TRẦN QUANG QUÝ-MỘT HÀNH TRÌNH THƠ

BẠN CÓ THỂ ĐỌC CÁC BÀI VIẾT CHÍNH CỦA BÙI CÔNG THUẤN THEO LINK: buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

VĨNH BIỆT NHÀ THƠ TRẦN QUANG QUÝ (10/9/2022)

***

TRẦN QUANG QUÝ-MỘT HÀNH TRÌNH THƠ

Bùi Công Thuấn

***

Nhà thơ Trần Quang Quý sinh ngày 02 tháng 01 năm 1955, tại xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Ông tham gia quân đội tháng 12/1971. Sau khi ra quân, học Đại học văn hóa Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ Hà Nội và làm báo. Ông đã xuất bản 14 tập thơ, truyện ngắn, tiểu luận, bút ký… Được 11 giải thưởng văn học, trong đó có 3 giải thưởng Hội Nhà văn VN, năm 2004 (Giấc mơ hình chiếc thớt) và 2012 (Màu tự do của đất; năm 2019 (Nguồn) [1]. Tôi chưa có điều kiện đọc tất cả các tập thơ của ông nên chưa thể phác họa một chân dung văn học về ông. Tôi đọc 4 tập thơ: Siêu thị mặt (2006), Màu tự do của đất (2012), Ga sáng (2016) và Namkau (2016) và thử hình dung hành trình 10 năm sáng tạo thơ của Trần Quang Quý, trong hành trình của 10 năm thơ Việt.

SIÊU THỊ MẶT, THƠ CỦA NGƯỜI “CẢ NGHĨ” VÀ “CƠN MƠ GIEO HẠT”

Tác giả ghi nhận ở New York hai chuyện nhỏ, thứ nhất: “có một nền văn hóa “tip”/ bạn chớ quên khi rời taxi hay tiệm nhậu/ xin vui lòng để lại thêm mười phần trăm “, thứ hai: “vô tình đụng trên đường thật khó tránh/ nhưng tất cả cùng lời: Xin lỗi!”. Từ hai ghi nhận, tác giả bộc bạch nghĩ suy:

“Hai chuyện nhỏ làm tôi một đêm cả nghĩ/… Có phải thành phố này lên cao từ những điều rất nhỏ: sự rạch ròi, sòng phẳng tiền boa/ cả lịch lãm một lời xin lỗi?” (Hai chuyện nhỏ ghi ở New York).
Tập thơ Siêu thị mặt là những nghĩ suy như vậy. Nhà thơ ghi nhận những hiện tượng xã hội, qua đó tra hỏi về bản chất của sự việc, đâu là chân lý, đâu là đúng – sai, phải – trái. Con mắt và trái tim nhà thơ hướng về cuộc sống xung quanh mình: Một chiều cafe ở Hồ Tây (Giọt chiều), chú bé đánh giày ở vỉa hè (Giai điệu vỉa hè). “Hai người mẹ, hai số phận có cùng tên Nỗi đau” (Khác biệt và không khác biệt). Một em gái “rời làng ra phố bán hoa/…những tưởng em ra phố để đổi đời/ phố cũng chỉ là một cánh đồng khác” (Sắc hoa). Buổi sáng nghe tiếng “chim khướu hót từ chiếc lồng nhà hàng xóm” (Tiếng của loài chim), gặp “… cả một siêu thị mặt/ nhỏ to, ngắn dài, tròn méo, buồn vui, cáu giận hay lạnh tanh chảy thành dòng/ trên phố…” (Siêu thị mặt). Rồi quan sát những đồ vật trong nhà: một cái chăn, một ngọn đèn dầu, một chiếc xe đạp thời khó nghèo. Nghĩ về Huyền thoại bên máng lợn, về nước mắt đàn bà (Nước mắt). Ở Tam Đảo, mây sà xuống cửa sổ: “Tôi lùa tay vớt cõi phù vân bên khung cửa sổ nhà nghỉ…” (Một mây Tam Đảo). Buổi trưa ở Mũi Đao, “… gọi em để mua một đôi ngàn đồng sim”. Trong quán nhậu ở Củ Chi, lai rai với món bò luộc, mắm nêm, và Những bản tin hàng ngày “… về cuộc đọ súng ở Trung Đông, Bắc Phi, Nam Á/ những phụ nữ đánh bom liều chết… những cuộc đấu trên sân khấu chính trị và người dân nghèo chết mòn trong bạo bệnh/… bệnh viện chật cứng bởi đột quỵ và tim mạch…”.

Ghi nhận như vậy để thấy trái tim nhà thơ hướng về môi trường sống đương đại, nghĩ suy về những vấn đề của hôm nay (những năm đầu thế kỷ XXI), phản ứng với tâm thức của người trong cuộc hôm nay, không dựa vào quá khứ để tụng ca sử thi, không “Ăn mày quá khứ” để tự gắn huy chương cho cái Ta, cũng không tự huyễn hoặc như “Cái thời lãng mạn”.

Nhà thơ cũng tự soi vào lòng mình để thấy những nỗi buồn. “Có năm tháng nào lòng ta buồn hơn/ nỗi buồn khắc vào mặt thế hệ hình thập ác” (Khác biệt và không khác biệt). “… Có thể một người lẫn trong bao người khác/ anh vẫn một cánh đồng ngày xưa gieo hạt/ hạt khổ đau” (Những ngày xưa). Đó là nỗi buồn của mọi kiếp người (Câu hỏi), về những bi kịch của đời (Không đề), và nhà thơ “Không biết chôn nỗi buồn vào đâu” (Cảm). Trong hành trình “đi tìm mê lộ bờ cong, mê lộ hoàng hôn/ chợt mắt xưa ngơ ngác cổng thế hệ…”, nhà thơ tự thú nhận “… tôi chỉ là người bại trận” (Cuộc cờ), và ý thức về sự bé nhỏ của kiếp người với thời gian vô tận: “Ngày như chiếc bóng lẻ ta/ ta như chiếc bóng của ngày/ vô tận” (Ngày).

Nhà thơ không dừng ở sự quan sát hiện tượng mà soi vào bản thể con người để thấy rõ những gì là thật – giả, những gì là vĩnh cửu và hư không, cả những niềm tin vẫn còn. “sự thật có thể không mang gương mặt thật/ ảo ảnh tự ru mình/ hư danh thường ầm ĩ” (Lập ngôn). Và đây là Lẽ thường: “Người khi vui rồi lại khi buồn/ khi dửng dưng mặt lạnh như đá/ lúc giận hờn cũng tạnh như không/ Có cuộc đời thoáng như mây khói/ thế gian nhỏ bé và mong manh/ có người khắc vào ký ức ta vết khắc không tàn/ cuộc đời mà/ là thế!”. Nhà thơ nhìn đời bằng con mắt thứ ba: “cõi đời, nhìn con mắt mở/ cõi người, nhìn con mắt nhắm/ Từ mẫn cảm về thời, từ tiếng gọi những vết bầm ký ức/ tôi học nhìn bằng con mắt thứ ba” (Học). Con mắt thứ ba, còn gọi là Huệ nhãn, là khả năng thấu thị những gì không nhìn thấy bằng mắt thường (nhục nhãn). Nhờ thế nhà thơ đã nhìn thấy giữa một thế giới của đối trọng và nghịch lý, vẫn còn hy vọng: “em bé đánh giày rửa đức tin bằng uy tín màu xi/ chị hàng rong đi rao cơn mơ số phận/… những bàn tay cùng chìa trong bão lũ/ mái phố rêu phong gục vào chiều cổ thụ / mong đức tin nảy mầm…”.

Trong tập thơ, Trần Quang Quý không vươn lên hướng thơ tư tưởng, mà cháy lên cảm hứng thế sự với diễn ngôn có ý phê phán thực tại xã hội. Cảm hứng xót xa ẩn trong sự miêu tả những cảnh đời, những phận người “dưới đáy”, những tương phản gương mặt và lối sống nhầy nhụa. Nhưng ngòi bút Trần Quang Quý đủ tỉnh táo để không đụng chạm đến những vấn đề “nhạy cảm”, không miêu tả cụ thể những mặt tiêu cực của xã hội, không ám chỉ bất cứ loại người nào trong cuộc cờ. Câu thơ được cắt gọt hết ngoại hình ngoại cảnh, để chỉ còn lại cái lõi của vấn đề, và vấn đề ấy những người thiện tâm đều có thể chia sẻ, cho nên dù nhà thơ có lên tiếng mạnh mẽ, quyết liệt thì thơ vẫn vượt lên trên bờ bến hiện thực.

Những cái mặt mày râu nhẵn nhụi
những cặp môi mỏng quẹt và cái mồm ống thổi lụng bụng lưỡi
chúng thường hát đồng ca phản trắc và sống nhạt
(Cuộc cờ)
Trên sân khấu người ta vừa quét dọn
có hình những chiếc mặt còn in bóng lộn mặt sàn
chúng đã diễn quá lâu…

… hãy lột chiếc mặt nạ tự phỉnh mình
hãy lộn túi những mớ chữ mị dân
(Quen)
Với tư cách người làm thơ, Trần Quang Quý không thôi trăn trở về sự trì trệ, về lối mòn, sự lặp lại và cả sự “gục ngã” trên đường sáng tạo:
Để gieo được một hạt ý tưởng
có thể phải ngã gục trên cánh đồng cày ải tư duy
… Tôi đã mang cơn mơ gieo hạt
từ chiếc thúng cảm thức đựng nỗi buồn mùa lép
ám ảnh lối mòn tri thức
như vẫn gặp những con bò nằm nhai lại rơm khô

Không gì đến dễ dàng, tôi biết.
(Tự giải)
“… Chiếc ghế nhẵn một chỗ ngồi, ngày buồn nhão một gương mặt
có gì mòn mỏi hơn bằng giam cầm trong nhàm cũ
có gì mê muội hơn bằng ngủ sâu trong cái bóng chính mình?…”
(Ngày nhạt)
Có lẽ nhờ Tự giải những “Ngày nhạt”, để thực hiện “cơn mơ gieo hạt”, Trần

Quang Quý đã tự làm mới thơ mình. Trần Quang Quý xuất hiện từ những năm 1990, Siêu thị mặt in năm 2006, giữa cao trào “thơ trẻ khó hiểu” và những nỗ lực ào ạt cách tân thơ Việt, nhưng Trần Quang Quý vẫn giữ được mạch thơ truyền thống và góp phần vào kiểu thi pháp mới khác hẳn thi pháp thơ thời chống Mỹ. Trần Quang Quý hướng về những vấn đề của hôm nay, sử dụng kiểu ngôn ngữ hôm nay, trần trụi, mới lạ, đảo lộn. Tuy vậy, Trần Quang Quý phản đối những thể nghiệm kiểu “thích mân mê chiếc áo vỏ hình thức/ đôi lúc hoắng trò chơi sắp đặt.” (Bờ khác của tư duy).

Thơ Trần Quang Quý là những phát ngôn trực tiếp, là nhận thức có khuynh hướng tư tưởng, nhưng không phải là tư tưởng triết học, mà đó là những kinh nghiệm của bản thân. Đây là những phát ngôn:
Có những điều lớn lao mà không cần lý giải
có những việc tầm thường khoác vỏ đại ngôn…
… sự thật có thể không mang gương mặt thật
ảo ảnh tự ru mình
hư danh thường ầm ĩ”
(Lập ngôn)
Vì thiên về suy nghĩ, thơ Trần Quang Quý cũng thiên về lập tứ. Nhiều bài ý tứ được trình bày theo kiểu tư duy quy nạp. Câu thơ thường ngắn lại để khẳng định.

Bài thơ Vết là một thí dụ:
Cánh rừng xoá vết chém lưỡi rìu bằng thân cây ứa nhựa
con đường xoá dấu chân bằng phế hoang cỏ
Người ta thường nô lệ ký ức
ký ức làm sao xoá?

Anh đã từng khép lại bóng hình em
và trái tim suốt đời đi vá sẹo

Sau khi dẫn ra hai hình ảnh Cánh rừng xóa vết chém và con đường xóa dấu chân, nhà thơ đưa ra hình ảnh thứ ba tương phản: người ta làm sao xóa được ký ức. Từ đó dẫn đến chủ đề: Trái tim anh suốt đời đi vá sẹo. Đó là cách lập tứ quy nạp. Câu thơ cuối thường chứa đựng chủ đề. Hầu hết các bài thơ của Siêu thị mặt được lập tứ như vậy. Xin đọc: Đồ vật, Mặt, Câu hỏi, Không đề, Cuộc cờ, Giọt chiều, Điệp khúc những ngón chân, Tiếng của loài chim, Ngày, Răng và lưỡi, Khác biệt và không khác biệt, Sắc hoa, Tự giải, Quen, Lập ngôn, Mũi tên, Bên sông, Nước mắt, Hai chuyện nhỏ ghi ở New York, Những chiếc cốc mơ lành, Những bản tin.

Nhưng Thơ Trần Quang Quý gây ấn tượng ở kiểu ngôn ngữ “Thơ trẻ”, và những bài hay trong tập thơ là những bài có kiểu ngôn ngữ mới lạ này. Xin đọc Bầy rốn, Giọt chiều, Mắt thu, Khoảnh khắc, Châu thổ, Huyền thoại bên máng lợn, Tự giải, Ngâu Huế, Một mây Tam Đảo, Trong quán nhậu ở Củ Chi,

“Từng nghe tiếng mưu sinh ì oạp lòng máng gỗ
đèn khuya đỏ mắt đêm
sương sớm gột mái đầu thôn nữ
gió hanh mùa, nghe rạn gót quê

Tuổi xuân của em là nối dài những chiếc máng lợn
chiếc máng hầu bao hy vọng
và một ngày những giấc mơ đến thật lạ
em cưỡi trên chiếc máng, bay qua những bờ tre lầm lũi
có một chân trời tít tắp và lấp lánh vẫy gọi
những bến sông chôn đứng con đò
thành phố mọc từ bờ ẩn ức…”
(Huyền thoại bên máng lợn)

Đoạn thơ có những từ được lạ hóa bằng cách đặt vào một trường ngữ khác nghĩa với trường ngữ bình thường (Ì oạp, đỏ mắt đêm, bờ ẩn ức), có những cách diễn đạt mới lạ khác thường do cách sử dụng những ẩn dụ liên tưởng qua nhiều bước, có cả giấc mơ Siêu thực. Giấc mơ “em cưỡi trên chiếc máng, bay qua những bờ tre lầm lũi./ có một chân trời tít tắp và lấp lánh vẫy gọi/ những bến sông chôn đứng con đò/ thành phố mọc từ bờ ẩn ức”. Nghệ thuật ngôn ngữ này khác hoàn toàn với ngôn ngữ thơ truyền thống và ngôn ngữ thơ thời chống Mỹ. Trần Quang Quý đã có những đóng góp vào sự cách tân thơ Việt ở kiểu tư duy nghệ thuật này. Tôi rất thích Giọt chiều, Mắt thu, Ngâu Huế, Một mây Tam Đảo vì ở những bài thơ này, Trần Quang Quý còn bộc lộ chất tài hoa thi ca nữa.

Dù mới lạ, thơ Trần Quang Quý đọng lại rất sâu ở tình cảm yêu thương mãnh liệt những phận người, ở sự thấm thía nỗi buồn thế sự bên dưới những ghi nhận, nghĩ suy và ở sự tài hoa ẩn trong sự bộc trực, gân guốc ngôn từ. Những bài thơ tình hiếm hoi cũng chứa đựng năng lượng cảm xúc có sức bùng nổ.

2. MÀU TỰ DO CỦA ĐẤT – “ÁNH SÁNG CỦA MỘT NGÀY TỰ THỨC”

Trong bài Đồng loại, nhà thơ Trần Quang Quý tự hỏi: “Ta là ai? Câu hỏi đã xưa rồi/ và điều đó chỉ riêng ta biết/ ta là cả muôn loài, duy một điều khác biệt/ ta vẫn phải suốt đời mang gương mặt là ta!”. Đến cuối tập thơ, nhà thơ nói đến ánh sáng “tự thức,/ đánh thức bản nguyên,/ ánh sáng khoan thai trong khung cửa ngộ thức,/ hình như tôi vừa tự mở khóa mình” (Sự sáng). Những dấu chỉ ấy phải chăng là hành trình tự nhận thức cá tính sáng tạo của nhà thơ, cũng là sự thức tỉnh trước thực tại thơ Việt để tự khai mở con đường thi ca của mình. Đâu là con đường Trần Quang Quý tự thức?

Phóng túng gì bằng được giải phóng lời khỏi những mật ngữ
hứng khởi gì bằng bóc vỏ tự do
nghe trái tim cuộn chảy dòng máu nhân sinh
nghe sự thật bong ra khỏi vai diễn
nghe cội rễ tự nhổ khỏi đất cằn những ngày nhạt
(Có những điều giản dị)

Tự thức là “bóc vỏ tự do”, “giải phóng lời” để “trái tim cuộn chảy dòng máu nhân sinh” và “bong ra khỏi vai diễn” để sống thật, thoát khỏi những “ngày nhạt”. Những điều ấy là những điều giản dị, nhưng trong cõi nhân gian này, thì đâu có dễ. Tự do bị bọc vỏ, hay chỉ có vỏ bọc, phải bóc vỏ để tự do trở thành đất của mầm mơ ước/ những chói sáng thăng hoa lại bắt đầu từ những hạt tự do (Bầu trời phi lý thuyết). Khi tự do bị bọc vỏ thì lời cũng bị cầm tù, vì thế phải giải phóng lời, để cả một thời đại đừng nói ngọng nữa (Giọng). Làm sao để “trái tim cuộn chảy dòng máu nhân sinh” khi mà bao nỗi oan khiên dâu bể vẫn bày ra trước mắt mà nhà thơ phải câm lặng!

Ngay trong tập thơ này, có được bao nhiêu bài “tự thức” như thế? Bao nhiêu bài trái tim nhà thơ “cuộn chảy dòng máu nhân sinh”! Gần như những vấn đề “nóng” của ngày hôm nay không có mặt trong tập thơ (?), hoặc nếu có, cũng chỉ là ẩn dụ bóng gió, như thể đó là việc chẳng phải của ai. Xin đọc:

“Sau tất thảy trận mạc, khúc bi thương hay khúc oai hùng
chiếc gươm ngủ giấc hào quang
hay thức mòn trong bi kịch những vết chém?

Bỏ lại phía sau tiếng mài rợn đá
những tiếng mài gọi nhau từ toát lạnh vỉa tầng tử khí
tiếng mài của đớn đau và bi kịch sự mài
tiếng nghiến răng lịch sử
còn khía những vết thương hòa bình

Những giọt máu đã khô trong lạnh lùng ánh thép
chiêm ngưỡng gì thân phận một cây gươm?
trên con dốc thời gian gập bóng những lát cắt số phận
mỗi vết thương lại khai quật nỗi buồn
và nỗi buồn không muốn một thanh gươm
nằm rỉ máu vết thương ký ức
(Chiếc gươm trong bảo tàng – 1/8/2011)

Hãy bỏ những từ ngữ làm hoa mỹ bài thơ, nội dung bài thơ toát lên sự oán ghét chiến tranh, bởi chiến tranh gây ra những điều khủng khiếp: “Những giọt máu đã khô trong lạnh lùng ánh thép/ chiêm ngưỡng gì thân phận một cây gươm?”. Chẳng lẽ lại đi chiêm ngưỡng cây hung khí đã để lại những vết chém trên những số phận, đã gây ra bao nhiều đau buồn, máu chảy đầu rơi? Hỡi người! Có nghe không “tiếng nghiến răng lịch sử”, tiếng oán hờn của bao sinh linh!. Trần Quang Quý nói về thanh gươm trong viện bảo tàng là nói về chiến tranh thời chưa có súng đạn,… Nhưng những số phận, những bi kịch vết chém, những đau đớn do thanh gươm chiến tranh gây ra thì hôm qua, hôm nay hay mai sau đều giống nhau, cho nên dù chỉ là chuyện trong bảo tàng, thì những vết thương hòa bình vẫn rỉ máu, những số phận bi kịch vẫn không thôi đau đớn. Ý thức là vậy, nhưng Trần Quang Quý đã không thể nói cụ thể cuộc chiến nào! Bài thơ chỉ là một ẩn dụ (có lẽ để có sức khái quát), nhưng thanh gươm thật chắc chắn là có lịch sử. Ngôn ngữ thơ Trần Quang Quý có sức mạnh như những nhát gươm, chém vào tâm thức con người hôm nay trước những bi kịch của dân tộc, ai cũng biết nhưng không nói ra, không thể “giải phóng lời”!

Trong tập thơ này, những bài thơ nói được những vấn đề của dân tộc là những bài thơ hay và có sức mạnh lay động thấm thía. Xin đọc: Từ đất, Bài hát tháng Mười, Đàn bò vào phố, Đồng loại, Nỗi buồn hát,…). Màu tự do của đất đau đáu nỗi niềm làm sao một dân tộc thoát khỏi lam lũ đói nghèo, làm sao người nông dân không bị mất đất:

“Liềm hái thèm ngày thôi gặt gió sương
người nông dân thèm tự do được giải phóng mình khỏi nhọc nhằn cơ bắp
và tự do đầu tiên lại là tự do không thoát ly bùn đất
tự do của mồ hôi
tự do neo đời mình vào cánh đồng sương gió”

Để nói những vấn đề của hiện thực, Trần Quang Quý dùng nhiều hình ảnh biểu tượng và cách nói ẩn dụ. Chiếc ghế là biểu tượng quyền lực. Trên ghế là “những gương mặt mộng du quyền lực”, “trên ghế những mặt đời sấp ngửa” (Mặt ghế); “Ngọng” là biểu tượng cho cả một thời đại: “ngọng ở góc làng, ngọng loanh quanh nửa quê nửa phố/ ngọng lên xe hoa/ ngọng nhà không số/ ngọng huyên thuyên vào cả diễn đàn (Giọng). “Chiếc đinh” là hình ảnh tội ác. Nó thi hành mệnh lệnh “Cắm vào nỗi đớn đau kẻ khác từng milimet”, để thực hiện những “đòn thù” một cách “hiểm độc” (Chiếc đinh)… Nhiều bài thơ, trái tim nhà thơ chạm vào được những vấn đề nhân sinh, nhưng không có gì cụ thể. Phải chăng đó là cách nhà thơ “tự mở khóa” để thoát khỏi những phiền toái của bút pháp hiện thực?

Thoát khỏi bút pháp hiện thực, Thơ Trần Quang Quý bay bổng trong thế giới lãng mạn. Những bài thơ này mang được khí chất lãng mạn – tài hoa – phóng túng của Trần Quang Quý. Xin đọc: Sơn Tây, Điệu thức Cao Bằng, Đàn môi, Ngựa đêm, Một chấm nhân gian, Vết của mùa thu, Uống rượu ở Bangkok… Trần Quang Quý thả mình bay bổng, và phóng bút làm rung chuyển mọi cung bậc tưởng tượng và cảm xúc, đặc biệt là sự “giải phóng” những ẩn ức phồn thực (?) (Vết của mùa thu, Đến, Đàn môi, Sự hình dung).
… Tôi cưỡi mây trắng bay điệp điệp sông Hồng
bay phiêu du bằng dân dã hồn làng
có cánh diều làm nghiêng cả một vòm trời lãng mạn
có bầu trời tự do thúc ngựa hí những khát dâng trong ngực
có trái tim già dắt trái tim non đi vấp váp trên con đường nhân bản
nối đời này đời nọ gió lành Sơn Tây…
(Sơn Tây)
Em có biết cơ thể em chứa bóng tối của tôi
chúng mò mẫm bóng đêm dục cảm
qua đôi vú căng thơm bình minh
và toả sáng khát vọng
đôi vú, một bầu trời đang cơn chuyển động
chứa phồn thực mùa hè giấu mùa đông ngún lửa
(Sự hình dung)
Vì bay bổng lãng mạn và sử dụng kiểu ngôn ngữ tượng trưng như thơ Lãng mạn trước 1945, nhiều bài thiếu máu thịt đời sống thực, ngôn ngữ bay bướm muôn sắc màu lơ lửng trên tầng không. Xin đọc: Buổi sáng, Ru cỏ, Lại nhớ tóc dài, Nỗi buồn hát, Chảy, Trong mưa, Đàn môi…
“Trên vai tôi dòng lưu chảy từ cổ xưa lại ào ạt chảy
có giọt vắt ra từ đá lạnh
có giọt tẩm liệm trên những hàng mi ướt lại quay về
những dòng sông lang thang thế gian như quên mình có một nguồn
biển gầm rỗng đại dương, một ngày đọng về mềm oặt cỏ sương”
(Trong mưa)
Câu thơ chỉ là những suy tưởng, những liên tưởng không bấu víu được vào bất cứ mỏm bờ hiện thực nào trong cõi người (?). Những bài thơ không hồn vía, khí sắc, máu thịt đời sống này, làm rỗng tập thơ. Nó có thể là một cách nhà thơ “tự mở khóa”(?) nhưng mở ra con đường dẫn nhà thơ đến đâu?

Cũng may, cội nguồn thơ Trần Quang Quý là đời sống hầm hập sức nóng “những dấu hỏi ngược về cổ xưa tiền kiếp” (Bài hát tháng Mười), ngày thấp thỏm, đêm chập chờn vì “những con mắt gài quanh bờ giậu” của rắn, của bầy chó đồng loại (Đồng loại), và biết đâu những chiếc đinh sẽ đóng đòn thù sâu vào những thân phận nhỏ nhoi (Chiếc đinh)…; thế nên những phút bay bổng chỉ làm dịu mát một khoảng sân thơ… Những câu thơ về mẹ, về làng quê, những yêu thương và khát vọng, đích thực căn cốt của hồn thơ Trần Quang Quý.

Ta gọi sẻ, gọi những mùa thơm hạt
nhớ mái hiên chiều mẹ ta sàng gạo
dưới tay Người rào rạo mắt thời gian
mẹ sàng cả tiếng chim, lăn líu ríu từng chùm lên mặt đất
cái tiếng chim nhỏ nhoi, ta thương sẻ loài chim không biết hót
cả một đời chiêm chiếp tiếng sẻ thôi
(Gọi sẻ)

3. GA SÁNG – NƠI KÝ ỨC VỌNG VỀ

Ga sáng tiếp tục mạch thơ từ Siêu thị mặt nhưng đã có những bước chuyển. Trần Quang Quý tiếp tục suy tư về lẽ đời bằng sự trải nghiệm, nhưng thế giới nghệ thuật Ga sáng là thế giới của ký ức. Nhà thơ nhớ lại, nghĩ suy về những gì đã qua, để tâm hồn “bay bằng đôi cánh cảm xúc” (Ở Xuân Lũng giờ này), “bay trên đôi cánh lãng mạn” (Sông Đà) và liên tưởng miên man. “Thơ đổi mới” trở về “thơ truyền thống”. Cái Tôi trữ tình là yếu tố trung tâm, thu hút những lát cắt hiện thực vào tâm tưởng và tỏa ra những suy tư, những nhận thức và cả cảm giác trải nghiệm (Bản Concerto số 9).
Có thể đọc Mưa Tiên Điền như một đặc điểm thi pháp thơ của Ga sáng
“Chiều thắp hương xong trên lăng mộ Nguyễn Du
mưa đổ bến Giang Đình, mưa vắt phố
mưa Nghi Xuân níu bờ sang Vinh
mưa như rượu
tưới lòng nhân ái
mưa như chan nước mắt nàng Kiều
hay nước mắt Nguyễn Du cũng không biết nữa
hay nước mắt trời ứa nhân gian?

Nào em nào em xích lại gần hơn
anh sợ tuột em vào cơn mưa lạnh
sợ bàn tay suông
mắt hờ hững
sợ Giang Đình lạc bến gió liêu xiêu

Trong Nguyễn Du đâu chỉ một nàng Kiều
cơn mưa dắt muôn ngả Kiều cộng lại
máu đã rỏ hồn Người trên ngọn bút
mỗi câu thơ chắt cạn nhân gian
chắt tâm sự một tâm hồn lớn
hóa cơn mưa tưới ngọt Tiên Điền?

Anh nắm tay em sợ tuột vào hoang gió
Sợ tuột Kiều
Vào trống vắng thành Vinh”
(Bến Thủy, 2h15 ngày 4/12/2015. Dự lễ kỷ niệm 250 năm ngày sinh Nguyễn Du)

Bài thơ chỉ có một chi tiết hiện thực là Chiều thắp hương xong trên lăng mộ Nguyễn Du thì trời mưa. Nhà thơ lan man suy tưởng về mưa, về nàng Kiều và về Nguyễn Du. Phép so sánh trùng điệp được sử dụng triệt để, diễn đạt những ý tưởng sinh sản. Nhân vật em (tưởng tượng) chen vào bài thơ chút ngọt ngào tình tự nhưng không liên quan gì đến nghĩ suy về Kiều và Nguyễn Du. Thấp thoáng cái nhìn của nhà thơ về đời bể dâu: “mưa như chan nước mắt nàng Kiều/ hay nước mắt Nguyễn Du cũng không biết nữa/ hay nước mắt trời ứa nhân gian?”, “cơn mưa dắt muôn ngả Kiều cộng lại”, “Bao nhiêu cơn mưa đổ xuống cuộc đời/ Bao trú ngụ cuộc đời tốc mái?” (Những cơn mưa). Đâu đó là một nỗi “sợ” mơ hồ về sự vô cảm: Sợ “bàn tay suông/ mắt hờ hững…/ sợ lạc bến/ sợ trống vắng.” Có cả những lúc hoang mang hiu quạnh (Họa mi hót). Vì là thơ tâm trạng, chất hiện thực rất mỏng (được dấu trong ẩn dụ) nên những suy tư chưa đủ sức nặng để lay động, dù nhà thơ có liên tưởng từ nước mắt nàng Kiều đến nước nắt Nguyễn Du để dẫn đến nước mắt trời ứa vì nhân gian, nhưng cái nhân gian hiện thực hôm nay, “những điều trông thấy” hôm nay thì Kiều chưa đủ sức đại diện. Chính Nguyễn Du ngày xưa cũng đã né tránh, ông đã không ghi một dòng nào về lịch sử xã hội Việt Nam trong Kiều. Trần Quang Quý nhắc đến Nguyện Du và Kiều chỉ là nhắc lại quá vãng, gợi một chút gì đó còn trong ký ức.

