thời gian-nước chảy bao giờ đầy?/ Mỗi con người: một tích tắc, tích tắc/ Ngày đi như nước xiết/ định đưa ta về đâu đây?”(Dưới chân cầu), “Có phải cõi người hữu hạn/ Ta là một chớp mắt không? (Nắng của ngày đã mất). “Bước chân năm tháng chừng thêm mỏi/ Ta biết về đâu giữa gió mưa?”(Mưa qua Truông Vùn). “Ta sẽ mắc vào đâu/ Những mắt lưới muộn phiền” (Vô thức tiếng chim đêm), và nỗi buồn thì vô hạn: ”Khuất sau cành hoa tím/ Trong bình rượi Làng Vân pha lê/ Những câu thơ đầu đời/ Những chùm cúc biển/ Những đồng xu cuối cùng/ Những giọt nước mắt/ Trong vắt buồn”(Không đề I). Trong nỗi cô đơn, nhà thơ tự nhận ra: “Ta một mình hóa đá giữa sân mưa”(Mưa trong thành phố), “Tôi là hòn đá bị quên/ Giữa trong ngần suối”(Nhớ suối tận nguồn).

Những suy tư trăn trở ấy ẩn rất sâu dưới một tâm hồn yêu đời (Nắng cùa ngày đã mất), một sự tĩnh lặng đạt tới cõi an nhiên. “Ta thực: đứng trên cầu tóc bạc gió qua vai/ Năm tháng xếp sau lưng, đường dài bày trước nặt/ Bóng gầy guộc đổ về bên ấy dốc/ Lòng lặng yên như một mặt hồ đầy” (Dưới chân cầu). Trong tư tưởng của Lê Thành Nghị, không có bóng dáng của Thiên Mệnh, không có bóng dáng của Phật hay Lão, cũng không có ảnh hưởng nào của những tư tưởng triết học phương Tây, vậy điều gì làm nên nền tảng tư tưởng cho thơ Lê Thành Nghị? Ông suy tư về cuộc đời, về lẽ đời, về nhân sinh vũ trụ, về sống và chết, về hữu hạn và vô biên…nhưng không bước vào suy tư triết học. Đó chỉ là suy tư của người nặng lòng với cuộc đời. Điều căn cốt trong tư tưởng-thẩm mỹ của Lê Thành Nghị là Cái Đẹp, là sự trân trọng và nâng niu cái đẹp, hay nói cách khác, đó là tư tưởng nhân văn, thể hiện cả trong thi ca và trong ứng nhân xử thế của ông.

Bài thơ Hoa Ngọc Hà là sự thương tiếc cái đẹp bị tan nát: ”Làng Ngọc Hà năm nay không còn hoa/ Chỗ máy bay rơi thành khu du lịch/ Sắt thép tan nát trong hồ như một lời giải thích/ Tan nát vì nhằm bắn vào hoa”. Bài Bốn bông hồng bất hạnh cũng là nhận thức và xót thương cho cái đẹp bị lãng quên, bị chôn vùi. Những bông hoa Đại rụng lại gợi ra bóng dáng của tư tưởng, của sự thăng hoa: “Thanh thản và lặng lẽ/ Cuộc ra đi quá đỗi êm đềm/ Của những bông hoa trắng nhỏ”. Nhưng sự ra đi cái đẹp làm cho cuộc sống trở nên thiếu vắng một giá trị (Người bán hương trầm năm ngoái). Tình tri âm tri kỷ cũng là cái đẹp hiếm có ở đời, thiếu nó, trăng dù là nguồn thơ cũng trở nên vô nghĩa: “Ta lạc giữa đám người đơn độc/ Ngoài kia trăng như một gã vô hồn/ Nghiêng cạn chén: Thi trung càn khôn đại/ Cô đơn thay khi Lý Bạch không còn” (Quán rượu trên đường Vương Phủ Tỉnh). Cái đẹp, tự nó đã là toàn bích: “Nếu bạn định làm một hạt mưa lành qua cơn khát/ Không cần phải màu sắc gì thêm” (Hạt mưa lành không màu). Và cái đẹp không chỉ là cái đẹp khách thể, cần phải là một cái đẹp thấm đẫm ý nghĩa nhân sinh. Tôi thích nét đẹp nhân văn này:

 “Chiều xúi quẩy sà xuống đám chơi trò chọi dế

Thương quá những chú mèn nâu chuẩn bị thượng đài

Thôi hãy xa đám người đang hò reo ầm ĩ

Kịp về với cỏ tím bờ sông buổi hòa nhạc đêm nay”

                             (Bờ sông tiếng dế)

Nét đẹp nhân văn trong hình tượng Vọng Phu (Cánh buồm đỏ thắm), sự tiếc thương cái đẹp bị tàn phá (Hoa Ngọc Hà) và nét đẹp giàu phẩm chất dân tộc trong hình ảnh mẹ đợi con về (Nhớ mẹ) khẳng định cốt cách tư tưởng thơ Lê Thành Nghị.

4. Cốt cách thơ Lê Thành Nghị

Tư tưởng nhân văn trong thơ Lê Thành Nghị còn tạo nên chất tài hoa trong nhiều bài thơ của ông. Chất tài hoa rất khác so với Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi hay Phạm Thiên Thư. Đồng thời tư tưởng nhân văn làm thơ ông thăng hoa, nhiều bài trở thành thơ lãng mạn. Bởi Lê Thành Nghị hướng về tìm kiếm và thể hiện cái đẹp của đời sống mà không bận tâm “phản ánh hiện thực”.

Những bài thơ hay trong tập là những bài thơ khám phá sâu sắc hiện thực, sáng tạo được những tứ thơ độc đáo kiểu thơ Đường, và tỏa sáng được tư tưởng nhân văn. Khi thơ chỉ là nhận thức duy lý, tứ thơ quen thuộc, thơ Lê Thành Nghị mất đi vẻ đẹp và sự hấp dẫn (Thi đàn, Dự định, Những câu hỏi ngày thường, Trong rạp xiếc, Chuyện nhân thế, Que diêm vi mô cánh rừng vĩ mô và hư vô tro bụi, hoặc những bài thơ tình thiếu nhịp đập trái tim và hơi thở cảm xúc)

Tôi rất thích cốt cách này của thơ Lê Thành Nghị

Có chàng trai về đến Sóc Sơn

Hóa thân thành im lặng

Có miền đất im lìm đứng lên

Tự mình xây núi lớn.

—————

* Tạp chí Nhà văn & Tác phẩm tháng 5 + 6 năm 2016

** Tập thơ Mưa trong thành phố, NXB QĐND 1999, và Mùa không gió, NXB Hội Nhà văn 2002.

Nhà thơ-TS Lê Thành Nghị tại Đại hội X-Hội Nhà Văn Việt Nam 2020

THƠ MIC. CAO DANH VIỆN

NHỮNG KHUÔN MẶT THƠ CA CÔNG GIÁO ĐƯƠNG ĐẠI

THƠ MIC. CAO DANH VIỆN

Đọc Tiếng lòng từ Lời Chúa-Thơ Cao Danh Viện

***

Bùi Công Thuấn

Tác giả Cao Danh Viện nhận giải thơ VHNT Đất Mới 2016

            Tôi được đọc thơ Cao Danh Viện từ khi ông tham gia giải VHNT Đất Mới của Giáo phận Xuân Lộc. Cao Danh Viện đoạt giải I thơ 2015 với  3 tác phẩm: Trường ca họ từ những đau khổ lớn lao mà đến, Mùa hoa Mân Côi Đường Thánh giá với tâm tình Ma-đơ-len. Năm 2016, Cao Danh Viện lại đoạt giải I thơ Đất Mới với 2 tác phẩm: Kinh Ngợi KhenSuy niệm Kinh Thánh. Và hôm nay tôi được đọc tập thơ Tiếng lòng từ Lời Chúa ba năm ABC (245 bài thơ) của ông. Một vài dòng giới thiệu như thế chưa đủ, song  những gì ông đã viết và được khẳng định đủ để người đọc tin vào một tài năng thơ, một cốt cách thơ Công giáo đương đại.

MỘT HỒN THƠ REO VUI HÂN  HOAN

                        “Trí tôi choáng ngợp thơ hoa”

                                    (Tôi đã thấy và tôi đã tin. tr. 136)

            “Tôn thờ Thiên Chúa là Cha

            Hồn tôi hoan hỉ ngợi ca tình Ngài”

                        (Ngày của hoan lạc. tr. 186)

            “Thong dong đưa bước xa khơi

            Vai mang bác ái tay mời yêu thương

            Miệng ca câu hát khiêm nhường

            Reo vui chân sáo trên đường quang minh”

                        (Con đường Giê su. tr. 141)

Hồn thơ Cao Danh Viện reo vui suốt tập thơ, tạo nên phẩm chất thơ Cao Danh Viện.

Cội nguồn của hồn thơ reo vui là cảm nhận sâu sắc Lời Chúa, không chỉ bằng trí hiểu mà bằng sự mạc khải trong tim, lan tỏa thành thơ. Thơ Cao Danh Viện lấp lánh Lời Chúa trong từng câu chữ, từ ý tứ, từng cảm xúc, nghĩ suy; cả những cảm nghiệm đau khổ và hạnh phúc cũng lấp lánh niềm vui, và càng tỏa sáng hơn nơi những gì ông chia sẻ với tha nhân.

 Không phải vô tình ông đặt tên cho tập thơ là “Tiếng lòng từ Lời Chúa”. “Tiếng lòng” là tiếng nói tình cảm, là tâm hồn. “Tiếng lòng” là đặc trưng của thơ trữ tình. Đặc điểm này chi phối thi pháp cả tập thơ. Thơ Cao Danh Viện là tiếng nói trữ tình của nhân vật Tôi (tác giả), một người đã “giác ngộ” Lời Chúa trong chính cuộc đời trần gian của mình. Sự chân thành của “tiếng lòng” có sức thuyết phục sâu xa cả những điều tưởng như chỉ có trong trí hiểu của Đức tin.

                        Về trong sa mạc nội tâm

                        Tôi ơi còn mãi lỗi lầm mà chi

                        Đứng lên đi! Trở về đi!

                        Vọng hồng mang lượng tư bi hải hà.

(Vọng hồng. tr.17)

            Ông hát ca ơn gọi cuộc đời:

                        Mênh mông biển cả trần gian

                        Xuôi dòng con sóng ầm vang nhịp đều

                        Lặng nghe tiếng gọi tình yêu

                        Ngược dòng khua bát tay chèo tín trung

                                    (Ơn gọi cuộc đời. tr. 174)

            “Hãy sống vui cho thỏa lòng khao khát

Hò reo lên cho bùng vỡ niềm yêu”

            (Niềm hoan lạc Phục Sinh. tr 407)

            Và ông lý giải:

                        “Nếu không có Chúa ở cùng

                        Đời tôi rỗng tuếch như thùng kêu to

                        Nếu không Lời Chúa dặn dò

                        Đời tôi tăm tối mày mò đêm sâu”

                                    (Xin cho con biết Chúa. Tr.327)

            Và ông dấn thân

                        “Từ khi con được tái sinh

                        Làm con cái Chúa, quang minh làm người

                        Xuôi dòng con giữa trùng khơi

                        Con là hạt muối mặn môi cho đời

                                    (Muối và ánh sáng)

            Cần phải hiểu chữ “tái sinh” trong hoàn cảnh sống của ông mới cảm nhận được hết niềm hân hoan xác tín vào tình Chúa quan phòng. Mic Cao Danh Viện sinh ngày 20-8-1959.Học Tiểu Chủng Viện Quy Nhơn từ 15-8-1971 đến 22-4-1975. Sau đó làm nông, buôn bán nhỏ và … hưu non.

Như vậy Ông đã trải qua những tháng ngày chiến tranh, bom đạn và cái chết rình rập, khi đất nước bị chia cắt; rồi lại sống lầm than những ngày cả nước phải ăn độn bắp, độn bobo. Khó khăn cả vật chất và tinh thần. Từ một trí thức trở về làm nông dân và vượt qua được thân phận mình, đó chính là “cuộc tái sinh”, một “cuộc tái sinh” không ít đau đớn nếu không có sự tín thác vào tình yêu vô bờ của Chúa. Nhưng hơn thế “cuộc tái sinh” trong Thánh Thần cho ông sức mạnh để bước vào đời bể dâu.

                        “Một đời người hay một vòng lẩn quẩn

                        Khi con tim bằng thịt mãi quặn đau

                        Khi cuộc trần là mãi cuộc bể dâu

                        Vì con chưa nhận ra đường Thập Giá

                        Đường Thập giá có hoa thơm cỏ lạ

                        Khi con bằng lòng từ bỏ mình đi

                        Sống cho tha nhân, sống với-sống vì

                        Là chấp nhận để đời mình hy hiến

                        …

                        Cúi lạy Chúa! Dẫu đời con tủi nhục

                        Nhưng có Ngài! Xin giúp sức cho con…

                                    (Thập tự đời con. tr 224)

            Ông thổ lộ:

            “Có một giai đoạn tôi buồn và thơ tôi rất bi lụy oán than! Nhưng thời gian và hồng ân Chúa dần làm tôi cảm nghiệm được hạnh phúc mà mình đang sở hữu. Tôi cảm ơn Chúa luôn yêu tôi, theo sát từng bước chân tôi, chăm chút cho tôi trong từng nỗi đau của nghịch cảnh cuộc đời…Trong thơ, tôi cảm thấy được gặp Chúa, được đụng chạm vào tình yêu của Ngài và nơi thơ, tôi có những rung cảm sâu sắc của tình thâm Phụ tử.” (Có một vườn thơ đạo tập 4, tr.86)

Ở mảng thơ trữ tình, Cao Danh Viện có nhiều bài thơ thật thấm thía. Xin đọc: Viên ngọc nước trời (tr.55), Đường thập giá (tr.66), Bài ca hạt giống (tr.188), Lời thầm bên thánh thể (tr.251), Bỗng dưng muốn khóc (tr.325), Ẩn mình cơn cám dỗ (tr.385), Vườn Ô-liu (tr.398)…

MỘT GIỌNG THƠ CÓ CỘI  NGUỒN TỪ TRUYỀN THỐNG

             Thơ “truyền thống” Công giáo có các thể loại Diễn ca, Huấn ca, Thi ca cầu nguyện, kinh, vãn, ca vè làm theo thể Lục bát. Thí dụ: Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan (1670), Cảm tạ niệm từ-Diễn ca (Kinh Cao sang-Phạm Trạch Thiện 1818-1903), Huấn ca của Cụ Sáu Trần Lục (1825-1899): Hiếu tự ca, Nữ tắc thường lễ, Nịch ái vong ân…Những bài huấn ca của Xuân Ly Băng (1926-2017): Bổn phận cha mẹ, Bài học truyền giáo, Sao em không lần chuỗi, Chuỗi Môi Côi, Xâu chuỗi Mân Côi, Sự thánh thiện của Chúa Giêsu, Những danh hiệu của Chúa Giêsu, Năm Linh Mục, Linh mục, ngài là ai? Trái Thánh kinh, Đoản khúc Tin Mừng, Lâu đài đêm)…

            Ở cương vị Mục tử chăn dắt đoàn chiên, Huấn ca của Trần Lục hay Xuân Ly Băng trực tiếp dạy bảo đức tin, dạy phẩm hạnh cho con chiên (không khác gì Gia huấn ca của Nguyễn Trãi).

                        “Mấy lời hiếu tự nói qua

                        Để cho ai nấy trẻ già nhớ ơn

                        Làm người sống ở thế gian

                        Ai không đội đức cao sang nặng dày…”

                                    (Trần Lục-Hiếu tự ca)

Sinh con thì cẩn thận
Có chừng mực điều hòa
Có trách nhiệm sâu xa
Vì gia đình hạnh phúc
Để giống nòi hạnh phúc

                         (Xuân Ly Băng-Bổn phận cha mẹ)

Trái lại, huấn ca, diễn ca của Cao Danh Viện hướng vào lòng mình mà tự huấn, rồi từ những cảm nghiệm sâu xa đức tin, Cao Danh Viện chia sẻ niềm tín thác và tình yêu của Thiên Chúa cho mọi người.

Đây là một đóng góp làm mới thơ truyền thống Công giáo. Cao Danh Viện thuật lại một đoạn Kinh Thánh (thuật lại theo sự sáng tạo của riêng mình), từ đó rút ra bài học suy niệm hay trao gửi với mọi người những điều mình cảm nghiệm được.

            XIN CHO TÔI ĐƯỢC THẤY

            Bọt bèo tựa cánh dã quỳ

            Bẽ bàng thân phận  sá gì sắc hương

            Làm thân khất thực vệ đường

            Nay nghe có Đấng Xót Thương vi hành

            Mở môi cầu chút lòng lành

            Thâm tâm dâng chút tín thành! Chúa ơi!

            Van xin Người chỉ một lời

            Mắt anh được thấy rạng ngời thiên nhan

            …

            Cúi xin Chúa hãy mở tay

            Chữa lành đôi mắt còn đầy dối gian

            Mở lòng sáng tận tâm can

            Để người tin nhận Chúa đang đợi chờ

                                                            (tr.221)

Hai khổ thơ đầu, Cao Danh Viện thuật lại một người mù tên là Ba-ti-mê được Chúa chữa lành (Mc 10, 46-52). Khổ thơ cuối Cao Danh Viện (là người trong đám đông) bày tỏ lòng tin vào Chúa (không có giọng giáo huấn bất kỳ ai).

Cùng một cách viết như thế, Cao Danh Viện có những bài kết hợp giữa Diễn ca và huấn ca (tự huấn) rất hay. Phần diễn ca Kinh Thánh có nhiều sáng tạo. Nội dung trình thuật Kinh Thánh được dệt bằng nhiều tứ thơ đặc sắc giúp cho phần huấn ca trở nên nhẹ nhàng, thuyết phục. Đó chính là phẩm chất thơ của riêng Cao Danh Viện. Xin đọc: Vương quyền của vua Giêsu (tr.129), Con sóng cuộc đời (tr.190), Đức tin chữa lành (tr.192), Chọn Chúa (tr. 208), Lời cầu xin khiêm nhường (tr.321), Sống đời Ngôn sứ (tr.333), Trong cõi đời đời. (tr.358), Khiêm cung cầu nguyện (tr.367), Biến đổi đời con (tr.387), Ném đá (tr.394),…

Những sáng tạo như thế của Cao Danh Viện góp phần hiếm hoi vào việc làm mới thơ ca truyền thống Công giáo. Điều ấy thật đáng quý, bởi thơ phải là thơ, là cái đẹp tư tưởng, ngôn ngữ. Người làm thơ phải khám phá được những tứ thơ mới lạ làm kinh ngạc người đọc về những gì đã quen thuộc (chức năng lạ hóa). Người đọc hôm nay đã được nghe những giáo huấn của Linh mục trong nhà thờ, họ cần tìm được “Cái đẹp” của Kinh Thánh trong thơ, thay vì những lời giáo huấn bằng ngôn ngữ trực tiếp. Cao Danh Viện đã đem đến cho người đọc “Cái Đẹp” của Kinh Thánh (Kinh Thánh trở thành đối tượng khám phá sáng tạo. Nói cách khác, Mỹ học Kitô giáotư tưởng Nhân văn Kitô giáo đã sáng lên trong thơ Cao Danh Viện)

PHONG PHÚ VỀ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN

            Hầu hết thơ trong tập “Tiếng lòng từ Lời Chúa năm ABC” là thơ Lục bát. Thơ Lục Bát Cao Danh Viện có hai hướng phát triển: Lục bát trữ tình thể hiện “Cái Tôi”. Xin đọc: Viên ngọc nước trời (tr. 55), Lời thầm bên Thánh Thể (tr.251); và lục bát dân dã, nối tiếp truyền thống ca vè Công giáo. Xin đọc: Có Thầy đây! Đừng sợ! (tr.59), Niềm hạnh phúc đích thực (tr.315), Vào cửa hẹp (tr.348)… 

                        VIÊN NGỌC NƯỚC TRỜI

                        Nhiệm màu nơi thửa ruộng con

                        Có chôn kho báu vàng son Nước Trời

                        Khôn ngoan gìn giữ tinh khôi

                        Quyết tâm bán hết sự đời mà mua …

                        …

                        Giữa đời củi quế gạo châu

                        Nên hư cũng một ruộng sâu phận người

                        Tâm tình con hướng lên trời…

                                                 (Mt 13, 44-52)

Dù vậy, Cao Danh Viện đã nỗ lực nâng “chất thơ” của Lục bát dân dã, tạo ra kiểu thơ trữ tình dân dã (Xin đọc: Mái trường Giêsu-tr.51). Điều này hợp lý, bởi trình độ bạn đọc hôm nay không còn là những giáo dân mù chữ của những thế kỷ trước. Muốn những người giáo dân mù chữ mau thuộc kinh, những nhà truyền giáo đã viết kinh thật dễ hiểu, dùng lời nói hàng ngày để chuyển tải, dùng vần điệu quen thuộc để đưa vào lòng người. Vì thế những bài kinh nôm na, mộc mạc, chỉ đọc vài lần là thuộc. Người làm thơ Công giáo hôm nay muốn đem Tin Mừng đến cho người đọc, dù là người đọc bình dân, nhất thiết phải nâng phẩm chất nghệ thuật thơ. Về mặt này thơ Cao Danh Viện cũng có chỗ chưa thật sáng tạo. Đó là sự lặp từ, lặp ý trong cùng một chủ đề ở những bài khác nhau; hoặc phá cách vần điệu; hoặc sự lúng túng trong trình thuật Kinh Thánh; có khi lời thơ là sáo ngữ, mang nghĩa tượng trưng hơn là hiện thực… [1]

            Cao Danh Viện có những bài Thất ngôn Đường luật khá chuẩn mục, tạo nên chất thơ trang trọng. Thất ngôn Đường luật là thể thơ cổ, khó thể hiện những tình ý hiện đại. Cao Danh Viện kế thừa được kiểu thơ Đường luật đã Việt hóa, nhờ đó người đọc không gặp khó trong thưởng thức thể thơ từ lâu đã ít người làm. Xin đọc: Xức tro (tr.234). Thương khó (tr.246), Bình dầu cam tùng (tr.247), Kẻ phản bội (tr.248), Yêu người phản bội (tr.249), Tiệc ly (tr.250), Cuộc khổ nạn (tr.253). Tấm bánh bẻ ra (tr.431).

            TIỆC LY

            Đạo lễ Vượt Qua đã đến gần

            Tiệc Ly bữa tối dốc tình thân

            Yêu thương tha thiết, Người bẻ bánh

            Phục vụ ân cần, Chúa rửa chân

            Thánh chức truyền giao ơn mục tử

            Thiên duyên di chúc phước chiên lành

            Người ta nhận biết môn sinh Chúa

            Khi thấy tình yêu giữa cõi trần

                        (Thứ Năm Tuần Thánh)

            Cao Danh Viện tỏ ra điêu luyện trong thể thơ 8 chữ (kiểu thơ Lãng mạn 1930-1945). Kiểu thơ này là thơ trữ tình, là tiếng nói tâm trạng của Cái Tôi, sử dụng kiểu ngôn ngữ tượng trưng, nhiều khi thành sáo ngữ. Cao Danh Viện có nhiều bài hay ở thể thơ này. Xin đọc: Thập tự đời con (tr.224); Đón Chúa (tr.291); Tin vào lòng nhân hậu (tr.354); Cầu nguyện (tr.365); Ngày đăng quang của Vua Tình yêu (tr.376); Đức vua của lòng tôi (tr.378); Con đi đường thương khó (tr.396); Cây cứu chuộc (tr.401); Niềm tin Phục sinh- thơ 8 chữ biến điệu có câu 5 chữ. (tr.410)…

Trong tập thơ cũng có bài thơ 5 chữ (Ngợi ca tình yêu-tr.432) và bài 7 chữ (Tình ca mục tử-tr.414).

Tôi lần tìm những thể thơ Cao Danh Viện đã dùng để thể hiện “Tiếng lòng” mình là để chia sẻ với bạn đọc điều này: tác giả là người làm thơ có khi cốt riêng, vừa am tường những thể loại nghệ thuật dân tộc, lại rất điêu luyện trong sự thể hiện thi ca; vừa có kế thừa lại vừa sáng tạo cái mới để góp thêm vào sự phát triển dòng chảy thơ ca Công giáo đương đại. Một điều làm tôi kinh ngạc là càng về sau thơ Cao Danh Viện càng sâu sắc về tư tưởng càng thăng hoa về nghệ thuật. Xin đọc: Ném đá (tr. 394), Con đi đường thương khó (tr.396), Gửi người tình phụ (tr.405),…

Trong đội ngũ người làm thơ Công giáo hôm nay, những khuôn mặt có những đóng góp mới mẻ như Cao Danh Viện không nhiều (nếu không nói là hiếm).

Muốn nói một điều chia sẻ với tác giả Cao Danh Viện về thơ, trước hết tôi khâm phục tài năng, công sức và tâm huyết của tác giả trong việc đóng góp làm giàu thơ ca Công giáo hôm nay. Và đề xuất, tác giả sử dụng những thể thơ Việt đương đại để làm phong phú thơ Công giáo hơn nữa trong thế kỷ XXI.

Dù sao, đó chỉ là điều để ngẫm nghĩ về nghệ thuật. Đem Tin Mừng đến cho mọi người, trong mọi hoàn cảnh, ở mọi nơi, đó mới là đích đến của người làm thơ Công giáo.

Tháng 12/2020

________________________

[1]Ghi chú

a. Lặp từ “Tế sinh” các trang 150, 255, 265, 277. Từ “Khiêm cung” tr.254, 257. 351 (lặp 3 lần trong 1 trang)

b. Diễn ca Kinh thánh có lúng túng trong cách kể, cách tái hiện sự việc, cách khắc họa nhân vật; lặp lại ý tứ đã quen thuộc. Xin đọc các bài: Ta là sự sống và là sự sống lại (tr.125); Đường thương khó (tr.130), Đấng Thanh tẩy (tr.305), Rượu yêu (tr.307), Về quê (tr.309), Hiến lễ tình yêu (tr.98), Vị thẩm phán công minh (tr.100), Nước hằng sống (tr.117)…

c. Dùng từ nôm na, phá cách về vần:

Chúa ơi! Con rất mỏng dòn

Như bình sành dễ vỡ toang bất kỳ.(tr.151)

    Hoặc dùng từ bình dân, ít chất văn chương:

Chia san hạnh phúc vô cùng mê ly.348

   d. Sáo ngữ:

                                Bao nhiêu ân huệ miên trường

                                Rủ thương ban xuống đôi đường mưa sa

                                Thế mà tôi mãi phôi pha

                                Làm cho vô hiệu ngọc ngà thiên ân”

                                                (Chay tịnh. tr.105)

                                Vọng về trong cõi lòng ta

                                Nghe dòng lịch sử thơ hoa con người.

(Vọng khúc. 284)

DƯ ÂM ĐẠI HỘI LẦN THỨ X-HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

DƯ ÂM ĐẠI HỘI LẦN THỨ XHỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

Bùi Công Thuấn

***

Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam nhiệm kỳ 2020-2025 (ảnh chụp sau cuộc họp đầu tiên)

            Dư âm còn lại trong tôi sau những ngày dự Đại hội lần thứ X – Hội Nhà văn Việt Nam (23-25/11/2020)  là niềm vui về một Đại hội chuyển giao thế hệ và những băn khoăn về con đường trước mặt của văn chương Việt Nam.

MỘT ĐẠI HỘI YÊN Ả ĐẾN NGẠC NHIÊN

            596 nhà văn dự Đại hội, nhưng chỉ có một ý kiến của đại biểu 90 tuổi. Cụ lên đọc phát biểu trang trọng, bài bản. Mặc dù hội trường rất trật tự nhưng tiếng của cụ lạc vào cõi nào. Lũ nhà văn thế hệ con cháu cụ ngồi phía dưới chỉ thấy tội nghiệp cho cụ.

Có nhiều thời gian dành cho tham luận và phát biểu ý kiến nhưng cũng không có nhà văn nào lên tiếng. Cả khi chờ kết quả kiểm phiếu, chủ tịch đoàn kêu gọi nhà văn trình bày ý kiến tự do (không cần đăng ký trước), cũng không ai đăng đàn. Người này nhìn người kia, cười. Xong! Cả hội trường im lặng, nói chuyện thì thầm. Điều này gây kinh ngạc vì ở đại hội cơ sở còn có một vài ý kiến, càng kinh ngạc so với các kỳ đại hội trước, người ta tranh cướp micro để phát biểu.

            Nguyên nhân có thể là, Chủ tịch đoàn đã không tổng kết ý kiến ở các đại hội cơ sở để đại hội đại biểu thảo luận thêm, thành ra, các nhà văn thấy rằng có phát biểu gì thêm cũng không ai nghe. Đại hội là nơi làm việc của Ban chấp hành. Ban chấp hành đọc báo cáo, Ban chấp hành kiểm điểm, Ban Chấp hành trình bày những nội dung điều lệ Hội cần thay đổi, Ban chấp hành đề ra phương hướng nhiệm vụ cho nhiệm kỳ mới. Rồi bầu Ban chấp hành cgho nhiệm kỳ mới. Đại hội không giải quyết những vấn đề của nhà văn. Nhà văn đi dự đại hội chỉ làm một việc (được coi là có tinh thần dân chủ) là giơ tay biểu quyết đồng thuận với Ban chấp hành về những “thành tích” lớn lao của nhiệm kỳ (2015-2020), và hợp thức hóa những gì đã được quyết định. Thế là đại hội thành công tốt đẹp.

            Nguyên nhân thứ hai có thể là, những nhà văn hay phát biểu ở những đại hội trước gần như không có ai trong đại hội này. Đại hội lần trước (2015) và lần này(2020), Điều lệ hội đã loại tất cả những hội viên Hội Nhà văn Việt Nam tham gia vào một tổ chức đoàn thể khác mà chưa được phép của Bộ nội vụ. Nhờ thế không khí đại hội rất vui vẻ, yên lành và đầy chất nhân văn. Chỉ hơi lộn xộn một chút lúc có đông đại biểu cùng lên bỏ phiếu. Thế là đại hội thành công tốt đẹp.

            Gọi là thành công tốt đẹp vì Đại hội đã bầu được một Ban chấp hành 11 nhà văn tài năng ở khắp các vùng miền tổ quốc, có thể đại diện cho nhiều vùng văn học khác nhau, và nhờ đó có thể kích thích sự phát triển văn học đồng đều ở những nơi mà trước đây chưa được chú ý.

Nhưng nếu coi đó là một thành công thì phải giải thích thế nào khi Ban chấp hành nhiệm kỳ IX-HNV khi chỉ có 6 người? Đã có ý kiến cho rằng, Ban chấp hành nhiệm kỳ IX chỉ là Ban chấp hành của Hội nhà văn Hà Nội, hay là Ban chấp hành của Văn nghệ quân đội! Và nếu như thế thì những “thành tích” mà Ban chấp hành nhiệm kỳ IX đạt được có là “thành tích” của hơn 1000 hội viên HNV không? 1616 tác phẩm của hội viên trong 5 năm (2015-2020) có phải là do sự thúc đẩy và hỗ trợ sáng tác của Ban chấp hành đối với từng hội viên mà đạt được như vậy chăng?

 Câu trả lời là không. Sự thật là, mỗi nhà văn tự thân sáng tác, tự mình rao bán bản thảo, hoặc tự bỏ tiền ra in tác phẩm, rồi tự phát hành hoặc đa số chỉ in vài trăm bản để tặng bạn bè. Ban chấp hành nhận những nỗ lực của từng nhà văn ấy là thành tích của Hội, tôi e những nhà văn tự in, tự phát hành tác phẩm của mình sẽ không bằng lòng đâu! Bởi vì đó không phải là kết quả của kế hoạch “đẩy mạnh sáng tác” của Ban chấp hành Hội.

Tôi xin kể một chuyện nhỏ. Năm 2017 tôi gửi đến nhà xuất bản Hội Nhà văn (Hà Nội) xin giấy phép cuất bản cuốn “Lý luận và phê bình văn học-Diện mạo của một thời”. Lúc ấy nhà thơ Đỗ Hàn nhận bản thảo. Nửa tháng sau tôi được biên tập viên gọi trả bản thảo và không cấp giấy phép. Tôi hỏi lý do, biên tập viên trả lời: không phù hợp với “Luật xuất bản” và không giải thích gì thêm. Tôi không rõ lúc đó nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đang phụ trách nhà xuất bản HNV có đọc và ra lệnh không cấp giấy phép hay không? Tôi tự so sánh cuốn sách của mình với cuốn “Luận chiến văn chương” của Chu Giang thì thấy cuốn sách của mình nhẹ tênh. Cuốn sách của tôi chỉ ghi nhận diện mạo phê bình của một thời “như nó là”, vậy mà không in được. Tháng 2/ 2020 tôi gửi bản thảo đến nhà xuất bản Hồng Đức xin phép xuất bản cuốn “45 năm văn học Việt Nam”, tôi chờ đến nay đã 10 tháng vẫn không thấy tăm hơi gì. Tháng 8/2020 tôi gửi đến Nxb Hội Nhà văn chi nhánh miền tây Nam bộ xin giấy phép xuất bản cuốn “Về thăm một miền quê”, đến nay đã 4 tháng vẫn chưa được cấp phép. Tôi không rõ vì lý do gì. Tôi là một hội viên Hội Nhà văn, trong ba năm in  3 cuốn sách. Tôi viết với trình độ chuyên nghiệp và ý thức trách nhiệm cao, nhưng không xin được giấy phép xuất bản. Vậy Ban chấp hành Hội “đẩy mạnh sáng tác” đến từng hội viên như thế nào? Sai tôi không nhận được sự trợ giúp của Hội? Ấy là chưa nói, trong nhiều năm gần đây, những bài phê bình văn học của tôi gửi đến báo Văn nghệ, đến trang vanvn.net của Hội cũng bị loại mà không một lời phản hồi của Ban biên tập!