Nhà thơ có cả một bảo tàng ký ức (Ở Xuân Lũng mùa này), biển ký ức: “… biển đổ ròng ròng ký ức” (Bên biển Phú Quốc), và “những nhớ thương ùa sóng cả…” (Một bờ sông Hậu) trong đó có những tầng ký ức (Về những sợi tóc). Ký ức không rơi rụng: “Đã bao mùa rụng lá, cây bàng không rụng được ký ức… (Café Paris). Ký ức in hằn trong tâm tưởng: “Tôi vẫn nhớ… những vệt lõm dấu chân đã hằn ký ức” (Dấu chân). Và hương ký ức tỏa mãi (Hoàng lan), đến nỗi người thơ ví mình như con dế “bị nhốt trong hộp ký ức” (Trên bức tường rào gạch). Bởi vì, “Làm sao quên chiều sân ga 1972/ Cha tiễn tôi,… (Trở lại sông Thao), làm sao quên “ngõ làng mùa rê thóc/ mẹ đội lễ sang bà ngoại ngày giỗ chạp” (Sông Đà). Làm sao quên “… đêm cà phê Paris/… ngày bạn đi mãi mãi tại nơi này”. Nhớ thuở áo tơi gầy tướp gió (Bóng quê), nhớ: “nơi anh và em cùng ngồi dưới vòm xanh tỏa bóng/ người ta đã đốn cây rồi” (Nơi cũ), giờ “nhìn đâu cũng em, đâu cũng là ngày ấy” (Mưa Sài Gòn), “Ngày ấy, em thiếu nữ 18” (Những giọt sương lãng mạn), Nhớ “mắt em… ngước nhìn anh trong thế giới đang héo hắt lãng mãn” (Bản concerto số 9). Nhớ một lúm đồng tiền ký gửi trong ngân hàng tình cảm (Ngày Vinh), nhớ “bản hòa tấu em chọn cho anh…” (Bản hòa tấu tình yêu). Và nhớ Tôi ngày xưa, “Tôi ngược tết…/ gặp lại tôi… thơ bé/ (Ngược tết), “bầy dế gáy vang chân trời cổ tích (Khởi cỏ)…
Trong thế giới của ký ức, nhà thơ bộc lộc tất cả cung bậc cảm xúc thương yêu của mình. Dù thời gian có làm rơi rụng tất cả thì vòm trời yêu thương vẫn xanh và hạt gốc nhân bản vẫn nảy mầm.
“… tôi bay bằng đôi cánh cảm xúc quanh những gò đồi/ chim sẻ ríu ran gọi mùa về trên vòm cây tháng tư/ hoa xoan vừa thoát tục…” (Ở Xuân Lũng giờ này).
“… Ngày ấy, em thiếu nữ 18, hai bím tóc nhí nhảnh/ mắt em hai giọt sương tinh khiết treo trong mắt anh/ treo 35 năm bây giờ chưa rụng… Ngày ấy, anh lính 23 ngu ngơ trở về khát vọng học trò còn dở dang đèn sách/ chiến tranh đóng cũi bao ước mơ …” (Những giọt sương lãng mạn).
“Bà nội mất, còn day dứt nỗi buồn cháu không kịp về nhìn mặt lần cuối/ may có cô, cháu thấy bà như vẫn đâu kia… Thương cô lưng còng, lại nhớ bà khôn xiết/ Và kỳ lạ, mỗi lần về quê chợt lòng yên tĩnh/ Bóng cô kia hay đó bóng bà thăm thẳm một đời quê” (Bóng quê).
Trong vòm trời xanh của ký ức, Trần Quang Quý thổ lộ: “Cứ mỗi lần ngước lên bầu trời tôi tự hỏi…” đàn sếu bay hình mũi tên trên bầu trời có “mật chỉ” gì?. Nhà thơ tự hỏi Về những sợi tóc rụng, về sự sắc nhọn của những chiếc gai, lắng nghe Bài hát của chiếc giày, nghe một quả rơi tiếng hạt nảy mầm, cảm nhận hương thơm của Hoàng lan, của hoa sen “nhụy vàng mây, thơm nõn gió/ hương sắc thu muôn tinh tú”, chiếc lá bồ đề mang về từ đất Phật, cả chuyện Trong bình rượu bìm bịp: “Bổ gì, rựơu bìm bịp/ khi ta uống là cạn ly xác chết/ ta uống cả tiếng kêu thảm thiết/ vẫn đang còn vỗ cánh ở ngoài kia”.

“… Không phải cái gì mất cũng tìm được
có cái tìm được thì đã mất…”
(Hoàng Lan)
“… mưa như chan nước mắt nàng Kiều/ hay nước mắt Nguyễn Du cũng không biết nữa/ hay nước mắt trời ứa nhân gian?”
(Mưa Tiên Điền)
Tác giả ghi nhận đời sống ở Ấn Độ: “người Ấn thản nhiên trong lam lũ”. Nhà lụp xụp, người thợ xây đội từng bao xi măng, những chiếc xe lôi lầm lũi trong khuya. Đường phố của phân bò, phân chó, phân dê, phân ngựa, nước tiểu và rác thải/ thì cũng chẳng có gì phải vướng bận”. “Tất cả cùng cười/ gương mặt giữ nhau đầy an lành”. Tác giả tra hỏi: “Dường như phía sau những gương mặt cần lao kia/ phía sau những ngôi nhà lầm lũi, tự do bò rống và lợn chạy/ có một Ấn Độ khác, một tinh thần khác/ một tinh thần văn minh lạ kỳ… Tôi bỗng hiểu vì sao… nơi này Phật ngộ” (Có gì lạ phía sau Ấn Độ?)
Từ những vật cụ thể gần gũi, Trần Quang Quý mở rộng suy tư ý nghĩa nhân sinh của Hoàng hạc (Hạc vàng), về Lý Bạch, Nguyễn Du, về dân tộc Ấn Độ…
“Hạc vàng đã bay/ Liệu còn hạc nào in trên bầu trời…/ …Lý Bạch tiên thi trước Thôi Hiệu cũng đành nín bút… một vòm trời biền biệt hư không/ Trường Giang, Trường Giang những ly biệt đời người/ đâu bến thành danh đâu bến vô danh/ còn lại bóng thi nhân… (Hạc vàng).
“Tôi không hy vọng chiếc lá bồ đề mang về phép màu nhiệm nào/ nhưng ít nhất, chiếc lá đang reo trong tôi bài hát của rừng nguyên thủy/ chiếc lá thức trong tôi ngọn nến thắp lòng thiện/ ngay cả chính nơi không có bóng Phật” (Những chiếc lá bồ đề).
“… Tôi gọi hạt tôi… xanh cây che mỏng nỗi người/ ít nhất biết mỉm cười trước rừng lưỡi gièm pha, và buả vây ganh tỵ” (Gieo).
Điều đáng quý ở nhà thơ là một tâm hồn xanh trong. “Tôi gọi hạt tôi… xanh cây che mỏng nỗi người”. Chiếc lá bồ đề “thức trong tôi ngọn nến thắp lòng thiện”. “Tôi ăn ngủ cùng chữ tháp tùng chữ bước vào những số phận”. “Hy vọng từng ngày làm lại tương lai”.

4. NAMKAU – ĐỊNH VỊ MỘT KHUÔN MẶT THƠ

Trong hỗn độn mớ tôi/
tôi đã từng đột phá đi tìm/
bản thể
Sự khám phá có khi thật giản dị/
có người suốt đời đi không tìm được chính mình
(Tìm 2)
Nhà thơ đi tìm bản thể là tìm chính mình, là xác định mình là gì, khác người khác cả về nội dung và nghệ thuật thơ trong hành trình sáng tạo. Tất nhiên một tập Namkau chưa đủ quán xuyến tất cả đặc điểm cá tính sáng tạo của Trần Quang Quý, song nếu một giọt sương đong được cả mặt trời (Giọt sương ban mai), thì Namkau cũng đủ lấp lánh khuôn mặt thơ Trần Quang Quý.
Đã từng đi nát con đường
gỗ hương long mộng chân giường đứng ngây
Đã từng hẹn tuột vỏ cây
Gió ghen vần vũ đám mây tụt quần

Đã yêu yêu cạn mùa xuân… (Bước yêu)

Tôi chọn bài Namkau lục bát dễ đọc để định vị thơ Trần Quang Quý. Trần Quang Quý kế thừa thơ truyền thống bằng linh hồn của lục bát và ca dao tình yêu mang đậm chất phồn thực. Hò hẹn, đứng chờ, ghen tuông, và yêu “long mộng chân giường”; “tụt quần” để “yêu cạn mùa xuân” thấp thoáng trong bài ca dao. Trần Quang Quý bộc lộ khí chất mạnh mẽ trong việc dùng từ, đặc biệt là các động từ “đi nát con đường”, “hẹn tuột vỏ cây”,“đám mây tụt quần”, “yêu cạn mùa xuân”. Điệp từ “đã từng, đã yêu” góp phần tô đậm khí chất nam tính thơ.
Nhưng điều đặc sắc, mới mẻ của thơ Trần Quang Quý là góc nhìn mới và kiểu tư duy ngôn ngữ mới, làm cho bài thơ tình yêu quen thuộc có sức gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc. Dường như chẳng có liên quan gì giữa “con đường” (câu 1) với cái giường bị long mộng và “gỗ hương, đứng ngây” (câu 2). “Hẹn tuột vỏ cây” là một so sánh ngầm hoàn toàn mới lạ, bởi “hẹn hò” và “tuột vỏ cây” nằm ở hai trường ngữ khác nhau. “gỗ hương long mộng chân giường đứng ngây” là một cấu trúc câu lạ. “Gỗ hương” là một vật bất động, không thể làm long mộng chân giường, và đâu là chủ ngữ của “đứng ngây”? Cấu trúc câu tiếng Việt đã bị phá vỡ. Các hình ảnh được xếp chồng lên nhau, mà sự liên tưởng phải qua nhiều bậc mới với tới được. Và hơn thế, đã có sự phá vỡ mọi cấu trúc. Cấu trúc những cuộc hẹn hò, cấu trúc những cuộc yêu, cấu trúc không gian và thời gian và cầu trúc tâm trạng yêu của hay kẻ hẹn hò, muốn yêu long mộng chân giường và muốn sex (tụt quần) bạo liệt. Nếu người đọc không tái cấu trúc thơ, không vượt qua được những khoảng cách đòi hỏi liên tưởng nhiều bậc này, sẽ thấy thơ khó hiểu. Nhưng làm thế nào để kết hợp các cấu trúc đã bị đập vỡ để tạo nên một cấu trúc thơ mới, đó là sáng tạo, và đó là chất riêng Trần Quang Quý.
Xin đọc thêm một bài nữa:

Lâu lâu bạn đến nhà
ta ngâm men tri kỷ
rượu khai xuân chan nhau ngầu khuya

ta vì bạn dốc ta tận đáy
bạn về đáy rỗng lộn ngược ta
(Bạn đến)
Câu thơ đầu tiên gợi ngay đến bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến (Đã bấy lâu nay bác tới nhà). Nguyễn Khuyến với bạn là tri kỷ. Tình bạn, cảm hứng về uống rượu là những đề tài rất quen thuộc trong thơ cổ điển. Thơ Trần Quang Quý ướp hương cổ điển, nhưng đọc lại thấy mới lạ. Cái mới lạ của khí chất thơ: mạnh mẽ, táo bạo thấp thoáng phồn thực và “lộn ngược” kiểu ngôn ngữ truyền thống.

Người đọc hình dung ra nhà thơ và bạn uống rượu trong đêm xuân, uống đến khuya, như thể họ ngâm trong rượu. Rượu chưa đầy họ chan thêm. Có bao nhiêu rựơu trong bình, họ dốc hết, dốc đến tận đáy. Sau đó bạn về, còn lại nhà thơ say, cảm giác mọi thứ đều lộn ngược.

Nếu chỉ như thế, cũng đã đạt đến cái ngất ngư “Đất trời nghiêng ngửa” của Vũ Hoàng Chương trong Say đi em. Điều lắng đọng của bài thơ là tình tri kỷ của nhà thơ và bạn, không phải là tình rượu. Nhà thơ đã dốc hết tình tri kỷ với bạn.

Cả bài thơ là cách diễn đạt bằng ngôn ngữ ẩn dụ và bằng sự phá vỡ các cấu trúc, tạo ra các lớp nghĩa chồng lên nhau, bắt người đọc phải tháo gỡ câu thơ ra, tái cấu trúc và liên tưởng nhiều tầng lớp, để lần ra nghĩa thực. Không phải khi bạn đến nhà thì nhà thơ mới đi ngâm men để làm rượu. Cũng không phải rượu của nhà thơ là rượu có vẩn đục (“ngầu”), cũng không phải nhà thơ và bạn trở thành hai gã say làm đục ngầu đêm xuân. Câu thơ: “ta vì bạn dốc ta tận đáy” đọc thế nào cho đúng cấu trúc câu tiếng Việt? “ta vì/ bạn dốc ta tận đáy” hay “ta vì bạn/ dốc ta tận đáy”? Cả hai đều không chuẩn ngữ pháp Việt. Diễn xuôi có thể là, “ta vì bạn [mà ta] dốc tận đáy [những gì] ta [có]”. Câu thơ trở nên lạ. Cũng vậy, câu thơ: “bạn về đáy rỗng lộn ngược ta”. Có ba mệnh đề chồng lên nhau: Bạn về, bình rượu rỗng đến đáy. Ta say, nhìn mọi thứ đều lộn ngược. Các chủ ngữ của “đáy rỗng” và “lộn ngược ta” bị giấu đi, câu thơ trở thành lạ. Và cái thú đọc thơ là sự khám phá những cái “lạ” ấy trong ngôn ngữ thơ Trần Quang Quý.

Nội dung, chủ đề nhiều bài thơ trong Namkau là những điều rất đỗi quen thuộc, nhưng nhờ nghệ thuật “lạ hóa” ngôn ngữ, và truyền vào ngôn ngữ cái khí lực dào dạt của tác giả, thơ Trần Quang Quý trở nên hấp dẫn. Muộn thu, Rêu Tháp Rùa, Tóc yêu, Vườn đêm, Tháng ba quê, Tươi, Dị biến… là những bài thơ rất riêng và hấp dẫn.

Tôi mọc rêu lên tận đỉnh Tháp Rùa
nghe gió mọc ngàn năm hoang cổ
sóng vặn đáy hồ mở sáng huyền ảo

Tháp Rùa cũng mọc rêu sang tôi
bằng ánh thép thanh gươm trả nợ
(Rêu Tháp Rùa)
Những bài thơ đọng lại được, lại là những bài chạm đến những vấn đề nhân sinh vượt ra ngoài những nghĩ suy của nhà thơ, và những bài thơ tình quê đậm hương ca dao. Những bài như thế không có nhiều trong tập Namkau:
Phố vắng tanh như phố bỏ hoang
Chỉ tiếng rao “muối đê” khía đến sót lòng
Muối ướp cứng cả thành phố lạnh

Người bán muối mang ngày thiêng đời mình đi bán lẻ
Hy vọng thu về những mảnh vụn mùa xuân
(Hà Nội sớm mồng 1 tết)

Những bông hoa nở bên hàng rào nhà ta
triền cỏ ven đê mê bước chân chiều
hoa nở tím làm mùa hè chùng lại

Bóng em vừa ngang qua ngõ ấy
bỗng tươi lại hồn làng
(Tươi)

Tôi không bận tâm nhiều về kiểu thơ năm câu mà Trần Quang Quý đề xuất. Những bài thơ ngắn có các cấu tứ như namkau đã có trong tập thơ trước. Khi bị đóng khung vào một cái khuôn, tôi có cảm giác chật chội. Khí chất Trần Quang Quý là phóng túng, khi thì trữ tình – lãng mạn – bay bổng, khi thì mạnh mẽ – quyết liệt – cô đặc. Ngôn ngữ luôn vượt ra ngoài cái “chuẩn” thường ngày, và bị làm cho “lộn ngược”, câu thơ bị phá vỡ cấu trúc tạo ra nhiều lớp nghĩa. Khi ông đóng đinh mình vào khuôn namkau, sự phong phú khoáng đạt của thơ Trần Quang Quý bị ức chế. Mỗi bài namkau chỉ khai thác một chi tiết, một ý tưởng, và nhiều khi, đó chỉ là những suy nghĩ vụn của nhà thơ bất chợt (Ngẩng, chiếc răng khểnh, Đỉnh, nằm, tiếng cá quẫy, Ngón, tiếng chim hót, Giọt sương, Thấy, Dìm, tiếng Violon…). Kiểu lập tứ quy nạp tuy có gây sự kinh ngạc phát hiện, song nhiều bài, câu kết lộ ra những ý tưởng chủ đề cũ và nhạt, nhà thơ phơi trắng ra tất cả, ý tưởng nguyên vẹn là ý tưởng, chưa cất cánh thành thơ.
Bên sen thấy trời rộng
hương sen nâng ngàn dặm mây xa
hồ xanh dịu bằng màu hoa thanh khiết

Bí quyết ư, giản dị
cả vạn năm tu rễ ở bùn
(Sen)
Tôi nghĩ rằng kiểu thơ năm câu chỉ đạt tới giá trị của nó khi thơ trở thành thơ tư tưởng như Tứ tuyệt hay Haiku chẳng hạn. Nếu chỉ là những ý nghĩ vụn như thể: “Ngẩng lên là khoảng rỗng/ nhưng sẽ thấy bầu trời” (Ngẩng), hay “Khai quật đen/ phượng chắt đỏ hè” (Đỏ) thì namkau không thể đứng vững được.

MỘT HÀNH TRÌNH

Mười năm thơ (2006-2016) là một hành trình sáng tạo. Trần Quang Quý tỏ ra sung sức và dồi dào năng lực sáng tạo. Tôi rất ít thấy Trần Quang Quý lặp lại từ ngữ, cảm xúc hay thi liệu. Dù viết lại một đề tài, ông vẫn có những khám phá mới. Hành trình ấy đã trở thành một con đường, và in rất đậm vóc dáng lực lưỡng nhưng thanh thoát của nhà thơ. Trần Quang Quý kế tục thơ truyền thống ở mạch trữ tình, ở những tình cảm yêu thương, những trăn trở về phận người, cả những cảnh ngộ bất hạnh. Dù ở New York, hay ở sông Hằng Ấn Độ; ở Sơn Tây hay ở Đất Mũi; trên bãi biển, trên những con đường quê hay ở giữa phố thị; dù đối mặt quyết liệt với hiện thực hay bay bổng với lãng mạn tình yêu hổn hển hơi thở phồn thực, nơi nào ông cũng ghi nhận, cũng cảm, cũng nghĩ và viết những dòng thơ đủ sức neo vào lòng người đọc ấn tượng thẩm mỹ, những nghĩ suy của ông hòa trong những nghĩ suy của người đọc.

Con đường thơ của ông là con đường “tự thức” để thực hiện “giấc mơ gieo hạt”. Ông từ chối: “Những cơn bão ngôn từ có lúc muốn lồng lên/ cả tiềm thức cũ mèm hay ngữ nghĩa vừa khoác manh áo mới từ vựng/ những con chữ cởi trần, không câu nệ xiêm y mỹ tự…” (Ngoặc đơn – Màu tự do của đất)). Ông “tháo ngoặc” để con chữ được tự do. Và gần như ông tháo tung tất cả cấu trúc ngữ pháp, cấu trúc thời gian, không gian, cấu trúc câu truyện (xin đọc Bước yêu và Bạn đến ở trên) để tạo những cấu trúc mới. Ông từ bỏ những thi liệu cũ, những đề tài cũ, những cách viết cũ, những góc nhìn cũ mà nhiều nhà thơ cho đến nay vẫn “ăn mày quá khứ”, để dấn thân khai phá những “vỉa tầng” mới của tâm hồn thời đại. Với những nỗ lực ấy, Trần Quang Quý thực sự đóng góp vào sự đổi mới thơ Việt đương đại, sự đổi mới có ngọn nguồn truyền thống. Hướng đi này có nhiều triển vọng, bởi những nỗ lực đổi mới thơ Viết từ những năm 1990 đến nay theo hướng Hậu hiện đại dường như đã chững lại, trong khi Trần Quang Quý vẫn đang tiến về phía trước trong hành trình thực hiện “giấc mơ gieo hạt” của mình.

Kính chúc nhà thơ tiếp tục mở khóa và đi tiếp những bước mạnh mẽ tràn đầy sinh lực, phóng túng bay bổng về phía sự sáng.

Tháng 2. 2018
_______________
[1] Trang thơ tự chọn Trần Quang Quý:
http://vanvn.net/chuyen-van-chuong/trang-tho-tu-chon-cua-nha-tho-tran-quang-quy/845

ĐỌC LẠI “TUỒNG THƯƠNG KHÓ” CỦA J.-B TÒNG

BẠN CÓ THỂ ĐỌC CÁC BÀI VIẾT CHÍNH CỦA BÙI CÔNG THUẤN THEO LINK: buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

_________________________________________________________________

ĐỌC LẠI TUỒNG THƯƠNG KHÓ CỦA J.B. TÒNG

Bùi Công Thuấn

***

Bài viết “Kể chuyện Tuồng Thương khó diễn ở trường Latinh Sàigòn năm xưa” của nhà nghiên cứu văn học Công giáo Lê Đình Bảng và bài: “Sau 100 năm đọc lại Tuồng Thương khó – kịch bản sân khấu hiện đại đầu tiên của người Việt” của PGS-TS Võ Văn Nhơn là những bài nghiên cứu công phu, cung cấp cho người đọc vốn hiểu biết sâu sắc về Tuồng Thương Khó của ĐGM Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng (1868–1949).

Hai công trình này cũng đồng thời đặt ra nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu [[1]]. Bài viết này chỉ xin góp một vài điều ghi nhận được khi tôi đọc lại Tuồng Thương Khó của J.-B.Tòng trong tương quan với hai bài viết của các học giả trên.

VĂN BẢN “TUỒNG THƯƠNG KHÓ” CỦA J. B. TÒNG

1.Trang bìa bản in Tuồng Thương Khó (in lần thứ ba) năm 1923 ghi như sau:

            2.Trong Tiểu dẫn (in lần thứ nhứt), viết “ngày lễ Các Thánh Nam Nữ, mồng 1 Novembre 1912”, J.-B. Tòng ghi:

“…tuồng Thương khó một ngày một ra việc cả thể, trọng tốt lạ lùng, nhứt là tại làng Ober-Ammergau, trong xứ Bavière, thuộc về nước Allemagne.

Số là năm 1632, bổn đạo làng ấy bị thần khí dữ dằn quá lẽ, tưởng chết tuyệt cả làng. Bấy giờ kẻ lớn trong dân hiệp nhau mà khấn hứa, xin Đ. C. T. cho khỏi nạn thì sẽ làm tuồng Thương khó mà tạ ơn Chúa. Khấn hứa đoạn, liền dứt họa tai, chẳng còn một ai phải chết.

Từ ấy đến rày, gần 300 năm, bổn đạo Ober-Ammergau hằng giữ lời khấn ấy luôn: hễ 10 năm thì làm tuồng Thương khó một lần mà nhớ ơn trọng Chúa đã ban cho mình. Làng Ober-Ammergau …nhờ tiền cúng hỉ, góp nhóp lâu năm, thì đã sáng tạo một trường hát trọng tốt, cùng cất một toà nhà đồ sộ phi thường, đủ ghế bàn cho bốn năm ngàn người ngồi coi, khỏi mưa nắng. Tuồng ấy có năm làm đi làm lại bốn năm chục lần, cho mọi người coi được hết thảy, mà mỗi lần mỗi có bốn năm ngàn người. Tứ phương thiên hạ đua nhau tuôn đến: đủ mặt viên quan chức sắc, phần đời phần đạo, cho tới vì vua chúa công hầu, cùng hàng Giám mục, cũng thân chinh ngự đến thú quê, mà xem cuộc lạ lùng thể ấy” (tr.7)…

Năm 1905, bổn đạo thành Nancy bên nước Langsa, cũng noi theo cách thức Ober-Ammergau, mà làm tuồng Thương khó cả thể lắm. Hơn 2000 người coi, đều ngợi khen chẳng xiết. Ai cũng nói: coi một tuồng bằng nghe mười bài giảng rất khoan ngôn ngữ” (tr.8)…

Tôi thấy sẵn dịp rất trọng là Lễ Ngũ Tuần Nhà trường Latinh Sài-gòn sẽ làm năm tới (Avril 1913), sẵn lòng rộng rãi chư vị giáo nhơn phụ giúp, sẵn nhiều quý hữu đồng tâm hiệp lực, nên tôi mới dám ra công mà dọn tuồng nầy”(tr. 9).

Trong phần “Tiểu dẫn” tôi trích ở trên, có mấy điều cần được lưu ý:

  1. Chữ “tuồng Thương khó” viết thường, không viết hoa tất cả 3 chữ, nghĩa là

 “tuồng Thương khó” không phải là tên riêng của một tác phẩm nhất định. Đó chỉ là tên gọi một vở tuồng, diễn lại sự thương khó của Đức Giêsu (do bất kỳ ai soạn). Giống như ngày nay, nhiều xứ đạo, mùa lễ Giáng sinh, đã tổ chức “Diễn nguyện” canh thức Giáng Sinh. Giáo xứ tổ chứ buổi trình diễn “sân khấu hóa” Kinh thánh,  diễn lại lịch sử ơn Cứu Độ. Mỗi xứ, căn cứ vào Kinh thánh, mà tự soạn một kịch bản cho riêng xứ mình. Nội dung “cốt truyện” bảo đảm những gì được tường thuật trong Kinh thánh, còn việc cấu trúc vở diễn, chia hồi, phân cảnh, dựng phông nền, trang phục, dùng nhạc nền, diễn xuất thế nào, thì tùy mỗi nơi “tự sáng tạo”, tự đạo diễn. Nghĩa là không có một “kịch bản” Giáng Sinh có tác giả, được in ấn, được Imprimatur phổ biến rộng rãi để tất cả các giáo xứ cùng diễn như diễn một vở kịch chính thức (thí dụ kịch bản của Shakespear, của Molière..). Kịch bản “tuồng Thương khó” diễn ở nhiều nơi ngày xưa có lẽ cũng thuộc dạng ấy.

Rõ nhất là trong “Tiểu dẫn”, tác giả J.-B Tòng cũng không nói gì đến tác giả kịch bản “tuồng Thương khó”. Ông chỉ viết: “Số là năm 1632, bổn đạo làng ấy bị thần khí dữ dằn quá lẽ, tưởng chết tuyệt cả làng. Bấy giờ kẻ lớn trong dân hiệp nhau mà khấn hứa, xin Đ. C. T. cho khỏi nạn thì sẽ làm tuồng Thương khó mà tạ ơn Chúa. Khấn hứa đoạn, liền dứt họa tai, chẳng còn một ai phải chết”.

 Vì “tuồng Thương khó” của dân làng Ober-ammergau không có tác giả, không có kịch bản, điều này giúp xác định tác giả kịch bản “TUỒNG THƯƠNG KHÓ” chúng ta đang đọc là của J.-B. Tòng dọn năm 1912.