Hình như việc “đẩy mạnh sáng tác” của Ban Chấp hành chỉ nằm trong hoạt động tổ chức trại sáng tác và tổ chức các cuộc thi thơ, thi tiểu thuyết. Và “thành tích” đẩy mạnh sáng tác chỉ là vài chục cuốn sách đoạt giải, không tạo được ấn tượng gì đối với công luận? Nếu vậy thì sao nói được, trong 5 năm qua, Hội Nhà văn Việt Nam đã làm tốt nhiệm vụ chính trị?

Tôi nghĩ các nhà văn dự đại hội biết rõ điều này: Nhiều nhà văn không còn sáng tạo được vì quá già. Mắt đã mờ, lưng đã mỏi, tay đã run, thì làm gì có được những tác phẩm “kết tinh” hiện thực lớn lao của dân tộc, làm sao vươn tới được “tác phẩm đỉnh cao” về tư tưởng và nghệ thuật xứng tầm với dân tộc này, một dân tộc đang bước đi những bước thần kỳ vào thế kỷ XXI, biết thế nên nhà văn tự im lặng! Còn Ban chấp hành, các vị cứ làm tốt nhiệm vụ chính trị của mình.

Việc chính là, Ban chấp hành phải thực hiện cho được nhiệm vụ chính trị, còn chuyện sáng tác những tác phẩm đỉnh cao của hội viên là chuyện lâu dài, hãy đợi đấy! Trước mắt Hội Nhà văn cứ làm công tác phong trào, cứ cổ vũ hội viên viết những tác phẩm phong trào, tạo những “dàn đồng ca” hoành tráng, thế cũng là tốt rồi. Trong 5 năm, hội viên in được 1616 tác phẩm là thành công rồi. Không có văn chương phong trào thì làm gì có tác phẩm đỉnh cao. Cách làm văn chương từ trước đến giờ vẫn thế!

ĐẠI HỘI CHUYỂN GIAO THẾ HỆ

Ban chấp hành nhiệm kỳ 2020-2025 gồm 11 nhà văn ở khắp các vùng miền trong nước.

1.Nhà văn Nguyễn Quang Thiều 1957 (Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam).

2.Nhà thơ Trần Đăng Khoa 1958 (Phó Chủ tịch Hội).

3.Nhà văn Nguyễn Bình Phương 1965 (Phó Chủ tịch Hội).

4.Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ 1966 (Ủy viên Ban Thường vụ)

5.Nhà văn Bích Ngân 1960 ( Ủy viên Ban Chấp hành),

6.Nhà văn Khuất Quang Thụy 1950 (Ủy viên Ban Chấp hành)

7.Nhà thơ Trần Hùng 1957 (Ủy viên Ban Chấp hành)

8.Nhà thơ Lương Ngọc An 1965 (Ủy viên Bân Chấp hành)

9.Nhà văn Vũ Hồng 1966 (Ủy viên Ban Chấp hành)

10.Nhà thơ Hữu Việt 1963 (Ủy viên Ban Chấp hành)

11.Nhà thơ Phan Hoàng 1967 (Ủy viên Ban Chấp hành)

Các nhà văn trong Ban chấp hành ở độ tuổi từ 53 đến 63 (trừ nhà văn Khuất Quang Thụy 70 tuổi). Đội ngũ này được coi là trẻ (có người nói: Nhà văn không có tuổi). Hầu hết trưởng thành lên sau chiến tranh. Họ có cách viết khác với thế hệ trước, tức là không bị ràng buộc bởi Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, hơn thế, từ khi đất nước “đổi mới” (1986), họ còn tiếp cận với nhiều lý thuyết văn học và khuynh hướng văn nghệ trên thế giới. Đặc biệt là sự đổi mới quan điểm văn nghệ của Đảng trong Nghị quyết 5 (1998) và Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị (2008). Lúc đó họ ở độ tuổi trên dưới 30. Vì thế Ban Chấp hành nhiệm kỳ 2020-2025 được coi là sự chuyển giao thế hệ.

            Nhưng xin lưu ý rằng, đây là chuyển giao thế hệ lãnh đạo Hội Nhà Văn, không phải là chuyển giao thời kỳ văn học, chuyển giao ý thức tư tưởng và nghệ thuật mới. Đại hội không bàn về những vấn đề này. Ban chấp hành vẫn kiên định quan điểm của Đảng về văn nghệ, kiên định lý tưởng Xã hội chủ nghĩa và xác lập rõ Hội Nhà văn Việt Nam là mội “tổ chức chính trị-xã hội- nghề nghiệp”, “Hội Nhà văn Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; hoạt động theo đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng”(Điều lệ Hội).

Trong diễn văn đọc tại Đại hội Nhà văn ngày 25/11/2020, ông Võ Văn Thưởng-Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo TƯ, Trưởng ban chỉ đạo Đại hội các Hội VHNT toàn quốc-nhấn mạnh [1]: “Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, kế tục truyền thống các thế hệ nhà văn đi trước, các nhà văn Việt Nam tiếp tục có mặt trong từng bước phát triển của đất nước và trong từng niềm vui, nỗi buồn của nhân dân, tiếp tục sứ mệnh quan trọng và đặc biệt của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu”.

Ông nhắc nhở: “Cho đến nay, Hội viên Hội Nhà văn chúng ta vẫn chưa xây dựng được những tác phẩm lớn về các cuộc kháng chiến vĩ đại, về những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, về cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Về chất lượng tác phẩm, tính chuyên nghiệp chưa cao, có ít tác phẩm đủ sức tạo thành các hiện tượng văn học,…

Ông đề ra nhiệm vụ cho Hội Nhà văn: Nhiệm vụ của Hội trong nhiệm kỳ mới là phải tiếp tục góp phần đáng kể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, chống sự suy thoái biến chất về tư tưởng chính trị và đạo đức; Trong tổng kết văn học Việt Nam nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, thúc đẩy hòa hợp dân tộc, xây dựng đại đoàn kết dân tộc, thông qua văn học, thúc đẩy một đời sống dân chủ lành mạnh, tiếp tục bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống và tạo dựng những giá trị nhân văn mới cho xã hội; Đồng thời tiếp tục tạo dựng hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trên thế giới thông qua văn học. Hội Phải tạo ra những bước đi có tính quyết đinh cho một dòng văn học thiếu nhi đa dạng, phong phú, hiện đại, đậm bản sắc văn hóa dân tộc để cùng xã hội tạo ra những sản phẩm đặc biệt nhất, quan trọng nhất là CON NGƯỜI Việt Nam. Đó là triển vọng là tương lai của đất nước mà nhà văn cần hướng tới”.

            Những nhiệm vụ Đảng giao cho Hội Nhà văn là rất vẻ vang nhưng cũng hết sức khó khăn. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, tân chủ tịch Hội Nhà văn phát biều: ”Thách thức với Ban chấp hành Hội Nhà văn khóa X là vô cùng to lớn, nhưng thách thức lớn hơn là thách thức của mỗi nhà văn trước trang viết của mình. Mỗi nhà văn phải trả lời biết bao câu hỏi, của chính mình, của mỗi thân phận quanh mình, của cả dân tộc trong một thời đại với nhiều biến động”[2] . Trả lời báo Thể thao & Văn hóa, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều hứa sẽ cố gắng hết sức: “Tôi đã giữ cương vị Phó chủ tịch Hội Nhà văn trong 10 năm, tôi nhận ra hết thảy những khó khăn đó. Những người đã bỏ phiếu cho tôi là những người đã tin tưởng tôi, những người chưa bỏ phiếu cho tôi là những người đang nhận ra khiếm khuyết của tôi. Làm được gì tôi chưa nói trước, nhưng tôi sẽ cố gắng hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ.”[3]

            Gọi là “thách thức”, vì đó là thách thức tài năng sáng tạo. Mà tài năng luôn là của hiếm. Với 1116 hội viên mà đa phần là nhà văn phong trào, và rất nhiều người già, thì Hội nhà văn mong đợi gì. Từ đổi mới (1986) đến nay đã 34 năm, họ không viết được tác phẩm lớn thì một ít tuổi đời còn lại, khi sức đã cùng lực đã kiệt, thì liệu họ còn kham nổi trách nhiệm nặng nề là viết những tác phẩm lớn hay không? Vậy chỉ trông nhờ vào thế hệ nhà văn trẻ. Nhưng người cầm bút thế hệ 8X, 9X lại không biết gì về chiến tranh, họ lớn lên trong kinh tế thị trường và tiêm nhiễm những ảnh hưởng văn hóa nước ngoài do toàn cầu hóa, liệu họ có viết được “những tác phẩm lớn về các cuộc kháng chiến vĩ đại, về những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới…”? Câu trả lời là rất khó. Vì những nhà văn 8X, 9X  không “trải qua bể dâu” của cuộc kháng chiến và công cuộc đổi mới cùng với dân tộc. Họ lại đang sống trong một môi trường khác, có cách nhận thức và suy nghĩ suy khác, họ viết văn với những mục đích cá nhân khác.

 Từ nhiều năm qua, chưa hề có tác phẩm lớn nào về chiến tranh cách mạng và kháng chiến. Cuốn Biên bản chiến tranh 1,2,3,4.75 của Trần Mai Hạnh (xuất bản 2015) được coi là tiểu thuyết tư liệu. Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội nhà văn hồ hởi nói đến một xu thế tiểu thuyết tư liệu viết về chiến tranh cách mạng và kháng chiến. Nhưng thực tiễn văn học đã không như vậy. Biên bản chiến tranh 1,2,3,4.75 chỉ là một tác phẩm báo chí. Dự đóan về xu thế tiểu thuyết tư liệu viết về chiến tranh cách mạng và kháng chiến đã không xảy ra. Trái lại, tiểu thuyết hiện nay khai thác nhiều về đề tài lịch sử.

 Với một thực lực hội viên như vậy, liệu Ban Chấp hành mới của Hội Nhà văn có “cây đũa thần” nào khơi gợi cảm hứng sáng tạo nơi 1116 hội viên không? Hay để đẩy mạnh sáng tác, Ban Chấp hành mới lại vẫn chỉ tổ chức trại sáng tác, tổ chức các cuộc thi thơ, thi tiểu thuyết nhưng Hội đã từng làm trong nhiều thập kỷ qua?

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, với tư cách Chủ tịch Hội Nhà văn nhiệm kỳ 2020-2025 phát biều: “Thay mặt BCH Hội nhà văn Khóa X, thay mặt thế hệ kế cận sau, những người đang cầm bút và sẽ trưởng thành trong tương lai bày tỏ sự biết ơn Đảng, Nhà nước, các cơ quan liên quan đã tạo tất cả điều kiện để Đại hội Khóa X thành công tốt đẹp. Chúng tôi lúc này nhận thấy sứ mệnh thật vinh quang, hạnh phúc thật lớn lao nhưng trách nhiệm cũng vô cùng nặng nề. Chúng tôi xin tiếp bước các nhà văn chân chính đã chọn đi, đồng hành cùng Cách mạng, đất nước. Chúng tôi nguyện làm tốt hơn nữa trách nhiệm ấy. Cuối cùng, tôi muốn nói rằng việc đặt cược lòng tin vào chúng tôi của các hội viên, của Đảng, Chính phủ và thế hệ mới là một cuộc đặt cược chắc chắn thành công!”.

Tôi quý mến tài năng và tinh thần làm việc đầy trách nhiệm của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, song tôi e rằng, tân Chủ tịch chưa lường hết những gì ông phát biểu rằng: “cuộc đặt cược chắc chắn thành công”. Giữa “lòng tin” và thực tại là một khoảng cách rất xa. Với một kế hoạch chu đáo, người ta có thể làm thành công mọi công việc, song trong sáng tạo nghệ thuật, sự “thành công” luôn nằm ngoài ý chí chủ quan của tác giả.

KỲ VỌNG CỦA HỘI VIÊN

            1. Điều đã được nói nhiều ở các đại hội cơ sở là việc kết nạp hội viên và trao giải thưởng văn học.

            Trong 5 năm (2015-2020) Ban Chấp hành đã kết nạp được 185 hội viên mới “phần đông là các cây bút trẻ sung sức”(Báo cáo tổng kết của Chủ tịch Hữu Thỉnh). Riêng hai năm 2019& 2020 Ban Chấp hành đã kết nạp 113 hội viên mới. Đây là điều bất thường. Năm 2020 có tân hội viên đã 75 tuổi (sinh 1945), cũng là “nhà văn trẻ” bất thường. Câu lạc bộ thơ Namkau ở Hà Nội mới thành lập được 6 tháng, năm 2020 có 7 hội viên Câu lạc bộ được kết nạp Hội Nhà văn Việt Nam (một điều kỳ diệu).

Những điều bất thường và kỳ diệu này làm cho nhiều hội viên nản lòng. Bởi trong 54 hội viên kết nạp năm nay, tôi không thấy khuôn mặt thơ văn nào có cốt cách, tài năng sánh ngang với những nhà thơ, nhà văn hiện nay (Nguyễn Quang Thiều, Trần Quang Quý, Lê Thành Nghị; Nguyễn Bình Phương, Đỗ Tiến Thụy, Bích Ngân, Phong Điệp…). Người ta bảo rằng chỉ cần trình độ Câu lạc bộ là đủ chuẩn kết nạp Hội Nhà văn, và ngược lại Hội Nhà văn chỉ là Câu lạc bộ sang hơn câu lạc bộ địa phương một chút! Hội Nhà văn đã tự làm mất giá chính mình trước yêu cầu về chất lượng của xã hội.

Trước một thực tạu như vậy, Ban Chấp hành cần đề ra những chuẩn mực (đánh giá chất lượng) để kết nạp hội viên. Ý kiến của Nam Cao là đáng tham khảo: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có…”. Tôi nghĩ, Hội chỉ kết nạp những cây bút có năng lực sáng tạo, và đã thực sự có đóng góp sáng tạo cho văn học. Không kết nạp những “thợ chữ”. Hãy để các Hội VHNT địa phương làm công tác phong trào.

            Về trao giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết lần thứ V(2015-2019) có 176 tác phẩm tham gia và 26 tác phẩm được trao giải. Cuộc thi được đánh giá là “ghi dấu bước chuyển mới về thể loại trọng yếu của văn học ta”(Báo cáo tổng kết), nhưng trong 26 tác phẩm được vinh danh, có nhiều tác phẩm làng nhàng, rất hiếm những sáng tạo mới mẻ về tư tưởng và nghệ thuật. Cách tổ chức cuộc thi và trao giải là cách làm văn chương phong trào không thể tìm ra tài năng và tác phẩm đỉnh cao.

Tôi nghĩ, Hội Nhà văn chỉ trao giải cho tác phẩm nào thực sự góp phần đổi mới văn học. Giải của Hội Nhà văn là giải chuyên nghiệp, không phải giải phong trào.

            2.“Lực lượng hùng hậu nhất của văn học ta trong những năm qua được huy động vào nhiệm vụ trung tâm là đấu tranh xây dựng môi trường văn hóa, xây dựng con người, trong đó vấn đề đạo đức xã hội là vấn đề nóng bỏng nhất” (Báo cáo tổng kết). Đó là đánh giá theo tinh thần Nghị quyết của Đảng.

Thực tế thì khác. Nhiều tiểu thuyết lịch sử đat giải thưởng tiểu thuyết (2015-2019). Giải nhất là tiểu thuyết lịch sử Từ Dụ Thái Hậu. Xu hướng viết tiểu thuyết lịch sử đã diễn ra hàng chục năm rồi. Tôi gọi đó là một dạng “ăn mày quá khứ”. Nhà văn không có khả năng  viết về cái “lịch sử đang diễn ra”, bèn tìm về quá khứ. Công việc “sáng tác” chỉ là đọc lại chính sử rồi “bịa” ra (Nguyễn Công Hoan nói: Hư cấu là bịa y như thật) những gì mà khoảng trống chính sử cho phép. Đấy không phải là “sáng tạo”, càng không là đóng góp mới về tư tưởng và nghệ thuật. Tiểu thuyết Hội Thề (Nxb Phụ nữ 2009) của Nguyễn Quang Thân và tiểu thuyết Chim ưng và chàng đan sọt (Nxb HNV 2014) của Bùi Việt Sỹ (cả hai cuốn đều đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn) đã từng bị công luận lên án gay gắt về những bịa đặt, đó chẳng phải là một kinh nghiệm cho văn chương Việt Nam hay sao?

Lịch sử là quá khứ. Thời nào có vấn đề của thời ấy. Tiểu thuyết lịch sử không thể giải quyết vấn đề đạo đức xã hội hôm nay. Cho nên nói rằng “Lực lượng hùng hậu nhất của văn học ta trong những năm qua được huy động vào nhiệm vụ trung tâm là đấu tranh xây dựng …vấn đề đạo đức xã hội…”là nói theo tinh thần Nghị quyết của Đảng.

Xin Ban Chấp hành hãy nhìn thẳng vào thực tại sáng tác để đánh giá cho được nền văn học Việt Nam đang ở đâu và đã đạt được những giá trị gì. Có vậy mới có thể tìm ra giải pháp phát triển văn học trong giai đoạn tới. Cho đến giờ, Văn chương Việt Nam đã phát triển thành 3 dòng chính: Văn chương cách mạng và kháng chiến, Văn chương nhân văn và dân chủVăn chương thị trường. Mỗi dòng văn học có những thành tựu và giá trị khác nhau. Không phải tất cả đều tập trung vào “vấn đề đạo đức xã hội”.

            3. Tinh thần của Ban Chấp hành là “Tất cả vì hội viên”. Tôi chưa rõ Ban Chấp hành mới sẽ đề ra chương trình hành động thế nào để thể hiện tinh thần này? Nhiệm kỳ trước Ban Chấp hành cũng làm việc với tinh thần này, nhưng nhiều hội viên đã phải tự xoay trở để tồn tại mà không có sự trợ giúp của Ban Chấp hành. Có nhà văn viết tác phẩm rồi tự rao bán bản thảo, tự bỏ tiền ra in, tự bán sách; hoặc sách của hội viên nằm chết ở nhà xuất bản HNV. Vậy Ban Chấp hành mới có thể giúp gì cho nhà văn vừa viết được tác phẩm lớn phục vụ nhiệm vụ chính trị, vừa giúp tác phẩm có thể “sống” được trong cơ chế thị trường? Hiện nhà văn hôm nay phải đối mặt với áp lực thị trường rất lớn, mà thị trường có quy luật riêng của nó. Không có sự hỗ trợ của Hội Nhà văn, cá nhân từng nhà văn khó mà ”sống” được với thị trường.

            4. Cần phải cải tổ mạnh mẽ cả về tổ chức và nội dung tờ báo Văn nghệ, trang vanvn.net, tạp chí Nhà văn &Tác phẩm. Hiện nay ba trang này chưa bao quát được những thành tựu mới của văn học Việt Nam, chưa trở thành diễn đàn cho những khuynh hướng sáng tác mới, chưa tiêu biểu cho những tiếng nói tài năng, tâm huyết của nhà văn trong cả nước. Nhà văn ở các tỉnh xa rất khó chen chân, góp mặt. Tại sao có tình trạng như vậy? Mỗi hội viên Hội Nhà văn đều có quyền đăng tác phẩm của mình trên ba trang này, miễn là phù hợp với tiêu chí xuất bản và không trái với Luật xuất bản. Bây giờ được đăng bài trên trang của Hội Nhà là nhà văn được sự ban ơn. Thân phận nhà văn thật thảm hại ngay trên sân nhà.

            5. Nhất thiết Hội Nhà văn phải viết được bộ lịch sử văn học Việt nam (1975-2025). 50 năm văn học sau 1975 chưa được đánh giá, tổng kết một cách chính thức trên cơ sở khoa học và tái hiện lại diện mạo văn học “như nó đang là”.

Thành ra trong trường học, thầy cô dạy Ngữ Văn không biết nói gì với học sinh về thành tựu giai đoạn văn học từ 1975 đến nay. Lớp 12 vẫn dạy Rừng xà nu của Nguyên Ngọc, Người lái đò sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân, Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, Một người Hà Nội của Nguyễn Khải…Học trò ngán học Văn ứ đến cổ. Hỏi học sinh có biết tác phẩm văn học nào hiện nay không, học sinh đều lắc đầu, có chăng biết tên nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Việc người trẻ thờ ơ với văn học có nguyên nhân từ nhà trường và Hội Nhà văn là vậy. Không có người trẻ đọc văn thì làm gì có “thị trường” văn học, làm gì văn học có đất sống?

***

            Không thể trong một nhiệm kỳ, Ban Chấp hành có thể làm được mọi việc để đưa nền văn học Việt Nam sánh ngang với văn học thế giới. Cũng không thể chỉ trong 5 năm, Ban Chấp hành có thể đạt được mục tiêu mà Đảng giao cho là:“xây dựng được những tác phẩm lớn về các cuộc kháng chiến vĩ đại, về những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới”. Là một hội viên, tôi hy vọng Ban Chấp hành hãy bắt đầu bằng những việc có ý nghĩa đổi mới một cách nền tảng, căn cơ, với tinh thần “Tất cả vì hội viên”, để từ đó tạo ra những cơ may cho sự phát triển.

Kính chúc Ban chấp hành Hội Nhà văn nhiệm kỳ 2020-2025 thực hiện được những gì đã hứa với hội viên.

28/ 11/2020

Bạn có thể đọc bài này trên trang: vanchuongphuongnam

______________________________ 

[1]http://vanvn.net/van-hoc-voi-doi-song/dangnha-nuoc-va-nhan-dan-luon-dong-hanh-voi-cac-nha-van/23040

[2] Phát biểu tại lễ bế mạc Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 10 của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.

[3]https://thethaovanhoa.vn/van-hoa/chu-tich-hoi-nha-van-viet-nam-nguyen-quang-thieu-chung-toi-dat-cuoc-vao-nha-van-tre-n20201125230921522.htm

VÀI HÌNH ẢNH VỀ ĐẠI HỘI

Toàn cảnh hội trường (khách sạn La Thành-Hà Nội ngày 24/11/2020)
Ban chấp hành nhiệm kỳ 2020-2025 mới ra mắt
Chuyển giao thế hệ giữa nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch HNV nhiệm kỳ 2015-2020 với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, chủ tịch HNV nhiệm kỳ 2020-2025
Tặng hoa Ban chấp hành 2015-2020
Tài liệu của Đại hội: Cuốn Nhà văn hiện đại (1654 trang) Mỗi nhà văn được giới thiệu 1 trang
Trang giới thiệu BCT (trang 44-Nhà văn hiện đại)
Đoàn nhà văn miền Đông & Đồng bằng sông Cửu Long
BCT dự Đại hội X-Hội Nhà văn Việt Nam (23-25/11/2020)
Niềm vui dự đại hội là được gặp gỡ nhiều bạn bè trong cả nước. Từ trái sang: PGS-TS Phan Trọng Thưởng, nhà thơ Lê Quang Trang, nhà văn Trần Dũng, nhà thơ-TS Lê Thành Nghị…

GỬI TỚI ĐẠI HỘI NHÀ VĂN LẦN THỨ X (2020)

GỬI TỚI ĐẠI HỘI-HỘI NHÀ VĂN LẦN THỨ X (2020)

Bùi Công Thuấn

Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam nhiệm kỳ 2015-2020

            Bài viết chỉ là ghi nhận riêng của tác giả khi quan sát đời sống văn học Việt Nam (2015-2020) từ đó gửi vài ý kiến tới Đại hội Nhà văn lần thứ X (2020).

NHỮNG HỌAT ĐỘNG CỦA HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

Trong 5 năm qua, Hội Nhà văn Việt Nam đã có nhiều nỗ lực phát triển văn học Việt nam. Chẳng hạn, tại Hội nghị công tác văn học 2017, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã nêu 3 việc cấp bách là: Nâng cao chất lượng sáng tác, lý luận-phê bình và dịch thuật văn học; Bổ sung đội ngũ các nhà văn trẻ, tài năng và tâm huyết; củng cố tổ chức và hoạt động cơ quan các cấp, nhất là các cơ quan cấp 2 của Hội… Các nhà văn dự hội nghị đề xuất bổ sung thêm những vấn đề: Tiếp tục giới thiệu những tác phẩm văn học có tinh thần yêu nước, tiến bộ, nhân văn của các nhà văn miền Nam trước năm 1975; đổi mới phương thức xét giải thưởng văn học và kết nạp hội viên mới; quan tâm hơn nữa đến mảng văn học  thiếu nhi và các hoạt động bồi dưỡng sáng tác, công bố tác phẩm v.v…[1]

Trong những hoạt động cụ thể, phải kể đến việc quảng bá văn học Việt. Ngày thơ Việt Nam 2015 kết hợp ba hoạt động: Liên hoan Thơ châu Á – Thái Bình Dương với Hội nghị Quốc tế quảng bá Văn học Việt Nam. Các hoạt động được tổ chức tại nhiều địa bàn khác nhau thuộc Hà Nội, Quảng Ninh và Bắc Ninh. Liên hoan thơ quy tụ 151 đại biểu quốc tế đến từ 43 quốc gia và các vùng lãnh thổ, và nhiều nhà văn, nhà thơ, dịch giả tiêu biểu  khắp các vùng miền trên cả nước.

Từ ngày 28/9 đến ngày 2/10/2015 tại Pháp đã diễn ra chuỗi sự kiện liên quan tới giới thiệu, dịch thuật, phê bình và gặp gỡ nhà văn, dịch giả văn học Việt Nam ở các thành phố Paris, Bordeaux và Limoges. PGS-TS. Đoàn Cầm Thi, nhà nghiên cứu (Học viện Ngôn ngữ và Văn minh phương Đông -Inalco) của Pháp cho biết văn học Việt được dịch khá nhiều tại Pháp.

Trong năm 2016 diễn ra hai hội nghị đặc biệt: Hội nghị Lý luận phê bình lần thứ IV (24-27.6) tại Tam Đảo và Hội nghị đại biểu những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX (27-29.9) tại Hà Nội do Hội Nhà Văn tổ chức. Hai hội nghị này có ý nghĩa quan trọng về chính trị và văn học.

 Hội nghị Tam Đảo tập trung vào chủ đề “Văn học 30 năm đổi mới, hội nhập và phát triển 1986-2016”. Tổng kết hội nghị, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà Văn nói về những dự định đẩy mạnh quá trình kết tinh tác phẩm. Hội Nhà văn đặt hàng nhà Lý luận Phê bình viết về đề tài: Bản chất của đổi mới văn học là gì? Mối quan hệ của Cái Mới, Cái Hay, cái Truyền thống là gì?…Hội Nhà văn sẽ xin phép tổ chức một cuộc hòa hợp dân tộc.

 Hội nghị đại biểu những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IXcóhơn 100 đại biểu. Đó là những gương mặt văn chương có thành tích tốt, có số lượng sách đã xuất bản khá đồng đều (có người đã in 20 đầu sách);  Hội nghị đã tập hợp, bồi dưỡng, định hướng sáng tác cho những người viết trẻ trên khắp mọi miền tổ quốc…[2]

Đặc biệt là cuộc gặp mặt lần thứ nhất “Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc”. Tại buổi lễ bế mạc chiều ngày 24-10-2017 tại Khu Biệt thự Hồ Tây-Hà Nội, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cho rằng: Dù đã chủ động và làm được nhiều việc nhưng sau một thời gian dài Hội Nhà văn Việt Nam mới chính thức tổ chức cuộc gặp lần đầu. Còn một số tồn đọng của quá khứ chưa thể giải quyết hết được trong một thời gian ngắn, Hội Nhà văn Việt Nam tôn trọng suy nghĩ độc lập của các nhà văn và sẵn sàng chờ đợi. Hội đã, đang và sẽ làm tất cả những gì có thể để hội tụ các tài năng văn học trong mái ấm của tình đoàn kết dân tộc. Với tinh thần “đoàn kết để sáng tạo, sáng tạo trong đoàn kết”. Trong không khí cởi mở, thân tình các nhà văn đã đóng góp nhiều ý kiến có giá trị. Tinh thần chung là tạo ra sự hợp tác thông thoáng, hiệu quả để các nhà văn ở nước ngoài có điều kiện tốt nhất tiếp cận đời sống, đẩy mạnh sáng tác, công bố tác phẩm và tổ chức các sự kiện giao lưu với bạn đọc trong nước.[3] Nói cho đúng thì sự thành công của cuộc họp mặt chưa được như mong đợi của Ban tổ chức. Nhưng cuộc họp mặt để lại nhiều dư âm tốt và nhiều suy nghĩ cho những người có trách nhiệm lịch sử đối với văn học Việt.

TÌNH HÌNH VĂN HỌC

Nhìn từ góc độ Hội Nhà văn, tình hình văn học trong 5 năm qua vẫn phát triển mạnh mẽ trên tất cả các mặt hoạt động.

Tại Hội nghị công tác văn học 2018, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam báo cáo: năm 2018 văn học Việt Nam tiếp tục có những nét khởi sắc đáng mừng; đời sống văn học cởi mở, dân chủ hơn, có nhiều tác phẩm được công bố, trong đó tính dự báo của văn học có nhiều dấu hiệu đáng mừng. Các lĩnh vực: Văn xuôi, thơ, văn học dịch, lý luận-phê bình văn học… đều có bước phát triển rõ rệt; đặc biệt là chất lượng và số lượng của các sáng tác trẻ ở văn xuôi và sự “nở rộ” của trường ca trong lĩnh vực thơ. Thực tiễn sáng tác cho thấy sự gắn bó giữa nhà văn với đất nước, dân tộc, nhân dân được thể hiện rõ hơn, trách nhiệm hơn.

Nổi bật là các hoạt động đi thực tế sáng tác, tổ chúc nhiều trại sáng tác theo từng thể loại, mở nhiều cuộc hội thảo về lý luận-phê bình văn học và công tác công bố tác phẩm, quảng bá văn học được quan tâm hơn trước. Các Liên chi hội khu vực, vùng miền sau khi có quyết định thành lập của BCH Hội, đã nhanh chóng tổ chức đại hội, kiện toàn tổ chức và đi vào hoạt động bước đầu có nền nếp.[4]

Báo cáo tại Hội nghị công tác văn học năm 2019, nhà thơ Hữu Thỉnh cho biết: hoạt động sáng tác vẫn được đẩy mạnh, chỉ riêng NXB Hội Nhà văn đã xuất bản hơn 1650 tác phẩm bao gồm các thể loại. Chủ nghĩa yêu nước, Chủ nghĩa Nhân văn vẫn là chủ đề xuyên suốt trong các tác phẩm. Các cơ quan cấp 2 của Hội cũng có nhiều hoạt động sáng tạo, năng động và hiệu quả, như: Cuộc thi truyện ngắn của tạp chí Nhà văn và tác phẩm; cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ; Các hội thảo chuyên đề của Hội đồng lý luận, phê bình văn học v.v… Đặc biệt, Hội nghị quảng bá văn học Việt Nam lần thứ IV và Liên hoan thơ quốc tế lần thứ III được tổ chức trong dịp Ngày thơ Việt Nam lần thứ XVII đầu Xuân 2019-Nguyên tiêu Kỷ Hợi đã có tiếng vang lớn, được dư luận trong nước và bạn bè quốc tế đánh giá cao. [5] 

Năm 2019, nhiều cuộc gặp gỡ, tọa đàm, hội thảo cũng đã được tổ chức. Tọa đàm “Nhận diện văn học trẻ Thủ đô 10 năm gần đây” do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức; Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội tổ chức hội thảo “Định hướng sáng tác các tác phẩm văn học, nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới”. Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Hội thảo “Thơ và Văn xuôi đồng bằng sông Cửu Long 45 năm”,  Hội thảo thơ Thanh Tùng… Hội thơ Đường luật Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Thơ Đường luật đời Lý”. Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trung ương tổ chức hội thảo khoa học toàn quốc với chủ đề “Vai trò định hướng của phê bình trong hoạt động thực tiễn và sáng tạo văn học, nghệ thuật hiện nay“…

Nhận định chung về chất lượng sáng tác văn học, trong Hội thảo khoa học toàn quốc ngày 19-12-2018 ở Hà Nội do Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương tổ chức với chủ đề “Nhìn lại quá trình xã hội hóa các hoạt động văn học, nghệ thuật ở Việt Nam từ khi ban hành chủ trương đến nay”, nhà thơ Hữu Thỉnh phát biểu: “Xã hội hóa với văn nghệ sĩ là tài năng được thừa nhận, tác phẩm được thừa nhận, tạo được tiếng vang với công chúng và có sức sống lâu dài. Xã hội hóa làm ra cả nghìn CLB thơ, nhưng tôi đọc thì không có bài thơ nào hay, có sức sống lâu dài. Nxb Hội Nhà văn có 1125 đầu sách được phát hành trong 1 năm nhưng chất lượng thì như thế nào? Chúng ta có cả một vườn sản phẩm được gọi là văn hóa nhưng thực chất văn hóa được bao nhiêu? Tôi hoan nghênh xã hội hóa nhưng không thể vì vài đồng tiền mà quên đi giá trị tác phẩm. Tác phẩm phải đi vào lòng người, đấy mới là xã hội hóa cao nhất[6]

Phải chăng có sự mâu thuẫn trong chính sự đánh giá văn học? Có thể hiểu ý kiến của nhà thơ Hữu Thỉnh-Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam như thế này: Về mặt các hoạt động phong trào, Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội VHNT địa phương vẫn có những họat động sôi nổi và đã thu đạt được nhiều tác phẩm. Song Văn học Việt Nam trong 5 năm qua vẫn chưa có “tác phẩm đỉnh cao”, “tác phẩm kết tinh” được những giá trị lớn lao của dân tộc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống.