J.-B Tòng ghi “nguồn”của vở tuồng này là:

Đã dọn theo sách Gẫm sự thương khó Đ.C. G. và theo tuồng Thương khó đã làm tại Ober-Ammergau và tại thành Nancy”.

b. Có lẽ nhà nghiên cứu Lê Đình Bảng và những người đi sau ông chỉ tham khảo thông tin trên Nam Kỳ Địa Phận nên đã ghi nguồn như sau:

Theo ghi nhận của Tuần báo Nam Kỳ Địa Phận vào năm 1632 – 1633, đã xảy ra ôn dịch trầm trọng khắp trong ngoài làng Ober-ammergau, nước Đức. Cha sở hiệp cùng bà con khấn xin Chúa ra tay cứu chữa, với lời hứa sẽ trình diễn “Tuồng Thương Khó” để tạ ơn và Chúa đã nhận lời. Ngay năm sau (1634), vở tuồng ra mắt tại sân nhà thờ xứ. Tiếng lành đồn xa. Người khắp nơi tuốn đến xem, đông đến nỗi ban hành giáo phải tranh thủ dựng một nhà rạp – sàn diễn có sức chứa 5000 chỗ ngồi. Từ ấy đến tận năm 1934, nghĩa là xuyên suốt 300 năm, đến hẹn lại lên, sân khấu nhà thờ Oberammegau cứ đỏ đèn đón khách thập phương tựu về, vửa để thông công ơn phước Mùa Chay thánh, vừa được thưởng thức kịch tuồng. Từ một làng quê xa lắc xa lơ của xứ sở Bavaria, “Tuồng Thương Khó” theo bước chân truyền giáo không mệt mỏi của các thừa sai đi đến khắp nơi. Người ta đã chuyển dịch, biên tập, mô phỏng và diễn xuất “tuồng thương khó” bằng nhiều ngôn ngữ, phong cách nghệ thuật đa dạng của các nước Âu Châu, và cuối cùng đã dừng lại, hội nhập vào sân khấu tuồng kịch của miền đạo xa lạ tận Viễn Đông này là Việt Nam” (nguồn: Ở thượng nguồn thi ca công giáo việt Nam/ miền thơ trong kinh nguyện, trang 460 – 468; Nxb Tôn Giáo 2009)

Xin lưu ý: Lê Đình Bảng không cho biết ông căn cứ vào báo Nam Kỳ Địa Phận số mấy, năm nào; và chữ “Tuồng Thương Khó” ông viết hoa cả 3 chữ, nghĩa là, đó là một tác phẩm có văn bản và bản quyền. Theo mạch lập luận, ông cho rằng kịch bản Tuồng Thương Khó ấy của dân làng Ober-ammergau đã hội nhập vào tuồng kịch Việt Nam. Nhưng ông không nói rõ việc hội nhập ấy diễn ra cụ thể thế nào. Việc ông suy diễn “Người ta đã chuyển dịch, biên tập, mô phỏng và diễn xuất “tuồng Thương khó”(của dân làng Ober-ammergau) bằng nhiều ngôn ngữ, phong cách nghệ thuật đa dạng của các nước Âu Châu” là không có cơ sở. Những diễn giải như vậy của Lê Đình Bảng cần được xem lại vì sai lạc so với “Tiểu dẫn” của tác giả kịch bản J.-B Tòng (xin đối chiếu).

c.Tác giả Vinhsơn Vũ Đình Đường cho biết:

Truy nguyên nguồn gốc sự kiện trên, tuần báo Nam Kỳ Ðịa Phận số 1306 cho biết thêm chi tiết, vào năm 1632 và 1633 đã xảy ra nạn ôn dịch trầm trọng rải rác khắp trong ngoài làng Oberammergau nước Ðức. Bấy giờ Cha sở cổ động cùng bà con giáo dân khấn nguyện xin Chúa ra tay cứu chữa, với lời hứa sẽ trình diễn “Tuồng Thương Khó” để tạ ơn và Chúa đã nhận lời. Ngay năm sau 1634, giữ lời hứa, vở tuồng đã ra mắt tại sân nhà thờ. Người tứ phương thiên hạ tuốn đến xem đông đến nỗi Ban Chức việc họ đạo phải mau chóng dựng một nhà rạp quy mô có sức chứa trên 5.000 chỗ ngồi. Từ năm đó đến nay, đến hẹn lại lên, diễn viên đồng loạt về ôn tập nhập vai, dụng cụ trình diễn sửa sang sẵn sàng, sân khấu nhà thờ Oberammergau lại dựng rạp chờ đón khách thập phương tề tựu về. 10 năm một lần tái diễn lại vở tuồng kính nhớ sự thương khó Chúa đã chịu chết để gánh tội cho nhân loại. Mọi tín hữu cùng thông công, lãnh nhận ơn phước trong mùa Chay Thánh”.

Riêng tại Việt Nam cũng có “Tuồng Thương Khó” của linh mục Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng (1868-1949), vì vào năm 1911, lúc ấy cha còn đang phụ trách ký lục (thư ký) Tòa Giám mục Sài Gòn, đã khởi sự soạn “Tuồng Thương Khó” dựa vào bản văn ngoại ngữ đã trình diễn ở làng Oberammegau, thêm phần tham khảo tư liệu từ “Sách Gẫm Sự Thương Khó Chúa Giêsu” đã có sẵn…”[[2]]

Xin lưu ý: Tác giả Vinhsơn Vũ Đình Đường ghi rõ J.-B Tòng đã “dựa vào bản văn ngoại ngữ đã trình diễn ở làng Oberammegau”…Tôi e rằng điều này chỉ là võ đoán, vì trên báo Nam Kỳ Địa phận không có thông tin ấy:

Báo Nam Kỳ Địa Phận số 1360, năm 1934, tr. 393, có bài: “Kỷ niệm Tam bách niên diễn Tuồng Thương Khó tại Oberammergau 1634-1934” ghi như sau:

“Vốn bấy lâu làng Oberammergau mà nổi danh lừng lẫy trong hoàn cầu là nhờ diễn tuồng Thương khó Đức Chúa Giêsu.

Nguyên năm 1632 và 1633, tại miền xứ nầy bị bịnh ôn dịch dữ dằn quá đỗi, ai nấy đều hoảng vía kinh hồn, người ta phải bỏ làng nước mà đi nơi khác cho đặng lánh nạn ôn dịch, phần nhiều thì đã ra ngã lòng rũn chí…Bấy giờ những kẻ lớn trong dân và là đầu mục các giáo hữu, bèn nhóp hiệp nhau lại trong nhà thờ mà làm lời hứa trọng thể rằng: Nếu Chúa khấng cứu chữa dân nầy cho qua khỏi cơn ôn dịch thì hằng năm họ sẽ diễn tuồng Thương khó mà cảm tạ đội ơn Chúa. Hẳn đã đặng nhậm lời như lòng dân sở nguyện, vì lúc ấy liền dứt cơn ôn dịch. Cho nên qua năm sau 1634 thì họ khỉ sự diễn tuồng Thương khó lần thứ nhứt, và từ ấy đến nay, nhơn dân làng Oberammergau hằng giữ lòng trung thành một trực lời hứa ấy với Chúa luôn.

Ban đầu thì người ta diễn tuồng trong nhà thờ, song sau thiên hạ đến xem càng ngày càng đông, cho nên họ phải diễn ra ngoài sân. Sau hết người ta đã xây dựng một kịch trường lớn rộng chứa đặng 5000 người…”

Xin ghi nhận: bài báo trên Nam Kỳ Địa Phận không ký tên tác giả. Bài báo viết năm 1934, so với Tiểu dẫn của J.B.Tòng (lần in thứ nhứt năm 1912) không có gì sai lạc.

Tiếc là, cả hai tác giả Lê Đình Bảng và Vinhsơn Vũ Đình Đường đã không bảo đảm tính chân thực khoa học của “nguồn” khi trích dẫn, lại tự suy diễn, thêm thắt vào những chi tiết sai lạc so với “nguồn” là Tiểu dẫn của J.B.Tòng và tuần báo Nam Kỳ Địa phận. Điều này có thể gây lầm lẫn cho những nhà nghiên cứu đi sau, nếu họ không đọc trực tiếp Tiểu dẫn của J.B.Tòng (lần in thứ nhứt 2012) và tuần báo Nam Kỳ Địa phận (số 1360, năm 1934).

NỘI DUNG CỦA “TUỒNG THƯƠNG KHÓ”

Nội dung kịch bản Tuồng Thương Khó của J.-B Tòng gồm 2 phần, chia thành 16 “Thứ”, mỗi Thứ (có thể) chia làm nhiều “Hồi”. Mỗi Thứ, mỗi Hồi đều có nhan đề.

Phần Prélude (khúc dạo đầu) dặn dò khán giả:

“Trước khi giáp tuồng, thì mở đầu, như sau: Thầy giảng nói ít lời về tuồng Thương khó, và khuyên kẻ xem phải có lòng thế nào…- Bề ngoài, xin làm thinh và đừng cười, nhứt là khi nhằm chỗ không nên cười…- Lại tuồng nầy, dầu làm giỏi thế nào cũng không nên vỗ tay mừng ngợi.

Đoạn kéo màn ra. Liền thấy đô hội thiên thần sấp mình kính lạy cây Thánh giá lớn dựng giữa rạp hát; cũng một khi ấy nghe hát kinh…”

***

Ngoài lời thoại, kịch bản còn có “lời dẫn” (để trong ngoặc đơn) hướng dẫn cách diễn (Xin xem Thứ thứ  12, Hồi II; Thứ thứ 15, Hồi thứ nhứt; và Thứ thứ 16).

Chữ viết tắt trong kịch bản: Đ C G là Đức Chúa Giêsu

                                                     PHẦN THỨ NHỨT

                                       Từ khi Đ C G vào thành Giêrusalem

                               cho đến khi Giudà nộp Người trong tay quân dữ

Thứ thứ nhứt: Đ C G vào thành Giêrusalem

Nhân vật: Đ C G, Tông đồ, Kẻ buôn bán, Dân.

Hồi thứ nhứt: Đ C G vào thành Giêrusalem

Hồi thứ hai: Đ C G đuổi kẻ buôn bán trong đền thờ

Thứ thứ hai: Công đồng hội nghị tại nhà Caipha

Hồi thứ nhứt: Caipha, Nathanael, Ephraim, Annat, Misael

Hồi thứ hai: Mấy người trước, Nathanael, kẻ buôn bán

Thứ thứ ba: Đ C G từ giã Đức Mẹ (tại nhà ông Ximong ở làng Bêthania). (Tr. 39)

            Nhân vật: Đ C G, Đức Mẹ, Ximong, Madalenna, Môn đệ, Thánh nữ

Thứ thứ tư: Đ C G đi thành Giêrusalem

Hồi thứ I: Đ C G và 12 tông đồ

Hồi thứ II: Mấy người trước, trừ ra Vêrô và Gioang

Hồi thứ III: Giudà (một mình)

Hồi thứ IV: Giudà và Nathan, là người buôn bán

Hồi thứ V: Mấy người buôn bán vào

Hồi thứ VI: Giudà

Thứ thứ năm: Đ C G lập phép Thánh Thể (tr. 55)

            Đ C G và 12 tông đồ (ngồi bàn)

            (Đ C G rửa chân cho tông đồ)

            (Các tông đồ có ý kiến)

Thứ thứ sáu: Đ C G vào vườn Giếtsêmani (tr. 65)

            Hồi thứ I: D C G và tông đồ: Giacôbê tiền, Vêrô, Tadêu

            Hồi thứ II: Mấy người trước, Thiên thần dâng chén (tr. 72)

            Hồi thứ III: Mấy người trước, Đathan, Giudà, Selpha (đội trưởng), Malcô (kẻ bị chém đứt tai), Pharisiêu và lính: Giudà dẫn lính đến bắt Chúa Giêsu.

                                                     PHẦN THỨ HAI

                                   Từ khi Giudà nộp Đ C G trong tay quân dữ

                                                cho đến khi Đ C G sống lại

Thứ thứ bảy: Đ C G chịu dẫn đến nhà Annat:

        Hồi thứ I: Annas, Esdrast, Misael, (bàn luận lúc chờ giải Chúa đến)

        Hồi thứ II: Mấy người trước, Đ C G, Lính

Thứ thứ tám: Đ C G chịu dẫn đến nhà Cai pha

        Hồi thứ I: Công đồng, Đ C G, Lính

        Hồi thứ II: Mấy người trước, Chứng (Họ tìm cách luận tội Chúa Giêsu)

        Hối thứ III: (Gamaliel và Nicôđêmô bên vực Chúa Giêsu trước mặt Caipha),

        Hồi thứ IV: Gioang, Vêrô, Lính, Gia nô, Nữ tỳ:

               (Họ sưởi lửa. Phê rô chối Chúa).

        Hồi thứ V: (Vêrô một mình, làm thinh một hồi, bộ buồn lắm- Phê rô độc thoại ăn năn).

Thứ thứ chín: Giudà ngã lòng trông cậy trông (tr.96)

        Nhân vật: Công đồng, Giudà, Caipha:

        (Họ kết án tử Chúa Giêsu, Giudà hối hận muốn chuộc lỗi lầm nhưng bị từ chối).

Thứ thứ mười: Đ C G chịu Philatồ tra xét (tr.101).

         Hồi thứ I:

  Nhân vật: Công đồng, Đ C G, Philatồ, Quan quân

             (Philatồ hỏi đức Giêsu phạm tội gì, thấy Ngài không đáng án tử).

         Hồi II: Philatồ, Đ C G, lính (trong dinh):

   (Nội dung: Philatồ hỏi Chúa Giêsu. Ngài nói, nước Ngài thuộc về chân lý: “Min là vua. Min đã sinh ra cùng đã xuống thế, là có ý cho đặng làm chứng sự thật: hễ ai theo lẽ chơn thật, thi nấy nghe lời Min”.(tr.108)

         Hồi thứ III: Mấy người trước, một thể nữ

              (Nội dung: Philatồ từ chối phê án tử Đức Giêsu. Ông ta nói, Đức Giêsu là người Galilê, hãy đem cho vua Hêrode xử, vì Herode là vua xứ Galilê).

Thứ thứ mười một: Đức Mẹ sầu bi (ở nhà Vêrônica) (tr.112)

          Nhân vật: Đức Mẹ, Ximong, Ladarô, Verônica, Mátta, Madalenna, Eliacin, Vêrô, Gioang:

          (Nội dung: bàn bạc, lo lắng việc Chúa bị bắt, Giudà phản bội, Phêrô chối Thầy. Đức Mẹ đi tìm con để cùng chịu chết: “Gioang, con chạy đi coi thì sự thể nào, rồi trở về đem Mẹ đi chịu tử hình cùng Con Mẹ”).

Thứ thứ mười hai: Đ.C.G. chịu đánh đòn cùng chịu đội mũ gai (116)

          Hồi thứ I: Các nhân vật: Công đồng, Philatồ, Quan quân. Kẻ buôn bán. Đ C G mặc áo trắng. (Nội dung: Caipha và đồng bọn cáo tội Chúa Giêsu song Philatô chỉ cho đánh đòn).

          Hồi thứ II: Các nhân vật: Mấy người trước, trừ ra Philatồ

          (Nội dung: Caipha nói với Annat đi gặp dân, kéo họ đến đây: “Philatồ muốn nghe tiếng dân, thì có sức mà nghe

          Hồi thứ III:

Nhân vật : Đ C G, Lính, Lý hình

          Lời dẫn: tr. 120 (“Hồi nầy là Đ C G chịu đánh đòn và chịu đội mũ gai, không làm chán chường cho người ta thấy. Hoặc thầy giảng nói ít lời, kể lại những sự đau đớn sỉ nhục Đ C G phải chịu trong lúc nầy. Hoặc hát kinh ám hạp cùng sự đánh đòn và đội mũ gai… rồi dở màn qua Thứ sau, thấy Đ C G tan nát cả mình, đầu đội mũ gai, mặt mũi đầy những máu cùng nước miếng, tay cầm gậy nứa, vai choàng một manh áo đỏ”.)

          (Hồi này không có lời thoại).

Thứ thứ mười ba: Đ C G bị án tử

          Nhân vật: Công đồng, Philatồ. Đ C G. Quan quân, Dân

          (Nội dung: Philatồ quyết bênh vực chúa Giêsu, nhưng Caipha xúi dân xin Philatồ phê án tử. Sau cùng ông ta rửa tay tuyên bố không liên can đến việc giết Đức Giêsu).

Thứ thứ mười bốn: Đ C G vác thánh giá lên núi Calavario.(tr.129)

          (Lời dẫn: Quan Cai đi đầu, cầm gậy phép mà cai quản. Kế Quan Cỡi Ngựa cầm cờ nước Rôma. Rồi Đ C G vác thánh giá. Bốn Lý Hình theo giục đi cho mau… Công đồng, Thầy Cả Pharisiêu, Quan quân, Dân sự la lối hỗn hào…—Nửa đàng gặp Ximong Cyrênô)

          Nhân vật: Đức Mẹ, Madalenna, Vêrônica, Thánh Nữ, Giude Arimathia (bởi Bêthania mà đến).

           (Tóm tắt: quan quân giục Đức Giêsu vác thánh giá đi nhanh, nó bắt Ximong vác đỡ. Đức Mẹ và các môn đệ đến gặp Chúa. Vêronica trao khăn. Con cái Giêrusalem khóc thương Giêsu. Đức Mẹ quyết theo Chúa lên núi Calavario).

Thứ thứ mười lăm: Đ C G chịu đóng đinh trên cây thánh giá (tr.137).

          Hồi thứ I:

          Lời dẫn: không đóng đinh cũng không dựng thánh giá chán chường trước mặt người ta. Song sẽ giãng ít lời thống thiết, hay là hát kinh thâm trầm. Rồi dở màn thất Đ C G chịu đóng đinh giữa hai tên trộm cướp.

          Nhân vật: Mấy người trước, Trộm lành, Trộm dữ Esdras

          (Nội dung: Annat, thầy cả, Caipha đối thoại về chiến thắng, về việc đổi nội dung bản án đóng trên đầu thánh giá Chúa Giêsu. Chúng chế nhạo Chúa. Lý hình chia áo. Hai tên trộm nói chuyện với Chúa. Chúa nói với Đức Mẹ và Gioan: Ớ bà, này là con bà. Nầy là Mẹ con. Chúa phó linh hồn trong ta Chúa Cha. Trời đất biến đổi, đền thờ rúng động. Tất cả bọn chúng đều sợ hãi. Chúng xin tha tội vì tin thật Đức Giêsu là con Đ C T).

          Hồi thứ II:

          Nhân vật: Mấy người trước (trừ ra dân), Nicôđêmô, Giude Arimathia,

          (Nội dung: Nicôđêmô xin chôn xác Chúa Giêsu, quan sai lính dùng đòng đâm  Đ C G. Madalena và Đức Mẹ đau lòng. Caipha bắt chôn Chúa cùng một huyệt với 2 tên trộm. Hắn còn đòi niêm mồ Chúa để xem sau ba ngày Chúa có sống lại như lời đã nói không)

          Hồi thứ III: Hạ xác

          Nhân vật: Đức Mẹ, Matta, Madalenna, Thánh Nữ, Gioang, Nicodemo, Giude Arimathia

          (Nội dung: Madalena, Gioang an ủi Đức Mẹ. Giude Arimathia, Nicôdêmô và Gioang lo việc hạ xác. Đoạn, Giude ôm xác Đ C G để trong lòng Đức Me. Madalenna đổ thuốc thơm, Giude đem xác Chúa vào vườn táng trong huyệt đá)

Thứ thứ mười sáu: Đ C G sống lại (tr. 153)

          Lời dẫn: Thứ nầy không có lời nói, một thấy những đều sau nầy:

  1. Đ C G sống lại, ra khỏi huyệt, sáng láng tốt lành; quân canh hãi hùng kinh khiếp.
  2. Đ C G thắng trận khởi hoàn; công đồng thẹn thuồng nhuốc hổ.
  3. Đ C G vinh hiển oai nghi, thần thánh hát mừng: Alleluia!…

Thứ nầy là thứ sau hết và trọng tốt hơn hết, thường gọi là Thiên đàng (Apothéose):

(hát)

          CHUNG
               ***

Ở mỗi Hồi, trước phần lời thoại của các nhân vật, có một bài thánh ca (Cantique) bằng tiếng Pháp, gồm một điệp khúc và 5 tiểu khúc. Theo chú thích ở trang 21, các kinh cùng Cantiques (Thánh ca) in trong cuốn tuồng Thương khó này, thì phần nhiều đã rút trong sách Cantiques cha A. Gravier, in tại nhà René Haton, Paris, – và nhà Procure des Frères de St Jean-de-Dieu, Paris. Khi diễn kịch, các học trò trường Latinh hát bằng tiếng Pháp.

 Thí dụ: (xem phụ lục) 

VỀ GIÁ TRỊ “TUỒNG THƯƠNG KHÓ” CỦA J.-B TÒNG

          Bài viết: “Sau 100 năm đọc lại Tuồng Thương khó – kịch bản sân khấu hiện đại đầu tiên của người Việt” của PGS-TS Võ Văn Nhơn và Đinh Phạm Phương Thảo là một bài nghiên cứu, tổng kết, đánh giá toàn diện về Tuồng Thương khó của J.-B.Tòng cả về nội dung, tư tưởng và nghệ thuật kịch bản (đd). Bài viết trình bày những luận điểm cơ bản, có giá trị nghiên cứu sau đây:

            1.Tuồng Thương khó là một vở kịch có chủ đề tôn giáo, nội dung khai thác từ Kinh Thánh. Các tuyến nhân vật chủ yếu thừa hưởng từ bốn Tin Mừng (của Matthew, Mark, Luke, John).  Sự sáng tạo về nhân vật làm vở kịch trở nên dày dặn và hoành tráng hơn. 

            2. Bao trùm tác phẩm là xung đột giữa Thiên Chúa và thế gian, giữa tình yêu và thù hận. “Đây là xung đột đóng vai trò cốt lõi của vở kịch, đồng thời cũng có ý nghĩa về mặt tư tưởng đối với niềm tin Công giáo, là mâu thuẫn mang ý nghĩa ơn cứu độ”. Trong Tuồng Thương khó, hành động kịch gần như diễn ra liên tục và ở hầu hết các tuyến nhân vật chính.

            3.Tuồng Thương khó là một vở kịch hiện đại trước hết bởi hình thức hoàn toàn văn xuôi. Tác giả vận dụng triệt để ngôn ngữ bình dân Nam Bộ, khán giả từ trí thức đến người bình dân cũng có thể xem, có thể hiểu, sống động như một câu chuyện thường ngày.

            4. Không lựa chọn cấu trúc của lối viết tuồng hát cũ hay kịch nói phương Tây, Nguyễn Bá Tòng lựa chọn một cấu trúc kịch rất riêng: “Dựa trên nguyên tắc của kịch cổ điển Pháp và tuồng cổ truyền thống, JB. Tòng đã hoàn thiện cấu trúc của vở Tuồng Thương khó với yêu cầu đảm bảo được các chức năng giao đãi, thắt nút, cao trào, mở nút của kịch hiện đại

            5. “Từ vở kịch này, chúng tôi muốn đặt ra một giả thuyết mới: Tuồng Thương khó có khả năng là vở kịch hiện đại viết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên do người Việt Nam viết. Đây hẳn là một vấn đề đáng được các nhà nghiên cứu văn học và nghệ thuật sân khấu lưu tâm”.

***

            Tất cả những luận điểm trên của PGS-TS Võ Văn Nhơn và Đinh Phạm Phương Thảo dựa trên “mặc định” Tuồng Thương Khó của J.-B Tòng là tác phẩm do Nguyễn Bá Tòng sáng tác. Nếu Tuồng Thương khó chỉ là tác phẩm được J.-B Tòng biên dịch hay phóng tác (như Lê Đình Bảng đã lưu ý) thì những nhận định ấy có còn nguyên giá trị? Điều này cần được xem xét cẩn trọng.

“Tuồng Thương khó” đã được dân làng Oberammergau diễn hơn 300 năm, sau đó lan tỏa nhiều nơi, đã diễn ở thành Nancy (Pháp), hẳn tác giả đã xem vở diễn này khi ông đối chiếu việc dàn dựng: “Bên Tây tập tành dọn dẹp cả năm, cả đời; mà đây có bốn năm tháng mà thôi”(Tiểu dẫn, đd). Jacques Lê Văn Đức trên tờ Nam Kỳ Địa Phận số 1748, ngày 17 Février 1943. (Tr.70) viết rằng: “Tôi có dịp xem “tuồng Thương khó”  nhiều lần, khi thì ở Nancy, khi ở Oberammergau, khi thì ở Paris trước tiền đường nhà thờ Notre Dame….

Như vậy, có thể Nguyễn Bá Tòng đã xem và kế thừa kịch bản cùng cách trình diễn Tuồng Thương khó của dân làng Oberammergau để viết kịch bản này. Bằng chứng rõ ràng nhất là các bài hát mở đầu mỗi Thứ, mỗi Hồi là thánh ca J.-B. Tòng rút trong sách Cantiques cha A. Gravier, in tại nhà René Haton, Paris, – và nhà Procure des Frères de St Jean-de-Dieu, Paris. Trong kịch bản, J.-B.Tòng để nguyên tiếng Pháp, khi công diễn ca đoàn cũng hát tiếng Pháp.

Thế nghĩa là, cấu trúc tác phẩm, những Thứ, những Hồi, hệ thống nhân vật, mâu thuẫn kịch, cách dàn dựng…(có thể) đã có từ kịch bản Tuồng Thương Khó của dân làng Oberammergau. Ta không rõ J.-B.Tòng dịch lại, phóng tác hay sáng tác Tuồng Thương khó của riêng mình năm 1911 (in 1912 và diễn 1913). Ông cho biết: “Đã dọn theo sách Gẫm sư thương khó Đ.C.G và theo tuồng Thương khó đã làm tại Ober-Ammergau và tại thành Nancy”. “Dọn” có thể là soạn lại một tác phẩm đã có, để tác phẩm ấy phù hợp với đối tượng mình hướng đến. Tức là bỏ đi những chỗ không phù hợp (Thí dụ, bỏ đi cảnh bạo lực: Chúa Giêsu bị đánh đập, bị đóng đinh), thêm vào những gì cần thiết, thay đổi những cảnh, những tình huống sao cho gần gũi với người Việt (Việt hóa triệt để mọi yếu tố của kịch). Ông đặt vấn đề: “Xưa nay đất Nam Kỳ chưa thấy cuộc tốt lành thể ấy. Mà như có làm ai dám trông đặng toàn hảo như các Nước Phương Tây? Như vậy tôi thấy sẵn dịp rất trọng là lễ Ngũ Tuần Nhà trường Latinh Sài gòn sẽ làm năm tới (Avril 1913)…nên tôi mới dám ra công mà dọn tuồng này” (Tiểu dẫn-đd). (Có thể hiểu, các nước Phương Tây đã diễn tuồng này hoàn hảo rồi, mình khó mà bằng họ?).

Xét đến cùng, nội dung kịch bản tuồng Thương khó là câu chuyện đã được kể trong 4 Kinh thánh của Mattheu, Luca, Maco và Gioan. Trình tự sự việc xảy ra, không gian, thời gian, nhân vật, cả lời thoại và hành động trong kịch bản cũng đã có sẵn trong Kinh thánh. Nghĩa là những giá trị tư tưởng, nghệ thuật, giá trị tâm linh của kịch bản là giá trị của Kinh thánh. Người viết kịch bản chỉ tái khám phá, tô đậm những giá trị ấy giúp người xem kịch cảm nhận sâu sắc hơn. Dù là dân làng Ober-ammergau hay bất cứ ai khi viết kịch bản diễn lại cuộc thương khó của Đức Giêsu cũng đều phải tuân thủ nghiêm nhặt những điều đã được thuật trong Kinh thánh. Tác giả kịch bản chỉ “sáng tạo” ở những yếu tố khác.

Tôi hiểu sự đắn đo của PGS-TS Võ Văn Nhơn khi viết: “Từ vở kịch này, chúng tôi muốn đặt ra một giả thuyết mới: Tuồng Thương khó có khả năng là vở kịch hiện đại viết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên do người Việt Nam viết” (đd). Điều này chỉ là hiện thực khi Tuồng Thương Khó là tác phẩm sáng tạo của riêng Nguyễn Bá Tòng. Nếu trái lại (Tuồng Thương khó chỉ là tác phẩm phóng tác, biên dịch), thì giả thuyết của PGS-TS Võ Văn Nhơn còn cần được nghiên cứu kỹ hơn.

NGÀY NAY ĐỌC LẠI TUỒNG THƯƠNG KHÓ CỦA J.-B TÒNG

          Trên báo Nam Kỳ Địa Phận ngày 15 Mai 1913 có một bài dài của ông Giude cảm nhận khi xem Tuồng Thương khó (J.-B Tòng đăng lại trong Tiểu Tự, in lần thứ hai, kịch bản Tuồng Thương khó). Bài viết phản ánh được khá sinh động không khí náo nức xem tuồng của công chúng, các cảnh diễn và và cảm nhận những lợi ích tâm linh  khi xem tuồng. Xin trích:

            “…Thật tôi lấy làm rất đỗi có phước, vì đã đặng xem tuồng Thương khó, là tuồng dẫn tích Chúa cùng Đức Mẹ đã chịu thương khó vì tội chúng tôi! Tôi bởi phương xa mà đến Sài gòn, nên phải đi tàu, đi xe lửa. Khi xuống tàu, lên xe, đều thấy người ta đông nức không chỗ ngồi; hỏi lại thì rõ là bổn đạo các nơi tuôn đến mà xem tuồng Thương khó…Nhiều họ có cha sở làm đầu đem đi: ai ai đều náo nức ngóng trông cho mau tới mà xem tuồng Thương khó; vì nhựt trình đã rao trước và tiếng thiên hạ đồn rực mấy tháng nay…

            …Số lần người ta xem tuồng mỗi lần độ ba bốn ngàn người…Khi vào trong rạp mà ngồi thì thấy công cuộc trần thiết rất trọng tốt xinh đẹp không cùng. Nghe nói ông Nguyễn Hữu Hào vẽ cái mặt tiền thật rất tốt và đầy những ý cao trọng…Trước mặt tiền thì có chữ đề rằng: SE MORIENS DAT IN PRETIUM: Chúa chịu chết mà chuộc tội ta…

. . . . . .

            Đến lúc Đ C G vác thánh giá, thật tôi chịu không đặng, vì thấy đoàn quân dữ như muông sói vây phủ bấu xé chiên lành. Đ C G bị xô đẩy, kéo lôi, rất tất tưởi. Khi đó tôi nghe thiên hạ khóc. Có người đứng sau lưng tôi lên tiếng rằng: Quân dữ bất nhơn! Trời ôi! Chúa té xuống nữa đó…

Khi Chúa trút linh hồn, có làm chớp tứ giăng kêu ầm ầm như tiếng sấm. Khi đó quân dữ chạy về khóc lóc ăn năn, cùng xưng Đ C G thật là Đấng vô tội, cùng là con Đ C T thật. Khi người lính đâm cạnh nương long mà thấy máu chảy ra, thì có kẻ đau đớn quá mà xỉu đi, vì thấy quân dữ bất nhơn độc ác quá lẽ như vậy!…”

Sau hết, tôi ước ao một đều là chớ chi những Đấng có quờn có thế hiệp nhau mà lập một hội để dẫn những tích thánh cho chúng tôi xem, vì là như bài giảng rất mạnh mẽ, có sức làm cho chúng tôi động lòng ghét tội và kính mến Chúa”.

***

Bài viết phản ánh sự thành công của tuồng diễn năm 1913 ở nhiều mặt, không chỉ ở kịch bản, chẳng hạn về trang trí sân khấu, rạp hát, về các cảnh diễn của diễn viên, về phản ứng sống động của người xem và về tác động tâm linh nơi giáo dân. Bài viết cũng miêu tả được tác động mạnh mẽ của nghệ thuật diễn tuồng (kịch) trong việc loan báo Tin Mừng…

Tuy vậy, cuộc diễn tuồng Thương khó năm 1943, sau 4 đêm diễn chật nich khán giả (và hàng ngàn người không mua được vé), được cả những chức trách trong đạo, ngoài đời giúp đỡ, nhiều lời khen ngợi, đêm diễn cũng không tránh được những lời chê bai. Jacques Lê Văn Đức (người đóng vai Đ C G trong Tuồng Thương khó của J.-B Tòng năm 1913), trong bài viết “Bái biệt tuồng thương khó 1943” trên Nam Kỳ Địa Phận đã viết [[3]]:

“Thậm chí có kẻ nói:’ Thà tôi bỏ tiền đi coi hát cải lương Phụng Hảo còn ngộ hơn’. Một người có đạo mà nói được câu nói đó thì tôi hết còn biết nói làm sao nữa…Có người nói: ‘Hát dở tệ, thua hồi 1924 quá xa’…Có kẻ trách Mr Lượng gạt gẫm người ta trong sự khen các vai tuồng quá thới”…

            Tôi trộm nghĩ, chuyện khen chê một tác phẩm nghệ thuật là lẽ thường. Nếu ngày nay tuồng này được diễn, (chỉ cần điều chỉnh một ít từ ngữ cho phù hợp với cách nghĩ, cách nói năng ứng xử của người hôm nay), thì giá trị của vở tuồng vẫn giữ nguyên.

Bởi vì, tác giả xây dựng được mâu thuẫn kịch căng thẳng từ đầu đến cuối (mỗi Thứ, mỗi Hồi đều có những mâu thuẫn kịch riêng, thống nhất với mâu thuẫn kịch trong toàn vở tuồng). Chất thẩm mỹ thể hiện phong phú ở nhiều Hồi, nhiều cảnh. Nhân vật được xây dựng có góc cạnh, sống động gây ấn tượng (thí dụ: Giudà, Caipha, Philatồ, Herode…); việc trình thuật, tổng hợp, trích dẫn và diễn giải Kinh thánh rất rõ ràng, thuyết phục; và đặc biệt thể hiện tư tưởng về Ơn Cứu Độ rất sâu sắc: Đức Giêsu lên Giêrusalem là để thực hiện thánh ý Chúa Cha. Ngài chịu chết để cứu rỗi nhân lọai. Không gì cản được con đường Ngài đi. Với lòng nhân hậu và xót thương, Ngài lẫm liệt đối mặt với cái ác và sự chết. Người chiến thắng mọi thế lực trần gian: cả Philatô và Herode đều không thể kết tội Ngài, trái lại họ còn được Ngài dạy bảo về chân lý. Đây là lời Philatồ: “ta đã tra hỏi phân minh mà không thấy người mắc tội gì đáng chết. Vua Herode đã tra xét trước mặt phô ông thì vua cũng đoán định như ta…”(Thứ thứ mười hai, Hồi thứ I, tr. 118). Tất cả sự dữ, bóng tối đều phải quỳ phục ăn năn. Kết thúc Tuồng Thương khó là cảnh Đức Giêsu Phục sinh vinh hiển (Thứ thứ mười sáu).

Thực hiện sứ vụ loan báo Tin Mừng của Giáo hội, tuồng Thương khó của J.B-Tòng có giá trị đặc biệt. Đó là sự tổng hợp, trích dẫn, diễn giải Kinh thánh rất rõ ràng, thuyết phục về cuộc thương khó của Đức Giêsu; là việc dựng lại trong đời thực: không gian, thời gian, nhân vật, sự việc công cuộc Cứu Độ của Đức Giêsu; trình bày được khuynh hướng tư tưởng chính trị của thời đại dân Israel dưới triều Philatô, Herode; giúp người xem hiểu con người thực các tông đồ của Đức Giêsu và từ đó có thể rút ra những bài học tâm linh. Tác giả kịch bản, đặc biệt thành công trong cấu trúc kịch, dẫn chuyện mạch lạc, xây dựng tình huống, khai thác mâu thuẫn, viết lời thoại bình dân gần gũi với người Việt và chú ý đến các chi tiết diễn một cách tinh tế (chẳng hạn không diễn cảnh bạo lực; hoặc dùng những bài thánh ca mở đầu để gợi mở nội dung, tư tưởng của mỗi Thứ, mỗi Hồi).

Về mặt nghệ thuật, tôi nhận thấy giả thuyết của PGS-TS Võ Văn Nhơn là có cơ sở: “Tuồng Thương khó là vở kịch hiện đại viết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên do người Việt Nam viết”.

Giả như J.-B Tòng có tham khảo tuồng Thương khó của dân Ober-ammergau trước đó, nhưng như tôi đã trình bày ở trên: Cốt truyện, nhân vật, tình huống, ngôn ngữ của tuồng Thương khó đã có trong Kinh thánh và sách Gẫm sự thương khó Đức Chúa Giêsu, nhưng khi viết thành kịch bản để diễn cho công chúng Việt Nam, tác giả J.-B.Tòng phải lao động sáng tạo (phải “dọn”) rất nhiều (thử so sánh với cách viết của Nguyễn Du khi viết Đoạn trường tân thanh, “dọn” từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân).

Tôi nghĩ, các tác giả Công giáo viết “Diễn nguyện” hôm nay có thể học được rất nhiều điều về nghệ thuật biết kịch bản từ Tuồng Thương khó của ĐGM G.B Nguyễn Bá Tòng. Tác phẩm này xứng đáng là một tác phẩm xuất sắc của văn học Công giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Tháng 9/ 2022

Bạn có thể download Tuồng Thương khó theo link:

https://www.mediafire.com/file/6gs3cv4m10w127n/Tuô_ng_thu_n_g_khó_(3e_éd_%5B…%5DNguyê_n_Jean-Baptiste_bpt6k4227963m.pdf/file


[1] Lê Đình Bảng: “Kể chuyện Tuồng Thương khó diễn ở trường La tinh Sài gòn năm xưa” .

http://giaodantanthaison.com/tin-chinh/tu-lieu-va-van-hoa/ke-chuyen-tuong-thuong-kho-dien-o-truong-la-tinh-sai-gon-nam-xua-le-dinh-bang.html

Võ Văn Nhơn-Đinh Phạm Phương Thảo: “Sau 100 năm đọc lại Tuồng Thương khó – kịch bản sân khấu hiện đại đầu tiên của người Việt”. Tạp chí Xưa và Nay, số tháng 6 năm 2021

[2] Vinhsơn Vũ Đình Đường: “Tuồng Thương Khó” diễn lại cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu”(14/4/2022)

http://www.cgvdt.vn/cong-giao-viet-nam/tuong-thuong-kho-dien-lai-cuoc-kho-nan-cua-chua-giesu_a14530

[3] Jacques Lê Văn Đức: Bái biệt tuồng thương khó 1943”, 3 số báo Nam Kỳ Địa Phận: số 1746 (tr. 44), số 1747(tr. 56), và số 1748 (tr.70).

______________________

PHỤ LỤC

2. Trang bìa Tuồng Thương Khó,  Imprimerie de la Mission, 1923 Quynhơn (hình)

3. “Kỷ niệm Tam bách niên diễn Tuồng Thương Khó tại Oberammergau 1634-1934”. Nam Kỳ Địa Phận số 1360, năm 1934, tr. 393. (hình) 

4.Jacques Lê Văn Đức: bài viết “Bái biệt tuồng thương khó 1943”. Nam Kỳ Địa Phận số 1746 (tr. 44), số 1747(tr. 56), và số 1748 (tr.70). (Hình)

Bài ca mở đầu (bằng tiếng Pháp).
Prélude

MỘT THOÁNG HÀ NỘI-Bùi Công Thuấn

BẠN CÓ THỂ ĐỌC CÁC BÀI VIẾT CHÍNH CỦA BÙI CÔNG THUẤN THEO LINK: buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

***

MỘT THOÁNG HÀ NỘI

Bùi Công Thuấn

Cổng Văn Miếu

Trong tâm thức tôi, có một Hà Nội rất đỗi thiêng liêng, vì đó là đất của hàng nghìn năm lịch sử và văn hóa Việt: Hà Nội-Thăng Long. Hà Nội có Văn Miếu-Quốc Tử Giám, có Hoàng thành Thăng Long, có viện bảo tàng lịch sử, có nhiều cửa ô, có gò Đống Đa, sông Tô Lịch, có nhiều hồ đẹp nổi tiếng: Hồ Gươm, Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch, Hồ Thiền Quang, Hồ Linh Đàm…Hà Nội cũng có nhiều nhà thờ có kiến trúc độc đáo: Nhà thờ lớn Hà Nội, nhà thờ Hàm Long, nhà thờ Thịnh Liệt, nhà thờ Cửa Bắc, nhà thờ An Thái…và không thể không đến thăm chùa Trấn Quốc…

Hà Nội hôm nay để lại trong tôi nhiều ấn tượng đẹp. Ở cà phê Trịnh Ca, chỉ hai nhạc sĩ rất trẻ (một Guitar, một Violin) đủ tạo nên một không gian âm nhạc thú vị, lịch lãm. Đêm xem kịch ở Nhà hát Tuổi trẻ, tôi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp văn hóa của cả các nghệ sĩ diễn kịch và công chúng trẻ Hà Nội. Tất cả cùng say mê, tất cả cùng một nhịp đập của trái tim yêu nghệ thuật, tất cả cùng hân hoan một niềm hạnh phúc mà chỉ có nghệ thuật mới đem lại cho họ.

Dù ở hàng quán, Restaurant, các Plaza, tiệm café hay ở góc phố, lề đường, vỉa hè, ở đâu tôi cũng thấy các bạn trẻ làm việc rất giỏi, họ lịch sự và rất chuyên nghiệp. Ở một quá cóc café, tôi yêu cầu bạn chủ nhỏ cho nghe bài “Yêu thì yêu, không yêu thì…yêu” của Amee. Chỉ một phút sau CD của Amee đã vang lên. Giọng ca thật trẻ trung và rất Hà Nội. Cũng có những cái đầu xanh, đầu đỏ, đầu trọc; cũng có những hình xăm, những model trễ ngực, hở lưng, hở rốn…nhưng người trẻ Hà Nội hôm nay tự tin và hiện đại hơn bao giờ.

Tôi cũng thấy những người già đội nón cối (nón bô đội) đạp xe xích lô giữa ngày nắng rất nóng, nhưng nụ cười vẫn tươi trên môi. Nhiều bác chạy xe Grab ngồi chờ khách, họ trò chuyện rôm rả, không hề có cảm giá mỏi mòn thất nghiệp. Cũng có chị nhà quê với thúng bán cốm lá sen ngồi ở lề đường phố làm tôi nhớ đến câu thơ của Nguyễn Đình Thi: “Gió thổi mùa thu hương cốm mới” (Đất Nước), có chị bán nhãn Hưng Yên, có chị gánh hàng rong kĩu kịt đi rao giữa khắp các ngả đường. Tôi ngạc nhiên khi thấy một bà già, ngầy như que củi, chạy một chiếc xe (kiểu xe ba gác đóng thùng ở miền Nam) đi bỏ đá cho nhiều quán ăn. Ở Hồ Tây, lác đác có người câu cá. Tôi đã chứng kiến một tay sát cá. Ông ta quăng mồi và giật cần câu liên tục. Những con cá lớn tươi rói. Cá được để trong rọ treo ở bờ hồ, thỉnh thoảng có người đến mua. Trong nhà hàng ở bờ hồ, phải nhiều tiền mới dám gọi những món cá này.

Buổi sáng, quanh hồ Hoàn Kiếm, người người tập thể dục. Nhiều nhóm người cùng tham gia. Các bà mang loa kéo ra bờ hồ nhảy múa theo nhịp nhạc. Nhiều tốp bước theo điệu Chachacha quyến rũ. Nhưng tôi chưa thấy nhóm bạn trẻ nữ nào nhảy Zombi (Zumba) ở đây cả. Các ông già tập đủ mọi tư thế, có cả khí công. Họ đưa tay, nghiêng đầu, ngoẹo cổ như các pho tượng Lan Hán chùa Phương Tây. Người chạy bộ từng đoàn, tá lả (tưởng như một đám biểu tình bị cảnh sát rượt chạy tán loạn). Một đoàn xe đạp ào ào vụt qua, tôi tưởng đó là một cuộc đua xe, hóa ra là họ tập thể dục. Tôi nói chuyện với một ông già ngồi bên quán lề đường. Ông vừa chạy nhiều vòng xe. Ông bảo, sáng nào ông cũng đạp xe vài cây số, rồi làm chai bia Sài gòn là sảng khoái. Tôi thích cái phong lưu của Nguyễn Tuân nơi những người già ở Hà Nội. Chiều cuối tuần, khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm được rào (chắn xe) để dành phố cho người đi bộ. Có những ban nhạc đường phố (kiểu phương tây) chơi nhạc rất chuyên nghiệp, nhiều người xem nhưng chẳng thấy ai cho họ tiền. Buổi tối ở “Phố Tây” Tạ Hiện, khách ngồi nhậu tràn cả ngã tư. Tây, ta, trắng, đen, chen chân vui vẻ. Nhạc Rock ở những quán café nhạc sống gần đó mở hết volume.

Ở Hà Nội tôi mong được gặp những nhà văn nhà thơ tôi quý mến, nhưng rồi… đành lỗi hẹn. Đó là các nhà thơ Lê Thành Nghị, nhà thơ Trần Quang Quý, nhà thơ Mai Văn Phấn, nhà văn Đỗ Tiến Thụy,…

Bỗng tôi gặp nhạc sĩ Phú Quang trên con phố rợp bóng cây:

“Người nghệ sĩ lang thang hoài trên phố

Bỗng thấy mình chẳng nhớ nổi một con đường”

            (Phú Quang- Em ơi Hà Nội phố)

Và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng đang tự hỏi:

Hà Nội mùa thu, đi giữa mọi người
Lòng như thầm hỏi, ‘tôi đang nhớ ai?’
Sẽ có một ngày, trời thu Hà Nội trả lời cho tôi
Sẽ có một ngày, từng con đường nhỏ trả lời cho tôi

            (Nhớ mùa thu Hà Nội)

Một thoáng Hà Nội sẽ theo tôi mãi: Ôi! Bao nhiêu tinh hoa của một thời cùng với những vinh quang đã rực rỡ hàng ngàn năm lịch sử.

Tháng 8/ 2022

***

Hồ Thiền Quang
Hồ Tây
Hồ Hoàn Kiếm
Hoàng thành Thăng Long
Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam
Nhà thờ lớn Hà Nội
Nhà thờ An Thái (Phố Thụy Khuê)
Nhà thờ cửa Bắc
Nhà thờ đá Phát Diệm (Nình Bình, cách Hà Nội khoảng 120km)
Cửa Bắc
Con đường gốm sứ
Cafe Trịnh Ca
Nhà hát tuổi trẻ Hà Nội. Các nghệ sĩ chào khán giả sau buổi diễn
Ban nhạc đường phố (phía trước có thùng đàn dùng để nhận quà của khách thưởng lãm)
Câu cá ở Hồ Tây
Xe Grab và xích lô chờ khách
Cafe Trịnh Ca
Ngã tư Tạ Hiện-Lương Ngọc Quyến (Phố cổ) khách nhậu ngồi tràn phố
Nhìn lại mình đời đã xanh rêu (Tình xa-Trịnh Công Sơn)

KHÔI VŨ & SÔNG LUỘC Ở PHƯƠNG NAM

BẠN CÓ THỂ ĐỌC CÁC BÀI VIẾT CHÍNH CỦA BÙI CÔNG THUẤN THEO LINK: buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

***

SÔNG LUỘC Ở PHƯƠNG NAM

và những “mã nghệ thuật”…

(Đọc tiểu thuyết Sông Luộc ở phương Nam cùa Khôi Vũ. Nxb Dân Trí 2022.

 Tác phẩm đoạt giải ba Cuộc thi tiểu thuyết 2016-2019 của Hội Nhà văn Việt Nam).

Bùi Công Thuấn

***

Nhà văn Khôi Vũ (ảnh của BCT-năm 2022)

            Nhà văn Khôi Vũ sinh năm 1950, quê ở làng Hới, huyện Hưng Nhân, tỉnh Thái Bình. Tính đến năm 2022 ông đã in 30 tập truyện, tiểu thuyết ký tên Khôi Vũ và 40 tập truyện, truyện dài cho thiếu nhi (ký tên Nguyễn Thái Hải).  Năm 1990, ông đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Lời nguyền hai trăm năm. Năm 2020 ông lại đọat giải cuộc thi tiểu thuyết 2016-2019 của Hội Nhà văn Việt Nam với tác phẩm Sông Luộc ở phương Nam ngay khi tác phẩm còn ở dạng bản thảo. Điều ấy khẳng định tài năng và tầm vóc nhà văn của Khôi Vũ đối với văn học Việt Nam đương đại.

Sông Luộc ở phương Nam của Khôi Vũ là một tiểu thuyết tự truyện. Nhưng nếu bạn đọc nghĩ đơn giản đó là truyện thật ngoài đời Khôi Vũ viết về gia đình mình và về chính mình thì đó là một ngộ nhận. Bởi vì Sông Luộc ở phương Nam là một tác phẩm hư cấu, mọi yếu tố của tác phẩm đã được đã được “mã hóa”. Nó có tiếng nói riêng…

PHƯƠNG NAM TRONG CÁI NHÌN CỦA KHÔI VŨ

Đó là một vùng đất đầy biến động

            Khôi Vũ ghi lại tất cả những sự kiện chính trị (cả những chi tiết nhỏ) diễn ra ở phương Nam suốt từ 1945 thời ông Quản còn đi lính tập cho Pháp đến những năm 2008, lần Thái về thăm quê. Đây là những gì Khôi Vũ ghi nhận:

            Ngày 23/10/1955, miền Nam trưng cầu dân ý. Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên thay Bảo Đại. Ngày 26/10, ông Diệm tuyên bố miền Nam là một nước Cộng hòa (tr. 21).

            Cuối năm 1956, tù nhân trại giam Tân Hiệp phá khám trốn ra. Nhiều người chạy về hướng chiến khu Đ (tr.48).

            Ngày 22/2/1957, tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát khi khai mạc hội chợ ở Ban Mê Thuột (tr.49).

Tháng 5/1959 chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành sắc lệnh 10/59 đặt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật (tr.60); Chiều 10/10/1960 đảo chính; ngày 10/12/1960 Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam được tuyên bố thành lập.

Năm Qúy Mão 1963, biến cố thượng tọa Thích Trí Quang xảy ra ở Huế. Đảo chính tháng10/1963.

Nguyễn Văn Trỗi bị xử bắn. Sự kiện vịnh Bắc bộ tháng 8/1964. Nửa đêm một ngày hạ tuần tháng 8 năm 1965, một loạt tiếng nổ vang lên liên hồi ở phía phi trường Biên Hòa.

Tính đến 1967,  bốn năm sau vụ đảo chánh tổng thống Ngô Đình Diệm, chính quyền miền Nam thay đổi đến chóng mặt”. Bầu cử, liên danh Thiệu – Kỳ đắc cử. Lính Mỹ, Đại Hàn, Thái Lan, Úc, Tân Tây Lan tràn vào Việt Nam.

            Năm 1968, sự kiện tết Mậu Thân. Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn Việt Cộng trên đường phố…Sau Mậu Thân, “cuối cùng Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa và Mỹ cũng đồng ý sẽ ngồi với nhau để bàn việc ngưng chiến”. Chuyện lính Mỹ sát hại dân thường ở Sơn Mỹ.

Từ 1969 đến 1974: Nguyễn Thái Bình, Jane Fonda phản chiến;  tướng Đỗ Cao Trí chết trận; 1971, Nguyễn Văn Thiệu tái đắc cử; 1972 “Mùa hè đỏ lửa”; Nick Ut đã chụp được bức ảnh “Em bé Napal”(tr.175); Hội nghị 4 bên Paris; Mỹ ném bom Hà Nội; 27/1/1973 ký Hiệp định Paris; 29/3/1973, lính Mỹ cuối cùng rời Việt Nam.

 Năm 1974, Trung cộng chiếm Hoàng Sa. Ở Long Khánh: trinh sát đánh mìn ở quán Hoàng Diệu, quán Ngọc Hương, quán Song Nga.

Từ tháng 3/1975, Buôn Ma Thuột thất thủ; rồi Huế, Đà Nẵng, Nha Trang liên tiếp thất thủ. Nguyễn Thành Trung ném bom Dinh Độc lập; Thị xã Long Khánh bị tấn công. Ngày 21/4/75 tổng thống Thiệu từ chức; Mỹ di tản. Ngày 29/4/1975 Dương Văn Minh lên thay. Ngày 30/4/1975 Dương Văn Minh đầu hàng.

Từ 1975 đến 1978: Nhà nước tiến hành tập trung học tập cải tạo với “ngụy quân, ngụy quyền” Sài gòn. Đổi tiền. Tháng 2/1976 sáp nhận tỉnh. Cuối năm 1976 đổi tên Đảng Lao động thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 9/1977 Việt Nam gia nhập Liên Hiệp quốc. Cuối 1978, tình hình Việt Nam-Cambuchia căng thẳng.

Từ 1978 đến 1980: Đổi tiền lần II. Năm 1978 Thanh Nga bị ám sát. Ngày 17/2/79 Chiến tranh biên giới phía bắc. Tháng 12/1980 Hiến pháp mới ra đời. Quốc hội vận động sáng tác quốc ca.

Chương 14: Trọng án Giám đốc Công an Đồng Nai bán bãi cho thuyền nhân.

Đổi tiền lần III (14/9/1985); Thập niên 90, trong nước đã cởi mở. Tình hình Liên xô: Goc-ba-chop (chương 15).

Chương 16: Cuối năm 1989, quân Việt Nam rút khỏi Cambuchia. Hiện tượng mua bán con lai; Lý Tống cướp máy bay rải truyền đơn bị tù 20 năm. Ông Võ Văn Kiệt lên làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Năm 2000 không thấy tận thế. Thủ tướng Phạm Văn Đồng qua đời; khánh thành cầu Mỹ Thuận;  Ngày17/11/2000 tổng thống Mỹ Bill Clinton thăm Việt Nam.

Năm 2001 Bus con tuyên thệ nhậm chức Tổng thống thứ 43 của nước Mỹ; Ngày 11/9 Al-Qeada khủng bố nước Mỹ. Nguyễn Văn Thiệu đột quỵ; vụ án Năm Cam…

Tất cả những “sự kiện chính trị” ấy ở miền Nam là ông Quản nghe được qua lời kể của thầy Hòa (một người bạn). Tác giả chỉ ghi lại như những mẩu tin ngắn, không miêu tả trực tiếp, không tường thuật báo chí hay viết phóng sự chiến trường, cũng không bình luận để bày tỏ quan điểm của mình. Ông Quản nghe tin tức một cách bàng quan, đôi khi ông bày tỏ sự lo lắng:“Tình hình đất nước những năm sau này khiến ông quản lo âu” (167). Ông luôn “giữ mồm giữ miệng” trước thời cuộc. Khi đất nước đổi mới, gia đình an cư lạc nghiệp, con cháu thành đạt, ông bày tỏ sự vui mừng. Năm 1998, ông nói: “Mình sống trong nước cũng đã vượt qua bao khó khăn. Được như hôm nay là mừng rồi” (tr.369).

Thái độ như vậy của ông Quản (cũng là của Khôi Vũ) có ý nghĩa gì?

Nhìn ở góc độ tự truyện: ông Quản là người lính tập Pháp “đào ngũ”, ông luôn sống trong mặc cảm và lo sợ vì ông từng bị bắt và bị đe dọa về tội “đào ngũ” (tr.30). Kinh nghiệm bản thân buộc ông “giữ mồm giữ miệng” để an thân.

Ở góc độ diễn ngôn của tác giả, nhà văn muốn trình bày một thực tại khác của miền Nam (khác với hiện thực cách mạng trong các truyện ký được dạy trong nhà trường phổ thông như Hòn Đất, Người mẹ cầm súng, Chiếc lược ngà, Rừng xà nu, Chiếc thuyền ngoài xa…). Đó là: người bình dân miền Nam, trong những năm tháng biến động khốc liệt ấy, chẳng mấy ai quan tâm đến chính trị. Họ chỉ có mơ ước hòa bình, yên ổn làm ăn, nếu con cái có bị động viên thì tìm cách trốn quân dịch.

  Ông Quản ngậm ngùi: “Chiến tranh gây ra những hoàn cảnh đau lòng, đâu tha cho bất cứ ai, dù bên này hay bên kia” (tr.313).

Thầy Hòa bình luận:

“Cuộc chiến 21 năm đó ông bên chiến thắng thì khẳng định là cuộc chiến giành độc lập cho đất nước, còn bên thất trận thì bảo là cuộc chiến ý thức hệ nên bên này tùy thuộc vào viện trợ Mỹ, đại diện cho thế giới tự do. Bởi vậy người Việt nào đã cho rằng mình khác ý thức hệ thì khó mà xóa bỏ được lòng hận thù”…

Ông Quản trả lời: “Theo tôi thì ta cứ làm một người dân sống lương thiện và làm việc theo pháp luật là yên tâm nhất” (tr.331).

 Việc Khôi Vũ ghi nhận lịch sử miền Nam trong một thời gian dài (theo cách điểm tin) không tạo nên chất sử thi cho tác phẩm, bởi lịch sử không được miêu tả như nó đang diễn ra trong hiện thực với không gian rộng và thời gian dài. Tác giả không hề miêu tả một một biến cố lịch sử nào (thí dụ đảo chánh 1963), không ghi nhận (ký) một trận đánh hay trình bày một chiến dịch nào (thí dụ biến cố Mậu thân 1968); hay đứng ở tầm cao để nhận định bàn cờ thế cuộc (nhận định về chiến tranh Việt nam trong thế cuộc hai phe Xã hội chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa); hoặc đứng ở góc độ người viết lịch sử rút ra những bài học cho hậu thế (như nhà viết sử nhận định về thời Lê-Mạc, hoặc thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, thời Nguyễn Huệ-Nguyễn Ánh). Khôi Vũ có thể kiến tạo một tác phẩm sử thi song nhà văn đã viết Sông Luộc ở phương Nam với mục đích khác, có thể là do hoàn cảnh riêng. Hoặc ông chỉ cốt thực hiện  mục đích là: “… ghi chép lại cuộc đời của cha mẹ tôi từ khi vào  Nam đến khi ông bà qua đời…”.

Dù chương nào Khôi Vũ cũng ghi nhận những biến cố chính trị, song người đọc khó nhận ra ảnh hưởng thời cuộc trên số phận của gia đình ông Quản, ngoại trừ sự kiện 30/4/1975, gia đình ông Quản có “di tản” về Sài gòn lánh nạn, sau đó lại trở về nhà. “Kể từ khi di cư vào Nam, hầu như ông chỉ quanh quẩn ở Biên Hòa, hay đi Sài Gòn”(tr.369). Suốt mấy chục năm miền Nam bất ổn trong tranh chấp chính trị, rồi chiến tranh, gia đình ông Quản vẫn bình an và thăng tiến. Trước 1975, đề-pô bia của ông vẫn phát đạt, và sau 1975, dù có lúc ông trăn trở “Làm gì để sống”(tr.237), nhưng ông vẫn thực hiện được ước mơ của mình là xây chùa, đúc chuông, lập nghĩa trang, đi chùa lễ Phật, giữ nề nếp cổ truyền những ngày tết, ngày giỗ, gìn giữ tình nghĩa xóm làng, tình quê hương, dòng tộc, dạy dỗ con cháu và được thấy con cháu lớn lên trong thành đạt…

Nói tóm lại, người dân miền Nam không quan tâm đến chính trị. Khôi Vũ loại bỏ tất cả những tuyên truyền (của bên này hoặc bên kia) về thực tại miền Nam. Thí dụ, dân miền Nam (vùng được truyền thông miền Bắc gọi là “vùng tạm chiếm”), không ai nói đến “kháng chiến chống Mỹ”. Họ chỉ nói đến chiến tranh, và rất nhiều người “phản chiến”. Nửa đêm một ngày hạ tuần tháng 8 năm 1965, một loạt tiếng nổ vang lên liên hồi ở phia phi trường Biên Hòa, ông Quản trả lời con: “Việt cộng đánh nhau với quốc gia” (tr.98). Những năm 1978 đến 1980, ông Quản tự hỏi: “Hòa bình rồi sao cuộc sống vẫn đầy bất trắc và khó khăn như thế?” (tr.267). Ông không đặt vấn đề với Nhà nước hay với chế độ mới, không bộc lộ thái độ chính trị trước hiện thực. Có thể đó là lối sống minh triết của người bình dân: tất cả rồi sẽ qua đi. “Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”. Mọi đã người nhận xét về ông: “Thì ra, sau 25 năm, dù đã thay đổi chế độ thì ông Quản vẫn là một người uy tín nhất nhì trong khu ngoại ô Phúc Hải”(tr.373).