MỘT VÀI GHI NHẬN

            1. Năm 2015 tôi đi dự Đại hội đại biểu Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ IX tại Hà Nội. Trước đó, không khí ở các Đại hội cơ sở rất sôi nổi và căng thẳng. Có một “cuộc đấu tranh” quyết liệt với  những hội viên Hội Nhà văn Việt Nam tham gia vào Ban Vận động Văn đoàn Độc lập. Ngày 09. 07. 2015 khai mạc đại hội. 542 nhà văn đại biểu về dự đại hội. Việc tổ chức hết sức chặt chẽ. Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch HNV trình bày phương hướng, nhiệm vụ phát triển văn học 2015-2020, ông nhấn mạnh nhiệm vụ đẩy mạnh sáng tác, xây dựng Hội thành một tổ chức chính trị -xã hội-nghề nghiệp vững mạnh, đồng hành cùng dân tộc, vì lợi ích tối cao của dân tộc, đoàn kết thân ái, giàu nghĩa tình đồng nghiệp. Bồi dưỡng kết nạp tài năng trẻ, “tất cả vì hội viên, tất cả hướng tới hội viên”, tiếp tục mở rộng giao lưu hội nhập khu vực và quốc tế. Ông cũng trình bày những mục tiêu và các giải pháp cụ thể từ đó có những kiến nghị với Nhà nước, Chính phủ và Quốc Hội.

            Năm nay do đại dịch Covid, mọi hoạt động của Hội Nhà văn đều phải ngưng lại. Dù vậy, Đại hội Hội Nhà văn ở các khu vực cơ sở đều đã được tổ chức tốt đẹp. Đại hội cơ sở chủ yếu thông qua Dự thảo Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 2015-2020 và Phương hướng nhiệm vụ 2020-2025; thông qua Bản kiểm điểm của Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam và bầu đại biểu đi dự Đại hội Đại biểu HNV lần thứ X tại Hà Nội. Tất cả còn ở phía trước.

            Ban Chấp Hành Hội nhà văn Việt Nam quyết định tổ chức Đại hội Nhà văn lần thứ X vào ngày 23-25/11/2020 tại Khách sạn La Thành Hà Nội. Để bầu được một ban chấp hành mới đáp ứng yêu cầu của thời đại mới, về nhân sự quả thật không dễ chút nào. BCH nhiệm kỳ 2015-2015 chỉ có 6 người quả thực đã không quán xuyến được đời sống văn học Việt Nam trong năm năm qua.

            2. Giải thưởng Hội Nhà văn trong 5 năm qua:

            Cho đến nay, những tác phẩm đạt giải không gây được tiếng vang nào. Năm 2017 và 2018 “mất mùa” giải thưởng cả văn xuôi và thơ. Các tác phẩm đạt giải Lý luận phê bình hầu hết là đề tài cũ. Riêng cuốn Văn học Nga hiện đại-những vấn đề lý thuyết và lịch sử của Trần Thị Phương Phương có đem đến một chút khí sắc mới.

            Giải thưởng năm 2020 của Hội Nhà văn vừa mới công bố. Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ V (2016-2019) có 26 giải, trong đó nhiều tác phẩm chỉ làng nhàng. Những tác phẩm thực sự đem đến cái mới về tư tưởng và nghệ thuật cho tiểu thuyết Việt Nam hôm nay xem ra còn phải chờ. Tác phẩm đạt giải Nhất là một tiểu thuyết lịch sử. Tôi cho đó là một dạng “ăn mày quá khứ” mà không sáng tạo. Tại sao nhà văn không viết về lịch sử hôm nay, về hiện thực hôm nay? Bao nhiêu vấn đề lớn lao của dân tộc đang diễn ra sao không được nhà văn khám phá, sáng tạo? Tôi nghĩ những tác phẩm không đem đến cái mới cho văn học hôm nay thì không nên trao giải. Tại sao ở thời kỳ đổi mới (1986-1990) nhiều nhà văn đã viết được những tác phẩm làm thay đổi hẳn nền văn học dân tộc. Văn học Việt Nam từ chủ nghĩa hiện thực XHCN chuyển hẳn sang những kiểu tư duy nghệ thuật đương đại của thế giới. Vậy mà đã hơn 30 năm rồi tiểu thuyết hôm nay không có gì mới hơn?!

Giải thưởng “sáng tác về biên giới biển đảo” đợt 1 được trao cho các tác giả tại trụ sở Hội Nhà văn sáng 22/11/2020 gây một ngạc nhiên lớn về số lượng giải:

4 tác giả giải Nhất: Nhà thơ Trần Đăng Khoa với tác phẩm “Đảo Chìm Trường Sa”, nhà văn Nguyễn Bình Phương với tác phẩm “Mình và nó”, nhà thơ Thi Hoàng với tác phẩm “Ba phần từ nước mắt” và nhà thơ Trịnh Công Lộc với chùm thơ về biển .

10 tác giả giải Nhì ,

18 tác gỉa giải Ba

12 tác giải được giải thưởng tôn vinh,

            Điều ngạc nhiên là trong 4 giải Nhất có hai tác giả đang là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (2015-2020). Có thực các tác phẩm được trao giải có giá trị tư tưởng và nghệ thuật đáng được tôn vinh, hay đây chỉ là một sự chia chác giải như đã thành thông lệ trước đây?

Nếu coi giải thưởng của Hội Nhà văn là thước đo sức khỏe của một nền văn học thì trong 5 năm qua, Văn học Việt Nam vô cùng trầm lắng. Do đâu có tình trạng này? Ban chấp hành Hội Nhà văn đã đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh sáng tác, và các hội viên đã in rất nhiều tác phẩm song vẫn không có tác phẩm kết tinh? Hình như lớp nhà văn già đã cạn kiệt sức lực và vốn sống, còn lứa nhà văn trẻ thì mất phương hướng?

            3. Đâu là nguyên nhân?

Dòng văn học Cách mạng và kháng chiến được Hội Nhà văn và các Hội VHNT địa phương tích cực thúc đẩy sáng tác như kế hoạch đã đề ra. Các Hội VHNT địa phương và Hội Nhà văn liên tục mở các trại sáng tác, tổ chức các chuyến đi thực tế, Trung ương mở các hội thảo định hướng. Số lượng tác phẩm của dòng văn học này là rất lớn, song chưa có một tổng kết đánh giá nào về giá trị của các tác phẩm phong trào này. Có một thực tế là, sau khi trại sáng tác kết thúc, tất cả các tác phẩm của trại viết đều được xếp vào kho để làm vốn cho đời sau (ai cần thì đọc). Những nhà văn trưởng thành lên trong kháng chiến có vốn sống, có lý tưởng và có kinh nghiệm viết, song 45 năm qua vốn liếng và sức lực ấy đã được khai thác. Đến nay hầu hết đã già và rất ít người có thể sáng tác trong bối cảnh lịch sử xã hội ở thế kỷ XXI. Trong khi lớp nhà văn trẻ trưởng thành lên sau chiến tranh, họ sống trong xã hội kinh tế thị trường hội nhập toàn cầu hóa, họ không có ký ức gì về chiến tranh cách mạng, nên không thể có được tác phẩm kết tinh cả một giai đoạn lịch sử vĩ đại của dân tộc. Điều này đặt ra trách nhiệm rất lớn đối với Hội Nhà văn trong việc bồi dưỡng thế hệ nhà văn kế thừa.

            Dòng văn chương dân chủ và nhân văn cũng chững lại. Những đề tài “nóng” hầu như đã được khai thác hết ở giai đoạn 1986 – 2000. Tiểu thuyết Mối Chúa của Đãng Khấu (Tạ Duy Anh) Nxb HNV 2017 bị Cục xuất bản thu hồi vì lý do: “Nội dung cuốn sách phản ánh những vấn đề nổi cộm trong xã hội hiện nay. Qua đó, tác giả đã vạch trần những tiêu cực và bất công trong xã hội. Tuy nhiên, phần lớn các nhân vật trong tác phẩm từ thấp đến cao đều đen tối, vô vọng, đau đớn. Qua lời kể của các nhân vật, hiện lên những thế lực hắc ám, một xã hội hầu như được chỉ huy bởi những kẻ ngu dốt, tham lam, thủ đoạn. Toàn bộ hệ thống bộ máy chính quyền bộc lộ sự tàn nhẫn, vô đạo, đàn áp nông dân, giết hại lẫn nhau, giết người chống đối chỉ vì tiền. Một số chi tiết được viết với giọng điệu giễu nhại sâu cay, miêu tả tiêu cực có phần tô đậm và có tính khái quát khiến cho hiện thực trở nên đen tối, u ám (trang 38, 43, 74, 129, 140, 141, 158, 161, 173, 198, 251…). Các trang viết về chính quyền cưỡng chế nông dân trong việc thực hiện các dự án được miêu tả một cách cường điệu, coi đó như hai lực lượng thù địch, chính quyền đàn áp như một trận đánh được chuẩn bị kỹ lưỡng từ vũ khí đến lực lượng bí mật (trang 113, 115, 124, 167, 168, 207, 209, 220, 248…)[7]

Tiểu thuyết Kiến, Chuột và Ruồi của Nguyễn Quang Lập dù in ở Mỹ (2019) và được Phạm Ngọc Tiến tụng ca nhưng không gây được tiếng vang nào.

            Tôi nghĩ, viết về những “cái tiêu cực” hôm nay (Mối Chúa) hay về Cải cách ruộng đất (Kiến, Chuột và Ruồi), nhà văn không thể cạnh tranh được với báo chí, với truyền thông đa phương tiện. Thời xa vắng (Lê Lựu), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Thời của thánh thần (Hoàng Minh Tường)… đã xa rồi. Nếu nhà văn chỉ viết để phê phán hiện thực thì sẽ không có độc giả. Độc giả U50, U60 không biết gì về Cải cách ruộng đất. Độc giả trẻ hôm nay quan tâm đến những vấn đề khác mà họ có thể tìm thấy trong văn chương thị trường.

            Văn chương thị trường, sau vụ mùa nở rộ 2014. Đến nay, cũng trở lại im ắng. Chẳng hạn, năm 2019,công chúng đọc nhiều loại sách về  kỹ năng sống như: Thoát khỏi bẫy cảm xúc hay trò lửa đảo của tâm trí (Tác giả Thiện Từ); Kế hoạch Marketing trên một-trang-giấy (Tác giả Allan Dib); LeapĐột phá tư duy trong kinh doanh (Tác giả Howard Yu), Thuật nói chuyện hàng ngày (Tác giả Hoàng Xuân Việt) (40). Sách Văn học chỉ cóLàm bạn với bầu trời của Nguyễn Nhật Ánh và tản văn Hành lý hư vô của Nguyễn Ngọc Tư [8]. Gần đây Nguyễn Ngọc Tư mới in tiểu thuyết Biên sử nước với một bút pháp khá mới lạ, có thể là một đóng góp cho tiểu thuyết Việt Nam, song hình như cuốn này khó đọc đối với độc giả phổ thông.

            Viết tác phẩm văn chương thị trường không dễ.  Văn chương thị trường hướng về lứa độc giả trẻ, mà lứa tuổi này thay đổi thị hiếu liên tục. Tuổi 18- 20 có nhu cầu tâm lý của tuổi vào đời hăm hở. Chỉ vài năm sau, Tuổi 25-30 đã rời khỏi thế giới lãng mạn để bước vào đời quay quắt với việc kiếm sống. Sau giờ lao động, người trẻ cần giải trí. Trên các trang mạng xã hội tràn ngập các phim ảnh, các chương trình ca nhạc. Chỉ một chiếc smartphone cũng giúp họ thư giãn, chẳng mấy người còn đọc sách.

Cho nên không phải nhà văn nào cũng thành công khi hướng ngòi bút về thị trường. Cuối năm 2019,  nhà văn Khôi Vũ đăng status trên Facebook kêu gọi các nhà xuất bản “giải cứu” bản thảo của ông. Ngày 14/1/2020, trên FB, nhà văn Trần Nhã Thụy cho biết, lần đầu chi tiền túi in cuốn Ba tao bay ra ngoài cửa sổ và 9 truyện ngắn khác. ” Anh xin giấy phép in 500 cuốn, nhưng thực tế chỉ in 300 cuốn và tự mình đi bán.

 Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà văn, trong Hội nghị công tác văn học 2019 đã đặt vấn đề để: “Thị trường sách của chúng ta là nó có rào. Đây là một thực tế mà chúng ta cần phải suy nghĩ. Vì sao vậy? Đối với thị trường, tôi thấy là nhiều năm nay chúng ta đã đưa ra, đã thảo luận, nhưng mà thị trướng nó có quy luật của thị trường. Chúng ta phải theo thôi. Chúng ta không thương mại hóa, nhưng chúng ta cũng không thể coi nhẹ quy luật của thị trường là, cái nào hay, cái nào có tiếng thì người ta đọc”.

4. Nói văn học Việt Nam trong  5 năm qua trằm lắng cũng cần phải nói đến sự trầm lắng của lý luận phê bình. Các cây bút viết lý luận phê bình sôi nổi trước đây hầu như “lặn” mất tăm (?). Các diễn đàn cũng không có người quan tâm. Tất nhiên lác đác cũng có một vài bài viết khen tác phẩm này, tác giả kia “càng đọc càng hay[9], rất vô thưởng vô phạt. Nhiều cuốn sách lý luận phê bình viết về đề tài cũ. Các tác giả viết về những nhà văn nhà thơ đã được nói đến nhiều như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Bích Khê, Hàn Mạc Tử, Vũ Hoàng Chương, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Nguyên Hồng trước 1945; và các tác giả Tố Hữu, Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Phạm Tiền Duật, Lưu Quang Vũ… giai đoạn 1945-1975. (Xin đọc: Những sinh thể văn chương Việt-2018; Phê bình Ký hiệu học-2018; Giấu vàng trong gió thu-2019)…). Phải chăng các tác phẩm văn học trong 5 năm qua không có gì để Lý luận phê bình khám phá? Hay các nhà phê bình quen cách viết cũ, đề tài cũ, thi pháp cũ không thể đọc được các tác phẩm viết bằng bút pháp mới, thi pháp mới?

Đã có những cuốn sách lý luận phê bình rất đáng chú ý nhưng lại xuất hiện âm thầm. Đó là cuốn Phê bình văn học thế kỷ XX của Thụy Khuê (2018), dù rằng Thụy Khuê chỉ in lại những gì đã viết trước đó. Cuốn này có thể là một đóng góp rất giá trị về mặt lý luận phê bình trong nước, mặc dù Thụy Khuê cũng có những hạn chế nhất định trong việc thể hiện những quan điểm riêng. Bộ sách Lược khảo văn học của GS Nguyễn Văn Trung in ở Sài Gòn trước kia đã được tái bản (2019) cũng là một đóng góp rất có ích cho người viết lý luận phê bình. Có thể nói hai cuốn sách này là “sách gối đầu giường” cho người viết phê bình văn học trẻ.

Trong  5 năm qua, giới lý luận gần như đã “bão hòa” việc tiếp thu các lý thuyết văn học nước ngoài. Chẳng còn thấy sự háo hức nói về Hậu hiện đại, về Bakhtin, Giải Cấu trúc, về Phê bình Sinh thái về Lý thuyết Người đọc, Lý thuyết trò chơi…Và việc đề ra trách nhiệm tìm kiếm một nền lý luận phê bình văn học riêng của Việt Nam cũng dần dần rơi vào im lặng. Việt Nam chưa có nhà lý luận phê bình nào đề ra được những lý thuyết văn học mới. GS Trần Đình Sử trong buổi ra mắt cuốn sách “Trên đường biên của Lý luận văn học” chiều 23 tháng 1 năm 2015, do Khoa Viết văn báo chí, Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức đã nói: ”Nền lý luận mà chúng ta đang có cũ quá rồi! Quá date rồi! Chúng ta, trong đó có tôi đã sai lầm, đã ấu trĩ, đã ngộ nhận nhiều rồi..”[10]

THỬ ĐỀ XUẤT MỘT VÀI VẤN ĐỀ

  1. Hội Nhà văn Việt Nam cần bổ sung đội ngũ nhà văn trẻ. Số lượng nhà văn trẻ ở

các Hội VHNT địa phương và ở Hội Nhà văn là rất khiêm tốn trong khi những nhà văn từ kháng chiến bước ra trẻ nhất cũng đã U70. Nếu Hội Nhà văn không trẻ hóa đội ngũ thì tình trạng đứt gãy thế hệ các nhà văn là không tránh khỏi.

Thời đại mới sẽ sản sinh ra một thế hệ mới. Thế hệ ấy bằng tài năng của mình sẽ thực hiện sứ mệnh thời đại theo cách của mình. Văn chương cũng vậy. Bây giờ là thế kỷ XXI, thời đại của thế hệ 4.0 với những vấn đề của toàn cầu hóa. Những vấn đề của hôm nay không chỉ thu gọn trong một trận đánh (kiểu chống càn trong Hòn Đất), một thôn làng (kiều dân làng Xô Man trong Rừng Xà Nu), hay một cá nhân (như cô Hiền trong Một người Hà Nội). Hiện tượng những năm gần đây nhiều nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử chỉ là một dạng khác của “ăn mày quá khứ”. Độc giả hôm nay muốn biết quá khứ, họ sẽ đọc sách lịch sử, chẳng hạn Đại Việt sử ký toàn thư. Những tiểu thuyết lịch sử hư cấu không thể thuyết phục người đọc bằng sách lịch sử, bởi đa số tiều thuyết lịch sử là bịa đặt, và không ít sự bịa đặt đã bị phản đối (chẳng hạn cuốn Chim ưng và chàng đan sọt của Bùi Việt Sỹ). Nhà văn hôm nay né tránh hiện thực, viết tiểu thuyết lịch sử là mượn chuyện xưa để nói về hiện thực hôm nay. Tại sao nhà văn không viết về lịch sử hôm nay?

Lịch sử đương đại – dòng chảy đời sống hôm nay có bao nhiêu vấn đề lớn nhưng không một tác phẩm văn học nào “kết tinh“ được. Bởi thế hệ nhà văn kháng chiến không thể viết mà thế hệ nhà văn trẻ lại không được chuẩn bị và tạo điều kiện để viết, thành ra, văn chương rơi vào sự im lặng, một sự im lặng rất đáng lo ngại Những tác phẩm văn chương phong trào, viết theo những chủ đề cho trước, viết theo những “công thức” an toàn thì không thể chạm tới những vấn đề lớn lao của dân tộc đang diễn ra. Chỉ những nhà văn của “hôm nay” mới có thể viết về thời sự lịch sử của thế hệ mình. Chuẩn bị cho đội ngũ nhà văn trẻ này là trách nhiệm của Hội Nhà văn.

Nhìn vào danh sách 54 tân hội viên Hội Nhà văn Việt Nam 2020 tôi không thấy một khuôn mặt nào có cốt cách văn chương sánh ngang với các nhà văn hiện nay như Nguyễn Bình Phương, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp, Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều, Trần Quang Quý, Lê Thành Nghị, Ly Hoàng Ly, Văn Cầm Hải…Hình như đội ngũ mới kết nạp này mới chỉ đáp ứng văn chương phong trào.

2.Hội Nhà văn cần viết một bộ lich sử văn học. Hòa bình, thống nhất đất nước đã 45 năm. Song chưa hề có một bộ Lịch sử văn học nào về văn học 1975-2020. Vì thế không thể định vị văn học 1975-2020 đang ở đâu trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc. Nếu Hội Nhà văn không có điều kiện thực hiện công trình này thì nên đặt hàng Viện Văn học hoặc các trường đại học để viết. Đời sống văn học không thể không có lịch sử. Giai đoạn 1930-1945, chỉ 15 năm đã là một giai đoạn phát triển rực rỡ của văn học Việt. Giai đoạn  1975-1975, dù chiến tranh hết sức ác liệt, nhưng nền văn học 1945-1975 “xứng đáng đứng vào đội ngũ tiên phong những nề văn học chống đế quốc trên thế giới”. Vậy nền văn học 1975-2020 là nền văn học thế nào? Những điều được dạy trong nhà trường phổ thông về giai đoạn văn học này là hết sức sơ sài (xin xem SGK Ngữ Văn 12). Vì thế, thật dễ hiểu tại sao người trẻ hôm nay không yêu văn chương Việt. Học sinh 12 vẫn học Rừng xà nu, Những đứa con trong gia đình, Chiếc thuyền ngoài xa…những tác phẩm viết ở giai đọan trước, người trẻ không biết gì về văn học hiện nay. Trách nhiệm này trước hết thuộc về Hội Nhà văn

3.Đẩy mạnh sáng tác thế nào? Trong 5 năm qua, có nhiều tác phẩm ghi được dấu ấn trong lòng độc giả. Có thể kể đến cuốn Kể xong rồi đi của Nguyễn Bình phương (2017), Con chim Joong bay từ A tới Z của Đỗ Tiến Thụy (2017), tập truyện ngắn Đường đến cây cô đơn của Bích Ngân (2019), tiểu thuyết Từ Dụ Thái Hậu của Trần Thùy Mai (2019), Làm bạn với bầu trời của Nguyễn Nhật Ánh và tản văn Hành lý hư vô của Nguyễn Ngọc Tư (2019)…

            Những cuốn sách trên không nằm trong tác phẩm đoạt giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn, cũng không là kết qủa từ các trại sáng tác do các hội VHNT tổ chức. Điều này có ý nghĩa gì?

Có lẽ Hội Nhà văn cần thay đổi cách chọn tác phẩm để trao giải và thay đổi cách tổ chức các trại sáng tác. Bao giờ các tác phẩm đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn là tác phẩm gây được ấn tượng với bạn đọc và là kết tinh của các trại sáng tác, lúc ấy mới có cơ may thúc đầy sự sáng tạo. Nếu các trại sáng tác chỉ thu được những tác phẩm làng nhàng rồi cất vào kho, thì đó là sự lãng phí rất lớn. Các giải thưởng không gây được dấu ấn trong công chúng độc gỉa thì giải thưởng đó bị nghi ngờ là có thể hiểu. Người ta nghi ngờ có sự “chạy” giải thưởng, nghi ngờ có sự “chia chác” giải thưởng. Những ý kiến như thế nghe rất rõ ở các đại hội cơ sở.

Tôi đề nghị, những tác phẩm vào chung khảo các cuộc thi, các cuộc trao giải hàng năm, cần đưa ra công luận trước khi chọn trao giải. Ban Chấp hành Hội có thêm một kênh thông tin về tác phẩm thì sự chọn lựa sẽ tốt hơn, minh bạch hơn, công chúng nhìn rõ năng lực thẩm định tác phẩm của Ban Giám khảo hơn. Điều này chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm.

Cần nâng tầm học thuật của các tác phẩm đạt giải lên thay vì chỉ chú trọng đến nội dung  “phản ánh” hiện thực của tác phẩm. Cần thay đổi cách chọn trao giải thay vì chỉ chú ý đến tính dân chủ và tính phong trào. Chỉ trao giải cho tác phẩm nào thực sự đem đến cái mới về tư tưởng và nghệ thuật cho văn chương đương đại. Có vậy, khi nhìn vào giải thưởng, người ta mới thấy được tiến trình văn học Việt Nam phát triển như thế nào. Bởi vì chính những tác phẩm ấy mới làm phát triển văn học.

4. Ngày 9/3/2019, lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam thành lập Ban chỉ đạo kiện toàn, củng cố, nâng cao chất lượng toàn diện báo Văn nghệ. “Mục tiêu là Trí tuệ, Đẳng cấp và Sang trọng. Nguyên tắc chung là đổi mới tờ báo dựa trên cơ sở giữ vững và phát huy những thế mạnh đã có; chỉ cải tiến, đổi mới những trang-mục không phù hợp hoặc chất lượng còn thấp; lấy lý luận-phê bình làm khâu đột phá; tăng cường thông tin về đời sống văn học và những vấn đề nổ cộm của đời sống văn học; mở rộng trao đổi, tranh luận… trên mặt báo”… Nhưng từ đó đến nay tôi chưa nhận thấy sự đổi mới nào rõ rệt. Vẫn là những nét vẽ minh họa “ngày xưa” ấy, cách trình bày ấy, cách chọn bài ấy, màu giấy cũ ấy. Và không phải không có những điều tiếng về tờ báo trong việc đăng bài. Hình như có sự dàn đều, chia đất cho các địa phương, và cũng có những gửi gắm thân quen để được đăng bài (?)

Tôi nghĩ, Tờ báo Văn Nghệ phải là tiếng nói tiêu biểu cho nhà văn trong cả nước, phải phản ánh được các xu thế mới, các tìm tòi sáng tạo mới và là nơi tin tưởng, tự hào của nhà văn. Ở mỗi hội VHNT địa phương đều đã có một tờ tạp chí. Các tác giả đều có thể đăng bài trong tạp chí địa phương mình. Tờ Văn Nghệ của Hội Nhà văn chỉ đăng những bài tinh tuyển, những bài thực sự có giá trị, thực sự đem đến cái mới cho văn chương. Không nên đăng cho có đủ mặt địa phương, đăng dàn đều, kiểu làm văn chương phong trào. Tờ Văn nghệ lâu nay “mất giá” là vì nặng tính chất “phong trào” như thế. Tờ Văn Nghệ nên đề ra một tiêu chí chọn bài, đăng bài, công khai cho mọi hội viên, tránh để điều tiếng về việc chọn bài đăng bài như một kiểu “ban ơn” cho nhà văn.

Tôi mong có một sự thay đổi thực sự từ nội dung đến hình thức của tờ Văn Nghệ trong nhiệm kỳ tới của BCH Hội Nhà Văn.

XIN GỬI TỚI ĐẠI HỘI

            Lời gửi gắm tới Đại hội Đại biểu Hội Nhà văn lần thứ X (2020) là, bằng tài năng, tâm huyết và trí tuệ của mình, các nhà văn cần thoát khỏi tình trạng “êm ả” (trì trệ) của nhiều năm qua và “kết tinh” được những tác phẩm xứng tầm với thời đại của mình.

Tháng 10/ 2020

Bổ sung 20/11/2020


[1] http://vanvn.net/thoi-su-van-hoc-nghe-thuat/hoi-nghi-cong-tac-van-hoc-nam-2017/1325

[2] http://vanvn.net/thoi-su-van-hoc-nghe-thuat/tong-ket-hoi-nghi-dai-bieu-nhung-nguoi-viet-van-tre-toan-quoc-lan-thu-ix-/698]

[3] Mai Nam Thắng-http://vanvn.net/thoi-su-van-hoc-nghe-thuat/be-mac-cuoc-gap-mat-lan-thu-nhat-%E2%80%9Cnha-van-voi-su-menh-dai-doan-ket-dan-toc%E2%80%9D-/1252

[4]  http://baovannghe.com.vn/hoi-nghi-cong-tac-van-hoc-nam-2018-18591.html

[5] http://vanvn.net/tin-tuc/hoi-nghi-tong-ket-cong-tac-van-hoc-nam-2019/2565

[6]http://vanvn.net/thoi-su-van-hoc-nghe-thuat/hoi-thao-khoa-hoc-toan-quoc-%E2%80%9Cnhin-lai-qua-trinh-xa-hoi-hoa-cac-hoat-dong-vhnt-o-viet-nam-tu-khi-ban-hanh-chu-truong-den-nay%E2%80%9D/2051

[7] https://tuoitre.vn/dinh-chi-phat-hanh-tieu-thuyet-moi-chua-cua-ta-duy-anh-20170921124459155.htm

[8] https://www.nxbtre.com.vn/diem-tin/nxb-tre-12-tua-bo-sach-an-tuong-cua-nam-2019-33851.html

[9] http://vanvn.net/tu-doi-vao-van/%E2%80%9Cchim-en-bay%E2%80%9D-cang-doc-cang-hay/22805

[10] http://trannhuong.com/tin-tuc-19005/giao-su-tran-dinh-su-da-len-duongchang-moi.vhtm

LỄ TRAO GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2020

Sáng thứ Hai 16/11/2020, Lễ trao giải VHNT Đất Mới năm 2020 được tổ chức tại Hội trường Tòa Giám mục Xuân Lộc. Có sự hiện diện của Đức cha Giuse Đinh Đức Đạo- Giám mục giáo phận Xuân Lộc, Đc Gioan GM Phụ tá, Đức cha cố Đaminh Nguyễn Chu Trinh, người khởi xướng giải từ 2011. Ngoài ra còn có Lm Trưởng Ban Văn hóa các giáo phận Quy Nhơn, Long Xuyên và đông đảo quý thầy Đại Chủng sinh, quý dì, các tác giả đoạt giải từ Sài Gòn, Hà Nội, Lạng Sơn, Lào Cai, Kontum. Đak Nông, Nha Trang, Bùi Chu, Phát Diệm, Nam Định, Ninh Bình, Quãng Nam, Buôn ma thuột, Tiền Giang, Cần Thơ…Ngoài phần trao giải còn có phần phụ diễn văn nghệ đặc sắc, trình bày các tác phẩm đoạt giải. Ban tổ chức cũng tặng các vị khác mời và các tác giả 2 ấn phẩm: Đất Mới nở hoa (Tuyển tập 10 năm) và Đóa hồng thứ 40 (tuyển tập 2020). Sau phần trao giải là thánh lễ tạ ơn và liên hoan gặp gỡ giữa các đấng chủ chăn và cộng đoàn.

GIẢI VHNT ĐẤT MỚI 2020

MỘT VÀI HÌNH ẢNH

Hội trường TGM Xuân Lộc
Toàn cảnh
Một góc sân khấu
Giải Thơ
Giải truyện ngắn
Giải truyện dài
Giải Kịch bản văn học
Giải ca khúc
Giải ảnh đẹp Công giáo
Khán giả (đoàn Quy Nhơn)
Tác giả đoạt giải
Tiết mục ca khúc Ave Maria đoạt giải nhất, trình bày Acapella (Tác giả và các bạn Nhạc viện TpHCM)
Đạo Diễn Xuân Thành
Nhà văn Khánh Liên (Bìa trái)
Triển lãm ảnh đẹp (một góc)
Triển lãm ảnh đẹp (Một góc)
Lm Dom Ngô Công Sứ Trưởng Ban Truyền thông đang tổ chức việc trao giải
Giao lưu Quy nhơn -Xuân Lộc tối 15/11/20
Nhà văn Khánh liên và các tác giả trẻ đoạt giải
Lm Võ Tá Khánh (nhà thơ Trăng Thập Tự) chia sẻ
Nhóm ảnh Xuân Lộc (các tác giả là Nghệ sĩ nhiếp ảnh đoạt nhiều giải quốc gia). Người đang nói là Nghệ sĩ nhiếp ảnh Bùi Viết Đồng
Tác giả đoạt giải nhất Ảnh đẹp Đất Mới 2020 là người tôn giáo bạn ở KonTum. Bên cạnh là Nhiếp ảnh gia Hoàng Long (ông từng là trưởng phòng văn hóa, rồi Trưởng Ban Tuyên giáo Tp Long Khánh. Hiện là TB Dân vận Tp LK)
Đoàn các nhà thơ, nhà văn Quy Nhơn năm trước (năm nay cũng hiện diện trong Lễ trao giải VHNT Đất Mới 2020 nhân kỷ niệm 10 năm)
Một nụ cười rất tươi của Lm Võ Tá Khánh (nhà thơ Trăng Thập Tự) nguyên là Trưởng Ban Văn Hóa Gp Quy Nhơn

BIÊN SỬ NƯỚC-NGUYỄN NGỌC TƯ QUEN MÀ LẠ

(Đọc Biên sử nước, tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư-Nxb Phụ nữ Việt Nam 2020)

Bùi Công Thuấn

            Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn tôi quý mến ngay từ ngày đầu chị xuất hiện. Đọc Biên Sử Nước, tôi vẫn gặp một khuôn mặt văn chương đậm nét Nam bộ nhưng lại rất mới lạ. Nguyễn Ngọc Tư tạo ra một thế giới nghệ thuật đầy ẩn dụ cùng với nhiều phá cách trong kiến tạo tiểu thuyết hư cấu (Fiction) hướng đến kiểu tác phẩm tư tưởng khiến Biên sử nước không dễ đọc. Ở góc nhìn này, Nguyễn Ngọc Tư có những đóng góp giá trị cho nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam đương đại.

MỘT THẾ GIỚI CỦA NHỮNG ẨN DỤ

            Có thể nói toàn bộ hệ thống hình tượng, kể cả những chi tiết miêu tả rất thực trong Biên Sử nước đều có thể đọc như những ẩn dụ.

            Chương đầu và chương cuối vỏn vẹn chỉ có mấy dòng:

            Chương 1: đã tới bên sông

            “Ngày hai ngàn không trăm bốn mươi sáu, Đức Ngài chỉ còn mỗi trái tim. Người đàn bà sẽ lấy nó đã tới bên kia sông, tay bồng đứa nhỏ”.

            Chương 11: rời

            “Ngày hai ngàn không trăm bốn mươi sáu, kẻ tự xưng là Đức Ngài chỉ còn mỗi trái tim. Người đàn bà sẽ lấy nó đang qua sông, tay bồng đứa nhỏ

            Toàn bộ 11 chương tiểu thuyết viết về người đàn bà tay bồng đứa nhỏ đi lấy trái tim của Đức Ngài.

            Người đọc không thể biết ngày 2046 là ngày tháng năm nào, người đàn bà bồng đứa nhỏ là ai, con sông được nói đến là con sông ở vùng nào, cả nhân vật Đức Ngài cũng không có bất cứ chi tiết nhân thân xã hội. Mở đầu, người đàn bà đã tới bên kia sông. Kết thúc tác phẩm, người đàn bà đang qua sông, nghĩa là hành trình đi lấy trái tim của Đức Ngài chưa xảy ra. Câu chuyện còn bỏ ngỏ.