Thực ra, hiện thực đời sống của nhân dân miền Nam rất phức tạp và vô cùng khốc liệt. Sự sống, cái chết chỉ cách nhau gang tấc. Ở nông thôn, người nông dân sống chung với “Việt cộng” trong tình làng nghĩa xóm. Dân thành phố chỉ lo làm ăn, và nhiều người đã phất lên nhờ chiến tranh. Trên đường phố có lính Mỹ, me Mỹ vô cùng lộn xộn và đồi trụy. Chiến tranh càng khốc liệt, người dân càng đổ về thành phố. Biểu tình và chống biểu tình, đảo chính rồi lại đảo chính. Tiến công tết Mậu Thân làm kinh hoàng cả miền Nam: quân Giải phóng tràn vào 42 trên 44 tỉnh thành phố miền Nam, đặc biệt là hai lần tiến công vào Sài gòn. Khi Mỹ rút quân và cắt viện trợ chgo chính quyền Sàigòn thì dân miền Nam đã biết điều gì sẽ xảy ra. Mùa xuân 1975, Ban Mê Thuột thất thủ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho lính “di tản chiến thuật” từ Quảng Trị về Huế về rồi Đà nẵng, dân miền Nam như đàn kiến trên chảo lửa. Quân đội Cộng hòa bắt đầu tan rã. Người miền Nam vô cùng sợ hãi về những thảm họa sắp ập đến. Sau 1975. Giai đoạn từ 1975 đến 1980, việc tập trung cải tạo binh lính và nhân viên chế độ cũ, việc đổi tiền, rồi đánh tư sản; dân không có đất sản xuất phải đi kinh tế mới; tình trạng “ngăn sông cấm chợ”, việc phân biệt đối xử với nhân viên miền Nam “lưu dung”, “chế độ lý lịch” áp dụng cho mọi đối tượng người dân miền Nam làm điêu đứng bao thân phận… kinh tế suy sụp, chiến tranh biên giới phía Bắc và phía Tây Nam, …dân miền Nam sống trong thê thảm,…tất cả những “sự thật lịch sử”  ấy Khôi Vũ đã không miêu tả trong Sông Luộc ở phương Nam.

Sống trong một hoàn cảnh tang thương như thế, người dân thường miền Nam sẽ chỉ nghĩ một điều là, làm thế nào để sống còn? Họ hiểu rõ bản chất của lịch sử. Họ không còn niềm tin, không còn lối thoát, không có gì để bám víu, không biết tương lai về đâu. Còn đấy rồi mất ngay đấy! Ai là bạn, ai là thù?… Bão táp thời đại đã dập vùi họ. Ông Quản giữ thái độ “ẩn cư” im lặng. Có lẽ còn lâu nữa mới có tác phẩm viết về thực tại miền Nam như những gì đã xảy ra. Ngày xưa Nguyễn Du cũng sống thầm lặng như thế trong “cuộc bể dâu”. Không phải vô tình mà Khôi Vũ trích câu thơ: “Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên” của Nguyễn Du làm đề từ cho cả tập truyện (tr.6). Ông Quản đã vượt qua “bể dâu” nhờ triết lý sống lương thiện: “Tốt nhất là cứ sống lương thiên, lo cho gia đình được đủ ăn đủ mặc, con cái được học hành thành đạt. Và siêng năng đến chùa lạy Phật, cầu cho quốc thái dân an” (tr.171).

Khôi Vũ không viết về chiến tranh trước 1975 như “Mùa hè đỏ lửa”(Phan Nhật Nam) hay “Nỗi buồn chiến tranh”(Bảo Ninh). Ông cũng không “tô hồng” “hiện thực cách mạng” sau 1975, cũng không viết về mặt trái Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa như Thời Xa Vắng của Lê Lựu, Thiên Sứ của Phạm Thị Hoài, Thời của Thánh thần của Hoàng Minh Tường…Khôi Vũ có ý thức sáng tạo riêng. Tôi cho rằng, đó là bản lĩnh của một ngòi bút có cốt cách minh triết.

Việc trao giải cho Sông Luộc ở phương Nam của Hội Nhà văn, theo tôi, chính là ở giá trị phần Khôi Vũ viết về hiện thực miền Nam. Hiện thực này chưa có trong văn học Việt Nam đương đại. Có lẽ Khôi Vũ là người đầu tiên phác họa những nét sơ lược về một nửa phần đất, một nửa đồng bào đã sống thế nào, đã gìn giữ gia đình, truyền thống văn hóa thế nào, đã nuôi dưỡng những tình cảm thiêng liêng, tình yêu quê hương thế nào, và đã “giữ mình” tránh khỏi những hệ lụy chính trị như thế nào (dù có bị ảnh hưởng của bối cảnh tư tưởng, kinh tế, chính trị). Viết Sông Luộc ở phương Nam, Khôi Vũ cho biết: “tôi chỉ nghĩ đơn giản trước là giúp mình nhìn lại cuộc đời của cha mẹ, gồm cả cuộc đời mình trong đó mà ngẫm nghĩ ra những ý nghĩa của các sự việc buồn, vui, cay đắng cơ cực… hầu có một cái nhìn mới và lạc quan hơn về đời người”…(tr. 404).

Vâng. “một cái nhìn mới và lạc quan hơn về đời người” chính là thái độ minh triết trong văn chương của Khôi Vũ.

THÂN PHẬN NGƯỜI TRÍ THỨC MIỀN NAM TRONG CHẾ ĐỘ MỚI

Nhân vật Thái trong Sông Luộc ở phương Nam có thể là hình bóng người trí thức miền Nam trước và sau 1975.

Sông Luộc ở phương Nam kể lại cuộc đời của Thái từ nhỏ cho đến những năm 2008 Thái về thăm quê. Người đọc có thể tìm thấy một phần đời của Thái trong cuốn Nhớ Biên Hòa (xuất bản 2005) tự truyện của Khôi Vũ-Nguyễn Thái Hải. Ông viết: “Năm 1955 từ Đà Nẵng tôi bị bệnh thương hàn nặng cha tôi quyết định đưa cả gia đình vào tận Sài Gòn để chữa trị cho đứa con trai duy nhất của mình.” Sự kiện ấy được kể chi tiết hơn ngay trong chương 1 của Sông Luộc ở phương Nam. Khôi Vũ kể tiếp trong Nhớ Biên Hòa: “Sau này cha tôi xin được làm đại lý (quen gọi là đề bô) bán bia nước ngọt nước đá bẹ cho hãng BGI”. Chi tiết này được kể ở chương 2, tr 36 trong Sông Luộc ở phương Nam. Kết thúc Nhớ Biên Hòa là hình ảnh Khôi Vũ đi xe Vespa Sprint lên Sài gòn học. Trong Sông Luộc ở Phương Nam Khôi Vũ nhắc lại: “Năm thứ nhất trường Dược, Thái trọ học ở Sài Gòn, cuối tuần về nhà bằng chiếc xe Vespa Sprint đèn vuông 150 phân khối đời mới nhất” (chương 9, tr. 152). Tôi dẫn 3 chi tiết để khẳng định Thái cũng chính là tác giả Khôi Vũ. Toàn bộ cuộc đời Khôi Vũ trở thành chất liệu tự truyện. Điều này giúp Khôi Vũ kể tự nhiên những điều gan ruột, nhưng cũng hạn chế việc sáng tạo hình tượng do bị tự truyện trói buộc.

Nhưng xin lưu ý rằng, Sông Luộc ở phương Nam, là một tiểu thuyết (nghĩa là tác phẩm hư cấu), người đọc không thể áp đặt con người xã hội của nhà văn Khôi Vũ-Nguyễn Thái Hải với nhân vật Thái trong tiểu thuyết, bởi có những phần đời thật, Khôi Vũ không đưa vào tác phẩm. Thí dụ, việc Nguyễn Thái Hải viết truyện Tuổi Hoa trước 1975 ở Sài Gòn và Khôi Vũ được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1990 với cuốn Lời nguyền hai trăm năm. Cũng vậy, thời gian Khôi Vũ tập trung học tập cải tạo từ 1975 đến 27 tháng Chạp năm 1978 không được ông miêu tả cụ thể. Ông Quản chỉ nhắc đến sự việc này qua những lần thăm nuôi Thái. Người đọc không biết gì về thời gian Khôi Vũ đi cải tạo: ông đã sống thế nào, đã có những cảm nghĩ gì, môi trường cải tạo và những người cùng cải tạo đã sinh hoạt ra sao. Tại sao Khôi Vũ không đưa những sự việc ấy vào tiểu thuyết? Đó là một sự chọn lựa. Ông chỉ để nhân vật Thái thực hiện một diễn ngôn nào đó. Thái không phải là tất cả cuộc đời ông. …

Thái là một nhân vật tiểu thuyết, cuộc đời Khôi Vũ – Nguyễn Thái Hải đã được “chưng cất” để thành một hình tượng nghệ thuật. Vậy “mã nghệ thuật” của nhân vật này là gì?

Thái là sinh viên tốt nghiệp Đại học Dược. Thời sinh viên, anh là kiểu sinh viên “tự do” ở Sài Gòn (không đứng trong đoàn thể, tổ chức chính trị nào, chẳng hạn: Tổng Hội sinh viên Sài gòn). Thái có dự hội thảo, tham gia biểu tình phản chiến, theo trường đi Nha Trang cứu trợ nạn nhân chiến tranh; anh cũng thích ca hát, thích đọc thơ “Phía bên kia” (tr.178); Tháng 7/1973, Thái tốt nghiệp Dược sĩ, anh mở tiệm thuốc tây. Ngày 2 tháng 1 năm 1974 Thái vào trường Quân y “mặc dù không muốn mặc áo lính” (tr.186). Ra trường, Thái chọn về bệnh viện Xuân Lộc, và bắt đầu làm việc từ tháng 7/1974 (tr.193). Tháng 11/1974 Thái nhận lời Lm Xuân, tiếp tế thuốc cho tù nhân trại Tân Hiệp “vì lý do nhân đạo”(tr.199).

 Sau 1975, Thái đi học tập cải tạo. Anh học 8 bài cơ bản và lao động. Ngày 27 tháng Chạp (1978) Thái được về, không phải quản chế. Thái xin việc làm ở cơ quan Nhà nước, tuy có trầy trật, nhưng sau một năm Thái được vào biên chế. 30 tuổi Thái lấy vợ (cô giáo Yên). Thái buồn vì không thể thăng tiến, đồng thời phải chứng kiến nhiều chuyện tiêu cực của cán bộ Nhà nước. Bảy nói với Thái: “chắc anh cũng biết sự thật này: Người lỡ có lý lịch như anh thì khó có đường làm lãnh đạo! Cứt nát đừng đòi có chóp, anh Thái à…”. Nhưng cũng có người nói: “Không thể ngờ được!…ông Trung úy quân lực Việt Nam Cộng hòa nay lại là một công chức Nhà nước Cộng sản, còn có vai vế như ai nữa chớ”(tr. 295). Dù vậy, “cũng như phần đông trí thức miền Nam, anh hạn chế đến mức thấp nhất những phát biểu” (tr268). “nhiều chuyện trong trại cải tạo tập trung vẫn còn ghi nhớ trong anh, chưa sao xóa mờ được” (tr.281). Chính Thái khi nói chuyện với ông Quản đã nhận thức được thân phận của mình: “Càng về sau này con càng nghĩ ra rằng mình chỉ là một chuyên viên thì đừng đặt mục tiêu phấn đấu làm lãnh đạo rồi phải thất vọng. Chính quyền của một nước nào đó, tư bản hay cộng sản, thì cũng thuộc về những người làm chính trị cùng một lý tưởng với nhau…”(tr.309).

Khi đất nước mở cửa, Thái lại mở nhà thuốc Tây tư nhân, ký hợp đồng với công ty nước ngoài, tập huấn ở Singapor. Anh “có của ăn của để” (tr.339); Con cái đi học. Thái chịu khó tập thể dục; xem bóng đá cùng vợ; tổ chức lễ thượng thọ cho ông Quản (chương 17- tr.344). Thái về quê và tìm hiểu gia phả dòng họ mình, tra cứu về bà cô tổ Nguyễn Thị Lộ, thiếp của Nguyễn Trãi, về những tồn nghi của vụ án Lệ Chi Viên. Anh mơ thấy bà Nguyễn Thị Lộ và nói chuyện với bà. Bà nói cả chuyện xưa và chuyện nay, chuyện người vợ hai và đứa con riêng của ông Quản. Thái mơ thấy người con trai, con người vợ hai của bố trở về, anh ta xin nhận bà Quản làm mẹ và nhận Thái là anh, vì tuy lớn tuổi hơn Thái song anh ta là con dòng thứ.

Nhìn lại cuộc đời của Thái, Khôi Vũ muốn gửi gắm điều gì?

Ở miền Nam trước 1975, có nhiều thanh niên trí thức “tự do”như Thái. Họ bị cuốn vào thời cuộc và đẩy vào hoàn cảnh mình không muốn. Hoặc là trốn quân dịch, nếu không, thì học xong họ phải vào quân trường mặc áo lính. Sau 1975, những trí thức này (những người không dính dáng gì với chế độ Sài gòn) được Nhà nước “lưu dung” cho đi làm việc trở lại, nhưng họ không có con đường thăng tiến vì lý lịch là người chế độ cũ. Bảy đã nói rõ với Thái: “chắc anh cũng biết sự thật này: Người lỡ có lý lịch như anh thì khó có đường làm lãnh đạo! Cứt nát đừng đòi có chóp, anh Thái à…”. Đấy là lý do rất nhiều “trí thức” miền Nam đã ra nước ngoài định cư sau 1975 (thí dụ, trường hợp GS Nguyễn Văn Trung, người từng có lập trường “thân cộng”. Ông dạy Triết và Văn ở ĐH Văn Khoa Sài Gòn và ĐH Huế; sau 1975 ông chỉ được làm nghiên cứu ở Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp TPHCM; 1993 ông định cư ở Canada).

 Con đường của Thái là sự lựa chọn làm việc tự do ngoài cơ quan Nhà nước. May cho Thái, sau thời gian cải tạo Xã hội chủ nghĩa, miền Nam đã bước vào thời kỳ mở cửa hội nhập toàn cầu hóa (1986), nhờ đó Thái mới có cơ hội mở nhà thuốc tây, hợp tác với công ty nước ngoài, mới có “của ăn của để”(tr.339), sắm xe hơi Toyota Camry chở bố mẹ con đi chơi (tr.367).

Phương châm sống của Thái là thực hiện lời cha dạy: “Nhưng dù sao thì con cũng phải rất cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói, nhất là về quan điểm chính trị”(tr. 319). Và thực hiện lối sống thẳng thắn, lương thiện của cha: “Tốt nhất là cứ sống lương thiên, lo cho gia đình được đủ ăn đủ mặc, con cái được học hành thành đạt. Và siêng năng đến chùa lạy Phật, cầu cho quốc thái dân an” (tr.171). Thái sống bằng chuyên môn của mình và từ chối những “chức vụ” hành chính, anh giữ mình khỏi những tiêu cực trong cơ quan (tr. 286-287).

Nhân chuyện của ông Quản và của Thái, tôi nhớ đến nhân vật bà cô Hiền trong truyện Một người Hà Nội của Nguyễn Khải. Ông Quản cũng sống đồi thời với bà cô Hiền. Bà cô Hiền đã trải qua một cuộc đời từ trước 1945 đến thời đổi mới (1986). Suốt thời kháng chiến chống Pháp, dân Hà Nội lên rừng kháng chiến, bà vẫn sống vương giả ở Hà Nội. Hòa bình lập lại, bà chê: “Cách mạng gì toàn để ý đến những chuyện lặt vặt!”. Miền Bắc cải tạo Xã hội chủ nghĩa, đánh tư sản. Có hai căn nhà, bà bán trước một căn và cản chồng không cho mở xưởng in. Khi cán bộ đánh tư sản đến kiểm tra, bà bảo họ đến chỗ căn nhà bà đã bán mà hỏi. Bà nói với Khải: “– Tao có bộ mặt rất tư sản, một cách sống rất tư sản, nhưng lại không bóc lột ai cả thì làm sao thành tư sản được”. Thời chiến tranh, hai đứa con bà tình nguyện vào Nam chiến đấu, bà nói: “Tao không khuyến khích, cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó”. Mấy chục năm Hà Nội ăn bom Mỹ, tháng nào ở nhà cô cũng tổ chức tiệc tùng họp mặt những “người quý phái” thuộc “giai tầng thượng lưu”. Con đi Nam sống sót trở về vào đứng ở giữa nhà, cô cũng không nhận ra con. Bà Hiền-một Người Hà Nội– đã sống những ngày bão táp của lịch sử như thế. Khi cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn bị bão đánh bật gốc, “Lập tức cô nghĩ ngay tới sự khác thường, sự dời đổi, điềm xấu, là sự ra đi của một thời”. Bão táp cách mạng sẽ qua đi, văn hóa Hà Nội vẫn sống mãi. Cô nói: “Thiên địa tuần hoàn, cái vào ra của tạo vật không thể lường trước được”.

Người miền Nam như ông Quản, như Thái, cũng có thái độ sống bản lĩnh và minh triết như bà cô Hiền (nhưng bộc lộ dung dị và kín đáo hơn). Họ sống với “ý chí tự lập, quyết tự thử thách bản lĩnh”(tr.309). Họ hiểu rõ bản chất lịch sử của thời cuộc, từ đó đối mặt và vượt qua “bể dâu”. Họ chọn con đường sống chết với quê hương, cộng đồng; gìn giữ những giá trị truyền thống, nếu có làm gì thì cũng “vì lý do nhân đạo”(tr. 199).  Họ giữ cái tâm thanh thản, và nỗ lực làm việc thực hiện những điều mình hằng ước mơ. Họ đạt được những giá trị vĩnh cửu: tình quê hương, tình gia đình, bạn bè, sự lương thiện, lòng yêu thương con người (như ông Quản: “Thì ra, sau 25 năm, dù đã thay đổi chế độ thì ông Quản vẫn là một người uy tín nhất nhì trong khu ngoại ô Phúc Hải”(tr.373).

NHỮNG ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT CỦA KHÔI VŨ

            Sông Luộc ở phương Nam là một tiểu thuyết khá đầy đặn (406 trang khổ 15x23cm. khoảng 187.572 chữ), lại viết về đề tài gia đình, miêu tả rất nhiều chuyện thường ngày, nhưng Khôi Vũ có cách viết mạch lạc, dễ đọc và hấp dẫn.

Tài kiến tạo tác phẩm của ông thể hiện chỗ, cuối tác phẩm, tất cả các nhân vật đều tụ về, gặp lại nhau sau bao nhiêu biến cố, lưu lạc; một cuộc đoàn tụ nhiều niềm vui (xin đọc chương 19, tr.372), như là một kết thúc có hậu, thể hiện một niềm tin tâm linh về cuộc đời: “Mình sống trong nước cũng đã vượt qua bao khó khăn. Được như hôm nay là mừng rồi” (tr.369).

Ông Quản cũng như Thái không oán trời, không trách người, không ngả nghiêng bên này bên kia, không mưu cầu lợi ích riêng mà làm tổn thương người khác, ẩn nhẫn giữ mình, để tâm thanh tịnh. Ông đứng vững trên những tín niệm đã được xác quyết ngay từ ban đầu: “sống lương thiện, lo cho gia đình được đủ ăn đủ mặc, con cái được học hành thành đạt. Và siêng năng đến chùa lạy Phật, cầu cho quốc thái dân an”. Ông đã ra đi hết sức thanh thản.

Nhìn ở góc độ này, Tiểu thuyết Sông Luộc ở phương Nam là một tiểu thuyết tư tưởng. Tư tưởng ấy là: làm thế nào vượt qua bể dâu của lịch sử để tồn tại? Các nhân vật Ông Quản và Thái đôi khi thấp thoánh tư tưởng định mệnh. Ông Quản nói với vợ: “Tất cả là do Trời Phật định đoạt. Mình cứ vui sống những ngày còn lại này” (tr.356). Thái cũng từng nghĩ đến số mệnh. Chuyện Hoàng được đi Mỹ theo diện HO, Thái nói với bố: “Chuyện của anh ấy khiến con đang tự hỏi có phải thật là người ta có số hay không” (tr. 309). Tất nhiên tư tưởng này không chi phối việc kiến tạo tác phẩm của Khôi Vũ.

            Khôi Vũ cũng thành công ở thể loại tiểu thuyết tự truyện có khuynh hướng nghiên cứu lịch sử, văn hóa. Ông viết “rất thật” những sự việc, những biến cố cuộc đời của cha mẹ mình và của chính mình qua việc đưa vào những chi tiết đời thường, các hình thức sinh hoạt văn hóa của đời sống Việt.

Thí dụ: ông kể cảm giác lần đầu đi xe lửa; chuyện ngồi đồng; Ông Quản chăm sóc cây mai; cúng đưa ông Táo, cúng Giao thừa. Ông Quản mê nuôi gà; ông cai thuốc lào; ông đánh Tổ tôm một mình; bà Quản mê coi Cải lương, bà siêng đi chùa. Bà và con dâu nguyện ăn chay mỗi tháng 4 ngày. Bà cũng “du nhập’ vào gia đình hai món ăn miền Nam là món lẩu và món thịt kho trứng cuốn với rau sống, bánh tráng ăn trong mấy ngày tết. Cũng không thể thiếu món thịt đông.Ăn giỗ ở bên ngoại, các con của Thái xem bà ngoại đổ bánh xèo, nghe mấy cô mấy chú đờn ca tài tử; Cô giáo Yên nhập tâm làm nghề cơm rượu truyền thống, món giò thủ trên mâm cơm khách.Nghề dệt chiếu của làng Hới được miêu tả khá kỹ (tr. 327). Rạp Biên Hùng có kịch Kim Cương. Thái đậu Tú Tài được ông Quản cho làm 2 bàn tiệc. Thái bỡ ngỡ món “Mì vịt tiềm”, món lạp xưởng. Thái tắm ngoài trời, Thái chăm sóc cây xoài; Thái đi học lấy bằng Vespa Sprint; học lái xe hơi Toyota; chuyện lầm lẫn “hộp quẹt” với “hòm diêm”(sự khác biệt ngôn ngữ, văn hóa Bắc-Nam),…

            Những chi tiết ấy khi được tiểu thuyết hóa, nó mang ý nghĩa văn hóa. Những thế hệ sau này, hoặc những nhà làm phim sẽ có chất liệu về đời sống, sinh hoạt của con người miền Nam nửa cuối thế kỷ XX để dựng thành phim. Có thể nhìn thấy rõ hiệu quả nghệ thuật này: những chi tiết đời thường ấy đánh thức rất nhiều tình yêu quê hương, sẽ tô đậm  những nét “bản sắc” dân tộc trong lòng người con xa quê …

            Điều đặc sắc của văn chương Khôi Vũ là ở cách viết. Viết về chiến tranh, về cải tạo Xã hội Chủ nghĩa ở miền Nam, về những năm tháng bao cấp, về “chủ nghĩa lý lịch”, Khôi Vũ đã không viết bằng “cảm hứng phê phán hiện thực” của dòng văn chương Nhân văn và Dân chủ (nhưn các tác phẩm: Thời xa vắng của Lê Lựu, Cù Lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, Thời của Thánh thần của Hoàng Minh Tường, Chuyện kể năm hai ngàn của Bùi Ngọc Tấn…). Cái nhìn của Khôi Vũ “thoáng” hơn nhiều. Có lẽ nhà văn đã có một độ lùi đủ xa để nhìn vấn đề trong sự phát triển, hơn là nhìn cục bộ.

Cuộc sống luôn phát triển về phía trước, đó là quy luật. Việt Nam phải “đổi mới”, đó là con đường, là xu thế tất yếu của thời đại toàn cầu hóa sau chiến tranh lạnh. Cách mạng công nghệ đã làm thay đổi triệt để cả nhân loại. Việt Nam đã bang giao với Mỹ (kẻ thù cũ) và làm bạn với mọi dân tộc trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và hai bên cùng có lợi. Giao lưu văn hóa trở thành những giòng chảy lớn. Sông Luộc ở phương Nam được viết trên nền của những xu thế thời đại ấy. Tư tưởng về hòa hợp, hòa giải dân tộc đã trở thành hiện thực trong nhiều lĩnh vực của đời sồng, thế nên, nếu viết Sông Luộc ở phương Nam như cách viết của Thời xa vắng hay Cù lao Tràm, sẽ trở thành lạc hậu. Có thể hiểu tại sao tiểu thuyết Kiến Chuột Và Ruồi của Nguyễn Quang Lập và Mối chúa của Đãng Khấu (Tạ Duy Anh), đã không còn sức hấp dẫn là vậy.

            Về kỹ thuật tiểu thuyết, Khôi Vũ kể truyện theo kiểu tiểu thuyết truyền thống. Mỗi chương khai thác các sự việc theo 3 tuyến chính: trung tâm là tuyến nhân vật ông Quản. Tuyến thời sự được kể theo năm tháng, và tuyến nhân vật Thái cũng kể theo thời gian, và sự kiện cuộc đời của ông Quản. Mỗi đầu chương có những câu đề từ. Khôi Vũ còn đưa vào 6 “Tiểu truyện” kể những câu truyện bên ngoài mạch truyện chính, chẳng hạn những chuyến Thái về Bắc tìm hiểu về gia phả tộc họ Nguyễn Khắc, về bà cô tổ Nguyễn Thị Lộ, về người vợ hai của ông Quản (chương 19, 20 và Vỹ thanh)…

Trong kỹ thuật viết tiểu thuyết tự truyện, việc phân thân, tách biệt tác giả với nhân vật Thái, mới là thành công đáng ghi nhận. Ngòi bút Khôi Vũ giữ được chất nhân văn đáng quý. Ông chỉ đưa vào tiểu thuyết lượng thông tin cá nhân vừa đủ để nhân vật tiểu thuyết trở nên đầy đặn. Ông tránh được sự phô trương “cái Tôi” hoặc tự bao biện việc này việc kia như người đọc thường thấy trong các tự truyện. Chẳng hạn chi tiết: năm 1946, ông Quản góp thóc cho Việt Minh, được tướng Nguyễn Bình đặt bí danh (tr.82), và việc Thái tiếp tế thuốc tây cho tù nhân trại Tân Hiệp qua trung gian Lm Xuân (tr. 199). Người viết “non tay” sẽ đẩy những chi tiết ấy trở thành “thành tích” nhà văn có công với cách mạng để tự hào… Điều này ảnh hưởng đến thái độ tình cảm của bạn đọc khi tiếp cận Sông Luộc ở phương Nam (nhất là những bạn đọc ở Biên Hoà biết rõ cuộc sống thực của tác giả ở Phúc Hải). Bản thân ông cũng tách bạch sông Luộc phương Bắc là quê cha đất tổ, với sông Đồng Nai phương Nam. Ông yêu quý trân trọng sông Luộc quê cha nhưng khẳng định ông và con ông đã là người của Biên Hòa, của dòng sông Đồng Nai. “Sông Luộc và làng Hới đã hiển thị trước mắt tôi nhưng vẫn chưa thấm được vào tận cùng máu thịt” (tr.325)

VỸ THANH

“… ghi chép lại cuộc đời của cha mẹ tôi từ khi vào  Nam đến khi ông bà qua đời. Làm việc này tôi chỉ nghĩ đơn giản trước là giúp mình nhìn lại cuộc đời của cha mẹ, gồm cả cuộc đời mình trong đó mà ngẫm nghĩ ra những ý nghĩa của các sự việc buồn, vui, cay đắng cơ cực… hầu có một cái nhìn mới và lạc quan hơn về đời người; kế đến tôi cũng muốn cho thế hệ con cháu mình biết được để nhớ, để thương, để học được nhiều điều từ cuộc đời ông bà, cha mẹ chúng. Hơn nữa để biết được gốc gác dòng họ ở tận một vùng quê Bắc”(tr.404).

Đoạn văn trên ghi lại mục đích, “tâm nguyện” của Khôi Vũ khi viết Sông Luộc ở phương Nam. Đó là tấm lòng rất mực hiếu thảo của nhà văn đối với cha mẹ mình, là ước vọng về tương lai, là tình nghĩa sâu nặng với quê hương, là những thương yêu và đồng cảm gan ruột với con người quê hương, cũng đồng thời là cái nhìn minh triết của ngòi bút Khôi Vũ về một quãng đường dài của lịch sử Việt Nam đương đại.

Những gì tôi viết trong bài này chỉ là một góc nhìn riêng khi tiếp cận tác phẩm theo Thuyết người đọc đương đại (Reader Theory). Bạn đọc Sông Luộc ở phương Nam hoàn toàn có những cách tiếp cận khác.