            Trong tiểu thuyết có nhiều địa danh, nghe rất quen thuộc, nhưng nếu bạn đọc tra bản đồ địa lý thì không hề có. Đó là cù lao Lẻ, xóm Lầy, Đất Giồng, đồi Tro, bến Gò, Vạn Thủy, thị trấn Xép, Yên Xuyên, Hà Đô, đồn binh núi Biên. Nhân vật Tôi kể:Anh Hai mất tích ở biên giới Trung-Mông (tr.18). Hai địa danh Yên Xuyên, Hà Đô, nghe như tên một nơi nào đó ở Trung Quốc (Trung Quốc có: Ngô Xuyên, Đồng Xuyên, Hán Xuyên, Lợi Xuyên, Nghi Đô, Thành Đô…). Tôi chưa rõ dụng ý của tác giả, nhưng nghĩ rằng, vì là địa danh hư cấu nên bạn đọc không cần phải xem nhà văn viết về vùng đất nào. Cũng có thể là một trò chơi chữ. Bởi nếu người đọc lần theo các địa danh thì sẽ phát hiện ra gốc của địa danh trong truyện là gốc miền tây: Yên Xuyên (miền tây có Long Xuyên), Hà Đô (miền tây có Hà TiênTây Đô tức là Cần Thơ), núi Biên (có Tịnh Biên, một huyện miền núi An Giang giáp Cambodia); Đất Giồng (miền tây có Giồng Trôm – một huyện của tỉnh Bến Tre; Giồng Riềng – một huyện của tỉnh Kiên Giang)…

            Đứa nhỏ trên tay người đàn bà là con của Phú, nó không biết cười (chương 3), con chị Tùy là đứa nhỏ rịn nước (chương 5), con chị Khùng chỉ khóc, khóc không ngừng nghỉ (chương 7), con của Cẩm bị ghẻ (chương 9). Trẻ con vốn hồn nhiên hay cười nhưng những đứa trẻ trong Biên sử nước phải chăng là ẩn dụ cho trẻ con hôm nay. Chúng đã bị tước đọat mất sự hồn nhiên. Hình hài và nhân tính trở nên méo mó. Và đó là nguyên nhân người mẹ phải đi tìm trái tim người để chữa bịnh cho con.

            Tại sao chỉ có trái tim người mới chữa được bịnh cho những đứa trẻ ? Nói cách khác chỉ có trái tim người mới giúp những đứa trẻ trở lại làm người?  Trái tim là biểu tượng của sự sống, tình yêu thương. Thông điệp của nhà văn là chỉ có tình yêu thương đối với trẻ mới đem lại cho trẻ sự hồn nhiên (nhân tính). Trong Biên sử nước, tất cả mọi người mẹ đều đến cù lao Lẻ để lấy trái tim Đức Ngài, nhưng họ mới chỉ “đang sang sông”, chưa lấy được trái tim ấy, nghĩa là những đứa trẻ vẫn đang trong trạng thái mất nhân tính (nụ cười là biểu hiện đẹp đẽ của nhân tính, tiếng khóc là nối thống khổ không thể kìm nén). Nhưng nếu giả như họ lấy được trái tim ấy thì thế nào? Đức Ngài trong Biên sử nước chỉ là một “màn lừa đảo kinh thiên động địa”(chương 4-tr. 43), tái tim của Đức Ngài cũng chỉ là Trái Tim Lừa Đảo. Sự mất nhân tính của thế giới này không có phương thuốc nào chữa được! Đó là một thông điệp bi thiết.

            Chương 9 miêu tả nhân vật tôi sống trong một Thế giới chỉ ruồi và cứt ruồi, nhân vật Tôi và Cẩm chỉ ăn chữ. “Có lần cổ (Cẩm) lấy một cuốn sách, bảo mình cứ chọn ăn những chữ thừa không quan trọng thử coi. Nghĩa là nếu chúng mất đi, cũng chẳng ảnh hưởng gì tới câu chuyện. Rốt cuộc cuốn sách chỉ còn lại không tới 100 chữ. Cẩm nói mình đã bỏ bụng một đống chữ chẳng bổ béo gì” (tr.112). “Thế giới ruồi” và “người ăn chữ” là ẩn dụ hàm chứa thông điệp gì? Chúng ta hiểu rằng trong thế giới hiện thực, ruồi xuất hiện nhiều ở bãi rác. “Thế giới ruồi” là thế giới của rác, của những cái dơ bẩn. Con chữ trên trang giấy là những ký hiệu mang thông tin. “Ăn chữ” chứ không phải là ăn giấy, ăn mực. “Ăn chữ” là ăn thông tin. Phải chăng đó là thông điệp nhà văn nói về thảm cảnh con người trong thế giới thông tin rác, thế giới của sự dơ bẩn tràn ngập? (Việc giải mã ẩn dụ này có thể không đúng với chủ ý của nhà văn, nhưng trong cách đọc hiện đại, ý nghĩa của tác phẩm là những gì người đọc lấp đầy văn bản).

            Chương 5 (nước lên) kể lại việc chị Tùy mở vòi nước giặt đồ rồi quên khóa, chị vội chạy theo trai, khiến cho nước chảy ngập lụt. Cả thành phố căng ra chạy lụt. Mọi nỗ lực khóa vòi nước lại đều thất bại. Tỉnh phải bó tay. Bao sớm chiều người ta chỉ còn biết đứng thở dài nhìn vùng nước nở rộng…Trong thực tế, một vòi nước giặt quần áo không thể làm ngập lụt thành phố được. Hình ảnh ấy là một ẩn dụ. Và ẩn dụ ấy có ý nghĩa gì? Chị Tùy chạy theo trai là chạy theo tình yêu. Chính tình yêu làm ngập lụt đời sống. Nhưng đến chương 8 (cưới bóng), chị Tùy lại bị người yêu là Viễn bỏ rơi (tr. 97) vì thế trận ngập lụt ấy mới gây họa cho mọi người. Phải chăng tình yêu cũng gây họa. Nếu vậy thì bi kịch này của nhân loại đến bao giờ mới thoát ra được!

            Biên sử nước là thế giới ẩn dụ chứa đựng nhiều thông điệp tư tưởng của Nguyễn Ngọc Tư. Điều này làm cho tác phẩm dù rất mỏng (125 trang in) vụt lớn lên vượt trội so với tiểu thuyết Việt Nam đương đại.

NHÂN VẬT TÔI VÀ SỰ PHÁ CÁCH  TRẦN THUẬT

            Trong suốt tác phẩm, nhân vật Tôi là người kể chuyện người đàn bà tay bồng con đi tìm trái tim người. Trong tiểu thuyết truyền thống, nhân vật Tôi chỉ là một người. Tôi hoặc là tác giả, hoặc là một nhân vật trong truyện mà tác giả nhập thân vào. Trong Biên sử nước, nhân vật Tôi ở mỗi chương là một nhân vật khác với Tôi ở chương trước. Trong cách kiến tạo tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, nhân thân của Tôi được giữ rất bí mật. Tôi chỉ được nhận biết khi truyện kể về gần cuối chương. Chương 9 và chương 10, người đọc không thể nhận ra Tôi là ai. Điều này tạo thêm một nguồn hấp dẫn.

            Chương 2, nhân vật Ta là Đức Ngài ngồi trên ngai nhìn nhân gian quỳ lạy ở dưới.

            Chương 3, Tôi là Phúc Dương, người trùng tên với rất nhiều tên Phúc, có lẽ là một nhà báo đi tìm hiểu và viết phóng sự về cô gái tên Phúc mắt bò, bạn học cũ.

            Chương 4, Tôi là “sư mẫu”, ngoài 80 tuổi, là nhân chứng duy nhất vạch trần “màn lừa đảo kinh thiên động địa”của thằng Báo trong việc dựng thằng Phủ lên thành Đức Ngài để lừa thiên hạ.

            Chương 5, Tôi là thằng nhỏ mồ côi đi theo ông Từ. Tôi đi tìm chị Tùy, người đã mở vòi nước rồi quên, làm ngập lụt thành phố. 

            Chương 6: Tôi là em chị Thu. Nghe tin báo chị Thu (Trà Thị Thu) tới miệt Vạn Thủy lấy trái tim của người cầm đầu một tà giáo nào ở đó, Tôi đi tìm chị Thu.

            Chương 7: Tôi (thằng tù số 280) kể chuyện Bốn thằng tù với một chị đàn bà đã loạn trí còn phải mang đứa nhỏ trên tay”. Mãi sau này khi nghe tin người đàn bà ẵm con đi tìm tim Đức Ngài, tôi nghĩ đó là chị Khùng.

            Chương 8. Chị Tùy (nhân vật ở chương 5) kể chuyện mình bị Viễn bỏ rơi và chuyện hạnh phúc của vợ chồng anh Xây.

Chương 9, Tôi là người ăn chữ, có vợ và chia tay vì chị vợ không chịu nổi việc Tôi ăn chữ. Có lẽ Tôi là thợ sửa ống nước. Tôi là người kể chuyện Cẩm.

            Chương 10, Tôi kể truyện Mi một cô gái quậy phá trong cơn mộng du. Tôi có 2 đời chồng, chồng trước gốc Nhật, chồng sau hay hút thuốc. Nhưng Tôi lại là một người đàn bà bị tai nạn xe hơi, chưa tỉnh.

            Sự phong phú kiểu nhân vật Tôi (người kể chuyện) trong Biên sử nước có ý nghĩa gì? Nguyễn Ngọc Tư đã phá cách hẳn cách kể chuyện quen thuộc của tiểu thuyết. Sự khác biệt nhân vật người chuyện ở mỗi chương làm phân rã cốt truyện tiểu thuyết khiến cho mỗi chương trở thành một truyện ngắn riêng biệt. Điều đáng chú ý người kể chuyện là người đi tìm kiếm người đàn bà bồng con, là nhân chứng cho mọi sự kiện. Họ rất khác nhau về nhân thân xã hội. Đó là một nhà báo, một đứa nhỏ mồ côi, một thằng tù trốn trại, một người ăn chữ có lẽ là thợ sửa ống nước, một người bị tai nạn xe hôn mê chưa tỉnh (vậy mà vẫn kể chuyện được. Có lẽ Tôi hôn mê phần ý thức, còn phần tiềm thức vẫn hoạt động, nhà văn miêu tả dòng chảy ý nghĩ miên man trong tiềm thức của nhân vật này); một bà già ngoài 80 tuổi được gọi là “sư mẫu”,là nhân chứng, và đặc biệt là chị Tùy, một người đàn bà mất tích ở chương 5 lại trở thành người kể chuyện ở chương 8.

Tất cả các nhân vật Tôi đều có câu chuyện riêng góp vào làm đầy thêm câu chuyện về người đàn bà bồng con đi lấy trái tim Đức Ngài. Những câu chuyện của Tôi mở rộng biên độ không gian, thời gian của tiểu thuyết. Truyện không chỉ ở xóm Lầy, cù lao Lẻ, Vạn Thủy mà ở Núi Biên cách nhà Tôi non ngàn cây số (tr.71), hoặc biên giới Trung-Mông (tr.18), Tôi sống trong cái thư viện bị ruồng bỏ, cách với ngoài kia loạn lạc phải tới một ngàn năm ánh sáng.(tr.104)

Quan sát nhân vật Tôi, người đọc phát hiện ra tác giả giao cho nhân vật một sứ mệnh chuyển tải thông điệp. Nhân vật Tôi (sư mẫu) là người vạch trần trái tim Đức Ngài có thể chữa bách bịnh chỉ là một trò lừa bịp: Tôi là nhân chứng. Nhân vật Tôi (Phúc Dương) là một phóng viên, người gỡ rối ai là Phúc mắt bò trong 117 người tên Phúc. Nhân vật Tôi (đứa nhỏ mồ côi, em chị Thu và người tù số 280) chỉ chạm tới bóng dáng người đàn bà bồng con đi tìm trái tim người). Sau cùng là Tôi, người mất trí trong một tai nạn xe hơi, kể chuyện Mi quậy phá trong cơn mộng du. Vậy tiến trình từ Tôi (sư mẫu) đến Tôi (người mất trí) có ý nghĩa gì? Cái chân lý tưởng đã nắm được với nhân chứng rành rành ấy (sư mẫu) trở thành một điều không có thật và không có cơ sở để tin (người mất trí kể chuyện), nói cách khác, những gì tưởng là chân lý thì chẳng là gì cả. (Và nếu có thì nó nằm trong ký ức của người mất trí). Thông điệp này đẩy đến tận cùng sự hoài nghi về thực tại hôm nay. Thực tại này chỉ có sự lừa gạt, dối trá, tin đồn, chỉ có sự méo mó, tha hóa (người ăn chữ, người nhai tóc, trẻ không biết cười, một thế giới ruồi, gián và tai họa (những giấc mơ mọc cánh của Tôi-chương 5)

Nhân vật Tôi-người kể chuyện làm cho tiểu thuyết Biên sử nước trở nên khó đọc, Cần phải nhìn ra sự phát triển của nhân vật tôi từ đầu tới cuối tác phẩm mới thấy được những thông điệp ẩn dấu mà nhân vật chuyển tải. Nhân vật Tôi cũng tạo ra sự cuốn hút của việc truy tìm. Tôi cũng kể rất nhiều chuyện đời thường làm cho những ẩn dụ trở nên tư nhiên như thể đó là hiện thực.

Và dù Tôi làm phân rã cấu trúc Biên sử nước thì Biên sử nước vẫn là một tiểu thuyết chặt chẽ về cấu trúc (do sự phát triển vai trò của vật Tôi), thống nhất chủ đề tư tưởng và tư tưởng. Đó là tài năng kiến tạo tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư.

NGƯỜI ĐÀN BÀ BỒNG CON

Người đàn bà bồng con đi tìm trái tim Đức Ngài (tim người) làm thuốc chữa bịnh cho con là một hình tượng kết nối các chương, thể hiện thống nhất chủ đề tư tưởng của tác phẩm để tạo nên tiểu thuyết Biên sử nước.

Sự mới mẻ ở hình tượng này là, không chỉ có một nhân vật người đàn bà bồng con mà có nhiều người đàn bà khác nhau. Họ trở thành đối tượng của sự truy tìm nhưng không gặp.

 Chương 3, Phúc Dương truy tìm người đàn bà bồng con đi lấy trái tim Đức Ngài. Nhưng có đến hàng trăm người tên Phúc. Sau khi thu thập thông tin, cô nghĩ là Phúc Mắt bò, một bạn học cũ. Nhưng Phúc Dương mới chỉ tìm thấy một tấm hình có Phúc mắt bò mà chưa gặp lại được người bạn này. Chương 5: thằng nhỏ mồ côi đi theo ông Từ là người được cử đi tìm chị Tùy, người đã mở vòi nước rồi quên, làm ngập lụt thành phố. Nhưng cũng chưa tìm được. Chương 6: (Tôi) em chị Thu nghe tin báo chị Thu (Trà Thị Thu) tới miệt Vạn Thủy lấy trái tim của người cầm đầu một tà giáo nào ở đó, Tôi đến nhà chị Thu (trước kia là nhà tôi). Nhưng không thấy. Chỉ thấy hình bóng chị trong đoạn phim do canera cửa hàng tiện lợi ghi lại và được Hy là nhân viên cửa hàng chép vào điện thoại cho Tôi. Chương 7: Tôi (thằng tù số 280) trong khi vượt ngục, đã tiếp cận được chị Khùng, được chị Khùng cho ăn. Sau này, khi nghe tin có người đàn bà bồng con đi lấy tim người làm thuốc thì Tôi nghĩ ngay là chị Khùng. Chương 8, vợ anh Xây có lẽ nghe lời độc địa của chị Tùy đã đi tìm trái tim người để chữa bịnh không con. Chương 9: Bữa đài loan tin có người đàn bà ôm con đi lấy tim người làm thuốc, tôi biết là Cẩm” (tr.116). Cẩm là người trôi dạt. Cẩm đến sống chung với tôi trong một thư viện bỏ hoang, cả hai cùng ăn chữ.

Như vậy hình tượng “người đàn bà bồng con đi lấy trái tim người làm thuốc chữa bịnh” có chung những đặc điểm sau dây: Những người đi truy tìm họ đều chưa tìm được họ, nhưng có tiếp cận được trong một hoàn cảnh nào đó, và khi nghe tin về người đàn bà bồng con đi lấy trái tim người thì đoán chừng là người họ đã gặp. Tất cả đều chưa gặp mặt người đàn bà bồng con, mà chỉ thấy một vài dấu tích một vài “nghe nói” và đoán chừng. Hình ảnh “người đàn bà bồng con” gợi ra nhiều liên tưởng trong đời sống tâm linh Việt.

Trong Biên sử nước, mỗi người đàn bà (được phỏng đoán là người bồng con đi lấy trái tim người) đều có một hoàn cảnh đặc thù và chuyển tải một thông điệp riêng. Phúc Mắt bò nổi tiếng ở trường vì bị mắc kẹt với  đáy quần loang máu, khi ướt khi khô đanh. Tuy vậy, Phúc là một học sinh giỏi Toán toàn quốc, lấy bằng bác sĩ chuyên khoa 2 ở Hà Đô. Mẹ Phúc khoe với mấy bạn hàng ngoài chợ: “Con nhỏ sắp lấy bằng giáo sư”. Sau làm thu ngân cho một của hàng bách hóa tự chọn. Giờ chạy theo cả những ông thầy bùa ngải xác cậu cốt cô (tr.32), đó là điều không ai hiểu được. Nhưng thông điệp của nhà văn rất rõ ràng: người mẹ chấp nhận từ bỏ tất cả để tìm phương thuốc chữa bịnh cho con với một niềm tin tuyệt đối.

Chị Thu (Chương 6): “không ra đàn bà cũng chẳng ra đàn ông. Cái mũi gom cao và đôi mắt hai mí…cơ mặt cứng lạnh, mớ tóc xơ rối, dáng người khô khòng, chị ít cười”(tr.72). Đi dạy học, chị mặc áo dài xanh da trời. Ở nhà chị nuôi gián. “Học trò của chị Thu cũng không mấy yêu quý cô giáo dạy môn Ngữ văn”(tr.73). Dường như người đàn bà này không hợp với môi trường sống của mình, phải chăng vì thế chị Thu làm bạn với gián?

            Người đàn bà tên Cẩm (chương 9) là người ăn chữ. Cẩm chui ra từ một cái thùng rác úp ngược. Bồng trên tay một tiếng khóc xanh yếu, cổ mệt lả…”; “Sau này Cẩm kể cô không mục đích nào, chỉ đi vậy thôi, ‘hơn ngồi một chỗ chờ chết’”(tr.105). Cô là đàn bà với vòm háng ấm, đôi đầu vú nhỏ, búi mông cứng.107 Cẩm sống trôi dạt, chỉ ăn chữ. Cẩm nói mình đã bỏ bụng một đống chữ chẳng bổ béo gì”(tr.112). Dường như nhân vật này thể hiện tư tưởng hiện sinh của tác giả: Đời sống bản chất là vô nghĩa. Sống là đi về cõi chết?

Các nhân vật này đều thể hiện tư tưởng về “sự biến mất của con ngườ” trong cõi đời này. Nhân vật Tôi khi theo dõi dấu tích chị Thu đã nghĩ về mình:“Hình ảnh cuối cùng của tôi trước khi biến mất khỏi cõi đời, cũng sẽ được một con mắt điện tử nào đó giữ lại 30 ngày, rồi tự động tan đi không dấu vết. Ai sẽ ngồi xem lại hình ảnh tôi” (tr.75).

Tất cả các nhân vật người đàn bà bồng con đi tìm trái tim người chỉ được ghi nhận qua dấu tích họ để lại (Gián trong nhà chị Thu; vòi nước chảy và quần áo giặt của chị Tùy, ấn tượng về tiếng móng tay gãi miết vào da bật máu trên da của Cẩm.…), qua một vài mối quan hệ của họ với người này người kia, và qua những thông tin ai đó nói (bọn học trò trường Yên Xuyên nói về Phúc mắt bò, người mẹ nói về Phúc…). Cuộc truy tìm họ là vô vọng (Thằng nhỏ mồ côi được giao nhiệm vụ tìm chị Tùy phải leo lên cột địện tránh nước lụt để định hướng).

Sự biến mất vô vọng của người đàn bà bồng con đi tìm trái tim người chỉ là một cuộc ra đi chưa đến đích (còn “đang sang sông”) hay là một thái độ phản kháng?

Về lý do chị Tùy ra đi, người ta trách mẹ chị Tùy rằng: “Phải dì bớt bạc đãi con Tùy đi một chút thì đâu tới nỗi”(tr.48). Có nghĩa sự ra đi của chị Tùy là phản kháng lại sự bạc đãi của người mẹ. Cẩm nói về sự trôi dạt của mình: “chỉ đi vậy thôi,‘hơn ngồi một chỗ chờ chết’”(tr.105), tức là phản kháng lại sự tù đọng hiện sinh. Phúc mắt bò từ bỏ nghề bác sĩ để làm thu ngân cho một cửa hàng, từ bỏ sự chữa tri y khoa cho đứa con không cười bằng cách tin vào thầy bùa ngải xác cậu cốt cô, phải chăng Phúc phản kháng lại một xã hội thực dụng (chỉ có tiền) và văn minh phương Tây (cách chữa bịnh bằng Tây Y)? Điều này bạn đọc có thể thấy rõ rất nhiều người chữa bịnh tà bằng cách tìm đến các thầy bùa. Ở chương 10, nhân vật Mi và Tôi kéo đổ tượng đài ở trung tâm thành phố (tr.120). Mi ném đá vào đèn ở quảng trường, mở tung những trụ nước cứu hỏa, cài thuốc nổ đánh sập một chân cầu…phải chăng đó là sự phản kháng vô chính phủ về những tiêu cực trong đời sống (chẳng hạn phản khác việc xây tượng đài bê tông cốt tre)

Không thể hiểu khác, qua hình tượng người đàn bà bồng con đi tìm trái tim người, nhà văn ca ngợi tình yêu thương con của người mẹ, đồng thời bày tỏ thái độ phản kháng xã hội về nhiều mặt, thể hiện ý thức về Hiện sinh và về sự tồn tại của một con người trên cõi nhân gian này, cõi nhân gian đầy ruồi, đầy gián, đầy lọc lừa. Con người tồn tại trong vô vọng, như giữa mênh mông nước không có gì bám víu, không gì ngăn được sự ngập lụt. Hệ thống hình ảnh ẩn dụ có ý nghĩa biểu tượng chứa đựng những thông điệp còn ẩn rất sâu dưới lớp vỏ chữ nghĩa, đó là một đặc sắc của Biên sử nước.

NGUYỄN NGỌC TƯ QUEN MÀ LẠ

            “Tụi tui ăn chữ. Xin bạn đừng có tầm thường như những người tôi từng biết, họ hoặc nhìn tôi như kẻ điên hoặc dán vào tôi cái nhìn ngờ vực, nghĩ ăn chữ chắc có ám chỉ gì. Nhưng ăn chữ chẳng mang tầng nghĩa ngầm nào khác. Nó đơn thuần như bạn ăn cơm. Nghĩa là nhai nuốt bằng răng, tận hưởng hương vị qua gai lưỡi, và tiêu hóa chúng trong dạ dày, thấm hút chút dưỡng chất vào thành ruột. Ở ngoài kia có nhiều người ăn chữ kiểu như tôi, chỉ là chúng ta không biết đó thôi” &tr.105)

            Phải chăng Nguyễn Ngọc Tư đang đối thoại trực tiếp với chúng ta và hóa giải cái cách chúng ta bẻ khóa mật ngữ của tác phẩm? Chúng ta nhận ra Biên sử nước là một thế giới ẩn dụ, Nguyễn Ngọc Tư bảo “chẳng mang tầm nghĩa ngầm nào khác”, nhưng xin thưa, khi tác phẩm đã được công bố và được đọc, thì nghĩa tác phẩm thuộc về diễn giải của người dọc. “Tác giả đã chết” (Roland Barthes).

Trong Biên sử nước, nhiều lần nhân vật đối thoại trực tiếp với người đọc như vậy. Đây là một chia sẻ trải nghiệm: “Bạn biết đó, khi bạn không nhà cửa chẳng mẹ cha, sống nhờ cơm miễu Thánh thì phụ nữ là thứ gì đó xa tận bên kia biển…Với đàn bà, nhìn thẳng vào họ thôi cũng khiến tôi thấy mình không xứng đáng”(tr.58).

                Cách viết của mỗi chương là ghi lại dòng “ý nghĩ miên man” (tr.76) của nhân vật Tôi. Nhân vật tôi ở hiện tại, rồi ký ức xuất hiện. Quá khứ đồng hiện với hành động ở hiện tại. Nhân vật để cho ý nghĩ của minh trôi đi từ chuyện này sang chuyện khác, tạt ngang rồi tạt dọc, xa lạc chỗ khởi đầu ở hiện tại, sau đó quay về hiện tại. Người đọc chỉ lơ đãng một chút là không còn biết mình đang ở đâu giữa rừng chi tiết truyện, và sẽ rối tung lên không biết bám vào đâu để lần ra manh mối chính. Điều này khiến cho độc giả không thể đọc nhanh. Thú thực là mỗi chương tôi phải đọc lại vài lần mới thoát ra được cái rắc rối của cấu trúc truyện. Và trong khi nghe Nguyễn Ngọc Tư kể chuyện, tôi gặp đâu đó các miêu tả độc thoại nội tâm của Hemingway (Ông Già và Biển Cả), ở chỗ khác tôi lại thấy những dòng miêu tả rất lạ theo cách miêu tả Hiện tượng luận (Husserl), thực sự là thú vị. Thú vị ở văn bản đang đọc, tức là những gì nhà văn dệt nên bằng văn chương và thú vị với một tác phẩm văn chương đã hội nhập với văn chương thế giới đương đại.

            Nói thế để nhấn mạnh điều này Nguyễn Ngọc Tư muốn viết một tác phẩm tư tưởng. Vì thế nếu muốn tìm “giá trị phản ánh hiện thực” của tác phẩm theo cách đọc cũ, người đọc sẽ thất vọng. Biên sử nước chỉ kể những chuyện đời thường trong dân gian: chuyện gái bỏ nhà theo trai (chị Tùy), chuyện tù vượt trại (chương 7), chuyện một bà già bị mấy giỏ xoài đè chết (tr. 19), anh xe ôm kể chuyện vợ ghen (tr. 23), chuyện “Được làm đàn bà tới bến rồi đó, sướng không?!”(tr.26), chuyện con nít bị ghẻ (con của Cẩm), chuyện một nhiếp ảnh gia biến mất ở Núi Biên (tr.70), chuyện trẻ con khóc (tr. 84), chuyện một cô gái nằm vắt ngang đường tàu tự tử (tr.96), chuyện phụ nữ bị nghén ăn lá mục (tr.100), chuyện hôn nhân đổ vỡ (tr. 108)… những chuyện như thế chẳng phản ánh vấn đề chính trị xã hội nào của hiện thực hôm nay. Thấp thoáng có vài vấn đề như, xây tượng bê tông cốt tre (tr. 120), chuyện buôn thần bán thánh (Đức Ngài), chuyện đồng tính (chuyện Tôi là người đàn bà có hai đời chồng với Mi-tr.120), nhưng đó cũng không phải là những vấn đề “nóng” của xã hội Việt Nam hôm nay.

            Điều thú vị là, Nguyễn Ngọc Tư trình bày tư tưởng rồi lại phủ định tư tưởng ấy, giống như Biên sử nước là một thế giới ẩn dụ nhưng tác giả lại bảo “chẳng mang tầng nghĩa ngầm nào khác”.

            Người đàn bà đi tìm trái tim người để chữa bịnh cho con với một lòng yêu thương và một niềm tin tuyệt đối. Tác giả khẳng định chỉ có tính yêu thương (trái tim) mới chữa lành mọi bịnh tật, mới cứu rỗi nhân tính. Thế nhưng ngay sau đó nhân vật “sư mẫu’ là một nhân chứng sống đã nói rõ Đức Ngài chỉ là một trò lừa gạt. “Trái tim” của kẻ lừa gạt làm sao chữa được bịnh. Thế nghĩa là chẳng có tình yêu thương nào chữa lành tình trạng nhân tính bị tha hóa!

            Nguyễn Ngọc Tư nói về sự biến mất của một con người như một tất yếu: “Hình ảnh cuối cùng của tôi trước khi biến mất khỏi cõi đời, cũng sẽ được một con mắt điện tử nào đó giữ lại 30 ngày, rồi tự động tan đi không dấu vết. Ai sẽ ngồi xem lại hình ảnh tôi” (tr.75) và trong truyện là rất nhiều trường hợp con người biến mất (Phúc mắt bò, Cô Long, chị Thu, chị Khùng, Cẩm…). Thế nhưng, người ta vẫn thấy dấu tích của họ, họ đang lang thang nơi này nơi kia, và không phải họ không để lại những hậu quả. Chị Tùy bỏ đi để nước chảy ngập cả thành phố, Chị Thu đi để lại cái nhà đầy gián. Cô Long bỏ đi đến nỗi thằng Phủ phải giả làm Đức Ngài để gây tiếng vang “sao cho ở phương trời nào con nhỏ kia cũng nghe thấy” (tr.43). Nghĩa là con người “biến mất” vẫn tồn tại. Phải chăng đây là sự mâu thuẫn trong tư tưởng của Nguyễn Ngọc Tư?

            Cũng vậy, khi Nguyễn Ngọc Tư nói đến một vài hiện tượng xã hội nhưng ngay sau đó lại phủ định những gì mình vừa kể. Chuyện xây tượng đài bê tông cốt tre, hoặc tình trạng con ông cháu cha quậy phá (nhân vật Mi, chương 10). Phần sau câu chuyện, tác giả lộ ra rằng đó là chuyện kể của một người hôn mê vì tai nạn xe chưa tỉnh, và Mi quậy phá khi cô mộng du, nghĩa là của hai kẻ không có ý thức. Chuyện chỉ xảy ra trong tiềm thức của một người đã mất hết ý thức. Vậy tiếng nói phản kháng ấy có giá trị gì với thực tại?

            Có thể lý giải sự mâu thuẫn của Nguyễn Ngọc Tư là do nhà văn thể hiện tư tưởng nhưng không dựa trên một hệ thống triết học nào. Nhà văn cũng không viết với khuynh hướng văn chương dấn thân (J.P.Sartre-1905-1980), vì thế những thông điệp tư tưởng của Nguyễn Ngọc Tư trong Biên sử nước chỉ có ý nghĩa như một tiếng nói trách nhiệm trước một thời đại mà nhân tính bị hủy hoại trầm trọng, tình yêu thương không còn khả năng cứu chữa bệnh tật của con người. “Chúng ta không biết mình đang sống trên những mục rã nào” (tr.120). Tôi nghĩ tiếng nói trách nhiệm ấy thật đáng quý.

            Biên sử nước có cách đặt tên khá lạ. Những thở dài mang vị muối, Dấu nước, gọi vang, nước lên, những kén, tiếng khóc từ trời, cưới bóng…Tất cả tên chương đều không được viết hoa. Có điều gì đó rất trái với quy luật ngôn ngữ thông thường. Lẽ ra phải viết “những cái kén” hoặc “tiếng khóc thấu trời”. Thở dài” là một động từ, “những” là số số từ, chỉ đứng trước danh từ, không thể đứng trước động từ (Những thở dài). Sự “lạ hóa” cả ở nội dung nhan đề ”cưới bóng”. Sự “lạ hóa” cách viết nhan đề cũng là một phá cách của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư. Nó tạo ra sự “gây hấn” với người đọc ngay khi tiếp cận tác phẩm. Nhan đề “Biên sử nước” là một gây hấn như vậy. Người đọc thường nghe “biên niên sử” của một triều đại. Nhưng Nguyễn Ngọc Tư viết “Biên sử nước”, vậy nên được hiểu thế nào? Biên niên sử của nước hay bên lề (đường biên) lịch sử của nước, hay là ghi chép về (biên chép) lịch sử của nước? Tác phẩm không hề chứa đựng các nội dung này.

Thôi thì cứ nghe theo lời nhà văn, cách đặt tên tác phẩm, tên chương: “chẳng mang tầng nghĩa ngầm nào khác”. Chẳng qua là một trò chơi chữ thú vị, vậy thôi! Nói như thế thì trả lời thế nào về chức năng của nhan đề? Nhan đề chứa đựng nội dung, tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm. “Biên sử nước” nhất định chứa đựng những điều ấy, không phải chỉ là một trò chơi chữ đơn thuần. Phải chăng nhan đề ấy gợi ra vấn đề nước ở đồng bằng sông Cửu long một thời ngập lụt (“chan nước đi hàng mấy trăm cây số”. tr.53) mà bây giờ đối mặt với sự khô cạn? Cho nên người ta không thể cười được, như đứa trẻ kia chỉ khóc không ngơi? Tìm mãi một con đường giải quyết như không thấy (như tìm người đàn bà bồng con)?

Tôi rời cuốn sách mà lòng ngổn ngang, dường như tôi đuổi theo những gì Nguyễn ngọc Tư viết giống như mấy người tù chạy theo thằng 551, tưởng nó dẫn đường trốn trại, ai dè nó chạy theo một con chim thằng chài, một con chim xanh biếc, và thằng 551 hỏi ngược lại những người tù rằng ”Nhưng sao tụi mày lại chạy theo” (Chương 7-tr.79). Những người tù trốn trại chạy theo thằng 551 là vì ngộ nhận, còn tôi chạy theo Biên Sử nước, chẳng lẽ…!

***

Nguyễn Ngọc Tư (bìa trái) cùng các nhà văn nữ trong Đại Hội-Hội Nhà Văn tại Trà Vinh 2020

Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn có những nỗ lực khám phá sáng tạo liên tục, rất quen ở phong cách nhưng mới lạ ở nghệ thuật và tư tưởng. Thế hệ nhà văn đồng thời với Nguyễn Ngọc Tư giờ trở thành những cây viết chủ lực của văn chương Việt, họ đã làm thay đổi hẳn dòng chảy văn chương Việt và tiếp cận với văn chương thế giới. Những đóng góp về thi pháp và tư tưởng của Nguyễn Ngọc Tư trong Biên sử nước là một trường hợp cụ thể.

Xin chúc mừng nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.

Tháng 11/2020