Xin chúc mừng nhà văn Khôi Vũ. Ở tuổi “cổ lai hy”, viết được một tác phẩm tâm huyết của đời mình, hẳn nhà văn có được một niềm hạnh phúc “rất thanh thản” (tr.402).

Tháng  8/ 2022

_____________________

Bài đã đăng trên vanchuongthanhphohochiminh.vn và vanchuongphuongnam ngày 16/8/2022

https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/song-luoc-o-phuong-nam-va-nhung-ma-nghe-thuat https://vanchuongphuongnam.vn/song-luoc-o-phuong-nam-va-nhung-ma-nghe-thuat.html

MỘT CÁCH TIẾP CẬN THƠ THIỀN

BẠN CÓ THỂ ĐỌC CÁC BÀI VIẾT CHÍNH CỦA BÙI CÔNG THUẤN THEO LINK: buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

***

MỘT CÁCH TIẾP CẬN THƠ THIỀN

Bùi Công Thuấn

Đạt Ma Sư Tổ (ảnh của duccuongthuphap trên internet)

Thơ ca dân tộc có một bộ phận thơ Thiền đặc sắc. Nhiều bài thơ cuả các Thiền sư từ  thời

Lý (1010-1225 )-Trần (1225-1400) vẫn còn được truyền tụng  đến ngày nay, bởi vì nó chưá đựng vẻ đẹp tư tưởng và nghệ thuật rất riêng. Ảnh hưởng Thiền khá rõ trong suốt tiến trình thơ ca dân tộc. Ngày nay vẫn có những nhà thơ Việt Nam tiếp tục tiến trình ấy. Nhưng đọc thơ Thiền không dễ, cần một cách tiếp cận khác với cách đọc thơ thế tục. Bài viết này xin thử đề xuất một con đường đến với thơ Thiền, thay cho cách đọc cảm tính lâu nay.

I.KỆ và THƠ THIỀN

 Kệ là một hình thức văn chương nghi lễ cuả Phật giáo, như Kệ dâng hương, Kệ dâng hoa, Kệ vô thường buổi sớm… Các Thiền sư thường làm kệ “thị tịch “ để căn dặn đệ tử trước lúc qua đời. Tiểu truyện về các Thiền sư thường có những bài kệ. Những bài kệ ấy vưà nói về giáo lý Phật vưà chưá đựng chỗ độc đáo chứng ngộ cuả mỗi người. Thiền Uyển Tập Anh nổi tiếng với những bài kệ như Thị Đệ Tử cuả Thiền sư Vạn Hạnh, Cáo tật Thị chúng cuả đại sư Mãn Giác. Khoá Hư Lục cuả Trần Thái Tông (1218 – 1277) có Kệ ngũ giới , Kệ bốn núi …

Về cơ bản, Kệ dạy giáo lý Phật bằng ngôn ngữ khái niệm. Nhưng khi chuyển thành ngôn ngữ hình tượng, Kệ trở thành thơ Thiền, ý nghiã tư tưởng chuyển hoá thành ý nghiã nghệ thuật.

Chẳng hạn

Bát Nhã chân vô tông

Nhân không, ngã diệc không

Quá, hiện, vị lai Phật

Pháp tính bản lai đồng. (1)

                             (Lý Thái Tông. 1028-1054)

Dịch:

“Bát Nhã” Thực vô tông

Người không, mình cũng không

Phật trước, nay, sau nữa

Pháp tính vốn tương đồng

                            (Ngô Tất Tố dịch)

Bài kệ này chỉ diễn đạt giáo lý về Chân Như. Ngôn ngữ kệ là ngôn ngữ khái niệm, không có hình tượng. Kệ cuả sư Vạn Hạnh đã có bước chuyển hoá thơ.

Ngày 15 tháng 5 năm Thuận thiên thứ 9 (1018) sư không bệnh, gọi đệ tử đến đọc bài kệ:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố uý

Thịnh suy như lộ thảo đầu phôi (1)

                     (Vạn Hạnh Thiền sư)

Sư lại bảo các đệ tử: – Các ngươi muốn đi đâu? Ta không lấy chỗ trụ mà trụ, cũng chẳng dựa chỗ vô trụ mà trụ. Một lát sau sư qua đời.

Lời cuả Thiền sư Mugaku nói với quân Mông cổ sau đây có cả chất kệ và chất thơ. (2)

Gom toàn thể thế giới

Chẳng vừa một đầu gậy

Vạn pháp vốn là không

Vô thường và vô ngã

Lưỡi gươm bọn hung nô

Lấp loáng cắt xuân phong.

                             (Thiền sư  Mugaku)    

II. MỘT CÁCH TIẾP CẬN THƠ THIỀN      

Thơ Thiền là thơ tư tưởng. Cốt lõi tư tưởng thơ Thiền là giáo lý Phật giáo. Vì thế muốn tiếp cận thơ Thiền, người đọc phải ít nhiều có được căn bản tư tưởng Phật. Không có tri thức này thì không thể cảm thụ thơ Thiền, vì mỗi bài thơ là một chứng ngộ tại thế về Chân Như cuả Thiền sư.

Căn bản giáo lý Phật Giáo (3) là Tứ Diệu Đế, Mười Hai Nhân Duyên, Bát Chánh Đạo, và thuyết vô ngã. Giáo lý này được Đức Phật giảng dạy ngay sau khi Người thành đạo.

Tứ Diệu Đế là bốn chân lý cao cả do Phật đã tìm ra. Đó là Khổ (dukkha), Tập (Samudaya), Diệt (Nirodha), Ðạo (Magga). Bản chất cuả cuộc sống là khổbất toàn, vô thường, trống rỗng, giả tạm. Sinh, lão, bệnh, tử, ngũ uẩn là khổ. Nguyên nhân cuả khổ làkhát ái, làdục vọng, là ý chí muốn sống, muốn tồn tại, muốn tái sinh, muốn trở thành, muốn tăng trưởng, muốn tích lũy không ngừng. Bao lâu còn khát ái trở thành, thì sinh tử luân hồi vẫn tiếp tục. Muốn tận diệt khổ người ta phải diệt cội gốc chính của khổ là dục vọng, diệt tham, diệt sân, diệt si. Chấm dứt khổ là Niết Bàn. Niết-bàn là Chân lý tuyệt đối hay Thực tại tối hậu. Phật nói: “Đó là xa lánh trọn vẹn và tận diệt chính tâm ái dục ấy. Đó là sự rời bỏ, sự từ khước, sự thoát ly và sự tách rời ra khỏi tâm ái dục.“Niết-bàn có thể thực hiện ngay trong cõi đời này. Để đạt tới Niết bàn con người phải tu tập theo Bát Chánh Đạo. Ấy là Chánh kiến (thấy đúng), Chánh tư duy (nghĩ đúng), Chánh ngữ (nói đúng), Chánh nghiệp (làm đúng), Chánh mạng (sống đúng), Chánh tinh tiến (siêng năng đúng), Chánh niệm (nhớ đúng ), Chánh định (tâm an trụ).

Phật giáo còn nói đến luật nhân quảnghiệp báo. Trên đường tái sanh luân hồi, con người chịu ảnh hưởng của nghiệp.Vô minhÁi dục là nguyên nhân chính tạo ra Nghiệp. Chính Vô MinhÁi Dục là cội rễ của mọi tội ác.  Nghiệp và Quả đều tùy thuộc nơi Tâm. Hành động (Nghiệp) và hậu quả của hành động ấy (Quả) đều do Tâm tạo nên. Mục tiêu tối hậu của người Phật tử là tận diệt Nghiệp.  Trong bộ Samyutta Nikaya, Tạp A Hàm, có những lời dạy: “Hãy gieo giống tốt, Ta sẽ hưởng quả lành.”

Thuyết Vô Ngã (4) cho rằng ý tưởng về một bản thể trường cửu bất diệt, gọi là Tôi, Ngã, cái Ta, hay Linh hồn,  chỉ là một niềm tin sai lạc. Cái mà ta gọi là Tôi hay Ngã chỉ là một kết hợp của các uẩn vật lý và tâm linh, hoạt động tương quan mật thiết lẫn nhau trong một dòng biến chuyển từng sát na, chịu chi phối của luật nhân quả.Tất cả đều vô thường. Phật giáophủ nhận hiện hữu của Ngã, linh hồn, Thượng đế.  Sự sống đã phát sinh, tồn tại và tiếp diễn là do mười hai nhân duyên:  đó là Vô minh , nghiệp, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão, Tử (5). Nếu đảo ngược công thức lại, ta sẽ đi đến sự chấm dứt của quá trình. Vô minh diệt thì Nghiệp diệt, Nghiệp diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt,..cho đến khi sinh lão, tử, ưu bi khổ não… diệt.

            Đọc thơ Thiền, người đọc sẽ nhận ra những tư tưởng căn bản trên nơi sự chứng ngộ cuả các Thiền sư. Vì thế thơ Thiền trước hết là thơ tư tưởng, không phải là thơ kiểu thơ phản ánh hiện thực hay thơ giãi bày tâm trạng

III. THIỀN TÔNG (6)

Thơ Thiền thể hiện tư tưởng Phật giáo nhưng có những đặc sắc riêng cuả Thiền. Thiền là đạo giác ngộ hình thành qua kiến giải Trung Quốc, là cách tu chứng khác với Phật giáo Ấn độ.

Thiền khởi từ Thiền thoại:”Thế Tôn niêm hoa, Ca Diếp vi tiếu”, nghĩa là Phật giơ lên cành hoa, Ca Diếp nhìn cành hoa và mỉm cười. Ca Diếp đốn ngộ tâm truyền, trực tiếp từ hành động cuả Phật, không qua kinh điển. Phật phó chúc Thiền cho Ca Diếp, và từ Ca Diếp tâm ấn Phật được tiếp tục truyền thừa đến tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma, sơ tổ Thiền Trung Hoa. Bồ Đề Đạt Ma (-528) sang Trung Quốc vào năm 520, mang theo một thông điệp, được coi là tôn chỉ cuả Thiền:

Giáo ngoại biệt truyền
Bất lập văn tự
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành Phật
.

        (Truyền riêng ngoài giáo / Chẳng lập văn tự /Trỏ thẳng tâm người / Thấy tánh thành Phật )

Thiền đặt nặng lý Giác Ngộ. Tu chứng theo Thiền là nỗ lực tự chứng, nỗ lực tự mình, trong nội tâm mình, để ”Kiến tánh thành Phật”. Phương pháp cuả Thiền là không dùng văn tự, mà tác động trực tiếp vào tâm. Bởi vì ”Tâm tức Phật / Phật tức tâm “. Vô Minh, Nghiệp quả, Ái dục cũng do tâm. Tứ Diệu Đế, Mười Hai Nhân Duyên hoặc giáo lý Vô Ngã chỉ là người hướng đạo trí thức vạch ra con đường thực hiện sinh hoạt Phật giáo. Vì thế Thiền tập trung vào Phát tâm, an trú tâm và hàng phục tâm .

Hai bộ kinh quan trọng cuả Thiền là kinh Lăng Già (Lankavatara-Sutra) và kinh Kim Cang (7)          

Kinh Lăng Già có thuyết “Như Lai tạng” ảnh hưởng đến toàn bộ Thiền tông. Như Lai tạng là: Tất cả chúng sinh đều tàng chưá Như Lai, tức là Phật tính. Phật tính bị khách trần che phủ nên phải tu tập bích quán để trừ dứt khách trần cho Phật tính thanh tịnh hiển lộ. Kinh Lăng Già chú trọng ở sự ngộ lý, nội chứng, rời bỏ ngôn thuyết, văn tự, vọng tưởng, nhấn mạnh tự tu, tự ngộ, tự chứng để đạt tới cảnh giới “ tự giác thánh trí

Ý tưởng nền tảng cuả kinh Kim Cang là giáo lý về Tính KHÔNG (8). Tất cả vạn hữu đang hiện hữu, tự tính của nó là Không. Ý niệm Không không phải là hư vô, mà là trạng thái vượt qua nhị nguyên tử – sinh, vượt qua hữu – vô, vuợt qua sắc tướng. Đó là thể tính chân như cuả hiện hữu, là Như Lai. Thực tướng ấy không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, cũng không thể dùng ý niệm để ý niệm, thấy Như Lai là thấy “thực tại vô tướng”. 

Người làm thơ Thiền có khi thể hiện cái nhìn cuả kinh Hoa Nghiêm. Dưới mắt người hành đạo theo tinh thần Hoa Nghiêm, con ong, cái kiến cho đến cọng cỏ, bụi gai, không cái gì mà không dễ thương, tất cả đều là Phật, tất cả pháp, kể cả sơn hà đại địa đều nhận lực chi phối của huệ Như Lai, đều là Pháp thân Phật. (9)

III.Thi Pháp thơ Thiền

Thơ Thiền được làm theo những nguyên tắc nhất định, có thể gọi là thi pháp. Thực ra không có hẳn một trường phái thơ Thiền, vì thế cũng không hề có lý luận về thi pháp thơ Thiền. Tuy nhiên, khi đọc thơ Thiền, người đọc có thể nhận ra một vài đặc trưng trong phép làm những bài kệ – thơ Thiền cuả các Thiền sư.

1.Thơ Thiền là kinh nghiệm tu chứng cuả Thiền sư, laø thôøi khaéc saùng loaø cuả tâm thanh tònh, an nhiên, đạt tới thực tại vô tướng, thể tính chơn như cuả hiện hữu. Ánh sáng cuả sự chứng ngộ ấy tạo nên cái đẹp thơ.

2. Thơ Thiền được viết bằng kiểu ngôn ngữ vô ngôn, xuất phát từ cách sử dụng ngôn ngữ cuả các Thiền sư. Đối với Thiền, ngôn ngữ được xem là lừa dối và sai lạc để thấu hiểu chân lý. Kinh Lăng Già khẩn thiết bảo ta rằng ngôn ngữ là một phương tiện hoàn toàn thiếu thích đáng để diễn đạt và truyền đạt nội thể của Giác Ngộ. Kinh Kim Cang viếtVô pháp khả thuyết thị danh thuyết pháp

(thuyết pháp là:  không có pháp nào có thể thuyết ấy là thuyết pháp) . Thực tại vô tướng, thể tính chơn như không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, hay bằng ý niệm.

Vì thế đọc thơ Thiền, người đọc phải tìm ra cách nói cuả tác giả, nắm lấy diệu lý Thiền, vượt qua ngôn ngữ. Các Thiền sư phải trải qua vô số thử thách ê chề mới đạt tới được tuyệt kỹ này. Cách nói vô ngôn có thể gói trong những thí dụ sau (10): 1. Nói nghịch, 2. Nói vượt qua, 3. Nói chối bỏ, 4. Nói quyết, 5. Nói nhại, 6.Hét, 7. Phép im lặng, 8. Lý luận vòng tròn.

Nói nghịch là cách noí nghịch lý. Phó Đại Sĩ nói:

Tay không: nắm cán mai

Đi bộ: lưng trâu ngồi

Theo cầu qua bến nước

Cầu trôi nước chẳng trôi.

Nói vượt qua là cách nói thoát khỏi nhị nguyên khẳng định và phủ định.

Nói chối bỏ là cùng một người, và cùng một câu hỏi, lúc nói “”, lúc nói “không”.

Nói quyết cách nói lạc đề:

Một ông tăng hỏi Thiền sư Hoa Sơn (?): “Thế nào là Phật”,

Sư đáp: “Tôi biết đánh trống, tum đùng đùng” 

Nếu hiểu vạn pháp (mọi hiện hữu) đều có Phật Tính, và Phật tính hiện trong vạn pháp, thì dù trả lời lạc đề thế nào, hình ảnh trong câu trả lời vẫn dẫn đến Như lai.

Nói nhại là nhại lại câu hỏi cuả người hỏi:

Một ông tăng hỏi Trường Sa: “Làm sao chuyển non sông đất nước trở về cái tự kỷ?”

Sư đáp: “Làm sao chuyển cái tự kỷ thành non sông đất nước?”

Đối với các Thiền sư, lời nói, ngôn ngữ  là một thứ tiếng la, tiếng kêu, thoát ra từ sự tự chứng nội tại; nó vô nghĩa, vì thế muốn hiểu Thiền phải tự hiểu chính ta, không phải hiểu nghĩa của ngôn ngữ phản chiếu những ý niệm. Thiền không thể nói được cho những người chưa có tự chứng.

3. Thơ Thiền sử dụng một số diễn tả đã thành “điển“ cuả Phật giáo, như điển hoá Thiền thoại; diễn tả cái Cócái Không nhị nguyên bằng những chữ như sát (giết chết) và hoạt (cho sống), đoạt (cướp lấy) và dữ (ban cho), xúc (khẳng định) và bối (phủ định), bằng từ vựng Phật giáo như khổ, dục, vô thường, vô ngã,  tâm, an nhiên thanh tịnh v.v…

Ta gặp hình ảnh diễn tả tư tưởng Phật quen thuộc như: Tất cả các pháp là hữu vi, đều giống như sao đêm (tinh), như mắt loạn (), như ngọn đèn (đăng), như huyễn thuật (ảo), như sương mai (lộ), như bọt nước(bào), như cơn mộng (mộng), như ánh chớp (điện), như đám mây nổi (vân).

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố uý

Thịnh suy như lộ thảo đầu phôi

            (Vạn Hạnh Thiền sư)

Hoặc:

Hết thảy pháp hữu vi
Như chiêm bao, huyễn thuật,
Như bọt nước, ảo ảnh,
Như suơng mai, điện chớp,
Hãy quán chiếu như vậy.

          (bài kệ trong kinh Kim Cang )

Những hình ảnh quen thuốc ấy có nghiã riêng cuả giáo lý Phật. Tinh tú biểu tượng cho cái thấy. Mắt bệnh là ví dụ cho tướng của đối tượng.  Ngọn đèn là thức uẩn. Huyễn thuật là cư xứ, chỉ khí thế gian, Sương mai là ví dụ cho thân thể. Bọt nước là thọ dụng. Chiêm bao là thời gian quá khứ. Điện chớp là thời gian hiện tại. Vầng mâylà thời gian vị lai.

4. Một bài thơ Thiền có thể có hai lớp nghiã. Lớp nghiã nghiã tư tưởng, diễn tả sự chứng ngộ cuả tác giả về Chân Như, và lớp nghiã nghệ thuật, do hệ thống hình tượng thơ gợi ra. Lớp nghiã này được hiểu theo cách hiểu cuả cộng đồng, bằng tri thức, văn hoá thẩm mỹ cuả cộng đồng . Hai lớp nghiã này có khi đồng nhất, có khi là riêng biệt, tuỳ theo cách sử dụng kiểu ngôn ngữ cuả Thiền sư. Nếu ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ dạy đệ tử, lời dạy trực tiếp cho người chưa chứng ngộ, đó là kiểu ngôn ngữ đời thường, hai lớp nghiã này thường đồng nhất. Nếu Thiền sư biểu lộ sự chứng ngộ, thì đó là kiều ngôn ngữ vô ngôn, là tiếng kêu vô nghiã. Lúc ấy, nghiã tư tưởng và nghiã nghệ thụật là tách biệt, có khi không có quan hệ gì với nhau. Vì thế những cách đọc bằng phương pháp truyền thống,  phân tích nhân vật trữ tình, phương pháp Tiểu Sử, Phân Tâm Học , Phản ánh Luận , Cấu Trúc Luận … thường là bất lực trong việc giải mã thơ Thiền

IV Thử đọc một vài bài thơ Thiền

1Thiền sư Không Lộ (?-1119 )

Trạch đắc long xà địa khả cư

Dã tình chung nhật lạc vô dư

Hữu thì trực thướng cô phong đỉnh

Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

                                                      Dịch:

Kiểu đất long xà chọn được nơi

Tình quê lai láng chẳng hề vơi

Có khi xông thẳng lên đầu núi

Một tiếng kêu vang, lạnh cả trời

            (Kiều Thu Hoạch dịch)

Hai câu đầu là trạng thái an lạc cuả Thiền giả. Chọn được đất rồng rắn có thể ở được. Tình quê vui vẻ (lạc) suốt ngày, không gì hơn. An nhiên, không vướng mắc sự đời, đó là trạng thái “Ưng vô sở trú “ . Sự vật (long xà điạ), con người (tác giả), thời gian (chung nhật) cùng hợp nhất. Lời thơ như là kể, là tự nói chuyện với chính mình, vì thế câu thơ không có chủ thể trực tiếp cho hành động “trạch đắc“(chọn được), hành động “”(ở), và trạng thái “lạc vô dư” (an vui không gì hơn ). Nếu tứ thơ tiếp tục phát triển theo hướng miêu tả cuộc sống nhàn nhã thảnh thơi, thì chưa hẳn đã là thơ Thiền, bởi an vi, “vô vi” cũng là cách sống cuả nhà Nho xưa, bài thơ sẽ trở thành thơ Nhàn cuả nhà Nho.

Hai câu sau là phút toả sáng sự chứng ngộ: Có lúc lên thẳng ngọn núi trơ trọi. Kêu một tiếng dài lạnh cả thái hư. Chứng ngộ Thiền là tự chứng, tự nội tâm mình, đơn độc. Người tu Thiền phải chiến đấu quyết liệt với chính mình, như người leo núi đơn độc. Núi ở đây có thể hiểu theo cách Trần Thái Tông nói về “bốn núi “: sinh, lão, bệnh, tử. Núi chính là ngũ uẩn, là vô minh, là nghiệp, là sắc tướng vô thường mà người tu Thiền phải vượt qua để đạt đến Ngã Không, đạt đến tự tánh. Theo Tổ Huệ Năng (11), tu Thiền là nỗ lực“kiến tánh thành Phật “. Chứng ngộ là thấy được tự tánh. Con người, vũ trụ là một, “tất cả tức một, một tức tất cả”. Con người có uy lực cuả vũ trụ.  Bởi vì tự tánh bao hàm toàn thể vũ trụ, tự do tự tại, đầy sinh lực sáng tạo, mà đồng thời cùng tự tri tự giác.Vì thế Không Lộ Thiền sư kêu một tiếng dài làm cả thái hư lạnh lẽo. Đó là cách nói biểu hiện sự chứng ngộ.

Trong thực tế sẽ chẳng có ai lên thẳng đỉnh núi cô độc, ở đó một mình với chính mình, kêu dài một tiếng làm lạnh cả thái hư. Tại sao hai câu đầu là tâm an lạc mà hai câu sau lại là trạng thái cô độc tuyệt đối: đỉnh núi cô độc và con người cô độc trên đỉnh núi? Tại sao con người không ở yên trong an lạc mà lại lên thẳng đỉnh núi cô độc kêu lên một tiếng dài, tiếng kêu tan vào thái hư? Rõ ràng là hai tình huống ngôn ngữ không logic với nhau, thậm chí tương phản nhau. Người đọc nhận ra kiểu ngôn ngữ vô ngôn, trong cách nói quyết. Tứ thơ là những hình ảnh vô nghiã. Nó chỉ là tiếng kêu từ tâm chứng ngộ. Ngôn ngữ không phản ánh hiện thực hay phản ánh con người nhà thơ…

 Để hiểu hình ảnh núi, xin đọc bài kệ cuả thiền sư Ranryô (12)

  Thiền định và trì niệm

   Như hai toà núi lớn

   Căn cơ người sai khác

   Phật tánh vốn chung đồng

   Kẻ lên được tận đỉnh

  Thấy trăng chiếu muôn nơi

   Thương người thiếu tín tâm

   Mờ mịt giưã dốc ghềnh

Ranry-Ô giúp ta hiểu  “kẻ lên tận đỉnh núi “ cuả Không Lộ Thiền sư là “ đỉnh núi cuả thiền định và trì niệm “, con đường dẫn đến giác ngộ. Đạt tới đỉnh núi là đạt tới chứng ngộ.

Bằng cách đọc theo phản ánh luận, kết hợp với việc phân tích nhân vật trữ tình, và “tán “thơ “, có người hiểu hai câu thơ cuả Không Lộ Thiền Sư thế này: (13)

“Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng

Một tiếng kêu vang lạnh cả trời “

Hai câu thơ cao khiết mà cô đơn lạ! Cái ý tưởng nào mà chợt đến, chợt đi (có lúc), mà táo bạo (trèo lên thẳng) với tâm thế hết sức cô đơn (đỉnh núi trơ trọi). Tiếng kêu ấy thảng thốt biết bao làm cho cả bầu trời rùng mình, ớn lạnh. Phải chăng đây là khát vọng vươn tới cái cao cả, cái nằm ngoài giới hạn cuả con người? Phải chăng đây cũng là ước mơ cháy bỏng hoà đồng với thiên nhiên, ngang tầm với vũ trụ? Dù sao thì hai câu thơ tự chắp cánh cho mình, một thời đã làm run lạnh cả bầu trời ấy, đến nay vẫn làm chúng ta giật mình ngơ ngác. Vì nó lớn lao quá mà rất đỗi thiết tha. Nó rất “con người”. (Tôi xin không có lời bình về cách hiểu này)

Cái hay cuả bài thơ này là gì? là sự thể hiện tư tưởng Phật  hay ở hình tượng và  nghệ thuật thơ ?

Có thể thấy rằng, cái hay cuả bài thơ thể hiện ở tính độc đáo trong cách diễn tả sự chứng ngộ Phật và ở hình tượng thơ mới lạ. Ở Thiền, sự chứng ngộ cuả mỗi Thiền sư là sự chứng ngô riêng, độc đáo và đột khởi, đốn ngộ. Không Lộ Thiền sư cũng chứng ngộ như thế: lên thẳng đỉnh núi cô độc, kêu dài một tiếng làm lạnh thái hư. Đó là ý nghiã tư tưởng. Ý nghiã nghệ thuật cuả hình tượng thơ lại đem đến cho người đọc những mỹ cảm khác. Đó là vẻ đẹp tâm hồn dung dị cuả nhà thơ hoà mình trong đời sống dân dã, đằm thắm trong cái tình quê suốt ngày vui không gì hơn. Hình ảnh nhà thơ có lúc đã từng lên thẳng đỉnh núi cô độc, kêu một tiếng dài, âm vang làm lạnh thái hư. (Những người ở rừng ở núi thường dùng tiếng kêu dài, hú dài để gọi nhau) Có lẽ nhà thơ đã khám phá ra sức mạnh cuả chính mình trong thiên nhiên và trong thái hư (vũ trụ). Bài thơ gợi ra hình ảnh một Thiền sư ở giưã cuộc sống, giưã thiên nhiên, vưà ung dung giản dị, vưà mạnh mẽ phi thường, vượt lên tất cả, hoà nhập tất cả, “tất cả tức một, một tức tất cả”.

2. Thieàn sö   Mugaku (14)là người sáng lập Thiền Tông Nhật Bản. Sư sinh ra và lớn lên ở Trung Quốc, ngộ Thiền từ 12 tuổi. Năm 1275 quân Mông cổ tràn vào Trung Quốc. Mugaku lúc ấy đã xuất gia, di tản khỏi chùa. Một năm sau chiến sự lại tràn đến, sư ở lại chuà. Khi ấy Mugaku đang tĩnh toạ tại chánh điện, quân Mông Cổ tràn vào. Chúng kề gươm vào cổ ngài mà uy hiếp. Ngài điềm nhiên đọc một bài kệ, quân Mông Cổ hạ gươm rồi rút lui. Bài kệ như sau:

Gom toàn thể thế giới

Chẳng vừa một đầu gậy

Vạn pháp vốn là không

Vô thường và vô ngã

Lưỡi gươm bọn hung nô

Lấp loáng cắt xuân phong.

                      (Thiền sư   Mugaku)

Trước hết bài kệ là cách sư Mugaku trả lời cho sự uy hiếp cuả quân Mông Cổ. Chúng lấy cái chết để đe doạ Thiền sư. Ngài noí: toàn thể thế giới là quá nhỏ, gom toàn thế thế giới chẳng vưà một đầu gậy. Mọi hiện hữu (vạn pháp) đều là Không, vậy sự hiện hữu cuả Ngài là vô ngã, nào có nghiã gì. Nếu lưỡi gươm tàn bạo cuả quân Mông có lấp loáng, cũng chì là cắt vào gió xuân, cắt vào Không. Lời cuả sư chỉ ra rằng, sức mạnh vật chất tàn bạo cuả quân Mông Cổ, dù có chém đầu ngài, cũng chỉ là vô nghiã. Vì chúng là Không, và chúng đối diện với Không. Nội dung tư tưởng cuả bài kệ là triết lý tính Không về bản thể cuả hiện hữu vô thường vô ngã cuả Phật.

Cái hay cuả bài kệ là ở chỗ Thiền sư đã làm hiển lộ sức mạnh, uy lực cuả sự chứng ngộ, con người, vũ trụ là một, tự do, đầy sinh lực sáng tạo. Đối diện với sức mạnh ấy, quân Mông Cổ phải buông gươm.

Nhưng bài kệ còn hay ở hình tượng thơ được nhà sư dụng để thể hiện tư tưởng Phật. Nó vưà tạo ra cái thẩm mỹ, vưà bộc lộ trình độ giác ngộ và uy lực cuả tác giả

Gom toàn thể thế giới

Chẳng vừa một đầu gậy

Cả thế giới gom lại chẳng vưà một đầu gậy, con người này có tầm vóc, uy lực lớn lao mạnh mẽ đến thế nào! Con ngưới ấy có thể gom cả thế giới lại, và cả thế giới là quá bé nhỏ trong tay con người. Một tứ thơ như vậy quả là lạ. Nó chưá đựng sức mạnh Phật.

Lưỡi gươm bọn hung nô

Lấp loáng cắt xuân phong                             

Tứ thơ cuối sáng lên một cái đẹp nghệ thuật khác: lưỡi gươm lấp loáng cắt gió xuân. Tất cả sự tàn bạo cuả quân Mông Cổ trở nên vô nghiã vì cắt vào Không, nhưng tứ thơ có sự chuyển nghiã, tất cả sự tàn bạo, đẫm máu, thăng hoa thành cái đẹp “lấp loáng trong gío xuân “. Không còn máu chảy, đầu rơi, tang thương, chết chóc. Sức mạnh tàn bạo cuả sự chết chuyển hoá thành sức mạnh sáng láng cuả sự sống (muà xuân)

Nghiã tư tưởng (Thiền) và nghiã nghệ thuật cuả tứ thơ có sự chuyển hóa đột ngột, mạnh mẽ, mới lạ. Ở bài này sử dụng ngôn ngữ đời thường, lời thơ là lời Thiền sư nói với quân Mông Cổ, vì thế nghiã tư tưởng và nghiã nghệ thuật có thể trùng với nhau.      

3. Mãn Giác đại sư (1052-1096)

Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân lai bách hoa khai

Sự trục nhân tiền quá

Lão tòng đầu thượng lai

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Dịch:

Xuân ruổi, trăm hoa rụng   

Xuân tới, trăm hoa cười   

Trước mắt việc đi mãi

Trên đầu già đến rồi       

Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua, sân trước, một cành mai.

                              (Ngô Tất Tố dịch)

Bốn câu đầu là hình ảnh diễn tả tính chất vô thường, vô vọng, cuả hiện hữu trong không gian, thời gian. Cuộc sống luôn vận động trong nhân duyên, có sinh thì có diệt, luân hồi mãi trong cõi sinh tử. Xuân đến rồi xuân đi, hoa nở rồi hoa rụng. Sự việc cứ trôi đi trước mắt.Tuổi già đến trên đầu. Bản thể cuả hiện hữu là vô thường, chẳng có gì tồn tại. Con người chẳng thể níu kéo được gì, chẳng thể níu kéo tuổi xuân cho mình.

Hai câu cuối là sự chuyển hoá lạ lùng, như được thốt ra từ sự chứng ngộ. Đừng tưởng xuân tàn thì hoa rụng hết. Hoa vẫn nở đấy:  Đêm qua, một cành mai đã nở trước sân. Mãn Giác đại sư đã vượt qua vô thường, vượt qua tử sinh, vượt qua luân hồi.  Đại sư đã nhìn thấy cành mai nở trước sân, như Ca diếp mỉm cười chứng ngộ khi nhìn thấy đức Phật giơ cành hoa lên.  Mãn Giác đại sư cũng đang mỉm cười. Cành mai ấy là cành mai tư tưởng, sáng lên một cách lạ lùng trong bóng tối cuả vô thường đã lùi lại phiá sau. Đó là ý nghiã tư tưởng Thiền cuả bài kệ.

Đọc bài thơ này bằng phương pháp cấu trúc luận, Như Huy có những kiến giải thú vị về ý nghiã bài thơ, nhưng Như Huy chưa phát hiện ra sự chứng ngộ cuả mãn Giác (15)

Ở bài kệ này, ngôn ngữ là lời “thị đệ tử “, là lời dạy bảo trực tiếp, ngôn ngữ đời thường. Nhưng lời dạy ấy được diễn tả bằng hình ảnh, tạo nên tứ thơ, Kệ trở thành thơ. Hình tượng nghệ thuật cuả thơ mang đến một ý nghiã khác. Đó là cái nhìn thanh xuân cuả một người tuổi già đã đến trên đầu. Trong cái nhìn ấy muà xuân tồn tại mãi, sự sống vẫn tươi tắn, cái đẹp vẫn tồn tại, dù tất cả vẫn qua đi như một quy luật không cưỡng lại được. Tứ thơ “Đêm qua, sân trước, một cành mai.” Là một tứ thơ mới lạ cả về nghệ thuật và tư tưởng thẩm mỹ. Nhà thơ chọn trong trăm hoa rụng một cành mai tươi nở. Cái đẹp trong ý thức sáng tạo cuả nhà thơ là cành mai, là muà xuân, là tuổi trẻ, là sự sống và một niềm tin vĩnh cửu. Đối với người Việt Nam, cành mai luôn là hình ảnh gần gũi cuả mọi nhà mỗi khi xuân về, chẳng bao giờ thiếu muà xuân trên đất nước trăm hoa này. Điều này giúp chúng ta hiểu được tại sao bài thơ gắn kết lâu bền trong thi ca dân tộc và trong tâm hồn người Việt như vậy.

4. Thơ Thiền Bùi Giáng (16)

Thơ Bùi Giáng có tư tưởng Thiền. Bùi Giángnhận ra “tinh thể đười ươi “ trong thân phận người .

Hoặc rằng người cũng là tôi
Hay là tôi cũng là tôi như người
Ấy rằng tinh thể đười ươi
Lời rằng quyết tuyệt và tươi vui và
Ấy rằng một cũng là ba
Là hai mai một mốt là hôm nay.

Trong Thiền Luận, Daisetz Teitaro Suzuki nhắc đến Thiền Thoại sau: Khi Ngưỡng Sơn (804-899) hỏi về Phật tánh. Thiền Sư Hồng Ân giảng như vầy: “Như ngôi nhà có sáu cửa nhốt khỉ đột. Ở ngoài có người hô to “khọt khọt”, khỉ đáp lại “khọt khọt”, cứ thế sáu cửa cùng hô cùng ứng. Ngưỡng Sơn hỏi lại: “Ví như lúc ấy khỉ ngủ thì sao?”. Hồng Ân bước xuống một tay nắm Ngưỡng Sơn, vừa múa vừa nói: “Khỉ ơi khỉ ơi, ta với ngươi cùng đối mặt nhau đây”. Bùi Giáng thay khỉ bằng đười ươi, tạo ấn tượng mạnh hơn vì đười ươi hay cười. Đó cũng là hình ảnh nghệ thuật Bùi Giáng tự vẽ chân dung cuả chính mình

Đoạn thơ trên biểu hiện tâm hồn, tính cách, kiều nói năng rất Thiền cuả Bùi Giáng. Bùi Giáng nhận ra Phật Tánh trong hình hài đười ươi cuả người, cuả tôi. “người cũng là tôi, tôi cũng là người, ấy rằng tinh thể đười ươi “. Vũ trụ, thời gian là nhất thể, tự tại, không sinh diệt: “một cũng là ba, là hai, là một; mai, mốt cũng là hôm nay “. Sự giác ngộ như thế là bước giác ngộ thứ nhất để dẫn đấn đại ngộ. Bùi Giáng không nhìn tha nhân như người khác mà nhìn tha nhân trong cùng một bản thể Phật tính, không nhìn tha nhân như người cuả thế giới khác, vũ trụ khác, mà nhìn tha nhân trong hiện hữu thường hằng, quá khứ- hiện tại – tương lai – không gian – thời gian là một. Trong một tương quan như thế, người đọc thấy Bùi Giáng an nhiên ngay trong cuộc sống thực tại.

Cái hay cuả đoạn thơ ấy là kiểu ngôn ngữ Bùi Giáng. Ngôn ngữ như bông đuà. Nói chuyện tư tưởng thâm sâu cuả sự chứng ngộ mà tếu táo chẳng đâu ra đâu, lẫn lộn lung tung. Thực ra Bùi Giáng cố ý xáo trộn ngôn ngữ, dùng cách nói vòng (kiểu ngôn ngữ cuả các Thiền sư),  tạo ra sự xáo trộn trật tự logic cuả ngôn ngữ đời thường, xáo trộn không gian, thời gian, đạt tới sự diễn tả tư tưởng.

Ấy rằng một cũng là ba
Là hai mai một mốt là hôm nay.

Để hiểu câu thơ này, cần sắp xếp lại ngôn từ theo logic cuả ngôn ngữ đời thường. một-hai-ba (không gian) -mốt-mai-hôm nay (thời gian), tất cả là một. Vạn pháp là một Phật tính. Phật tính hiển hiện trong vạn pháp. Tuy nhiên đoạn thơ không phải là tâm thế đốn ngộ cuả Bùi Giáng. Bùi Giáng chỉ mượn tư tưởng Thiền để thể hiện cá tính sáng tạo cuả mình, một cá tính tài hoa. Vì thế thơ Bùi Giáng là thơ cuả một nghệ sĩ tài hoa, khác với những bài kệ / thơ Thiền cuả các Thiền sư.

5. Thơ Thiền Trần Ngọc Tuấn (17)

Trần Ngọc Tuấn là một nhà thơ trẻ. Thật đáng ngạc nhiên vì Tập Suối reo cuả anh là một tập thơ Thiền. Trong tình hình người trẻ làm thơ hiện nay, thì sự chọn lựa ấy cuả Trần Ngọc Tuấn là sự chọn lưạ đầy khó khăn. Trần Ngọc Tuấn không phải là một Thiền sư, anh vẫn đang sống lăn lộn giưã đời,  vì thế Suối Reo là thơ của đời ánh lên sắc Thiền, thơ của một con người còn đang “ qua dốc sương mù

Gánh củi qua dốc sương mù

Mồ hôi giọt gịot gió ù ù bay

Nghìn tia nắng dệt trang ngày

Bước chân hoan hỉ, đêm này lửa reo

Sống là gánh lấy bao nhiêu nỗi vất vả như người gánh củi. Ngày đêm phải vượt qua con dốc sương mù và đương đầu với gió ù ù bay. Nếu nhìn nhận cuộc đời như thế, tác giả sẽ chuyển bài thơ thành tâm tình thở than. Thế nhưng Qua Dốc Sương Mù lại rực rỡ ánh sáng của sự thăng hoa. Đó không phải là thứ ánh sáng thiên nhiên của nghìn tia nắng, hay ánh sáng của đêm lửa reo, mà là ánh hào quang của Phật. Nỗi vất vả, thống khổ trở thành con đường hạnh ngộ. Qua dốc sương mù là vượt qua vô minh, vượt qua khổ (Diệu đế I). Người gánh củi kia tỏa ánh hào quang của Phật trong “bước chân hoan hỷ ‘. Bài thơ không miêu tả hiện thực gánh củi mà tả khỏanh khắc chứng ngộ đầy hỷ hoan trong ánh sáng toả ra từ Tâm Bát Nhã. Hiện thực đuợc nhìn bằng Trí Huệ Bát Nhã (Prajna). Đó là ý nghiã tư tưởng cuả bài thơ.

Người ta có thể hiểu bài thơ khác đi qua cách đọc phản ánh hiện thực. Bài thơ là cái nhìn lạc quan, là tấm lòng nhân hậu Trần Ngọc Tuấn đối với người gánh củi. Bài thơ cũng là một bức tranh  tả cảnh gánh củi vất vả,  trên nền thiên nhiên rạng rỡ, trong ánh sáng ấm áp cuả bếp lửa gia đình do củi mang laị, từ đó nói đến một  tiến trình tư tưởng tích cực, suy từ sự  vất vả đến hạnh phúc mà người gánh củi đạt được.

Ở bài thơ này, Trần Ngọc Tuấn chưa đạt đến các nói cuả Thiền sư. Ngôn ngữ thơ không phải là kiểu ngôn ngữ vô ngôn cuả Thiền, vì thế nghiã tư tưởng và nghiã nghệ thuật có thể chồng khít lên nhau, không tinh ý khó có thể nhận ra ý nghiã Thiền cuả bài thơ. Dầu vậy bài thơ cũng có được những tứ thơ hay và ngôn ngữ nghệ thuật tinh ròng. Sự kết hợp Tứ Tuyệt với Lục bát tạo nên màu sắc thẩm mỹ riêng, vưà có cái cô đọng tư tưởng cuả Tứ Tuyệt, vưà có cái mền mại thanh thoát cuả Lục Bát, vưà có sự sang trọng cuả tư tưởng vưà có sự dung dị dân dã cuả hồn thơ.

6. Thơ Thiền Phạm Thiên Thư

Tôi chưa có dịp nói đến những kinh Phật được Phạm Thiên Thư phổ thơ như  Qua Suối Mây Hồng – Kinh Ngọc (thi hóa Kinh Kim Cương), Hội Hoa Đàm – Kinh Hiền (thi hóa Kinh Hiền Ngu, 12 ngàn câu lục bát), Suối Nguồn Vi Diệu – Kinh Thơ (thi hóa Kinh Pháp Cú)

Chỉ xin thử đọc một đoạn trong bài Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng cuả Phạm Thiên Thư (PTT) xem thơ Thiền cuả Phạm Thiên Thư có thi vị thế nào. Đặc sắc thơ Phạm Thiên Thư là thơ tình có vị Thiền. Điều này lạ. Bởi vì tình là khổ luỵ. Thiền là cắt đứt nghiệp chướng. Phạm Thiên Thư đã tạo nên sự kết hợp này thế nào? xin đọc:

21
Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lý một nhành đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân

22
Thì thôi tóc ấy phù vân
Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương
Thì thôi mù phố xe đường
Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi

Nội dung đoạn thơ là câu chuyện tình yêu, là những lời yêu Phạm Thiên Thư gửi đến người tình, nhưng những  ý tứ Thiền lại hiển lộ rất rõ trong cái nhìn, trong ngôn ngữ, trong tâm thức nhà thơ: phù vân, sương, mù, đoạn trường. Trong khổ thơ này Phạm Thiên Thư không dụng ý thể hiện tư tưởng Thiền, nhà thơ chỉ mượn từ ngữ, ý tứ để diễn tả tâm trạng yêu. Phạm Thiên Thư nhìn người yêu mà suy gẫm, lúc nằm, lúc về, hình hài ấy, dáng vẻ ấy: môi thanh xuân đào lý đấy, tay đơm muà hè, gót dời hoa xuân. Nhưng mà hiện hữu ấy, tóc ấy chỉ là phù vân; lệ ấy, dáng ấy mong manh như sương. Em tuy đẹp, tuy dào dạt đào lý, dào dạt yêu thương trong mắt lệ, em giưã cội thu xan , giưã vàng phố mây trời,  nhưng chỉ là vô thường, chỉ là khổ (đoạn trường) chỉ là vô minh (mù) , là  hư huyễn( phù vân ). Trái tim nhà thơ thốt lên nỗi buồn thương không sao ngăn được. Nhà thơ kêu lên nhiều lần “thì thôi “, chấp nhận thực tại, để rồi buộc phải nói lời ly tan “thôi thì thôi nhé”. Bản chất cuả hiện hữu là thế, và tình yêu, dù thăng hoa đẹp đẽ thế nào cũng không thoát ra được. Phạm Thiên Thư- người tình, chỉ còn mong

Mai anh chết dưới cội đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu

Thiền vị đem đến những giá trị thẩm mỹ gì cho thơ Phạm Thiên Thư?

Thơ Phạm Thiên Thư sang trọng, thanh cao là nhờ ở Thiền Vị. Phạm Thiên Thư cũng viết về đoạn trường, chia li, cũng viết về mắt, về môi, về dáng đứng, dáng nằm cuả người con gái, nhưng tuyệt nhiên không nhuốm mùi nhục thể, tuyệt nhiên không rực lưả dục vọng. Cũng là nước mắt, cũng là ly tan, nhưng không có hờn ghen oán trách tình phụ, không bi luỵ tang thương. Thiền vị làm thăng hoa thơ tình Phạm Thiên Thư

Thật khác xa với cái nhìn tang thương bi đát cuả Nguyễn Gia Thiều trong Cung Oán Ngâm Khúc

“…Ngọn tâm hoả đốt dầu nét liễu

Giọt hồng băng thấm ráo làn son…

…Nghĩ thân phù thế mà đau,

Bọt trong bể khổ, bèo dầu bến mê…

…Phong trần cả đến sơn khê

Tang thương đến cả hoa kia cỏ này…”


Sự khác biệt ấy là ở chỗ Phạm Thiên Thư đã “ ngộ” được chân lý Thiền, trong khi Nguyễn Gia Thiều còn đang ngụp lặn ở bến mê.

Thật thú vị nếu tiếp tục đi sâu hơn nưã trong việc xem xét ảnh hưởng cuả Thiền trong thơ ca. Chẳng hạn Nguyễn Du trong bài Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài cho biết ông đã từng đọc hàng ngàn biến kinh Kim Cang .

Ngã độc Kim Cang thiên biến linh
Kỳ trung áo nghĩa đa bất minh
Cập đáo phân kinh thạch đài hạ
Tài tri vô tự thị chân kinh.”

           ( Ta đọc hơn ngàn biến Kinh Kim Cang, những ý nghĩa sâu kín trong đó phần nhiều ta không rõ. Đến hôm nay tới đài chia kinh này mới biết rằng Vô tự chính là Chân kinh.)

Tuy nhiên điều ấy nằm ngoài phạm vi cuả bài viết này: Một cách tiếp cận thơ Thiền .

Quả là nếu tiếp cận đúng hướng thơ Thiền, người đọc có thể thưởng thức được những giá trị, những khoái cảm thẩm mỹ đặc biệt mà thơ Thiền đem lại. Nhìn trong quá trình phát triển, những bà Kệ thuần tính cách nghi lễ, khi được diễn đạt bằng ngôn ngữ hình tượng biểu cảm, đã chuyển hoá thành  thơ.Thơ Thiền cuả các Thiền sư có sự chuyển hoá ấy. Và khi Thiền thâm nhập được vào trái tim nhà thơ thế tục, Thiền vị tạo nên cái đẹp mới lạ trong những áng thơ, có khi đọc không hiểu, song vẫn có thể cảm nhận được qua hình tượng tư tưởng-thẩm mỹ như thơ Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư. Con đường phát triển ấy còn nhiều hưá hẹn cho thơ ca Việt Nam.

                                                                                                                        Tháng 10 / 2007

Nguồn: Chút tình tri âm-Bùi Công Thuấn, Lý luận phê bình. Nxb Hội Nhà Văn. 2009

___________________________________________________________________________ 

(1) Thiền Uyển Tập Anh

(2), (12), (14)101 Giai Thoại Thiền” – Thomas Cleary Nxb Tp Hồ Chí minh 2001. Tr.144

(3) “Đức Phật Đã Dạy Những Gì” – Hòa thượng WALPOLA RAHULA – Thích Nữ Trí Hải dịch -1998

(4), Bài thuyết pháp thứ 2 cuả Đức Phật Anattalakkhana Sutta – Kinh Vô Ngã Tướng.  
(5)Thập nhị nhân duyên:  Suốt thời gian bảy ngày đầu tiên sau khi thành đạo, Đức Phật ngồi không lay động

     dưới tàng cây Bồ Đề. Trong đêm cuối tuần, Ngài xuất thiền và suy niệm về Thập Nhị Nhân Duyên

     (Paticca Samuppada), đó là Vô minh, nghiệp, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh

     , Lão, Tử.

(6),(10), (11)Thiền Luận  –  SUZUKI

(7) “Tìm hiểu về Thiền Tông Phật Giáo Trung Hoa”.-Nguyễn Tuệ Chân – nxb Đà Nẵng 2006.tr34

(8)Giới thiệu và giải thích đề kinh Kim Cương Bát Nhã “-Thích Thái Hòa

(9)Giới thiệu Kinh Hoa Nghiêm” – Hoà Thượng Thích Trí Quảng

(13) “Thơ văn Lý Trần” – Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường- Nxb Giáo dục 1999.Tr.63

(15) Đọc thêm: Như Huy –Thêm hai cách đọc bài thơ / kệ “Cáo tật thị chúng” của Mãn Giác Thiền Sư”

       http://www.tienv,org

(16) Đọc thêm: Bùi Công Thuấn – “Bùi Giáng, ai người chia sẻ

(17) Đọc thêm: Bùi Công Thuấn – “Một mình ra khơi “ (về tập Suối Reo cuả Trần Ngọc Tuấn , Nxb Hội Nhà

        Văn 2006). Bài này đã đăng trên Văn Nghệ Trẻ ngày 28/01/2007

Đã đăng trên Giác Ngộ online.

https://giacngo.vn/mot-cach-tiep-can-tho-thien-post2068.html

“Hướng đến một Hội thánh hiệp hành: Hiệp thông, tham gia và sứ vụ”

BẠN CÓ THỂ ĐỌC CÁC BÀI VIẾT CHÍNH CỦA BÙI CÔNG THUẤN THEO LINK: buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

***

“Hướng đến một Hội thánh hiệp hành:

Hiệp thông, tham gia và sứ vụ”

Bùi Công Thuấn

***

Mở đầu Tài liệu chuẩn bị Thượng Hội đồng xác lập vấn đề:[1]

 Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi toàn thể Giáo hội suy tư về một chủ đề mang tính quyết định đối với đời sống và sứ vụ của mình: “Con đường hiệp hành này chính là con đường Thiên Chúa mong đợi nơi Giáo hội của thiên niên kỷ thứ ba”. Hành trình này, theo ý hướng “canh tân” Giáo hội được Công đồng Vaticanô II khởi xướng, chính là một ân phúc mà cũng là một nhiệm vụ: bằng cách cùng nhau cất bước hành trình và cùng nhau suy nghĩ về hành trình đã thực hiện…”,

 Để “cùng nhau cất bước hành trình”, chúng ta cần để cho Chúa Thánh Thần uốn nắn, nhờ đó có được tinh thần hiệp hành thực sự, bằng cách can đảm và tự do dấn bước vào tiến trình hoán cải vốn là điều thiết yếu cho “cuộc đổi mới liên tục mà [Giáo hội] luôn cần đến bao lâu Giáo hội còn là một định chế nhân loại ở trần gian này” (UR, 6; x. EG, 26). ”

I. TẠI SAO GIÁO HỘI ĐẶT VẤN ĐỀ “HIỆP HÀNH”

            Hiệp hành là “cùng nhau cất bước hành trình”, cùng hiệp thông, tham gia thực hiện sứ vụ loan báo Tin Mừng trong thời đại hôm nay. Thực ra vấn đề không mới.

            Trong Kinh thánh, Đức Giêsu đã dạy điều này: “Chính anh em là muối cho đời…Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.” (Mt 5, 13-16). Nước Thiên Chúa như men trong bột (Lc 13, 21). Nghĩa là, Chúa đòi hỏi chúng ta (mọi Kitô hữu) phải dấn thân vào đời và đem Tin Mừng đến cho mọi người.

            Tài liệu chuẩn bị cũng trình bày hình ảnhChúa Giêsu, đám đông đủ mọi hạng người, các Tông đồ: đây là hình ảnh và là mầu nhiệm mà Hội thánh phải không ngừng chiêm ngắm và đào sâu để có thể trở nên chính mình ngày một hơn”(đoạn 20). Nói cách khác, chúng ta cần chiêm ngắm, đào sâu vào mối quan hệ giữa cá nhân với Thiên Chúa, với giáo hội và cộng đồng nhân loại trong sứ vụ loan báo Tin Mừng. Mối quan hệ này đang diễn ra thế nào?

            Vấn đề là: Tại sao Thượng Hội đồng tiếp tục đặt vấn đề “hiệp hành”?

            Tài liệu chuẩn bị giải thích:

“Toàn thể Hội thánh được mời gọi giải gỡ gánh nặng của nền văn hóa thấm nhiễm chủ nghĩa giáo sĩ trị do lịch sử để lại, cùng với những thói tục thi hành quyền bính để mọi thứ lạm dụng khác (quyền lực, kinh tế, lương tâm, tình dục) có cơ hội bám vào.  Không thể có chuyện “hoán cải hoạt động của Hội thánh mà lại không có sự tham gia tích cực của tất cả mọi thành phần Dân Chúa”, vì thế chúng ta hãy cùng nhau cầu xin Chúa ban “ơn hoán cải và xức dầu bên trong để có thể biểu lộ sự hối lỗi trước tội lạm dụng này, và can đảm quyết tâm chống lại những tội ác đó”.

Như thế, Giáo hội hiệp hành là để hoán cải và canh tân; để chống lại “chủ nghĩa giáo sĩ trị cùng với những thói tục thi hành quyền bính để mọi thứ lạm dụng khác”đã gây ra những tội ác…,

 Và:“chúng ta không thể che dấu một thực tế rằng Hội thánh đang phải đương đầu với sự thiếu đức tin và suy đồi của chính mình.(đoạn 6)… Đã quá lâu, Hội thánh không biết lắng nghe cho đủ tiếng kêu than của các nạn nhân ấy”.

Đó là vấn đề làm nhức nhối Giáo hội trong nhiều năm qua, và “hiệp hành” là con đường để giáo hội hoán cảicanh tân.

Nhà thờ Phát Diệm

 II.CÂU HỎI CĂN BẢN

            Để thỉnh ý dân Chúa về Giáo hội hiệp hành, Tài liệu chuẩn bị đưa ra câu hỏi căn bản: (đoạn 26)

            1.Câu hỏi căn bản:

 “Hội thánh hiệp hành “cùng nhau cất bước hành trình”, khi loan báo Tin Mừng: Việc “cùng nhau cất bước hành trình” hiện đang diễn ra thế nào trong Giáo hội địa phương của anh chị em? Để Hội thánh được lớn lên trong việc “cùng nhau cất bước hành trình”, Thần Khí đang mời gọi chúng ta thực hiện những bước đi nào?”

Tài liệu chuẩn bị cũng hướng dẫn phương pháp tư duy:

 Để trả lời, anh chị em được mời gọi: Hãy tự vấn: về những kinh nghiệm trong Giáo hội địa phương? Để học hỏi? Và  chia sẻ”. (đoạn 26).

 Có thể hiểu việc “cùng nhau cất bước hành trình” từ hai viễn tượng khác nhau: là nhìn vào đời sống nội bộ của Giáo hội địa phương ; mối tương quan giữa các giám mục với Giám mục Rôma. và xem xét cách thức dân Chúa cùng đồng hành với toàn thể gia đình nhân loại.

2. Mười chủ đề chính:

Tài liệu chuẩn bị  đề xuất 10 chủ đề suy nghĩ về các khía cạnh khác nhau của việc “sống tinh thần hiệp hành”(đoạn 30) là:

Đồng hành, Lắng nghe, Phát biểu, Cử hành, Đồng trách nhiệm trong sứ vụ, Đối thoại trong Giáo Hội và xã hội, Đại kết với các hệ phái kitô giáo khác, Thẩm quyền và tham gia, Biện phân và quyết định; và Tự đào tạo trong tiến trình hiệp hành.”

             Tài liệu lưu ý: “Hãy nhớ rằng mục đích của Thượng Hội đồng, và do đó của cuộc thỉnh ý này, là “để gieo mầm ước mơ, rút ra các lời tiên tri và thị kiến, cho phép hy vọng nảy nở, khơi dậy niềm tin, băng bó các vết thương, cùng nhau đan kết các mối tương quan, đánh thức bình minh hy vọng, học hỏi lẫn nhau và mang lại một khả năng sáng tạo giúp khai mở trí tuệ, sưởi ấm trái tim, tiếp thêm sức mạnh cho đôi tay”(đoạn 32).

            ***

            Với tư cách một giáo dân, tôi chia sẻ cách tiếp cận riêng về vấn đề hiệp hành (dựa theo hướng dẫn của Tài liệu chuẩn bị Thượng Hội đồng Giám mục).

III. CHIA SẺ VẤN ĐỀ I: 

Việc ‘cùng nhau cất bước hành trình’ hiện đang diễn ra thế nào”?

            Quan sát ở giáo phận Xuân Lộc (nơi tôi sống đạo), việc “cùng nhau cất bước hành trình” giữa các thành phần dân Chúa đang diễn ra rất tốt đẹp. Đó là mối quan hệ đầy thương yêu của Lòng Chúa Thương xót giữa các đấng Giám mục chủ chăn với Linh mục đoàn; giữa các cha sở và Ban Hành giáo, Ban điều hành, các đoàn thể, và giữa các đoàn thể với nhau,… biểu hiện ở sự dấn thân nhiệt thành của Ban Hành giáo, Ban trị sự các giới, sự hoạt động hăng say của các đoàn thể Công giáo tiến hành, các dòng tu, biểu hiện ở các sinh hoạt đức tin sôi nổi: các đợt tĩnh tâm, phong trào Giáo lý hồng ân, các đoàn thể hành hương, việc chung tay làm bác ái, việc chung tay xây dựng Trung tâm Đức Mẹ Núi Cúi, việc xây dựng nhà thờ ở nhiều nơi; việc phát triển nhiều giáo họ và giáo xứ mới, việc chăm sóc ơn gọi sống “đời dâng hiến”, các nề nếp đạo đức và sinh hoạt mục vụ. v.v…Toàn dân Chúa cùng cất bước hành trình, hiệp thông và tham gia sứ vụ loan báo Tin Mừng trong tin yêu và hy vọng. Cuộc họp mặt hàng trăm ngàn giáo dân trong và ngoài giáo phận ngày Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Trung tâm Đức Mẹ Núi Cúi là biểu hiện cụ thể đời sống hiệp hành của giáo hội ở giáo phận Xuân Lộc, một giáo phận có số giáo dân đống nhất trong các giáo phận ở Việt Nam.

            Nếu quan sát trong phạm vi cả Giáo hội Việt Nam, tình hình “cùng nhau cất bước hành trình” giữa các thành phần dân Chúa cũng diễn ra cũng rất tốt đẹp như vậy, tuy biểu hiện có khác nhau do từng hoàn cảnh địa phương. Đại hội dân Chúa năm 2010 là một dấu chỉ của đời sống Hiệp hành tốt đẹp của Giáo hội Việt Nam.

            Tuy nhiên cũng có những hiện tượng “không cùng nhau cất bước hành trình”,

Trong nội bộ giáo hội: thí dụ những sai lạc về Thần học và Tín lý của “Nhóm trừ quỷ Bảo Lộc” đã gây ra ảnh hưởng rất xấu cho đời sống đức tin của Kitô hữu và gây ra những nghi gại cho người ngoài Kitô giáo. Các trang mạng không phải của Giáo hội cũng đưa những thông tin không trung thực gây ra những hậu quả xấu (để không tổn thương đức ái, tôi không nêu tên cụ thể những trang này). Tất nhiên giáo dân có đủ nhận thức để biết đâu là thực giả.

Với tôn giáo bạn, việc hiệp hành vẫn còn nhiều khó khăn. Thí dụ: hòa thượng Thích Nhật Từ [2] đăng đàn xuyên tạc, nói xấu đạo Công giáo (có thể là do trình độ hiểu biết kém cỏi, hoặc là do những định kiến sai lạc, do cái Tâm còn tham, sân, si quá nặng, dù Thượng tọa Thích Nhật Từ là một Tiến sĩ). Ông ta nói: đạo Công giáo Việt Nam có 180 thánh tử đạo, tất cả những người này đều là tay sai của Pháp [3]. Sự thật giáo hội Việt Nam có 118 vị thánh tử đạo, trong đó có hơn 83 vị tử đạo trước năm 1858 (năm Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam), đa số tử đạo vào các năm 1838, 1839, 1840 … Trong đó, có 2 vị dưới thời chúa Trịnh Doanh (1740-1767), 2 vị dưới thời chúa Trịnh Sâm (1767-1782), 2 vị do sắc lệnh của vua Cảnh Thịnh (1782-1802), 58 vị dưới thời vua Minh Mạng (1820-1841), 3 vị dưới thời vua Thiệu Trị (1841-1847),..[4]. Các thánh tử đạo bị các vua chúa phong kiến bắt tù đày, trảm quyết trước khi Pháp xâm lược Việt Nam vậy làm sao kết luận họ là tay sai của Pháp được!

Với Nhà nước: Từ năm 1980 Hội đồng Giám mục Việt Nam đã đề ra đường hướng: Giáo hội Việt Nam “sống phúc âm giữa lòng dân tộc”:

“Là Hội Thánh trong lòng dân tộc Việt Nam, chúng ta quyết tâm gắn bó với vận mạng quê hương, noi theo truyền thống dân tộc hoà mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước. Công đồng dạy rằng “Hội Thánh phải đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ một số phận trần gian với thế giới” (MV 40,2). Vậy chúng ta phải đồng hành với dân tộc mình, cùng chia sẻ một cộng đồng sinh mạng với dân tộc mình, vì quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Người, đất nước này là lòng mẹ cưu mang chúng ta trong quá trình thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tính cách vừa là công dân vừa là thành phần Dân Chúa”(Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam).

            Đường hướng này chính là giáo hội Việt Nam “hiệp hành” dưới ánh sáng Tin Mừng với cộng đồng dân tộc, với môi trường văn hóa, chính trị, xã hội. Đã có những mối quan hệ tốt đẹp giữa giáo hội và dân tộc. Giáo hội Công giáo Việt Nam đã có những đóng góp giá trị vào đời sống văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị của đất nước.

            Tuy vậy, tình hình “cùng nhau cất bước hành trình” của dân Chúa với môi trường chính trị, văn hóa, xã hội, nơi này nơi kia vẫn còn khó khăn. Trường hợp cha Jos Trần Ngọc Thanh, phó xứ tại Nhà thơ Dăk Mốt, Thị trấn Plei Kan, Huyện Ngọc Hồi, Giáo Phận Kon Tum bị sát hại ngay tại tòa giải tội là một thí dụ.

A, Rhodes-người soạn Phép giảng tám ngày…

IV. CHIA SẺ VẤN ĐỀ 2:

Để Hội thánh được lớn lên trong việc “cùng nhau cất bước hành trình”, Thần Khí đang mời gọi chúng ta thực hiện những bước đi nào?”

1. “Để Hội thánh được lớn lên: xin nhìn vào thực trạng:

Ở VN hơn 60 năm qua, tỷ lệ người Công giáo trong tổng dân số có phần sút giảm, chỉ chừng 7% trong tổng dân số. Nghĩa là việc truyền giáo không hiệu quả. Và thực trạng các gia đình Công giáo đang có nhiều vấn đề về đức tin.

Nguyên nhân những khó khăn do đâu?

Đó cũng là tình trạng chung của châu Á, nơi có nhiều tôn giáo lớn và có những truyền thống văn hóa- chính trị – tư tưởng rất khác biệt với Kitô giáo. Thống kê năm 2020, tại châu Á chỉ có 3,29% người Công giáo (hãng tin Fides).

Tông huấn Giáo hội tại Á châu (Ecclesia In Asia) nói rõ điều ấy:

“Mặc dầu hiện diện lâu đời và cố gắng làm việc tông đồ nhiều, Giáo Hội tại nhiều nơi còn bị coi là xa lạ với Á Châu, và quả thật, Giáo Hội thường bị gắn liền với những quyền lực thực dân trong tâm trí quần chúng;

Cái khó là do sự kiện Đức Giêsu thường bị coi xa lạ với Á Châu. Điều nghịch lý là phần lớn người Á Châu có khuynh hướng nhìn Đức Giêsu -sinh ra trong phần đất Á Châu- như là một nhân vật Âu Châu hơn là Á Châu. Việc rao giảng Tin Mừng do các nhà truyền giáo Âu Châu chịu ảnh hưởng bởi các nền văn hoá nơi các Ngài phát xuất là điều không thể tránh được.“(ý nói chịu ảnh hưởng chủ nghĩa thực dân. A.Rhodes là một thí dụ)

Hơn nữa còn do những hoàn cảnh lịch sử để lại.

            Thí dụ ở Việt Nam, trong Phép giảng tám ngày, A Rhodes gọi Phật Thích Ca là kẻ dối trá. Ông viết: “ nói sự truyện dối trá bày đặt vậy, và lấy phép giả bởi quỷ mà làm cho thế gian nên dại vậy, cho nên thế gian thờ bụt”… Như thể có chém cây nào đúc cho ngã, các ngành cây ấy tự nhiên cùng ngã với. Vậy thì ta làm cho Thích Ca, là thằng hay dối người ta, ngã xuống, thì mọi truyện dối trong đạo bụt bởi Thích Ca mà ra, có ngã với thì đã tỏ.”

            Vì thế, từ thời nhà Nguyễn,  đạo Công giáo bị gọi là “tả đạo”. Nho giáo mới là “chính đạo”… Người Công giáo bị coi là tiếp tay cho Pháp xâm lược. Trong cuốn Thập giá và lưỡi gươm, Lm Trần Tam Tỉnh [5] có nói đến trường hợp cụ Sáu Trần Lục. Dù Lm Trần Lục là người có công xây dựng nhà thờ Phát Diệm và sáng tác nhiều Huấn ca, song người đời không bỏ qua những sai lầm nhất thời của ông (giống như sai lầm của A. Rhodes).

            Những định kiến như thế về đạo Công giáo ở VN sẽ còn tồn tại rất lâu…Điều này khiến cho người Công giáo bị nghi ngại về chính trị, thật khó tìm được sự tin tưởng để hợp tác, đồng hành… Giáo hội cần phải làm nhiều việc để xóa đi những định kiến ấy. Công việc còn rất khó khăn trước mặt.

Hơn nữa còn do toàn cầu hóa: Chủ nghĩa thế tục, Chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, chủ nghĩa sex, sự tôn thờ vật chất, tiền bạc và ảnh hưởng của cách mạng công nghệ tin học làm thay đổi và phá hủy văn hóa truyền thống. Smart phone, khai thác triệt để những thị hiếu cá nhân, làm thay đổi hắn lối sống, suy nghĩ của người trẻ, thậm chí làm tha hóa cả Linh mục.

Thí dụ: Có Linh mục ngày nào cũng viết status về vấn đề chính trị nhạy cảm, không rõ ngài còn thời gian đâu để trò chuyện với Thánh Thể, để soạn bài giảng lễ, đi thăm kẻ liệt, sinh hoạt hướng dẫn các đoàn thể và tổ chức các hoạt động mục vụ và Làm việc bác ái…Có người còn dùng các trang mạng để tự  PR và đưa tin sai lạc về giáo hội. Nhiều giáo dân trẻ ngồi trong nhà thờ nhưng lúc Linh mục giảng thì rút điện thoại ra lướt web…

Giáo hội VN chưa phân tích sâu sắc bối cảnh văn hóa, chính trị, xã hội để có những bước đi phù hợp với thời đại

2.”chúng ta thực hiện những bước đi nào?”

a. Đồng hành với ai? Năm 1980, trong thư chung, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã đề ra đường hướng “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”. Đường hướng này cho đến nay đã phát huy nhiều kết quả tốt đẹp, song chưa được thấm nhuần sâu trong toàn dân Chúa.

                        Tông huấn Giáo hội tại châu Á (Ecclesia in Asia) của ĐGH J.Paul II đã dạy:“Con đường của những nhà rao giảng Tin Mừng là làm cho đức tin Kitô giáo trở nên một thành phần của di sản văn hoá của một dân tộc”.

                    Thế nhưng Mục vụ văn hóa của giáo hội mới chỉ gói gọn trong khuôn viên nhà thờ. Hãy chiêm nghiệm bên ngoài nhà thờ, Nhà nước nỗ lực thực hiện các chính sách về văn hóa để các giá trị Cách mạng trở thành văn hóa dân tộc, thí dụ: tổ chức những ngày văn hóa trong năm: Giỗ tổ Hùng Vương, Ngày Nhà giáo Việt Nam, Ngày thầy thuốc, Ngày 8/3, Ngày Thương binh liệt sĩ. Người Công giáo không hề đem tinh thần Phúc âm vào những các hoạt động văn hóa ấy. Số thầy cô Công giáo đang âm thầm thực hiện sứ mạng của mình trong môi trường giáo dục thế tục khá đông, nhưng Ngày Nhà giáo Việt Nam không được nhắc tới dưới ánh sáng Tin Mừng. Chúng ta lại đề cao Ngày của Mẹ, Ngày của Cha, và hình như chúng ta chỉ nói đến tổ phụ Abraham, đến vua David, vua Salomon mà ngày giỗ tổ Hùng Vương không có trong sinh hoạt của người Công giáo (ai cũng biết cả vua David và vua Salomon đều có những hạn chế. Các vị ấy đâu phải là đấng thánh).

            b. Đối thoại với ai?

            Đồng hành, đối thoại và lắng nghe là những yêu cầu để thực hiện tiến trình hiệp hành. Tất nhiên chúng ta đồng hành, đối thoại với nhiều đối tượng: trước hết là Nhà nước (Xã hội Chủ nghĩa), đối thoại với các tôn giáo bạn (khác nhau về đức tin và văn hóa), với những người không tôn giáo (họ có thể có niềm tin tâm linh, nhưng họ không theo tôn giáo vị sợ bị ràng buộc bởi các giáo luật…), với công chúng bình dân, họ hay tìm đến những linh địa để cầu xin phép lạ, đặc biệt là người trẻ…

            Dù là đối tượng nào, việc đối thoại cũng rất khó khăn vì có những khác biệt không thể vượt qua.

Thí dụ 1: Đại hội dân Chúa 2010 kiến nghị với chính quyền:

Chúng tôi đề nghị chính quyền mở rộng cánh cửa cho các tôn giáo và những người thành tâm thiện chí tham gia vào việc giáo dục học đường “là chìa khóa cho tương lai tươi sáng của đất nước”.

Đến nay Nhà nước chưa quan tâm đến đề xuất này.

Thí dụ 2: Thư chung hậu Đại hội dân Chúa đề xuất :

Giáo Hội Việt Nam phải nghiên cứu tường tận bản sắc văn hóa dân tộc, hầu có thể phân định những gì là tốt đẹp,[59] để diễn tả đức tin bằng những nét văn hóa ấy đồng thời đem tinh thần Phúc Âm thấm vào các sinh hoạt văn hóa, cụ thể như các dịp lễ tết và ma chay cưới hỏi.[60] Cũng thế, cần khuyến khích và hướng dẫn các văn nghệ sĩ Công Giáo trong các sáng tác của họ. Ngoài ra, những chương trình huấn luyện ở mọi cấp phải quan tâm đến việc học hỏi về hội nhập văn hóa

Đến nay, việc “khuyến khích và hướng dẫn các văn nghệ sĩ Công Giáo trong các sáng tác của họ” vẫn chưa được Giáo hội quan tâm.

Với các tôn giáo bạn:

Phật giáo không tin có thượng đế, không tin có linh hồn và sự cứu rỗi, họ chỉ dựa vào thuyết Nhân-quả để tìm đạo giải thoát. Phật giáo là một tôn giáo vô thần, chúng ta đối thoại với anh em Phật tử thế nào?

Luận thuyết 95 điểm của Luther năm 1517 còn đó. Làm sao vượt qua câu Kinh thánh mà anh em Tin Lành đã giải thích khác đi để phủ định quyền của Giáo Hoàng: Đức Giê su nói với Phê rô: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy“(Mt 16, 18-19), đấy là chưa kể những khác biệt về tín lý.

V. ĐÂU LÀ VẤN ĐỀ CĂN CỐT?

            Nói đến Hiệp hành, chúng ta đối mặt với nhiều vấn đề rộng lớn với những khác biệt không thể vượt qua (đối thoại với chính quyền, đối thoại với tôn giáo bạn, đối thoại với những xu hướng tư tưởng của thời đại, đối thoại về những vấn đề của thế giới …), nhưng cụ thể trong hoàn cảnh Việt Nam,

            Theo tôi, có những vấn đề căn cốt sau đây:

  1. Giáo hội Việt Nam cần phải lưu tâm đến lời dạy của Hội thánh: “Toàn thể Hội thánh được mời gọi giải gỡ gánh nặng của nền văn hóa thấm nhiễm chủ nghĩa giáo sĩ trị do lịch sử để lại, cùng với những thói tục thi hành quyền bính để mọi thứ lạm dụng khác (quyền lực, kinh tế, lương tâm, tình dục) có cơ hội bám vào. Chỉ khi từ bỏ triệt để ảnh hưởng của “chủ nghĩa giáo sĩ trị” thì tiến trình hiệp hành mới đạt đến chiều kích mà Đức Thánh Cha mong đợi.
  2. Mọi Kitô hữu phải được huấn luyện để sống tinh thần hiệp hành. Nếu không, họ  không ý thức được việc hiệp thông, tham gia sứ mệnh truyền giáo, càng không thể tự mình sống hiệp hành mà vẫn chỉ là một “con chiên” ngoan đạo.
  3. Việc đối thoại với Nhà nước: Nhà nước nghiên cứu rất kỹ các tôn giáo, và nhận thức của Nhà nước về tôn giáo ở mỗi giai đoạn cách mạng đều có những bước phát triển. Những nhận thức ấy thể hiện ở các Nghị quyết của Đảng, các chính sách của Nhà nước như:  Pháp lệnh tôn giáo, Luật tôn giáo. Thí dụ, gần đây, Đại Hội Đảng lần thứ XIII đề ra việc khai thác các nguồn lực tôn giáo để góp phần phát triển đất nước: nguồn lực vật chất, nguồn lực tinh thần, nguồn lực con người. Giáo hội chưa nghiên cứu kỹ về Nhà nước Xã hội chủ nghĩa để cùng hiệp hành, để Giáo hội có thể “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc” như đường hướng đề ra trong thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam.
Linh mục thừa sai Leopold’ Cadierè-Nhà Việt Nam học kiệt xuất

4. Tổ chức các hoạt động Mục vụ văn hóa để loan báo Tin Mừng:

Văn hóa bao trùm tất cả mọi lĩnh vực tinh thần của xã hội, từ ngôn ngữ đến tư tưởng, tín ngưỡng, nghệ thuật, phong tục tập quán, lối sống,.. không quan tâm đến văn hóa, việc loan báo Tin Mừng sẽ bị giới hạn. Lưu ý rằng, các thừa sai khi đến Việt Nam, việc đầu tiên là học văn hóa và hội nhập văn hóa, rồi dùng văn hóa để truyền giáo. Hiện nay trong 100 người Việt, chỉ có gần 7 người là Công giáo. Nếu không tổ chức Mục vụ văn hóa, người Công giáo sẽ sống giữa ốc đảo, mà xung quanh là những cơn bão dữ dội và tội ác của các trào lưu tư tưởng văn hóa đương đại (Chủ nghiã cá nhân vị kỷ, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa thế tục, tiền và sex…)

5.Giáo dục đức tin cho giới trẻ

Hiện nay, tại các giáo xứ, Mục vụ giới trẻ hết sức lỏng lẻo và nhạt nhẽo, trong khi truyền thông đa phương tiện hết sức phong phú.

     Trong truyện dàiTiếng Kêu (của Song Nguyễn). Cô gái Thiên Thanh, khi giao tiếp với một nhóm bạn Tin Lành, đã bị khủng hoảng đức tin và lâm vào tình trạng trầm cảm.

                 “Nhóm trừ quỷ Bảo Lộc” (có cả Linh mục, tu sĩ) đang gây ra những ảnh hưởng rất xấu về đức tin đối với người trẻ.

                 Một thí dụ: một học sinh 12 hỏi tôi: – Chúa có thật không? Tôi hiểu em đang có vấn đề về đức tin. Lên Đại học, các em còn học mộn Tôn giáo học nhìn tôn giáo theo quan điểm Duy vật.

                 Người trẻ Công giáo vào đời: tìm việc, di dân, sống chen chúc phức tạp trong nhà trọ; sinh hoạt tôn giáo nhạt phai; vấn đề tình dục trước hôn nhân, vấn đề nạo phá thai, việc kết hôn với người khác tôn giáo…Thí dụ: cuốn Đóa hồng thứ 40 (giải VHNT Đất Mới 2020) trình bày thực trạng người trẻ sống chung với người Tin Lành, tình trạng xuất khẩu lao động, tìm người yêu như thế nào…),

                 Nếu chúng ta không chú ý đến người trẻ thì chỉ một thế hệ nữa (25 năm), đạo Công giáo ở VN cũng không khác gì người Châu Âu sống đạo hiện nay (có nơi phải bán nhà thờ vì không có giáo dân).

                 Trong hoàn cảnh hiện nay, tôi hình dung về một cách hiệp hành với người trẻ như thế này: Trong một giáo xứ có nhiều giáo họ. Trong mỗi giáo họ có nhiều bạn trẻ dưới 30 tuổi, họ có thể đi học, đi làm xa nhà. Cha sở có thể tổ chức từng nhóm Zalo mỗi giáo họ để sinh hoạt: trước hết là, hiểu được tình hình của người trẻ đang sống; thứ nhì, có thể đối thoại trực tiếp chia sẻ với người trẻ những vấn đề cần quan tâm. Thứ ba, tổ chức những chuyên đề học hỏi về sống đạo, và cứ mỗi tháng, trong thánh lễ giới trẻ, cha sở có thể nêu và giải quyết những vấn đề của giới trẻ trong tháng, tổ chức các sinh hoạt văn hóa cho người trẻ…

            Vâng: “Con đường hiệp hành này là chính con đường Thiên Chúa mong đợi nơi Hội thánh của thiên niên kỷ thứ ba”(đoạn 10).

Tháng 7/2022

***

Chú thích

Nguồn chính: Tài liệu chuẩn bị của Thượng Hội đồng Giám mục

[1] Tài liệu chuẩn bị Thượng hội đồng: Hướng tới một Hội thánh hiệp hành: Hiệp thông, Tham gia và Sứ vụ

https://giaophannhatrang.org/vi/news/thuong-hoi-dong-giam-muc/tai-lieu-chuan-bi-thuong-hoi-dong-giam-muc-lan-thu-xvi-23036.html

[2] Xin đọc bài viết: Tiểu sữ thầy Thích Nhật Từ là ai? trên trang

https://chiasedaophat.com

      Thượng tọa Thích Nhật Từ hiện đang đảm nhận nhiều vị trí quan trọng: 

Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam tại TPHCM

Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Phó Ban Phật giáo quốc tế TW GHPGVN

Phó Ban Hoằng pháp TW GHPGVN

Phó Ban Giáo dục Phật giáo TW GHPGVN

Phó Ban Từ thiện xã hội TW GHPGVN

Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam

Ủy viên Thường trực GHPGVN tại TPHCM. 

[3] https://www.youtube.com/watch?v=u7zAGSgKsW0

[4]Danh sách 117 vị thánh tử đạo tại Việt Nam

http://trungtammucvudcct.com/danh-sach-117-vi-thanh-tu-dao-tai-viet-nam/?hpag=3

[5] Lm Trần Tam Tỉnh: Thập giá và lưỡi gươm. Nxb Trẻ 1988

TÔI DỰ TRẠI SÁNG TÁC ĐÀ NẴNG 2022

BẠN CÓ THỂ ĐỌC CÁC BÀI VIẾT CHÍNH CỦA BÙI CÔNG THUẤN THEO LINK: buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

***

TÔI DỰ TRẠI SÁNG TÁC ĐÀ NẴNG 2022

Bùi Công Thuấn

(Văn nghệ sĩ Đồng Nai chụp chung với văn nghệ sĩ Đà Nẵng trong buổi bế mạc trại)

Trại sáng tác Đà Nẵng do Hội VHNT Đồng Nai tổ chức tại Đà Nẵng từ ngày 06 đến ngày 12/7/2022. Có sự góp mặt của 30 văn nghệ sĩ thuộc ba ban chuyên môn: Ban Văn học, Ban ảnh và Ban Âm nhạc.

Lần này tôi dự trại với tư cách hội viên Ban Âm nhạc, cùng với nhạc sĩ Ngọc Khoa, giảng viên trường Văn hóa Nghệ thuật Đồng Nai (Ban Âm nhạc có 2 người dự trại).

Ban Văn học có các nhà văn: Khôi Vũ-Nguyễn Thái Hải, Trần Thu Hằng, Hoàng Ngọc Điệp (là các hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) và các nhà thơ nhà văn của Hội VHNT Đồng Nai: Đào Sỹ Quang, Hoàng Văn Thống, Hoàng Văn Bảy, Lê Ngọc Lợi, Lê Đình Thảo, Mai Hân Hạnh, Ngô Mỹ Hường, Lê Thị Hồng Nhạn, Nguyễn Thị Phấn, Lê Vũ Anh Đào…

Ban ảnh có các nghệ sĩ nhiếp ảnh: Lò Văn Hợp, Nguyễn Cao Quý, Phạm Linh Ngọc, Nguyễn Hữu Thiết, Nguyễn Ngọc Cường, Trần Văn Sơn.

Trước 2 tháng, các hội viên muốn dự trại phải nộp bản thảo. Ban tổ chức trại thẩm định và chọn lựa những tác giả có tác phẩm tốt để mời tham dự trại (sở dĩ có sự chọn lựa này là vì hạn chế kinh phí, và cũng để nâng cao chất lượng tác phẩm dự trại). Khi dự trại, các trại viên chỉnh sửa bản thảo theo những ý kiến thẩm định của Ban tổ chức đã nhận xét trước đó.

Chủ đề: “Văn nghệ sĩ với người lính, biển đảo và quê hương đất nước

Số tác phẩm dự trại:

Thể loại Thơ: Mỗi tác giả 05 bài thơ trở lên,

Thể loại truyện ngắn: 1 đến 2 tác phẩm.

Về âm nhạc: mỗi tác giả 01 ca khúc.

Nhiếp ảnh: 05 tác phẩm;

Kịch bản: 01 kịch bản (thời lượng 20 phút)

Các trại viên được tổ chức ăn ở tại thành phố Đà Nẵng, được hướng dẫn đi thực tế tại khu kinh tế Chu Lai (công ty ô tô Trường Hải), thăm các địa danh văn hóa: Ngũ Hành Sơn, phố cổ Hội An.

Đến Chu Lai, chúng tôi được Ban Giám đốc công ty Thaco Trường Hải đón tiếp và giới thiệu các hoạt động sản xuất của công ty. Mỗi năm Thaco nộp thuế cho ngân sách 1 triệu USD. Nhà văn Nguyễn Một, Giám đốc truyền thông của công ty dẫn chúng tôi đi tham quan. Xe chở đoàn tham quan đi hơn một giờ chưa giáp vòng khu sản xuất. Nhà văn Nguyễn Một nói: Mái lợp các khu sản xuất của công ty lên đến hơn 10 hecta. Có khu 12 ngàn công nhân, có khu 5000 công nhân. Dù họ làm một mình hay làm theo nhóm, các công nhân rất chăm chỉ và kỷ luật. Khu cảng biển của Trường Hải Thaco cũng đầy triển vọng. Chúng tôi vô cùng thán phục và tự hào về người Việt Nam trong tiến trình hội nhập toàn cầu hóa. Xin cám ơn Thaco và nhà văn Nguyễn Một. Bất giác bây giờ ra đường, tôi lại bi cuốn hút vào những chiếc xe có hiệu Thaco…

Bế mạc trại có các vị khách của VHNT Đà Nẵng. Nhà nghiên cứu Bùi Văn Tiếng (Chủ tịch Liên hiệp các hội VHNT Đà Nẵng) giới thiệu về biển đảo Đà Nẵng rất hay. Người nghe có cảm giác trái tim mình được thắp lửa. Nhà thơ Nguyễn Nho Kiêm và nhạc sĩ Ái Nghĩa trình bày tác phẩm giao lưu rất ấn tượng và xúc động. Tôi cũng được gặp nhạc sĩ-nhà nghiên cứu Văn Thu Bích Đà Nẵng. Các văn nghệ sĩ Đồng Nai cũng trình bày những tác phẩm dự trại.

Tôi tham gia trình bày ca khúc Bài ca người lính đảo. Tất cả các văn nghệ sĩ và khách mời tham dự trại cùng hát. Trong niềm vui chung, mọi người cùng một hơi thở với người lính đảo xa, trái tim cùng đập một nhịp với những người con yêu nước đang bảo vệ quê hương nơi biển đảo (xem clip)

Niềm vui của dự trại sáng tác là được gặp gỡ các văn nghệ sĩ thân quen và có thêm những người bạn mới của Đà Nẵng, những người rất tài năng; được nhìn thấy những điều tốt đẹp của quê hương, trái tim rộng mở với mọi người.

Tình cờ một học trò cũ tôi chủ nhiệm cách nay 37 năm tìm thăm tôi (lớp 12A9 năm 1984). Tôi hết sức ngạc nhiên và cảm động. Bấy nhiêu năm trời học trò vẫn còn nhớ tôi. Cả thầy và trò tóc đã bạc. Bây giờ em có một nhà hàng lớn ở Đà Nẵng. Tôi chúc mừng em. Buổi tối thứ Bảy, tôi xem rồng phun lửa trên cầu Rồng. Ở Đà Nẵng, quan cafe đi.com có không khí như House coffee của Sài Gòn. Cafe Reply 1998 của Đà Nẵng có rất nhiều bạn trẻ, họ đến chụp ảnh, bỗng dưng mình nhận ra người tóc bạc này không còn phủ hợp với cõi màu hồng này…

***

Ban tổ chức trại có các hội viên trẻ đã làm rất tốt việc tổ chức đem đến những cảm xúc, suy nghĩ và ấn tượng đẹp về quê hương, đất nước và biển đảo trong lần dự trại này.

Đến Đà Nẵng

Các nhà văn Đồng Nai : Trần Thu Hằng, Hoàng Ngọc Điệp, Khôi Vũ, Nguyễn Một

Ở cảng Chu Lai
NS Ái Nghĩa, nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm, nhà nghiên cứu Bùi Tiếng, nhà văn Hoàng Ngọc Điệp

NS Ái Nghĩa trình bày ca khúc (trong buổi giao lưu)
BCT ở nhà thờ Chính tòa Đà Nẵng (Chúa nhật-người Samari nhân hậu)

BCT ở chùa Linh Ứng-Sơn Trà
BCT trình bày ca khúc Bài ca người lính đảo trong buổi bế mạc trại (Clip do nhà văn Đào Sỹ Quang thực hiện)

______________________

BIỂN XA VẪY GỌI-Chùm ca khúc về biển đảo của Bùi Công Thuấn

BẠN CÓ THỂ ĐỌC CÁC BÀI VIẾT CHÍNH CỦA BÙI CÔNG THUẤN THEO LINK: buicongthuan.blogtiengviet.net/disp/abc

1.BIỂN XA VẪY GỌI. 2022

https://www.youtube.com/watch?v=sS_fjMp73Qg

2. BÀI CA NGƯỜI LÍNH ĐẢO

https://www.youtube.com/watch?v=s7UM-opWMME&list=UUFn1oYSsemqXpb-dx6eDREg&index=26

3.VÒNG TRÒN GẠC MA BẤT TỬ

https://www.youtube.com/watch?v=0skQs3fl6rw

4.LỜI GỌI BIỂN ĐÔNG

https://www.youtube.com/watch?v=3RfUr35Cjqs&t=3s

_____________________________